1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Microsoft word TR¦N THÊ vân TR¯ÜNG THPT QUò hâp LÊCH sì 2022

68 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Những Điều Kiện Và Giải Pháp Đảm Bảo Chất Lượng Dạy Học Phát Triển Năng Lực Môn Lịch Sử Chương Trình GDPT Năm 2018 Ở Trường THPT Quỳ Hợp 2 (Nghệ An)
Tác giả Trần Thị Vân
Trường học Trường Thpt Quỳ Hợp 2
Chuyên ngành Lịch Sử
Thể loại Sáng Kiến Kinh Nghiệm
Năm xuất bản 2022
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 5,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đây là những tiền đề vô cùng quan trọng để chúng ta : "Tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá kết quả học tập, rèn luyện theo hướng phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, s

Trang 1

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

NHỮNG ĐIỀU KIỆN VÀ GIẢI PHÁP ĐẢM

BẢO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC PHÁT TRIỂN

NĂNG LỰC MÔN LỊCH SỬ CHƯƠNG TRÌNH

Trang 2

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

NHỮNG ĐIỀU KIỆN VÀ GIẢI PHÁP ĐẢM

BẢO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC PHÁT TRIỂN

NĂNG LỰC MÔN LỊCH SỬ CHƯƠNG TRÌNH

GDPT NĂM 2018 Ở TRƯỜNG THPT

QUỲ HỢP 2 (NGHỆ AN)

MÔN: LỊCH SỬ

Trang 3

Ở Việt Nam, dạy học định hướng năng lực là yêu cầu mang tính đột phá của công cuộc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục theo Nghị quyết 29 – NQ/TW (2013) của Đảng và Nghị quyết số 88/ 2014/QH13 của Quốc hội Để tiếp cận đón đầu thực hiện chương trình Giáo dục phổ thông mới thì việc đổi mới phương pháp dạy học hướng đến phát triển năng lực người học là hết sức cần thiết

Đáp ứng những đòi hỏi của xu thế toàn cầu hóa, thời đại 4.0 đang diễn ra mạnh mẽ, GDPT nước ta đang từng bước chuyển từ Chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực (NL) người học Theo định hướng này, giáo dục không chỉ hình thành và phát triển cho học sinh (HS) những năng lực chuyên môn mà còn chú ý tới việc hình thành và phát triển những năng lực chung: NL tự chủ và tự học, NL giao tiếp và hợp tác, NL giải quyết vấn đề và sáng tạo Dạy học theo hướng tiếp cận Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể 2018 hiện nay là bước đi quan trọng, không thể thiếu, đặt nền tảng cho việc dạy và học theo chương trình mới được dự kiến thí điểm khối 10 (năm 2022), khối 11 (năm 2023) và khối

12 (năm 2024) sắp tới Môn Lịch sử là một phần trong tổng thể đó

Chương trình giáo dục phổ thông năm 2018 môn Lịch sử chuyển từ tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực; không lấy sự trang bị kiến thức mà lấy sự phát triển năng lực và phẩm chất của học sinh làm mục đích chủ đạo Về cấu trúc nội dung, toàn bộ nội dung dạy học sẽ được tổ chức thành các chủ đề và các chuyên đề học tập Các chủ đề, chuyên đề này được xác định dựa trên các lĩnh vực của sử học

và các mạch nội dung chính của lịch sử Việt Nam, thế giới Về yêu cầu kiểm tra, đánh giá: Phải đánh giá học sinh ở năng lực, phẩm chất; không đánh giá về mức độ học thuộc, ghi nhớ máy móc, chú ý rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề gắn với những tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp, đồng thời gắn hoạt động trí tuệ với hoạt động thực hành, thực tiễn

Dạy học theo hướng tiếp cận Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể 2018 hiện nay là bước đi quan trọng, không thể thiếu, đặt nền tảng cho việc dạy và học

Trang 4

theo chương trình mới được dự kiến thí điểm khối 10 (năm 2022), khối 11 (năm 2023) và khối 12 (năm 2024) sắp tới Môn Lịch sử là một phần trong tổng thể đó

Từ đó dẫn đến những điều kiện và giải pháp đảm bảo chất lượng dạy học phát triển năng lực môn Lịch sử chương trình giáo dục phổ thông năm 2018 bao gồm: chuẩn bị cơ sở vật chất, trang thiết bị; giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên Lịch sử THPT; xây dựng kế hoạch tổ chức hoạt động giáo dục theo hướng tăng cường phát huy tính tích cực, chủ động, tự giác, độc lập, sáng tạo của học sinh; đổi mới phương pháp, kĩ thuật dạy học theo định hướng phát triển phẩm chất

và năng lực người học Xuất phát từ những lí do trên tôi chọn đề tài: “Những điều kiện và giải pháp đảm bảo chất lượng dạy học phát triển năng lực môn Lịch sử chương trình GDPT năm 2018 ở trường THPT Quỳ Hợp 2 (Nghệ An)”

2 Điểm mới của sáng kiến

- Xác định được những điều kiện và giải pháp cụ thể chuẩn bị về cơ sở vật chất, trang thiết bị ở trường THPT để thực hiện môn Lịch sử chương trình GDPT năm 2018

- Những giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên Lịch sử THPT để đáp ứng được yêu cầu, mục tiêu bộ môn trong Chương trình GDPT năm 2018

- Cách thức xây dựng kế hoạch tổ chức hoạt động giáo dục theo hướng tăng cường phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh

- Xây dựng một số giải pháp cụ thể đổi mới phương pháp, kĩ thuật dạy học theo hướng phát triển phẩm chất và năng lực người học

- Cung cấp hệ thống tài liệu, dự án dạy học, tình huống vấn đề cụ thể, kho học liệu số có chất lượng cho bộ môn Lịch sử trong Chương trình GDPT năm 2018

- Đề tài là tài liệu tham khảo quan trọng để đồng nghiệp tham khảo để đổi mới phương pháp giảng dạy, tích cực tự bồi dưỡng thường xuyên, chuẩn bị những điều kiện về thiết bị, năng lực, kiến thức, kỹ năng vừa nhằm nâng cao chất lượng dạy và học môn Lịch sử vừa tiếp cận chương trình môn Lịch sử chương trình GDPT năm

2018

Vì vậy, việc nghiên cứu và những đề xuất, kiến nghị của đề tài là hiệu quả, thiết thực, phù hợp với yêu cầu và nhiệm vụ của ngành, của đồng nghiệp tâm huyết với bộ môn lịch sử

Trang 5

PHẦN II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU Chương 1: Cơ sở khoa học

1 Cơ sở lí luận

Ngày 26 tháng 12 năm 2018 Bộ giáo dục và Đào tạo đã đưa ra Thông tư 32/2018/TT-BGDĐT ban hành Chương trình giáo dục phổ thông mới Mục tiêu của chương trình giáo dục phổ thông 2018 là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Giáo dục phổ thông nước ta đang thực hiện bước chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, từ chỗ quan tâm tới việc học sinh học được gì đến chỗ quan tâm tới việc học sinh học được cái gì qua việc học Để có được điều đó, trong những năm qua, toàn thể giáo viên cả nước đã thực hiện nhiều công việc trong đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực của người học Đây là những tiền đề vô cùng quan trọng để chúng ta : "Tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá kết quả học tập, rèn luyện theo hướng phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo và năng lực tự học của người học"; "Đổi mới kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông, kỳ thi tuyển sinh đại học, cao đẳng theo hướng đảm bảo thiết thực, hiệu quả, khách quan và công bằng; kết hợp kết quả kiểm tra đánh giá trong quá trình giáo dục với kết quả thi" (chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011-2020 ban hành kèm theo Quyết định 711/QĐ-TTg ngày 13/6/2012 của Thủ tướng Chính phủ)

GDPT quy định yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực đối với học sinh, phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục, phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục, cách thức đánh giá kết quả giáo dục đối với các môn học, chuyên

đề học tập và hoạt động trải nghiệm sáng tạo (gọi chung là môn học) ở mỗi lớp và mỗi cấp học của GDPT (Nghị quyết số 88/2014/QH13 ngày 28 tháng 11 năm 2014 của Quốc hội về đổi mới CT, SGK GDPT)

Giáo dục phổ thông nước ta đang thực hiện bước chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, nghĩa là từ chỗ quan tâm đến việc học sinh học được cái gì đến chỗ quan tâm học sinh vận dụng được cái gì qua việc học Nghị quyết Đại hội XII của Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ rõ:

“Chuyển mạnh quá trình giáo dục chủ yếu từ trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học” Đây chính là quan điểm của Đảng được khẳng định từ Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 về đổi mới căn bản,

Trang 6

điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN Đây là quan điểm định hướng cho phát triển giáo dục và đào tạo ở nước ta trong những năm tới

Trên tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương khóa XI: Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, các trường sư phạm đã khẩn trương đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp giảng dạy, đồng thời tăng cường đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ giảng viên có trình độ năng lực đáp ứng yêu cầu của cuộc cách mạng 4.0 Mục tiêu của các trường sư phạm không chỉ đào tạo đội ngũ giáo viên giỏi về kiến thức mà còn phải có kỹ năng nghề nghiệp vững vàng Thực tiễn ở trường phổ thông đóng vai trò rất quan trọng trong việc đào tạo giáo viên phát triển năng lực nghề nghiệp Quy định chuẩn nghề nghiệp giáo viên cơ sở giáo dục phổ thông (Ban hành kèm theo Thông tư số 20 /2018/TT-BGDDT ngày 22 tháng 8 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo), cho thấy tất cả các tiêu chuẩn theo qui định đều cần và chỉ có thể rèn luyện được cho sinh viên qua hoạt động dự giờ thăm lớp, thực tập sư phạm ở trường phổ thông Mặt khác, nhiều kỹ năng không thể đào tạo ở trường sư phạm, như tìm hiểu đối tượng học sinh, môi trường giáo dục, ứng

xử với học sinh, đồng nghiệp, phụ huynh, nhiều tình huống sư phạm không tiếp cận với môi trường phổ thông sinh viên sẽ không bắt gặp Những kỹ năng này sinh viên chỉ có thể được rèn luyện, bồi đắp qua thời gian, được trải nghiệm qua thực tế

ở trường phổ thông

2 Cơ sở thực tiễn

Dạy học theo hướng tiếp cận năng lực, chính là việc giáo viên phải có phương pháp dạy học theo hướng tích cực, lấy người học làm trung tâm, phải khơi gợi được niềm đam mê của người học và đặc biệt phải tạo điều kiện “học đi đôi với hành” để người học vận dụng kiến thức, kỹ năng, thái độ mà mình lĩnh hội được vào giải quyết các tình huống thực tiễn Và để thực hiện điều này, mỗi cơ sở đào tạo cần nhanh chóng thoát khỏi mô hình giáo dục truyền thống, chuyển từ việc trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực người học Nghĩa là phải thay đổi quan điểm, mục tiêu dạy học: từ chỗ chỉ quan tâm tới việc người học học được gì đến chỗ quan tâm tới việc người học làm được cái gì qua việc học Như vậy, đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tiếp cận năng lực là nhiệm vụ cần kíp của các trường nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, góp phần quan trọng đổi mới toàn diện nền giáo dục nước nhà

Hiện nay, ở các trường THPT có những sự chuẩn bị về điều kiện và giải pháp đảm bảo chất lượng dạy học Chương trình GDPT 2018, đặc biệt trong môn lịch sử Trong đó tôi đã tiến hành điều tra thực trạng của sự chuẩn bị điều kiện thực hiện và dạy học theo hướng phát triển năng lực như sau:

Trang 7

- Mục đích điều tra: Tìm hiểu thực trạng chuẩn bị những điều kiện và giải pháp đảm bảo chất lượng dạy học phát triển năng lực môn Lịch sử Chương trình GDPT năm 2018 ở trường THPT

- Đối tượng điều tra: 50 giáo viên Lịch sử, ban giám hiệu và 200 học sinh các trường THPT trên địa bàn tỉnh Nghệ An

- Nội dung điều tra: Điều tra theo mức độ hình thành các dấu hiệu của năng lực tư duy phản biện trong dạy học môn lịch sử

- Kết quả điều tra:

TT Tiêu chí Hiếm khi thoảng Thỉnh Thường xuyên

1

Số giáo viên được tham

gia tập huấn để triển khai

thực hiện Chương trình

mới ở các trường

2

Cơ sở vật được trang bị

đủ điều kiện để thực hiện

Chương trình Lịch sử

2018

3

Sự quan tâm, chỉ đạo của

Ban giám hiệu đến tổ bộ

môn trong việc định

hướng thực hiện Chương

trình Lịch sử 2018

4

Giáo viên tự học, trang bị

tư liệu, nâng cao năng lực

Trang 8

6

Học sinh được tổ chức

tranh luận, thể hiện quan

điểm cá nhân trong giờ

học lịch sử, được phản

bác ý kiến của người khác

và bảo vệ ý kiến của mình

cơ sở vật được trang bị đủ điều kiện để thực hiện Chương trình Lịch sử 2018 chưa được chú trọng; sự quan tâm, chỉ đạo của Ban giám hiệu đến tổ bộ môn trong việc định hướng thực hiện Chương trình Lịch sử 2018 chưa thường xuyên; phương pháp dạy học còn nặng về truyền tải kiến thức, chưa phát huy tính chủ động, tích cực của học sinh, học sinh chưa có cơ hội để phát huy năng lực…

