1. Trang chủ
  2. » Tất cả

(Microsoft word b?n CH?T v\300 VAI TR\322 c?a c\301c t? CH?C)

45 3 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 45
Dung lượng 613,36 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

(Microsoft Word B?N CH?T V\300 VAI TR\322 C?A C\301C T? CH?C docx) Bản chất và vai trò của các tổ chức độc quyền xuyên quốc gia 1 ����� ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP Đề tài “ BẢN CHẤT VÀ VAI TRÒ CỦA CÁC TỔ CHỨC ĐỘ[.]

Trang 1

- -

ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP

Đề tài: “ BẢN CHẤT VÀ VAI TRÒ CỦA CÁC

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

Lời mở đầu 2

I Bản chất và quá trình phát triển các tổ chức độc quyền 4

1 Tổ chức độc quyền xuyên quốc gia? 4

2 Quá trình hình thành và phát triển của các tổ chức độc quyền xuyên quốc gia 4

1 Bản chất và đặc trưng của các tổ chức độc quyền xuyên quốc gia7 II Vai trò của các tổ chức độc quyền xuyên quốc gia 11

1 Thúc đẩy thương mại quốc tế 11

2 Thúc đẩy đầu tư nước ngoài 13

3 Phát triển nguồn nhân lực 15

4 Phát triển nghiên cứu, chuyển giao công nghệ 16

III Hoạt động của các tổ chức độc quyền xuyên quốc gia ở Việt Nam21 1 Đặc điểm hoạt động 21

2 Tác động của các tổ chức độc quyền xuyên quốc gia tới nền kinh tế Việt Nam 23

3 Những vấn đề đặt ra hiện nay đối với hoạt động và thu hút các tổ chức độc quyền xuyên quốc gia ở Việt Nam 27

Kết luận 32

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

“Chủ nghĩa tư bản độc quyền- giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản”

Sự phát triển nhanh chóng và sự trì trệ thối nát là hai xu thế cùng song song

và tồn tại trong nền kinh tế của chủ nghĩa tư bản độc quyền

Xu thế phát triển nhanh chóng của được thể hiện ở chỗ: tốc độ phát tăng trưởng thần kì của các nước tư bản sau chiến tranh thế giới thứ hai, hiệu quả lao động sản xuất được nâng cao một cách rõ rệt, sự phát triển không ngừng của lực lượng sản xuất, cuộc cách mạng như vũ bão của khoa học công nghệ Làm cho thế giới trở thành ngôi nhà chung, các nước xích lại gần nhau hơn nhằm tận dụng lợi thế của mình

Và các tổ chức độc quyền xuyên quốc gia ra đời, nó là sản phẩm của quá trình quốc tế hoá và là hình thức vận động mới của quan hệ sản xuất trong điều kiện lực lượng sản xuất quốc tế hoá sâu rộng, các tổ chức độc quyền xuyên quốc gia ngày càng gia tăng cả về chất lượng và số lượng Ngày nay, hoạt động của các tổ chức độc quyền xuyên quốc gia đã thấm sâu vào các lĩnh vực kinh tế và có ảnh hưởng sâu sắc về các mặt chính trị, kinh tế,

xã hội và văn hoa

Các tổ chức độc quyền xuyên quốc gia có vai trò thúc đẩy nhanh quá trình quốc tế hoá sản xuất và sự tăng trưởng nền kinh tế Sự phát triển của các tổ chức độc quyền xuyên quốc gia đã ngày càng đáp ứng được đòi hỏi quốc tế

về sản xuất và tư bản, qua đó thúc đẩy toàn bộ quá trình quốc tế hóa đời sống kinh tế thế giới Các tổ chức độc quyền xuyên quốc gia làm cho quá trình phân công lao động ngày càng sâu sắc hơn trong từng ngành và giữa các quốc gia với nhau

Các tổ chức độc quyền xuyên quốc gia có vai trò quan trọng trong việc phổ biến khoa học –kĩ thuật tiên tiến, nâng cao năng suất lao động

Thông qua các chi nhánh được lập ra ở các nước và khu vực, các tổ chức độc quyền xuyên quốc gia có lợi thế trong việc sử dụng có hiệu quả nguồn

Trang 5

tài nguyên trên thế giới Ngoài ra, do cạnh tranh ngày càng gay gắt, buộc các tổ chức này phải coi trọng công tác nghiên cứu phát triển, không ngừng đổi mới mẫu mã sản phẩm, tăng tính năng và chất lượng sản phẩm

Các tổ chức độc quyền xuyên quốc gia là chủ thể chính của hoạt động đầu

tư trực tiếp nước ngoài, tranh thủ khai thác các nguồn lực nhàn rỗi và nguồn lực chưa được khai thác góp phần gia tăng năng lực sản xuất hiện

có Ngoài ra, các tổ chức độc quyền xuyên quốc gia còn thúc đẩy sự phát triển của thương mại quốc tế và làm cho các hoạt động thông tin, tài chính,

và ngân hàng ngày càng sôi động hơn

Tuy nhiên, hoạt động kinh doanh toàn cầu của các tổ chức độc quyền xuyên quốc gia cũng làm tăng nhân tố không ổn định của nền kinh tế thế giới

