Vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài là vụ việc dân sự thuộc một trong các trường hợp sau đây: a Có ít nhất một trong các bên tham gia là cá nhân, cơ quan, tổ chức nước ngoài; b Các bên
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIỂM SÁT HÀ NỘI
-'' -BÀI TẬP NHÓM Môn: TƯ PHÁP QUỐC TẾ
ĐỀ TÀI: ĐỀ TÀI SỐ 2
Thành viên nhóm:
Hà Nội, Tháng 5 năm 2022
Trang 2CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
ĐỘC LẬP-TỰ DO-HẠNH PHÚC
BIÊN BẢN HỌP NHÓM
LỚP K7A - NHÓM 2
Kính gửi: Giảng viên giảng dạy môn tư pháp quốc tế
Thời gian, địa điểm, đề tài
1 Nội dung thảo luận: Đề tài số 2
2 Thời gian thảo luận: - 20h ngày 14/5/2022
- 19h ngày 18/5/2022
3 Địa điểm thảo luận: Thảo luận qua phòng học zoom
Phân chia công việc
1 Phần nội dung: Các thành viên trong nhóm cùng nhau làm việc, trao đổi, phân chia công việc tìm hiểu và thống nhất
2 Phân chia công việc:
THÀNH VIÊN NHÓM
Trang 3MỤC LỤC
A Mở đầu 1
B Nội dung 2
I Khái quát chung về tố tụng dân sự quốc tế 2
1 Khái niệm 2
2 Nguyên tắc cơ bản của tố tụng dân sự quốc tế 2
3 Thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế 3
II Giải quyết tình huống 5
1 Tóm tắt tình huống 5
2 Giải quyết tình huống 6
C Kết luận 12
Trang 4A Mở đầu
Trong những năm gần đây, quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra vô cùng mạnh mẽ, cùng với đó là sự hội nhập quốc tế ở nước ta đang được thúc đẩy 1 cách toàn diện Bên cạnh những thuận lợi, những điểm tích cực là những khó khăn khi nhiều loại tranh chấp mới xảy ra Chính vì vậy, việc làm sao để giải quyết một vụ việc dân sự
có yếu tố nước ngoài đang là một yếu tố đón nhận sự quan tâm mạnh mẽ đòi hỏi sự hợp tác của các quốc gia và cùng với đó là sự hoàn thiện pháp luật của Việt Nam
để phù hợp hơn với bối cảnh thực tiễn Trong bài tập nhóm này, nhóm chúng em sẽ tiến hành giải quyết tình huống số 2 về giải quyết tranh chấp giữa hai công ty có sự khác nhau về quốc tịch
Trang 5B Nội dung
I Khái quát chung về tố tụng dân sự quốc tế
1.Khái niệm
Tố tụng dân sự quốc tế là trình tự thủ tục đặc biệt được áp dụng để giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài và đảm bảo việc thi hành quyết định, bản án của tòa án hoặc quyết định của trọng tài
Theo khoản 2 Điều 464 BLTTDS, vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài
là:
“2 Vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài là vụ việc dân sự thuộc một trong
các trường hợp sau đây:
a) Có ít nhất một trong các bên tham gia là cá nhân, cơ quan, tổ chức
nước ngoài;
b) Các bên tham gia đều là công dân, cơ quan, tổ chức Việt Nam nhưng việc xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ đó xảy ra tại nước
ngoài;
c) Các bên tham gia đều là công dân, cơ quan, tổ chức Việt Nam nhưng đối tượng của quan hệ dân sự đó ở nước ngoài.”
2.Nguyên tắc cơ bản của tố tụng dân sự quốc tế
• Tôn trọng độc lập chủ quyền, an ninh quốc gia của nhau
• Tôn trọng quyền miễn trừ tư pháp của Nhà nước nước ngoài và những người được hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại giao
• Nguyên tắc đối xử quốc gia, tức là luôn bảo đảm quyền bình đẳng, không phân biệt giữa các bên đương sự trong quá trình tố tụng
• Nguyên tắc có đi có lại, cùng có lợi
Trang 62
Trang 7• Nguyên tắc Luật Tòa án (Lex fori).