Trên cơ sở lí luận và thực tiễn dạy học, tôi đã áp dụng một số giải pháp chuẩn

bị những điều kiện để khắc phục những hạn chế trên, đáp ứng được mục tiêu, yêu cầu khi thực hiện Chương trình Lịch sử trong Chương trình GDPT 2018

3 Thực trạng

Chương trình môn Lịch sử ở cấp THPT được xây dựng trên các quan điểm: khoa học, hiện đại; hệ thống, cơ bản; thực hành, thực tiễn; dân tộc, nhân văn; mở, liên thông Chương trình giúp HS tiếp cận lịch sử thế giới, lịch sử khu vực Đông Nam Á và lịch sử dân tộc một cách khoa học trên cơ sở vận dụng những thành tựu hiện đại của khoa học lịch sử và khoa học giáo dục

Trang 9

Chương trình Lịch sử cấp THPT đặc biệt coi trọng nội dung thực hành lịch sử, kết nối lịch sử với thực tiễn cuộc sống Trong chương trình, tăng cường phần thực hành cả về thời lượng lẫn các hình thức thực hành; đa dạng hoá các loại hình thực hành để HS được hoạt động trải nghiệm thông qua các hình thức tổ chức giáo dục như: hoạt động nhóm/cá nhân tự học, học trên lớp, ở bảo tàng, đi thực địa, học qua

dự án, di sản nhằm mục tiêu phát triển năng lực sử học cho học sinh Đồng thời, chương trình Lịch sử cấp THPT mang tính thiết thực và phù hợp điều kiện kinh tế -

xã hội của đất nước và thực tiễn giáo dục ở các vùng miền trong cả nước; hướng

HS tới nhận thức đúng về những giá trị truyền thống của dân tộc, giúp học sinh hình thành, phát triển những phẩm chất tốt đẹp của con người Việt Nam và những giá trị phổ quát của công dân toàn cầu

Vai trò tối ưu của thiết bị và đồ dùng dạy học trong dạy học Lịch sử sẽ phát huy tốt khi chuyển đổi từ dạy học ở phòng học truyền thống sang phòng học bộ môn Tuy nhiên, hiện nay việc dạy học ở các phòng học truyền thống vẫn còn phổ biến ở nước ta Do vậy, nhà trường và giáo viên tùy vào điều kiện cụ thể của từng địa phương, có thể chuẩn bị một số đồ dùng trực quan trong dạy học Lịch sử như:

hệ thống bản đồ, tranh ảnh, sa bàn, sơ đồ, biểu đồ, các loại băng đĩa với sự hỗ trợ của các phương tiện kỹ thuật như máy tính, đèn chiếu, máy chiếu và Internet để đảm bảo thực hiện chương trình

Đối với các lớp từ lớp 10 đến lớp 12 đang triển khai dạy học theo Chương trình GDPT 2006, nhà trường cần phát huy tính chủ động, sáng tạo của tổ chuyên môn và giáo viên trong việc xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục của nhà trường phù hợp với điều kiện thực tiễn Đối với kế hoạch dạy học và giáo dục của tổ chuyên môn, kế hoạch bài dạy (giáo án) của giáo viên đã được xây dựng và thực hiện từ các năm học trước, các trường cần tiếp tục hoàn thiện để đáp ứng tốt yêu cầu thực hiện hiệu quả các phương pháp dạy học tích cực nhằm phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh Bên cạnh chương trình, kế hoạch của ngành và nhà trường, bản thân các giáo viên cũng chủ động nghiên cứu, tự bồi dưỡng để đáp ứng chương trình giáo dục phổ thông mới

Từ thực trạng trên, có thể rút ra một số nhận xét chung về việc đổi mới phương pháp dạy học hiện nay ở bộ môn lịch sử như sau:

Đối với cách dạy của giáo viên:

1 Cách dạy của giáo viên chưa thật sự đổi mới về bản chất mặc dù hiện tượng

“đọc – chép” đã hạn chế rất nhiều, nhưng giáo án của giáo viên chưa thể hiện rõ dạy học theo hướng phân hóa

2 Giáo viên đã nhiều cố gắng theo hướng đổi mới nhưng việc thực hiện chưa hoàn toàn, chưa triệt để (chủ yếu còn mang tính trình diễn ở các buổi thao giảng)

Trang 10

3 Một số giáo viên còn nhiều lúng túng trong việc áp dụng các phương pháp dạy học tích cực sao cho phù hợp với từng bài và từng nhóm trình độ của học sinh

4 Giáo viên chưa thật chú trọng và còn lúng túng trong việc dạy cách học cho HS

Đối với cách học của học sinh:

- Các em chưa thấy được tầm quan trọng của bộ môn, chưa yêu thích môn lịch

sử, nên ý thức học tập của các em chưa tốt

- Các giờ học lịch sử chưa gây được sự hứng thú cho học sinh

- Các em thấy khó nhớ các sự kiện, khó học và chán nản

- Giáo viên áp dụng phương pháp mới chưa phù hợp với các đối tượng học sinh

- Đồ dùng học tập phục vụ bộ môn chưa đầy đủ

- Trình độ học sinh chưa đồng đều

- Học sinh còn xem nhẹ bộ môn nên có thói quen học thuộc lòng, không tự tìm tòi, nâng cao kiến thức

Từ thực tiễn trên chúng ta có thể rút ra được những khó khăn, rào cản trong việc thực hiện chương trình GDPT 2018 ở bộ môn lịch sử là:

1 Điều kiện phục vụ cho đổi mới chưa đồng bộ (thiết bị dạy học bộ môn còn thiếu, chất lượng chưa đáp ứng yêu cầu, phòng học bộ môn chưa có)

2.Mâu thuẫn giữa yêu cầu áp dụng phương pháp tích cực với nội dung chuyên đề dài Giáo viên chưa yên tâm chỉ tập trung vào kiến thức trọng tâm, một phần vì học sinh chưa thực sự tự giác học tập, một phần vì kiến thức khó đối với học sinh, một phần vì quan điểm của các em chỉ xem lịch sử là một “môn phụ” nên không cần đầu tư nhiều

3 Giáo viên chưa hiểu sâu bản chất của đổi mới phương pháp, kỹ năng thực hiện đổi mới phương pháp chưa được như mong muốn

4 Sự chỉ đạo, hướng dẫn, quan tâm của Ban giám hiệu đối với Tổ bộ môn để thực hiện Chương trình mới chưa thật sự có hiệu quả

5 Học sinh chưa có động cơ và phương pháp học, chưa yêu thích môn học nên tính tích cực và chủ động chưa cao

Trang 11

Chương 2: Các biện pháp giải quyết vấn đề

2.1 Chuẩn bị về cơ sở vật chất, trang thiết bị

Trên cơ sở thực trạng cơ sở vật chất trường học của đơn vị, các nhà trường nghiên cứu kĩ Thông tư số 13/2020/TT-BGDĐT ngày 26/5/2020 của Bộ GD&ĐT ban hành Quy định tiêu chuẩn cơ sở vật chất các trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học; Thông tư số 14/2020/TT-BGDĐT ngày 26/5/2020 của Bộ GD&ĐT ban hành về Quy định phòng học bộ môn của cơ sở giáo dục phổ thông.Từ đó tổ bộ môn thấy được những khó khăn, bất cập của thực trạng của cơ sở vật chất hiện nay tại phòng bộ môn, phòng học để tham mưu, đề xuất với Ban giám hiệu nhà trường xây dựng kế hoạch, lộ trình xây dựng, đầu tư, bổ sung đáp ứng yêu cầu theo quy định.Trang thiết bị để thực hiện chương trình GDPT 2018 trong môn Lịch sử như máy chiếu (hoặc ti vi), máy tính chung của tổ lưu trữ kho tư liệu, một số phần mềm mua bản quyền E-leaning, Zoom Đồng thời phát huy vai trò chủ động của tổ bộ môn Lịch sử, Khoa học xã hội rà soát danh mục thiết bị từ đó đề xuất mua bổ sung để đảm bảo thực hiện chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông năm 2018 theo

lộ trình

Danh mục thiết bị được xây dựng theo khối lớp, cụ thể trong từng chuyên đề trong chương trình Ví dụ danh mục thiết bị chuẩn bị cho dạy học chuyên đề 10.3: nhà nước và pháp luật Việt Nam trong lịch sử dự kiến bao gồm: 2 bộ luật Quốc triều hình luật và Hoàng Việt luật lệ; hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992 và 2013; Tư liệu hình ảnh và video về tổng tuyển cử năm 1946, 2021; Sơ đồ về tổ chức bộ máy nhà nước qua các thời kỳ

Ví dụ danh mục thiết bị chuẩn bị cho dạy học chuyên đề 11: Chiến tranh bảo

vệ tổ quốc và chiến tranh giải phóng dân tộc trong lịch sử Việt Nam (trước cách mạng tháng Tám năm 1945): Lược đồ diễn biến về các cuộc kháng chiến, khởi nghĩa chống ngoại xâm từ thế kỉ X-XIX; phim hoạt hình về chiến thắng Bạch Đằng năm 938; những tư liệu lịch sử bằng tranh về các vị tướng lĩnh thời chống Bắc thuộc và thời kỳ đấu tranh chống phong kiến phương Bắc;

Xây dựng kho học liệu số có chất lượng cho bộ môn Lịch sử, nâng cao kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong hoạt động dạy, học cho nhà giáo và học sinh Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, xây dựng kho dữ liệu và học liệu điện tử Lịch sử để dùng chung cho giáo viên toàn tỉnh Khuyến khích giáo viên tham gia xây dựng bài giảng e-learning để đóng góp vào các kho bài giảng của trường, phòng, sở và Bộ GD&ĐT; tích cực tham gia cuộc thi thiết kế bài giảng điện tử năm học 2016-2017, 2021-2022 do Bộ GD&ĐT tổ chức Nguồn học liệu số được các trường THPT rất chú trọng để phát triển: phiên bản điện tử

Trang 12

trên website https://hanhtrangso.nxbgd.vn; video về lịch sử, bài giảng E-leaning trong kho học liệu của Bộ tại địa chỉ http://elearning.moet.edu.vn nhằm đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học, giáo án thiết kế theo hướng dẫn mới Tổ bộ môn và nhóm giáo viên cốt cán Lịch sử: Phát triển kho video bài dạy minh họa, kho học liệu điện tử; xây dựng tài liệu hướng dẫn dạy học trực tuyến để hỗ trợ giáo viên tổ chức dạy học trực tuyến bảo đảm chất lượng; tài liệu bồi dưỡng thường xuyên các modul lịch sử THPT Học sinh cần được hướng dẫn phương pháp tự học, biết cách tìm tòi, khai thác các nguồn sử liệu, đồng thời biết cách phân tích sự kiện, quá trình lịch sử và tự mình rút ra những nhận xét, đánh giá, tạo cơ sở phát triển năng lực tự học lịch sử suốt đời và khả năng ứng dụng vào cuộc sống những hiểu biết về lịch sử, văn hoá, xã hội Việt Nam và thế giới

2.2 Một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên Lịch sử THPT

Công cuộc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đặt ra nhiều vấn đề

về đổi mới đồng bộ các yếu tố của quá trình giáo dục ở cả cấp độ vĩ mô và vi mô, đặc biệt là trong giai đoạn chuẩn bị và thực thi chương trình giáo dục phổ thông

2018 Trong đó, lực lượng giáo viên (GV) cần được bồi dưỡng và tự bồi dưỡng để phát triển năng dạy học và giáo dục để thực hiện có hiệu quả mục tiêu, yêu cầu cần đạt của môn học cũng như mục tiêu chung của chương trình giáo dục phổ thông mới Bối cảnh và yêu cầu đặt ra những thách thức và sự thay đổi nội tại quá trình phát triển năng lực nghề nghiệp của giáo viên

Trong bối cảnh ngành giáo dục đang triển khai chương trình giáo dục phổ thông (GDPT) 2018 thì việc phát triển năng lực (NL) đội ngũ nhà giáo để đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo có ý nghĩa then chốt, quyết định thành công của sự nghiệp đổi mới giáo dục Trong đó đổi mới về kiểm tra đánh giá là khâu đột phá nhằm thúc đẩy đổi mới phương pháp dạy học, hình thức tổ chức hoạt động dạy học, đổi mới quản lý với mục tiêu phát triển NL học sinh (HS) Đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo là nhiệm vụ chiến lược trong việc nâng cao chất lượng đội ngũ, bù đắp những thiếu hụt khi chuyển sang thực hiện chương trình, sách giáo khoa mới Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, vai trò và yêu cầu về năng lực của đội ngũ nhà giáo càng được nâng cao thì công tác đào tạo, bồi dưỡng càng nâng tầm quan trọng

