Trong các bộ thông sử ở Việt Nam, hoặc còn là một phần rất khiêm tốn trong một số công trình nghiên cứu về quan hệ giữa hai nước với đề tài quan hệ “ Sứ đoàn Triều Tiên Chosen Tsushinsh
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH CHÂU Á HỌC
HỌC VIÊN: NGUYỄN NHƯ NGÂN
MSHV: 0305151028
Sứ đoàn Triều Tiên (Chosen Tsushinshi) ở Nhật Bản và
vai trò của nó trong giao lưu văn hóa Triều Tiên - Nhật Bản thế kỷ XVII - thế kỷ XIX
HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS TS NGUYỄN TIẾN LỰC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2014
Trang 2
LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn PGS TS Nguyễn Tiến Lực đã tận tình hướng dẫn phương pháp nghiên cứu khoa học, giúp đỡ em thực hiện và hoàn thành luận văn một cách trọn vẹn
Em xin cảm ơn quý thầy cô trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn, các thầy cô Khoa Đông phương học đã dạy bảo, truyền đạt kiến thức cho em trong suốt quá trình học tập
Xin cảm ơn tất cả người thân và bạn bè đã động viên, khuyến khích tôi trong suốt quá trình làm luận văn
Tp.HCM, ngày 03 tháng 9 năm 2014
Nguyễn Như Ngân
Trang 3MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
MỞ ĐẦU 5
1 Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu 5
2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 7
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 8
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và đóng góp của luận văn 17
5 Phương pháp nghiên cứu 18
6 Nguồn tài liệu 18
7 Bố cục luận văn 18
CHƯƠNG 1 20
ĐÔNG BẮC Á TỪ ĐẦU THẾ KỶ XVII ĐẾN ĐẦU THẾ KỶ XIX 20
1.1.Trung Quốc 20
1.1.1 Quá trình xác lập sự thống trị của nhà Minh 20
1.1.2 Chính sách đối ngoại của nhà Minh 21
1.2.Nhật Bản 22
1.2.1 Quá trình thống nhất đất nước và sự thiết lập chính quyền Edo 22
1.2.2 Chính sách đối ngoại của Tokugawa 27
1.3.Triều Tiên 28
1.3.1 Triều đình Chosen sau chiến tranh 28
1.3.2 Chính sách đối ngoại của triều đình Chosen 29
1.4.Tổng quan về sứ đoàn Triều Tiên đi sứ Nhật trước thế kỷ XVII 34
Tiểu kết chương 1 38
CHƯƠNG 2 40
Trang 4HOẠT ĐỘNG CỦA SỨ ĐOÀN TRIỀU TIÊN (CHOSEN TSUSHINSHI) Ở
NHẬT BẢN THẾ KỶ XVII - XIX 40
2.1.Mục đích, số lượng, số lần đi sứ của Triều Tiên 40
2.2.Những hoạt động chính của sứ đoàn 48
Tiểu kết chương 2 65
CHƯƠNG 3 VAI TRÕ CỦA SỨ ĐOÀN TRONG GIAO LƯU VĂN HÓA TRIỀU TIÊN - NHẬT BẢN 68
3.1.Tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau 68
3.2.Giao lưu văn hóa 79
3.3.Phát triển nghệ thuật mỹ thuật, bảo lưu giá trị văn hóa trang phục cổ truyền83 Tiểu kết chương 3 86
KẾT LUẬN 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu
Quan hệ bang giao giữa Trung Quốc và các nước láng giềng thời phong kiến thì sách phong triều cống là một hình thức quan hệ đặc biệt giữa Trung Quốc với Triều Tiên và Việt Nam Để được phong vương, thiết lập và duy trì quan hệ với Trung Quốc, các nước như Việt Nam, Triều Tiên phải cầu phong và thực thi nghĩa vụ triều cống định kỳ với Trung Hoa.Trong đó quan hệ giữa Nhật Bản – Triều Tiên cùng nằm trong khu vực văn hóa Đông Á đã diễn
ra với một hình thức khác hẳn
Nghiên cứu về quan hệ Nhật Bản – Triều Tiên trong lịch sử đã được nhiều học giả trong và ngoài nước quan tâm và có những đóng góp to lớn Tuy nhiên, quan hệ giao lưu giữa các sứ đoàn Nhật Bản – Triều Tiên hầu như chưa được trình bày hoặc trình bày còn khái quát Trong các bộ thông sử ở Việt Nam, hoặc còn là một phần rất khiêm tốn trong một số công trình nghiên cứu
về quan hệ giữa hai nước với đề tài quan hệ “ Sứ đoàn Triều Tiên (Chosen
Tsushinshi) ở Nhật Bản và vai trò của nó trong giao lưu văn hóa Triều Tiên -
Nhật Bản thế kỷ XVII - thế kỷ XIX” luận văn hướng tới nghiên cứu một cách hệ
thống về quan hệ giữa Nhật Bản – Triều Tiên vào giai đoạn cuối của thời kỳ Mạc Phủ - là một thời kỳ có nhiều yếu tố tác động sâu sắc đến mối quan hệ này
Về những vấn đề khoa học cụ thể, luận văn cố gắng làm sáng tỏ những cơ sở tư tưởng, lợi ích và lịch sử của quan hệ Triều Tiên – Nhật Bản Quá trình phát triển thăng trầm của mối quan hệ giữa hai nước cũng như nguyên nhân của nó Vị trí, đặc điểm của quan hệ cũng như thực chất, thái độ của sứ đoàn trong quan hệ hai nước, góp phần lý giải vì sao nó lại diễn ra tương đối ổn định, bền vững và hệ quả của mối quan hệ này trong quan hệ bang giao giữa hai nước
Trang 6Thực tiễn lịch sử ghi nhận cách ứng xử của các sứ đoàn Triều Tiên với các triều đình phong kiến lớn Để có thể sống hòa mục với một nước láng giềng lớn mạnh như Trung Quốc, Nhật Bản, để tránh được căng thẳng, xung đột, bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ, vừa có thể đoàn kết được toàn dân, ổn định chính trị xã hội là một thách thức lớn đối với vương triều Chosen trước những triều đại Mạc Phủ cường thịnh, luôn có tham vọng
“chinh Hàn” để bành trướng thế lực Những kinh nghiệm và bài học lịch sử mà hai nước để lại trong việc giải quyết vấn đề hiện nay chắc chắn còn có ý nghĩa thực tiễn lớn
Nghiên cứu quan hệ Triều Tiên – Nhật Bản thế kỷ XVII – thế kỷ XIX không chỉ cần thiết cho việc nhận thức lịch sử một cách thuần túy mà còn
có ý nghĩa thời sự sâu sắc Sự hấp dẫn của các vấn đề khoa học và thực tiễn
nêu trên là lý do để tôi chọn đề tài “ Sứ đoàn Triều Tiên (Chosen Tsushinshi) ở
Nhật Bản và vai trò của nó trong giao lưu văn hóa Triều Tiên - Nhật Bản thế
kỷ XVII - thế kỷ XIX” làm luận văn thạc sĩ Và tôi cũng hiểu sâu sắc rằng việc
giải quyết một cách thấu đáo những vấn đề này không chỉ là công việc của cá nhân trong khuôn khổ của luận văn
Lịch sử quan hệ Triều Tiên – Nhật Bản cũng đã được các học giả Việt Nam quan tâm nghiên cứu Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một công trình có tính chuyên biệt để nghiên cứu một cách toàn diện có hệ thống về quan
hệ giữa sứ đoàn Triều Tiên với Nhật Bản thế kỷ XVII đến giữa thế kỷ XIX Những vấn đề cần được nghiên cứu hệ thống và chuyên sâu là:
- Cơ sở của quan hệ Triều Tiên - Nhật Bản và diễn tiến của mối quan hệ với những thăng trầm và nguyên nhân của nó
- Vị trí của quan hệ hai nước thời Chosen và đặc điểm của mối quan
hệ này trên cơ sở khai thác các nguồn sử liệu Nhật Bản và Việt Nam, kế thừa kết quả nghiên cứu chúng tôi sẽ đi sâu giải quyết các vấn đề này
Trang 7Là một học viên ngành Châu Á học, chuyên ngành Nhật Bản học, tôi rất quan tâm việc nghiên cứu quan hệ giữa Nhật Bản và các nước láng
giềng Vì vậy, đã chọn đề tài “Sứ đoàn Triều Tiên (Chosen Tsushinshi) ở
Nhật Bản và vai trò của nó trong giao lưu văn hóa Triều Tiên - Nhật Bản thế kỷ XVII - thế kỷ XIX” làm luận văn tốt nghiệp của mình
2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Ý nghĩa khoa học
Việc tìm hiểu một vấn đề lịch sử cụ thể hay một giai đoạn lịch sử nhất định của một quốc gia có vai trò rất quan trọng để lý giải các bước tiến cũng như sự vận động lịch sử của quốc gia đó Những giá trị mà các dân tộc có được trong lịch sử sẽ trở thành động lực cũng như nhân tố tác động trực tiếp đến đặc điểm và khuynh hướng phát triển của dân tộc ấy trong những giai đoạn hiện tại và tương lai Trên cơ sở nghiên cứu đề tài tác giả hy vọng sẽ đóng góp phần nào cho việc tìm hiểu quan hệ giữa hai nước nói chung và những hoạt động ngoại giao rất năng động của vương quốc Chosen nói riêng Việc nghiên cứu đề tài còn cung cấp cho chúng ta sự hiểu biết khá đầy đủ về tính đa phương trong hoạt động quốc tế Mặt khác từ việc phân tích hoạt động và vai trò của sứ đoàn Triều Tiên, chúng ta sẽ thấy được mối quan hệ giữa hai nước không chỉ dừng lại ở quan hệ ngoại giao mà còn là quan hệ giao lưu văn hóa giữa người với người Qua đó tác giả mong muốn phác họa một cách tương đối đầy đủ về mối quan hệ giữa hai nước trong một giai đoạn lịch sử nhất định góp phần vào việc tái hiện lại bức tranh đầy đủ và toàn diện về mối quan hệ lâu đời, đa dạng, nhiều mặt giữa hai nước Nhật Bản - Triều Tiên Từ đó khắc phục sự hiểu biết một chiều về mối quan hệ Nhật - Triều Bên cạnh đó việc nghiên cứu còn góp phần làm thay đổi quan niệm lỗi thời cho rằng chỉ từ thời Minh Trị, Nhật Bản mới phát triển, còn thời đại Edo thì trì trệ, lạc hậu Việc nghiên cứu đề tài giúp chúng ta một lần nữa khẳng định thời đại Edo là thời đại phát triển thịnh trị, rực rỡ của Nhật Bản và là thời kỳ có rất nhiều vấn đề cần được nghiên cứu sâu
