Chuyên đề 3 VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐỐI NGOẠI TRONG SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI HIỆN NAY Trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh phải nói đến tư tưởng của Người về đối ngoại Tư tưởng đối ngoại Hồ Chí Minh luôn đúng đắn định hướng đưa cách mạng Việt Nam đến thắng lợi cuói cùng Khi nói về vấn đề này, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã khẳng định “Toàn bộ những tư tưởng Hồ Chí Minh về hoạt động ngoại giao như biết đánh giá, dự báo tình hình, nắm bắt thời cơ, tổ chức lực lượng, nhận rõ bạn thù, tranh thủ đồng mi.
Trang 1Chuyên đề 3
VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐỐI NGOẠI
TRONG SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI HIỆN NAY Trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh phải nói đến tư tưởng của
Người về đối ngoại Tư tưởng đối ngoại Hồ Chí Minh luôn đúng đắn định hướngđưa cách mạng Việt Nam đến thắng lợi cuói cùng Khi nói về vấn đề này, Thủtướng Phạm Văn Đồng đã khẳng định: “Toàn bộ những tư tưởng Hồ Chí Minh vềhoạt động ngoại giao như biết đánh giá, dự báo tình hình, nắm bắt thời cơ, tổ chứclực lượng, nhận rõ bạn - thù, tranh thủ đồng minh, cô lập kẻ thù chủ yếu, kiên định
về nguyên tắc, linh hoạt về sách lược, biết thắng từng bước để tiến tới thắng lợihoàn toàn, độc lập tự chủ gắn liền với đoàn kết quốc tế là di sản quý báu đối vớichúng ta trong hoạt động ngoại giao”1
Ngày nay, trong công cuộc đổi mới đất nước, cần phải kế thừa, vận dụngsáng tạo tư tưởng đối ngoại Hồ Chí Minh trong quan hệ quốc tế Những nội dungcủa tư tưởng đối ngoại Hồ Chí Minh phải được xem sét, vận dung trong đường lốiđối ngoại của Đảng ta ở những bối cảnh lịch sử, nhũng giai đoạn cách mạng tiếp
theo
I Sự cần thiết phải vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại trong
sự nghiệp đổi mới
1 Từ giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại
* Giá trị lý luận
- Tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại là sự bổ sung giá trị mới trong truyền
Trang 2Ví dụ 1: Tư tưởng “đem đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cườngbạo”, ý chí sắt đá bảo vệ độc lập, chủ quyền thiêng liêng “Nam quốc sơn hà Nam
đế cư”, được Hồ Chí Minh tiếp thu, phái triển trong vản Tuyên ngôn độc lập củadân tộc (2/9/1945) Vừa khẳng định đông lập dân tộc và Người vừa cho rằng dântộc Việt Nam “Quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữvững quyền tự do và độc lập ấy” Trong điều kiện lịch sử hoàn toàn mới, khi chúng
ta mới giành được chính quyền, lực lượng đế quốc phản động ở thế giới là Pháp,Anh, Nhật, Tưởng…trong nước các đảng phái phản động…
Ví dụ 2: Tư tưởng đối ngoại luôn vì lợi ích của dân tộc trong lịch sử, được
Hồ Chí Minh tiếp thu, phát triển trong thời đại mới: Phải kết hợp chặt chẽ mục tiêuđấu tranh cho độc lập dân tộc mình và đấu tranh cho các mục tiêu của cách mạngthế giới “ Cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới”
Ví dụ 3: Tư tưởng đối ngoại tự cường của dân tộc Việt Nam, được Hồ ChíMinh tiếp thu, phát triển: "tự lực cánh sinh, dựa vào sức mình là chính”, vừa tự lụccánh sinh, vừa tranh thủ sự giúp đỡ của quốc tế Trong quan hệ quốc tế thì “muốnngười ta giúp cho, thì trước hết phải tự giúp mình đã”, “một dân tộc không tự lựccánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được hưởngđộc lập”(7)
Ví dụ 4: Truyền thống quan hệ “ngoại giao công tâm” “đánh vào lòngngười”, Nguyễn Trãi tổng kết:
Bó tay để đợi bại vong, giặc đã trí cùng lực kiệt
Chẳng đánh mà người chịu khuất, ta đây mưu phạt tâm công
(Bình Ngô đại cáo )
Hồ Chí Minh cho rằng phải hướng đến sự hướng thiện của mỗi con người vàgiá trị nhân văn chung của nhân loại tiến bộ Người khẳng định “Tuy phong tục
