1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vai trò của Kitô giáo trong văn hóa - xã hội Nhật Bản giai đoạn từ 1945 đến nay

76 778 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 1,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một trong những lý do được các nhà nghiên cứu quan tâm phân tìch đó là vai trò của nhân tố con người trong sự phát triển kinh tế của Nhật Bản hay nói rõ hơn là vấn đề giáo dục, quản lý n

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 3

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC BẢNG 4

MỞ ĐẦU 5

CHƯƠNG 1 13

KHÁI LƯỢC VỀ KITÔ GIÁO VÀ SỰ TRUYỀN BÁ VÀO NHẬT BẢN 13

1.1 Khái lược về Kitô giáo 13

1.2 Khái lược lịch sử truyền đạo Kitô vào Nhật Bản 19

CHƯƠNG 2 30

VAI TRÕ CỦA KITÔ GIÁO ĐỐI VỚI GIÁO DỤC - Y TẾ VÀ CÔNG TÁC XÃ HỘI NHẬT BẢN TỪ 1945 ĐẾN NAY 30

2.1 Vai trò của Kitô giáo đối với giáo dục Nhật Bản 31

2.2 Vai trò của Kitô giáo đối với y tế và công tác xã hội 41

CHƯƠNG 3 50

VAI TRÕ CỦA KITÔ GIÁO ĐỐI VỚI SINH HOẠT VĂN HÓA CỦA NHẬT BẢN TỪ 1945 ĐẾN NAY 50

3.1 Đám cưới theo phong cách Công giáo 51

3.2 Lễ Giáng Sinh 55

KẾT LUẬN 62

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 67

PHỤ LỤC 74

Trang 5

MỞ ĐẦU

1.Tính cấp thiết của đề tài luận văn

Tìn ngưỡng nói chung và tôn giáo của một dân tộc n ói riêng là một trong những yếu tố biểu hiện rõ nét nhất thế giới quan và nhân sinh quan của dân tộc

đó Đối với Nhật Bản điều này cũng không phải là một ngoại lệ Thần Đạo, Phật giáo và Kitô giáo đã biểu hiện rất rõ nét cách nhín thế giới của người Nhật Tuy nhiên phải nói rằng Nhật Bản là một trong những quốc gia có sự không nhất quán về tôn giáo khi điều tra về số lượng những người theo đạo Tổng số lượng những người theo các loại tôn giáo khác nhau bao giờ cũng cao hơn tổng dân số của cả nước rất nhiều Người Nhật hính thành những thói quen và thực hành các phong tục tập quán có nguồn gốc và theo phong cách tôn giáo khác nhau Họ đến lễ ở các đền của đạo Shinto (Thần đạo) vào năm mới, đi thăm các chùa chiền của đạo Phật vào mùa xuân nhưng tổ chức tiệc tùng và tặng quà nhau vào dịp lễ Noel theo cách của đạo Kitô Nếu như ma chay thường được tiến hành theo nghi lễ của Phật giáo thí đám cưới lại thường mang phong cách của Thần đạo hoặc Kitô giáo

Theo số liệu thống kê đến cuối tháng 12 năm 2008, số lượng những người theo đạo Kitô ở Nhật tương đối ìt, chiếm khoảng 1.1% dân số [44], song cộng đồng này có tiếng nói và những đóng góp nhất định trên lĩnh vực văn hóa - xã hội bằng những việc làm thiết thực góp phần trực tiếp hoặc gián tiếp vào sự tiến

bộ xã hội Nhật Bản, không chỉ làm thay đổi diện mạo văn hóa mà còn làm phong phú hơn bản sắc văn hóa dân tộc tạo tiền đề phát triển xã hội

Nói đến Giáo hội Nhật Bản người ta thường nói rằng đó là giáo hội anh hùng vượt lên số phận lịch sử nghiệt ngã Cũng giống như nhiều nước Châu Á khác, Nhật Bản cũng có sự hính thành cộng đồng Kitô giáo qua những bước thăng trầm khác nhau Tuy nhiên, quá trính hính thành và phát triển của tôn giáo này ở đất nước “mặt trời mọc” có nhiều điểm đặc biệt hơn ở những nơi khác Có

Trang 6

thể nói lịch sử hính thành giáo hội Kitô giáo Nhật Bản đã trải qua những trang

sử thấm đầy máu, nước mắt và cả sự đấu tranh để tồn tại dù dưới hính thức ẩn danh hay lộ diện

Từ thế kỷ 18 khi các nước phương Tây đã lần lượt tiến lên con đường tư bản chủ nghĩa thí Nhật Bản vẫn đang thi hành chình sách "bế quan toả cảng" cô lập với thế giới bên ngoài của chế độ Mạc Phủ Nhưng chỉ trong vòng hơn 200 năm, Nhật Bản đã trở thành một trong 13 nước tư bản phát triển nhất trên thế giới Sự phát triển của Nhật đã làm cho thế giới chú ý, và người ta đua nhau tím hiểu về Nhật Bản, về quá trính phát triển kinh tế của Nhật Bản Những tím hiểu

đó đã đem đến một kết quả đáng kinh ngạc đó là trong giai đoạn 1952 - 1973, kinh tế Nhật Bản phát triển với một tốc độ vượt bậc, người ta gọi giai đoạn này

là "giai đoạn phát triển thần kỳ của Nhật Bản" Sau chiến tranh thế giới thứ 2, từ một nước bại trận phải đầu hàng đầu minh vô điều kiện, nền kinh tế thí bị tàn phá nặng nề, Nhật Bản đã vươn lên thành cường quốc kinh tế thứ hai trên thế giới sau Mỹ vào năm 1968 Những điều đó làm cho chúng ta phải tự đặt ra những câu hỏi: Sự phát triển thần kỳ của Nhật Bản là do những nguyên nhân gí

và tại sao Nhật Bản vừa đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và liên tục trong điều kiện đất nước mới thoát khỏi chiến tranh, vừa đồng thời giảm được bất bính đẳng Các nhà nghiên cứu về kinh tế và phát triển lại cùng nhau đi tím câu trả lời Một số công trính đã lý giải sự thành công của Nhật Bản bằng những yếu tố văn hóa và thể chất, những yếu tố mang đặc thù Phương Đông truyền thống, chẳng hạn như vai trò của Khổng giáo và các thiết chế gia đính Một loạt các công trính khác, đặc biệt là báo cáo nghiên cứu "Sự thần kỳ Đông Á" của nhóm chuyên gia Ngân hàng thế giới xuất bản năm 1993, đánh giá rất cao vai trò của chình sách cộng đồng trong tăng trưởng kinh tế và giảm bất bính đẳng ở Nhật Bản Một trong những lý do được các nhà nghiên cứu quan tâm phân tìch đó là vai trò của nhân tố con người trong sự phát triển kinh tế của Nhật Bản hay nói rõ hơn là vấn đề giáo dục, quản lý nhân công… Những công trính đó đã đạt được

Trang 7

một số thành công nhất định trong việc phân tìch nguyên nhân làm nên giai đoạn phát triển thần kỳ của Nhật Bản

Qua từng chặng đường phát triển kinh tế của Nhật Bản với những điều kiện bước đầu không mấy thuận lợi nhưng bù lại Nhật Bản lại có những định hướng, chình sách quản lý đúng đắn của nước Nhật Điều đó làm thức tỉnh cho tất cả mọi nước đang phát triển phải học tập, nhất là đối với Việt Nam khi nước ta đang có những xu hướng phát triển kinh tế, thực hiện công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước Sự phát triển vượt bậc và làm cả thế giới biết đến Nhật Bản không phải là trong chốc lát một sớm một chiều Đó là kết quả của quá trính kết tinh, hội tụ các yếu tố, trong đó việc du nhập kiến thức, khoa học kỹ thuật phương Tây đóng một vai trò vô cùng lớn lao mà Kitô giáo chình là cầu nối trực tiếp và gián tiếp cho quá trính du nhập đó

2 Tình hình nghiên cứu đề tài luận văn

Hiện nay đã có không ìt những công trính nghiên cứu về Nhật Bản ở Việt Nam và thế giới trong đó có một số công trính đề cập đến tôn giáo ở Nhật Bản Nhưng viết chuyên về Kitô giáo Nhật Bản thí gần như chưa có và lại càng khan hiếm những đề tài viết về vai trò của tôn giáo này đối với văn hóa xã hội Nhật Bản giai đoạn 1945 đến nay

Phạm Hồng Thái với công trính “Đời sống tôn giáo Nhật Bản hiện nay” (Nhà xuất bản Khoa học xã hội – 2005) Tác giả là một trong những chuyên gia hàng đầu của Việt Nam về Nhật Bản ở lĩnh vực tôn giáo Trong công trính này tác giả đã khái quát được diện mạo chủ yếu của tôn giáo Nhật Bản bằng việc đề cập đến hầu hết các tôn giáo chình như Thần đạo, Phật giáo, Kitô giáo và các giáo đoàn thuộc hệ Kitô giáo Tác giả cũng dành thời lượng chủ yếu để đề cập đến vấn đề tôn giáo trong đời sống văn hóa xã hội Nhật Bản hiện nay Tuy nhiên công trính chủ yếu viết về sự xuất hiện của các tôn giáo mới và ảnh hưởng của chúng đến văn hóa xã hội cũng như trong quá trính hiện đại hóa đất nước Nhật

Trang 8

Bản mà không đề cập nhiều đến Kitô giáo ngoại trừ một phần nói về giáo dục Bên cạnh đó tác giả cũng viết về chình sách tôn giáo của nhà nước Nhật Bản từ

1945 đến nay Công trính này có ý nghĩa tham khảo cao nhưng lại không nhiều

do tác giả công trính không tập trung khai thác về Kitô giáo nói riêng

Nguyễn Văn Kim với “Nhật Bản với châu Á – Những mối liên hệ lịch sử

và chuyển biến kinh tế – xã hội” Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2003 Với rất nhiều đầu sách và các bài viết nghiên cứu khoa học đã được đăng tải trên các tạp chì, Kỷ yếu khoa học trong nước và quốc tế, tác giả là chuyên gia hàng đầu ở Việt Nam về lĩnh vực lịch sử thế giới nói chung và lịch sử Nhật Bản nói riêng Với cuốn sách hơn 500 trang trên đây trên cơ sở phân tìch mối quan hệ bang giao của Nhật Bản với một số nước tiêu biểu trong khu vực, tác giả đã trính bày tương đối chi tiết về những mối liên hệ lịch sử và chuyển biến kinh tế xã hội của Nhật Bản với châu Á tập trung ở thời kỳ Edo Tác phẩm cho người đọc một cái nhín tương đối đa diện và hệ thống về một số vấn đề tiêu biểu trong lịch sử xã hội cũng như đời sống văn hóa Nhật Bản Đặc biệt có một phần nói về xã hội