Trang 8sắc hơn Những thành tựu trong thời đại Edo là cơ sở vững chắc cho sự kế thừa và phát triển của Nhật Bản vào thời đại Minh Trị sau này Đây sẽ là tiền
đề cho việc nghiên cứu sâu và có hệ thống hơn về mối quan hệ giữa Nhật Bản với các quốc gia khác trong cùng thời kỳ
Ý nghĩa thực tiễn
Trong khuôn khổ nội dung luận văn cao học và do tài liệu cũng như kiến thức còn hạn chế, tác giả mong muốn qua việc tập hợp có chọn lọc và xử
lý những tư liệu từ nhiều nguồn khác nhau, đề tài “ Sứ đoàn Triều Tiên
(Chosen Tsushinshi) ở Nhật Bản và vai trò của nó trong giao lưu văn hóa giữa Triều Tiên - Nhật Bản thế kỷ XVII - thế kỷ XIX ” có thể bổ sung về mặt
tư liệu cho những nhà nghiên cứu trong tương lai tìm hiểu về chính trị, văn hóa và tư tưởng của người Nhật Bản - Triều Tiên trong giai đoạn này Qua đó
có thể đóng góp nguồn tư liệu cho việc giảng dạy, học tập và nghiên cứu lịch
sử Nhật Bản - Triều Tiên giai đoạn hậu trung đại - cận đại trong mối liên hệ với thế giới
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay, việc tìm hiểu về hoạt động ngoại giao một quốc gia, một dân tộc trong quá khứ còn giúp tăng cường sự hiểu biết về chính sách đối ngoại và quan hệ quốc tế của quốc gia đó trong lịch sử
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Những công trình nghiên cứu, tài liệu về vấn đề này nhìn chung còn chưa thật phong phú Ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu cơ bản có thể
kể đến như: Tác giả Nguyễn Gia Phu (2007) trong Lịch sử thế giới trung đại
[27] đã dành riêng mục V trong chương IV viết về thời kỳ Mạc phủ (1192 - 1867) cũng có đề cập đến mối quan hệ giữa Nhật Bản và Triều Tiên, nhưng chưa trình bày hoạt động của sứ đoàn Chosen Tsushinshi
Nguyễn Văn Kim trong Nhật Bản với Châu Á, những mối liên hệ lịch sử và chuyển biến kinh tế xã hội [11] , đã cho chúng ta một cái nhìn tương
Trang 9đối đa diện và hệ thống về một số vấn đề tiêu biểu trong lịch sử, xã hội, cũng như đời sống văn hóa Nhật Bản, đặc biệt là lịch sử Nhật Bản thời Edo Tuy nhiên, cũng chưa có bài viết nào trình bày một cách chi tiết mối quan hệ giữa Nhật Bản và Triều Tiên trong thời gian này
Trong những cuốn sách về lịch sử của từng quốc gia như: Lịch sử Nhật Bản của Lê Văn Quang [29], Phan Ngọc Liên và Lịch sử Hàn Quốc của
Ki – Baik Lee [18], tác giả có đề cập vấn đề này nhưng chủ yếu là từ góc độ thông sử của từng nước mà chưa phân tích sâu hoạt động giao lưu giữa Nhật
Bản - Triều Tiên Bài viết của Nguyễn Mạnh Dũng Quan điểm của các nhà thực học Triều Tiên trước những chuyển biến của khu vực Đông Bắc Á giữa thế kỷ XVII - đầu thế kỷ XIX (trường hợp Nhật Bản) [4], đã đề cập đến mối
quan hệ giữa Triều Tiên và Nhật Bản thông qua các lần đi sứ nhưng vẫn chưa
đi sâu phân tích hoạt động của sứ đoàn nhằm làm sáng tỏ mối quan hệ này
Cũng trong bài viết khác của Nguyễn Mạnh Dũng, tác giả cũng nêu lên quan hệ Nhật Bản - Triều Tiên dưới tác động của cuộc xâm lược Triều Tiên năm 1627 và 1636 của Mãn Châu, chứ không phải thông qua việc phân tích hoạt động của sứ đoàn Triều Tiên
Trong bài viết: Sự biến đổi trong quan hệ quốc tế Đông Á giữa thế kỷ XIX: Quan hệ giữa Việt Nam, Triều Tiên với Trung Quốc, tác giả Nguyễn Tiến
Lực (2011) [23] đã xem xét quá trình biến đổi trong quan hệ ở Đông Á, chủ yếu là trong quan hệ của Việt Nam, Triều Tiên với Trung Quốc và cũng không
đề cập đến hoạt động của sứ đoàn Triều Tiên
Quan hệ Nhật Bản – Triều Tiên từ thế kỷ XVII đến giữa thế kỷ XIX
đã được các học giả trên thế giới cụ thể là Nhật Bản và Hàn Quốc rất quan tâm nghiên cứu
Trước tiên là một số công trình nghiên cứu tổng quát của một số học giả trên Nó đã góp phần lý giải mô hình bang giao giữa hai nước Nhật Bản - Triều Tiên Về vai trò của hệ thống, mối quan hệ giao lưu và thương mại bên
Trang 10cạnh những công trình nghiên cứu tổng quát về mối giao lưu giữa hai nước đã
có một số chuyên khảo, bài viết đề cập
Những nghiên cứu có liên quan đến thể chế ngoại giao như quá trình đàm phán, về Hồi đáp kiêm xoát hoàn sứ Trong đó, nghiên cứu của Toàn Hải Tông [全海宗], Kim Văn Tử [金文子], Lý Mẫn Hạo [李敏昊] đã trình bày chi tiết quá trình đàm phán hòa bình ngay sau chiến tranh Nhâm Thìn và quá trình
đi sứ của Hồi đáp kiêm xoát hoàn sứ Đặc biệt Kim Văn Tử [金文子] đề cập đến cuộc đàm phán đã được tổ chức giữa ba nước là Triều Tiên - Nhật Bản - Trung Quốc (Nhà Minh) Ngoài ra, Tôn Thừa Triết [孫承喆] đã giải nghĩa quá trình chuyển đổi từ Hồi đáp kiêm xoát hoàn sứ sang Thông tín sứ và sự thay đổi từ Thể chế giao lân mang tính Trung Hoa [中華的交隣体制] sang thể chế giao lân không mang tính Trung Hoa [脱中華的交隣体制] rất đáng được chú
ý Liễu Tại Xuân [柳在春] khái quát những mâu thuẫn ngoại giao về quốc thư được trao đổi giữa Quốc vương Triều Tiên và Mạc phủ trong giai đoạn cử Thông tín sứ đi đến Nhật khoảng từ lần 1 đến lần 3, những tranh luận xoay quanh việc cử đi sứ trong thư giao ước của Tokugawa Ieyasu năm 1606 , ngay
từ đầu đã có những quan điểm sai lầm, thư giao ước này không phải là giả mạo
mà chỉ cho thấy những quan điểm trong việc thay đổi ở Tsushima đã được Tokugawa Ieyasu gửi đi một cách không chính thức Tóm lại, việc khôi phục quan hệ ngoại giao sau chiến tranh Nhâm Thìn, là sự khác nhau về tư cách và quan hệ ngoại giao mang tính đa nguyên [多元的外交関係] trong thời kỳ Chosen là sự xác lập quan hệ giữa Mạc phủ tướng quân và Quốc vương Triều Tiên Hơn nữa, nghiên cứu của Thôi Chung Nhất [崔鍾一], Trương Yongoru [張ヨンゴル] về núi Nikko [日光山] đã được thực hiện vào năm 1636, 1643
và 1655, với nhiều nghi lễ ngoại giao đã chứng tỏ ý nghĩa của nghi lễ còn vượt
ra ngoài biên giới giữa hai nước
Vào những năm 1990, xuất hiện các nghiên cứu về Thông tín sứ với
tư cách là các đề tài riêng biệt Lý Nguyên Thực [李元植] giới thiệu về mối
Trang 11quan hệ hữu hảo với các nước láng giềng và Thông tín sứ, và có những nghiên cứu liên quan đến Thông tín sứ năm 1811 Với những nghiên cứu liên quan đến việc hình thành cũng như lộ trình của Thông tín sứ của Lý Mẫn Hạo [李敏昊], những nghiên cứu về quan chế thuật [製術官] của Trương Thuấn Thuận [張舜順], những nghiên cứu về quan dịch [訳官] của Khương Tín Hãng [姜信沆] Theo Trương Thuấn Thuận [張舜順], quan chế thuật [製術官] là chức quan chỉ có trong sứ đoàn cử đến Nhật Bản mà không có trong sứ đoàn đi sứ Trung Quốc [中国使行] thời nhà Minh và nhà Thanh, ông đã nhấn mạnh sự chuyển đổi từ mục đích ban đầu mang tính chính trị sang mục đích văn hóa, ông cũng trình bày nhiệm vụ của quan chế thuật [製術官] là chuẩn bị cho việc đàm luận văn chương với các quan chức địa phương hay văn nhân trong khi lưu trú ở Nhật Bản Khương Tín Hãng [姜信沆], giới thiệu và so sánh chức năng của Thông sự Nhật Bản [日本通事]và Quan uy học dịch [倭学訳官] 。
Những tranh luận mang tính tổng hợp liên quan đến Thông tín sứ và các sứ đoàn ngoại giao khác của Hà Vũ Phượng [河宇鳳] và Hồng Tính Đức [洪性徳] Hồng Tính Đức [洪性徳] đã xem xét một cách khái quát các vấn đề trên cơ sở lấy quan hệ Nhật Bản – Triều Tiên thế kỷ 17 làm trung tâm: quá trình đàm phán bắt đầu khôi phục quan hệ ngoại giao sau chiến tranh Nhâm Thìn, việc tổ chức lại sứ đoàn ngoại giao sau hiệp ước Kỷ Dậu Thông qua việc phân tích các tài liệu về Thông tín sứ [通信使], Vấn ủy hành [問慰行], Niên
lệ tống sự [年例送事], Biệt sai uy [別差倭], ông đã xem xét quá trình thành lập và nguồn gốc của sứ đoàn đã cử đến Nhật Bản từ Triều Tiên cũng như sứ đoàn được cử đi Triều Tiên từ Nhật Bản, cùng với sự giao lưu qua lại của sứ đoàn ông đã giải quyết/phân tích những thay đổi trong chính sách hai nước Nhật Bản - Triều Tiên Nếu xem xét/nghiên cứu Quốc vương Nhật Bản sứ [日本国王使] cuối thời kỳ Chosen, có thể nói đây là công trình nghiên cứu duy nhất liên quan đến Quốc vương Nhật Bản sứ Hà Vũ Phượng [河宇鳳], đã xem
Trang 12xét lại mối quan hệ Triều Tiên - Nhật Bản cuối thời kỳ Chosen lấy trọng tâm là
sự giao lưu qua lại của các sứ đoàn Đầu tiên ông chia lịch sử quan hệ Triều Tiên - Nhật Bản cuối thời kỳ Chosen thành ba giai đoạn: thời kỳ khôi phục quan hệ ngoại giao, thời kỳ ổn định và thành lập thể chế ngoại giao, thời kỳ suy thoái quan hệ ngoại giao giữa các nước, từ đó tiến hành xem xét lại thực trạng của các sứ đoàn: Thông tín sứ, Vấn ủy hành [問慰行], Sai uy [差倭], Hồng Tính Đức [洪性徳]và Lý Huân [李薫], đã xem xét một cách tổng quát Vấn ủy hành Về cái gọi là “Sai uy - 差倭” thì ngoài các luận văn của Hồng Tính Đức [洪性徳], Lý Huân [李薫] đã xem xét việc thành lập “Phiêu sai uy” - là sứ giả của Tsushima đã hồi hương cho những người dân Triều Tiên phiêu dạt dạt vào Nhật Bản, ông cũng đã xem xét tình hình thực tế việc đi xa bằng đường thủy,