Trang 3mỗi dân mỗi khác, nhưng có một điều thì dân nào cũng giống nhau Ấy là dân nào
cũng ưa sự lành và ghét sự dữ”
Ví dụ 5: Nghệ thuật ứng xử với nước lớn, các nước láng giềng, khu vực Luôn
thực thi chính sách đoàn kết: “Bám anh em xa mua láng giềng gần” - Hồ Chí MinhViệt Nam Trung Hoa núi liền núi, sông liền sông
Phát biểu trong buổi gặp nhà vua Lào Xri Xavang Vátthana, Người nhấnmạnh:
“Việt Lào, hai nuớc chúng ta,
Tình sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long” 10
Điện mừng Thái tử Xihanúc khi nhận chức Quốc trưởng nước Campuchia,Người lại khẳng định: ''Tình hữu nghị giữa hai dân tộc Việt Nam và Khơme ngàycàng củng cố và phát triển''11
Tư tưởng đối ngoại của Hồ Chí Minh trong thời kỳ đổi mới là sự kế thừa, pháttriển lên một trình đội mới tinh hoa đối ngoại của dân tộc Việt Nam Trong khotàng tinh hoa đối ngoại của dân tộc, sáng lấp lánh tư tưởng đối ngoại Hồ Chí Minh
- Tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại là sự tiếp thu, bổ sung, phát triển những tinh hoa văn hóa của thế giới về vấn đề đối ngoại
Vấn đề thứ nhất, một số khái niệm đối ngoại của Đạo Khổng đã được Hồ Chí
Minh tiếp thu, diễn đạt bằng ngôn ngữ hiện đại, nhưng về tinh thần vẫn là diễn giải
tư tưởng của Nho giáo Ví dụ; Tư tưởng “thiên hạ đại đồng”; Tứ hải giai huynh đệ
“Thiên hạ vi nhất gia” của Khổng Tử được đưa ra trong thời Xuân Thu ChiếnQuốc
Trang 4Vấn đề thứ hai, Hồ Chí Minh bổ sung, phát triển những tư tưởng ấy, xây dựng
một thế giới hòa bình, không có sự phân biệt đẳng cấp, không có chiến tranh, quan
hệ giữa con người với con người đều là anh em một nhà: Ví dụ tư tưởng “Tứ hảigiai huynh đệ” Hồ Chí Minh viết:
“Quan san muôn dặm một nhà
Bốn phương vô sản đều là anh em”
Mở rộng hơn, nhưng cũng vẫn theo tư tưởng “đại đồng”, “Tứ hải giai huynhđệ” của Khổng Tử, Hồ Chí Minh viết:
“Rằng đây bốn bể một nhà
Vàng đen trắng đỏ đều là anh em”
- Tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại đã làm sáng tỏ những quan điểm của
chủ nghĩa Mác - Lênin về quan hệ quốc tế
> Trong các tác phẩm của mình Mác-Ănghen hay đề cập quan hệ gai cấp trong mộtquốc gia, quan hệ giai cấp giữa các quốc gia dân tộc khác nhau, như: quan hệ giữa giai cấp
vô sản Pháp và giai cấp vô sản ở Anh, hoặc giữa các giai cấp như GCVS của các nước trênphạm vi toàn thế giới
Về nguyên nhân hình thành các nhà kinh điển cho rằng sự hận thù, xung
đột giữa các dân tộc là bắt nguồn từ xung đột giai cấp (lợi ích và quyền lực) Màxung đột giai cấp lại có cội nguồn sâu xa từ mâu thuẫn giữa QHSX với trình độ vàtính chất của LLSX Chính mâu thuẫn này là nguyên nhân, động lực thúc đẩy sựphát triển tiến bộ của lịch sử loài người
Đối với Lênin, khi chủ nghĩa tư bản đã phát triển lên giai đoạn đề quốc chủnghĩaSau cách mạng T10 Nga chủ nghĩa tư bản đã phát triển lên một giai đoạn mới làCNĐQ áp bức cá dân tộc thuộc địa Tất yếu phải giải quyết mối quan hệ hữu cơ giữacách mạng vô sản và phong trào GPDT, giữa lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp, giữaquốc gia và quốc tế
Trang 5Lênin còn đề cập "Quyền dân tộc tự quyết" Trong đó phải tôn trọng quyền
dân tộc tự quyết; thực hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc Tuy nhiên, Lênin nói
về vấn đề dân tộc, mối quan hệ giữa các nước như không nhiều
Hồ Chí Minh trong mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp, luôn coi trọngdân tộc
Ví dụ1: giữa nhiệm vụ giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp, thì nhiệm
vụ giải phóng dân tộc được đặt nên hành đầu
Ví dụ2: Hồ Chí Minh, ngoài vấn đề giai cấp, trong quan hệ quốc tế Ngườiluôn chủ yếu đặt vấn đề dân tộc đặt nên đầu, coi trọng mối quan hệ giữa các dântộc, mối quan hệ giữa dân tộc Việt Nam và các dân tộc khác trên thế giới, kể cả ởnhững nước để quốc và những nước xây dựng CNXH…