3.Thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế
Trong Tư pháp quốc tế, khi một vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài phát sinh, Tòa án của các nước có liên quan đều có thể có thẩm quyền giải quyết Chính
vì vậy, việc xác định thẩm quyền của Tòa án quốc gia trong những trường hợp này
là rất quan trọng Thông thường, các căn cứ xác định thẩm quyền của Tòa án các quốc gia sẽ được xây dựng dựa trên một số quy tắc như nơi cư trú của bị đơn, nơi
có tài sản, nơi thực hiện hành vi, nơi có mối liên hệ mật thiết… Đồng thời, tùy thuộc vào mức độ gắn bó mà các vụ việc này sẽ được xếp vào hai nhóm là thẩm quyền chung và thẩm quyền riêng biệt
3.1 Thẩm quyền của Tòa án Việt Nam
Thẩm quyền chung: Theo khoản 1 Điều 469 BLTTDS 2015 thì Tòa án
Việt Nam có thẩm quyền chung giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài trong các trường hợp sau:
- Đối với trường hợp bị đơn:
• Là cá nhân cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài tại Việt Nam;
• Là cơ quan, tổ chức có trụ sở tại Việt Nam hoặc bị đơn là cơ quan, tổ chức có chi nhánh, văn phòng đại diện tại Việt Nam đối với các vụ việc liên quan đến hoạt động của chi nhánh, văn phòng đại diện của cơ quan, tổ chức đó tại Việt Nam;
• Có tài sản trên lãnh thổ Việt Nam;
- Đối với trường hợp là các vụ việc:
3
Trang 8• Vụ việc ly hôn mà nguyên đơn hoặc bị đơn là công dân Việt Nam hoặc các đương sự là người nước ngoài cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài tại Việt Nam;
• Vụ việc về quan hệ dân sự mà việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó xảy ra ở Việt Nam, đối tượng của quan hệ đó là tài sản trên lãnh thổ Việt Nam hoặc công việc được thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam;
• Vụ việc về quan hệ dân sự mà việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó xảy ra ở ngoài lãnh thổ Việt Nam nhưng có liên quan đến quyền
và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam hoặc có trụ sở, nơi cư trú tại Việt Nam
3.2 Thẩm quyền riêng biệt
Theo Điều 470 BLTTDS 2015 thì:
Những vụ án dân sự có yếu tố nước ngoài thuộc thẩm quyền giải quyết riêng của Tòa án Việt Nam phải có các điều kiện sau:
• Là vụ án dân sự có liên quan đến quyền đối với tài sản là bất động sản có trên lãnh thổ Việt Nam:
• Vụ án ly hôn giữa công dân Việt Nam với công dân nước ngoài hoặc người không quốc tịch, nếu cả hai vợ chồng cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở Việt Nam;
• Vụ án dân sự khác mà các bên được lựa chọn Tòa án Việt Nam
để giải quyết theo pháp luật Việt Nam hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và các bên đồng ý lựa chọn Tòa án Việt Nam
Những việc dân sự có yếu tố nước ngoài sau đây thuộc thẩm quyền giải quyết riêng biệt của Tòa án Việt Nam:
Trang 9• Các yêu cầu không có tranh chấp phát sinh từ quan hệ pháp luật dân
sự quy định tại khoản 1 Điều này;
• Yêu cầu xác định một sự kiện pháp lý xảy ra trên lãnh thổ Việt Nam;
• Tuyên bố công dân Việt Nam hoặc người nước ngoài cư trú tại Việt Nam bị mất tích, đã chết nếu việc tuyên bố đó có liên quan đến việc xác lập quyền, nghĩa vụ của họ trên lãnh thổ Việt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác;
• Tuyên bố người nước ngoài cư trú tại Việt Nam bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, mất năng lực hành vi dân sự nếu việc tuyên bố đó có liên quan đến việc xác lập quyền, nghĩa vụ của họ trên lãnh thổ Việt Nam;
Công nhận tài sản có trên lãnh thổ Việt Nam là vô chủ, công nhận quyền
sở hữu của người đang quản lý đối với tài sản vô chủ trên lãnh thổ Việt Nam
II Giải quyết tình huống
1 Tóm tắt tình huống
Nguyên đơn: Doanh nghiệp liên doanh C tại Việt Nam
Bị đơn: công ty X quốc tịch Đức
Doanh nghiệp A + Doanh Nghiệp B liến doanh Ký kếết hợp đồồng Doanh Nghiệp C
(Thành lập tại Nhật Bản) (Của Việt Nam) (Doanh nghiệp liên doanh tại Việt Nam)
Tháng 3 năm 2020 doanh nghiệp C ký kết hợp đồng nhập khẩu 2 tấn hàng nguyên liệu sản xuất linh kiện ô tô với công ty X quốc tịch Đức tuy nhiên, hàng giao bị lỗi, hai bên không tự giải quyết được tranh chấp Doanh nghiệp C khởi kiện Công ty X ra Tòa án Việt Nam Hỏi:
5
Trang 10A, Tòa án Việt Nam có thụ lý và giải quyết được không? Tại sao?
B, Nếu Tòa án Việt Nam có thẩm quyền thì năng lực pháp luật dân sự của các bên được xác định theo pháp luật nước nào? Tại sao?