Nhật Bản cuối thế kỷ XVI - đầu thế kỷ XVII qua con mắt của giáo sỹ Allesandro

Mặc dù không đề cập nhiều đến Kitô giáo cũng như vai trò của tôn giáo này đối với Nhật Bản nhưng tài liệu cũng là nguồn tư liệu quì báu cho tác giả luận văn tham khảo và khai thác hoàn thiện đề tài của mính Đồng thời cũng gợi mở cho tác giả có những hướng suy nghĩ mới mẻ

Trương Ngọc Dũng với cuốn Nhật Bản học, Nxb Tổng hợp Tp HCM, 2008

Trong chuyên luận này tác giả phân tìch mối quan hệ giữa Tôn giáo và chình trị trong lịch sử Nhật Bản đồng thời đề cập đến vai trò của đạo Thiên chúa đối với tiến trính hiện đại hóa Nhật Bản Tuy nhiên tác giả không đề cập nhiều đến quá trính truyền giáo cũng như chỉ đề cập đến một vài ảnh hưởng nhỏ của Kitô giáo với Nhật Bản trong giai đoạn đầu

Sueki Fumihiko với cuốn Lịch sử tôn giáo Nhật Bản Tác giả là một

Trang 9

đặc biệt là tư tưởng tôn giáo hiện nay Ông đã có một thời gian dài giảng dạy tại đại học Tokyo sau đó chuyển sang công tác tại trung tâm nghiên cứu văn hóa

Nhật Bản Quốc tế (Nichibunken), nơi tập trung nhiều chuyên gia hàng đầu của

Nhật Bản về các lĩnh vực trong ngành khoa học xã hội nhân văn Khác với Maruyama Masao, một cây đại thụ trong nghiên cứu tư tưởng Nhật Bản, trong

trước tác này Sueki Fumihiko đã tái cấu trúc khái niệm cổ tầng và thiết định đây

là thứ được hính thành và bồi tụ trong quá trính lịch sử, chứ không phải là yếu tố bản sắc bất biến Với những kiến thức uyên thâm và lập luận chặt chẽ, ông đã như một ảo thuật gia sử dụng khái niệm này để bóc tách các tầng văn hóa có được bởi các tôn giáo nhằm tím ra cổ tầng, yếu tố chi phối toàn bộ tư duy, tư tưởng tôn giáo của Nhật Bản Cũng trong tác phẩm này Sueki Fumihiko đã đưa

ra cách nhín toàn diện về luồng tư tưởng dẫn đến việc Nhật Bản tham chiến Tuy nhiên cũng trong trước tác này thí phần để nói về Kitô giáo không nhiều Dường như nó chỉ là phần điểm xuyết bên cạnh việc tập trung nói về Thần Đạo và Phật Giáo

Tác giả Joseph M.Kitagawa với cuốn Nghiên cứu tôn giáo Nhật Bản Tác

giả là một học giả nổi tiếng người Nhật có nhiều năm nghiên cứu và giảng dạy lịch sử tôn giáo Nhật Bản, Phương Đông học ở các trường Đại học Hoa Kỳ Trong công trính tác giả đề cập đến hầu hết các loại tôn giáo ở Nhật Bản trong

đó nhấn mạnh nhiều đến Phật giáo Tuy nhiên điểm hạn chế của đề tài là tác giả chưa trực tiếp đánh giá ảnh hưởng của tôn giáo đối với xã hội nói chung và đời sống tinh thần của xã hội Nhật Bản nói riêng cũng như chưa đề cập đến vai trò của Kitô giáo ở Nhật Bản

Joseph Jennes, CICM với cuốn Lịch sử giáo hội công giáo Nhật Bản Tác

phẩm trính bày tương đối chi tiết về lịch sử hính thành giáo hội Công Giáo Nhật Bản theo các mốc lịch sử Đặc biệt đề cập sâu đến phần ảnh hưởng của các sách

vở Trung - Âu do các thừa sai Dòng Tên ở Trung Quốc viết và được bì mật đưa sang Nhật Bản Hơn nữa, một phần về số phận của các Kitô hữu lưu vong tại

Trang 10

nhiều khu định cư khác nhau ở Đông Nam Á cũng được đề cập đến Tác phẩm được xem như là một tài liệu chi tiết cho những ai muốn tím hiểu về lịch sử giáo hội Tuy nhiên, tác phẩm chưa đề cập nhiều đến những ảnh hưởng của Kitô giáo đối với văn hóa xã hội Nhật Bản Và một điểm hạn chế nữa của tác phẩm là mới chỉ viết đến thời kỳ Minh Trị

Ngoài ra cũng còn có nhiều công trính khác nghiên cứu về tôn giáo Nhật Bản nhưng chủ yếu là về Phật giáo và Thần đạo Ở nước ta chưa hề có công trính nào tập trung viết về vai trò của Kitô giáo với văn hóa – xã hội Nhật Bản từ

1945 đến nay Công trính này hy vọng có những đóng góp đầu tiên về vấn đề này

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

3.1 Mục đích

Luận văn tập trung làm rõ vai trò của Kitô giáo trong một số lĩnh vực văn hóa, xã hội nổi bật của Nhật Bản như: giáo dục, y tế - công tác xã hội, sinh hoạt văn hóa

3.2 Nhiệm vụ

Trên cơ sở phân tìch các đặc điểm, các giai đoạn phát triển của Kitô giáo cũng như các nhân tố tác động qua lại, luận văn chứng minh được vai trò của tôn giáo này đối với một số lĩnh vực văn hóa xã hội Nhật Bản từ 1945 đến 2010 Đồng thời cũng để người đọc hính dung được một cách cơ bản nhất quá trính phát triển tôn giáo này ở Nhật Bản

4 Giới hạn, phạm vi nghiên cứu của luận văn

Ví những điều kiện khách quan và chủ quan tác giả luận văn chỉ lựa chọn một số lĩnh vực văn hóa xã hội tiêu biểu để nghiên cứu và giới hạn chủ yếu trong khoảng thời gian từ 1945 đến 2010

Trang 11

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

- Cơ sở lý luận: Luận văn chủ yếu vận dụng lý luận triết học duy vật biện

chứng và duy vật lịch sử về tôn giáo để nghiên cứu

Luận văn tham khảo một số công trính nghiên cứu chình của người Nhật và các học giả Việt Nam cũng như nước ngoài về lịch sử truyền giáo, tính hính đạo Kitô ở Nhật Bản (từ năm 1945 đến khoảng 2010)

Tác giả cũng khai thác một số công trính nghiên cứu của các tác giả Nhật Bản về mối quan hệ của Kitô giáo với sự phát triển của Văn hóa – xã hội Nhật Bản từ 1945 trở lại đây đặc biệt trên lĩnh vực hội nhập văn hóa Đông Tây; quá trính hiện đại hóa của văn hóa và xã hội Nhật Bản

Luận văn có tham khảo một số công trính mới xuất bản gần đây của các tác giả Việt Nam về Lịch sử, Lịch sử Tôn giáo và Lịch sử Văn hóa Nhật Bản

- Phương pháp nghiên cứu: Luận văn vận dụng kết hợp các phương pháp

nghiên cứu như phương pháp phân tìch, so sánh hệ thống, khái quát nói chung trên cơ sở tiếp thu thành tựu có liên quan từ những tài liệu sẵn có

6 Đóng góp mới về khoa học của luận văn

Đóng góp thêm những nghiên cứu mới về vai trò của Kitô giáo trong đời sống văn hóa xã hội Nhật Bản từ 1945 đến 2010 thông qua một số lĩnh vực cụ thể

Mở ra thêm một hướng nghiên cứu mới về Kitô giáo Nhật Bản nói riêng và trên thế giới nói chung

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận luận văn được chia thành 3 chương:

Trang 12

Chương 1 Khái lược về Kitô giáo và sự truyền bá vào Nhật Bản

Chương 2 Vai trò của Kitô giáo đối với giáo dục, y tế và công tác xã hội của Nhật Bản từ 1945 đến nay

Chương 3 Vai trò của Kitô giáo đối với sinh hoạt văn hóa của Nhật Bản từ

1945 đến nay

Trang 13

CHƯƠNG 1 KHÁI LƯỢC VỀ KITÔ GIÁO VÀ SỰ TRUYỀN BÁ VÀO NHẬT BẢN

1.1 Khái lược về Kitô giáo

Tôn giáo xuất hiện từ rất lâu và con người mặc nhiên chấp nhận nó Việc đặt

ra câu hỏi: “Tôn giáo là gí” mới chỉ được giới khoa học đề cập trong thời gian gần đây, khi mà vấn đề tôn giáo trở thành bức xúc và phức tạp Khi câu hỏi này được đặt ra cũng là lúc mà tôn giáo trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học riêng biệt Đối tượng nghiên cứu của tôn giáo xuất phát từ châu

Âu khá sớm nhưng bộ môn khoa học về tôn giáo chỉ ra đời vào cuối thế kỷ XIX Các nhà thần học cho rằng “Tôn giáo là mối liên hệ giữa thần thánh và con người” Một số nhà tâm lý học lại cho rằng “Tôn giáo là sự sáng tạo của mỗi cá nhân trong nỗi cô đơn của mính, tôn giáo là sự cô đơn, nếu anh chưa từng cô đơn thí anh chưa bao giờ có tôn giáo” Theo quan điểm của C.Mác: “Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, cũng như nó là tinh thần của những trật tự không có tinh thần Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân” [1, tr.437.] Ph.Ăngghen có một khái niệm mang khìa cạnh nguồn gốc của tôn giáo là: “Tôn giáo là sự phản ánh hoang đường vào trong đầu

óc con người những lực lượng bên ngoài, cái mà thống trị họ trong đời sống hàng ngày …” Còn theo từ điển tiếng Anh quốc tế của Webster xuất bản năm

1993 thí „Tôn giáo là một sự cảm nhận hay xác tìn cá nhân về sự hiện hữu của một đấng tối cao hay của những quyền lực hay một ảnh hưởng siêu nhiên khống chế định mệnh của bản thân, của nhân loại hay của vạn vật” [11, tr.7]

Một trong ba tôn giáo lớn nhất thế giới hiện nay là Kitô giáo Kitô giáo bao gồm nhiều truyền thống tôn giáo với các dị biệt văn hóa và các giáo phái khác nhau Số lượng tìn đồ Kitô giáo chiếm khoảng một phần ba dân số thế giới [6, tr.581] Nó cũng là tôn giáo có khu vực ảnh hưởng rộng nhất và đóng vai trò cực

kỳ quan trọng trong tiến trính văn minh nhân loại và phát triển xã hội Kitô giáo

Trang 14

xuất hiện vào thế kỷ thứ I ở khu vực phìa đông của đế quốc La Mã với chế độ chiếm hữu nô lệ Đế chế La Mã tiến hành nhiều cuộc chiến tranh xâm lược tàn khốc, tạo ra nhiều mâu thuẫn và xung đột gay gắt trong đời sống xã hội Trong bối cảnh ấy đã làm nảy sinh những tư tưởng được giải phóng và tự do Bên cạnh