> Lê-nin khi phân tích về chủ nghĩa đế quốc đã lưu ý đến sự vận hành củaquy luật phát triển không đồng đều của chủ nghĩa tư bản Hệ quả là quan hệ quốc
tế chủ yếu xoay xung quanh một số nước và trung tâm quyền lực lớn Có thể nóithuyết về “châu Âu là trung tâm” vẫn chi phối tư duy chiến lược của cách mạngtrên thế giới
Đối với Hồ Chí Minh, trong bài “Đông Dương và Thái Bình Dương” viếtnăm 1924, Người đã phân tích, phát triển quan điểm của mình cho rằng ở các nướcthuộc địa, Thái bình Dương mới là trung tâm của cách mạng, mới là trung tâm củaquan hệ quốc tế: “Vì đã trở thành một trung tâm mà bọn đế quốc tham lam đềuhướng cả vào nhòm ngó, nên Thái Bình Dương và các nước thuộc địa xung quanhThái Bình Dương, tương lai có thể trở thành một lò lửa của chiến tranh thế giớimới mà giai cấp vô sản sẽ phải nai lưng ra gánh Xem thế thì ta thấy rõ rằng vấn đềThái Bình Dương là vấn đề mà tất cả mọi người vô sản nói chung đều phải quantâm đến”(6)
> Qua khẩu hiệu đoàn kết của các nhà kinh điển, chúng ta cúng thấy Hồ ChíMinh không chỉ tiếp thu, mà còn phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin về quan hệ quốctế
Khẩu hiệu của Mác – Ăng ghen: "Vô sản tất cả các nước liên hiệp lại".
Trang 6Khẩu hiệu của Lênin "Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức toàn
thế giới đoàn kết lại".
Khẩu hiệu của Hồ Chí Minh “Lao động các nước và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại”.
* Giá trị thực tiễn
- Tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại đã khẳng định tính đúng đắn, sáng tạo đường lối đối ngoại của Đảng ta trong lịch sử đấu tranh giành độc lập dân tộc
giải pháp ngoại giao rất kỳ diệu: Tống khứ hàng chục vạn quân Tưởng ra khỏimiền Bắc, giữ vững được chính quyền cách mạng, chuẩn bị cho đất nước bước vàocuộc kháng chiến chống Pháp Sau 60 năm nhìn lại, chúng ta càng thấy ý nghĩa vàvai trò to lớn của hoạt động ngoại giao ở thời điểm đó, giúp tranh thủ được mộtkhoảng thời gian hòa hoãn ngắn ngủi nhưng hết sức quý báu để xây dựng lựclượng, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến toàn dân, trường kỳ
+
Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, tư tưởng đối ngoại của
Hồ Chí Minh đã trở thành bộ phận quan trọng để nhân dân ta đánh thắng hai đế quốc đầu sỏ, hoàn thành CM DTDCND
Trong chín năm kháng chiến chống Pháp (1946- 1954), tư tưởng đối ngoại
Hồ Chí Minh đã góp phần quan trong, phá thế cô lập, thiết lập quan hệ ngoại giao
và liên minh với các nước xã hội chủ nghĩa, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của dưluận thế giới, hình thành liên minh chiến đấu với Lào và Căm-pu-chia, tranh thủmột khối lượng lớn trợ giúp về vũ khí, khí tài, vật chất cho cuộc kháng chiến.Thắng lợi trên chiến trườngchiến dịch Điện Biên Phủ và Hiệp định Giơ-ne-vơ ngày
21 tháng 7 năm 1954 đã chứng minh tính đúng đắn của tư tưởng đối ngoại Hồ ChíMinh
Trang 7Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ (1954-1975) tư tưởng đối ngoại của HồChí Mnh ngày càng được khẳng định và có bước phát triển mới Đối ngoại ViệtNam lúc này luôn tích cực, chủ động, giương cao ngọn cờ hòa bình, độc lập dântộc và chủ nghĩa xã hội, kiên trì kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh pháp lý,tập trung làm rõ chính nghĩa của ta, vạch trần những âm mưu, thủ đoạn và tội áccủa kẻ thù, tranh thủ sự ủng hộ của Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủnghĩa anh em, hình thành mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ sự nghiệp chính nghĩacủa nhân dân ta trong cuộc kháng chiến
Trong bối cảnh mâu thuẫn giữa Xô – Trung Quốc, hai nước lớn trong phe