C, Xác định pháp luật áp dụng để giải quyết tranh chấp? (được biết hợp đồng được ký kết và thực hiện ở Hoa Kỳ)
2 Giải quyết tình huống
2.1 Tòa án Việt Nam có thụ lý và giải quyết được không? Tại sao?
Doanh nghiệp liên doanh C là doanh nghiệp được thành lập và hoạt động tại ở Việt Nam nên căn cứ theo khoản 9 Điều 4 Luật doanh nghiệp 2014 thì:
“Doanh nghiệp Việt Nam là doanh nghiệp được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo pháp luật Việt Nam và có trụ sở chính tại Việt Nam ” Vì thế,
doanh nghiệp C là doanh nghiệp Việt Nam
Trong vụ việc Doanh nghiệp C khởi kiện Công ty X, doanh nghiệp C là doanh nghiệp Việt Nam, công ty X có quốc tịch Đức Vì vậy căn cứ vào khoản 2 Điều 464 BLTTDS 2015:
“Vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài là vụ việc dân sự thuộc một trong
các trường hợp sau đây:
a) Có ít nhất một trong các bên tham gia là cá nhân, cơ quan, tổ chức nước ngoài;
Trang 11b) Các bên tham gia đều là công dân, cơ quan, tổ chức Việt Nam nhưng việc xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ đó xảy ra tại nước ngoài;
c) Các bên tham gia đều là công dân, cơ quan, tổ chức Việt Nam nhưng đối tượng của quan hệ dân sự đó ở nước ngoài.”
Ở tình huống này, có một bên tham gia là cơ quan nước ngoài nên theo điểm a khoản 2 điều 464 BLTTDS 2015 thì vụ việc vụ việc Doanh nghiệp C khởi kiện Công ty X là vụ việc có yếu tố nước ngoài
Về việc xác định thẩm quyền của Tòa án Việt Nam, căn cứ vào khoản 1 Điều 469 BLTTDS 2015 về thẩm quyền chung của Tòa án Việt Nam trong giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài:
“Tòa án Việt Nam có thẩm quyền giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố
nước ngoài trong những trường hợp sau đây:
a) Bị đơn là cá nhân cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài tại Việt Nam;
b) Bị đơn là cơ quan, tổ chức có trụ sở tại Việt Nam hoặc bị đơn là cơ quan, tổ chức có chi nhánh, văn phòng đại diện tại Việt Nam đối với các vụ việc liên quan đến hoạt động của chi nhánh, văn phòng đại diện của cơ quan,
tổ chức đó tại Việt Nam;
c) Bị đơn có tài sản trên lãnh thổ Việt Nam;
7
Trang 12d) Vụ việc ly hôn mà nguyên đơn hoặc bị đơn là công dân Việt Nam hoặc các đương sự là người nước ngoài cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài tại Việt Nam;
đ) Vụ việc về quan hệ dân sự mà việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quan
hệ đó xảy ra ở Việt Nam, đối tượng của quan hệ đó là tài sản trên lãnh thổ Việt Nam hoặc công việc được thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam;
e) Vụ việc về quan hệ dân sự mà việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quan
hệ đó xảy ra ở ngoài lãnh thổ Việt Nam nhưng có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam hoặc có trụ sở, nơi cư trú tại Việt Nam.”
Ở tình huống này, vụ việc chưa xác định rõ hợp đồng được ký kết và thực hiện ở quốc gia nào nên cần chia ra thành 2 trường hợp:
Thứ nhất, hợp đồng được ký kết và thực hiện tại Việt Nam, khi đó, việc
xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ này xảy ra ở Việt Nam, công việc được thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam nên trường hợp này sẽ rơi vào điểm đ, khoản 2 Điều 469 BLTTDS 2015 nên đây sẽ là vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án Việt Nam
Thứ hai, hợp đồng được ký kết và thực hiện tại nước ngoài, khi đó, việc
xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó xảy ra ở ngoài lãnh thổ Việt Nam nhưng có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp liên doanh C – một doanh nghiệp Việt Nam nên trường hợp này sẽ rơi vào điểm e, khoản 2 Điều 469 BLTTDS 2015 và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án Việt Nam
Trang 13Như vậy, dù trong trường hợp nào, Tòa án Việt Nam có thụ lý và giải quyết được vụ việc này
2.2 Nếu Tòa án Việt Nam có thẩm quyền thì năng lực pháp luật dân
sự của các bên được xác định theo pháp luật nước nào? Tại sao?