Lý Huệ Chân [李恵真] cũng đã xem xét về việc thành lập “Tài phán sai uy” và đối ứng mang tính chất kinh tế của Triều Tiên
Tuy nhiên, thực tế vẫn còn nhiều vấn đề chưa được nghiên cứu như tình trạng của các Thông tín sứ, bối cảnh thành lập và lộ trình đi sứ bằng đường thủy Đặc biệt những nghiên cứu về sự ảnh hưởng mang tính chính trị, ngoại giao, kinh tế của Thông tín sứ cũng như những vấn đề liên quan đến hoạt động kinh tế và hiệu quả của nó, những vấn đề liên quan đến ngoại giao đối với Trung Quốc, cũng như những vấn đề liên quan đến tình hình trong nước, thế lực chính trị và việc cử đi sứ trong lịch sử Triều Tiên vẫn cần làm sáng tỏ
Về phía Nhật Bản, các nghiên cứu về chi phí cung ứng cho Thông tín
sứ được nhiều học giả quan tâm, trái lại về phía Triều Tiên những nghiên cứu
về các chi phí mà phía Triều Tiên phải cung ứng cho hành trình đến Busan cũng như sự chuẩn bị sắp xếp và việc quyết định cử đi sứ của chính quyền Triều Tiên thì còn nhiều hạn chế
Mặt khác, các nghiên cứu về Wakan đã được thực hiện từ những năm
1960, vào những năm 1990, cùng với mối quan tâm về địa điểm giao lưu của
Trang 13hai nước Nhật Bản - Triều Tiên, xuất hiện nhiều nghiên cứu đa dạng tiếp cận từ các quan điểm mang tính lịch sử chế độ, lịch sử giao lưu, lịch sử khu vực, lịch
sử đời sống Kết quả là, diện mạo của việc giao lưu Triều Tiên – Nhật Bản quanh vấn đề Wakan đã được làm rõ, dù cho không có các nghiên cứu liên quan đến Thông tín sứ Như đã biết, Wakan là nơi mọi việc chuẩn bị liên quan đến việc cử Thông tín sứ cũng như là nơi việc đàm phán được thực hiện, ngoài
ra còn là nơi khởi hành và cũng là nơi đến của Thông tín sứ Nghiên cứu về Thông tín sứ và Wakan Thôi Yonhi [崔ヨンヒ] và Kim Nghĩa Hoán [金義煥], khảo sát nguồn gốc và sự thay đổi, cũng như việc thành lập và cấu tạo của Wakan, về các hình thức đàm phán ngoại giao của hai nước Nhật-Triều được thực hiện tại Wakan nhưng vẫn còn nhiều hạn chế
Trong lĩnh vực giao lưu văn hóa có nghiên cứu của Lý Nguyên Thực [李元植], Hà Vũ Phượng [河宇鳳], Thái Tuấn [泰俊],… Cùng với việc giới thiệu các tài liệu về đàm luận văn chương như Triều Tiên Thông tín sứ [朝鮮通信使] Lý Nguyên Thực [李元植] đã phân tích chi tiết các hình thức giao lưu văn hóa Ông đã chỉnh sửa phân loại nội dung của các cuộc bút đàm (cuộc nói chuyện bằng văn bản), tìm và giới thiệu các tài liệu lịch sử đã mất từ Hải hành tống tại [海行摠載], khai thác và thu thập được một số tài liệu lịch sử mới thông qua việc điều tra trong nước
Phác Xương Cơ [朴昌基] khảo sát trao đổi văn hóa giữa giới trí thức Nhật Bản và Thông tín sứ, đã xem xét sự ảnh hưởng của Thông tín sứ đối với giới văn chương cũng như giới nho gia Nhật Bản Mặt khác, Phương Hạ Đăng [芳賀登] đã nhấn mạnh ý nghĩa quan trọng đối với văn hóa Nhật Bản thời kỳ Edo mà Thông tín sứ mang đến, do chủ trương đóng cửa một phần vào cuối thế kỷ XVIII mà việc cử Thông tín sứ bị dừng lại
Lĩnh vực công nhận lẫn nhau đã được chú ý nghiên cứu trong những năm 1990 Nhiều phân tích được thực hiện trên tài liệu chủ yếu là Sứ hành lục [使行録] - là tác phẩm viết về những người tham gia đoàn Thông tín sứ Trên
Trang 14lĩnh vực này có nghiên cứu của Lý Nguyên Thực [李元植], Hà Vũ Phượng [河宇鳳], Lý Thành Hậu [李成厚], Kim Tĩnh Nhật [金静日], Trịnh Chương Thực [鄭章植], ngoài ra còn có năm luận văn thạc sĩ, có thể thấy đây là một lĩnh vực được quan tâm Đặc biệt Lý Nguyên Thực [李元植] và Hà Vũ Phượng [河宇鳳] đã nghiên cứu về sự công nhận Nhật Bản của người Triều Tiên, mặt khác,
Lý Tại Nguyên [李在元] đã nghiên cứu về sự công nhận người Triều Tiên của những trí thức Nhật Bản, thông qua nghiên cứu này góp phần làm tăng sự hiểu biết lẫn nhau giữa nhân nhân hai nước
Hàn Thái Văn [韓泰文] khảo sát quan điểm văn học và ý thức của các thành viên trong sứ đoàn trừ tam sứ thần - những ý thức và quan điểm này
đã gây sự ảnh hưởng đến việc cử đi sứ, lấy Lý Ngạn My [李彦湄] người đã tham gia đoàn Thông tín sứ năm 1763 với vai trò Dịch quan [訳官] làm trung tâm Đầu tiên Kim Văn Thực [金文植] khái quát việc thay đổi trong các cuộc đàm phán đối với Nhật Bản vào cuối thời kỳ Chosen, đồng thời ông cũng xem xét nhận thức của các thành viên Thông tín sứ đối với những nhà chính trị Nhật Bản và các di tích văn hóa thông qua cuốn nhật ký Hải hành tống tại [海行摠載] Trịnh Trương Thực phân tích Sứ hành lục [使行録] của Nam Long Dực [南龍翼], đồng thời ông cũng làm rõ góc nhìn đối với Nhật Bản của các Thông tín sứ, mà góc nhìn này có sự biến đổi do sự thay đổi của tình hình quốc tế (năm 2000) Mặc dù đứng trên quan điểm Hoa Di để xem xét phương diện phồn vinh của Nhật Bản, nhưng sự công nhận mang tính khẳng định sức mạnh kinh tế và tự nhiên của Nhật Bản được xem như là thành quả của sứ đoàn Mặc khác, Tôn Thừa Cật thông qua việc xem xét quan điểm về Thiên hoàng của những người trí thức Triều Tiên là các thành viên đoàn Thông tín sứ, ông đã khảo sát sự thay đổi quan điểm về Thiên hoàng Nhật Bản trong thời kỳ Chosen chẳng hạn như phê phán sự bất lực của Thiên hòang vào cuối thời kỳ Chosen,
từ sau chiến tranh Nhâm Thìn cũng như là khơi gợi về khả năng khôi phục quyền lực của Thiên Hoàng vào giữa thời kỳ Chosen trái ngược với sự quan
Trang 15tâm đối với Thiên hoàng là sự quan tâm nhiều đến Mạc phủ Tướng quân - là
đối tượng đàm phán ngoại giao với Nhật Bản Ngoài ra, Nguyên Tái Uyên [元載淵] cho thấy sự nhận thức về Tây Dương của các Thông tín sứ - đã tiếp
thu văn hóa phương Tây thời kỳ mở cửa
Nghiên cứu về văn học sứ đoàn của Thông tín sứ từ năm 1980 với Tô
Tại Anh [蘇在英], Kim Thái Tuấn [金泰俊] với công trình tiêu biểu như là
Văn học du lịch và trải nghiệm, phiên bản tiếng Nhật [71] (nhà xuất bản Văn
hóa dân tộc, năm 1985), phân tích về Sứ hành lục của Thông tín sứ và những
bài thơ còn lại của họ Vào những năm 1990, nghiên cứu của Lý Nghệ Thuần
[李藝淳] và Hàn Thái Văn [韓泰文], là những phân tích về văn học Thông tín
sứ, nó trở thành cơ sở cho các nghiên cứu trong lĩnh vực này Lý NghệThuần
[李藝淳] thông qua việc xem xét và phân tích tập Đàm luận văn chương [筆談
唱和集] và thư tín - là một biểu tượng của sự giao lưu văn hóa, qua đó khảo sát
bối cảnh thành lập và sự hình thành sứ đoàn văn học của Thông tín sứ cũng
như những đặc trưng trong giao lưu giữa các văn sĩ Hàn - Nhật theo từng thời
kỳ khác nhau, đồng thời ông cũng đã xem xét ý nghĩa mang tính lịch sử văn
học Hàn - Nhật của văn học Thông tín sứ được phản ánh trong Xướng họa tập
[唱和集]( 1996) Hàn Thái Văn [韓泰文] từ nửa cuối những năm 1990, công
bố một số lượng lớn các luận văn về Thông tín sứ liên quan đến văn học, đã
làm sáng tỏ đặc trưng của Thông tín sứ cuối thời kỳ Chosen
Nghiên cứu về các tài liệu ghi chép lại đã được thực hiện chủ yếu bởi
Tô Tại Anh [蘇在英], Hà Vũ Phượng [河宇鳳], Liễu Đạc Nhất [柳鐸一], Hàn
Văn Chung [韓文鍾], Tôn Thừa Cật [孫承喆] Trong nghiên cứu lịch sử quan
hệ Hàn - Nhật hay là nghiên cứu Thông tín sứ thời kỳ Chosen, thông qua đoàn
Thông tín sứ đã có kinh nghiện trực tiếp về việc đi sứ sang Nhật Bản, Sứ hành
lục là tài liệu quí Hà Vũ Phượng [河宇鳳] đã phát hiện và giới thiệu 18 thiên
của Sứ hành lục chưa được thu thập trong Quốc dịch hải hành tống tại [国訳海
行摠載] - được xuất bản trong những năm 1970 Hàn Văn Chung [韓文鍾]
Trang 16khảo sát về sử liệu, các loại tài liệu đã được biên tập và sao chép thông qua điển khách ti của lễ tào vào thời kỳ Chosen Ngoài ra Tôn Thừa Cật [孫承喆]
đã cung cấp các tài liệu cơ bản để phục vụ việc nghiên cứu lịch sử quan hệ ngoại giao Hàn - Nhật cuối thời kỳ Chosen, bao gồm Thông tín sứ thông qua việc phân tích nội dung quan hệ với Nhật Bản một cách riêng rẽ qua các triều
đại vua trong Triều Tiên Vương Triều Thực Lục [朝鮮王朝実録] Tô Tại Anh [蘇在英] giới thiệu về toàn bộ Sứ Hành Lục đã được thu thập trong Hải Hành Tống Tại [海行摠載], ông nhấn mạnh lịch sử của Thông tín sứ hình thành và
phát triển đồng thời với lịch sử giao lưu văn hóa và lịch sử ngoại giao Hàn Nhật, qua việc thúc đẩy so sánh và nghiên cứu thông qua Sứ hành lục ông đã khẳng định đây phải là những nghiên cứu vượt ra khỏi giới hạn của chủ nghĩa dân tộc và phải khách quan Điều này có ý nghĩa to lớn trong việc giới thiệu các sử liệu cơ bản nhất nghiên cứu về Thôngtín sứ