Hoà cùng vào xu thế kinh tế chung của thế giới, nền kinh tế Việt Nam cũng trở thành một nền kinh tế mở, mở cửa để nhìn ra thế giới, sẵn sàng làm bạn với tất cả các nước trên thế giới, mở cửa để phát triển kinh tế đất nước, để tiếp nhận các nguồn lực Vì vậy các nhà kinh tế tương lai của đất nước phải có những kiến thức cơ bản, nền tảng tránh những lúng túng, bỡ ngỡ khi hoà vào nền kinh tế thế giới Chúng em- những sinh viên kinh tế khi trước mắt chúng em mọi thứ còn đang rất mờ mờ tỏ tỏ, chưa rõ; mang trong mình bản chất hiếu động thích khám phá, tìm hiểu cái mới Đồng thời với sự tò mò của riêng em và những kiến thức đã được tích luỹ trong trường đại học em đã quyết định chọn đề tài:

Bản chất và vai trò của các tổ chức độc quyền xuyên

quốc gia

Bài viết của em còn nhiều thiếu sót do sự tích luỹ tri thức chưa được nhiều đồng thời em còn chưa có những kinh nghiệm sâu sắc trong những bài viết

Trang 6

công phu Rất mong nhận được sự góp ý của thầy Em xin trân trọng cảm

ơn

Sinh viên Trần Thuý Diệp-BH45A

Trang 7

I.BẢN CHẤT VÀ QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA CÁC TỔ CHỨC

ĐỘC QUYỀN XUYÊN QUỐC GIA:

1.Tổ chức độc quyền xuyên quốc gia:

Độc quyền là sự tập trung vào trong tay một số ít các xí nghiệp, các công ti lớn những ưu thế và những quyền lực về kinh tế trên cơ sở đó họ có những ưu thế về chính trị

Tổ chức độc quyền là những liên minh giữa các nhà tư bản nắm phần lớn việc sản xuất và tiêu thụ một số loại hàng hoá nhất định trên cơ sở đó loại trừ được cạnh tranh quy định giá cả độc quyền cao

Tổ chức độc quyền xuyên quốc gia là các tổ chức, các công ti tư bản độc quyền có tư bản thuộc về chủ tư bản của một nước nhất định nào đó Chủ

tư bản ở một nước cụ thể nào đó có công ti mẹ đóng tại nước đó và thực hiện kinh doanh trong và ngoài nước bằng cách lập các công ti con

Các công ti xuyên quốc gia là sản phẩm của quá trình quốc tế hóa và là hình thức vận động mới của quan hệ sản xuất (QHSX) trong điều kiện quốc

tế thế giới đồng thời đẩy nhanh quá trình toàn cầu hóa nối kết nền kinh tế các nước với nền kinh tế thế giới tạo ra những cơ hội để các nước phát triển nền kinh tế của mình

Trang 8

Mặt khác nó cũng mang nhiều hạn chế ,sự phát triển của các công ty xuyên quốc gia lại làm gay gắt thêm mâu thuẫn giữa các nước tư bản phát triển, giữa các nước tư bản phát triển và các nước đang phát triển

2.Quá trình hình thành và phát triển của các tổ chức độc quyền xuyên quốc gia :

Cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX là thời kì bùng nổ của những phát minh

khoa học vĩ đại , lực lượng sản xuất phát triển đã đẩy nhanh quá trình tích

tụ và tập trung sản xuất của chủ nghĩa tư bản, hình thành nên những xí nghiệp có quy mô lớn

Tốc độ gia tăng nhanh chóng của các phát minh khoa học và sự ứng dụng ngày càng rộng rãi những thành tựu của khoa học kĩ thuật vào sản xuất đã tạo ra một sức sản xuất mới, xuất hiện những ngành mới : luyện kim, hóa chất, điện máy móc ra đời đã làm thay thế bớt sức người và nâng cao năng suất lao động : động cơ điezen, máy phát điện, máy tiện, máy phay, ngoài ra các phương tiện vận tải mới : ôtô, tàu thủy, máy bay, đường sắt

nó dẫn đến năng suất lao động tăng, khả năng tích lũy tư bản lớn ngày càng nhiều thúc đẩy sản xuất lớn

Các cuộc khủng hoảng kinh tế làm phá sản của hàng loạt các công ti, xí nghiệp, sự thâm nhập và thôn tính lẫn nhau dẫn tới sự đổi mới hàng loạt tư bản cố định ngày càng hiện đại hơn đẩy nhanh quá trình tích tụ và tập trung sản xuất

Do tác động của những quy luật kinh tế vốn có của chủ nghĩa tư bản: quy luật giá trị thặng dư, quy luật tích lũy tư bản, quy luật cạnh tranh sản xuất càng đẩy nhanh quá trình tích tụ và tập trung sản xuất

Cuộc cạnh tranh giữa các nhà tư bản ngày càng quyết liệt hơn bao giờ hết buộc họ phải tăng quy mô để thắng thế trong cạnh tranh Mặt khác sự phát triển của hệ thống tín dụng tạo điều kiện cho việc mở rộng sản xuất bằng các hình thức lập các công ti cổ phần

Trang 9

Khi tích tụ và tập trung sản xuất diễn ra với tốc độ cao và trên quy mô rộng lớn như vậy đã dẫn thẳng tới độc quyền đây là một quy luật phổ biến và căn bản trong sự phát triển của chủ nghĩa tư bản vào thời kì này Sở dĩ như vậy là do:

Một số các xí nghiệp lớn bao giờ cũng dễ tìm thấy sự thỏa thuận với nhau hơn các xí nghiệp nhỏ

Quy mô to lớn hơn của các xí nghiệp sẽ thúc đẩy quá trình cạnh tranh mặt khác cũng đặt xí nghiệp muốn né tránh cạnh tranh, muốn né tránh đối đầu tìm kiếm các giải pháp trong sự thỏa hiệp