xã hội chủ nghĩa, Hồ Chí Minh đã xử lý hài hoà giữa ta với các nước trên, giữa hainước lớn, từ đó thủ sự ủng hộ to lớn của Liên Xô và Trung Quốc cho cuộc khángchiến chống Mỹ của nhân dân ta
Hoạt động đối ngoại đã chủ động đấu tranh với Mỹ, dẫn tới cuộc đàm phánlịch sử từ năm 1968 đến 1973, đưa đến việc ký kết Hiệp định Pa-ri về chấm dứtchiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam Hiệp định Pa-ri đã góp phần tạo bướcngoặt rất quan trọng, buộc Mỹ rút khỏi miền Nam, cô lập ngụy quyền, mở ra cụcdiện mới trên chiến trường để quân và dân ta làm nên chiến dịch Hồ Chí Minh lịch
sử năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước
- Tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại góp phần quan trọng cho việc xây dựng CXXH ở nước ta
( Nhất là việc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, từ năm 1954 đến năm1975 )
2 Từ bối cảnh quốc tế và trong nước của thời kỳ đổi mới
Trang 8- Hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa tan rã làm thay đổi trật tự thế giới + C uối thập kỷ 70 của thế kỷ XX, tình hình KT-XH ở các nước XHCN xuất hiện
sự trì trệ và mất ổn định
Với thắng lợi của cách mạng Việt Nam (năm 1975) và các nước Đông Dương, hệthống XHCN đã mở rộng phạm vi, phong trào cách mạng thế giới phát triển mạnh Tuynhiên, từ giữa thập kỷ 70 của thế kỷ XX, tình hình KT-XH ở các nước XHCN xuất hiện
1991 dẫn đến kết quả là Nga và 14 quốc gia tuyên bố độc lập của khỏi Liên Xô.Những biến động lớn này làm cho cục diện thế giới và quan hệ quốc tế thay đổimột cách cơ bản
+ Các nước lớn điều chỉnh chiến lược, vừa hợp tác, thỏa hiệp, vừa cạnh tranh, đấu tranh, kiềm chế lẫn nhau,
Cơ cấu địa - chính trị và sự phân bố quyền lực toàn cầu bị đảo lộn Gần nửathế kỷ tồn tại kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, trật tự thế giới hai cực và chiếntranh lạnh mới chấm dứt Mỹ có tham vọng thiết lập trật tự thế giới đơn cực, trongkhi Nga, Trung Quốc và một số nước lớn khác, có tính toán riêng, hình thành mộttrật tự thế giới đa cực Từ đó tác động mạnh đến cục diện thế giới và khu vực
- Sự bất ổn định về chính trị thế giới thời kỳ “hậu Xô viết”
+Mâu thuẫn sắc tộc, xung đột dân tộc tiếp tục diễn ra gay gắt, phức tạp.
Trang 9Nguy cơ chiến tranh thế giới bị đẩy lùi, song nhiều cuộc chiến tranh cục bộ,xung đột sắc tộc và tôn giáo; chạy đua vũ trang, hoạt động can thiệp, lật đổ, nạnkhủng bố và tội phạm xuyên quốc gia; tranh chấp lãnh thổ, biển đảo, tài nguyênthiên nhiên xảy ra ở nhiều nơi diễn ra phức tạp
Biểu hiện rõ nhất là sau chiến tranh vùng vịnh, Mỹ với vị thế siêu cường duynhất, can thiệp trắng trợn vào công việc nội bộ nhiều nước Mỹ đã phát động chiếntranh dưới các danh nghĩa khác nhau, chống Liên bang Nam Tư, Ápganixtan vàIrắc, bất chấp Hiến chương Liên hợp quốc, luật pháp quốc tế, cũng như làn sóngphản đối mạnh mẽ của công luận quốc tế
+ Thực hiện “diễn biến hòa bình”, can thiệp, lật đổ, “cách mạng sắc màu” của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thì địch làm bất ổn tình hình thế giới
Lợi dụng sự thoái trào của chủ nghĩa xã hội, các thế lực đế quốc ráo riếtchống phá phong trào cách mạng thế giới, gia tăng “diễn biến hòa bình” nhằm xóa
bỏ các nước xã hội chủ nghĩa còn lại
Một mặt, Mỹ và các thế lực đế quốc gia tăng “diễn biến hòa bình” nhằm xóa
bỏ các nước xã hội chủ nghĩa còn lại, tăng cường áp lực không chế các nước; mặtkhác, đẩy mạnh hoạt động chống phá các đảng cộng sản và các phong trào dân chủ,tiến bộ ở các nước trên thế giới
+ Lợi ích quốc gia - dân tộc, trước tiên là lợi ích kinh tế, nổi lên hàng đầu
chi phối các quan hệ quốc tế
Điều đó buộc các đảng cầm quyền trên thế giới cần có cách tiếp cận mới đốivới mối quan hệ giữa lợi ích giai cấp - dân tộc - nhân loại, xử lý đúng đắn mốiquan hệ này là một vấn đề nan giải đối với các đảng cầm quyền, trong đó có Việt