đó, vùng Trung Cận đông là nơi tiếp giáp 3 châu lục, dân cư ở đây vốn theo đa thần giáo, trong quá trính thống nhất của đế chế đã xuất hiện yêu cầu thống nhất

về tư tưởng, trong đó có nhu cầu về tôn giáo độc thần, ví vậy Kitô giáo đã ra đời trên cơ sở của Do Thái giáo vốn đang tồn tại ở vùng này

Kitô giáo bắt đầu là một chi phái của Do Thái giáo trong thế kỷ I trước công nguyên khi Đế quốc La mã cực thịnh và hoàng đế Augustus Ceasar (63 trước công nguyên đến 14 trước công nguyên) trị ví Trong thời cổ đại Kitô giáo xuất hiện và hoạt động trong cộng đồng người Do Thái nhưng bị những người theo Do Thái giáo đả kìch và chình quyền La Mã đàn áp Trong thời gian giữa năm 64 và 330, Kitô giáo trải qua mấy thời kỳ bị Đế quốc La mã bách hại rồi lại chấp nhận Về mặt chình thức, Đế quốc La mã khoan dung mọi tôn giáo Tuy nhiên người Kitô giáo thỉnh thoảng gặp khó khăn ví họ từ chối không chấp nhận các vị thần của La mã và thờ phụng những thần này vào những dịp quốc lễ Khi

số lượng người Kitô giáo tăng lên sự chống đối họ cũng tăng lên ví họ từ chối trung thành tuyệt đối với Hoàng đế, và ví thỉnh thoảng họ từ chối gia nhập quân đội La Mã Kết quả là sự bách đạo Sang thế kỷ II, sau những thời kỳ yên tĩnh lại đến những cuộc bách hại nặng nề Tư cách pháp nhân của người Kitô giáo trong

Đế quốc chưa bao giờ được bảo đảm Bất cứ lúc nào các quan chức địa phương đều có thể bách hại họ Cuộc bách hại qui mô lớn diễn ra dưới thời Hadrian (hoàng đế thứ 117 đến 138) và Marcus Aurelius (hoàng đế thứ 161 đến 180) [11, tr.484] Trong kỷ nguyên này Đế quốc La Mã cổ đại bị tan rã do các thế lực bên trong và bên ngoài thường coi những người Kitô giáo như là mối đe dọa đối với

sự thống nhất và sức mạnh của những đường lối La mã cổ đại Do đó họ bách hại Kitô giáo với hy vọng là khôi phục Roma trở lại thời kỳ trước khi có Kitô giáo

Trang 15

Giai đoạn giữa sự sụp đổ của Đế quốc La Mã và sự trỗi dậy của những quốc gia Châu Âu hiện đại thường được gọi là thời Trung cổ hay Trung Đại Trong giai đoạn này Giáo hội Kitô giáo là lực lượng chủ yếu chi phối mọi mặt đời sống kinh tế, chình trị, văn hóa, xã hội của nhiều nước phong kiến châu Âu Quá trính mở rộng ảnh hưởng của đạo Kitô đã gây ra nhiều cuộc xung đột, mâu thuẫn gay gắt giữa Kitô giáo với Do Thái giáo và Hồi giáo với những cuộc Thập

tự chinh tàn khốc và đẫm máu Ngay trong bản thân Kitô giáo cũng nảy sinh mâu thuẫn gay gắt, quyết liệt dẫn đến sự phân hoá Kitô giáo lần thứ nhất vào năm 1054 thành 2 phái: Công giáo – thế lực lớn nhất ở phìa Tây La Mã và Chình thống giáo ở phìa Đông La Mã

Vào thế lỷ XVI, Giáo hội phương Tây bị xé ra từng mảnh ví một cuộc cách mạng dữ dội mà từ đó Giáo hội không bao giờ phục hồi được Cuộc cách mạng này được gọi là Cuộc Cải Cách [11, tr 494], nhưng nó đi xa hơn là việc cải cách Kitô giáo bởi nó làm xáo trộn, phá vỡ sự thống ngự trên châu Âu của Kitô giáo, thách thức quyền bình của Kitô giáo và làm ngăn trở tôn giáo ấy nhiều thế kỷ Những nguyên nhân của cuộc cách mạng này rất nhiều, đa dạng và phức tạp Tuy nhiên, những nguyên nhân chình có thể nêu lên một cách rộng rãi là sự trỗi dậy của chủ nghĩa quốc gia châu Âu, kiến thức mới của thời Phục Hưng và sự sụp đổ quyền lực Giáo hoàng Sự khởi đầu của cuộc Cải Cách Tin Lành thường được ghi nhận là vào năm 1517, khi Martin Luther (1483 – 1546) [6, tr 631] dán

95 luận đề của ông trên cửa Giáo hội ở Wittenberg Tiếp đó là sự cải cách John Calvin (1509 – 1546) [6, tr 634] với việc cho ra đời một quyển sách đồ sộ mà sau này trở thành kinh điển của thần học Tin Lành, các qui tắc của Kitô giáo Ngoài ra còn có sự cải cách của Ulrich Zwingli (1484 – 1531) và một số nhà lãnh đạo của các phong trào cải cách khác Kết quả là đã làm xuất hiện Giáo hội cải cách gọi là Tin lành [6, tr 633] Cũng trong thế kỷ XVI vua Anh tách Công giáo ở Anh khỏi sự chỉ đạo của Giáo Hoàng và lập ra Anh giáo Ngày nay, Kitô giáo có hơn 400 dòng khác nhau trong đó có 4 nhánh lớn là Công giáo, Chình thống giáo, đạo Tin Lành và Anh giáo

Trang 16

Giáo lý Công giáo là một hệ thống từ giản đơn cho đến phức tạp của các học thuyết kinh viện với các quan điểm triết học và thần học siêu hính, căn cứ vào kinh thánh nhưng phải dựa vào những lời giải thìch truyền thống và là thẩm quyền của Giáo hội Công giáo đề cao thuyết thần quyền tuyệt đối (mọi việc do Chúa định) và thuyết giáo quyền tập trung (Giáo Hoàng là đại diện Thiên chúa ở trần gian)

Kinh thánh theo quan niệm của giáo hội là “lời Chúa truyền dạy đời đời” [21, tr 398] là một bộ sách gồm 73 quyển được chia làm 2 bộ Tân ước và Cựu ước [21, tr 399] Ban đầu Kinh thánh được truyền khẩu trong dân gian Đến thế kỷ II thí bắt đầu được viết trên da dê, từ thế kỷ IV – VI được viết trên giấy Papêrút và đến thế kỷ VII mới viết thành sách Kinh thánh là một kho tàng lịch sử và điển tìch văn học Kinh thánh bao gồm toàn bộ quan điểm, tư tưởng của giáo lý và tìn điều của các đạo Kitô Tùy theo đạo mà số kinh này được chấp nhận theo yêu cầu của giáo lý các đạo Vì dụ Đạo Chình thống chú trọng 5 cuốn đầu tiên của Kinh Cựu ước Đạo Tin Lành lại lấy 4 cuốn Kinh Phúc âm làm giáo nghĩa cơ bản…

Về cơ cấu tổ chức thí đứng đầu là Giáo hội [21, tr 349] Đây là tổ chức tôn giáo theo mô hính kim tự tháp lấy Tòa thánh Roma làm cơ quan quyền lực tối cao Trước đây, khi nhắc đến giáo hội, Công giáo thường hiểu là một tổ chức mà chủ yếu nhấn mạnh đến chức năng lãnh đạo, truyền giảng bao gồm các chức sắc

từ Giáo Hoàng đến các hồng y, giám mục, linh mục, tu sĩ… mà quên mất các tìn

đồ, các “con chiên”, cơ sở của công giáo Ngày nay giáo hội được Công giáo hiểu bao hàm các giáo phẩm, tu sĩ, giáo dân Tức vừa là tổ chức lãnh đạo, chế định ra các thể chế, truyền bá, giáo dục… vừa là toàn thể cộng đồng tôn giáo

Cơ quan lãnh đạo giáo hội công giáo thế giới ở Toà thánh Vaticăng, do Giáo hoàng [21, tr 350] trực tiếp lãnh đạo, bên dưới là đoàn Hồng y giáo chủ do chình Giáo hoàng bổ nhiệm Cơ quan chủ yếu của Toà thánh gồm có: Quốc vụ viện, Cục văn thư, Cục tài chình, Toà án, Thánh bộ và Ban bì thư

Trang 17

Theo quan niệm của Kitô giáo nói chung, Giáo hoàng là người kế vị Thánh Pierre [21, tr 350] và thay mặt Đức Chúa Giêsu làm đầu Hội thánh ở trần gian Đức Giáo hoàng là biểu tượng và cơ sở của sự thống nhất trong đức tin và sự hiệp thông của các tìn đồ Giáo hoàng có quyền lực cao nhất và có trách nhiệm điều khiển mọi công việc của Hội thánh Dưới Toà thánh Vaticăng là Hội thánh

ở các địa phận Điều khiển các Toà thánh ở địa phận là các giám mục Giám mục

có quyền lực tối cao trong địa phận mính cai quản và tuyệt đối tuân lệnh Giáo hoàng Giám mục điều hành mọi công việc của địa phận, mỗi năm không được vắng quá 3 tháng ở các địa phận, không được cư ngụ ở nhà anh em Cơ sở thấp nhất của Hội thánh là Giáo xứ (xứ đạo, họ đạo) Điều khiển giáo xứ và chăn dắt tìn đồ là linh mục [21, tr 352], linh mục tuyệt đối tuân lệnh giám mục Có hai loại linh mục: linh mục “Triều” là những linh mục theo đơn vị hành chình từ xứ

họ trở lên, linh mục “Dòng” là linh mục làm chuyên môn Các linh mục có nhiệm vụ chăm sóc giáo dân, không được rời xa quá 2 tháng trong một năm, quyền lợi của các linh mục là quyền được làm các bì tìch và giáo huấn cho các tìn đồ

Vào lúc khởi đầu giáo hội Kitô giáo là một thành phần của Do Thái giáo và tuân theo lịch những ngày lễ, hội của Do Thái Giáo Khi sự phân chia giữa hai tôn giáo phát triển, Kitô giáo bắt đầu thành lập lịch riêng của mính Một số ngày

lễ chình của Kitô giáo có thể nhắc đến như: Lễ Giáng sinh đánh dấu ngày sinh nhật chúa Giesu được Kitô giáo phương Tây ăn mừng vào 25/12 trong khi Kitô giáo phương Đông lại tiến hành vào tháng Giêng Mười hai ngày sau lễ Giáng Sinh người Kitô giáo phương Tây mừng lễ Ba Vua để tưởng nhớ các nhà thông thái đến Bethlehem tím chúa hài đồng Giesu Lễ Phục Sinh là lễ xưa nhất và được chấp nhận rộng rãi nhất trong lịch Kitô giáo 40 ngày trước lễ Phục Sinh người Kitô giáo có ngày thứ tư Lễ Tro 40 ngày kế tiếp người Kitô giáo giữ mùa chay Mùa chay kết thúc với Tuần Thánh Ngày đầu tiên của tuần lễ này được gọi là Chúa nhật Lễ lá khi người Kitô giáo tưởng nhớ việc vào thành Gierusalem vinh quang của chúa Giesu Ngoài ra còn có một số ngày lễ khác như lễ Chúa