Nghiên cứu trên các phương diện khác về Thông tín sứ cũng đã được thực hiện, như nghiên cứu về vai trò của họa viên là người tùy tùng tham gia vào sứ đòan, thông qua những bức tranh, họa viên giữ vai trò quan trọng trong việc phô trương hình ảnh với tư cách là sứ giả văn hóa Ngoài ra còn có các nghiên cứu như về trang phục của các thành viên đoàn Thông tín sứ cũng như nghiên cứu về những chiếc thuyền, hoặc ẩm thực đã được sử dụng trong việc tiếp đãi Thông tín sứ tại Nhật Bản Những nghiên cứu này không chỉ cho chúng ta thấy sự đa dạng trong các nghiên cứu về Thông tín sứ, mà còn đóng góp cho những nghiên cứu thuộc các lĩnh vực như hội họa và lịch sử trang phục
Trong bài viết của nhà nghiên cứu Nhật Bản Hamada Hiromi (濱田
陽) 2011:Thiết lập mối quan hệ trên cơ sở tin tưởng lẫn nhau (信を通ずる
関係の発明)trong “Giao lưu văn hóa của ba quốc gia Đông Á thời tiền cận đại” 「前近代における東アジア三国の文化交流と表象」 [55] tác giả đề cập mối quan hệ giữa Nhật Bản - Triều Tiên nhưng cũng chưa phân tích sâu
Trang 17hoạt động và cũng chưa đánh giá vai trò của sứ đoàn Triều Tiên trong giao lưu văn hóa giữa hai nước
Bài viết của Yoshida Hiroshi (吉田宏志) 2011:Xu hướng hội họa Triều Tiên(朝鮮絵画の流れ)trong “Giao lưu văn hóa của ba quốc gia Đông
Á thời tiền cận đại” 「前近代における東アジア三国の文化交流と表象」[54] tác giả chủ yếu trình bày phong cách hội họa của Triều Tiên qua các thời
kỳ thông qua sứ đoàn cũng như ảnh hưởng của nó, mà chưa phân tích một cách toàn diện các hoạt động khác của sứ đoàn
Trong phạm vi hiểu biết của tác giả chưa có công trình nào chuyên sâu nghiên cứu vấn đề này Hơn nữa, tác giả của những công trình nghiên cứu
đó lại đứng trên những lập trường khác nhau sẽ xem xét và lý giải mối quan hệ Triều – Nhật qua sứ đoàn Triều Tiên cũng không giống nhau Tuy nhiên nguồn tài liệu, tư liệu này giúp tác giả có một cái nhìn tổng quan và sâu sắc hơn đối với vấn đề đặt ra và nó thực sự cần thiết cho việc hoàn thành tốt hơn luận văn Luận văn là sự kế thừa những thành tựu của các học giả đi trước, mặt khác còn làm rõ mối quan hệ giữa Triều Tiên và Nhật Bản trong một giai đoạn lịch sử nhất định thông qua hoạt động của sứ đoàn Triều Tiên
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và đóng góp của luận văn
Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn này là sứ đoàn Triều Tiên thông qua việc nghiên cứu những hoạt động chính của sứ đoàn trong các lần đi sứ cũng như việc giao lưu và tiếp nhận văn hóa giữa Triều Tiên - Nhật Bản
- Phạm vi nghiên cứu của luận văn chủ yếu là Nhật Bản, Triều Tiên, một phần Trung Quốc từ thế kỷ XVII đến nửa đầu thế kỷ XIX
Đóng góp của luận văn
Giải quyết các nhiệm vụ đặt ra, luận văn có thể đóng góp như sau:
- Tái hiện một cách khách quan sinh động quá trình xác lập, hoạt động của các sứ đoàn Triều Tiên ở Nhật Bản với những nét đặc thù của bối cảnh lịch sử
Trang 18cụ thể, xác định đặc điểm của mối quan hệ này, phân tích thực chất hoạt động tiếp nhận sứ đoàn, trên cơ sở đó lý giải quan hệ giữa hai nước và quan hệ quốc
tế từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX
- Bổ sung tư liệu cho việc nghiên cứu giảng dạy về quan hệ bang giao giữa hai nước nói chung đặc biệt ở thời kỳ Tokugawa
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện, tác giả đã sử dụng những phương pháp sau :
- Phương pháp lịch sử : trình bày các sự kiện lịch sử theo lịch đại, đặt các
sự kiện lịch sử trong hoàn cảnh cụ thể để đánh giá
- Phương pháp logic : tổng hợp, phân tích các sự việc trong mối quan hệ chặt chẽ với nhau, vận dụng các thao tác quy nạp, diễn dịch để làm sáng tỏ bản chất của sự việc
- Phương pháp liên ngành : sử dụng các phương pháp liên ngành trong nghiên cứu giao lưu văn hóa
6 Nguồn tài liệu
- Do hạn chế về nguồn tài liệu, luận văn dựa chủ yếu vào các công trình nghiên cứu đã được công bố, đã được các học giả trong và ngoài nước trình bày các vấn đề có liên quan
- Các tác phẩm, bài nghiên cứu, chuyên khảo
- Các luận văn, luận án, tạp chí nghiên cứu các báo cáo trong các hội thảo khoa học liên quan đến đề tài
- Những trang web có liên quan đến đề tài
Trang 19Trong chương này, tác giả sẽ khái quát tình hình Đông Bắc Á, đặc biệt là chính sách đối ngoại và quan hệ quốc tế của khu vực này từ đầu thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XIX
Chương 2: Hoạt động của sứ đoàn Triều Tiên (Chosen Tsushinshi) ở Nhật Bản
Trong chương 2, tác giả nói về quá trình hình thành, việc thiết lập sứ đoàn Triều Tiên và việc cử phái đoàn đi sứ sang Nhật Bản Đồng thời tác giả cũng trình bày những hoạt động chính của sứ đoàn qua các lần đi sứ
Chương 3: Vai trò của sứ đoàn trong quan hệ Triều Tiên – Nhật Bản
Trong chương này, tác giả tập hợp những giá trị văn hóa, tinh thần, cũng như những tri thức được hình thành qua quá trình giao lưu và tiếp nhận giữa Triều Tiên và Nhật Bản Từ đó khẳng định vai trò của sứ đoàn trong mối quan hệ giữa hai nước
Trang 20CHƯƠNG 1 ĐÔNG BẮC Á TỪ ĐẦU THẾ KỶ XVII ĐẾN ĐẦU THẾ KỶ XIX
Trong chương này, chúng tôi sẽ trình bày tình hình của ba nước chủ yếu ở Đông Bắc Á là Trung Quốc, Nhật Bản và Triều Tiên để thấy rõ bối cảnh quốc tế và trong nước dẫn đến sự hình thành và hoạt động của sứ đoàn Triều Tiên ở Nhật Bản
1.1 Trung Quốc
1 1.1 Quá trình xác lập sự thống trị của nhà Minh
Nhà Nguyên (1271 - 1368) do người Mông Cổ cai trị trước khi nhà Minh được sáng lập Theo nhiều nhà nghiên cứu, sự chấm dứt của triều đại này
là do sự kỳ thị của người Mông Cổ với người Hán, dẫn tới những cuộc nổi dậy của nông dân buộc nhà Nguyên phải rút lui về các thảo nguyên Mông Cổ Những nguyên nhân khác gồm việc phát hành quá nhiều tiền giấy khiến gia tăng lạm phát lên gấp mười lần dưới thời Nguyên Huệ Tông, cùng với tình trạng lũ lụt của sông Hoàng Hà, hậu quả của tình trạng bỏ bê các dự án tưới tiêu Cuối thời nhà Nguyên, nông nghiệp trở nên trì trệ Khi hàng trăm nghìn người dân bị bắt đi làm phu tại sông Hoàng Hà, chiến tranh bùng nổ Một số nhóm người Hán nổi loạn, cuối cùng nhóm do Chu Nguyên Chương lãnh đạo được sĩ phu ủng hộ nên lớn mạnh nhất Năm 1356, Chu Nguyên Chương chiếm thành Nam Kinh Cuộc khởi nghĩa thành công Nhà Minh được thành lập năm 1368 và chọn Nam Kinh làm kinh đô Chu Nguyên Chương lên ngôi hoàng đế, tức là Minh Thái Tổ Ông lấy niên hiệu là Hồng Vũ, đặt quốc hiệu
là Minh [明], xác lập quyền thống trị quốc gia cho gia tộc họ Chu Thời nhà Minh [Minh Triều - 明朝] được miêu tả là "một trong những thời đại vĩ đại nhất của chính quyền có tổ chức và xã hội ổn định trong lịch sử nhân loại" Đây là triều đại phong kiến cuối cùng của Trung Quốc được cai trị bởi người Hán [39]
Trang 211.1.2 Chính sách đối ngoại của nhà Minh
Chu Nguyên Chương xưng đế lập ra triều Minh trong tình hình rất phức tạp Phía Bắc và phía Tây, thế lực Mông Cổ vẫn rất lớn mạnh Sau khi bị thất bại, Thuận Đế (1333 - 1368) chạy về Đại Đô vẫn xưng là Đại Nguyên hoàng đế, tiếp tục chống Minh Phía Đông Bắc, có hai phe: ủng hộ Nguyên và ủng hộ Minh Phía Đông Nam, Oa Khấu – Wako - 倭寇 hoành hành dọc bờ biển và cấu kết với các lực lượng địa phương gây mất ổn định ở vùng này (Người Hán từ trước Công nguyên đã gọi Nhật là Oa quốc - 倭国 "nước lùn", người Nhật là Oa nhân - 倭人 "người lùn", gọi cướp biển người Nhật trên biển Đông Trung Quốc thời Minh là Oa khấu - 倭寇 "giặc lùn" Chữ oa 倭 vẫn thường bị đọc nhầm là Nụy) Wako có căn cứ ở các đảo Tsushima (Đối Mã), Iki (Nhất Kỳ) và vùng Hizen Matsuura (nay là một phần tỉnh Saga và Nagasaki trên đảo Kyushu) Đó là những tập đoàn hải tặc mà người Nhật là bộ phận nòng cốt Chúng hoành hành ở vùng duyên hải Trung Quốc và bán đảo Triều Tiên Khởi đầu chúng chỉ có 2, 3 chiếc thuyền nhưng sau đó đã tổ chức thành những tập đoàn vài trăm chiếc Kể từ ấy, Wako trở thành một vấn đề nan giải của Trung Quốc lẫn Triều Tiên Trước tình hình này, dân cư ven biển Trung Hoa phiêu tán, sức sản xuất giảm sút Trong nội bộ cũng có hai phái của các công thần xuất thân từ phong trào nông dân và phái công thần xuất thân từ địa chủ cùng với quan lại cũ đời Nguyên Do vậy, Thái Tổ Hồng Vũ Đế đã phải thực hiện hàng loạt chính sách nhằm ổn định tình hình chính trị và phát triển kinh tế quốc gia Bên cạnh các chính sách đối nội như: khôi phục cách thức sinh hoạt, trang sức kiểu thời Đường, cấm các trang phục, ẩm thực, mang họ tên người Hồ, thay đổi các sắc thuế trong thương nghiệp…