Trang 10- Các nước lớn vừa hợp tác, thỏa hiệp, vừa cạnh tranh gay gắt, chi phối và làm phức tạp hơn các quan hệ quốc tế
- Tình hình khu vực Đông Nam Á, từ những năm 80 của thế kỷ XX, các quốc gia có cơ hội và điều kiện hợp tác vì hòa bình, ổn định và phát triển
Sự thay đổi căn bản về chính trị - kỉnh tế trên thế giới đòi hỏi Đảng ta phải
có phân tích, nhận định khách quan, khoa học, làm tiền đề, cơ sỗ cho việc địnhhướng phát triển đất nước, trước hết là trong lĩnh vực quan hệ quốc tế Trên cơ sở
đó, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về quan hệ quốc tế, đề ra chủ trương, đườnglối đối ngoại, chính sách ngoại giao phù hợp
- Sự phát triển vượt bậc của khoa học và công nghệ và ván đề toàn cầu hóa
Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ có bước tiến nhảy vọt, tác động sâusắc đến tình hình kinh tế, chính trị xã hội và quan hệ quốc tế
Cuộc cách mạng này thúc đẩy lực lượng sản xuất của thế giới phát triểnmạnh mẽ chưa từng thấy, tuy nhiên, những thành tựu khoa học và công nghệ hiệnđại lại chủ yếu thuộc về các nước phát triển, do họ có thực lực kinh tế, tiềm lựckhoa học hùng mạnh cùng với mạng lưới công ty xuyên quốc gia vươn rộng khắphành tinh Tình hình đó tạo ra thời cơ phát triển, đồng thời đặt ra những thách thứcgay gắt đốì với các nước trong đó có Việt Nam Các nước đang phát triển donhững hạn chế về nhiều mặt, nên không dễ dàng tiếp cận được những thành tựukhoa học và công nghệ tiên tiến, thậm chí đứng trước nguy cơ trở thành nơi thunhận những công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường được chuyển giao từcác nước phát triển
Xu thế toàn cầu hóa bị một vừa có mặt tích cực, vừa có mặt tiêu cực; vừa có
hợp tác, vừa có đấu tranh
Trang 11Toàn cầu hóa là một quá trình đầy mâu thuẫn; đó là những mâu thuẫn: giữamột bên là lợi ích của các thế lực tư bản, đế quốc với một bên là chủ quyền của cácquốc gia, dân tộc; giữa tăng trưởng kinh tế với bất công xã hội; giữa áp lực của tưbản độc quyền xuyên quốc gia với sự lựa chọn con đường phát triển của các nước;giữa các lực lượng lợi dụng toàn cầu hóa để mở rộng bóc lột kinh tế, áp đặt chínhtrị
Các nền kinh tế dựa vào nhau, liên kết với nhau, xâm nhập lẫn nhau, khiếncho tính tùy thuộc lẫn nhau giữa các nước ngày càng tăng Toàn cầu hóa thúc đẩyhợp tác, phân công lao động quốc tế và tăng trưởng kinh tế Các hình thức hợp tác,liên kết kinh tế trở nên đa dạng và rất phong phú về nội dung, tạo điều kiện pháttriển, giao lưu văn hóa và tri thức quốc tế, tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau và tìnhhữu nghị giữa các dân tộc
Sự phân hóa giàu nghèo, nguy cơ thống trị của chủ nghĩa thực dân kiểu mới,
sự vi phạm chủ quyền quốc gia, sự đụng độ giá trị giữa các xã hội, sự cạnh tranhkinh tế tăng lên, Vấn đề đáng lưu ý là toàn cầu hóa chứa đựng xu hướng thốngtrị kinh tế và bá quyền chính trị của các nước lớn Coi nhẹ vấn đề cao toàn cầu hóađều không phải là thái độ tiếp cận đúng, nhất là trong quan hệ quốc tế và ngoạigiao
Tình hình thế giới đòi hỏi chính sách đối ngoại của mỗi nước phải hướng tớiphục vụ sự ổn định chính trị, mở rộng hợp tác quốc tế, tạo môi trường hòa bình,chủ động hội nhập quốc tế, góp phần xây dựng một trật tự quốc tế công bằng, bìnhđẳng và hợp lý Có thể nói, sự thay đổi của cục diện thế giới trong điều kiện khôngcòn đối trọng Liên Xô và hệ thống xã hội chủ nghĩa, thời kỳ thế giới “hậu Xôviết”
đã làm nảy sinh những vấn đề mới trong quan hệ quốc tế nói chung và đối với đối
Trang 12ngoại Việt Nam nói riêng, đòi hỏi Đảng ta phải nhìn nhận và vận dụng sáng tạo tưtưởng Hồ Chí Minh về quan hệ quốc tế trong bối cảnh mới.