Chính vì vậy các xí nghiệp đi đến thỏa hiệp với nhau, kí kết với nhau những hiệp ước mang tính chất độc quyền

Khi mới bắt đầu quá trình độc quyền hóa hình thức liên kết chủ yếu theo chiều ngang: đó chính là sự liên kết các doanh nghiệp cùng ngành, tiến thêm một bước nữa nó đã tổ chức thành các hình thức: Cac ten, Xanh đi ca,

Tơ rớt, Công soóc xi om, Công glô mê rat

Các ten: là hình thức tổ chức tư bản độc quyền mà các nhà tư bản tham gia

kí hiệp định thỏa thuận với nhau về giá cả, sản lượng, về phân chia thị trường còn các nhà tư bản tham gia hình thức này vẫn độc lập với nhau cả

về sản xuất và thương nghiệp Xanh-đi-ca: hình thức này cao hơn, ổn định hơn Các ten, nó có một ban quản trị đứng ra đảm nhiệm việc mua nguyên liệu và tiêu thụ sản phẩm để

họ khống chế giá mua và giá bán Như vậy các nhà tư bản đã mất độc lập với nhau về thương nghiệp chỉ còn độc lập về sản xuất

Tơ-rớt: được tổ chức giống như các công ti cổ phần Tài sản của các xí nghiệp tham gia được tập trung lại giao cho một ban quản trị chung thống nhất quản lí, ban quản trị này thống nhất trong cả sản xuất và thương nghiệp Các thành viên tồn tại với tư cách là những cổ đông họ sẽ được hưởng lợi nhuận căn cứ vào cổ phần mà họ đóng góp

Trang 10

Công-soóc-xi-om: là hình thức tổ chức độc quyền mang tính chất tổ chức

đa ngành, là một liên minh bao gồm nhiều ngành: hãng buôn, ngân hang, công ti bảo hiêm trên cơ sở phụ thuộc tài chính vào một tập đoàn lớn nhất, tất cả các tư bản đã tham gia vào Cac ten, Xanh đi ca, Tơ rớt vẫn có thể gia nhập vào một Công sooc xi om

Công-glô-mê-rat: cũng là một tập đoàn kinh doanh đa ngành được hình thành trên cơ sở thôn tính sáp nhập nhiều xí nghiệp thuộc nhiều ngành khác nhau kết hợp lại với nhau thành một khối kinh tế đặt dưới sự kiểm soát và quản lí chung của một công ti tư bản lớn nhất Từ đó thành lập nên các công ti đa quốc gia, xuyên quốc gia

Cùng với sự xuất hiện độc quyền trong sản xuất thì quá trình độc quyền trong ngân hàng, quá trình tích tụ và tập trung sản xuất cũng diễn ra mạnh

Xuất hiện những ngân hàng khổng lồ, trên cơ sở những ngân hàng khổng lồ

đó các tổ chức độc quyền trong ngân hàng ra đời và nó giữ vai trò mới

Ngoài vai trò truyền thống là nhận gửi tiền tệ, do được tích luỹ hầu hết tư bản tiền tệ trong tay nên nên ngân hàng đã trở thành một tổ chức có thế lực vạn năng được xem là trung tâm thần kinh chi phối toàn bộ nền kinh tế quốc dân, vì vậy cả ngân hàng và độc quyền trong công nghiệp đều muốn thống lĩnh nền kinh tế, họ bắt tay nhau và quá trình thâm nhập lẫn nhau giữa ngân hàng và công nghiệp làm xuất hiện tư bản tài chính Từ sự xuất hiện của tư bản tài chính kéo theo sự xuất hiện của bọn đầu sỏ tài chính đó

là những tư bản tài chính kếch sù nắm trong tay hầu hết của cải và thu nhập quốc dân , thống trị các ngành kinh tế chủ yếu; có quyền lực kinh tế ắt

Trang 11

có quyền lực về mặt chính trị nên nó thống trị về mọi mặt của đời sống xã hội

Để hình thành nên các tổ chức độc quyền các công ti các xí nghiệp phải liên doanh, liên kết với nhau, phải thôn tính, đồng hoá lẫn nhau nhằm tạo ra sức mạnh to lớn cho mình nâng cao sức cạnh tranh, từ đó hình thành nên những làn sóng sát nhập Lần đầu tiên, vào cuối thế kỉ XIX, các xí nghiệp hợp nhất với nhau theo chiều ngang để tạo thành công ti độc quyền Tiếp theo là vào những năm 20 của thế kỉ XX một làn sóng hợp nhất theo chiều dọc diễn ra mạnh mẽ kéo theo nạn đầu cơ tiền tệ, đó chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến cuộc khủng hoảng 29-33 Lần thứ ba, vào nửa cuối những năm 1960, sự sáp nhập hỗn hợp đã tạo thành những công ti khổng lồ, nhưng khó quản lí nên hiệu quả không cao Và lần sát nhập thứ

tư được bắt đầu từ nửa cuối những năm 1980- làn sóng sát nhập thôn tính lẫn nhau giữa các công ti đã trở thành một xu thế phổ biến trên thế giới và

nó mang những đặc điểm rất mới :

- Việc mua bán sát nhập không còn hãn hữu mà đang trở thành một xu thế tất yếu, mạnh mẽ

- Làn sóng sát nhập động chạm tới tất cả các ngành

- Quy mô sát nhập của công ti lớn đã lên tới mấy chục tỉ USD

- Việc mua bán, sát nhập đã hình thành nên các đế chế – công ti khổng

lồ trên khắp châu lục chiếm thị phần quan trọng trên thị trường thế giới

Các công ti được thành lập từ việc sát nhập đều trở thành siêu độc quyền,

do đó về bản chất chúng cũng là độc quyền nhưng được nâng nên ở một trình độ mới cao hơn