Trang 18

Nhật, Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống…

Kitô giáo ngày nay đối mặt với nhiều vấn đề độc đáo Trong tất cả các tôn giáo trên thế giới, Kitô giáo có lượng tìn đồ lớn nhất và trải khắp một vùng địa

lý rộng hơn bất cứ tôn giáo nào khác Tuy nhiên chình qui mô và sự đa dạng của Kitô giáo đã làm cho tôn giáo này có những vấn đề độc đáo mang màu sắc riêng Trong những năm đầu của thế kỷ XXI, cộng đồng Kitô giáo cho thấy nhiều bộ mặt khác nhau Ở châu Âu với mô thức những giáo hội quốc gia, Kitô giáo đang tĩnh tại Tôn giáo ấy được các chình phủ quốc gia ủng hộ về mặt tài chình và có

uy tìn Những trường đại học và những giáo hội châu Âu tiếp tục đào tạo nhiều học giả Kitô giáo hàng đầu Tuy nhiên sự ủng hộ của người dân không nhiều Trong một vài quốc gia châu Âu, số người đi nhà thờ ước tình khoảng 2% dân

số [11, tr.522] khác với Mỹ nơi mà số người đi nhà thờ khá cao Nhưng ở Mỹ Kitô giáo lại vấp phải vấn đề trong việc tím cho đủ nam và nữ tu sĩ phục vụ cộng đồng tìn đồ bởi ví Kitô giáo vẫn tiếp tục đòi hỏi tu sĩ phải sống độc thân Tuy nhiên cũng chình ví sự thiếu hụt nam, nữ tu sĩ đã dẫn đến việc tham gia đông đảo của giáo dân vào sinh hoạt phụng vụ của Giáo hội Sự phát triển đáng lưu ý nhất của Kitô giáo ở Mỹ trong những năm gần đây là những vị thế của những nhóm Tin Lành Phúc âm Phái này đã làm chủ được những phương tiện thông tin đại chúng Ở châu Phi người Kitô giáo bây giờ đông hơn người Hồi giáo Ở Nam Triều Tiên, nơi mà truyền thống là Phật giáo và Khổng giáo, Kitô giáo cũng đang phát triển với mức trung bính 10% năm [11, tr.523]

Với một lịch sử khoảng 2000 năm, Kitô giáo từ khi ra đời đã không ngừng truyền bá và lan tỏa ảnh hưởng rộng rãi ra toàn thế giới, nhất là trong xã hội phương Tây Bởi vậy nó có ảnh hưởng to lớn đến đời sống sản xuất văn hóa các dân tộc, có tác dụng không nhỏ đối với sự phát triển chình trị, kinh tế, pháp luật, triết học, văn học nghệ thuật và khoa học kỹ thuật của nhiều quốc gia Vì dụ như

ở Châu Mỹ Latinh do có sự truyền bá mạnh mẽ của Thiên Chúa Giáo, mà sắc

thái văn hóa Thiên chúa giáo ở đây rất đậm Ở Bắc Mỹ thí thịnh hành thuyết lập

Trang 19

đạo Tin lành Nhín một cách tổng thể văn hóa Bắc Mỹ về cơ bản là bắt nguồn từ truyền thống văn hóa Kitô giáo châu Âu, ngay cả rất nhiều trường đại học nổi tiếng với tư cách là trung tâm văn hóa tư tưởng, lúc đầu cũng là do các giáo sỹ truyền giáo hoặc các tìn đồ Kitô giáo đề xướng và ủng hộ nên mới được lập ra Bên cạnh đó do sự truyền giáo mạnh mẽ của các giáo sĩ dòng Tên [21, tr.397] ra các khu vực châu Á, châu Phi ở thế kỷ XVI nên văn hóa Kitô giáo cũng đã ảnh hưởng và thâm nhập vào nhiều quốc gia và nhiều dân tộc ở hai khu vực này

1.2 Khái lược lịch sử truyền đạo Kitô vào Nhật Bản

Kitô giáo xuất hiện trên đất nước mặt trời mọc vào thời điểm mà lịch sử

Nhật Bản gọi là sengoku jidai ( chiến quốc thời đại) hay giai đoạn xung đột

trong nước Tính trạng vô chình phủ tràn lan và trong nhiều năm đất nước bị nội chiến tàn phá Có một điều đáng chú ý là tuy chinh chiến liên miên như vậy nhưng kinh tế và văn hóa trong giai đoạn này lại có nhiều khởi sắc Năm 1549 những nhà truyền giáo dòng Tên đầu tiên là Francis Xavier (1506 – 1552) và Cosme Torres (1510 - 70) đã đến Kagoshima và đây là mốc đánh dấu sự có mặt của đạo Kitô trên xứ sở hoa anh đào Phạm vi hoạt động chủ yếu của họ là ở Kyushu (một hòn đảo xa nhất về phìa nam của Nhật Bản) Vài tuần sau khi đến đây, Xavier đã được Shimazu Takahisa (lãnh chúa xứ Satsuma) [8, tr.25] tiếp đãi nồng hậu và cho phép giảng đạo trong lãnh địa của ông Trong thời gian này Xavier đã rửa tội cho khoảng 100 người [8, tr.26] Sau đó do mâu thuẫn và công kìch các nhà sư Phật giáo trùng với sự kiện một chiếc tàu tiếp theo của người Bồ Đào Nha đến và nhả neo ở hải cảng Hirado, hải cảng của kẻ thù của Takahisa nên Takahisa đã trục xuất những nhà truyền đạo này do những toan tình thương mại không thành Thiếu linh mục, những bất ổn về chình trị, sự thù địch của các nhà sư, những cuộc bách hại địa phương và đôi khi là sự sốt sắng thiếu khôn ngoan của các thừa sai cũng như của những người trở lại đạo là những lý do chình khiến cho Giáo hội chậm phát triển trong nhiều năm

Năm 1600 khi Tokugawa Ieyasu thay thế Hideyoshi và trở thành tướng

Trang 20

quân của Nhật Bản, ông đã có thái độ khoan dung tương tự với các nhà truyền giáo, khuyến khìch người Nhật tham gia buôn bán với nước ngoài cho phép các nhà truyền giáo được ở lại Nhật Cũng giống như Hideyoshi và Nobunaga, Ieyasu không có chút quan tâm cá nhân nào đến giáo lý Kitô giáo theo đúng nghĩa Các chình sách khoan dung và thân thiện của ông chỉ là vỉ các lý do thương mại nhưng các thừa sai Kitô giáo đã lợi dụng triệt để quyền tự do tương đối mà vị tướng quân này dành cho các ông Kể từ năm 1601, Giáo Hội ở Nhật Bản đã bước vào một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của tự do tương đối và hưng thịnh Các thừa sai có thể dấn thân hoàn toàn cho công việc mục vụ thường xuyên hơn và sứ vụ tông đồ được tổ chức tốt hơn Năm 1607 các thừa sai dòng Tên có tổng số hơn 140 thành viên Nagasaki trở thành trung tâm quan trọng nhất của đời sống Kitô giáo Gần như toàn bộ dân số 40.000 người là người Công giáo [8, tr.162] Các học viện và tập viện của dòng Tên đều được chuyển tới đây Năm 1611 có 11 nhà thờ tại Nagasaki, 4 nhà thờ được giao cho hàng

giáo sĩ triều [8, tr.163] Nagasaki thực sự trở thành Roma nhỏ của Nhật Bản

Tuy nhiên tính hính thực sự đã thay đổi khi Ieyasu nhận thấy người Tây Ban Nha không mấy quan tâm đến buôn bán thông qua việc họ gửi khá nhiều các thừa sai đến thay ví các thợ mỏ hay những đoàn thuyền chở đầy hàng hóa cộng với việc người Hà Lan miêu tả các thừa sai như những người tiên phong trong việc xâm lăng ngoại quốc khiến ông bắt đầu có thái độ nghi ngờ và vào năm 1605 ông đã tím đến với các mối quan hệ khác như với Hà Lan và Anh Năm 1612 ông chình thức quyết định cấm đạo Kitô, triệt phá một số nhà thờ và

áp dụng những biện pháp kiên quyết đối với dân đạo trong giới quân sự, đặc biệt đối với những quân nhân cao cấp, tuy nhiên vẫn chưa tước quyền tự do tìn ngưỡng, tôn giáo của những người thuộc tầng lớp khác Nhiều nhà truyền giáo

đã bị quản thúc tại nhà cho tới lúc chết và đã có nhiều người tử ví đạo ở Kyoto

và Nagasaki

Khi Ieyasu qua đời, con trai ông là Hidetada lên cầm quyền và tỏ ra là một

Trang 21

kẻ bách hại đạo còn kiên quyết hơn cả cha mính cộng thêm với việc ông cũng không mấy mặn mà với ngoại thương Nếu như cuộc tử đạo ở Nagasaki năm

1597 chỉ làm đổ máu người Kitô hữu Nhật Bản thí năm 1616 Hidetada đã thi hành sắc lệnh chống Kitô giáo trong đó vừa trục xuất vừa xử trảm các linh mục ngoại quốc Năm 1618 có 68 người tử đạo [8, tr.201] Đến năm 1619 con số này

là 90 nạn nhân Bất chấp bách hại liên tục và đẫm máu, các thừa sai vẫn đem được một số người trở lại đạo Năm 1617 các thừa sai dòng Tên đã rửa tội được cho 800 người, năm 1619 là 1800 và năm 1622 là khoảng 2000 người [8, tr.205]

Năm 1623 sau khi Hidetada từ chức tướng quân trên danh nghĩa, con trai ông là Iemitsu lên kế nghiệp Iemitsu được biết đến trong lịch sử Nhật Bản là một vị tướng quân đã đóng cửa đất nước đối với mọi ảnh hưởng của ngoại quốc

và tiến hành những cuộc bách hại dữ dội nhất chống lại Kitô giáo Nếu như dưới thời Ieyasu các nhà truyền giáo ngoại quốc bị trục xuất nhưng không một linh mục ngoại quốc nào bị xử tử Hidetada tiến thêm một bước là nhiều nhà truyền giáo bị chém đầu hoặc thiêu sống nhưng các hính phạt tra tấn vẫn chưa được áp dụng Còn đến thời Iemitsu thí những người theo đạo Kitô cũng như các nhà truyền giáo phải chịu những hính phạt tra tấn khủng khiếp nhất như dím trong nước lạnh hay thiêu sống [8, tr.214] cho tới khi họ công khai chối bỏ đức tin của mính hoặc mất mạng Năm 1624 hơn 200 người theo đạo Kitô đã tử đạo Những năm 1627 - 1634 là giai đoạn thảm khốc nhất kể từ khi nổ ra cuộc bách hại không chỉ về con số mà cả về mức độ tàn bạo của những hính phạt tra tấn Tình đến tháng 3-1623 vẫn còn 23 nhà truyền giáo dòng Tên, 1 nhà truyền giáo dòng Augustino, 2 nhà truyền giáo dòng Đa Minh và 7 hoặc 8 nhà truyền giáo dòng Phanxico tại Nhật Bản Với những nỗ lực cuối cùng các nhà truyền giáo cải trang thành các thương gia bì mật đến Nhật Bản trên một chiếc tàu của Tây Ban Nha Tuy nhiên vào khoảng thời gian đó những lệnh nghiêm ngặt được chình quyền ban ra tại Macao cấm bất cứ nhà truyền giáo nào đến Nhật Bản trên các tàu của Bồ Đào Nha Mặt khác tất cả các quan hệ mậu dịch giữa Manila và Nhật Bản bị cắt đứt vào năm 1624 Do vậy các nỗ lực của 3 Hội Dòng nhằm