Chuẩn bị về đội ngũ để triển khai thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông 2018: Trong hướng dẫn số 1749/SGD&ĐT-GDTrH ngày 06/9/2021 của Sở giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) Nghệ An ngày 31/8/2021 về vệc hướng dẫn nhiệm vụ giáo dục trung học năm học 2021-2022 trong đó chỉ rõ nhiệm vụ chuẩn bị triển khai thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông 2018 Trên cơ sở các nội dung tập huấn của Bộ GD&ĐT và Sở GD&ĐT, các trường học triển khai nghiên cứu kĩ chương trình GDPT tổng thể và Chương trình môn học; vận dụng và tiếp cận nội dung, phương pháp hình thức tổ chức dạy học của chương trình GDPT 2018 để tổ

Trang 13

chức dạy học, giáo dục trên cơ sở chương trình, sách giáo khoa hiện hành để tạo tiền đề vững chắc cho việc triển khai chương trình GDPT 2018 đối với lớp 10 trong năm học 2022-2023 Sở GD&ĐT sẽ ban hành công văn đề nghị các đơn vị rà soát đội ngũ, lựa chọn giáo viên giảng dạy các môn học/hoạt động giáo dục lớp 10 năm học 2022 - 2023 và lập danh sách về Sở Tại các tổ bộ môn Lịch sử hoặc Khoa học xã hội ở các trường THCS và THPT Dân tộc nội trú và các trường THPT

đã tổ chức rà soát và lựa chọn đội ngũ có kinh nghiệm về giảng dạy, chuyên môn sâu và có ưu thế về năng lực ứng dụng CNTT để tham gia giảng dạy các môn học/hoạt động giáo dục lớp 10 năm học 2022-2023 Từ tổ chuyên môn đến Ban giám hiệu nhà trường đều chú trọng lựa chọn đội ngũ bộ môn Lịch sử cũng như các bộ môn khác để tiếp tục bồi dưỡng, đào tạo để đáp ứng được những mục tiêu của chương trình GDPT 2018

Hàng năm, nhà trường đều rất quan tâm đến công tác bồi dưỡng đội ngũ đặc biệt quan tâm đến việc bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên thông qua các hình thức:

- Cử giáo viên tham gia các lớp tập huấn chuyên môn của Bộ và trở thành giáo viên cốt cán trong Hội đồng chuyên môn của Sở

Để công tác BDGV môn Lịch sử trên địa bàn tỉnh Nghệ An đạt hiệu quả, cần xây dựng kế hoạch bồi dưỡng theo các bước sau:

(1) Rà soát lại ĐNGV hiện đang dạy môn Lịch sử đang trực tiếp giảng dạy tại các trường trung học cơ sở (THCS) và THPT trên địa bàn thành phố;

(2) Phân loại trình độ GV theo trình độ đào tạo, chuyên ngành đào tạo;

Trang 14

(3) Thiết kế bảng khảo sát GV đầu vào trước khi tiến hành mở các lớp bồi dưỡng theo trình độ đã phân loại và nhu cầu GV để tránh lãng phí khi bồi dưỡng những nội dung cần thiết với GV này nhưng không cần thiết đối với GV khác;

(4) Xác định thời gian tổ chức các lớp bồi dưỡng, nội dung bồi dưỡng dựa trên những khảo sát ban đầu về GV giảng dạy môn Lịch sử

Quản lí phương thức bồi dưỡng GV: phương thức bồi dưỡng là cách thức mà các chủ thể quản lí và đối tượng quản lí sử dụng để tổ chức thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ PTNL đã được xác định Đây không chỉ là công việc thường xuyên mà còn là định hướng thúc đẩy việc phát triển đội ngũ GV của các cơ sở giáo dục Tổ chức hiệu quả công tác này, không chỉ nâng cao hiệu quả công tác quản lí mà còn nâng cao năng lực, chuyên môn, nghiệp vụ của GV Theo tinh thần Thông tư số 19/2019/TT-BGDĐT, phương thức triển khai công tác BDGV có thể được thực hiện bằng các hình thức:

(1) Bồi dưỡng bằng tự học của GV kết hợp với các hoạt động sinh hoạt tập thể về chuyên môn, 54 nghiệp vụ tại tổ bộ môn ở một trường, liên trường hoặc cụm trường;

(2) Bồi dưỡng tập trung nhằm hướng dẫn tự học, thực hành, hệ thống hóa kiến thức, giải đáp thắc mắc, hướng dẫn những nội dung khó đối với GV, tạo điều kiện cho GV trao đổi về chuyên môn, nghiệp vụ và luyện tập kĩ năng;

(3) Bồi dưỡng từ xa (qua mạng Internet) Hiện nay, phương thức kết hợp bồi dưỡng trực tiếp và trực tuyến được sử dụng ngày càng nhiều hơn, phổ biến hơn, nhất là trong bối cảnh tác động mạnh mẽ của đại dịch Covid-19 như hiện nay, hình thức này đang được đánh giá là giải pháp tối ưu

Tuy nhiên, để phương thức bồi dưỡng này có hiệu quả hơn nữa, cần thực hiện tốt một số nội dung sau:

(1) Lập trang thông tin điện tử dành riêng cho GV môn Lịch sử và cung cấp cho GV nguồn học liệu phong phú, đa dạng, thiết thực Đây không chỉ là nơi GV môn Lịch sử cập nhật kiến thức, thông tin khoa học giáo dục mới nhất mà còn là diễn đàn để GV bộ môn giao lưu, học hỏi, trao đổi kinh nghiệm với nhau;

(2) Hướng dẫn GV khai thác có hiệu quả nguồn học liệu trên trang thông tin điện tử;

(3) Hỗ trợ GV về đường truyền Internet, máy tính, phòng học trực tuyến; (4) Kết nối với các nhà khoa học, nhà giáo dục và đội ngũ chuyên ở các trường đào tạo nghề dạy học như: Trường Đại học Sư phạm và Viện nghiên cứu sư

Trang 15

phạm của trường Đại học Sư phạm Hà Nội I, Đại học Sư Phạm và Viện nghiên cứu

sư phạm của trường Đại học Sư phạm Hà Nội II, các chuyên gia và điều phối viên của Chương trình Etep, giáo viên cốt cán bộ môn cấp tỉnh để GV môn Lịch sử có thể học hỏi, trao đổi những khó khăn, vướng mắc cần tháo gỡ từ các chuyên gia, các nhà khoa học đầu ngành hoặc được giải đáp những băn khoăn, thắc mắc của

GV về môn học

Linh hoạt và chủ động trong công tác bồi dưỡng thường xuyên giáo viên cơ sở giáo dục phổ thông nhằm phát triển nghề nghiệp Căn cứ vào công văn của Sở GD&ĐT Nghệ An về việc hướng dẫn công tác bồi dưỡng thường xuyên cho CBQL và GV trong từng năm học, Kế hoạch bồi dưỡng thường xuyên của nhà trường, tổ chuyên môn Lịch sử đã hướng dẫn giáo viên xây dựng Kế hoạch bồi dưỡng thường xuyên cá nhân Nội dung bồi dưỡng tập trung vào các modul bồi dưỡng thực hiện Chương trình GDPT mới cho giáo viên cơ sở giáo dục phổ thông giai đoạn 2019-2021 nhằm hỗ trợ giáo viên triển khai thực hiện thành công Chương trình giáo dục phổ thông 2018:

- Mô đun 1 “Hướng dẫn thực hiện Chương trình GDPT 2018”;

- Mô đun 2 “Sử dụng phương pháp dạy học và giáo dục phát triển phẩm chất, năng lực học sinh tiểu học/THCS/THPT”;

- Mô đun 3 “Kiểm tra, đánh giá học sinh tiểu học/THCS/THPT theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực”;

- Mô đun 4 “Xây dựng kế hoạch dạy học và giáo dục theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh tiểu học/THCS/THPT”;

- Mô đun 9 “Ứng dụng công nghệ thông tin, khai thác và sử dụng thiết bị công nghệ trong dạy học và giáo dục học sinh tiểu học/THCS/THPT”

Đặc biệt trong kế hoạch bồi dưỡng thường xuyên của giáo viên lịch sử đã chú trọng đến thực hành các bài tập trắc nghiệm về modul và xây dựng kế hoạch dạy học một số nội dung chuyên đề trong chương trình GDPT 2018 để cụ thể hóa nội dung bồi dưỡng trong các modul

Đáp ứng nhu cầu học tập thường xuyên, liên tục, suốt đời của mỗi giáo viên lịch sử THPT ở Nghệ An, Sở GD&ĐT đã chủ động phối hợp với các trường sư phạm trong việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lí cho nhà trường Đồng thời, các giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục qua tập huấn đã nắm chắc Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể, chương trình môn Lịch sử trong Chương trình GDPT năm 2018; chuẩn bị tốt các điều kiện tốt để thực hiện đổi mới dạy học theo định hướng phát triển năng lực ngay từ chương trình hiện hành, làm

Trang 16

giáo viên bộ môn qua chủ động, tích cực tham gia các đợt tập huấn do Bộ GD&ĐT

tổ chức, do Sở GD&ĐT Nghệ An phối hợp với các trường đại học như trường Đại học Vinh…: về việc tổ chức bồi dưỡng mô đun (trong khuôn khổ Chương trình ETEP) năm 2021 cho đội ngũ giáo viên phổ thông cốt cán (GVPTCC); tập huấn cho giáo viên về phát triển năng lực số và kĩ năng chuyển đổi cho học sinh trung học (bộ môn Lịch sử đã lựa chọn đội ngũ giáo viên cốt cán cấp tỉnh, cấp trường để tham gia, tích cực làm việc theo nhóm để hoàn thành sản phẩm và làm bài kiểm tra trực tuyến trên hệ thống tập huấn LMS); Bồi dưỡng về việc triển khai tập huấn tổ chức dạy học trực tuyến cho giáo viên trung học do Bộ GD&ĐT tổ chức qua phần mềm Microsoft Teams.Các thầy cô giáo và cán bộ quản lý giáo dục cốt cán phụ trách môn Lịch sử đã có nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của môn học cũng như việc đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá để tạo hứng thú học tập cho học sinh và nâng cao chất lượng giáo dục Lịch sử

Trong công tác đào tạo, bồi dưỡng Nghệ An đã phát huy tối ưu đội ngũ giáo viên cốt cán cấp tỉnh để tập huấn những nội dung về kiến thức chuyên sâu và mới của bộ môn; 0hỗ trợ đồng nghiệp phát triển kĩ năng, phương pháp kĩ thuật dạy học sao cho hiệu quả nhất; chuyên đề về ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học lịch sử, đặc biệt phối hợp giáo viên cốt cán bộ môn Ngữ văn, Địa lí trong tổ chức tập huấn những chuyên đề tích hợp như: Văn minh Đông Nam Á (lớp 10), Làng xã Việt Nam trong lịch sử (lớp 11); Chuyên đề 10.2: Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá ở Việt, Chuyên đề 10.3: Nhà nước và pháp luật Việt Nam trong lịch sử, Chuyên đề 11.3: Danh nhân trong lịch sử Việt Nam (chuyên đề nâng cao)

Tự đào tạo là yếu tố đặc biệt quan trọng để phát triển năng lực giáo viên Tự bồi dưỡng là con đường tích lũy kiến thức, gọt sắc tư duy, là sự trăn trở, thử nghiệm để tìm ra những hình thức, biện pháp thích hợp truyền đạt tri thức tới người học GV lịch sử đáp ứng chương trình GDPT 2028 cần tự bồi dưỡng: năng lực ứng dụng CNTT trong tổ chức hoạt động dạy học (thiết kế bài giảng E-leaning, tạo và cắt ghép video, các phần mềm hỗ trợ trong dạy học trực tuyến hiệu quả ) Trong Chương trình GDPT năm 2018 môn Lịch sử có nội dung Thực hành lịch sử gồm: Tiến hành các hoạt động giáo dục lịch sử gắn với thực địa, tham quan di tích lịch sử, văn hoá;Tham quan các bảo tàng, xem phim tài liệu lịch sử, Tổ chức các câu lạc bộ “Em yêu lịch sử”, “Nhà sử học trẻ tuổi”, Tổ chức các cuộc thi tìm hiểu lịch sử, các trò chơi lịch sử Để tổ chức được hiệu quả, hấp dẫn thực hành lịch sử,