Về đối ngoại, nhà Minh tiếp tục tiêu diệt tàn binh của triều Nguyên, nhưng không cho giết hại hoàng tộc, còn trả tự do cho thái tử nhà Nguyên Thuận Đế di chuyển từ Đại Đô lên Ứng Xương và chết tại đó Con trai lên ngôi,
dù bị quân Minh đuổi chạy lên Bắc Khánh Châu vẫn giữ thái độ chống đối, mãi
Trang 22đến năm 1388 bị quân Minh tấn công lại chạy lên phía Bắc tiếp tục xưng Đại Nguyên hoàng đế cho đến sau này đổi tên nước là Tartar.[39]
Trong thời Nguyên, Triều Tiên đã có quan hệ với Trung Quốc, nhưng từ Minh Thái Tổ, Triều Tiên chỉ phái sứ thần thăm viếng Đến năm
1384, hai bên có quan hệ thông thương cho đến sau khi Lý Thành Quế xây dựng triều Lý trên đất Triều Tiên (năm 1392) quan hệ vẫn tiếp tục
Đối với Oa Khấu, nhà Minh vừa đàn áp vừa phủ dụ Vì Oa Khấu hay tấn công cướp bóc vùng ven biển của cả Trung Quốc lẫn Triều Tiên nên mặc
dù từ năm 1470 nhà Minh đã có quan hệ buôn bán với Nhật Bản nhưng người Nhật đã câu kết với Hồ Duy Dung làm phản nên Thái Tổ cắt đứt quan hệ Sau khi Thành Tổ lên ngôi, mối quan hệ này mới được khôi phục lại Trong thời gian này, Nhật Bản xuất sang Trung Quốc lưu huỳnh, tô mộc, đồ sơn,… và mua về vải, lụa, gấm, vóc, vàng, bạc và các công cụ sản xuất.[39]
Trong quan hệ với các nước, nhà Minh lập một Ty bố chánh tại Quảng Đông và có quy định thủ tục cho khách ra vào Sứ thần các nước đến triều cống phải qua Ty bố chánh kiểm tra rồi mới đưa lên kinh Việc thái giám Trịnh Hòa đi xuống phía Nam đã mở một đường buôn bán mới và cũng mở rộng mối quan hệ của nhà Minh với các nước [28]
江戸 từ 1603 - 1867) Từ thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XVII, Nhật Bản đã thoát khỏi những cuộc nội chiến dai dẳng, tiến tới thống nhất đất nước và phát triển
kinh tế, mở rộng quan hệ giao lưu với nước ngoài
Trang 23Vào thập niên 90 của thế kỷ thứ XVI, Toyotomi Hideyoshi (1536 - 1598) là người đang nắm quyền thống trị ở Nhật Bản Sau khi thống nhất đất nước, Toyotomi Hideyoshi chủ trương bành trướng thế lực ra bên ngoài nên đã tích cực chuẩn bị chiến tranh xâm lược Triều Tiên và dùng làm bàn đạp để tấn công cả Trung Quốc Chính vì vậy, Nhật Bản đã hai lần xâm lược Triều Tiên (1592 và 1597) nhưng nhờ sự giúp sức của nhà Minh (Trung Quốc) chiến tranh xâm lược của Nhật Bản đã thất bại Tuy là nước thắng trận nhưng hậu quả mà Triều Tiên phải gánh chịu lại rất nặng nề Còn đối với Nhật Bản, cuộc chiến tranh Triều Tiên do Toyotomi Hideyoshi tiến hành đã phá vỡ mối quan hệ truyền thống giữa Nhật Bản và các quốc gia trong khu vực Do đó Nhật Bản đã lâm vào tình thế “bị cô lập” Chính vì vậy sau cuộc chiến, Nhật Bản đã phải hết sức nổ lực để cải thiện hình ảnh đất nước và nhanh chóng thoát khỏi tình trạng
bị cô lập trong quan hệ với các quốc gia láng giềng Tuy nhiên, từ sau chiến dịch Bunroku Keichou (文禄・慶長 - Văn Lục Khánh Trường) giữa thế kỷ thứ
15 (thời đại Azuchi Momoyama – An Thổ Đào Sơn) trong khi Toyotomi Hideyoshi đang xem xét vấn đề có nên xuất quân sang Triều Tiên hay không thì việc đi sứ của Triều Tiên sang Nhật Bản tạm thời bị gián đoạn Cho đến thời Edo mối quan hệ này mới được nối lại Việc đi sứ này nói chung có một ý nghĩa hết sức to lớn kéo dài từ thời đại Muromachi [室町時代] (1333 - 1568) đến thời đại Edo [江戸時代] (1603 - 1867), đặc biệt những tài liệu ghi chép của sứ đoàn Triều Tiên Thông tín sứ và cũng là một sử liệu quí đóng góp vô cùng có ý nghĩa đối với việc tìm hiểu thời kỳ Edo và Chosen “Triều Tiên thông tín sứ” là một thuật ngữ mang tính học thuật, do các nhà nghiên cứu đặt
ra Thêm vào đó, việc Triều Tiên Thông tín sứ đến Nhật Bản mục đích chủ yếu
là dâng tặng lễ vật, cống phẩm – giống với Lưu Cầu sứ Các tên thường được dùng để gọi cho các sứ thần Triều Tiên là “Triều Tiên lai sính sứ”, “Lai sính sứ”, “Triều Tiên sính lễ sứ” và “Sính lễ sứ” Ban đầu mục đích của việc phái sứ đoàn sang Nhật là nhằm đáp lễ lại việc đi sứ cũng như việc tướng quân Muromachi đã gửi quốc thư cho Triều Tiên Đến năm 1375, ngoài mục đích
Trang 24đáp lễ việc tướng quân Ashikaga Yoshimitsu cử sứ thần sang Triều Tiên, việc
cử sứ giả từ Triều Tiên sang Nhật Bản còn nhằm cũng cố niềm tin của hai bên dành cho nhau [28]
Thất bại trong cuộc chiến tranh xâm lược Triều Tiên, Hideyoshi (1537-1598) tiêu tan giấc mộng xâm chiếm Trung Quốc Những cuộc viễn chinh đã thất bại làm suy giảm nghiêm trọng ngân khố của gia tộc Hideyoshi, các chư hầu của ông bất mãn và các gia tộc trung thành với Hideyoshi bị yếu đi Giấc mộng thiết lập đế quốc Nhật Bản trên toàn cõi châu Á đã chấm dứt
Hideyoshi qua đời năm 1598, con trai Hideyori lên kế vị nhưng còn quá nhỏ tuổi Khi trên giường bệnh Hideyoshi đã chỉ định một nhóm các lãnh chúa (daimyo) hùng mạnh nhất Nhật Bản: Tokugawa, Maeda, Ukita, Uesugi, Mori lập thành Hội đồng Ngũ Nguyên Lão phò trợ Hideyori cho đến khi trưởng thành Cái chết của Maeda Toshiie (một trong những Trưởng lão) năm
1599 đã chấm dứt thời kỳ hòa hoãn, mở ra cuộc tranh chấp quyết liệt trong Hội đồng Trưởng lão Ishida Mitsunari buộc tội Tokugawa Ieyasu không trung thành với gia tộc Toyotomi đã tạo ra một cuộc khủng hoảng dẫn đến trận Sekigahara vào năm 1600 - được coi là trận đánh lớn cuối cùng của thời Azuchi Momoyama và Sengoku (từ giữa thế kỷ XV đến giữa thế kỷ XVI), là thời kỳ “chiến quốc” - những xung đột quân sự liên tục diễn ra ở Nhật Bản Với trận Sekigahara, Tokugawa Ieyasu đã đánh bại những người trung thành với Hideyori Hai năm sau, Ieyasu nhận tước hiệu Seii Taishogun (Chinh Di Đại Tướng Quân), đánh dấu sự khởi đầu thời kỳ Edo và Mạc phủ Tokugawa thống trị Nhật Bản trong hơn 250 năm (1603-1868) [36]
Rút kinh nghiệm từ Nobunaga và Hideyoshi (con cháu của hai người này đều không được thừa kế), Ieyasu muốn xây dựng một thể chế có thể tồn tại lâu dài sau khi mình chết Thêm vào đó, trước khi Ieyasu lên nắm chính quyền nước Nhật đã trải qua một cuộc nội chiến lâu dài hơn một thế kỷ, nên mục tiêu chính của Ieyasu là thiết lập hoà bình và an ninh, đối nội cũng như đối ngoại Quan hệ hữu nghị giữa Nhật Bản - Triều Tiên được củng cố và hòa hiếu trong
Trang 25thời Edo (1603 -1867), được thể hiện rõ qua việc vương triều Chosen cử sứ thần đến Edo vào những dịp lễ lớn của Nhật Bản Vai trò của sứ đoàn này nhằm thúc đẩy và mở rộng quan hệ ngoại giao giữa hai nước Trên thực tế, chế độ Tokugawa Bakufu kéo dài hơn 250 năm, và trong suốt thời gian này nội loạn hầu như không có, nước Nhật đã hưởng một thời thanh bình có lẽ lâu dài nhất trong lịch sử các dân tộc thế giới Nhưng ta cũng phải nhận thức rằng hoà bình này chỉ thực hiện được do chính quyền Tokugawa đối với bên ngoài thì thi hành chính sách sakoku (toả quốc:bế quan toả cảng), và đối với dân chúng trong nước thì áp dụng những biện pháp quá khắt khe và cứng rắn.[36]
Ieyasu tổ chức một thể chế chính trị dựa trên sự hiện diện song song của hai guồng máy bakufu đứng đầu là Shogun Tokugawa ở trung ương (Edo) và các daimyo cai trị khoảng 265 han (phiên: lãnh địa) ở địa phương Tổ chức chính trị này do đó thường được gọi là chế độ bakuhan ( mạc phiên; baku: viết tắt của chữ bakufu)
Dựa trên tiêu chuẩn là ai đã đứng về phía mình trước khi trận Sekigahara (1600) kết thúc, Tokugawa chia các daimyo ra như sau: Shimpan (thân phiên: gồm các daimyo có liên hệ với họ Tokugawa), Fudai daimyo (fudai: phổ đại; những daimyo đã là đồng minh của Tokugawa trước 1600), và Tozama daimyo (tozama: ngoại dạng; những daimyo chống lại Ieyasu trước
1600, và chỉ thần phục sau khi thua trận).[45]
Những daimyo của shimpan (khoảng 23) và fudai (khoảng 145) được Tokugawa tin cậy, còn những tozama daimyo (khoảng 97) thì tuy được Tokugawa đối đãi đúng nghi lễ nhưng không được tin cậy Những tozama daimyo này- đặc biệt Chosu và Satsuma- do đó bất mãn với chính quyền bakufu, và khoảng hơn 250 năm sau đã đóng vai trò chính yếu trong vận động lật đổ Tokugawa bakufu đưa đến Minh Trị Duy Tân [50] Cũng cần nói thêm rằng dẫn đầu các shimpan là 3 han: Mito, Owari, và Kii (thường được gọi là gosanke: ngự tam gia: tức là ba nhà lớn) do con trai của Ieyasu cai quản Ba han này án ngữ những địa thế chiến lược để phòng vệ Edo, đồng thời cũng là