Trang 22

phái thêm một số nhà truyền giáo tăng cường cho xứ truyền giáo này đã không thành công Tuy nhiên năm 1632, 11 nhà truyền giáo trong đó 3 người thuộc dòng Tên, 4 của dòng Augustino, 2 của dòng Đa Minh và 2 của dòng Phanxico

đã vào được Nhật Bản Năm 1636, 4 nhà truyền giáo dòng Đa Minh giong buồm đến đảo Ryukyu hy vọng sẽ tím được từ đó một con đường an toàn để vào Nhật Tuy nhiên các nhà truyền giáo này đều bị phát hiện và thiệt mạng Trong suốt thời kỳ 1623 - 1639, các nhà truyền giáo ngoại quốc ở Nhật Bản sau sắc lệnh trục xuất hay lén đi vào sau đó đã sống trong các mối nguy hiểm thường trực ví

có thể sẽ bị phát hiện, bị bắt và xử tử Các nhà truyền đạo này đi lại dưới lốt cải trang các samurai, công nhân hay thương gia với những cái tên Nhật Bản Bằng cách này họ đã thăm viếng các con chiên của mính lẩn trốn đang tán loạn trên khắp đất nước cho đến khi bị bắt lần cuối cùng và bị hành hính hay chết ví gian khổ Trong hoàn cảnh như vậy các nhà truyền giáo người Nhật đóng một vai trò

vô cùng quan trọng ví họ có thể đi lại dễ dàng hơn Tình đến năm 1638 trên đất Nhật chỉ còn không quá 5 nhà truyền giáo sống sót (3 của dòng Tên và 2 của dòng Phanxico) Tuy nhiên rồi tất cả cũng đều bị bắt ở miền Bắc và chết trong

hố hoặc bị thiêu sống

Năm 1636 Nhật chình thức ra sắc lệnh bế quan tỏa cảng theo đó mọi giao

thương với ngoại quốc của các tàu thuyền Nhật Bản bị chấm dứt Chình sách này đối với Kitô giáo chẳng khác nào nhổ cỏ tận gốc qua việc ngăn chặn sự thâm nhập lén lút của các thừa sai vào Nhật Bản và không để bất cứ ảnh hưởng nào của Kitô giáo từ bên ngoài lọt vào được trong nước

Phủ Điều Tra Tôn Giáo được thành lập năm 1640 với nhiệm vụ tiêu diệt tất

cả những người theo đạo Kitô còn sống sót và xóa sổ các vết tìch cuối cùng của tôn giáo ngoại quốc này ra khỏi đất nước Nhật Bản Một trong những nhiệm vụ chình của Phủ Điều Tra Tôn Giáo là do thám và đàn áp các tìn đồ Kitô giáo đang lẩn trốn Nhằm đẩy mạnh việc truy nã ráo riết các tìn đồ đang lẩn trốn, chình quyền đã sử dụng nhiều biện pháp khác nhau dựa vào mật thám đồng thời gây

Trang 23

nghi ngờ chia rẽ như mỗi người dân buộc phải tố giác những người tin theo tôn giáo bị cấm, và để có được sự hợp tác nhiệt tính hơn của mọi người, chình quyền còn đưa ra hính thức thưởng tiền cho những ai tố giác các Kitô hữu

Hậu quả tất yếu của các cuộc điều tra tôn giáo nói trên là hầu như không một người theo đạo Kitô nào còn sót lại nào mà không bị phát hiện cho dù người

ấy đã cố che dấu đức tin của mính với một cái vỏ bề ngoài là bỏ đạo mà các tài

liệu của Nhật gọi là kakure kirisutan Trên thực tế các sử liệu của Nhật Bản cho

thấy hàng ngàn người theo đạo Kitô bị bắt và các cuộc hành quyết tập thể diễn

ra ở nhiều tỉnh trong suốt nửa sau thế kỷ XVII

Giữa thế kỷ XIX, mâu thuẫn sâu sắc giữa kinh tế tư bản chủ nghĩa với quan

hệ sản xuất phong kiến lỗi thời đã dẫn đến một thời kỳ sâu sắc Những cuộc đấu tranh của nhân dân nổ ra liên tiếp làm cho chế độ phong kiến Mạc Phủ phải trải qua một thời kỳ khủng hoảng trầm trọng Năm 1868 cuộc cách mạng dưới sự lãnh đạo của của Thiên hoàng Mutsuhito thắng lợi Chế độ Tokugawa hoàn toàn

bị xóa bỏ và chình phủ của Thiên hoàng được thành lập mở đầu một kỷ nguyên mới của Nhật Bản, kỷ nguyên Minh Trị Duy Tân Đây là thời kỳ Nhật Bản bắt

đầu công cuộc hiện đại hóa và vươn đến vị thế cường quốc trên thế giới Các hiệp

ước thương mại đã chấm dứt tính trạng bế quan tỏa cảng của Nhật Bản, nhưng không tháo gỡ được lệnh cấm Kitô giáo Tuy nhiên ví các nước phương Tây đều theo Kitô giáo nên Nhật Bản không thể không xem xét đến một số điều khoản về các vấn đề tôn giáo Đồng thời sau khi phái bộ Iwakura đi tuần du ở Âu mỹ về, chình phủ Minh Trị thấy rõ sự gắn bó của người Tây phương với đối với đạo Thiên chúa và muốn Tây phương chấp nhận Nhật Bản nên đã cho triệt hồi lệnh cấm Đạo vào năm 1873 Từ đó các nhà truyền đạo Kitô đã vào Nhật cuối thời Tokugawa để giúp đỡ về giáo dục và y liệu mới có điều kiện để tìch cực truyền đạo Trên cơ sở đó Đạo Kitô đã có một vài đóng góp nhất định đặc biệt là vấn đề giáo dục và các phong trào liên kết thương mại

Riêng trường hợp đạo Tin lành thí có mặt ở Nhật muộn hơn so với các

Trang 24

nhánh khác Năm 1854, Nhật Bản xoá bỏ chình sách “Bế quan toả cảng”, các tổ chức truyền giáo Âu - Mỹ đã tận dụng điều đó và từ năm 1859 đã gửi các nhà truyền giáo Tin Lành đến Nhật Bản Theo điều khoản "tự do mậu dịch" của Hiệp ước Nhật - Mỹ thí người dân hai nước có thể trao đổi, buôn bán mà không có sự phân biệt, ngăn cấm nào và do vậy những sách báo, thư tịch của đạo Tin Lành cũng đưa tự do vào Nhật Bản thông qua sự giúp đỡ của chình những người Nhật Bản Sau 2 thế kỷ “đóng cửa” giờ mở ra đón nhận làn gió mới cho nên lúc đầu Nhật Bản cũng không phân biệt rõ được sự khác biệt giữa Tin Lành và Công giáo, song suy nghĩ chung của chình quyền là nếu Kitô giáo đưa vào Nhật Bản thí những giá trị của quốc gia vốn hính thành từ xưa có thể bị phá hoại Chình ví vậy, năm 1854, khi ký Hiệp ước thân thiện Nhật - Mỹ thí phìa Nhật Bản cũng đề cập đến các điều kiện về tôn giáo Năm 1859, căn cứ vào danh mục gọi là "Việc trợ giúp hoạt động tìn ngưỡng của người dân chình quốc", có 6 nhà truyền giáo Tin Lành đã đến Nagasaki Những nhà truyền giáo này cư trú ở những đô thị gần cảng

và rất nỗ lực học tiếng Nhật Họ vừa dạy tiếng Anh vừa làm công việc chữa bệnh đồng thời bắt tay vào việc dịch kinh thánh để phục vụ cho công việc truyền giáo trong tương lai

Ngoài 6 nhà truyền giáo đầu tiên thí tên tuổi của những nhà truyền giáo khác thường được nhắc đến trong thời kỳ đầu như Ballagh thuộc Công hội Yokohama, Janes là người đứng đầu tổ chức giáo viên ở tỉnh Kumamoto, Clark là người đứng đầu tổ chức giáo viên ở thành phố Sapporo Các nhà truyền giáo Tin Lành đã nhanh chóng tiếp cận và giảng dạy cho những người làm nghề giáo dục để qua đó

họ có thể nắm bắt, chỉ đạo giáo hội, nhà thờ của Nhật Bản Trong những nhà truyền giáo không phải không có chủ trương phân chia các giáo phái, song nhín chung những nhà truyền giáo Mỹ đã du nhập trực tiếp vào Nhật Bản và giữ nguyên mẫu giáo phái của chình quốc

Các nhà truyền giáo đã đến Nhật Bản có rất nhiều người Mỹ với số lượng áp đảo, tiếp đó là người Anh, Canada, Đức Điều đó cho thấy, Giáo hội Nhật Bản đã

Trang 25

những nhà truyền giáo Tin Lành cũng thành công bước đầu với công việc của mính ngay cả trong thời kỳ cấm đạo của chình quyền Minh Trị

Sau lệnh dỡ bỏ việc cấm đạo (1873), các hoạt động của đạo Tin Lành mặc nhiên được thừa nhận đã mở ra một giai đoạn phát triển mới mạnh mẽ hơn trước Thật vậy, những nỗ lực hoạt động từ trước đó cho đến lúc này (1873) của các nhà truyền giáo Tin Lành ở Nhật Bản đã đạt được những thành quả nhất định Từ đây, Nhật Bản bước vào giai đoạn sùng bái phương Tây nhất là thập niên 80 của thế kỷ XIX, xu hướng phương Tây hoá trở nên thịnh hành đến mức thành trào lưu xã hội Thập niên 90 của thế kỷ XIX chứng kiến sự trỗi dậy mạnh mẽ của chủ nghĩa dân tộc và cùng với đó là tư tưởng bài ngoại cũng phát triển rất mạnh, bởi vậy, ảnh hưởng của việc truyền đạo đã giảm đến mức thấp nhất

Tháng 8 năm 1945, nước Nhật Bản bị kiệt quệ và tan nát ví chiến tranh đã chấp nhận đầu hàng các cường quốc Đồng Minh, và theo chỉ dụ của Thiên Hoàng, nhân dân đã hạ vũ khì Suốt hơn sáu năm sau khi đầu hàng, Nhật Bản đã

bị đặt dưới sự kiểm soát của quân Đồng Minh, chủ yếu là Mỹ Song song với việc phục hồi kinh tế, Nhật Bản đã hết sức cố gắng để khôi phục vị trì ngoại giao quốc tế của mính