Khi đã trở thành những tổ chức độc quyền xuyên quốc gia thì nó có ảnh hưởng rất to lớn đối với nền kinh tế thế giới

3 Bản chất và đặc trưng của các tổ chức độc quyền xuyên quốc gia:

Trang 12

Về bản chất khi chủ nghĩa tư bản bước lên một giai đoạn phát triển giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền Thì quan hệ sản xuất của nó đã có

mới-sự biến đổi hết sức to lớn về cả khía cạnh chủ sở hữu, đối tượng sở hữu, hình thức sở hữu

ti, xí nghiệp, mà là có nhiều chủ cùng sở hữu Nền sản xuất của các nước của các nước tư bản ngày càng đòi hỏi phải mở rộng quy mô vượt ra khỏi biên giới quốc gia Quá trình toàn cầu hoá, quốc tế hoá nền sản xuất đòi hỏi phải có nguồn vốn khổng lồ, vượt ra khỏi khả năng của từng công ti, tập đoàn Quá trình cổ phần hoá, cùng với sự gia tăng của tương ứng của các

cổ đông làm cho giai cấp tư sản mất dần địa vị quyết định trong xã hội Các công ti lớn, các tập đoàn không chỉ dựa vào vốn của một ông chủ duy nhất hay của một nhóm các ông chủ, mà phải dựa và sự đầu tư của rất nhiều người; mặt khác, để thắng trong cạnh tranh, các tập đoàn không còn cách lựa chọn nào khác là phải sử dụng vốn của nhiều người trong xã hội để đảm bảo tối đa hoạt động đổi mới, hoàn thiện kĩ thuật công nghệ, sử dụng tốt tiềm năng sáng tạo của người lao động

Trong quá trình đó, người công nhân hiện đại đã trở thành chủ sở hữu ( với

tư cách là cổ đông) và trở thành chủ thể sở hữu kinh tế Do đó quan hệ sở hữu trong điều kiện cách mạng khoa học- công nghệ đã thay đổi, với việc

mở rộng các cổ đông, việc hình thành các cổ phiếu liên công ti, khả năng vay vốn , làm xuất hiện xu thế phi cá thể hoá sở hữu tư nhân lớn Từ những năm 1990 trở đi xu thế này xuất hiện ngày càng mạnh, ở Nhật tỉ lệ cổ phiếu của các liên công ti đã lên tới 72%, vốn tư nhân của các cổ đông trong công

ti trong tổng số vốn hoạt động cao nhất thường chiếm 19%, còn lại là số vốn của các cổ đông còn lại hoặc có thêm một phần vốn đi vay Xu thế này

đã biến các tổ hợp công ti lớn thành các chủ thể sở hữu liên kết kinh tế, hay đúng hơn là tạo nên hình thức sở hữu hỗn hợp Trong loại hình này, các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các công nhân cùng tham gia vào tập đoàn với tư

Trang 13

cách là các vệ tinh, các chủ sở hữu về mặt kinh tế và địa vị của họ được thực hiện theo chế độ “tham dự”

Như vậy, trong các xí nghiệp , các công ti, tập đoàn và các siêu tập đoàn có

cả nhà tư bản lớn, nhà tư bản nhỏ, và công nhân cùng tham gia và là đồng

sở hữu với các tỉ lệ khác nhau Việc người công nhân cùng sở hữu với nhà

tư bản là một xu hướng “dân chủ hoá về kinh tế” và đảm bảo sự dân chủ hoá cho công nhân hơn trước, đồng thời cũng kích thích sự nhiệt tình trong lao động hơn của công nhân và làm dịu mâu thuẫn giữa nhà tư bản với công nhân

hẹp trong việc sở hữu tư liệu sản xuất( sở hữu hiện vật) mà là sở hữu về mặt giá trị (dưới nhiều hình thức như : vốn tự có, vốn cổ phần, vốn cho vay, trí tuệ ), sở hữu trí tuệ, sở hữu các công trình khoa học, bằng phát minh sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thông tin , các hình thức này ngày càng trở nên quan trọng và mang tính quyết định đối với việc tăng trưởng kinh tế

Ngày nay khi nền kinh tế tri thức đang ngày càng đóng vai trò quan trọng, thì sở hữu trí tuệ có vai trò đặc biệt quan trọng, vì chính trí tuệ là nguồn gốc sinh ra của cải của xã hội Sở dĩ nói được như vậy là vì lao động không chỉ

là lao động chân tay mà còn bao gồm cả lao động trí thức, lao động này tạo

ra sự tiến bộ của khoa học kĩ thuật, nhờ có sự tiến bộ này mà năng suất lao động ngày càng cao khối lượng của cải tạo ra ngày càng nhiều, chất lượng ngày càng tốt Các nước tư bản luôn kích thích nhứng hoạt động nghiên cứu, phát minh, sáng tạo công nghệ Lợi nhuận siêu ngạch do áp dụng những thành tựu của khoa học- công nghệ ngày càng lớn Bây giờ lao động trí óc trội hơn lao động chân tay, nội dung trí tuệ của sản phẩm trội hơn hình thức vật chất của nó Trong sản phẩm công nghiệp, hàm lượng chất xám tăng cao, giá trị vật tư nguyên liệu giảm Các ngành công nghiệp được