* Bối cảnh trong nước
- Sau năm 1975 cả nước độc lập, thống nhất đi lên CNXH đạt được một số thành tựu quan trọng
Sau khi MN được hoàn toàn giải phóng, Tổ quốc hoà bình, thống nhất, cả nước xâydựng CNXH với khí thế của một dân tộc vừa giành được thắng lợi vĩ đại Công cuộc xâydựng CNXH đã đạt được một số thành tựu quan trọng Đây là những thuận lợi rất cơ bảncủa cách mạng nước ta
- Đất nước chịu hậu quả nặng nề của 30 năm chiến tranh, sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch.
- Cách mạng nước ta phải đối phó với chiến tranh biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc
Sau khi Cam Phu Chia mở các cuộc tiến công xâm lược biên giới Tây Namcủa chúng ta, đáp lời kêu gọi của Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia,ngày 25-12-1978, quân tình nguyện Việt Nam đã sang giúp bạn, tiến vào giảiphóng Phnôm Pênh (ngày 7-1-1979), lật đổ chế độ Khơme Đỏ, giúp nhândân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng
Từ tháng 5-1978, lấy cớ Việt Nam “ngược đãi Hoa kiều”1, Trung Quốc đãcắt viện trợ và rút toàn bộ chuyên gia về nước, tiếp đến là các cuộc khiêu khích,xung đột vũ trang liên tiếp diễn ra trên tuyến biên giới Việt - Trung Ngày 17-2-
1 Tháng 5-1978, Trung Quốc đơn phương đưa tàu sang Việt Nam đón người Hoa về nước, chỉ trong vài tháng đã có 17 vạn người Hoa rời Việt Nam
Trang 131979, Trung Quốc mở cuộc tiến công sáu tỉnh biên giới phía Bắc Đến ngày
18-3-1979, quân đội Trung Quốc đã phải rút khỏi lãnh thổ nước ta
ĐH V của Đảng (3/1982) nhận định “ nước ta đang ở trong tình thế vừa có hoà bìnhvừa phải đương đầu với một kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt” (Văn kiện Đảng, Toàntập, tập 43, tr.53) Đây là những biến cố khách quan, ngoài dự kiến của Đảng và Nhànước ta, chiến tranh càng làm tăng thêm gánh nặng, khó khăn cho đất nước vốn đãkiệt quệ Đặc biệt, trong quan hệ với cộng đồng quốc tế, lấy lý do Việt Nam đưaquân đội vào Campuchia, Liên hợp quốc (đứng đầu là Trung Quốc và Mỹ) thựchiện bao vây cấm vận toàn diện đối với Việt Nam
- Chúng ta có những sai lầm chủ quan, nóng vội khi tiến hành xây dựng CNXH,
có những sai lầm trong chính sách đối ngoại của mình
Tư tưởng chủ quan, nóng vội, muốn tiến nhanh lên CNXH trong một thời gianngắn, đã dẫn đến những khó khăn về KT-XH…
Đất nước bị khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội.
Những khó khăn về kinh tế, nhiều vấn đề yếu kém trong quản lý, lãnh đạo
và tổ chức, quản lý xã hội dần bộc lộ khiến cho Việt Nam rơi vào khủng hoảngkinh tế - xã hội; đồng tiền bị mất giá, lạm phát “phi mã” đến hơn 775%; đời sốngcủa nhân dân vô cùng khó khăn, các hiện tượng tiêu cực, xuống cấp về đạo đức
xã hội xuất hiện
3 Từ yêu cầu, nhiệm vụ của công tác đối ngoại trong sự nghiệp đổi mới
- Đẩy mạnh hội nhập quốc tế, tranh thủ thời cơ, vượt qua thách thức đưa
đất nước phát triển nhanh, bền vững, sớm trở thành một nước công nghiệp.
Trang 14- Thiện hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ đối ngoại.
- Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, tạo động lực mạnh mẽ cho sự nghiệp công hóa, hiện đại hóa đất nước
II Sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại trong sự nghiệp đổi mới đất nước
1 Giai đoạn 1986-1996: Xác lập đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, mở
rộng, đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ quốc.