Khi cuộc chiến tranh thế giới thứ 2 kết thúc và cuộc chiếm đóng nước Nhật bắt đầu, các nhà truyền đạo ngoại quốc quay trở lại hoạt động Các tìn đồ Kitô Nhật phải vượt qua một thời kỳ khó khăn để hàn gắn các vết thương chiến tranh

về thể chất cũng như tinh thần Vào lúc nhiều người mất lòng tin vào nước Nhật

và nhiệt tính hướng đến với nước Mỹ, đạo Kitô đã gây được sự chú ý, nhưng những thành tìch lâu dài thực sự lại thuộc về các phong trào tìn ngưỡng mới của Nhật Bản như Soka Gakkai, được xây dựng trên truyền thống tìn ngưỡng của người Nhật

Hiến pháp sau chiến tranh đã đảm bảo tự do tìn ngưỡng và tách tôn giáo ra khỏi nhà nước Nhiều nhóm Kitô giáo đã phản đối những biểu hiện của chình

Trang 26

phủ ủng hộ Thần đạo Đồng thời các nhóm Kitô giáo này cũng tìch cực hoạt động cho phong trào hòa bính Lễ giáng sinh và các đám cưới theo kiểu Thiên chúa giáo đã trở thành một phần văn hóa đại chúng và hính ảnh đạo Kitô có được thiện cảm chưa từng thấy - những kết quả này có được là nhờ mối liên hệ gắn bó với phương Tây

Nguồn: Niên giám tôn giáo Nhật 2009 – ACA (Cục thống kê Nhật Bản)

Nguồn: Niên giám tôn giáo Nhật 2009 – ACA (Cục thống kê Nhật Bản)

Trang 27

tăng số lượng tìn đồ là mấy Nhín vào biểu đồ trên ta cũng có thể thấy là từ 1985 trở lại đây mặc dù số lượng những người theo đạo Kitô ở Nhật có chiều hướng tăng lên nhưng mức độ tăng không đáng kể Hiện nay số lượng dân số Nhật theo đạo Kitô cũng vẫn khiêm tốn với hơn 1%, ìt hơn rất nhiều so với Phật giáo và Thần đạo

Nguồn: Niên giám tôn giáo Nhật 2009 – ACA (Cục thống kê Nhật Bản)

Hiện nay tại Nhật có 47 giáo xứ phân bố trong 16 giáo phận là: Sapporo, Sendai, Niigata, Saitama, Tokyo, Yokohama, Nagoya, Kyoto, Osaka, Hiroshima, Takamatsu, Fukuoka, Nagasaki, Oita, Kagoshima, Naha [37]

Như vậy Kitô giáo có mặt trên đất nước mặt trời mọc giữa lúc đất nước đang có nội chiến nhưng chình sách với bên ngoài thí lại rất cởi mở không ngoại trừ chình sách đối với tôn giáo Đây là điều kiện thuận lợi để một tôn giáo ngoại lai như Kitô thâm nhập vào xã hội Nhật Bản cho dù lúc đó Thần đạo và Phật Giáo cũng như Nho giáo đã có mặt ở đây và có ảnh hưởng không nhỏ đối với đất nước này Có thể thấy quá trính truyền đạo Kitô phát triển qua 3 giai đoạn Giai đoạn đầu du nhập và chẳng bao lâu sau bị bài trừ Giai đoạn này Kitô giáo được người dân ở đây niềm nở chào đón do có sự hậu thuẫn của nhà cầm quyền

và số lượng tìn đồ tăng lên nhanh chóng Nhưng khi những lợi ìch về mặt ngoại

Trang 28

thương không được đáp ứng cũng như những ngờ vực về mưu đồ xâm hại quốc gia có cơ sở thí số lượng các nhà truyền giáo bị trục xuất và tìn đồ Kitô hữu bị bách hại cũng nhiều không kém Giai đoạn tái du nhập và tiếp tục công cuộc truyền giáo tuy có một vài đóng góp nhưng những thành kiến đã có từ trước với tôn giáo này khiến cho người dân nơi đây không mấy mặn mà Giai đoạn sau chiến tranh với chình sách tự do tôn giáo của nhà nước thí người dân xứ Phù Tang thực sự cũng chỉ chấp nhận Kitô giáo ở khìa cạnh khai thác gí phù hợp với

họ Biểu hiện là số lượng tìn đồ rất khiêm tốn

Qua kinh nghiệm thực tế các nhà truyền đạo Kitô rút ra bài học rằng ở Nhật Bản được lòng người cầm quyền thí sẽ được lòng dân và công cuộc truyền đạo sẽ dễ dàng Tuy nhiên các nhà truyền đạo đã quên một điều rằng kể từ buổi

sơ khai đặt chân lên đất Nhật cho tới khi bị trục xuất thí giới cầm quyền cho phép và tạo điều kiện để họ được truyền đạo nhưng mục đìch sâu xa là để phát triển ngoại thương chứ không phải ví niềm tin tôn giáo Từ Nobunaga, Hideyoshi cho tới Ieyasu… tất cả đều không mảy may quan tâm đến giáo lý của tôn giáo này Đó chình là con dao hai lưỡi nên khi những mong muốn về ngoại thương không được đáp ứng cũng như khi những nghi ngờ về an ninh quốc gia

có cơ sở thí lập tức giới cầm quyền quay lưng lại và tiến hành trục xuất cũng như bách hại

Giáo hội không ngừng hỗ trợ đắc lực cho công cuộc truyền giáo ở Nhật

và luôn đưa ra những chình sách phù hợp với bối cảnh chình trị xã hội nhưng xem ra các nhà truyền đạo Kitô phải nghiên cứu thật kỹ tình cách con người Nhật Bản để phù hợp hóa giáo lý của mính cũng như tìch cực nghiên cứu các tôn giáo đang có mặt ở Nhật để dung hòa và phát triển Có lẽ thái độ nôn nóng khôi phục và mở rộng Giáo hội của mính mà chình các nhà truyền đạo đã đánh mất

cơ hội của mính

Chình sách cấm đạo của Nhật Bản nhín chung là một chình sách phổ biến

Trang 29

xuất phát của nó là từ sự lo ngại khả năng xâm lược quốc gia của những nước phương Tây hùng mạnh và một tâm lý giữ gín truyền thống “khư khư tuân theo những phong cách, phong tục của mính và cho tất cả điều đó là cao thượng”

Trang 30

CHƯƠNG 2 VAI TRÕ CỦA KITÔ GIÁO ĐỐI VỚI GIÁO DỤC - Y TẾ VÀ CÔNG TÁC

Trang 31

mà Hội Thánh đặc biệt đề cao mối quan tâm đối với những người nghèo đói, tàn tật, cũng như những công cuộc gọi là từ thiện và tương trợ để xoa dịu những đau khổ của nhân loại

2.1 Vai trò của Kitô giáo đối với giáo dục Nhật Bản

Nhật Bản được biết đến như là một đất nước có nền giáo dục đứng vào tốp đầu thế giới Từ năm 1947, Nhật Bản áp dụng hệ thống giáo dục bắt buộc gồm tiểu học và trung học trong chìn năm cho học sinh từ sáu đến mười lăm tuổi Hầu hết sau đó đều tiếp tục chương trính trung học và theo MEXT, khoảng 75,9 % học sinh tốt nghiệp phổ thông tiếp tục học lên bậc đại học, cao đẳng hay các chương trính trao đổi giáo dục khác Giáo dục ở Nhật có tình cạnh tranh rất cao đặc biệt ở các kí thi tuyển sinh đại học, điển hính là các kí thi tuyển của hai trường đại học cao cấp Tokyo và Kyoto Chương trính đánh giá sinh viên quốc

tế hợp tác OECD hiện xếp Nhật Bản ở vị trì thứ 6 thế giới [24] Đối với Nhật Bản, một đất nước nghèo tài nguyên thiên nhiên thí yếu tố “con người” đã từ lâu được chú trọng và giáo dục con người được xem như một đòn bẩy thúc đẩy công cuộc hiện đại hóa, phát triển kinh tế đất nước Mặc dù, văn hóa Nhật Bản in đậm dấu ấn ảnh hưởng của nền văn hóa, văn minh Trung Hoa, nhưng hệ thống và các

tư tưởng giáo dục của Nhật Bản lại được thực hiện theo mô hính của các nước phương Tây Điều này đã tạo cơ sở cho sự phát triển kinh tế và công nghiệp của đất nước Nhật Bản trong thời kỳ hiện đại Người Nhật kể cả tầng lớp lao động ìt học cũng hành xử rất có văn hóa Mọi người nói năng rất lịch sự Không thấy ai nói tục chửi bậy ở nơi công cộng Trên các phương tiện giao thông công cộng, ngoài phố, rất khó phân biệt người giàu người nghèo, ví ai nấy đều ăn mặc đẹp

đẽ, lịch sự như nhau, tuy là không ai giống ai Điều đó là kết quả của hệ thống giáo dục phát triển toàn diện Kitô giáo cũng có vai trò nhất định trong việc xây dựng hệ thống giáo dục và phúc lợi xã hội ở Nhật Bản thời kỳ đầu và thậm chì

cả hiện tại

Kitô giáo trên thế giới nói chung trải qua hơn 2.000 năm lịch sử hính thành

Trang 32

và phát triển, cũng như để đạt được mục đìch là giáo dục, đào tạo nên những con người toàn diện, Kitô giáo đã sử dụng một hệ thống môi trường giáo dục rất phong phú và đa dạng Khắp Châu Á, ở đâu người ta cũng thấy rõ giáo hội Kitô dấn thân vào hoạt động giáo dục một cách rộng rãi Đây là một yếu tố then chốt làm cho Kitô giáo luôn hiện diện giữa các dân tộc ở lục địa này Không chỉ ở Nhật Bản mà ở nhiều nước các trường Kitô giáo đóng một vai trò quan trọng trong việc không chỉ làm cho tôn giáo này thâm nhập vào văn hóa các nước mà còn dạy những cách sống cởi mở và tôn trọng lẫn nhau, khơi dậy sự cảm thông giữa các tôn giáo