Trang 26nơi chọn người nối dõi làm shogun trong trường hợp trung ương không có người kế thừa Đến thời Tokugawa Iemitsu ( Đức xuyên Gia quang; 1604-1651), shogun thứ 3, thì cơ sở chính quyền Tokugawa xem như hoàn tất [45]
Năm 1615, chính quyền Tokugawa ban hành bộ luật Bukeshohatto ( Vũ gia chư pháp độ được sửa đổi năm 1635) để kiểm soát các daimyo Bộ luật này có các khoản chính như sau: cấm các daimyo xây thêm thành quách, nếu cần tu sửa thì phải có sự đồng ý của bakufu; cấm các daimyo trở thành thông gia (gả con cho nhau) hay kết nghĩa đồng minh; luật lệ hoá chế
độ sankin kodai (tham cần giao đại), bắt buộc các daimyo phải để vợ con ở Edo làm con tin, và các daimyo cứ sau mỗi năm ở han của mình phải lên Edo túc trực một năm; cấm đóng tàu lớn.[36]
Chế độ Sankin Kotai trên thực chất đòi hỏi các daimyo phải xây hai tư dinh, một ở quê nhà của mình và một ở Edo, đồng thời các daimyo và gia nhân của họ cứ mỗi năm lại phải đi lên về Edo liên tục Theo ước lượng thì chi phí để áp dụng chế độ sankin kodai chiếm khoảng một phần tư cho đến một nửa chế độ ngân sách hàng năm của mỗi daimyo, làm các daimyo dầu muốn cũng không còn sức để chống lại bakufu Mặt khác chế độ Sankin Kotai cũng
có những kết quả tích cực: muốn có tiền để đi lên Edo, các daimyo phải khuyến khích tăng gia sản xuất nông sản và các mặt hàng có thu hoạch cao, do đó nông nghiệp được phát triển; và với sự đi về của các daimyo và gia nhân (có khi mỗi đoàn có đến 1000 người), mạng lưới giao thông, chợ búa, hàng quán, ngân hàng,v.v ngày càng được mở mang Dĩ nhiên cũng nhờ đó mà tính chất đồng nhất về văn hoá trí thức của nước Nhật cũng được gia tăng rất cao so với các nước khác cùng thời
Đối với triều đình Thiên hoàng ở Kyoto, chính quyền Tokugawa tiếp tục thi hành chính sách của những đời shogun trước, một mặt nâng cao uy tín của Thiên hoàng, một mặt tìm cách kiểm soát và tác rời thiên hoàng với các daimyo nhằm phòng ngừa các daimyo có thể nhờ thế lực Thiên hoàng để chống lại mình.[36]
Trang 271.2.2 Chính sách đối ngoại của Tokugawa
Thất bại trong cuộc chiến Nhật – Triều, Nhật Bản rút ra được bài học quan trọng: trong đối ngoại, đặc biệt là với Trung Quốc, họ cần sử dụng con đường ngoại giao cẩn trọng hơn là chiến tranh Chính vì thế Mạc phủ Tokugawa đã duy trì mối quan hệ ổn định và tốt đẹp trước tiên là với nhà Minh Trên thực tế, cùng với Hà Lan, Trung Quốc là cánh cửa duy nhất nối Nhật Bản với thế giới bên ngoài trong suốt thời kỳ sakoku (từ năm 1639 đến năm
1858 ).[14]
Mặc dù ban lệnh tỏa quốc vào năm 1639, nhưng Mạc phủ vẫn cho thuyền Trung Hoa và tàu buôn Hà Lan được cấp giấy phép ra vào Từ đây, Nhật Bản có thể nhập hàng hóa, tiền tệ Vốn là nước có nguồn bạc, đồng dồi dào nên hàng hóa xuất cảng ra nước ngoài chủ yếu gồm có: bạc, đồng, sắt, diêm sinh Ngoài ra còn có cả các đồ sơn, quạt và hàng thủ công mỹ nghệ bạc
hà, thóc gạo và một số hạt khác Hàng nhập vào Nhật gồm có lụa thô (chiếm số lượng lớn nhất), hàng tơ lụa cao cấp, sợi bông, da cá mập, da hươu, gỗ quý, thuốc nhuộm, đường, chì, thiếc Giống như bạc thời hoàng kim, đồng của Nhật Bản đặc biệt hấp dẫn thương nhân nước ngoài Kỹ thuật luyện đồng của người Nhật thời kỳ đó rất đơn giản vì thế không tách gạn được kim loại quý như vàng, bạc ra khỏi đồng Vì lẽ đó, những thỏi đồng Nhật Bản xuất khẩu vẫn còn chứa đựng dù nhỏ nhưng rất có giá trị một hàm lượng vàng và bạc Trong quan hệ thương mại lúc đó, Nhật Bản bị mắc hiện tượng “chảy máu bạc” Từ năm 1615 đến 1625, khối lượng bạc mà Nhật Bản xuất cảng thông qua các tàu buôn Nhật Bản, Trung Quốc, Hà Lan, Bồ Đào Nha, và một số tàu buôn khác đạt đến mức khổng lồ, có thể lên đến 130 tấn – 140 tấn, tương đươngvới 30 – 40% tổng sản lượng bạc của thế giới lúc đó[12] Tình hình đó đòi hỏi một số thay đổi nhằm hoàn chỉnh phương pháp tinh luyện đồng mới Công nghệ này gắn liền với một nhân vật có tên Riemon Soga Sau khi tích lũy được vốn kiến thức cần thiết, ông đã tự tìm ra kỹ thuật cho riêng mình mà sau này trở nên rất nổi tiếng và được biết đến với tên gọi “Namban - buki” (Vũ khí phương Tây) – một công
Trang 28nghệ rất giống của châu Âu, nhưng có nhiều ưu điểm hơn trong tinh luyện và đúc đồng
Về khía cạnh kinh tế - xã hội, việc xuất khẩu quá nhiều vàng bạc qua hoạt động ngoại thương đã dẫn đến tình trạng cạn kiệt đến mức báo động của hai kim loại quý này Nhưng may thay đến giữa thế kỷ XVII, sản xuất đồng đã thay thế sản xuất vàng, bạc vì sự quan trọng chiến lược của kim loại này Cùng với bạc, về sau là vàng và đồng (cả loại nguyên khối hay đã đúc thành tiền) cũng là những mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Nhật Bản sang các nước khác.[13]
Sau một thời gian mở rộng và thúc đẩy hoạt động ngoại thương của Nhật Bản với phương Tây, chính quyền Tokugawa đã nhận ra những hậu quả nghiêm trọng của sự truyền bá Thiên chúa giáo mà ẩn đằng sau là sựđe dọa an ninh quốc gia và nền độc lập dân tộc Vì vậy chính quyền Mạc phủ đã thực hiện chính sách cấm đạo Những người Nhật Bản tin vào đạo Cơ đốc bị hành hình Các thương gia, trừ người Hà Lan và người Trung Hoa đều bị cấm tới Nhật Bản Tuy nhiên, người Hà Lan cũng bị hạn chế chỉ cho phép đến một hòn đảo nhỏ ở cảng Nagasaki Dưới thời Shogun thứ ba – Tokugawa Iemitsu (1604
- 1651) đã ban hành chính sách Tỏa quốc, đóng cửa với thế giới bên ngoài Ngoại thương của Nhật Bản trong suốt 215 năm (1639 - 1854) chỉ tập trung quan hệ với 4 nước: Trung Quốc, Hà Lan, Triều Tiên và Ryukyu (Lưu Cầu).[45]
1.3 Triều Tiên
1.3.1 Triều đình Chosen sau chiến tranh
Triều Tiên (1392 – 1910) ( phiên âm tiếng Triều Tiên: Chosen, Chosun, Joseon) hay còn gọi là nhà Yi (nhà Lý), là triều đại được thành lập bởi Thái Tổ Yi Songgye (Lý Thành Quế - 李成桂) sau khi Yi Songgye lật đổ nhà Koryo (Cao Ly – 高麗) tại Kaesong (Khai Thành – 開城) và tồn tại hơn 5 thế kỷ Khi đó, tên của vương quốc cũng được đặt lại theo tên của vương triều,
Trang 29và kinh đô được dời về Hanseong (Hán Thành - 漢城 – Seoul ngày nay) và các đường biên giới cực Bắc của vương quốc được mở rộng đến các đường biên giới tự nhiên tại sông Yalu (Amnok hay Áp Lục – 鴨綠) và sông Duman (Đồ Môn – 豆滿) Đến đầu thế kỷ XVII, do hệ quả của cuộc chiến tranh Nhật – Triều (1592 - 1597) vẫn chưa được giải quyết triệt để, thêm vào đó là sự xâm lược từ phương Bắc của người Mãn Châu nên tình hình kinh tế, chính trị của Chosen lâm vào tình trạng hết sức khó khăn Triều Tiên lúc bấy giờ là “thuộc quốc” của nhà Minh Triều đình Mãn Châu muốn chinh phục Trung Quốc nên phải tấn công chiếm Triều Tiên Năm 1636, Mãn Châu đã biến Triều Tiên thành “thuộc quốc”, bắt Triều Tiên phải dâng cống phẩm và thợ lành nghề Đặc biệt là nguồn nguyên liệu nhập khẩu từ Trung Quốc để sản xuất sứ trắng hoa lam của Triều Tiên không còn nữa nên hoạt động sản xuất sứ trắng càng khó khăn hơn Do đó sản phẩm sứ trắng Triều Tiên không còn độ trắng sạch hoàn hảo nữa mà chuyển thành màu trắng xám Cho đến giữa thế kỷ XVII, tình hình
xã hội ổn định hơn nên sứ trắng Triều Tiên được sản xuất rộng rãi trên toàn quốc, và đây cũng là thời kỳ xuất hiện sứ hoa văn màu sắc với những nét vẽ rồng, mây phóng khoáng và sứ hoa văn màu sắc được coi là loại sứ trắng đặc trưng của thời kỳ này Sau khi triều Thanh được thiết lập tại Trung Quốc, Triều Tiên chính thức trở thành “thuộc quốc” của nhà Thanh.[5]
1.3.2 Chính sách đối ngoại của triều đình Chosen
Vào đầu triều đại, Taejo theo đuổi lập trường phò Minh mạnh mẽ, đạt được cả hai việc là nhà Minh công nhận tính chính thống của chế độ mới và công nhận ông, tạo điều kiện cho sự trao đổi văn hóa Ông cũng ủng hộ việc bành trướng về phía Bắc và giành sự kiểm soát trên lãnh thổ tới tận ranh giới song Tumen, tạo thành các biên giới của Hàn Quốc ngày nay Trong những năm 1418 – 1450 dưới triều Sejong, các biên giới này trở thành biên giới cố định Người Jurchen đã thực hiện hai cuộc phản công chính trong năm 1460 và
1467 nhưng bị đánh bại nặng nề Ở đầu kia của bán đảo, người Nhật trên đảo
Trang 30Tsushima do thiếu lương thực liên tục đã thực hiện các cuộc đột phá cướp bóc Sejong đã loại bỏ mối đe dọa này vào năm 1419, chinh phục Tsushima và thiết lập một nền hòa bình bằng cách mở cửa ba cảng của Triều Tiên cho người Nhật