ưu tiên chủ yếu là những ngành công nghiệp mới, mang ưu thế của khoa

Trang 14

học công nghệ Bí quyết công nghệ đã trở thành một cái gì đó tựa như tài sản quốc gia, trong lĩnh vực cạnh tranh giữa các nước phát triển và một số nước đang phát triển đều có chính sách công nghệ và chế độ bảo hộ sở hữu trí tuệ

Người công nhân hiện đại là những người đã qua đào tạo và thường xuyên đào tạo lại, đáp ứng yêu cầu của quá trình sản xuất hiện đại Những người công nhân này được tách ra và không tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất, đứng trên quá trình sản xuất trực tiếp, kết hợp các yếu tố của sản xuất

để tạo ra sản phẩm bằng cách điều khiển các thiết bị tự động, họ xử lí chúng thông qua hàng loạt các thông số có quan hệ phức tạp và biến động không ngừng Kết quả của sản xuất không những phụ thuộc vào trình độ, tri thức, tay nghề mà còn có cả thái độ lao động, tinh thần trách nhiệm của người công nhân nữa, sự nhiệt tình của người công nhân

Đây chính là những biểu hiện của xu hướng xã hội hoá ngày càng cao của quan hệ sở hữu, xã hội dân chủ hơn, phân phối lợi ích đã chú ý tới người lao động và được coi là nguồn lực chủ yếu của sự phát triển xã hội Sự điều chỉnh này vừa để thúc đẩy nền kinh tế xã hội phát triển, vừa đảm bảo lợi ích của chủ nghĩa tư bản độc quyền, vừa là để làm dịu bớt những mâu thuẫn căng thẳng xã hội

của việc đầu tư vào một nước nào đấy là tiếp cận nguồn tài nguyên thiên nhiên, những dự án được thực hiện tài nguyên thiên nhiên được chuyên trở

về nước đầu tư Các công ti có thể tiến hành đầu tư ra nước ngoài để tiếp cận được với thị trường trong nước, nhà đầu tư nước ngoài có thể quyết định mở rộng sản xuất ra nước ngoài để tránh hàng rào thuế quan của nước nhận đầu tư Ngay từ đầu những năm 60 các công ti của Mĩ đã quyết định đầu tư vào Philipin, Ấn độ để khai thác thị trường trong nước

Một số động cơ khác khi đầu tư ra nước ngoài là để tận dụng lợi thế về giá nhân tố sản xuất, đặc biệt là giá lao động rẻ Sản phẩm trước tiên có thể

Trang 15

được sản xuát tại nước nhận đầu tư với chi phí thấp, sau đó được tái xuất khẩu sang nước đầu tư hay xuất khẩu sang nước thứ ba Hình thức đầu tư này phục vụ cho việc mở rộng thương mại và tận dụng tốt những lợi thế của nước nhận đầu tư

Cuối cùng là tận dụng lợi thế của phân công lao động Các công ti đa quốc gia thường mở rộng các hoạt động của họ ra khỏi phạm vi một quốc gia, bao gồm các hoạt động mang tính kĩ thuật cao như nghiên cứu và phát triển, hoạt động thiết kế sản xuất

Khi đã tận dụng được lợi thế cuả mình các công ti bắt đầu bành chướng thế lực độc quyền, do chiếm được vị trí độc quyền nên các tổ chức độc quyền bắt đầu áp đặt giá cả độc quyền; giá cả độc quyền thấp khi mua và cao khi bán Các tổ chức độc quyền thao túng nền kinh tế bằng giá cả độc quyền và thu lợi nhuận độc quyền cao Nguồn gốc của lợi nhuận độc quyền cao là lao động của công nhân ở các xí nghiệp độc quyền; một phần lao động không công của các xí nghiệp không độc quyền; một phần giá trị thặng dư của nhà tư bản vừa và nhỏ bị mất do thua thiệt trong cạnh tranh ,

Như vậy cuộc cạnh tranh giữa các tổ chức của các nhà tư bản diễn ra rất khốc liệt nó bao gồm :

Cạnh tranh giữa các tổ chức độc quyền với các xí nghiệp ngoài độc quyền, các tổ chức độc quyền tìm mọi cách chèn ép, chi phối, thôn tính các xí nghiệp ngoài độc quyền

Cạnh tranh giữa các tổ chức độc quyền với nhau

Một trong những đặc điểm quan trọng nữa của các tổ chức độc quyền xuyên quốc gia là xuất khẩu tư bản nhằm thoả mãn khát vọng độc quyền cao Nó được thể hiện chủ yếu qua hình thức đầu tư trực tiếp FDI, đây là hình thức lập ra ở nước ngoài hoặc mua lại những cơ sở sản xuất kinh doanh nước ngoài hình thành nên những doanh nghiệp, công ti ở nước ngoài gọi là hình thức đầu tư trực tiếp Mục đích kinh tế của xuất khẩu tư bản là đảm bảo lợi nhuận độc quyền cao cho các tổ chức độc quyền phát

Trang 16

triển thị trường Còn mục đích chính trị của nó là mở rộng phạm vi ảnh hưởng, duy trì các nước nhập khẩu tư bản trong sự lệ thuộc vào các nước xuất khẩu tư bản

Để tổ chức thành một hệ thống, một tập đoàn thì các công ti liên kết với nhau theo chế độ tham dự, một tập đoàn tài chính lớn nhờ có số cổ phiếu khống chế mà nắm được công ti lớn nhất với tư cách là công ti gốc (hay công ti mẹ); công ti này lại mua được cổ phiếu khống chế, thống trị được các công ti khác gọi là các công ti con, công ti con đến lượt nó lại chi phối các công ti chau cũng bằng cách như thế