Tôn giáo tham gia vào giáo dục là một hiện tượng có từ lâu trong lịch sử Nhật Bản Điển hính là việc mở trường dạy học của các Thiền phái Phật giáo có ngay từ thời Kamakura Thời đó hầu hết nền giáo dục được quản lý bởi cái được

gọi là trường chùa (terakoya), có nguồn gốc từ những trường của Phật giáo

trước đây Sự thành lập các trường này không chịu nhiều ảnh hưởng của tôn giáo hoặc bởi người thành lập Đến năm 1867, hầu hết trường học được xây dựng ở chùa Vào cuối thời Tokugawa đã có hơn 11.000 trường học với hơn 750.000 học sinh tham gia Việc các giáo phái quan tâm đến giáo dục trước hết là do họ quan tâm đến việc đào tạo nhân lực, đào tạo những người kế tục sự nghiệp và cũng là cách để thu hút tìn đồ Các giáo phái và tổ chức tôn giáo rất nhiệt tâm đầu tư vào giáo dục Trước chiến tranh chỉ có một số ìt các giáo phái và tổ chức tôn giáo quan tâm đến giáo dục như Konkoukyo và Tenrikyo Nhưng sau chiến tranh các tổ chức trên vẫn tăng cường sự nghiệp của mính đồng thời một số giáo phái khác bắt đầu tăng cường đầu tư mạnh vào giáo dục đặc biệt là thành lập thêm nhiều trường trung học phổ thông và trung học bậc cao Các nhà truyền đạo Kitô đến Nhật Bản vào thế kỷ XVI đã thử nhiều phương pháp khác nhau để tiếp cận người Nhật và giới thiệu Đức Tin đến họ Một trong những phương pháp đó là xây các trường học để dạy người Nhật và đồng thời để truyền đạo Trường học không chỉ là nơi để dạy kiến thức mà còn là nơi để các nhà truyền giáo dạy kinh thánh cho các con chiên của mính Các trường Kitô có ở Nhật Bản

Trang 33

từ sau năm 1868, đó là thời điểm nước Nhật còn trong giai đoạn lộn xộn và ví Kitô giáo còn bị cấm nên nhiều nhà truyền giáo lập ra các trường dưới danh nghĩa trường tư thục, đặc biệt là trường tư thục dạy tiếng Anh Các trường này

có thể là do các đoàn truyền giáo lập ra, cũng có thể do các nhà truyền giáo được mời đến dạy ở một trường có sẵn Mục đìch giáo dục của các nhà truyền giáo là truyền bá kinh Phúc Âm Ngay năm 1862, G.H.F Verbeck đã mở lớp Phúc Âm tại Nagasaki, và năm 1863 J.C Hepburn đã mở một trường tư thục tại Yokohama

mà sau này chình là Đại học Meiji Gakuin vẫn còn hoạt động cho tới tận bây giờ với nhiều thành tìch xuất sắc Nội dung dạy ở các trường của Kitô giáo rất đa dạng Các nhà truyền giáo trong trường dạy ngôn ngữ tiếng Nhật, văn học Nhật Bản, toán học, mỹ thuật phương Tây, ngoại ngữ ( chủ yếu là tiếng Anh và tiếng

Bồ Đào Nha) và các môn khoa học khác Mặc dù là trường Kitô giáo nhưng việc giáo dục của phương tây không chỉ giới hạn ở những người theo đạo Kitô Đây

là nơi để người Nhật có thể nhín thấy văn hóa và khoa học kỹ thuật phương Tây Giáo viên dạy ở các trường của các tổ chức Kitô giáo hầu hết đều đến từ các nước phương Tây Họ dạy vật lý, hóa học, vũ trụ và một số môn khoa học công nghệ của phương tây trong các trường học Do vậy ngoài việc buôn bán với các nước phương Tây trong thời kỳ đầu của giai đoạn mở cửa ở Nhật Bản, bằng những cách khác nhau các trường học của các tổ chức Kitô giáo chình là cầu nối

để người Nhật tiếp thu và học hỏi từ phương Tây

Tháng 8 năm 1945 Nhật đầu hàng quân đồng minh và do hậu quả của 2 quả bom giáng xuống Nhật Bản mà hầu hết các trường học phải đóng cửa trong nhiều tháng Theo số liệu thống kê ước chừng 18.000.000 sinh viên phải nghỉ học, 4.000 trường học bị phá hủy và chỉ còn sót lại khoảng 205 số giáo trính tài liệu có thể sử dụng được [36, pg 23].Thêm vào đó là tính trạng “bùng nổ trẻ em” xuất hiện từ năm 1940, mà sau chiến tranh nhu cầu về trường học tăng rất nhanh Năm 1950 tỷ lệ sinh là 28.1% [42] Năm 1949 sắc lệnh về trường tư được công bố, cho phép các cá nhân và tổ chức được phép mở trường với những điều kiện cụ thể Các trường tư phải đảm bảo nguyên tắc không đi ngược lại lợi

Trang 34

ìch xã hội và tư cách pháp nhân của nhà trường được pháp luật bảo vệ Tính

hính này đã được các tổ chức tôn giáo trong đó có cả Kitô giáo lợi dụng và đầu

tư ngày một nhiều vào các lĩnh vực xây dựng trường học Chình ví vậy không

lâu sau chiến tranh thí khuynh hướng nhấn mạnh vai trò của giáo dục trong việc

nuôi dưỡng những lý tưởng tôn giáo đã xuất hiện trở lại Năm 1965 có khoảng

650.000 sinh viên học ở trường đại học và cao đẳng tư thục chiếm 72% tổng số

sinh viên cả nước So với năm 1949 chỉ có khoảng 100.000 sinh viên học ở

trường tư thục thí con số này cho thấy chỉ trong vòng 15 năm đã tăng đến 6.5 lần

Và kể từ năm 1953 số lượng sinh viên học trường công lập gần như không tăng

Trong các điều luật áp dụng trong pháp lệnh giáo dục nhà trường năm 1947,

đã quy định rõ ràng rằng các trường tư được phép đưa phần giáo dục tôn giáo

vào trong giáo trính giảng dạy và phần giáo dục tôn giáo đó nằm trong nội dung

giáo dục đạo đức Rất nhiều trường tư được thiết lập bởi các tổ chức tôn giáo đã

phát triển theo hướng này Có một khuynh hướng nổi bật là nhiều trường công

do các tổ chức tôn giáo lập ra, đã đổi hướng để có cơ hội giáo dục tôn giáo Đó

chình là bối cảnh mà nhiều trường đại học được thiết lập sau chiến tranh bởi các

đoàn thể tôn giáo Một số trường hính thành từ những cơ sở trước đó là những

trường chuyên, trường ngoài giờ, giống như đại học Tenri ( của giáo phái

Tenrikyo), Đại học Meiji Gakuin ( của giáo phái Tin Lành) Điểm đặc biệt của

hoạt động giáo dục của các tổ chức tôn giáo ngày nay là khoảng 2/3 các trường

loại này là trường Kitô giáo Hiện nay trên toàn nước Nhật có tổng cộng 620

trường học (từ cấp phổ thông cho tới đại học, cao đẳng) là của các tổ chức Kitô

giáo, chiếm 1,2% tổng số các trường phổ thông ở Nhật, 7% các trường tư thục

Có 67,4% các trường tư thục của các tổ chức tôn giáo ở Nhật là trường Kitô giáo Nếu tình đến tỷ lệ các tìn đồ Kitô giáo hiện chỉ chiếm hơn 1% dân số Nhật Bản

thí tỷ lệ trường học như vậy quả là rất cao

Trong nửa đầu thế kỷ XX, Kitô giáo gặp một số khó khăn nhưng vẫn có

một số trường mới được lập ra Tuy nhiên đến năm 1946, số các trường Kitô

Trang 35

giáo bắt đầu tăng lên Hệ thống các trường Kitô giáo rất đa dạng từ vườn trẻ, tiểu học, trung học bậc thấp, trung học bậc cao, đại học, học viện… Mặc dù các trường này là của tổ chức tôn giáo hoặc ìt nhất người sáng lập là những người theo đạo Kitô thành lập trường trên niềm tin tôn giáo nhưng nội dung giảng dạy trong trường lại cực kỳ phong phú Nó không chỉ dừng lại ở việc dạy giáo lý Kitô mà hơn thế nữa là truyền đạt kiến thức của loài người ví sự tiến bộ xã hội

và phục vụ loài người Một số trường của Kitô giáo hiện có ở Nhật Bản phải kể đến như Đại học nữ Công giáo Tokyo (Tokyo Woman's Christian University), Đại học Công giáo Ibaraki (Ibaraki Christian College), Đại học Công Giáo quốc

tế (International Christian University), Đại học Công giáo Tokyo (Tokyo Christian University) …

Bảng 2.1: Số lượng các cơ sở giáo dục của tổ chức Công giáo Nhật Bản qua một số năm

Khoảng 10 năm sau cuộc chiến tranh thế giới thứ 2 số lượng các trường

Công giáo ở Nhật tăng lên nhanh chóng đến mức người ta dùng cụm từ “bùng

Trang 36

nổ trường Công giáo” [30, pg 29] Số lượng học sinh sinh viên ghi danh vào

những trường này ngày càng đông Một trong những lý do đó là có nhiều giáo viên là người nước ngoài dạy trong những trường này Thêm vào đó ngoại ngữ đều được dạy bởi các nhà truyền giáo bằng chình tiếng mẹ đẻ của họ Các bậc phụ huynh quan tâm đến các trường Công giáo một phần ví nền giáo dục đạo đức ở đây Nơi tập trung các trường Công Giáo đông nhất là ở khu vực Tokyo và Osaka Tỷ lệ trường/dân số ở những khu vực này cao hơn hẳn những khu vực khác Vì dụ như năm 1962 Yokohama có dân số khoảng 20 triệu người chiếm 1/5 tổng dân số toàn nước Nhật Số lượng học sinh học trường Công giáo ở khu vực này là 36.000 học sinh trong tổng số 113.000 học sinh ở các trường Công giáo trên toàn nước Nhật (không kể mẫu giáo) Khoảng 1/3 học sinh học trường Công giáo tập trung ở vùng này Cùng thời điểm đó số lượng giáo viên và nhân viên làm việc trong trường Công giáo là 7.427 người Trong đó có 1727 người theo đạo [30, pg.29]

Trường chuyên sau này trở thành đại học Sophia đã đánh dấu sự xuất hiện sớm nhất của trường Thiên chúa giáo ở cấp học cao Trường đại học Sophia là ước mơ của St Francis Xavier khi đang truyền đạo Thiên chúa giáo ở Nhật Ông

đã mơ ước gây dựng sự giao lưu văn hóa, tôn giáo tư tưởng giữa Nhật Bản và Châu Âu, nhưng ước mơ đó đã không thực hiện được bởi chình sách bế quan tỏa cảng của Nhật lúc bấy giờ Năm 1908, ba giáo sỹ của hội dòng chúa Giesus và nghiên cứu chuyên môn khác nhau đã đến Nhật Bản và 5 năm sau đó (1913) họ

đã biến mong ước của cha cố Xavier thành hiện thực , sáng lập trường đại học thuộc Thiên chúa giáo với tên gọi là Sophia Với tinh thần sống đạo của Thiên chúa giáo, Sophia coi trọng từng học sinh, lấy mục tiêu là rèn luyện nhân cách con người, trau dồi khả năng phán đoán để nhận biết giá trị thực sự, bồi dưỡng tinh thần làm việc hết mính trong sự cảm thông nâng đỡ lẫn nhau… Đại học Sophia đào tạo những con người có thể cống hiến cho xã hội , hướng tới một xã hội công bằng và tự do với tâm niệm “ Ví người, sống cùng người‟ (Men and Women for Others, with others) Đại học Sophia được biết đến với phương thức