GV cần tự học tập, bồi dưỡng những năng lực về công nghệ thông tin đồng thời còn trang bị năng lực của đạo diễn chương trình, biên tập viên, hướng dẫn viên du lịch Trong Chương trình GDPT năm 2018 môn Lịch sử có cấu trúc tích hợp nội dung giáo dục địa phương trong một số chuyên đề, từ đó yêu cầu GV tự bồi dưỡng

về tư liệu giáo dục địa phương khi tổ chức hoạt động dạy học Ví dụ khi xây dựng

kế hoạch bài dạy để tổ chức hoạt động dạy học chuyên đề “Làng xã Việt Nam trong lịch sử” (lớp 11), giáo viên tự chuẩn bị, biên tập, lựa chọn những tư liệu địa

Trang 17

phương về làng xã để dạy học như: Dư địa chí từng huyện, thị xã, thành phố, lịch

sử đảng bộ, di sản văn hóa xứ Nghệ

Giáo viên Lịch sử Nghệ An nói chung và của trường THPT Qùy Hợp 2 nói riêng đã nhận được sự hỗ trợ tốt từ Ban Quản lý Chương trình ETEP, Trường Đại học Vinh, Sở GD&ĐT Nghệ An, Ban giám hiệu của trường THPT Qùy Hợp với sự chuẩn bị chu đáo về hệ thống LMS, hệ thống internet; đặc biệt là được tham gia các khóa tập huấn, các nhóm nghiên cứu chuyên môn, từ đó giáo viên Lịch sử được tạo điều kiện trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm để xây dựng kế hoạch bồi dưỡng đạt hiệu quả Qua đợt tập huấn các thầy cô sẽ là những nhân tố tích cực lan tỏa những đổi mới, xây dựng được cộng đồng học tập chuyên môn tại trường, tại địa phương mình; giúp đồng nghiệp tự tin, sẵn sàng thực hiện những đổi mới trong Chương trình GDPT 2018

Không phải đến khi thực hiện chương trình giáo dục phổ thông mới, giáo viên mới đổi mới mà việc áp dụng các phương pháp dạy học mới nhiều năm qua đã được giáo viên của trường thực hiện và đạt được kết quả tốt Hoạt động sinh hoạt chuyên môn tổ Lịch sử đã được đổi mới theo hướng nghiên cứu bài học để giáo viên cùng nhau chia sẻ kinh nghiệm, giúp giáo viên tránh những bỡ ngỡ, lúng túng ban đầu khi thực hiện chương trình mới, sách giáo khoa mới ở lớp 10 vào năm học 2021-2022

Trong những năm gần đây, thực hiện chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Sở Giáo dục và Đào tạo trong giai đoạn chuyển tiếp để thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông mới, ngành giáo dục đã tích cực tham mưu, chỉ đạo các đơn vị thực hiện nhiệm vụ chuyên môn theo hướng đổi mới Trường THPT Quỳ Hợp 2 đã chú trọng công tác tuyên truyền để cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh, phụ huynh học sinh hiểu được mục đích và ý nghĩa của việc thực hiện chương trình giáo dục phổ thông mới và chuẩn bị tâm lý sẵn sàng cho việc thay sách giáo khoa

2.3 Xây dựng kế hoạch tổ chức hoạt động giáo dục theo hướng tăng cường phát huy tính tích cực, chủ động, tự giác, độc lập, sáng tạo của HS Trong hệ thống năng lực nghề nghiệp của giáo viên, năng lực dạy học thành phần quan trọng nhất và được biểu hiện cụ thể qua 4 năng lực thành phần là: Năng lực thiết kế dạy học; năng lực tiến hành dạy học, năng lực kiểm tra, đánh giá và năng lực quản lý dạy học Cũng theo quan điểm phổ biến hiện nay, năng lực tiến hành/tổ chức dạy học là thành phần quan trọng bậc nhất, vì vậy bản thân giáo viên

và các cấp quản lí tập trung sự quan tâm, ghi nhận phát triển năng lực này Cùng với sự tác động của bối cảnh chung và thay đổi trong tiếp cận xây dựng Chương trình giáo dục phổ thông 2018, giáo viên phải thiết kế được bài dạy/hoạt động giáo dục dựa trên yêu cầu cần đạt trong chương trình, ngay cả khi chưa có sách giáo

Trang 18

khoa Do đó, năng lực thiết kế dạy học của giáo viên càng cần phải chú trọng không kém phần quan trọng như năng lực tổ chức dạy học

Bước 1: Xác định mục tiêu bài học và lựa chọn nội dung dạy học trọng tâm

- Xác định mục tiêu bài học: Việc xác định mục tiêu bài học lịch sử theo định hướng phát triển NL ngoài việc dựa vào các căn cứ chung cần nhấn mạnh một số yêu cầu như xác định rõ các NL cần hình thành cho HS trong bài học đó Bởi mục tiêu về NL sẽ quyết định các hoạt động dạy học; các mục tiêu về NL không độc lập với mục tiêu về kiến thức, kĩ năng, thái độ mà có sự kết hợp nhuần nhuyễn cả ba yếu tố này đặt trong một bối cảnh cụ thể;cần chú ý đến mục tiêu về NL vận dụng

và liên hệ thực tế và hình thành phẩm chất cho HS

- Lựa chọn các nội dung trọng tâm của bài học: việc xác định nội dung trọng tâm của bài học là điều cần thiết đối với các môn học nói chung và môn Lịch sử nói riêng bởi đặc điểm của các kiến thức lịch sử là mang “tính quá khứ”, HS sẽ rất khó tiếp cận và hiểu được nội dung nếu không có định hướng của GV

Bước 2: Lựa chọn phương pháp, kĩ thuật và hình thức dạy học

Lựa chọn PPDH phù hợp với nội dung và mục tiêu bài học, nhằm tích cực hóa học tập của HS; sắp xếp và phối hợp hiệu quả kĩ thuật cũng như hình thức dạy học theo trình tự hợp lí, tạo môi trường học tập với nhiều cơ hội học tập độc lập và hợp tác; lựa chọn công nghệ thông tin phù hợp để hỗ trợ HS học Trong môn Lịch sử,

GV có thể vận dụng tất cả các phương pháp, kĩ thuật và hình thức tổ chức dạy học nói chung, chú ý đến hình thức đóng vai, diễn kịch, PPDH dự án, thực địa Sự hỗ trợ của công nghệ thông tin rất quan trọng với dạy học lịch sử, những đoạn video lịch sử, những ca khúc, tác phẩm nghệ thuật gắn với lịch sử được sử dụng trong những bài học trong thời điểm phù hợp sẽ giúp nâng cao hiệu quả

Bước 3: Lựa chọn môi trường học tập, tư liệu, học liệu

Cũng như các môn học khác, các hoạt động dạy học lịch sử đa phần diễn ra tại lớp học Ngoài ra, GV có thể tổ chức cho HS tham gia học tập thực tế như tại các

di tích, bảo tàng Những học liệu, tư liệu được sử dụng khi dạy học Lịch sử bao gồm những mô hình, lược đồ, sơ đồ, tài liệu chữ viết, tranh ảnh…Mở rộng không gian dạy học, không chỉ trong lớp học mà còn trên thực địa (di tích lịch sử và văn hoá), bảo tàng, khu triển lãm ; tổ chức cho học sinh đi tham quan, dã ngoại, kết hợp các hoạt động dạy học trong lớp học với hoạt động trải nghiệm trên thực tế Việc kết hợp các thành tựu của khoa học giáo dục hiện đại với việc sử dụng một cách tích cực các phương pháp của sử học là chìa khoá thành công của quá trình dạy học lịch sử Tư liệu học tập là tập hợp các nguồn thông tin được xử lí và trình bày theo ý tưởng tổ chức cấu trúc, hình thức trình bày của GV và HS trong quá

Trang 19

trình dạy học Trong trường hợp tư liệu học tập lịch sử được thiết kế bởi GV như các phiếu học tập, tài liệu đọc thêm (hand-outs), phiếu bài tập/định hướng/hướng dẫn thao tác, mô hình mô phỏng… để HS sử dụng như công cụ hỗ trợ quá trình khám phá tri thức, rèn luyện kĩ năng Nếu HS thiết kế, thì tư liệu học tập chính là các dạng sản phẩm học tập thể hiện khả năng xử lí thông tin, trình bày thông tin và các yêu cầu khác do nhiệm vụ học tập đặt ra Trong cả hai trường hợp, tư liệu dạy học đều được tạo ra bởi chính GV, HS trong quá trình dạy và học nhằm chuyển tải nội dung học tập, thể hiện kĩ năng và thái độ của người thiết kế về vấn đề nào đó của môn học Do vậy, khi sử dụng tư liệu học tập để thực hiện hoạt động học tập,

GV và HS cần phải có kĩ năng thiết kế nhất định để tạo ra được sản phẩm đáp ứng mục đích, yêu cầu của hoạt động dạy học/học tập đề ra

Bước 4: Thiết kế hoạt động học

Thiết kế hoạt động dạy học là một công việc cần sự đầu tư kĩ lưỡng của GV Đây là phần trọng tâm, thể hiện toàn bộ kịch bản của giờ dạy Để thiết kế hoạt động dạy và học, GV cần: Phân tích nội dung học tập; Phân tích kiến thức, kĩ năng

và kinh nghiệm hiện có của người học; Xây dựng tình huống học tập Sau đó thiết

kế hoạt động của người học, thiết kế hoạt động tổ chức và hướng dẫn Khi thể hiện trong thiết kế bài học

Bước 5: Hoạt động đánh giá tổng kết, định hướng học tập tiếp theo

Cùng với việc đổi mới phương pháp giáo dục lịch sử theo định hướng phát triển năng lực, việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập được chuyển đổi theo hướng chú trọng khả năng vận dụng sáng tạo tri thức lịch sử trong những tình huống ứng dụng, không lấy việc kiểm tra khả năng tái hiện kiến thức lịch sử, thuộc lòng và ghi nhớ máy móc làm trung tâm của việc đánh giá Chương trình khuyến khích việc sử dụng phối hợp các hình thức, phương pháp kiểm tra, đánh giá khác nhau đối với môn Lịch sử như: kết hợp giữa kiểm tra miệng, kiểm tra viết và bài tập thực hành, dự án nghiên cứu; kết hợp giữa hình thức đánh giá bằng trắc nghiệm khách quan và tự luận nhằm phát huy những ưu điểm của mỗi hình thức đánh giá Chương trình đặt trọng tâm vào việc đánh giá khả năng vận dụng kiến thức lịch sử của học sinh để giải quyết vấn đề gắn các vấn đề gắn với thực tiễn, kết nối lịch sử với hiện tại, tạo cơ hội phát triển năng lực tự chủ, sáng tạo của học sinh Trong mỗi bài học, GV có thể sử dụng nhiều hình thức đánh giá khác nhau bao gồm đánh giá quá trình và đánh giá kết quả học tập thông qua việc tự đánh giá, đánh giá lẫn nhau và GV đánh giá, nhận xét Đánh giá năng lực và phẩm chất không lấy việc kiểm tra khả năng tái hiện kiến thức lịch sử làm trung tâm của việc đánh giá Bên cạnh nội dung lí thuyết, coi trọng việc đánh giá các kỹ năng thực hành (làm việc với các nguồn sử liệu, bản đồ, biểu đồ, sơ đồ, bảng số liệu, tranh

Trang 20

ảnh, quan sát; thu thập, xử lí và hệ thống hoá thông tin, sử dụng các dụng cụ học tập ngoài trời, sử dụng công nghệ và thông tin truyền thông trong học tập )

Ngoài ra, cần đa dạng hoá các hình thức và phương pháp đánh giá như: Bài thi/bài kiểm tra theo hình thức tự luận và trắc nghiệm khách quan; kiểm tra miệng, quan sát, thực hành, bài tập, các dự án/sản phẩm học tập, nghiên cứu Về phương thức đánh giá: Bao gồm cả đánh giá định tính, đánh giá định lượng và sự kết hợp định tính với định lượng, trên cơ sở đó tổng hợp việc đánh giá chung năng lực và

sự tiến bộ của học sinh

Nhóm Lịch sử trường THPT Quỳ Hợp 2 đã tổ chức cấu trúc, sắp xếp lại nội dung dạy học môn Lịch sử theo định hướng phát triển năng lực học sinh (NLHS) Việc cấu trúc, sắp xếp lại NDDH môn Lịch sử trong chương trình hiện hành cần được tổ chức một cách chặt chẽ, bao gồm các bước sau đây:

+) Bước 1: Rà soát nội dung chương trình, SGK hiện hành

Mục đích của việc làm này là để loại bỏ những kiến thức cũ, lạc hậu, không phù hợp; đồng thời bổ sung, cập nhật những kiến thức mới phù hợp với trình độ nhận thức, đặc điểm tâm, sinh lý lứa tuổi HS và đặc điểm địa phương, vùng miền

+) Bước 2: Cấu trúc, sắp xếp lại NDDH môn học trong chương trình hiện hành

Ở bước này, có thể tổ chức NDDH của môn học thành những bài học mới, chuyển một số NDDH thành nội dung các hoạt động giáo dục và bổ sung các nội dung hoạt động khác vào chương trình

+) Bước 3: Thiết kế các chủ đề liên môn

Chủ đề liên môn bao gồm các nội dung dạy học chưa có trong chương trình các môn học hiện hành, bao gồm các NDDH gần giống nhau, có liên quan chặt chẽ với nhau (có thể đang trùng nhau) trong các môn học của chương trình hiện hành,

có thể là chủ đề liên môn thuộc lĩnh vực Khoa học Tự nhiên hoặc lĩnh vực Khoa học Xã hội và Nhân văn

+) Bước 4: Xây dựng KHDH mới

KHDH mới là kế hoạch được xây dựng sau khi đã cấu trúc, sắp xếp lại NDDH các môn học trong chương trình hiện hành Trên cơ sở KHDH này, thực hiện việc phân phối chương trình các môn học, hoạt động giáo dục phù hợp với đối tượng

HS và điều kiện thực tế của các trường THPT

Trang 21

+) Bước 5: Tổ chức thực hiện KHDH mới

Theo Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể 2018 và Chương trình môn học kèm theo, tiếp cận xây dựng chương trình theo quan điểm tích hợp được thể hiện rõ nét theo cấp học và nội dung chủ đề dạy học, đặc biệt là trong chương trình môn Lịch sử và Địa lí Cụ thể, chương trình Lịch sử và Địa lí THPT sẽ thể hiện ba mức độ tích hợp nội dung: Tích hợp nội môn trong từng nội dung giáo dục Lịch sử

và giáo dục Địa lí; Tích hợp liên môn, tích hợp nội dung Lịch sử trong những phần phù hợp của bài Địa lí và tích hợp nội dung Địa lý trong những phần phù hợp của bài Lịch sử, nhằm tạo ra sự đối chiếu, tương tác tốt nhất giữa các kiến thức của hai phân môn và Tích hợp xuyên môn để tạo thành chủ đề chung

2.4 Đổi mới phương pháp, kĩ thuật dạy học Lịch sử ở trường THPT theo định hướng phát triển phẩm chất và năng lực người học

2.4.1 Cải tiến các phương pháp dạy học truyền thống

Đổi mới phương pháp dạy học không có nghĩa là loại bỏ các phương pháp dạy học truyền thống như thuyết trình thông báo-tái hiện, thuyết trình nêu vấn đề, đàm thoại, luyện tập, làm việc với sách giáo khoa và tài liệu tham khảo mà cần bắt đầu bằng việc cải tiến để nâng cao hiệu quả và hạn chế nhược điểm của chúng Bên cạnh các phương pháp dạy học truyền thống cần kết hợp sử dụng các phương pháp dạy học mới, có thể tăng cường tính tích cực nhận thức của học sinh trong thuyết trình, đàm thoại theo quan điểm dạy học giải quyết vấn đề Giáo viên Lịch sử cần tăng cường mở rộng không gian dạy học trên thực địa (di tích lịch sử, di sản văn hoá, bảo tàng, triển lãm…), kết hợp các hoạt động dạy học trong lớp học với hoạt động trải nghiệm trên thực tế Thông qua việc kết hợp các hình thức hoạt động đa dạng như thảo luận nhóm, làm việc nhóm, làm việc cá nhân giáo viên giúp học sinh trở thành “người đóng vai lịch sử” để khám phá lịch sử, vận dụng sáng tạo kiến thức vào các tình huống học tập và thực tiễn cuộc sống

Chương trình GDPT năm 2018 môn Lịch sử chú trọng việc đa dạng hóa các hình thức tổ chức dạy học, lựa chọn và phối hợp có hiệu quả giữa các hình thức tổ chức và phương pháp dạy học lịch sử Với hình thức dạy học lịch sử theo chủ đề, giáo viên hướng dẫn học sinh củng cố hệ thống kiến thức cơ bản, nâng cao nhận thức về lịch sử Việt Nam, khu vực và thế giới thông qua hệ thống chủ đề, giúp học sinh có khả năng tiếp cận và xử lí thông tin từ những nguồn khác nhau, có khả năng xâu chuỗi các sự kiện lịch sử có liên quan, đưa ra nhận xét cá nhân về các sự kiện lịch sử, xây dựng năng lực phản biện và sáng tạo, từ đó có khả năng vận dụng những kinh nghiệm lịch sử vào thực tiễn, dùng tri thức lịch sử để giải thích những vấn đề hiện tại

Trang 22

Ví dụ 1: Lớp 11 “Chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và chiến tranh giải phóng dân tộc trong lịch sử Việt Nam (trước Cách mạng tháng Tám năm 1945)”, HS có thể đóng vai: Hãy đóng vai là một văn thân sĩ phu dưới thời nhà Nguyễn để kể lại những bi kịch của quan quân triều Nguyễn giai đoạn chống thực dân Pháp xâm lược 1858-1884 Ở ví dụ này, yêu cầu đưa ra cho HS là đóng vai văn thân sĩ phu dưới thời nhà Nguyễn giai đoạn chống Pháp do đó đòi hỏi HS phải nắm vững kiến thức, tưởng tượng và sáng tạo mới khắc họa sâu sắc được vai diễn; vận dụng kiến thức đã học để chỉ ra được những bi kịch của quan quân triều đình như: bi kịch giữa lính nhà Nguyễn vũ khí thô sơ đối đầu với quân Pháp hùng mạnh, trang thiết

bị hiện đại; bi kịch của người lính phải cầm súng chống Pháp nhưng phải đàn áp cả khởi nghĩa của nông dân; bi kịch của người lính sẵn sàng xả thân để bảo vệ độc lập với thái độ bạc nhược của triều Nguyễn

Ví dụ 2: Chuyên đề 10.2: “Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá ở Việt Nam” kết hợp phương pháp truyền thống với đóng vai “Em hãy đóng vai là hướng dẫn viên của một công ty du lịch đưa thầy cô giáo và bạn bè đến tham quan những công trình kiến trúc tiêu biểu dưới thời nhà Trần: chùa Phổ Minh ở Nam Định (hoặc thành Tây Đô ở Thanh Hóa, Hoàng Thành Thăng Long ở Hà Nội…)”

Ví dụ 3: Chuyên đề 10.2: “Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá ở Việt Nam” kết hợp dạy học truyền thống với tổ chức dạy học trải nghiệm về di sản văn hoá địa phương “Hành trình về nguồn với di tích lịch sử Kim Liên”, GV hướng dẫn HS đóng vai trải nghiệm các nội dung sau: GV giới thiệu khái quát về ý nghĩa

LS, VH của khu di tích Kim Liên GV nêu các nội dung, phương pháp tiến hành trải nghiệm bằng hình thức dạy học dự án HS cần chuẩn bị nghiên cứu trước về nội dung (cá nhân, nhóm), cần có kĩ năng lắng nghe, ghi chép, quan sát, đặt câu hỏi khi TN Phổ biến quy định khi HS tham gia trải nghiệm tại DT: giữ gìn trật

tự, tích cực quan sát, lắng nghe, cảm nhận, đặt câu hỏi, ghi phiếu học tập

+ Nhóm 1: Tìm hiểu truyền thống LS, văn hóa của Kim Liên, Nam Đàn (đóng vai các Cán bộ văn hóa địa phương);

+ Nhóm 2: Tìm hiểu khu di tích Hoàng Trù - quê ngoại Bác Hồ (đóng vai nhóm những Nhà sử học trẻ tuổi);

+ Nhóm 3: Tìm hiểu khu di tích làng Sen - quê nội của Bác Hồ (đóng vai các Hướng dẫn viên du lịch);

+ Nhóm 4: Giải pháp tuyên truyền, quảng bá, lan tỏa những giá trị lịch sử, văn hóa của khu di tích (đóng vai các nhà Quản lý văn hóa)

Ví dụ chuyên đề lớp 12: Cách mạng tháng Tám năm 1945 và chiến tranh giải phóng dân tộc, khi dạy đến Cuộc Tiến công chiến lược năm 1972, kết hợp dạy học

Trang 23

truyền thống với tạo cảm xúc trong dạy học lịch sử: hình ảnh những người lính Thành cổ Quảng Trị, giáo viên sẽ đọc cho các em nghe một đoạn trong bức thư của liệt sỹ Lê Văn Huỳnh (quê Thái Bình), sinh viên năm 4 - Khoa Xây dựng Đại học Bách Khoa Bức thư được viết vào ngày thứ 77 trong chiến dịch 81 ngày đêm bảo

vệ Quảng Trị.:“Con viết mấy dòng cuối cùng phòng khi đi nghiên cứu bí mật trong lòng đất Xin mẹ đừng buồn để sống đến ngày tin mừng chiến thắng Con đi, mẹ ở lại trăm tuổi bạc đầu, coi như lúc nào con cũng ở bên mẹ Xin mẹ đừng buồn, coi như con đã sống trọn đời cho Tổ quốc mai sau ”

Giáo viên: Em hãy nêu cảm nhận của mình về bức thư của người lính Quảng Trị viết cho mẹ? Bản thân có những xúc cảm gì khi đọc bức thư đó?

Học sinh sẽ nêu cảm nhận và ý kiến của mình

Giáo viên nhận xét: Bức thư như một lời từ biệt, lời trăn trối cuối cùng của người lính gửi về cho người mẹ kính yêu với tất cả tâm tư, tình cảm, là lời dặn dò tiễn biệt, động viên mẹ trước giây phút ra đi Anh tự hào vì đã sống trọn vẹn cho đất nước, quê hương Bài dạy như lắng lại, thổn thức vào trái tim người học, giác ngộ tư tưởng và nuôi dưỡng, phát huy truyền thống yêu nước trong mỗi một học sinh Và rồi nói về mất mát, hi sinh của dân tộc ta, sự hi sinh của những chiến sỹ Thành cổ Quảng Trị, giáo viên sử dụng giọng truyền cảm nhất:

“Đò lên Thạch Hãn ơi chèo nhẹ

Đáy sông còn đó bạn tôi nằm

Có tuổi hai mươi thành sóng nước

Vỗ yên bờ, mãi mãi ngàn năm”

Mỗi lần đọc mấy câu thơ này bản thân tôi không khỏi bồi hồi xúc động, có chút xót xa, bi thương Đó là sự hi sinh của lớp lớp thanh niên Thành cổ, tên tuổi các anh đã hòa cùng sóng nước dòng sông, bước chân xin nhè nhẹ thôi vì đồng đội nằm ngay dưới từng lớp đất Đó là biểu tượng của tinh thần yêu nước, sẵn sàng hi sinh vì độc lập tự do của quê hương, đất nước Với những tài liệu này sẽ tạo ra những cung bậc xúc cảm cho học sinh Các em cũng sẽ đau xót, sẽ cảm phục, bùi ngùi Từ những cung bậc đó, lòng yêu nước được bồi đắp thêm, các em ý thức được vai trò cũng như trách nhiệm của bản thân mình trong sự nghiệp dựng nước

và giữ nước hiện nay Ngoài ra giáo viên có thể hướng dẫn học sinh về nhà tìm hiểu thêm về tác phẩm “Mãi mãi tuổi 20” của Nguyễn Văn Thạc, “Nhật ký Đặng Thùy Trâm” Tất cả là những thước phim bằng chữ được ghi chép lại, thấm đẫm tình yêu, trách nhiệm, mang cả thế giới nội tâm và cả ý chí chiến thắng kẻ thù của bao lớp thanh niên Việt Nam yêu nước, là ngọn lửa cách mạng quật cường, hừng

Trang 24

Dạy học truyền thống kết hợp với sử dụng âm nhạc, tạo cảm xúc, không khí lịch sử Ví dụ: Khi dạy đến chiến dịch Hồ Chí Minh với sự kiện lịch sử 30/4/1975 – miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, Nam Bắc thu về một mối, nhân dân ta vỡ òa trong cảm xúc vui sướng, niềm vui chiến thắng tuôn trào trong mỗi con người, trong giây phú lịch sử trọng đại này giáo viên sử dụng bài hát "Đất nước trọn niềm vui" của nhạc sĩ Hoàng Hà đưa học sinh hòa chung niềm vui thống nhất của cả dân tộc: "Ta đi trong muôn ánh sao vàng rừng cờ tung bay, rộn ràng bao mê say những bước chân dồn về đây/ Sài Gòn ơi vững tin đã bao năm rồi, một niềm vui giải phóng/ Hội toàn thắng náo nức đất nước Ta muốn reo vang, hát ca muôn đời Việt Nam, Tổ quốc anh hùng/ Ôi quê hương dẫu bao lần giặc phá điên cuồng mà vẫn ngoan cường/ giành một ngày toàn thắng Đẹp niềm tin mãi mãi Tổ quốc muôn đời/ Trọn vẹn cả non sông thống nhất, rạng rỡ Việt Nam" Với giai điệu náo nức, tươi vui, hào hùng, sảng khoái, vui nhộn đã đem lại sự xúc động mạnh mẽ, rộn ràng, tạo nên xúc cảm mãnh liệt cho học sinh Các em lớn lên trong hòa bình, không hiểu biết nhiều về chiến tranh, không được chứng kiến sự kiện lịch sử trọng đại của dân tộc - ngày giải phóng đất nước, thế nhưng bài hát đã chạm được tới trái tim các em, đưa các em sống lại niềm vui bất tận, niềm say mê sung sướng của muôn triệu con tim Việt Nam đến trào nước mắt trong ngày toàn thắng

Từ đó bồi dưỡng trong các em niềm tự hào về Tổ quốc anh hùng, về Bác Hồ kính yêu

Việc lồng ghép âm nhạc với những bài ca đi cùng năm tháng ấy có ý nghĩa như lời hiệu triệu, lời kêu gọi giục dã bao tầng lớp lên đường vì Tổ quốc non sông, nhờ đó tiết học trở nên hấp dẫn, mang lại hiệu quả cao, thổi hồn vào trái tim bao lớp trẻ, phát triển phẩm chất yêu nước cho các thê hệ mai sau

Ví dụ 1: Khi dạy chuyên đề lớp 10: “Văn minh thế giới cổ trung đại” phần các cuộc phát kiến địa lí để làm rõ một trong những hậu quả của cuộc phát kiến địa

lí và liên hệ tới Việt Nam giáo viên có thể đưa ra một bức tranh để học sinh tranh luận

Trang 25

Sau khi học sinh chọn theo ý kiến nào thì chia thành 2 nhóm để tranh luận: 1 nhóm theo ý kiến của người dân thuộc địa, 1 nhóm theo ý kiến của bọn tư bản thực dân và bắt đầu tranh luận để bảo vệ các ý kiến của mình Giáo viên theo dõi để đánh giá nhóm nào đưa ra lý lẽ thuyết phục nhất để bảo vệ ý kiến của nhóm mình 2.4.2 Dạy học dựa trên dự án

Dạy học dựa trên dự án là cách thức tổ chức dạy học, trong đó học sinh thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp, có sự kết hợp giữa lí thuyết và thực hành, tạo

ra các sản phẩm có thể giới thiệu, trình bày Một số lưu ý trong dạy học dự án ở môn Lịch sử theo hướng phát triển năng lực cho học sinh: Đưa ra các vấn đề thực tế, tham khảo các ý tưởng tốt, trao quyền xây dựng ý tưởng dự án cho người học, có thời gian

để cải thiện dự án, tập trung hợp tác các nhóm, giáo viên lập các phiếu đánh giá bài tập của học sinh, đánh giá và chia sẻ kết quả

Việc học lịch sử cần phải đạt 4 cấp độ: Biết, hiểu, vận dụng thấp, vận dụng cao Bản chất của vấn đề phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh là vận dụng quan điểm giáo dục hiện đại “biến quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục”, lấy “học sinh làm trung tâm” Trong dạy học lịch sử, việc phát huy tính tích cực, độc lập nhận thức của người học dưới sự điều khiển, hướng dẫn của giáo viên cần chú trọng rèn luyện phương pháp và phát huy một số kĩ năng làm việc với trên lớp và ở nhà để chiếm lĩnh kiến thức, qua đó hình thành, rèn luyện phương pháp học tập

Năng lực cần phát triển trước tiên là tạo cho học sinh thói quen tìm kiếm những vấn đề liên quan đến thực tiễn để phát triển thành dự án Các vấn đề này phải có tác động rất rõ nét đối với cuộc sống thường nhật của các em Từ đó mở rộng tìm kiếm những vấn đề lớn mà thế giới đã và đang và sẽ phải đối mặt Có rất nhiều vấn đề của thế giới có liên quan đến nội dung của môn Lịch sử, ví dụ như vấn đề môi trường và ô nhiễm môi trường, vấn đề về hòa bình và xung đột sắc tộc, tôn giáo, vấn đề hội nhập quốc tế, vấn đề giữ gìn bản sắc văn hóa v.v…

Năng lực quan trọng trong quá trình thực hiện dự án là sự tương tác nhiều chiều của học sinh với giáo viên, với bạn, với các tổ chức xã hội để hoàn thành sản phẩm trong dự án Bên cạnh đó, năng lực công nghệ thông tin linh hoạt, sáng tạo cũng rất cần thiết Ví dụ, sản phẩm dự án mà giáo viên yêu cầu học sinh hoàn thành có thể là một hoặc hơn một sản phẩm sau đây: Bài trình diễn đa phương tiện bằng Power Point, một trang báo được soạn thảo bằng Microsoft Word hoặc một trang web thiết kế trên Microsoft Publisher hay Microsoft Front Page, một chương trình Game Show như trên truyền hình (Ai là triệu phú, Chiếc nón kỳ diệu)

Sản phẩm và sự thể hiện năng lực của học sinh có thể là: Báo cáo (nghiên cứu khoa học, bài báo để đăng tạp chí, các đề nghị về chính sách) Sản phẩm đó cũng

Trang 26

có thể là một sản phẩm nghệ thuật: Làm đồ gốm, điêu khắc, làm thơ, đồ mỹ nghệ, tranh áp phích, hoạt hình, tranh tường (bích hoạ), nghệ thuật cắt dán ảnh, vẽ tranh, múa nghệ thuật, đóng kịch, thơ hoặc kịch ngắn trào phúng… Học sinh cũng có thể hoàn thành sản phẩm thể hiện năng lực mô phỏng: Phiên toà, sự kiện lịch sử, đóng vai hay thể hiện năng lực ngôn ngữ và thuyết trình, phát biểu, tranh luận…

Việc đổi mới phương pháp dạy học dự án theo hướng phát triển năng lực là một trong những biện pháp nâng cao chất lượng dạy học lịch sử, góp phần thực hiện mục tiêu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo

- Đối với giáo viên: Điều quan trọng nhất đối với giáo viên trong việc sử dụng phương pháp dạy học dự án lịch sử là thiết kế phương án tổ chức hoạt động dự án trên lớp, hướng dẫn học sinh chuẩn bị sản phẩm, sử dụng các loại phương tiện dạy học một cách thiết thực, hiệu quả Giáo viên chính là người định hướng giúp học sinh biết vận dụng kiến thức đã học, những phương tiện học tập một cách chủ động, sáng tạo, nhằm tìm tòi kiến thức mới, phát triển kĩ năng bộ môn, hình thành thái độ tích cực, giải quyết được vấn đề mang tính thực tiễn

Các dự án học tập có ý nghĩa sẽ góp phần gắn việc học tập trong nhà trường với thực tiễn đời sống xã hội Trong những trường hợp lí tưởng, việc thực hiện các

dự án có thể mang lại những tác động xã hội tích cực

Trong kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh, giáo viên còn sử dụng sản phẩm dự án, kết quả hợp tác nhóm học sinh như một nguồn thông tin chuẩn mực, kết hợp với cơ chế sư phạm trong từng đơn vị kiến thức của sách giáo khoa

để thiết kế nội dung kiểm tra theo hướng phát triển năng lực học sinh

- Đối với học sinh: Phương pháp dự án là một phương pháp mà học sinh có nhiệm vụ học tập phức hợp Học sinh thực hiện nhiệm vụ học tập với tính tự lực cao Theo qui trình của việc dạy học theo phương pháp này thì vai trò của học sinh như sau: Học sinh tham gia chọn dự án, nội dung hoạt động nhóm phù hợp với khả năng và hứng thú của các nhóm

Phương pháp dự án sẽ rèn luyện tính sẵn sàng và kĩ năng hợp tác của các em học sinh Theo đó, học sinh (nhóm) thu thập, xử lí thông tin từ nhiều nguồn theo vai đảm nhận, tích lũy kiến thức và nhiều giá trị khác từ quá trình làm việc Cho phép học sinh làm việc “một cách độc lập” để hình thành kiến thức và cho ra những kết quả thực tế Nâng cao kĩ năng sử dụng công nghệ thông tin vào quá trình học tập và tạo ra sản phẩm Học sinh tập giải quyết các vấn đề có thật trong đời sống bằng những kĩ năng của “người lớn” như cộng tác và diễn giải Qua đó, mỗi bài học đều thật sự hấp dẫn đối với học sinh, vì vấn đề mà các em đang giải quyết

là vấn đề có thực trong cuộc sống

Trang 27

Khi thực hiện dự án, các thành viên thực hiện công việc theo kế hoạch đã đề

ra cho nhóm và cá nhân Học sinh sẽ thực hiện các hoạt động trí tuệ và hoạt động thực tiễn, thực hành Những hoạt động này xen kẽ và tác động qua lại lẫn nhau; kiến thức lý thuyết và các phương án giải quyết vấn đề sẽ được thử nghiệm qua thực tiễn Thông qua đó có thể phát triển năng lực hợp tác, năng lực giao tiếp, năng lực quản lí thời gian, năng lực phản biện và năng lực ngôn ngữ của học sinh trong nhóm dự án

Trong quá trình thực hiện dự án trên lớp hoặc ở nhà, cả giáo viên và học sinh đều hướng đến sách giáo khoa, dựa vào cơ chế sư phạm của sách giáo khoa, suy nghĩ trên cơ sở dữ liệu và thông tin được thể hiện trong sách giáo khoa, liên hệ với vốn kiến thức đã có, từ đó đưa ra giải đáp có tính phát hiện Học sinh được hướng dẫn đọc hiểu, giải mã văn bản lịch sử thông qua các kênh hình, kênh chữ, hiện vật lịch sử để từ đó tái hiện quá khứ, nhận thức sự thật lịch sử, đưa ra suy luận, đánh giá về bối cảnh, nguồn gốc, sự tiến hóa của sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử cũng như quá trình phát triển của lịch sử

Khả năng vận dụng dạy học theo dự án vào các dạng bài khác nhau trong chương trình GDPT 2018 môn Lịch sử ở trường THPT:

- Dự án về quân sự: Đối với những bài học Quá trình giành độc lập dân tộc của các quốc gia Đông Nam Á (lớp 11); Chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và chiến tranh giải phóng dân tộc trong lịch sử Việt Nam (trước Cách mạng tháng Tám năm 1945) (lớp 11); Cách mạng tháng Tám năm 1945, chiến tranh giải phóng dân tộc

và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc trong lịch sử Việt Nam (từ tháng 8 năm 1945 đến nay) (lớp 12); Chuyên đề 11.2: Chiến tranh và hoà bình trong thế kỉ XX

- Dự án về văn hóa: Một số nền văn minh thế giới thời kì cổ – trung đại; Văn minh Đông Nam Á (lớp 10); Một số nền văn minh trên đất nước Việt Nam (trước năm 1858); Cộng đồng các dân tộc Việt Nam (lớp 10); Chuyên đề 10.2: Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá ở Việt Nam; Chuyên đề 11.1: Lịch sử nghệ thuật truyền thống Việt Nam;Chuyên đề 12.1: Lịch sử tín ngưỡng và tôn giáo ở Việt Nam (lớp 10,11,12)

- Dự án về kinh tế: Chuyên đề 12.3: Quá trình phát triển kinh tế – xã hội của nước Mỹ từ năm 1945 đến nay; Một số cuộc cải cách lớn trong lịch sử Việt Nam (trước năm 1858) (lớp 10); Quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam (lớp 12)

- Dự án về chính trị: Chuyên đề 10.3: Nhà nước và pháp luật Việt Nam trong lịch sử (lớp 10-12); Lịch sử quan hệ đối ngoại Việt Nam (lớp 12);

- Dự án về khoa học – công nghệ: Các cuộc cách mạng công nghiệp trong lịch

sử thế giới (lớp 10)

Trang 28

Tôi xin đưa ra một ví dụ về sử dụng phương pháp dạy học dự án: Sử dụng Dự

án “Việt Nam-Hồ Chí Minh” áp dụng trong bài “Hồ Chí Minh trong lịch sử Việt Nam” ở lớp 12 Khi tiến hành dự án này, sản phẩm của học sinh có thể là:

+ Một tác phẩm nhạc về Chủ tịch Hồ Chí Minh do nhóm học sinh tự biên tự diễn: Bài hát “Dấu chân phía trước” của nhạc sĩ Phạm Minh Tuấn

+ Một tác phẩm kịch: Vở kịch “Hai bàn tay”

+ Một tạp chí (album): Nói về tiểu sử Hồ Chí Minh và giai đoạn Người bôn ba tìm đường cứu nước, vẽ hình ảnh, sơ đồ hóa hành trình đi tìm đường và nội dung + Sản phẩm tác phẩm thơ: Bài thơ “Người đi tìm hình của nước” của nhà thơ Chế La Viên và một số bài thơ về Bác Hồ trong giai đoạn 1911 - 1925

+ Video phỏng vấn: Do học sinh thực hiện ở Bến Nhà Rồng, có phỏng vấn người nước ngoài và phỏng vấn xu hướng tìm đường đi của các bạn trẻ trong tương lai

+ Một tác phẩm truyện tranh: Do học sinh biên tập nội dung và tự vẽ với chủ

đề “Người tìm đường”

+ Bản đồ: Có thể làm bằng Meka có sử dụng đèn chiếu sáng thể hiện được những đất nước mà Bác Hồ đến và thời gian Người đến

Một số lưu ý trong dạy học dự án theo hướng phát triển năng lực cho học sinh:

- Đưa ra các vấn đề thực tế: Giải viên phải nêu ra các vấn đề thực tế đang diễn ra có nhiều khả năng thu hút được sự quan tâm của học sinh Hãy để học sinh được học thực sự bằng cách khuyến khích sử dụng chính các công cụ và kỹ thuật

mà các giáo viên sử dụng để tiến hành điều tra và giải quyết các vấn đề trong thực

tế đời sống

- Tham khảo các ý tưởng tốt: Các giáo viên có thể khai thác ở các thư viện để tìm ý tưởng cho dự án ở trường mình hoặc sử dụng tính năng tìm kiếm dự án trên website của các trường sư phạm, sở Giáo dục và Đào tạo Khi cần thiết có thể điều chỉnh ý tưởng của các dự án để đáp ứng mục tiêu giảng dạy, thích ứng với bối cảnh địa phương và đáp ứng nhu cầu của người học

- Trao quyền xây dựng ý tưởng dự án cho người học: Học sinh được quyền phản hồi về ý tưởng dự án mà giáo viên đưa ra (giáo viên sẵn sàng xem xét những góp ý đó) Giáo viên trao quyền cho học sinh lựa chọn những gì các em muốn thực hiện và chứng minh những kiến thức đã học được Khi học sinh đã quen với phương pháp dự án, có thể để các em tự đề xuất ý tưởng dự án của riêng mình

Trang 29

- Có thời gian để cải thiện dự án: Mặc dù dự án có thời điểm bắt đầu và kết thúc rõ ràng nhưng cũng có thể có những ngoại lệ Giáo viên nên dành thời gian cho học sinh khi mà các em vẫn còn những băn khoăn, xáo trộn về dự án của mình thông qua việc nhận thông tin phản hồi và đồng ý sửa đổi đề tài dự án Hãy chắc chắn rằng học sinh biết cách làm thế nào để đưa ra và nhận được phản hồi quan trọng từ giáo viên, khuyến khích học sinh học hỏi từ những thất bại và quay lại với

dự án của mình theo một con đường khác thích hợp hơn

- Tập trung hợp tác các nhóm: Việc hợp tác đang ngày càng quan trọng cả ở trong và ngoài lớp học Chính vì vậy, cần khuyến khích làm việc nhóm thực sự trong quá trình thực hiện dự án Học sinh cần hiểu làm việc nhóm có trách nhiệm quan trọng như thế nào và tại sao một nhóm tốt là phải khai thác được tài năng của tất cả các thành viên trong nhóm Để dự án có thể triển khai được, giáo viên cần cung cấp tài liệu hỗ trợ (tên sách và số trang cần đọc, tên trang web để học sinh tham khảo…), chia nhóm, phân công công việc cụ thể cho học sinh, công bố thời gian thực hiện và hoàn thành dự án, công bố tiêu chí đánh giá các sản phẩm Việc hướng dẫn các nhóm lập kế hoạch thực hiện dự án là rất quan trọng Giáo viên cần

dự tính để học sinh có đủ thời gian thực hiện dự án và không ảnh hưởng đến lịch trình học tập chung Khi trình bày dự án trên lớp, giáo viên lưu ý học sinh tham gia trong vai trò là người dẫn chương trình và người chơi như trong chương trình Game Show

- Giáo viên lập các phiếu đánh giá bài tập của học sinh: Giáo viên phát các phiếu đánh giá này trước khi học sinh thực hiện dự án Những phiếu đánh giá này

có hai tác dụng:

Thứ nhất, nó mang tính định hướng cho học sinh, học sinh sẽ biết giáo viên sẽ đánh giá sản phẩm của học sinh theo những tiêu chí nào Vì thế học sinh sẽ tập trung vào nội dung sản phẩm chứ không phải hình thức sản phẩm

Thứ hai, việc giáo viên đánh giá bằng phiếu đánh giá sẽ là hình thức đánh giá tích cực, chuyển từ đánh giá một chiều sang đánh giá nhiều chiều (đánh giá từ bản thân học sinh, các học sinh khác, từ nhóm học sinh khác và từ giáo viên)

- Chia sẻ kết quả: Học sinh sẽ thấy hào hứng hơn khi các em biết công việc của mình sẽ hướng tới một đối tượng thực tế Để học sinh thuyết trình bảo vệ kết quả dự án sẽ giúp phát triển sự tự tin và bản lĩnh của các em Việc tổ chức triển lãm dự án cũng giúp các bậc phụ huynh và các thành viên khác trong cộng đồng có

cơ hội nhìn nhận những gì mà học sinh đang thực hiện thông qua hoạt động học tập của mình

Trang 30

2.4.3 Vận dụng dạy học giải quyết vấn đề

“Tình huống có vấn đề” là thời điểm thể hiện mâu thuẫn trong nhận thức của học sinh để nhận ra điều mình chưa biết, mà chưa giải quyết được Tình huống này buộc học sinh phải quyết tâm tìm hiểu, chứ không khoanh tay khuất phục Song không phải điều không biết nào được đặt ra cũng tạo được tình huống có vấn đề,

mà chỉ khi nào những điều học sinh nhận thấy không thể không biết, không thể không tìm hiểu để nhận thức đúng, sâu sắc vấn đề đặt ra, nhằm vào việc học tập Việc giải quyết vấn đề là tiến hành tìm hiểu, làm sáng tỏ những điều chưa biết để biết Khi đã hình thành tình huống có vấn đề thì lúc bấy giờ việc dạy học nêu vấn

đề sẽ mang lại hiệu quả cao trong việc phát triển tư duy, trí tuệ của học sinh Do

đó, việc giải quyết vấn đề nâng lên một cách rõ rệt sức mạnh giáo dục và khả năng phát triển tư duy trong dạy học lịch sử Học sinh tự mình nắm kiến thức, tự mình rút ra kết luận sau khi đã suy nghĩ kỹ Những kết luận này là phản ánh những quan điểm riêng, có căn cứ khoa học, do các em nhận thức được Học sinh chỉ học tập tốt, có kết quả khi các em phát hiện ra vấn đề và tìm cách giải quyết vấn đề

Dạy học giải quyết vấn đề (dạy học nêu vấn đề, dạy học nhận biết và giải quyết vấn đề) là quan điểm dạy học nhằm phát triển năng lực tư duy, khả năng nhận biết và giải quyết vấn đề Học được đặt trong một tình huống có vấn đề, đó là tình huống chứa đựng mâu thuẫn nhận thức, thông qua việc giải quyết vấn đề, giúp học sinh lĩnh hội tri thức, kỹ năng và phương pháp nhận thức Dạy học giải quyết vấn đề là con đường cơ bản để phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh, có thể áp dụng trong nhiều hình thức dạy học với những mức độ tự lực khác nhau của học sinh

* Bản chất: Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề (GQVĐ) là PPDH đặt ra trước HS các vấn đề nhận thức có chứa đựng mâu thuẫn giữa cái đã biết và cái chưa biết, chuyển HS vào tình huống có vấn đề, kích thích họ tự lực, chủ động và

có nhu cầu mong muốn giải quyết vấn đề

* Quy trình thực hiện

- Xác định, nhận dạng vấn đề/tình huống;

- Thu thập thông tin có liên quan đến vấn đề/tình huống đặt ra;

- Liệt kê các cách giải quyết có thể có;

- Phân tích, đánh giá kết quả mỗi cách giải quyết (tích cực, hạn chế, cảm xúc, giá trị);

- So sánh kết quả các cách giải quyết;

Trang 31

- Lựa chọn cách giải quyết tối ưu nhất;

- Thực hiện theo cách giải quyết đã lựa chọn;

- Rút kinh nghiệm cho việc giải quyết những vấn đề, tình huống khác

* Một số lưu ý: Các vấn đề/ tình huống đưa ra để HS xử lí, giải quyết cần thoả mãn các yêu cầu sau:

- Phù hợp với chủ đề bài học

- Phù hợp với trình độ nhận thức của HS

- Vấn đề/ tình huống phải gần gũi với cuộc sống thực của HS

- Vấn đề/ tình huống có thể diễn tả bằng kênh chữ hoặc kênh hình, hoặc kết hợp cả hai kênh chữ và kênh hình hay qua tiểu phẩm đóng vai của HS

- Vấn đề/ tình huống cần có độ dài vừa phải

- Vấn đề/ tình huống phải chứa đựng những mâu thuẫn cần giải quyết, gợi ra cho HS nhiều hướng suy nghĩ, nhiều cách giải quyết vấn đề

Tổ chức cho HS giải quyết, xử lí vấn đề/ tình huống cần chú ý:

- Các nhóm HS có thể giải quyết cùng một vấn đề/ tình huống hoặc các vấn đề/ tình huống khác nhau, tuỳ theo mục đích của hoạt động

- HS cần xác định rõ vấn đề trước khi đi vào giải quyết vấn đề

- Cần sử dụng phương pháp động não để HS liệt kê các cách giải quyết có thể có

- Cách giải quyết tối ưu đối với mỗi HS có thể giống hoặc khác nhau

Một số ví dụ: Lớp 10 chuyên đề “chiến tranh bảo vệ tổ quốc và chiến tranh giải phóng dân tộc trong lịch sử Việt Nam (trước cách mạng tháng tám năm 1945)”, GV trình chiếu một đoạn video ngắn về các cuộc khởi nghĩa và chiến tranh giải phóng trong lịch sử Việt Nam (từ thế kỉ III TCN – đến cuối thế kỉ XIX), từ đó

tổ chức HS giải quyết vấn đề: Chứng minh lịch sử Việt Nam quá trình dựng nước luôn gắn liền với giữ nước

Lớp 10: “Cách mạng tư sản và sự phát triển của chủ nghĩa tư bản”, GV tạo

ra tình huống đế tắc như sau: Nếu như vào đầu năm 1649, vua Sác lơ I bị xử tử,

Trang 32

vào tháng 1/1793 nền cộng hoà thứ nhất được thiết lập, vua Lu-i XVI bị xử chém, nhưng cách mạng tư sản Pháp lại chưa đạt đến đỉnh cao Em hãy giải thích vì sao? Tình huống có vấn đề đó, yêu cầu HS phải phân tích được tiền đề cách mạng, mục tiêu, nhiệm vụ, giai cấp lãnh đạo, động lực, kết qủa, ý nghĩa để lập luận, chứng minh Hoặc giáo viên có thể đặt câu hỏi mở rộng, định hướng kiến thức mới, củng

cố kiến thức cũ: dạng câu hỏi tình huống có vấn đề này nhằm mục đích nâng cao kiến thức cho HS từ những nền tảng kiến thức đã sẵn có, GV cung cấp thông tin, đặt vấn đề để HS suy nghĩ và mở rộng nhận thức của mình, khái quát lại nội dung kiến thức để rút ra quy luật, tính chất, bài học lịch sử.GV đặt câu hỏi tạo tình huống như sau: “Khi bàn về cuộc chiến tranh giành độc lập của các thuộc địa Anh

ở Bắc Mĩ, Lênin đã nhận định rằng đây là cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc thực

sự, cách mạng thực sự Em hãy làm rõ nhận định trên

Lớp 11 “Văn minh Đông Nam Á”, sau khi cho HS tham gia gameshow về quốc kỳ các quốc gia Đông Nam Á, tổ chức HS giải quyết tình huống có vấn đề: Tranh biện lịch sử về 2 quan điểm sau: Văn hóa Đông Nam Á là sự thống nhất trong đa dạng; văn hóa Đông Nam Á là quá trình tiếp biến văn hóa Trung Quốc,

Ấn Độ

Lớp 12: Cách mạng tháng Tám năm 1945, chiến tranh giải phóng dân tộc và chiến tranh bảo vệ tổ quốc trong lịch sử Việt Nam (từ tháng 8 năm 1945 đến nay): Giáo viên đưa ra 2 ý kiến khác nhau về một vấn đề nào đó để học sinh lựa chọn thông qua kiến thức hiểu biết của mình trên cơ sở những gợi mở của giáo viên Ví dụ, khi học về Tổng khởi nghĩa tháng Tám, giáo viên đưa ra vấn đề: Bàn

về thắng lợi của cách mạng tháng Tám 1945 ở Việt Nam, một số sử gia tư sản cho rằng: đó là một sự “ăn may” vì nó diễn ra trong điều kiện “trống vắng quyền lực”, còn các nhà sử học của chúng ta thì khẳng định: thành công của cách mạng tháng Tám không phải là sự “ăn may” Vậy, các em đồng ý với ý kiến nào? Tại sao? Để giải quyết vấn đề này, giáo viên gợi ý học sinh dựa trên những kiến thức

cụ thể qua những lần diễn tập (1930-1931, 1932-1935, 1936-1939) và trực tiếp Tổng diễn tập trong thời kỳ 1939-1945, để thấy được vai trò của Đảng trong quá trình chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng, chuẩn bị lực lượng, cùng với thiên tài Hồ Chí Minh đã nhìn thấy thời cơ đến, nhanh chóng phát động quần chúng Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong toàn quốc Đồng thời giáo viên đưa ra các câu hỏi mang tính gợi mở như: Đảng đã đề ra chủ trương đưa nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu khi nào? Quá trình chuẩn bị ra sao? Thế nào là thời cơ cách mạng? Trong cách mạng tháng Tám có những thời cơ nào? Tại sao cùng thời điểm đó ở Việt Nam có các lực lượng chính trị khác nhau nhưng chỉ có lực lượng của Việt Minh giành được chính quyền?