Đến cuối thế kỷ XVI và đầu thế kỷ XVII, các sự kiện nằm ngoài sự kiểm soát của Chosen xuất hiện, thúc đẩy liên tục các cuộc xâm lược của người Nhật và người Mãn Châu Các cuộc xâm lược cùng với ảnh hưởng của thời kỳ giá rét đóng bang đã bắt đầu cho thấy có những hậu quả tai hại đối với Chosen lúc đó
Người Nhật xâm lược hai lần, lần đầu vào năm 1592 và lần sau năm
1597 Quan điểm ngày càng được các nhà sử học thừa nhận là nguyên nhân của các cuộc xâm lược của người Nhật nằm trong cơ cấu thương mại quốc tế ở Đông Á Ở các nước Trung Quốc, Triều Tiên và Nhật Bản, tầm quan trọng tương đối của thương mại quốc tế đã trở nên to lớn đến mức nó có ảnh hưởng mạnh mẽ đến nền tảng kinh tế của giai cấp thống trị Người Nhật ngày càng không thỏa mãn vị trí của họ trong cơ cấu thương mại Họ phải chịu nhiều hạn chế về khối lượng buôn bán do Trung Quốc và đặt ra và họ phải đối đầu với các khó khăn liên quan tới tiền hoa hồng cao trả những người trung gian, chủ yếu là các thương gia Bồ Đào Nha Kết quả là họ mong muốn giành được sự kiểm soát đối với các khu vực sản xuất gốc các loại hàng nhập khẩu Mới được thống nhất dưới sự cầm quyền của Hideyoshi và coi Trung Quốc như mục tiêu cuối cùng của họ, người Nhật đã phát động cuộc xâm lược đầu tiên vào năm
1592 Họ nhanh chóng tiến quân từ căn cứ của mình ở Pusan tới tận P‟yongyang, tràn qua gần hết Hàn Quốc Giận dữ vì sự kém cỏi và vô trách nhiệm của chính phủ Chosen, dân chúng đã từ chối lời kêu gọi gia nhập quân đội và đất nước rơi vào tình trạng tuyệt vọng
Có ba yếu tố kết hợp đã cứu vãn Chosen Thứ nhất, đô đốc hải quân
Yi Sun Shin sử dụng các “tàu rùa biển” mới được xây dựng đã liên tục đánh bại hải quân Nhật Thành công của hải quân của đô đốc Yi có kết quả quan
Trang 31trọng Người Nhật không thể tiến lên phía Bắc bằng đường biển và tiếp tế cho lực lượng mặt đất của họ, hậu quả là họ buộc phải rải quân chiến đấu để giữ các tuyến đường tiếp tế thông suốt trên mặt đất Thêm vào đó, Chollado giàu lúa gạo vẫn nằm trong tay Chosen Thứ hai, người Nhật thường xuyên bị bất ngờ khi các “đội quân chính nghĩa” nổi lên khắp nơi trên đất nước, những người nông dân giận dữ quyết tâm chiến đấu để bảo vệ đất đai của họ Cuối cùng, người Nhật phải chịu các cuộc tấn công từ phía Bắc của lực lượng cứu viện nhà Minh đông tới 50.000 người Bị quấy phá từ mọi phía, họ liên tục rút lui về góc Tây Nam của bán đảo, giấu mình sau các công sự giống như thành lũy.[5]
Các cuộc đàm phán hòa bình bắt đầu nhưng không đạt được giải pháp gì và người Nhật phát động lực lượng xâm lược lần thứ hai vào năm 1597 Lần này họ bị tấn công cả trên biển và trên đất liền, phải rút lui vào giữa năm
1598 sau cái chết của Hideyoshi
Hậu quả của sáu năm chiến tranh là sự tàn phá nặng nề Nhiều di sản văn hóa bị mất, bị cháy do người Nhật đốt phá Các thợ gốm Triều Tiên bị bắt sang Nhật Bản để người Nhật không còn nhập các đồ sứ Trung Quốc nữa Các cuốn sách quan trọng bị tịch thu và kiến thức chứa trong đó bị mất Người ta ước lượng chừng 10 ngàn người Hàn Quốc bị bắt và bị bán cho các lái buôn nô
lệ Nhật và Bồ Đào Nha Đói kém và bệnh tật tràn lan Việc điều tra dân số và đất đai bị mất hiệu lực, kết quả là chính phủ gặp khó khăn trong việc thu thuế
và huy động lao động dịch vụ Đã có những cuộc nổi dậy khi nông dân tìm cách giảm nhẹ khó khăn của họ
Để khôi phục lại đất nước sau chiến tranh, Triều Tiên cần một nguồn tài chính lớn nhưng không thể dựa vào sự giúp đỡ từ Trung Hoa bởi sau cuộc chiến, nhà Minh phải đối mặt với những vấn đề kinh tế và và đối ngoại Biên giới phía Bắc cũng bị đe dọa nghiêm trọng do bộ tộc Nữ Chân (Jurchen) ngày một lớn mạnh Là một “thuộc quốc” nên Triều Tiên không thể không chú
ý đến những biến động chính trị đó ở Trung Quốc Vì vậy trong chính sách đối
Trang 32ngoại, vương triều Chosen cho rằng để đối phó với người Mãn Châu ở phía Tây Bắc thì biện pháp thiết thực nhất là bình thường hóa quan hệ với Nhật Bản Hơn nữa do vị trí địa lý cũng như vị thế chính trị và lợi ích kinh tế, nếu tiếp tục tình trạng căng thẳng với chính quyền Mạc Phủ là không có lợi cho triều đình Chosen Vì vậy, năm 1609 Triều Tiên và Nhật Bản đã ký kết hiệp ước khôi phục quan hệ giao thương với nhau vốn bị đứt đoạn trong thời gian chiến tranh dưới thời Hideyoshi
Trước khi khắc phục được các hậu quả do Nhật Bản xâm lược, Chosen đã bước vào cuộc xung đột với Mãn Châu Nguyên nhân sâu xa của các cuộc xâm lược của Mãn Châu là họ mong muốn mở rộng về phía Nam để giành thêm đất nông nghiệp Dần dần, người Mãn không còn là dân du cư nữa
và phát triển lối sống nông nghiệp Xã hội mới định cư và thống nhất về chính trị đòi hỏi phải gia tăng thu thuế hàng năm và việc tiến về phía Nam là nhằm
mở rộng phạm vi thu thuế Tình hình có phần trầm trọng hơn do ảnh hưởng của thời kỳ đóng băng đối với nông nghiệp Khi thời tiết trở nên lạnh hơn, ngày càng nhiều người Mãn tiến hành cướp bóc về phía Nam để tìm lương thực.[5]
Tuy vậy, dù ở trong tình trạng khó khăn, nhưng dưòng như người Mãn không có xu hướng mở rộng lãnh thổ cho tới khi Hong Taiji (T‟ai – tsung,
1626 – 1643) lên ngôi Trước đó đã có các xung đột với người Trung Quốc (mà Chosen đã gửi lực lượng cứu viện), nhưng người đứng đầu lúc đó là Nurhaci không theo đuổi việc tiến vào Trung Quốc, thậm chí cả khi lực lượng Mãn Châu làm tan rã quân Minh năm 1619 Nhưng mặt khác, Hong Taiji thực hiện triệt để chính sách bành trướng Trung Quốc là mục tiêu chính nhưng người Mãn cũng quan tâm tới mối đe dọa từ phía sau họ là Chosen, lúc đó do Injo (1623 - 1649) cầm quyền đang phò Minh mạnh mẽ
Người Mãn tìm thấy lý do xâm lược khi người cầm đầu cuộc khởi nghĩa, Yi Kwai cùng những người theo ông chạy tới Mãn Châu sau thất bại ở Chosen năm 1624 đề nghị sự giúp đỡ của Mãn Châu để chống lại cái mà họ cảm thấy là sự bất công chính trị ở Chosen Được vũ trang bằng lý do cho sự
Trang 33can thiệp vào các quan hệ của Chosen, Mãn Châu đã xâm lược năm 1627 với một lực lượng nhỏ có 30 ngàn người Họ nhanh chóng tiến về phía Nam P‟yongyang (Bình Nhưỡng); ngay lúc đó chính phủ Chosen đã sẵn sàng chấp nhận yêu cầu rằng Chosen sẽ không đe dọa phía sau Mãn Châu trong cuộc tiến quân theo kế hoạch của người Mãn vào Trung Quốc Được bảo đảm bởi lời hứa đó, người Mãn đã rút lui
Một thời gian ngắn sau đó, Mãn Châu (những người giờ đây tự gọi mình là Thanh), đang tiến hành cuộc xâm lược tổng lực Mông Cổ, đã chuẩn bị tiến về Bắc Kinh Vẫn còn lo ngại về mối đe dọa ở phía sau lung, họ đã yêu cầu Chosen công nhận quyền bá chủ của Mãn Châu Chosen từ chối không tiếp nhận đại diện Mãn Châu, do đó càng làm tang sự lo ngại của cường quốc phương Bắc Do tình hình nghiêm trọng, Hong Taiji quyết định loại bỏ một lần vĩnh viễn mối đe dọa từ Chosen và xâm lược lần thứ hai với lực lượng 200 ngàn người
Lực lượng Chosen bị đánh bại dễ dàng, để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng Chosen buộc phải thần phục nhà Thanh là bá chủ, sự kiện mang một ý nghĩa to lớn, sau này dẫn đến sự xâm lược thuộc địa của Nhật Bản ở Hàn Quốc năm 1910 Chosen còn phải cắt đứt toàn bộ các quan hệ với nhà Minh, đưa hai con trai lớn của Injo làm con tin và gửi quân giúp Mãn Châu trong cuộc chiến chống Minh
Ngoài các hậu quả riêng đã nói trên, các cuộc xâm lược của Nhật Bản và Mãn Châu nhìn chung còn có nhiều hậu quả quan trọng khác Trong thời kỳ từ 1592 đến 1636, tỷ lệ tang dân số hàng năm giảm mạnh, từ 0,4% xuống khoảng giữa -2,58% và -2,2% Năm 1591 số dân là 14 triệu người nhưng tới năm 1630 đã giảm xuống còn 10,6 triệu người Cho tới khoảng năm
1651, tỷ lệ tăng dân số hàng năm lại đạt được 0,4% và số dân 14 triệu người của năm 1591 đã lại đạt được vào năm 1679 Sự giảm dân số nghiêm trọng này
có ảnh hưởng tai hại đến nền kinh tế trong thế kỷ XVII
Trang 34Đầu thế kỷ XVII, nhà Thanh thay thế nhà Minh, ép triều đình Chosen phải thần phục Năm 1636, quân Thanh tràn sang bán đảo Triều Tiên, vương triều Chosen cuối cùng đành phải chịu nhận điạ vị lệ thuộc, đưa một hoàng tử sang Bắc Kinh làm con tin để đổi lấy hòa bình Từ đó, bán đảo Triều Tiên trở thành mục tiêu tranh giành ảnh hưởng giữa các cường quốc đương thời Lấy cớ bảo vệ các nhà truyền giáo và giáo dân, Pháp, sau đó là Đức, Mĩ đều đưa tàu chiến vào hải phận Triều Tiên, đòi bãi bỏ chính sách cấm đạo, đòi