Trong công cuộc đổi mới, Đảng ta đã và luôn vận dụng sâu sắc tư tưởng đốingoại của Hồ Chí Minh, với một chính sách độc lập, tự chủ, song phải mở rộngquan hệ đối ngoại với các nước, phục vụ cho sự nghiệp cách mạng của Đảng vànhân dân ta
Tư tưởng đối ngoại của Hồ Chí Minh luôn kiên định mục tiêu chiến lược, cósách lược mềm dẻo, hình thức biện pháp linh hoạt sáng với một phương phâm: “Dĩbất biến ứng vạn biến”
Người đặc biệt quan tâm phát huy sức mạnh dân tộc, độc lập, tự chủ, tự lực,coi đó là nguồn lực nội sinh giữ vai trò quyết định Bởi, “nếu tự mình không cóthực lực làm cơ sở thì không thể nói gì đến ngoại giao”(13); “Muốn người ta giúpcho thì trước mình phải tự giúp lấy mình đã”
Trong mở rộng, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế, Hồ Chí Minh luôn khẳngđịnh:“muốn làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai”
- Tháng 1-1950, Người nói “Chính sách ngoại giao của Chính phủ thì chỉ có mộtđiều tức là thân thiện với tất cả các nước dân chủ trên thế giới để giữ gìn hòa bình”
Trang 15Người còn chỉ rõ: “Trên nguyên tắc bình đẳng và hai bên cùng có lợi, chúng tôi sẵnsàng đặt quan hệ ngoại giao và thương mại với tất cả các nước”.
* Đại hội VI ( 12 /1986) :
- Đại hội VI khởi xướng công cuộc đổi mới của đất nước, mở đầu cho chính
sách đối ngoại đổi mới của Đảng ta.
-
Đại hội chủ trương: kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại
Đại hội đại hiểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng, xuất phát từ tinh thần nhìnthẳng vào sự thật, đã phân tích, đánh giá đúng những thuận lợi và khó khăn của đấtnước từ đó đổi mới toàn diện, trước hết là đổi mới về kinh tế Trong công cuộc đổimới toàn diện, đổi mới đối ngoại là một bộ phận hữu cơ không thể tách rời quátrình đó Đại hội lần thứ VI của Đảng vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh, đặt cơ sởcho đổi mới tư duy chính sách đối ngoại khi khẳng định: “Trong những năm tới,nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước ta trên lĩnh vực đối ngoại là ra súc kết hợp sứcmạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại”2. (Văn kiện Đảng toàn tập, t.47,tr.433)
- Thực hiện “thêm bạn, bớt thù”, mở rộng quan hệ quốc tế trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, cùng có lợi
Cụ thể:
+ Tăng cường quan hệ đặc biệt giữa ba nước Đông Dương, chủ trương hợp
tác toàn diện, giúp đỡ lẫn nhau, coi đây là quy luật sống còn và phát triển của cả badân tộc anh em
Trang 16Đại Hội khẳng định: “Tăng cường quan hệ hữu nghị đặc biệt giữa ba nướcĐông Dương” – “Tiếp tục làm tròng nghĩa vụ quốc tế với Campuchia và Lào” ”3 (Văn kiện Đảng toàn tập, t.47, tr.433).
+ Xác định quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn diện với Liên Xô luôn luôn làhòn đá tảng trong chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta
Đại hội khẳng định: “Tăng cường đoàn kết và hợp tác toàn diện với Liên Xôluôn là hòn đã tảng trong chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta”4 (Văn
đã tháo nút thắt trong quan hệ Việt – Trung
3 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.47, tr.433
4 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.47, tr.433
5 Xem Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toànquốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội 1987, tr.99-102
6 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.47, tr.561
Trang 17Hồ Chí Minh chủ động xây đắp nên mối quan hệ “vừa là đồng chí vừa là anhem” Ngay từ những năm 1940, Người đã khẳng định: “Trung - Việt khác nào môivới răng Môi hở thì răng buốt, cứu Trung Quốc là tự cứu mình”(10) và “LiênHoa”, “liên hệ mật thiết với Trung Quốc” là một trong những điều kiện quan trọngcủa của cách mạng Việt Nam, trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, phongtrào giải phóng dân tộc Việt Nam
với các nước có chế độ chính trị khác nhau.” (Văn kiện Đảng toàn tập, t.47, tr.439)
Đây là tiền đề quan trọng cho sự đổi mới nhận thức, đôie mới quan điểm,
từ đó giải quyết những vấn đề tranh chấp, phá vỡ thế bao vây cấm vận, cải thiệnquan hệ với các nước láng giềng, các nước lớn trong những năm tiếp theo
Tuy đã bắt đầu coi trọng quan hệ với các nước Đông Nam Á, song