Trang 37

giáo dục theo nhóm ìt người Trên thực tế bính quân một giáo viên chỉ chủ nhiệm khoảng 22 sinh viên, là tỷ số thấp so với các trường đại học nổi tiếng của Nhật Với cách đào tạo này giáo viên có thể tiếp cận tình cách từng cá nhân, nâng cao kiến thức, hỗ trợ được nhiều hơn đến từng sinh viên Mặt khác, đại học Sophia còn được biết đến là một trong những trường đại học có quan hệ giao lưu quốc tế lớn nhất Nhật Bản 17% giảng viên là người nước ngoài đến từ nhiều nơi trên thế giới Một số khoa và ngành nghiên cứu có thể lấy được học vị bằng tiếng Anh Ngoài ra, đại học Sophia còn ký kết hiệp định để giao lưu trì thức quốc tế với hơn 140 trường đại học nước ngoài, mời giảng viên nước ngoài đến giảng dạy, đón gần 900 lưu học sinh đến từ khoảng 60 nước, gửi đi 450 du học sinh Tháng 7 năm 2009, với việc đã đón nhận 300.000 lưu học sinh và việc có thể lấy học vị bằng tiếng Anh, Sophia đã được tuyển chọn là trường đại học có công lớn ví sự nghiệp phát triển quốc tế hóa bộ giáo dục Nhật Bản

Chỉ 1 tuần sau chiến tranh thế giới thứ 2, một nhóm những nhà giáo dục Công giáo Nhật Bản đã chủ trương thành lập một trường đại học dựa trên nền tảng những qui định của Công giáo Những nhà truyền giáo ở Mĩ đã đến Nhật để

hỗ trợ nhiệt tính cũng như khảo sát để lên kế hoạch Năm 1948 Quỹ Đại học Công giáo Quốc tế Nhật Bản (Japan International Christian University Foundation -JICUF) ra đời tại New York nhằm gây quỹ tài trợ Năm 1950 Đại học quốc tế Công giáo (International Christian University - ICU) chình thức ra đời tại thành phố Mitaka ngoại ô Tokyo Với bề dày thành tìch năm 2003 trường được Bộ giáo dục văn hóa thể thao khoa học và công nghệ chọn đề tài: “Nghiên cứu và đào tạo ví hòa bính, an ninh và ổn định” (Research and Education for Peace, Security and Conviviality) là chương trính xuất sắc của thế kỷ XXI và công trính “Nghệ thuật tự do nuôi dưỡng cho những công dân có trách nhiệm toàn cầu” (Liberal Arts to Nurture Responsible Global Citizens) là chương trính

hỗ trợ giáo dục đại học đặc biệt

Ở cấp học phổ thông phải kể tới trường Eiko một trường phổ thông được

Trang 38

thành lập bởi một nhà truyền giáo vào năm 1947 Trường được xây dựng trên một phần căn cứ hải quân Nhật cũ ở Yokosuka Năm 1964 trường Eiko chuyển đến Kamakura Không phải bất kỳ học sinh nào nộp đơn đều được thi vào trường Tỷ lệ chọi thường là 1:4 Hơn thế nữa chỉ có học sinh của 200 trường tốt nhất mới được chọn để dự thi Tiêu chì đánh giá chất lượng của một trường phổ thông ở Nhật là tỷ lệ học sinh thi đỗ vào các trường đại học hạng nhất Theo tiêu chì đó trường Eiko được đánh giá là thuộc tốp 10 trường phổ thông tốt nhất Nhật Bản trong tổng số 4.000 trường hiện nay

Các trường học của Kitô giáo tạo cơ hội học tập cho phụ nữ và gián tiếp cung cấp lực lượng nữ có trính độ góp phần làm dồi dào nguồn lao động Nhật Bản thời hậu chiến Đầu thế kỷ XX ở Nhật Bản mới chỉ phổ cập giáo dục tiểu học Giáo dục đại học mới chỉ giới hạn ở một số ìt trường đại học quốc gia Ba trong số các trường đại học Hoàng Gia chấp nhận nữ học sinh Mặc dù đã có một số lượng các trường cao đẳng nữ thục và một số rất nổi tiếng nhưng nhín chung cơ hội cho phụ nữ học lên cấp học cao thí không nhiều Và trong thời gian sau đó các nhà truyền đạo Kitô đã tham gia vào việc xây dựng một số trường học ở cấp học cao Và như đã đề cập ở trên thí trường học trong hệ thống Kitô giáo là nơi chấp nhận và khuyến khìch các học sinh nữ Họ được xem như những người đã mở rộng cơ hội cho phụ nữ được học ở cấp cao hơn Năm 1948

ở Nhật có khoảng 61.6% học sinh nam và 38.4% là học sinh nữ Nhưng hơn 10 năm sau, năm 1960 tỷ lệ này là 52.5% cho nam và 47.5% cho nữ nâng tỷ lệ nam

nữ gần tương đương Đặc biệt ở các trường dạy nghề số lượng nữ sinh vượt trội

so với nam sinh Người ta nhín thấy sự thay đổi vai trò của người phụ nữ trong thị trường lao động Nhật Bản kể từ sau năm 1945 Số lượng phụ nữ tham gia vào lực lượng lao động tăng từ 18.3 triệu vào năm 1960 lên 27.6 triệu vào năm

2001 Hơn thế nữa số lượng phụ nữ làm công ăn lương tăng gấp 4 lần từ 5.31 triệu vào năm 1995 lên 21.64 triệu vào năm 2000 [29, pg.12] Phụ nữ không còn đơn thuần chỉ là những người nội trợ gia đính hay làm công việc đồng áng mà

đã tham gia làm việc trong các công ty ở lĩnh vực chế tạo, sản xuất, dịch

Ngày đăng: 23/03/2015, 13:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
11. Lewis M. Hopfe. Mark R. Woodward (2011), Các tôn giáo trên thế giới, Người dịch: Phạm Văn Liễn, Nxb Thời đại, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các tôn giáo trên thế giới
Tác giả: Lewis M. Hopfe. Mark R. Woodward
Nhà XB: Nxb Thời đại
Năm: 2011
12. Michio Morishima (1991), Tại sao Nhật Bản “thành công”? Công nghệ phương Tây và tính cách Nhật Bản, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tại sao Nhật Bản “thành công”? Công nghệ phương Tây và tính cách Nhật Bản
Tác giả: Michio Morishima
Nhà XB: Nxb. Khoa học Xã hội
Năm: 1991
13. Nguyễn Văn Ánh: Ảnh hưởng của văn hoá phương Tây ở Nhật Bản (thời kỳ 1543-1867). Kỷ yếu Hội thảo khoa học: Đông á-Đông Nam á, những vấn đề lịch sử và hiện tại. Đại học Quốc gia Hà Nội (Việt Nam), tháng 3-2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của văn hoá phương Tây ở Nhật Bản
14. Nguyễn Văn Kiệm (2003), Góp phần tìm hiểu một số vấn đề lịch sử cận đại Việt Nam, Nxb Văn hoá - Thông tin, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần tìm hiểu một số vấn đề lịch sử cận đại Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Kiệm
Nhà XB: Nxb Văn hoá - Thông tin
Năm: 2003
15. Nguyễn Văn Kim (2000), Chính sách đóng cửa của Nhật Bản thời kỳ Tokugawa - Nguyên nhân và hệ quả, Nxb Thế giới, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách đóng cửa của Nhật Bản thời kỳ Tokugawa - Nguyên nhân và hệ quả
Tác giả: Nguyễn Văn Kim
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2000
16. Nguyễn Văn Kim (2007), Cải cách Minh Trị ở Nhật Bản (1868-1912); trong: Vũ Dương Ninh (Cb), Phong trào cải cách ở một số nước Đông Á giữa thế kỷ XIX- đầu thế kỷ XX, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải cách Minh Trị ở Nhật Bản
Tác giả: Nguyễn Văn Kim
Nhà XB: Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2007
17. Nguyễn Văn Kim, Nhật Bản cuối thế kỷ XVI - đầu thế kỷ XVII qua con mắt của giáo sỹ Allesandro Valignano, T/c Nghiên cứu lịch sử số tháng 3,4 và số tháng 5,6 năm 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhật Bản cuối thế kỷ XVI - đầu thế kỷ XVII qua con mắt của giáo sỹ Allesandro Valignano
18. Phạm Hồng Thái (2005), Đời sống tôn giáo Nhật Bản hiện nay, Nxb KHXH, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đời sống tôn giáo Nhật Bản hiện nay
Tác giả: Phạm Hồng Thái
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 2005
19. R.H.P Mason và J.G. Caiger (2003), Lịch sử Nhật Bản, Người dịch Nguyễn Văn Sỹ, Nxb Lao Động, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Nhật Bản
Tác giả: R.H.P Mason và J.G. Caiger
Nhà XB: Nxb Lao Động
Năm: 2003
20. Sueki Fumihiko (2011), Lịch sử tôn giáo Nhật Bản, Người dịch TS. Phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử tôn giáo Nhật Bản
Tác giả: Sueki Fumihiko
Năm: 2011
21. Trác Tân Bính (2007), Lý giải tôn giáo, Người dịch Trần Nghĩa Phương, Nxb Hà Nội, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý giải tôn giáo
Tác giả: Trác Tân Bính
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2007
22. Vĩnh Sình (1990), Nhật Bản cận đại tập 1, Nxb văn hóa tùng thƣ, Hà nội 23. Vĩnh Sình (1990), Nhật Bản cận đại tập 2, Nxb văn hóa tùng thƣ, Hà nộiCác trang web tham khảo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhật Bản cận đại tập 1
Tác giả: Vĩnh Sình
Nhà XB: Nxb văn hóa tùng thƣ
Năm: 1990
24. Hương Lan (2012), Vài nét về lịch sử phát triển giáo dục Nhật bản, Trung tâm nghiên cứu Nhật Bản truy cập ngày 30/1/2012 tại http://cjs.inas.gov.vn/index.php?newsid=598 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài nét về lịch sử phát triển giáo dục Nhật bản
Tác giả: Hương Lan
Năm: 2012

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  2.1:  Số  lƣợng  các  cơ  sở  giáo  dục  của  tổ  chức  Công  giáo  Nhật  Bản  qua một số năm - Vai trò của Kitô giáo trong văn hóa - xã hội Nhật Bản giai đoạn từ 1945 đến nay
ng 2.1: Số lƣợng các cơ sở giáo dục của tổ chức Công giáo Nhật Bản qua một số năm (Trang 35)
Bảng 2.2: Số lƣợng các công trính từ thiện của tổ chức Công giáo Nhật Bản  qua một số năm - Vai trò của Kitô giáo trong văn hóa - xã hội Nhật Bản giai đoạn từ 1945 đến nay
Bảng 2.2 Số lƣợng các công trính từ thiện của tổ chức Công giáo Nhật Bản qua một số năm (Trang 48)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w