Nhờ có chế độ tham dự và các phương pháp tổ chức tập đoàn theo kiểu móc xích như vậy, mà các tổ chức độc quyền có thể khống chế và điều tiết được một lượng tư bản lớn gấp nhiều lần Và cuối cùng đạt tới mục tiêu tối

đa hoá lợi nhuận trong các hoạt động của mình

II VAI TRÒ CỦA CÁC TỔ CHỨC ĐỘC QUYỀN XUYÊN QUỐC GIA:

1.Thúc đẩy thương mại thế giới :

Ngày nay, hoạt động của các công ti quốc tế, các tập đoàn xuyên quốc gia

đã thấm sâu vào lĩnh vực kinh tế và có ảnh hưởng sâu sắc về các mặt chính trị, kinh tế, xã hội và văn hoá

Một trong những vai trò nổi bật của các tổ chức độc quyền xuyên quốc gia

là thúc đẩy thương mại quốc tế Thật vậy, tổng giá trị thương mại quốc tế của các chi nhánh công ti xuyên quốc gia đã tăng 15% bình quân năm trong giai đoạn từ 1995-2000 Phần lớn sản phẩm của các tổ chức xuyên quốc gia tập trung vào hàng chế tạo và hướng nhập khẩu Trong hơn thập kỉ qua, giá trị thương mại của các chi nhánh của các tổ chức xuyên quốc gia đã tăng nhanh chóng, đến giữa những năm 1990, giá trị thương mại của các chi

Trang 17

nhánh này ở nước ngoài đã lớn hơn giá trị nhập khẩu của khu vực Nam, Đông và Đông Nam Á

Theo số liệu của IMF, tổng khối lượng xuất nhập khẩu hàng hoá trên toàn thế giới tăng gấp 3 lần từ năm 1980 Tổng giá trị thương mại quốc tế về hàng hóa và dịch vụ năm 1997 đã đạt 6.700 tỉ USD, lớn hơn GNP của tất cả nền kinh tế các nước Mỹ La Tinh và Châu Á kết hợp lại Từ năm 1996 tăng trưởng mậu dịch hàng hoá toàn cầu đã tăng 10% hàng năm Trong thế giới đang phát triển, tổng mậu dịch của cả Châu Á, Cận Đông và Mỹ La Tinh

đã vượt tỉ lệ tăng trưởng trung bình của thế giới

Cùng với sự gia tăng mạnh mẽ về khối lượng, cơ cấu mặt hàng và phương hướng địa lí của các luồng thương mại quốc tế cũng biến đổi mạnh trong những thập kỉ vừa qua Tỉ trọng hàng sơ chế giảm trong khi tỉ trọng hàng chế tạo, đặc biệt là các sản phẩm có hàm lượng trí tuệ và công nghệ trong thương mại quốc tế tăng Sự thay đổi cơ cấu mặt hàng trong thương mại quốc tế phản ánh quá trình phân công lao động quốc tế theo chiều sâu Các lợi thế về tài nguyên và các sản phẩm dùng nhiều dùng lao động ngày càng giảm, nhường chỗ cho các sản phẩm tinh chế Sự thay đổi này đã gây ra những bất lợi đối với các nước đang phát triển xuất khẩu hàng nguyên liệu nông sản và nhập máy móc thiết bị , ảnh hưởng đến quan trọng đến sự thay đổi phương hướng địa lí của luồng thương mại

Một điểm nổi bật nữa là trong những năm gần đây là sự gia tăng mạnh mẽ của thương mại dịch vụ bao gồm: vận tải, du lịch, viễn thông, bảo hiểm, dịch vụ ngân hàng, và các dịch vụ nghề nghiệp khác Trong năm 1995 đã

có 1200 tỉ USD dịch vụ được trao đổi giữa các nước, trong đó 30% số đó là của các nước đang phát triển

Tầm quan trọng của thị trường quốc tế là kết quả của quá trình tự do hoá thương mại, đồng thời cũng là lực đẩy cho sự hình thành thị trường thế giới thống nhất

Trang 18

Trong những năm gần đây, với chiến lược đa quốc gia và tạo ra sự liên kết giữa thương mại và đầu tư, các công ti mẹ thường đầu tư chuyển giao trực tiếp công nghệ, nguyên liệu và dịch vụ cho các chi nhánh của mình ở các nước

Tuy nhiên trao đổi giữa các chi nhánh của các tổ chức xuyên quốc gia thường đi cùng với giá chuyển giao, tức là giá cả không dựa trên cơ sở quan hệ cung cầu mà là giá thoả thuận giữa các chi nhánh trong cùng một

tổ chức độc quyền xuyên quốc gia Tình trạng này làm thiệt hại đến nước chủ nhà Đây là vấn đề mà đáng lưu ý nhất đối với các nước đang phát triển hiện nay

Mở rộng và phát triển các chi nhánh của các tổ chức độc quyền xuyên quốc gia thông qua hoạt động FDI đã góp phần to lớn đối với việc thúc đẩy xuất khẩu tư bản của các nước đang phát triển

2 Thúc đẩy đầu tư nước ngoài:

Hầu hết những hoạt động đầu tư ra nước ngoài của các tổ chức độc quyền xuyên quốc gia là hình thức đầu tư trực tiếp FDI Đầu tư trực tiếp nhằm tận dụng lợi thế của phân công lao động, nó đã trở thành yếu tố quan trọng hàng đầu trong việc hình thành mạng lưới sản xuất quốc tế và các tổ chức độc quyền xuyên quốc gia chính là những người tạo dựng mạng lưới này