chủ trương của chúng ta vẫn đề cập quan hệ song phương, chứ chưa phải là đaphương, chưa gia nhập ASEAN Điều này cho thấy, ở Đại hội VI, hội nhập ViệtNam - ASEAN chưa đặt trong đường lối đối ngoại của Đảng ta Tuy nhiên, do mọiquan hệ đa phương theo hướng hội nhập đều được hình thành trên cơ sở phát triểnquan hệ song phương, đây cũng có thể được coi là bước đi đầu tiên góp phần xâydựng tiền đề cho quan điểm hội nhập sau này
Đứng trước bối cảnh đất nước phải đối mặt chiến tranh biên giới phía bắc…;biên giới Tây Nam… ; Liên Xô, Đông Âu; đặc biệt sự kiện Trung Quốc đánhchiếm Giạc Ma t3/1988 …Hoàn cảnh buộc chúng ta phải nâng tầm tư duy, đổi mới
đồng bộ, toàn diện đất nước trong đó có đổi mới tư duy đối ngoại
Có thể nói, Đại hội VI của Đảng đã đặt nền móng cho việc đổi mới đườnglối đối ngoại của Đảng ta Sự đổi mới đường lối đối ngoại của Đảng căn cứ vào
Trang 18và hành động theo quy luật khách quan”7 Trong vấn đề này, Đảng đã chỉ rõ: “Đảng
ta trước hết phải thay đổi nhận thức, đổi mới tư duy Phải nhận thức đúng đắn vàhành động phù hợp với hệ thông quy luật khách quan, v.v ”8
Rõ ràng, việc nhận thức của Đảng ta trở về với tư tưởng Hồ Chí Minh về đốingoại: “Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới”, vì thế phải chịu tácđộng của các xu hướng vận động chung trên thế giới Chúng ta không thể đứngngoài, phát triển biệt lập mà phải hòa mình vào dòng phát triển chung của nhânloại Mở rộng quan hệ nhiều mặt với bên ngoài là con đường cần thiết để pháttriển, giữ vững ổn định và an ninh, vv
Nhà nghiên cứu Eero Palmujoki nhận xét rằng, Việt Nam đã “xóa bỏ một sốkhái niệm cũ, như “ai thắng ai” và “ba dòng thác cách mạng”, đưa nhiều thuậtngữ mới Những cụm từ then chốt mới này là “cách mạng khoa học kỹ thuật thếgiới”, “sự tùy thuộc”, hay sự phụ thuộc lẫn nhau, “xu thế quốc tế hóa” và “một trật
tự quốc tế”9
> Tháng 5/1988, BCT ra NQ số 13 về nhiệm vụ và chính sách đối ngoại trong
tình tình mới:
Hội nghị khẳng định mục tiêu chiến lược và lợi ích cao nhất của Đảng và nhân
dân ta là phải củng cố và giữ vững hoà bình để tập trung sức xây dựng và phát triển KT
Thực tế trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, với hành động hiếu chiến của đếquốc Mỹ, Hồ Chí Minh vẫn luôn kiên định lập trường trước sau như một: ''Về quan
hệ quốc tế, chúng tôi luôn luôn trung thành với chính sách hòa bình và hợp tác giữa
7Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.47, tr.433
8Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.47, tr.433
9Xem Edited by, Carlyle A Thayer, Ramses Amer: VietnameseForeign Policy in
Transition, Institute of Southeast Asian Studies, p.18-19
Trang 19các nước trên cơ sở năm nguyên tắc chung sống hòa bình''7 Theo Hồ Chí Minh''giữ gìn hòa bình thế giới tức là giữ gìn lợi ích của nước ta Vì lợi ích của nhân dânlao động khắp thế giới là nhất trí''8 Đây là những nội dung trong tư tưởng đốingoại của Hồ Chí Minh được Đảng ta vận dụng sáng tạo trong công cuộc đổi mới.
Hội nghị chủ trương kiên quyết chủ động chuyển từ tình trạng đối đầu sang hợp
tác trong cùng tồn tại hoà bình
Nghị quyết nêu rõ quyết tâm, chủ động chuyển từ tình trạng đối đầu sang hợptác trong cùng tồn tại hòa bình Hội nghị đã nhận định rằng, “xu thế đấu tranh vàhợp tác song song cùng tồn tại giữa các nước có chế độ xã hội khác nhau đangngày càng phát triển” Đánh giá này là quan trọng bởi chúng ta phải tôn trọng sựvận động có xu thế khách quan này Sự khác biệt về chế độ chính trị - xã hội khôngphải là trở ngại có tính quyết định cho sự hợp tác quốc tế như quan niệm trước kia
Hội nghị chỉ ra tranh thủ vị trí có lợi nhất trong phân công lao động quốc tế
Kiên quyết mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, ra sức đa dạng hóa quan hệ đối ngoại
Nghị quyết Trung ương 13 khóa VI năm 1988 đã xác định nhiệm vụ đối ngoại
trong tình hình mới là “giữ vững hòa bình, phát triển kinh tế”, nhấn mạnh chính sách
“thêm bạn bớt thù”, đa dạng hoá quan hệ trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ
quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, hợp táccùng có lợi…
Nghị quyết số 13 của BCT khoá VI, thay đổi cách tiếp cận về lợi ích quốcgia, an ninh quốc gia theo hướng toàn diện hơn; coi môi trường hoà bình, ổn định
và phát triển của khu vực là môi trường tồn tại và phát triển của Việt Nam Nghị