Theo quy định của pháp luật về đầu tư, liên doanh là một trong những hình thức đầu tư trực tiếp giữa nhà đầu tư nước ngoài và nhà đầu tư Việt Nam thành lập tổ chức kinh tế liên doanh với loại hình công ty TNHH hai thành viên trở lên hoặc công ty cổ phần Như vậy, doanh nghiệp liên doanh C sẽ là công ty TNHH TNHH hai thành viên trở lên hoặc công ty cổ phần
Theo khoản 2 Điều 47 Luật doanh nghiệp 2014 thì “ Công ty trách nhiệm
hữu hạn hai thành viên trở lên có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.” và theo khoản 2 Điều 110 Luật
doanh nghiệp 2014 thì “Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày
được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.” Vì thế, doanh nghiệp liên
doanh C sẽ có tư cách pháp nhân
Tòa án Việt Nam giải quyết tranh chấp nên sẽ sử dụng Tư pháp quốc tế Việt Nam Theo Điều 644 BLDS 2015, vì chưa có điều ước quốc tế để giải quyết vấn đề năng lực pháp luật dân sự của các bên nên pháp luật Việt Nam
sẽ được áp dụng Căn cứ vào khoản 2 và khoản 3 Điều 676 BLDS 2015:
“2 Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân; tên gọi của pháp nhân;
đại diện theo pháp luật của pháp nhân; việc tổ chức, tổ chức lại, giải thể pháp nhân; quan hệ giữa pháp nhân với thành viên của pháp nhân; trách nhiệm của pháp nhân và thành viên của pháp nhân đối với các nghĩa vụ của
9
Trang 14pháp nhân được xác định theo pháp luật của nước mà pháp nhân có quốc tịch, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này.
3 Trường hợp pháp nhân nước ngoài xác lập, thực hiện giao dịch dân
sự tại Việt Nam thì năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân nước ngoài đó được xác định theo pháp luật Việt Nam.”
Như vậy, ở đây doanh nghiệp liên doanh C là pháp nhân có quốc tịch Việt Nam nên năng lực pháp luật dân sự của các bên được xác định theo pháp luật nước Việt Nam theo khoản 2 nói trên Còn công ty X là pháp nhân có quốc tịch Đức nên trong trường hợp giao dịch dân sự được xác lập, thực hiện
ở nước ngoài (khác Việt Nam) thì năng lực pháp luật dân sự của các bên được xác định theo pháp luật nước Đức theo khoản 2 Trong trường hợp giao dịch dân sự được xác lập, thực hiện ở Việt Nam thì theo khoản 3, năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân nước ngoài là công ty X được xác định theo pháp luật Việt Nam
2.3 Xác định pháp luật áp dụng để giải quyết tranh chấp? (được biết hợp đồng được ký kết và thực hiện ở Hoa Kỳ)
Tòa án Việt Nam giải quyết tranh chấp nên sẽ sử dụng Tư pháp quốc tế Việt Nam Ở tình huống này, Hệ thuộc luật do các bên ký kết hợp đồng lựa chọn sẽ được ưu tiên áp dụng Tuy nhiên trong tình huống không nêu rõ có sự thỏa thuận hay không nên chúng ta sẽ chia làm hai trường hơp:
Trường hợp 1: Nếu như trong hợp đồng giữa doanh nghiệp C và công ty
X không có sự thỏa thuận về việc lựa chọn luật áp dụng thì theo khoản 1 Điều
644 BLDS 2015 thì trong trường hợp này để giải quyết tranh chấp Công ước
Trang 15Viên 1980 - Công ước mà cả Việt Nam, Nhật Bản, Mỹ, Đức đều tham gia sẽ được áp dụng để giải quyết tranh chấp
Trường hợp 2: Nếu như trong hợp đồng giữa doanh nghiệp C và công ty
X có sự thỏa thuận về việc lựa chọn luật áp dụng thì sẽ có ba trường hợp xảy
ra Thứ nhất, nếu các bên thỏa thuận lựa chọn pháp luật của một quốc gia là
thành viên của Công ước Viên để áp dụng mà ghi rõ trong điều khoản là chỉ
áp dụng luật quốc gia để điều chỉnh thì pháp luật quốc gia được lựa chọn đó
được áp dụng Thứ hai, các bên có thể chọn luật của một nước không phải
thành viên Công ước Viên 1980, ví dụ như luật Anh, khi đó luật quốc gia Anh
là luật áp dụng dù các bên có trụ sở thương mại ở các nước thành viên của
Công ước Viên Thứ ba, nếu các bên thỏa thuận lựa chọn pháp luật của quốc
gia là thành viên của Công ước Viên 1980 và không nêu rõ việc chỉ áp dụng pháp luật quốc gia đó mà không áp dụng Công ước thì Công ước Viên 1980
sẽ được áp dụng để giải quyết vụ việc
Như vậy, việc xác định pháp luật để giải quyết tranh chấp trong tình huống này sẽ được chia làm nhiều trường hợp phụ thuộc vào sự thỏa thuận về việc lựa chọn luật áp dụng và đặc biệt là việc ghi rõ trong điều khoản là chỉ
áp dụng luật quốc gia để điều chỉnh hay không