mở cửa tự do thông thương Vương triều Chosen một mặt điều động quân đội chống trả các cuộc xâm nhập, mặt khác vẫn tiếp tục chính sách tự cô lập – bế quan tỏa cảng Năm 1876, Nhật đưa tàu chiến đến đảo Kanghwa, buộc triều đình Chosen phải ký hiệp ước Kanghwa và đã giành được nhiều ưu đãi về thông thương, chính trị ngoại giao…trên bán đảo Triều Tiên [18]
1.4 Tổng quan về sứ đoàn Triều Tiên đi sứ Nhật Bản trước thế kỷ XVII
Triều Tiên thông tín sứ vào thời Muromachi (1333-1568) ngoài nhiệm vụ đi sứ, còn phải bí mật theo dõi tình hình của Nhật Bản Theo sử liệu
“Hải Đông chư quốc ký ” được viết bởi Thân Thúc Chu (năm 1428), một viên
quan đi cùng với sứ đoàn, làm nhiệm vụ ghi chép các sự việc đã diễn ra Ông cho biết sứ đoàn đã theo dõi tình hình Nhật Bản trên rất nhiều phương diện như chính sách tiền tệ quốc gia, tình hình phát triển của các thành thị, quan hệ giữa các Shugo Daimyo1 với nhân dân trong nước cũng như với các thổ hào ở địa phương; ngoài ra sứ đoàn còn theo dõi cả sự phát triển của Phật giáo ở Nhật Bản
Vào thời Muromachi, có 3 sứ đoàn đến Nhật Bản Vào các năm
1459 và 1479 Triều Tiên cũng đã có kế hoạch cử sứ đoàn đi, nhưng cuối cùng lại không thực hiện được vì tính chất nguy hiểm của việc di chuyển bằng
Shugo daimyo là các daimyo không chỉ đảm nhận chức năng, nhiệm vụ thuộc về quân sự và cảnh sát mà các daimyo này còn có chức năng về kinh tế, chi phối toàn bộ quốc gia
Trang 35thuyền, trên đường đi đã có sứ giả bị thiệt mạng Ngoài ra cũng có lý do cho việc đi sứ bị hủy bỏ là do giao dịch thương mại giữa Nhật Bản và Triều Tiên không còn hưng thịnh như trước nữa, cũng như việc thương lượng, đàm phán giữa hai nước không được tiến hành trên cơ sở hòa bình Năm 1429, khi đến Nhật Bản, Phác Đoan Sinh đã yêu cầu Kim Thận xem xét kỹ lưỡng phương pháp chế tạo xe nước mà các nông dân Nhật Bản đã sử dụng trong nông nghiệp Ngoài ra, sau khi về nước ông cũng đã truyền lại kỹ thuật chế tạo giấy,
kỹ thuật mạ bạc và phương pháp làm son, phấn trang điểm cho phụ nữ Thực trạng nền kinh tế tiền tệ của Nhật Bản, sự phát triển của các hệ thống cửa hàng cũng được nói đến nhưng trong đó phải kể đến phương pháp làm giấy và kỹ thuật chà lúa của Nhật Bản đã được truyền bá rộng rãi ở Triều Tiên Khoảng cách về mặt kỹ thuật giữa Nhật Bản và Triều Tiên cũng còn những khoảng cách nhất định Lúc này kinh tế Triều Tiên vẫn còn là nền kinh tế trao đổi hàng hóa, vật đổi vật Người Triều Tiên không biết tiền tệ cũng như không quen việc buôn bán Một sứ giả đã ghi lại rằng, họ thật sự ngạc nhiên trước hành động khất thực và xin tiền ở Nhật Bản.[5]
Trang 36Các Thông tín sứ thời Muromachi
Lần
2
1439 (Vĩnh Hưởng11)
Thông tín sứ Chính sứ Cao Đắc Tông Phó sứ Doãn Nhân Phủ Thư trạng quan Kim Lễ Mông Gìn giữ mối quan hệ lâu đời giữa hai nước
Lần
3
1443 (Gia Cát 3)
Thông tín sứ Chính sứ Biện Hiếu Văn Phó sứ Doãn Nhân Phủ Thư trạng quan Thân Thục Chu Chúc mừng Tướng quân nhậm chức (nghi lễ thời Ashikaga)
Trang 37Năm 1590, Thông tín sứ được phái đến trên danh nghĩa chúc mừng Toyotomi Hideyoshi đã thống nhất Nhật Bản nhưng thực chất cũng là nhằm thám thính tính thực hư trước tin đồn về ý đồ xâm chiếm Triều Tiên của Nhật Bản Lúc bấy giờ, Chính sứ Hoàng Doãn Cát và Phó sứ Kim Thành Nhất lại nhận định hoàn toàn mâu thuẫn nhau Chính sứ cho rằng âm mưu xâm chiếm Triều Tiên là có thật, còn Phó sứ thì cho rằng âm mưu trên là không có thật Tuy nhiên, những ý kiến đồng tình với Phó sứ lại chiếm đa số Trong chiến dịch Văn Lục diễn ra, việc Nhật Bản tấn công đến tận Bình Nhưỡng là do triều đình đã tin theo báo cáo của Phó sứ mà không chuẩn bị phòng thủ
Thông tín sứ năm 1596 (Khánh Trường nguyên niên) đảm nhận nhiệm vụ chính yếu trong việc thương lượng nhằm chấm dứt chiến tranh giữa Nhật Bản và nhà Minh Sứ giả của nhà Minh được cử đến Nhật Bản lúc bấy giờ được gọi là Sách phong sứ Sứ đoàn có Chính sứ Hoàng Thận và Phó sứ Phác Hoằng Trường được Hideyoshi miễn tiếp kiến Cuộc thương lượng của các sứ giả Minh triều thất bại và chiến dịch Khánh Trường lại tiếp tục diễn ra
Trang 38Tiểu kết chương 1
Nhà Minh mặc dù nuôi dưỡng những tham vọng lớn nhưng dường như đã không thể xác lập được vị thế của một đất nước “có tầm thế giới” Chính vì vậy, sau các chuyến “viễn du” để tìm kiếm thị trường và mở rộng tầm ảnh hưởng của mình, thực lực nhà Minh đã suy giảm nhanh chóng Tuy số lượng các quốc gia thần thuộc và muốn đến triều cống, xác lập quan hệ với Trung Quốc có tăng lên nhưng thực tế Trung Quốc vẫn dừng lại với vị trí của một “đế chế khu vực”
Đầu thế kỷ XVII (từ năm 1600 trở đi), Nhật Bản đã bắt đầu tham gia một cách chủ động vào ngoại thương Cho đến năm 1635, Tướng quân Ieyasu
đã cấp rất nhiều giấy phép cho các “Châu Ấn thuyền” với sứ mệnh giao thương với Châu Á - Chủ yếu là Đông Nam Á và nhiều nhất là Việt Nam Sau khi đất nước hòa bình và thống nhất Tokugawa Ieyasu năm 1603, Nhật Bản thu mình với những người Nam Man, chủ yếu là vì mối đe dọa ngày càng tăng của sự Thiên Chúa hóa Năm 1635, với chính sách bế quan tỏa cảng (Tỏa quốc - Sakoku), chỉ các chuyến tàu hồi hương mới được phép cập bờ, từ Trung Quốc, Triều Tiên, Hà Lan Tuy Nhật Bản giới hạn nghiêm ngặt việc giao thương với nước ngoài, điều này không có nghĩa là ngoại thương hoàn toàn chấm dứt, người Nhật vẫn buôn bán với Triều Tiên thông qua đảo Tsushima Cho đến năm 1650, trừ tiền đồn trao đổi cho người Hà Lan và một số việc buôn bán với Trung Quốc ở Dejima, Nagasaki, người nước ngoài là đối tượng của hình phạt
tử hình, và những người cải đạo Thiên Chúa bị xử tử Súng gần như bị bỏ đi để thay vào đó là thanh kiếm “văn minh” hơn Việc đi ra nước ngoài và đóng các con tàu lớn cũng bị cấm Sau đó bắt đầu thời kỳ bế quan tỏa cảng, hòa bình, thịnh vượng và tiến triển chậm chạp của những năm Edo Nhìn chung, Nhật Bản đã xác lập được vị thế lớn hơn trong quan hệ với các nước Đông Bắc Á
Sự phân hóa nội bộ, tranh giành quyền binh, nội loạn, ngoại xâm vào cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII đã làm cho nền tảng của triều đình Triều Tiên lung lay Năm 1627, Triều Tiên lại một lần nữa phải đối mặt với nạn
Trang 39ngoại xâm, đó là cuộc xâm lăng của Mãn Châu Triều Tiên lúc bấy giờ là thuộc quốc của nhà Minh Triều đình Mãn Châu muốn chinh phục Trung Quốc nên phải tấn chiếm Triều Tiên Năm 1636, Mãn Châu đã biến Triều Tiên thành thuộc quốc, bắt Triều Tiên phải dâng cống phẩm và công nhân lành nghề Sau khi Thanh triều đƣợc thiết lập tại Trung Quốc, Triều Tiên chính thức trở thành thuộc quốc của nhà Thanh cho đến năm 1894 Sau những cuộc xâm lăng của nhà Thanh, Triều Tiên trải qua một thời gian gần 200 năm trong hòa bình
Trang 40CHƯƠNG 2 HOẠT ĐỘNG CỦA SỨ ĐOÀN TRIỀU TIÊN (CHOSEN TSUSHINSHI) Ở NHẬT BẢN THẾ KỶ XVII - XIX
2.1 Mục đích, số lượng, số lần đi sứ của Triều Tiên
Thông tín sứ là sứ đoàn ngoại giao dưới danh nghĩa quốc vương Triều Tiên được chính thức cử đến Mạc phủ tướng quân – người cai trị tối cao
ở Nhật Bản (Ashikaga, Mạc phủ Tokugawa) Các sứ giả này sẽ gửi lời chúc mừng hoặc chia buồn đến Mạc phủ tướng quân Ngoài ra, họ còn được phái đến để giải quyết các vấn đề khẩn cấp chưa được quyết định
Thời kỳ Thông tín sứ được cử đến Nhật thuộc triều đại Chosen, tương ứng với từ đầu thời kỳ Muromachi, qua thời kỳ Chiến Quốc đến thời kỳ Edo ở Nhật Bản Vào đầu thời kỳ Chosen, sứ đoàn mang tên Thông tín sứ được
cử đến Nhật tổng cộng khoảng tám lần vào các năm 1413 (năm Thái tông 13),
1429 (năm Thế tông 11), 1439 (năm Thế tông 21), 1443 (năm Thế tông 25),
1460 (năm Thế Tông thứ 5), 1479 (năm Thành Tông thứ 10), 1590 (năm Tuyên
Tổ 23), 1596 (năm Tuyên Tổ 29) Tuy nhiên, do tình hình nội bộ nước Nhật cũng như việc các sứ giả bị bệnh, nên việc cử đi sứ vào các năm 1413, 1460,
1479 không được tiến hành, mà chỉ được tiến hành năm lần vào các năm 1429,
1439, 1443, 1590, 1596 Đoàn thông tín sứ đầu tiên đến Nhật Bản vào năm
1429 (năm Thế Tông 11), có danh hiệu của Quốc vương sứ, gồm ba sứ giả cũng chính là ba quan chức trung ương cấp cao Đó là Chính sứ Phác Thụy Sinh [朴瑞生], Phó sứ Lý Nghệ [李藝], Quan phụ trách thư Kim Khắc Nhu [金克柔] Mục đích của chuyến đi sứ lần này là nhằm giải quyết những tranh chấp giữa hai nước, giải quyết các vấn đề cấp bách giữa hai quốc gia và cuối cùng là mang thư cũng như lễ vật của Quốc vương Triều Tiên gửi đến Quốc vương Nhật Bản (trên thực tế là Mạc phủ Tướng quân – Shogun)