Hệ thống phân công lao động quốc tế ngày nay không đơn thuần là sự phân công giữa các quốc gia theo mô hình cổ điển được thực hiện thông qua buôn bán quốc tế nữa Với sự xuất hiện và mở rộng hoạt động của các tổ chức xuyên quốc gia, quá trình sản xuất quốc tế được thực hiện trên phạm

vi toàn cầu Một sản phẩm hoàn chỉnh không còn do một công ti duy nhất sản xuất ra và một công ti không còn chỉ sản xuất một loại sản phẩm cho thị trường Sản xuất ở nước ngoài trở thành một tiêu chí quan trọng để đánh giá mức độ toàn cầu hoá của một công ti hoặc một quốc gia

Trang 19

Trên thực tế, hầu hết các hoạt động đầu tư nước ngoài được thực hiện qua các kênh của các tổ chức xuyên quốc gia Với lợi thế của mình về nhiều vốn, kĩ thuật hiện đại, quản lý tiên tiến và mạng lưới thị trường rộng lớn, các tổ chức này luôn tích cực đầu tư ra nước ngoài nhằm tối đa hoá lợi nhuận trên phạm vi toàn cầu Năm 1997, các chi nhánh của tổ chức xuyên quốc gia với tổng tài sản trên 12,6 nghìn tỉ USD đã đầu tư ra nước ngoài lượng FDI là 422 tỉ USD, và năm 1999 theo UNCTAD.FDI của thế giới là

644 tỉ USD trên phạm vi rộng hơn 100 quốc gia

Năm 1996, nguồn FDI ra của thế giới là 346,8 tỉ USD, trongđó từ các nước phát triển là 294,7 tỉ USD (chiếm khoảng 85%), Mĩ là nước đầu tư nhiều nhất thế giới với 85 tỉ USD ( 1995 là 93 tỉ USD) chiếm khoảng 25% FDI của thế giới Nhiều nước Đông Nam Á và cả Trung Quốc cũng đầu tư ra nước ngoài, nhưng với giá trị không lớn đạt 9,14 tỉ USD và 2,2 tỉ USD ( chiếm khoảng 2,6% và 0,63% lượng FDI ra thế giới)

Như vậy có thể thấy nguồn đầu tư chính ra nước ngoài là các nước phát triển, trước hết là các nước G7 và một số nước Châu Âu, và các nước này lại có công nghệ nguồn, do đó nguồn vốn FDI của chúng có ý nghĩa quan trọng hơn

FDI chiếm một tỉ lệ khá quan trọng trong GDP của các nước Năm 1996, tỉ trọng FDI vào và ra trong GDP của thế giới chiếm 10,6% và 10,8% đối với các nước Đông, Nam, và Đông Nam Á tỉ trọng đó là 15,8% và 8,1% Đối với Việt Nam tỉ trọng FDI vào trong GDP rất lớn, chiếm 40,2%

Xu hướng gia tăng việc sát nhập và thôn tính các công ti ngoai quốc của tổ chức độc quyền xuyên quốc gia, trong đó chủ yếu là Mỹ và Tây Âu, là một trong những nguyên nhân gây quan trọng gây bùng nổ đầu tư nước ngoài (giai đoạn 1995-1996)

Các tổ chức xuyên quốc gia tác động mạnh đến động thái dòng vốn đầu tư nước ngoài, nó tăng mạnh qua các năm và đạt đến con số 3,2 nghìn tỉ USD vào năm 1996 Hơn nữa cơ cấu dòng vốn đầu tư cũng có sự thay đổi lớn

Trang 20

do điều chỉnh chiến lược kinh doanh của các tổ chức xuyên quốc gia Trong những thập kỉ gần đây, các tổ chức xuyên quốc gia đã chuyển sang hoạt động ở phạm vi rất rộng cả về tính chất kinh doanh và khu vực lãnh thổ

Thêm vào đó, cùng với sự phát triển mạnh của thị trường tài chính quốc tế

đã thúc đẩy các hình thức đầu tư gián tiếp ngày càng tăng Những ngành nghề chế tạo với công nghệ hiện đại, các ngành tài chính, ngân hàng, bảo hiểm rất được chú trọng quan tâm

Nhờ mở rộng chính sách tự do hoá FDI, các tổ chức độc quyền xuyên quốc gia ngày càng đóng vai trò quan trọng đối với thúc đẩy dòng vốn FDI vào các nước đang phát triển Thật vậy, thống kê năm 1997 của công ti tài chính quốc tế –IFC, dòng vốn FDI thực hiện bởi các tổ chức xuyên quốc gia ở các nước đang phát triển tăng dần qua các năm trong gần ba thập kỉ lại đây, đặc biệt tăng nhanh từ sau giữa thập kỉ 1980 Nếu trước những năm

1985, dòng vốn FDI vào các nước đang phát triển chỉ đạt trung bình khoảng 6,5 tỉ USD và tăng 1,7% trên mỗi năm thì sau đó vốn đã tăng nhanh

từ mức gần 15 tỉ USD năm 1985 lên tới hơn 40 tỉ USD năm 1990 và tiếp tục tăng tới khoảng 110 tỉ USD vào năm 1996 và 138,2 tỉ USD vào năm

1997 Những con số này đã nói lên tầm quan trọng của tổ chức xuyên quốc gia đối với thúc đẩy FDI vào các nước đang phát triển trong thời gian qua