Giáo viên tạo ra các tình huống bế tắc, nghịch lí khi dạy về Cách mạng tháng Tám năm 1945 (lớp 12) như sau: Trong các hội nghị của Ban Chấp hành Trung

Trang 33

ương Đảng từ năm 1939-1941, Đảng ta chủ trương giải phóng dân tộc lên hàng đầu Theo em, chủ trương đó có mâu thuẫn với chủ trương chống đế quốc và phong kiến được đề ra trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng năm 1930 không? Vì sao? Hoặc khi tìm hiểu đến sự ra đời nước Việt Nam dân chủ cộng hoà 2/9/1945, GV đưa ra tình huống: “Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, ta giành chính quyền từ tay phát xít Nhật nhưng trong Tuyên ngôn độc lập, Chủ tịch

Hồ Chí Minh lại nhấn mạnh đến tội ác của thực dân Pháp? Em hãy lý giải vì sao? Hay khi nghiên cứu về phong trào Đồng khởi (1959-1960), có ý kiến cho rằng Nghị quyết Trung ương lần thứ 15 của Ban chấp hành Trung ương Đảng ra đời quá muộn nên để lại những tổn thất to lớn cho cách mạng Còn các nhà sử học mác-xít thì khẳng định Nghị quyết Trung ương lần thứ 15 của Ban chấp hành Trung ương Đảng ra đời kịp thời, đáp ứng yêu cầu cơ bản của cách mạng miền Nam Vậy quan điểm của các em như thế nào? Tại sao? Để giải quyết tình huống này, giáo viên cũng đưa ra các câu hỏi gợi mở như: Hiệp định Giơnevơ có những quy định nào liên quan đến Việt Nam? Tại sao chúng ta lại kiên trì đấu tranh bằng con đường hòa bình? Vì sao Nghị quyết Hội nghị tại thời điểm này lại nhấn mạnh: Ngoài con đường dùng bạo lực cách mạng, nhân dân miền Nam không có con đường nào khác? Đồng thời giáo viên cũng đưa ra một số gợi ý cho học sinh về quan hệ quốc tế hình thành trong giai đoạn này, mục tiêu của cách mạng miền Nam, quan điểm và thái độ của ta và Mỹ-Diệm trong quá trình thực thi Hiệp định Giơnevơ, kết quả của các phong trào đấu tranh bằng phương pháp hòa bình ở miền Nam Từ những câu hỏi gợi mở và những gợi ý cụ thể của giáo viên chắc chắn học sinh sẽ từng bước giải quyết vấn đề và sẽ đưa ra quan điểm đúng đắn

Tạo mâu thuẫn xung đột về mặt nhận thức để học sinh tự tìm ra con đường giải quyết sau khi học xong về các phong trào cách mạng ở Việt Nam giai đoạn 1930-1945, trong phần ôn tập giáo viên có thể đưa ra tình huống có vấn đề là: Vì sao phong trào cách mạng 1930-1931 là phong trào cách mạng vừa có tính chất rộng lớn, vừa có tính chất quyết liệt và triệt để? Với câu hỏi này buộc học sinh phải tái hiện lại những nét cơ bản nhất của các phong trào cách mạng đã học để nắm được những nét đặc trưng của mỗi phong trào, đồng thời phải giải quyết về

“vấn đề”: rộng lớn, quyết liệt và triệt để của phong trào cách mạng 1930-1931 Đương nhiên là giáo viên cũng phải đưa ra các gợi ý để học sinh từng bước giải quyết về tính rộng lớn thể hiện như thế nào về phạm vi nổ ra, lực lượng tham gia, quy mô như thế nào? Tính quyết liệt thể hiện ở hình thức đấu tranh gì, sự kiện nào tiêu biểu, thực dân Pháp đàn áp như thế nào? Tính triệt để thể hiện ở kết quả ra sao? Sau khi giải quyết được các vấn đề này, giáo viên khắc sâu cho học sinh về

vị trí của phong trào này so với các phong trào trước đây và sau này kể từ khi Đảng

ra đời

Dạy học giải quyết vấn đề trong dạy học lịch sử không những góp phần rèn

Trang 34

pháp hữu hiệu có thể áp dụng trong kiểm tra, đánh giá theo tinh thần đổi mới căn bản, toàn diện GDĐT ở nước ta hiện nay Tuy nhiên để có những tình huống hay, hấp dẫn, kích thích tư duy của HS đòi hỏi GV phải đầu tư, biên tập kỹ lưỡng các tình huống, giúp hS dễ hiểu được ý đồ của GV và vận dụng kiến thức, kĩ năng để giải quyết các tình huống đặt ra

2.4.4 Tăng cường sử dụng phương tiện dạy học và công nghệ thông tin hợp

lý hỗ trợ dạy học

Trong ngành Giáo dục và đào tạo, CNTT mang đến giá trị cho quá trình giảng dạy và học tập Trong quá trình dạy học, với sự hỗ trợ của công nghệ, GV sẽ trở thành những người mở đầu trong công cuộc cải cách giáo dục trên toàn thế giới Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc khóa XIII của Đảng đã đưa ra những quan điểm, định hướng lớn về phát triển giáo dục và đào tạo, nhấn mạnh:“Đào tạo con người theo hướng có đạo đức, kỷ luật, kỷ cương, ý thức trách nhiệm công dân, xã hội; có kỹ năng sống, kỹ năng làm việc, ngoại ngữ, công nghệ thông tin, công nghệ

số, tư duy sáng tạo và hội nhập quốc tế” (Đảng cộng sản Việt Nam, 2021)

Phương tiện dạy học có vai trò quan trọng trong việc đổi mới phương pháp dạy học, nhằm tăng cường tính trực quan và thí nghiệm, thực hành trong dạy học Hiện nay, việc trang bị các phương tiện dạy học mới cho các trường phổ thông từng bước được tăng cường Đa phương tiện và công nghệ thông tin vừa là nội dung dạy học vừa là phương tiện dạy học trong dạy học hiện đại Bên cạnh việc sử dụng đa phương tiện như một phương tiện trình diễn, cần tăng cường sử dụng các phần mềm dạy học cũng như các phương pháp dạy học sử dụng mạng điện tử (E-Learning), mạng trường học kết nối Kahoot và Google Form, Shub classroom, Class point là các ứng dụng có hiệu quả cao trong việc thiết kế các hoạt động dạy học và kiểm tra, đánh giá, tạo hứng thú cho học sinh, nâng cao chất lượng dạy học môn Lịch sử Đây cũng là một hướng mới trong việc đổi mới các hình thức kiểm tra, đánh giá học sinh mà các giáo viên có thể áp dụng, tiến tới sử dụng rộng rãi trong toàn trường

Hiện nay, có rất nhiều ứng dụng mà GV có thể sử dụng để quản lí, giám sát lớp học trực tuyến của mình, vừa hỗ trợ HS ôn tập bài tập tự luận, trắc nghiệm hiệu quả Dưới đây là một số ứng dụng có nhiều tính năng vượt trội nhất trong việc quản lí lớp học và tạo đề kiểm tra, ôn tập, đặc biệt là các bài tập trắc nghiệm cho các môn học nói chung và môn Lịch sử nói riêng

VNPT E-Learning

VNPT Learning được em là lớp học số thời 4.0 Sử dụng VNPT Learning, GV có thể số hóa tài liệu, học liệu bản mềm thay bài giảng truyền thống, thiết lập giáo án điện tử Không những thế, ứng dụng dạy học từ xa này cũng là

Ngày đăng: 03/07/2022, 00:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[2].Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2013), Nghị quyết 29- NQ/TW của Hội nghị BCHTW Đảng lần thứ VIII, khoá XI “Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá và hiện đại hoá…” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết 29- NQ/TW của Hội nghị BCHTW Đảng lần thứ VIII, khoá XI “Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá và hiện đại hoá…”
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Năm: 2013
[5].Bộ Giáo dục và Đào tạo (2015), Một số tài liệu dùng cho Ban xây dựng Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể, Hà Nội tháng 1- 2015, trang 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số tài liệu dùng cho Ban xây dựng Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Hà Nội tháng 1- 2015
Năm: 2015
[6]. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2018), Chương trình giáo dục phổ thông - chương trình môn học Khoa học tự nhiên. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình giáo dục phổ thông - chương trình môn học Khoa học tự nhiên
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2018
[7]. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2020), Công văn 5512/BGDĐT-GDTrH ngày 18/12/2020 về việc xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục của nhà trường (phụ lục 1,2,3,4). Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công văn 5512/BGDĐT-GDTrH ngày 18/12/2020 về việc xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục của nhà trường (phụ lục 1,2,3,4)
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2020
[8]. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Công văn số 2384/BGDĐT-GDTrH về việc hướng dẫn xây dựng kế hoạch giáo dục nhà trường theo định hướng phát triển phẩm chất và năng lực học sinh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công văn số 2384/BGDĐT-GDTrH về việc hướng dẫn xây dựng kế hoạch giáo dục nhà trường theo định hướng phát triển phẩm chất và năng lực học sinh
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Hà Nội
[9]. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2014), Công văn 5555/BGDĐT-GDTrH ngày 08 /10/2014. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công văn 5555/BGDĐT-GDTrH ngày 08 /10/2014
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2014
[11]. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2020), Tài liệu hướng dẫn bồi dưỡng giáo viên phổ thông cốt cán - Mô đun sử dụng phương pháp dạy học và giáo dục phát triển phẩm chất, năng lực HS THCS - môn Khoa học tự nhiên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu hướng dẫn bồi dưỡng giáo viên phổ thông cốt cán - Mô đun sử dụng phương pháp dạy học và giáo dục phát triển phẩm chất, năng lực HS THCS - môn Khoa học tự nhiên
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2020
[13]. TS. Nguyễn Hữu Độ (2019), Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục ở Việt Nam, Tạp chí Tổ chức nhà nước, http://tcnn.vn/news/detail/42508/Nang-cao-chat-luong-doi-ngu-giao-vien-dap-ung-yeu-cau-doi-moi-giao-duc-o-Viet-Nam.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục ở Việt Nam
Tác giả: TS. Nguyễn Hữu Độ
Nhà XB: Tạp chí Tổ chức nhà nước
Năm: 2019
[16]. Nguyễn Văn Ninh, Hệ thống tư liệu Lịch sử gốc, NXB Đại học quốc gia Hà Nội, 2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống tư liệu Lịch sử gốc
Tác giả: Nguyễn Văn Ninh
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2018
[1]. Báo Nhân dân điện tử (2018), Xây dựng đội ngũ nhà giáo đáp ứng yêu cầu đổi mới, https://www.nhandan.com.vn/nation_news/item/37935202-xay-dung-doi-ngu-nha-giao-dap-ung-yeu-cau-doi-moi.html Link
[3].Bộ GD-ĐT (2018). Chương trình giáo dục phổ thông - Chương trình tổng thể (Ban hành kèm theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26/12/2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) Khác
[4].Bộ GD-ĐT (2014). Tài liệu tập huấn kiểm tra, đánh giá trong quá trình dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh Khác
[10]. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2021), Công văn 2613/BGDĐT-GDTrH ngày 23/06 /2021 về việc triển khai thực hiện chương trình giáo dục trung học năm học 2021- 2022. Hà Nội Khác
[12]. Bộ Giáo dục và Đào tạo 2014, Tài liệu tập huấn cán bộ quản lí và giáo viên trung học phổ thông - Xây dựng các chuyên đề dạy học và kiểm tra, đánh giá Khác
[14]. Trần Thị Thanh Thủy (CB), Nguyễn Công Khanh, Nguyễn Văn Ninh, Nguyễn Mạnh Hưởng Khác
[15]. Bùi Xuân Anh, Lưu Thị Thu Hà (2016), Dạy học tích hợp phát triển năng lực học sinh, Q. 2, NXB Đại học SP, HN Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG CHUẨN KIẾN THỨC   (THIẾT KẾ TRÊN PHẦN MỀM CANVA) - Microsoft word   TR¦N THÊ vân TR¯ÜNG THPT QUò hâp  LÊCH sì 2022
BẢNG CHUẨN KIẾN THỨC (THIẾT KẾ TRÊN PHẦN MỀM CANVA) (Trang 49)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w