Như vậy, qua các số liệu trên chứng tỏ rằng các tổ chức xuyên quốc gia đã

có vai trò to lớn đối với việc thúc đẩy lưu chuyển dòng FDI trên thế giới, trong đó có vai trò đặc biệt vào các nước đang phát triển FDI vài các nước đang phát triển năm 1991 chiếm 26% FDI thế giới, các năm sau là:

1992:28%; 1993:33%; 1995:30%; 1996:40%

Tuy nhiên, mức độ tác dụng tích cực của các tổ chức xuyên quốc gia đối với thúc đẩy dòng FDI vào các nước đang phát triển phụ thuộc quan trọng vào chính sách và môi trường thu hút tổ chức xuyên quốc gia của nước chủ nhà

Trang 21

3 Phát triển nguồn nhân lực :

Tổ chức độc quyền xuyên quốc gia tác động đến phát triển nguồn lao động theo hai cách trực tiếp và gián tiếp

Cách trực tiếp là thông qua các dự án đầu tư, các tổ chức này đào tạo lực lượng lao động địa phương để phục vụ cho nhu cầu hoạt động của dự án

Cách gián tiếp là tạo ra cơ hội và động lực cho sự phát triển của lực lượng lao động thông qua các hình thức như : liên kết kinh tế, cung cấp dịch vụ, Ở các nước đang phát triển, các tác động này có vai trò rất to lớn đối với phát triển nguồn lực lao động, đặc biệt là đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn kĩ thuật và quản lí Đây là tiền đề quan trọng để nâng cao năng suất lao động ở các nước này

Không những tác động đến số lượng lao động, các tổ chức này tác động tới

cả chất lượng nguồn lao động ở các nước nhận đầu tư Đó là lao động trí thức ngày càng có xu hướng gia tăng mạnh, nó được biểu hiện ở nhiều khía cạnh: tăng về số lượng tuyệt đối, tăng về tỉ lệ trong tổng lao động, tăng ở các lĩnh vực khác nhau ở cả sản xuất vật chất, tinh thần tới quản lí xã hội

Minh chứng cho sự gia tăng về mặt số lượng chúng ta có thể tìm thấy trong nhiều công trình nghiên cứu, điển hình là trong tác phẩm “ Các giai cấp đang thay đổi” được xuất bản tại London 1993 Toàn bộ người lao động được chia làm 10 nhóm bao gồm: các làng nghề truyền thống; lao động không có tay nghề; quản lí; chuyên nghiệp; hành chính, văn phòng; bán chuyên nghiệp; bán hàng; dịch vụ có tay nghề; lao động có tay nghề; dịch

vụ không có tay nghề

Lao động của nhóm tri thức tiêu biểu là: quản lí; chuyên nghiệp; dịch vụ có tay nghề, tất cả các nhóm ngành này đã có sự tăng đáng kể trong những thập kỉ qua Tỉ lệ của ba nhóm ngành này vào năm 1990 ở các quốc gia được nghiên cứu là : Đức 9,8%; Mĩ 20,5%; Anh 25,3%;

Đối với sự gia tăng lao động tri thức ở các lĩnh vực thì biểu hiện đặc biệt gây ấn tượng là sự gia tăng số lượng các nhà nghiên cứu khoa học trong

Trang 22

mọi lĩnh vực Loại lao động phức tạp trước đây chỉ tập trung trong một số ít nhà bác học và những người giúp việc cho họ thì nay nó đã trở thành loại lao động phổ biến ở nhiều tổ chức chính phủ, ở vô vàn các công ti tư nhân, tại các nước có trình độ cao cũng như các nước có trình độ thấp hơn Ở Mĩ cùng với đầu tư tăng số lượng cán bộ nghiên cứu cũng tăng mạnh Nếu như vào năm 1995 số bác học và kĩ sư dành cho công tác nghiên cứu ứng dụng mới là 801.900 người thì tới năm 1996- sau một năm số người tăng tới 962.700 người

Ngoài lĩnh vực nghiên cứu và quản lí, lao động tri thức còn tăng mạnh ở trong chính các dây truyền sản xuất Càng ở các dây truyền sản xuất hiện đại và siêu hiện đại thì tỉ lệ lao động tri thức càng lớn

Nhờ có các hoạt động trợ giúp tài chính cho các chương trình nghiên cứu

và đào tạo nghề, quản lí do các tổ chức xuyên quốc gia cung cấp và đồng thời trang bị các thiết bị khoa học cho các trường đại học, viện nghiên cứu

mà hàng năm đã tạo được khoảng trên 45 triệu lao động có tri thức Theo ước tính tổ chức xuyên quốc gia đã tạo được khoảng 70 triệu lao động trong mỗi năm ( con số này được tính cho những năm của thập kỉ chín mươi), trong số đó có khoảng 2/3 số việc làm được tạo ra ở các nước phát triển

Nhìn chung, các tổ chức xuyên quốc gia thường tạo việc làm ở các ngành công nghiệp và dịch vụ hơn là các ngành nông nghiệp và các ngành khác

Tỉ lệ lao động trong các ngành công nghiệp ước tính chiếm khoảng 4/5 tổng số lao động được tạo ra bởi các tổ chức xuyên quốc gia Điều này phản ánh đặc điểm của các tổ chức xuyên quốc gia chủ yếu đầu tư vào các lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ Nhiều việc làm gián tiếp, theo ước tính chiếm khoảng một nửa tổng số việc làm được tạo ra bởi các chi nhánh của các tổ chức xuyên quốc gia ở các nước đang phát triển

Ngày đăng: 21/11/2022, 09:08

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm