Câu văn như cánh cửadịu dàng mở ra, dẫn người đọc vào một thế giới đầy ắp những sự việc, nhữngcon người, những cung bậc tâm tư tình cảm đẹp đẽ, trong sáng, rất đáng nhớ,đáng chia sẻ và m
Trang 1BÌNH GIẢNG (PHÂN TÍCH CÁC VĂN BẢN) NGỮ VĂN 8
TÔI ĐI HỌC của Thanh Tịnh.
Hồi đầu năm lớp 7, học bài cổng trường mở ra, hẳn mỗi chúng ta không
quên tấm lòng người mẹ biết bao bổi hồi xao xuyến trong ngày đầu dẫn con đihọc Người mẹ ấy bồi hồi xao xuyến vì đang được sống lại những kỉ niệm ngàyđầu tiên cắp sách đến trường : "Hằng năm cứ vào cuối thu Mẹ tôi âu yếmnắm lấy tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp " Câu văn đầy ắp kỉ niệmtuổi thơ trong sáng ấy đã ngân nga, trầm bổng trong lòng người mẹ vàvương vấn khôn nguôi trong tâm trí học sinh chúng ta Nhiều bạn thắc mắc : đó
là văn của ai, ở trong tác phẩm nào ? Giờ đây, vào ngay trang đầu của sách
Ngữ văn 8, chúng ta tìm được xuất xứ và tác giả của câu văn ấy Thú vị quá !
Thú vị hơn nữa là, qua truyện ngắn đậm chất hồi kí Tôi đi học của nhà văn
Thanh Tịnh, chúng ta được sống lại những kỉ niệm tuổi thơ mơn man, trongsáng ở buổi tựu trường đầu tiên
Ngay mấy dòng đầu tác phẩm, nhà văn đã so sánh một cách ấn tượng : "Tôiquên thế nào được những cảm giác trong sáng ấy nảy nở trong lòng tôi nhưmấy cành hoa tươi mỉm cười giữa bầu trời quang đãng" Câu văn như cánh cửadịu dàng mở ra, dẫn người đọc vào một thế giới đầy ắp những sự việc, nhữngcon người, những cung bậc tâm tư tình cảm đẹp đẽ, trong sáng, rất đáng nhớ,đáng chia sẻ và mến thương Trung tâm của thế giới ấy là cậu học trò nhỏ ngàyđầu tiên tới trường, trong lòng nảy nở biết bao ý nghĩ, tình cảm xao xuyến, mới
lạ, suốt đời không thể quên
Trên con đường cùng mẹ tới trường, nhân vật "tôi" — cậu bé lớp năm, lớpđầu cấp tiểu học ấy - đã nhìn cảnh vậtxung quanh và cảm thấy tâm trạng mìnhthế nào ? Buổi mai ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh Con đường
làng dài và hẹp vốn rất quen thuộc, tự nhiên cậu bé thấy lạ, thấy cảnh vật xung
quanh đều thay đổi Vì sao vậy ? Vì chính "lòng tôi đang có sự thay đổi lớn :hôm nay tôi đi học" Đối với một em bé mới chỉ biết chơi đùa, qua sông thả
diều, ra đồng chạy nhảy với bạn, đi học quả là một sự kiện lớn, một đổi thay
quan trọng, đánh dấu bước ngoặt của tuổi thơ Vì thế "tôi" cảm thấy trangtrọng, đứng đắn với bộ quần áo, với mấy quyển vở mới trên tay Vì thế, "tôi"muốn thử sức mình, xin mẹ cho được cầm bút, thước như các bạn khác Một ýnghĩ non nớt, ngây thơ nảy nở trong đầu : "chắc chỉ người thạo mới cầm nổi bút
thước" Ý nghĩ ấy thoáng qua nhẹ nhàng như một làn mây lướt ngang trên
ngọn núi Lại một so sánh thú vị nữa ! Ý nghĩ của một em nhỏ mới cắp sách tới
trường muốn nhận thức về một nhiệm vụ trong cuộc sống, được mường tượngtrong hình ảnh "một làn mây lướt ngang trên ngọn núi" như muốn biểu hiện nétdịu dàng, trong sáng và khát vọng vươn tới của một tâm hồn trẻ thơ
Đi hết con đường làng, cậu học trò nhỏ tới sân trường Nhìn quang cảnh
Trang 2nhà trường, khi nghe gọi tên, rồi phải rời tay mẹ đi vào lớp học, tâm trạng ngỡngàng, cảm giác mới lạ trong "tôi" mới thực sự vô cùng xáo động Nhà văn đãdùng nhiều hình ảnh, nhiều chi tiết cụ thể biểu hiện những cung bậc tâm trạng
ấy của cậu bé Trước hết, cậu thấy "ngôi trường trông vừa xinh xắn vừa oai
nghiêm sân nó rộng, minh nó cao”, sừng sững "như cái đình làng" Rồi cảm
thấy mình nhỏ bé làm sao và "đâm ra lo sợ vẩn vơ" Tiếp sau, cậu bé thấy họctrò, thầy’CÔ giáo, người lớn, trẻ con đông đúc, thấy mấy bạn mới cũng đang sợsệt lúng túng, e ngại như mình "Họ như con chim con đứng bên bờ tổ, nhìn
quãng trời rộng muốn bay, nhưng còn ngập ngừng e sợ" Hình ảnh so sánh thứ
ba này của tác giả thật tinh tế Nó vừa tả đúng tâm trạng nhân vật, vừa gợi chongười đọc liên tưởng về một thời tuổi nhỏ đứng giữa mái trường thân yêu Máitrường đẹp như cái tổ ấm, mỗi học trò ngây thơ, hổn nhiên như một cánh chimđầy khát vọng và biết bao bồi hồi lo lắng nhìn bầu trời rộng, nghĩ tới nhữngchân trời học vấn mênh mang, Vì thế, khi nghe gọi đến tên mình, cậu học trò
"tự nhiên giật mình và lúng túng" Nhà văn đã dùng rất nhiều động từ đặc tả
tâm trạng của nhân vật : ngập ngừng, e sợ, rụt rè, lụng túng, dềnh dàng,
run run, Riêng từ láy lúng túng điệp tới bốn lần : "Chung quanh là những
cậu bé lúng túng" ; "Nghe gọi đến tên, tôi tự nhiên giật mình và lúng túng” ;
"Chúng tôi được người ta ngắm nhìn đã lúng túng, càng lúng túng hơn",
Đây là một từ có nghĩa khái quát, đã được nhà văn sử dụng chính xác, diễn tảnhiều tâm trạng, miêu tả chân thực cử chỉ, ánh mắt, ý nghĩ, cảm giác, hồnnhiên, trong sáng của cậu học trò trong buổi tựu trường đầu tiên Nó gợi chongười đọc chúng ta nhớ lại những kỉ niệm tuổi thơ đẹp đẽ Nó giúp chúng tahiểu sâu thêm nỗi lòng nhân vật và tài năng kể chuyện của tác giả Đỉnh caocủa tâm trạng lúng túng là khi các cậu học trò nhỏ rời bàn tay, buông chéo áo củangười thân để đứng vào'hàng chuẩn bị vào lớp thì "một cậu ôm mặtkhóc", "tôi dúi đầu vào lòng mẹ nức nở khóc theo " và "trong đám học tròmới vài tiếng thút thít đang ngập ngừng " Thú vị làm sao ! Vừạ lúc nãy, trênđường tới trường, các cô, các cậu náo nức, muốn tỏ ra mình đã lớn, cũng vừalúc nãy, cảm thấy hãnh diện vì mình được nhiều người chú ý, vậy mà giờ đâylại khóc Tiếng khóc như một phản ứng dây chuyền, rất tự nhiên, rất ngây thơ
và giàu ý nghĩa Nó là sự tiếc nuối những ngày chơi đùa thoải mái, sự lưu luyếnnhững người thân yêu, Nó cũng là những e sợ trước một thời kì thử tháchkhông ít khó khăn, hay nó cũng là một niềm vui, niềm quyết tâm để bước vàomột thế giới khác lạ mà đầy hấp dẫn ? Miêu tả cụ thể ba dạng khóc : "ôm mặtkhóc", "nức nở khóc" và "thút thít", thêm một lần nữa, cây bút văn xuôi ThanhTịnh
truyền cảm biết bao, trữ tình biết bao, thấu tỏ lòng người biết bao ! Thực ra,đây đâu phải ông viết văn, mà là ông đang sống lại những kỉ niệm của chínhmình, ông giãi bày tuổi thơ của chính mình Những kỉ niệm, ấy trong sáng và
Trang 3chân thực vô cùng.
Đến những phút cuối của buổi tựu trường, cảm giác của nhà văn (cũng làcủa nhân vật "tôi", cậu học trò nhỏ) càng trong sáng và chân thực hơn Ngồitrong lớp, cậu bé thấy xốn xang những cảm giác lạ và quen đan xen, trái ngượcnhau Thấy "một mùi hương lạ xông lên trong lớp", "hình gì treo trên tường tôicũng thấy lạ", nhưng cậu bé nhìn bàn ghế chỗ mình ngồi "tự nhiên lạm nhậnlàm vật riêng của mình", nhìn người bạn ngồi bên "không cảm thấy xa lạ chútnào", Có thể nói, đoạn văn kết thúc câu chuyện ngắn gọn mà hiện lên nhiềuhình ảnh rất đẹp và giàu ý nghĩa Một chú chim nhỏ hót mấy tiếng rụt rè, vỗcánh bay cao Mắt "tôi" thèm thuồng nhìn theõ Kỉ niệm bẫy chim giữa đồnglúa vẫy gọi Tiếng phấn và chữ viết của thầy giáo nhắc nhở, níu giữ, đưa về, Cuối cùng là "tôi vòng tay lên bàn chăm chỉ nhìn thầy viết và lẩm nhẩm đánhvần đọc " Phải chăng đây là phút sang trang của một tâm hồn trẻ dại, tạm biệt thếgiới ấu thơ chỉ biết nô đùa, nghịch ngợm để bước vào thế giới tuổi học trònghiêm chỉnh đầy khó khăn mà biết bao hấp dẫn
Dẫn dắt’ đón chào các em vào cái thế giới ấy là những người mẹ, nhữngphụ huynh, các thầy, cô giáo Mẹ "tôi" nắm tay "tôi" đưa từ nhà đến trường.Các phụ huynh khác đều chuẩn bị chu đáo mọi thứ cho con em, đều trân trọngtham dự buổi lễ khái trường Trái tim mỗi người như cũng bồi hồi, xao xuyếntheo từng nhịp đập trái tim của con trẻ Còn các thầy cô giáo từ "ông đốc" -thầy hiệu trưởng - đến người thầy giáo trẻ phụ trách lớp năm và các thầy, cô giáokhác, ai cũng dịu dàng, từ tốn, bao dung đón chào và động viên các emnhập trường, vào học, theo từng lớp Nếu ví các bạn nhỏ ngày đầu đi học lànhững cánh chim đang chập chững rời tổ để bay vào bầu trời bao la nhiều nắnggió thì cha mẹ, các thầy, cô giáo chính là những bàn tay nâng đỡ, những làngió đưa, những tia nắng soi đường để cánh chim được cất lên mạnh dạn,khoáng đạt trên bầu trời Nhờ những bàn tay vững vàng, những làn gió mát,những tia nắng chan chứa tình thương và trách nhiệm ấy, cậu học trò trong câuchuyện này đã nhanh chóng hoà nhập vào cái thế giới kì diệu của mái trường
Và bạn đọc chúng ta, khi đọc tác phẩm, cũng thích thú biết bao khi được sốnglại những kỉ niệm trẻ thơ mơn man trong buổi tựu (rường đầu tiên
Vậy đấy, học truyện ngắn Tôi đi học vào những ngày đầu của năm học,
chúng ta thấm thìa rằng : Trong cuộc đời mỗi người, kỉ niệm trong sáng củatuổi học trò, nhất là ở buổi tựu trường đầu tiên, thường sẽ được ghi nhớ mãi.Nhà văn Thanh Tịnh đã diễn tả dòng cảm nghĩ này bằng tâm hồn rung độngthiết tha, một ngòi bút giàu chất thơ, một bố cục thống nhất, với các cung bậctâm trạng, nhân vật, các sự việc, chi tiết, các hình ảnh và những biện pháp tu từchặt chẽ, hài hoà, tập trung vào chủ đề của tác phẩm
Trang 4LÒNG MẸ DỊU ÊM, TÌNH CON CHÁY BỎNG
(Về đoạn trích Trong lòng mẹ trích Những ngày thơ ấu của Nguyên Hồng)
-Ngay từ khi mới xuất hiện trên văn đàn nước ta vào những năm trướcCách mạng tháng Tám 1945, nhà văn Nguyên Hổng đã được bạn đọc yêu quý Bởi
vì, ngay từ nhữQg tác phẩm đầu tay, nhà văn đã hướng ngòi bút về những ngườicùng khổ, gần gũi mà ổng yêu thương với trái tim thắm thiết của mình Đọcvăn Nguyên Hồng, chúng ta bắt gặp bao nhiêu người cùng khổ đáng cảmthông, đáng yêu thương và trân trọng Trong đó, nổi bật là những người bà,người mẹ, người chị, những cô bé, câu bé, Có nhà nghiên cứu đã nhận định :
Nguyên Hổng là nhà văn của phụ nữ và nhi đồng Đọc đoạn trích Trong lòng mẹ ~ chương IV - hồi kí Những ngày thơ ấu của Nguyên Hồng, chúng ta bắt gặp hai
người phụ nữ và một thiếu niên, cả ba nhân vật đều được nhà vãn khắc hoạbằng một ngòi bút chân thực, với một trái tim nhạy cảm Tình cảm bao trùmtoàn bộ đoạn văn là lòng mẹ dịu êm, tình con cháy bỏng, đầy ấn tượng
Tuy chỉ là một chương thuộc phần giữa của thiên hồi kí chín chương,nhưng đoạn trích -được bố cục khá chặt chẽ, rành mạch, tương đương mộttruyện ngắn Phần mở bài (từ đầu đến " sống bằng cách đó"), nêu cảnh ngộ
éo le của chú bé Hổng : cha vừa mất, mẹ bỏ nhà đi tha hương cầu thực Phầnthân bài (từ "Một hôm " đến " thơm tho lạ thường") kể câu chuyện : mặc dù
bị người cồ châm chọc, khích bác, Hổng vẫn tin yêu mẹ, nên cuối cùng đã được
gặp lại mẹ, được sống trong lòng mẹ dịu êm, chứa chan hạnh phúc Đoạn kếtbài ("Phải bé lại không mảy may nghĩ ngợi gì nữa") nhấn mạnh niềm hạnhphúc của tình mẫu tử Lần theo câu chuyện về một chặng đời thơ ấu củaNguyên Hổng - cũng là cuộc đời của biết bao em bé khổ đau trong xã hội bấygiờ - chúng ta thấy nổi bật lên hai tình huống truyện, gắn với tâm trạng tínhcách ba nhân vật : nhân vật bà cô, nhân vật bé Hổng và nhân vật người mẹ
Qua cuộc đối thoại giữa hai cô cháu ở phần thứ nhất của thân bài, nhân vật
bà cô hiện lên là một người phụ nữ mang tâm địa độc ác Mở đầu câu chuyện,
bà cô gọi bé Hồng, cười hỏi : "Mày có muốn vào Thanh Hoá chơi với mẹ mày
không ?" Sao lại cười hỏi mà không phải là lo lắng hỏi, nghiêm trang hỏi, hoặc
âu yếm hỏi, Nụ cười nửa miệng và câu hỏi thâm dò kia tưởng đã chạm tới
nỗi nhớ và tình thương mẹ của chú bé khốn khổ Nhưng không, chỉ trong giâylát, Hồng đã "nhận ra những ý nghĩa cay độc trong giọng nỏi và trên nét mặtkhi cười rất kịch kia", Điều đó nghĩa là bề ngoài, bà cô ra vẻ quan tâm đến tìnhcảm mẹ con của đứa cháu côi cút, thực chất bên trong bà ta chỉ gieo rắc vàođầu đứa trẻ nỗi hoài nghi, rồi ruồng rẫy người mẹ đang phải tha hương cầuthực Sau khi nghe cháu đáp : "Không ! Cháu không muốn vào Cuối năm thếnào mợ cháu cũng về.", một lời đáp cứng cỏi, đầy niềm tin đối với mẹ, thì bà cô
Trang 5hỏi luôn, giọng ngọt, kèm theo cái nhìn bằng đôi mắt long lanh, chằm chặp:
"Sao lại không vào ? Mợ mày phát tài lắm, có như dạo trước đâu !" Nói câunày, bà cô như ngầm báo với Hồng rằng mẹ của chú bé đã thay lòng đổi dạ,
không thương con, không gắn bó với gia đình như trước nữa Khi thấy cháu im
lặng, cúi đầu xuống đất, bà cô hẳn biết rằng lòng cháu đang thắt lại Nhưng bà
vẫn chưa tha, tiếp tục cười mà nói : "Mày cứ vào đi, tao chạy cho tiền tàu Vào mà bắt mợ mày may vá sắm sửa cho vạ thăm em bé chứ" Cái cử chỉ vỗ
vai, cái nụ cười và lời nói ấy mới giả dối, độc ác làm sao ! Điều này chứng tỏ
bà ta cố ý lôi đứa cháu đáng thương vào một trò chơi cay độc của người lớn.Đến đây, bà cô không chỉ caỳ độc, mà còn châm chọc, nhục mạ cháu Thật cayđắng bi-ết bao khi niềm tin và tình mẫu tử bị người khác - lại chính là cô mình,người gắn bó với mình bằng tình máu mủ - cứ săm soi -hành hạ Nguyên Hồng
đã kể lại vô cùng chân thực nỗi đau của đứa trẻ bị hành hạ bằng một giọng văntrĩu nặng tình đời : "Nước mắt tôi ròng ròng rớt xuống hai bên mép rồi chan
hoà đầm đìa ở cằm và ở cổ Hai tiếng em bé mà cô tôi ngân dài ra thật ngọt,
thật rõ, quả nhiên đã xoắn chặt lấy tâm can tôi như ý cô tôi muốn" Cái ý địnhnói xấu người mẹ, chia rẽ tình mẹ con của nhân vật bà cô như vậy đã đến đích
Song bà ta vẫn chưa thoả lòng Cả đến khi chú bé phẫn uất, nức nở cười dài
trong tiếng khốc, bà cô vẫn không mảy may xúc động Bà ta như vô cảm, lạnh
lùng và có phần thích thú trước nỗi đắng cay như bị xát muối trong lòng của
đứa cháu Bà ta cứ tươi cười kể các-chuyện Tình cảnh túng quẫn, hình ảnh
gầy guộc, rách rưới của người mẹ chú bé được bà cô miêu tả một cách tỉ mỉ với
vẻ thích thú rõ rệt Cho đến khi nhìn thấy đứa cháu nghẹn lời, khóc không ra
tiếng, bà cô mới đổi giọng nghiêm nghị và vỗ vai an ủi cháu, tỏ một chút xót
thương người anh trai vừa khuất, thương hại người chị dâu khổ sở, nói tới ngàygiỗ anh, nói tới việc nhắn chị dâu về, nói tới cái sĩ diện của đứa cháu, Vài lời vớtvát cuối cùng ấy tuy làm dịu đi đôi phần nỗi đau tinh mẫu tử trong tâm hồnchú bé Hồng, nhưng không xoá nổi những nét bản chất trong tính cách nhân vật
bà cô Đó là một người phụ nữ lạnh lùng, độc ác, thâm hiểm Khắc hoạ nhânvật một bà cô như thế, nhà văn Nguyên Hồng đã chân thành và mạnh dạn phêphán những người sống tàn nhẫn, khô héo cả tình máu mủ, ruột rà trong xã hộithực dân nửa phong kiến bấy giờ Câu tục ngữ cổ xưa của cha ông ta "Giặc bênNgô không bằng bà cô bên chồng" dường như đã ứng nghiệm trong nhân vật bà
cô ở đoạn trích này Đọc văn Nguyên Hồng, suy ngẫm về lời cha ông, chúng tamong rằng những bà cô của chúng ta ngày nay sẽ khác những bà cô ngày xưa Trái ngược với hình ảnh nhân vật bà cô là hình ảnh người mẹ (cũng là mộtphụ nữ) và nhân vật "tôi", bé Hồng, một thiếu nhi Cả hai đều rất đáng thôngcảm và mến thương Trước hết chúng ta hãy ngắm nhìn, và suy ngẫm về hìnhảnh người mẹ Không đợi con trai viết thư và chắc cũng chẳng cần cô em chồngnhờ người nhắn gọi về, mẹ của Hồng đã trở về nhà vào đúng "ngày giỗ đầu
Trang 6thầy tôi", nghĩa là người phụ nữ ấy không quên tình nghĩa và trách nhiệm đốivới con, với chồng và gia đình chồng "Mẹ tôi về một mình đem rất nhiều quàbánh Xe chạy chầm chậm Mẹ tôi cầm nón vẫy tôi Mẹ tôi vừa kéo tay tôi
xoa đầu tôì Mợ đã về với các con rồi mà Mẹ thấm nước mắt cho tôi rồi xốc
nách tôi lên xe " Tư thế ấy, những cử chỉ ấy và lời nói ấy mới đàng hoànglàm sao, đẹp đẽ làm sao Đẹp hơn nữa là hình hài của mẹ, sự ân cần, âu yếm
mà mẹ dành cho con Nhà văn đã dành những lời đẹp nhất miêu tả người mẹ
" Mẹ tôi không còm cõi xơ xác quá như cô tôi nhắc lại lời người họ nội củatôi Gương mặt mẹ tôi vãn tươi sáng với đôi mắt trong và nước da mịn, làm nổibật màu hồng của hai gò má " Trên quãng đường ngắn, ngồi xe tay bên đứacon trai bé bỏng cồi cút, được ôm ấp cái hình hài máu mủ của mình, người mẹ
đã trẻ lại, tươi đẹp như thuở nào Và người mẹ ấy đã truyền cho đứa con bao
nhiêu là niềm vui, hạnh phúc, thật êm dịu vô cùng, đúng như lời kể của nhà
văn Rõ ràng, hình ảnh và tấm lòng người mẹ ấy hoàn toàn không như nhữnglời xúc xiểm, những ý nghĩ cay độc, thành kiến của bà cô Sau nhân vật bà cô,khắc hoạ chỉ bằng vài nét chấm phá giản dị nhân vật người mẹ như thế, phảichăng nhà văn muốn gợi cho người đọc sự đối sánh về chân dung những ngườiphụ nữ Việt Nam thời bấy giờ Và cũng từ đó, nhà văn bày tỏ thái độ yêu ghét rõràng mà chủ yếu là nỗi đau và tình thương, thương những lầm lỡ của con người,thương kiếp người gặp nhiều gian truân, tủi cực
Bên cạnh nhân vật người mẹ mang nhiều nét đẹp, nhân vật chú bé Hồnghiện lên với biết bao suy nghĩ và cảm xúc, cũng thật là đẹp, đáng chia sẻ, đángtrân trọng Qua nhân vật này, chúng ta không chỉ cảm nhận những cung bậctâm trạng của một chú bé rất mực tin yêu mẹ mà còn hiểu cụ thể, sâu sắcnhững nét đặc trưng của thể văn hồi kí, một thể văn đậm chất trữ tình Chất trữtình thống thiết của ngòi bút Nguyên Hồng thể hiện bằng lời kể của nhân vât
"tôi" (tức bé Hồng) với những diễn biến tâm trạng theo trình tự thời gian tronghai mối quan hệ : quan hệ với bà cô và quan hệ với người mẹ, rất cụ thể
Khi nói chuyện với bà cô, bé Hổng chịu bao nhiêu đau đớn, uất ức, nhưngvẫn một lòng tin yêu mẹ Nghe lời nói thứ nhất của bà cô, lập tức trong kí ứcchú bé sống dậy hình ảnh người mẹ ở nơi xa, cơ cực, vất vả Từ cử chỉ "cúi đầu
không đáp" đến lúc cười và đáp lại : "cuối nãm thế nào mợ cháu cũng về" là
một phản ứng thông minh xuất phát từ sự nhạy cảm và lòng tin yêu mẹ của chú
bé Chú đã nhanh chóng nhận ra ý nghĩa cay độc trong lời bà cô và cố gắng giữvững tình thương yêu và lòng kính mến mẹ, Nhưng vì tuổi thơ non nớt, nên đếnlời nói thứ hai, thứ ba của bà cô, lòng chú bé "càng thắt lại, khoé mắt đã caycay", rồi "nước mắt ròng ròng, rớt xuống hai bên mép rồi chan hoà đầm đìa ởcằm và ở cổ " Nỗi đau, sự day dứt đã lên đến đỉnh cao Trong tâm hổn nonnớt ấy, diễn ra một mâu thuẫn : "Tôi thương mẹ tôi và căm tức sao mẹ tôi lại vì
sợ hãi những thành kiến tàn ác mà xa lìa anh em tôi, để sinh nở một cách giấu
Trang 7giếm " Tình thương, niềm tin yêu và một chút ngờ vực đối với người mẹ nhưđang nổi bão, giằng xé trong lòng chú bé Nhưng chú vẫn cố kìm nén để giữvững tình yêu và niềm tin Vì thế, bé Hồng đã "cười dài trong tiếng khóc" hỏilại bà cô về cái tin sét đánh kia Nỗi uất ức và đau đớn như chuyển sang trạngthái chai lì, bướng bỉnh Khi nghe bà cô tươi cười kể lể tình cảnh khốn khổ của
mẹ mình thì "cổ họng tôi đã nghẹn ứ khóc không ra tiếng" Và một ý nghĩ táotợn bất cần, đầy phẫn nộ đã trào sôi như cơn dông tố trong lòng chú bé : "Giánhững cổ tục đã đày đoạ mẹ tôi là một vật như hòn đá hay cục thuỷ tinh, đầumẩu gỗ, tôi quyết vổ ngay lấy mà cắn, mà nhai, mà nghiến cho kì nát vụn mớithôi" Một câu văn biểu cảm và một hình ảnh so sánh đặc sắc ! Nguyên Hồng
đã sử dụng các từ cắn, nhai, nghiến, nằm trong một trường nghĩa đặc tả tâm
trạng uất ức, căm giận của nhân vật Đến đây, tình thương và niềm tin đối với
mẹ đã xui khiến người con hiếu đễ ấy suy nghĩ sâu hơn, xúc cảm rộng hơn Từcảnh ngộ riêng của người mẹ, từ những lời nói kích động của người cô, bé Hồngnghĩ tới những "cổ tục", cãm giận cái xã hội cũ kĩ đầy đố kị, thành kiếnđộc ác đối với những người phụ nữ gặp hoàn cảnh éo le Từ câu chuyện riêngcủa đời mình, Nguyên Hồng đã truyền tới người đọc những nội dung mang ýnghĩa xã hội bằng những dòng văn giàu cảm xúc và có hình ảnh, rất ấn tượng.Qua cuộc đối thoại và những cung bậc cảm xúc ,của bé Hồng trước bà cô,chúng ta thông cảm với những nỗi đau thấm thìa, đồng thời rất trân trọng mộtbản lĩnh cứng cỏi, một tấm lòng thiết tha của người con rất mực thương và tinyêu mẹ
Nhờ tình thương và niềm tin ấy, đến khi gập mẹ, bé Hồng đã nhận đượcniềm sung sướng, hạnh phúc lớn lao Như trên ta đã biết, người mẹ của bé Hồngtrở về đúng thời điểm quan trọng nhất, đã xua tan mọi đau đớn, dằn vặt trongtâm hồn chú bé Mới chỉ thoáng thấy một bóng người giống mẹ, chú bé Hồng đãvội vã, bối rối, vừa chạy theó vừa gọi mẹ Được ngồi lên xe cùng mẹ, chú bé "oà
lên khóc rồi cứ thế nức nở" khiến cho người mẹ cũng "sụt sùi theo" Ba từ oà,
nức nở, sụt sùi cùng trường nghĩa, nối nhau miêu tả các dạng thức đặc biệt của
tiếng khóc, của những dòng lệ Đây là âm thanh, là nước mắt của biết bao nỗiniềm, tâm trạng hai mẹ con : tủi hận, tự hào, bàng hoàng, sung sướng, Cảmgiác sung sướng của đứa con khi được ngồi kề bên mẹ, được ôm ấp trong lòng
mẹ cứ dâng lên từng giây, từng phút Trước hết, chú được tận mắt nhìn thấy mẹ,
"nhân ra mẹ tôi không còm cõi xơ xác quá Gượng mặt mẹ tôi vẫn tươi sáng vớiđôi mắt trong và nước da mịn, làm nổi bật màu hồng của hai gò má ” Có đượcmột người mẹ như thế, chú bé nào chẳng vui sướng, tự hào, huống chi là béHồng, đứa trẻ côi cút từng mong gặp lại mẹ đến cháy lồng, cháy ruột, từng phảiđấu tranh với người khác cố ý nói xấu mẹ mình, chia rẽ tình mẹ con Tiếp sau,chú bé được mẹ ôm ấp "đùi áp đùi mẹ tôi, đầu ngả vào cánh tay mẹ tôi, hơiquần áo mẹ tôi và những hơi thở ở khuôn miệng xinh xắn nhai trầu phả ra lúc đó
Trang 8thơm tho lạ thường " Chỉ một đoạn văn ngắn mà nhà văn đã sử dụng dổn dập
bao động từ, tính từ, nhất là những danh từ cùng trường nghĩa : gương mặt, đôi
mắt, nừớc da, gò má, đùi, đầu, cánh tay, da thịt, khuôn miệng, miêu tả vô cùng
sinh động niềm hạnh phúc lớn lao tưởng như tới đỉnh điểm của tình mẫu tử Đâythực sự là những cảm giác "mơn man" ngây ngất, đắm say mà vô cùng êm dịu củatình máu mủ, ruột thịt mà những đứa trẻ bất hạnh không dễ gì có được Nhà văn
đã dựng lại một bức tranh tràn ngập ánh sáng, đường nét rõ ràng, hài hoà, trong
đó là những sắc màu tươi tắn, thoang thoảng hương thơm Đó là một hình ảnh vềmột thế giới đang bừng nở, hồi sinh, một thế giới dịu dàng kỉ niệm, ăm ắp tìnhngười Sống trong thế giới đó, chú bé Hồng bồng bềnh trôi trong cảm giác sungsướng, rạo rực, ru mình trong tình mẹ dịu êm, tự hào, hãnh diện được đền đápbởi tấm lòng người con hiếu thảo thương và tin yêu mẹ đến cháy lòng Cái cảmgiác mình đang bé lại - hay niềm khát khao được bé lại - để làm nũng mẹ, đểhưởng sự vuốt ve, chiều chuông của mẹ cứ lâng lâng, tiếp nối khiến chú bé nhưđang sống trong mơ vậy Mọi điều xấu xa, sai lệch mà bà cô gieo vào tâm hồnthơ dại của chú bé bay biến đi hết cả Xung quanh, từ thế giới bên ngoài vàosâu trong tận cùng cõi tâm linh của chú bé và người mẹ dường như chỉ là niềmhạnh phúc giản dị mà thiêng liêng, hiện thực mà lãng mạn, đầy mộng mơ, Cóthể nói, càng vể cuối câu chuyện, ngôn ngữ văn chương càng linh hoạt, sốngđộng, tình cảm người viết càng dạt dào Đúng là nhà vãn đang sống lại những
kỉ niệm tuổi thơ của mình để tâm tình, chia sẻ với bạn đọc, cùng bạn đọc thấmthìa những khúc nhôi buồn, vui, cay, đắng, ngọt ngào của lòng mẹ yêu con,tình con tin yêu mẹ,
Tóm lại, bằng lời văn chân thực, giàu cảm xúc, đoạn trích Trong lòng mẹ
đã kể lại nỗi cay đắng, tủi cực và tình yêu thương cháy bỏng của nhà văn đốivới người mẹ trong thời thơ ấu Trong đoạn trích, các nhóm từ cùng trườngnghĩa được sử dụng sát hợp với một bố cục các phần, các đoạn rành mạch chặtchẽ, giọng văn trữ tình, đúng thể văn hồi kí Những nhân vật - hai người phụ
nữ và một em thiếu niên - được khắc hoạ rõ nét, chân thực và sinh động
Nguyên Hồng đích thực là nhà vãn của phụ nữ và nhi đồng Đoạn trích Trong
lòng mẹ là bài ca cảm động về lòng mẹ dịu êm, tình con cháy bỏng, bài ca về
tình mẫu tử thiêng liêng, bất diệt
Trang 9TỨC NƯỚC VỠ BỜ
(Về chương XVIII - tiểu thuyết Tắt đèn của Ngô Tất Tố)
"Tức nước vỡ bờ", câu tục ngữ nêu một quy luật của tự nhiên, mà có ýnghĩa xã hội sâu sắc, thâm thuý vô cùng Tác giả sách giáo khoa đã vân dụngcách nói dân gian ngắn gọn, rất thông minh ấy để đặt tên cho chương XVIII
của tiểu thuyết Tắt đền khi chọn đưa vào sách giáo khoa từ buổi đầu xây dựng
nhà trường XHCN Việt Nam, cũng thật sâu sắc và thâm thuý vô cùng Nhờ vậy,ngày nay đọc lại chương truyện này, chúng ta dễ dàng định được hướng đi, để cảmnhận những tình huống hấp dẫn, những hình tượng nhân vật sống động,điển hình Những điều gì làm "tức nước" ? Khi nào thì nước phá vỡ bờ ? Nướcphá, bờ vỡ ra sao ? Ý nghĩa của cuộc công phá và sự đổ vỡ ? Nghĩa đen,nghĩa bóng ? Quy luật của tự nhiên, quy luật của xã hội ?
Những điều gì làm tức nước ? Trước hết, ấy là dồn dập những trận dông tố
bất công phi lí từ chính sách thuế thân quái gở của thực dân Pháp, đến những
thủ đoạn bóc lột trắng trợn của gia đình nhà Nghị Quế, những hành động dãman của bọn lí dịch trong làng dội xuống gia đình chị Dậu Chính chị Dâu -nạn nhân trực tiếp của những cơn dông tố ấy - ở giữa nhà lí trưởng, đã phải hét
to lên những lời uất nghẹn này: "Ôi trời ơi! Tôi bán cả con lẫn chó và haigánh khoai mới được hai đồng bảy bạc Tưởng rằng đủ nộp tiền sưu cho chồng,thì chồng tôi khỏi bị hành hạ đêm nay Ai ngờ lại còn suất sưu của người chếtnữa ! Khốn nạn thân tôi ! Trời ơi ! Em tôi chết rồi còn phải đóng sưu, hở trời ?"
Ba lần người nông dân khốn khổ ấy kêu trời, hỏi đất ! Nhưng làm gì có trời
để kêu, để hỏi ? Chỉ có bọn đầu trâu mặt ngựa mà thôi Chúng không có tai đểnghe, chúng không có tim để rung cảm Chúng chỉ biết văng tục, chửi bới, ứchiếp, đánh đập, hành hạ người khác một cách dã man
Đại diện cho bọn trâu ngựa ấy là tên cai lệ và tên người nhà lí trưởng Chúngchính là những cơn bão tố, những ngọn hồng thuỷ trực tiếp làm cho cái mặt nướccuộc đời, những con sóng căm uất của chị Dậu đầy lên, căng ứ không thể kìm nénđược ! Khi anh Dậu vừa tỉnh lại, run rẩy cất bát cháo kề vào miệng định cố ăn -như cố níu giữ chút hơi tàn của cuộc sống - thì chúng sầm sập tiến vào nhà, với roisong tay thước, dây thừng, hột như những con quỷ dữ từ âm phủ hiện về "Thằngkia ! Ông tưởng mày chết đêm qua, còn sống đấy à ? Nộp tiền sưu ! Mau !" Cáigiọng khàn khàn do hút nhiều xái cũ của tên cai lệ thổi tắt phụt chút hơi tàn củaanh Dậu "khiến anh lãn đùng ra đó, không nói được câu gì" Rồi tới tấp, dồn dập,hắn quát mắng, chửi bới, đe doạ chị Dậu Trong khi người đàn bà khốn khổ vừa ôntồn, vừa tha thiết xin khất thuế, thì hắn cứ khăng khăng một mực đòi cho kì được.Hắn gọi chị Dậu là "mày", xưng là "cha", rồi xưng "ông" Hắn doạ "dỡ nhà", rồidoạ "trói cổ”'anh Dậu điệu ra đình Cuối cùng, hắn giật phắt cái thừng trong tayngười nhà lí trưởng, sẩm sập đến chỗ anh Dậu Và trắng trợn, tàn bạo hơn nữa, tên
Trang 10ác quỷ ấy đã đánh chị Dậu Hắn "bịch vào ngực chị mấy bịch", rồi "tát vào mặtchị một cái đánh bốp" Mỗi lần chị Dậu van xin, ngăn cản hắn, đỡ đòn cho anhDậu, là mỗi lần tên cai lệ hung hăng thêm, Vừa đánh, vừa chửi chị Dậu, hắn vừa
"sấn đến", "nhảy vào" cạnh anh Dậu Nhà văn đã sử dụng những từ ngữ thật sáthợp, ngắn gọn, miêu tả thật chính xác cái bản chất ác thú, không còn tính ngườicủa tên tay sai mạt hạng trong cái guồng máy bạo tàn của bọn quan lại bấy giờ.Nổi bật là những lời nói thô lỗ của hắn, như câu "Mày định nói cho cha mày ngheđấy à ", "trói cổ thằng chồng nó lại" và những từ tượng thạnh "bịch bịch"
" bốp" Chị Dậu càng lùi, càng nhịn, thì tên cai lệ càng lấn tới Tình huốngtruyện cứ căng thẳng mãi lên Bản chất súc vật của tên cai lệ phơi bày trắng trợn.Bão táp, mưa sa đã đến độ phũ phàng, bức bối Cơn lũ đã lên đến đỉnh Nước đãtức ! Sau cái tát giáng xuống chị Dậu, tên cai lệ đã bị chị "túm lấy cổ hắn, ấn dúi
ra cửa ngã chỏng quèo trên mặt đất, miệng vẫn nham nhảm thét trói vợ chồng kẻthiếu sưu" Thảm hại thay cho một kẻ cậy thế, cậy quyền, mượn uy danh lũ thốngtrị ức hiếp người dân ! Cái hình ảnh "ngã chỏng quèo", mấy tiếng nói "nhamnhảm"
và cả cái hành động "chạy thoát ra đình" để trình báo cấp trên của cai lệ được nhàvăn miêu tả thật đặc sắc Đó là những nét điển hình của bọn lính tráng, tay sai
Chúng chỉ mạnh ở cường quyền, bạo lực, còn bản chất thì yếu hèn, xấu xa Chúng
xấu từ hình dáng bên ngoài đến nhân cách bên trong Cai lệ là thế Tên người nhà
lí trưởng cũng vậy Sự thất bại của chúng sau trận hành hung và vật lộn với chịDậu là lời cảnh cáo đối với những kẻ bạo tàn, cũng là sự mỉa mai, giễu cợt mạnh
mẽ mà nhà văn nhằm vào cái bộ máy thống trị vởi một lũ quan lại, cường hào, taychân lớn nhỏ lúc bấy giờ Chúng hung hăng, tàn bạo, xảo quyệt, độc ác đến mấy,rồi cũng phải "ngã chỏng quèo" trước người đàn bà lực điền, giàu tình thương vàngang tàng, bất khuất Có thể nói, chính sách thuế thân vô lí, thuế đánh vào mạngngười sống và cả người chết, cùng những hành động ức hiếp nhân dân của bọnthống trị không có tính người là nguyên cớ làm cho nước bị tức, xô đẩy, dồn épcon người vào cái tình thế bức bách, không sao kìm nén, chịu đựng được Nước bịtức thì phải nổi sóng, tràn ra Và phá vỡ bờ !
Nước tức, phá vỡ bờ như thế nào ? Chị Dậu là biểu tượng cho những đợt sóngcồn tức nước và sức mạnh công phá, đạp vỡ mọi bãi bờ Giữa cơn hồngthuỷ sưu thuế khốc liệt ở làng Đông Xá những ngày ấy, chị Dậu đã chịu baonỗi đắng cay, tủi nhục Nào bán con, bán chó, bán hai gánh khoai - những củacải cuối cùng của gia đình Nào chăm sóc người chồng bị ốm đau, bị đánh trói.Nào dỗ con nhỏ, nào cầu cạnh nhà Nghị Quế, van xin lí trưởng, rồi than khóctru tréo, kêu trời, hỏi trời, Mọi viêc ấy, chị đều đảm đương, mọi khổ đau ấy,chị đều chấp nhận Không một chút phàn nàn với chồng con, không một lời ânhận về vai trò, trách nhiệm của người vợ, người mẹ - giờ đây chị trở thành trụcột trong gia đình Tất cả cái gánh nặng gia đình đè lên vai, chị vẫn bình tĩnh lo
Trang 11toan, cố gắng chu tất mọi việc Tình thương, tấm lòng vị tha, đức hi sinh vànghị lực, đã giúp cho người phụ nữ nông dân ấy đứng vững trước mọi bão tố.Đến giây phút căng thẳng nhất - lúc anh Dậu ngất như một cái xác bị bọntuần đinh quẳng về nhà - chị vẫn cố gắng giữ bình tĩnh để chăm sóc, cứu anhkhỏi tay thần chết Buổi sáng hôm ấy, chị mới dịu dàng làm sao ! Nấu xongcháo, quạt nguội, bưng bát cháo đến tận chỗ chồng nằm, chị động viên anh :
"Thầy em hãy cố ngồi dậy húp ít cháo cho đỡ xót ruột" Lúc bọn cai lệ sầm sậpvào nhà, chị vẫn dịu dàng và bình tĩnh Nói với bọn chúng, giọng chị run run :
"Nhà cháu đã túng lại phải đọng cả suất sưu của chú nó nữa, nên mới lôi thôinhư thế Chứ cháu có dám bỏ bễ tiền sưu của nhà nước đâu" Lời nói thật rànhmạch, rất có lí, có tình Trong ứng xử vói bọn cai lệ, chị Dậu cũng luôn giữ thái độnhã nhặn, nhún nhường, đủ tình, đủ lí Khi bọn cai lệ nói năng thô tục, chị Dậu vẫngọi chúng là "ồng", "các ông", xưng là "cháu", "nhà cháu" Hai lần chị xin chúng :
"Hai ông làm phúc nói vói ông lí hãy cho cháu khất" , "Nhà cháu đã không có Xinông trông lại !" Lần thứ ba, chị van lạy chúng : "Cháu van ông, nhà cháuvừa mới tỉnh được một lúc, ông tha cho !" Như vậy, người nông dân khốn khổ ấy
đã cố kìm nén, cố chịu đựng mọi nỗi đau khổ kể cả bị sỉ nhục, bị chửi bới Phần vìtình thương chồng, phần cũng vì tôn trọng luật pháp, nể sợ người nhà nước đangthi hành nhiệm vụ "Nước" cố giữ mình trong khuôn khổ tự nhiên, trong phép tắccủa xã hội, của trật tự trên dưới Thái độ ấy của chị Dậu đáng thông cảm biết bao !Nhưng, "cây muốn lặng, mà gió chẳng đừng", "nước" muốn ở yên mà bão
tố cứ quật xuống Chị Dậu cố chịu đựng nhưng bọn cai lệ vẫn làm càn Thế là,
"nước" đã tức Sau khi bị tên cai lệ đánh và đe doạ không tha anh Dậu, chị Dậu
tức quá, không thể chịu được cự lại : "Chồng tôi đau ốm, ông không được
phép hành hạ !" Và, sau khi tên cai lệ tát chị, nhảy vào cạnh anh Dâu, ngườiđàn bà giàu tình thương chồng và ngùn ngụt lòng căm giận đã đứng thẳng,nghiến hai hàm răng, ngăn cản và thách thức kẻ thù :
- Mày trói ngay chồng bà đi, bà cho mày xem!
Thế là tất cả đã thay đổi "Nước" đã nổi sóng Nhân vật thay đổi tính cách.Ngôn ngữ văn chương cũng chuyển sang giọng điệu khác Thể hiện lời nói củachị Dậu, nhà văn dùng các từ thông tục "mày", "bà" và những câu ngắn, nhịpnhanh (" ông không được phép ! bà cho mày xem" ) Chị Dậu - với sứckhoẻ của người đàn bà lực điền, sự bùng cháy của lòng uất hận và của tìnhthương để bảo vệ chồng và tự vệ, đã vùng lên nhanh nhẹn, táo tợn, ngang tàng,trong chốc lát đã quật ngã hai tên ác ôn đầu trâu mặt ngựa Tới đây, tác giảchuyển từ văn kể sang vãn miêu tả thật sống động, hào hứng Cuộc tỉ thí chialàm hai hiệp Hiệp một : chị Dậu túm cổ tên cai lệ, ấn dúi ra cửa khiến hắn ngãchỏng quèo Hiệp hai : chị Dâu nắm được gậy của tên người nhà lí trưởng, duđẩy, rồi buông gậy ra, áp vào vật nhau Rồi chị Dậu "túm tóc lẳng cho một cái",
Trang 12đối thủ ngã nhào ra thềm Rõ ràng, trong cả hai hiệp, người đàn bà nhà quê ấyđều chủ động, bình tĩnh, nhanh nhẹn, gan góc, dũng cảm Chị đã chiến thắnggiòn giã Viết đoạn vãn này, lựa chọn được những từ ngữ đúng nhất, những câuvăn đẹp nhất dành cho nhân vật yêu mến của mình, hẳn nhà văn Ngô Tất Tố rất
hả hê, sảng khoái ! Ông như nhập hồn cùng nhân vật để đồng cảm, đồng tình,vừa tả, vừa kể, vừa ca ngợi, khích lệ Người đọc chúng ta, khi đọc truyện, cũngđồng cảm với 'nhà văn, đồng cảm với nhân vật, trân trọng nhà văn, yêu mến nhânvật Chị Dậu, đến phút này đã đổi thay căn bản : từ van xin lễ phép, nhẫn nhụcchịu đựng, chị trở thành coh người quyết liệt, liều lĩnh, muốn chống lại tất cả,muốn quật ngã tất cả Khi nghe anh Dậu than thở, can ngăn, chị Dậu đã trả lời :
"Thà ngồi tù Để cho chúng nó làm tình làm tội mãi thế, tôi không chịu được".Lời nói mới rắn rỏi, khoẻ khoắn làm sao ! Người nông dân ấy dám chấp nhận tất
cả, dám thách thức tất cả Không phải chỉ là tiếng nói của một con người mà làtiếng nói, là bản lĩnh của vạn triệu con người bị áp bức lúc bấy giờ Đó cũngchính là chân lí muôn đời trong cuộc sống Với chị Dậu, đến câu nói ấy, nhà vãn
đã hoàn tất công việc khắc hoạ một hình tượng Chị Dậu là điển hình xuất sắccủa người phụ nữ nông dân Việt Nam trong xã hội thực dân nửa phong kiến, tuyđói nghèo, vẫn giàu tình thương và tiềm ẩn chí căm thù, tinh thần bất khuất, vẫnđầy đủ sức mạnh để chống lại cường quyền, áp bức Rõ ràng, nếu gió mưa củabạo lực, bất công cứ liên tiếp quật xuống, làm cho những đau khổ và lòng uấthận dâng đầy, thì sẽ "tức nước" và "vỡ bờ" Khi nước đã phá bờ rồi, nó không hềbiết sợ, nó có thể quật ngã tất cả, phá vỡ tất cả
Trở lại với câu tục ngữ tiêu đề của đoạn trích này, suy ngẫm về nghĩa đen,nghĩa bóng của ngôn từ, hình ảnh, chúng ta vừa thấm thìa cái quy luật diệu kìcủa tự nhiên vừa cảm mến, kính phục ngòi bút hiện thực đầy tính nhân đạo vàtính chiến đấu của Ngô Tất Tố Qua đoạn trích, cũng như cả cuốn tiểu thuyết
Tắt đèn, nhà văn giúp chúng ta hiểu sâu sắc một quy luật xã hội : "Có áp bức thì
có đấu tranh, sự áp bức càng tàn nhẫn, thắt ngặt thì cuộc vùng lên, đấu tranh
chống lại càng mạnh mẽ" Có thể nói đoạn trích Tức nước vỡ bờ được viết bằng
ngòi bút hiện thực sinh động, đã vạch trần bộ mặt tàn ác bất nhân của xã hội
thực dân phong kiến đương thời Xã hội ấy đã đẩy người nông dân vào tìnhcảnh vô vàn cực khổ, khiến họ phải liều mạng chống lại Đoạn trích còn chothấy vẻ đẹp tâm hồn và bản lĩnh gan góc, dũng cảm của người phụ nữ nông dângiàu yêu thương, có sức sống tiềm tàng không dễ gì khuất phục
Ra đời trong xã hội thực dân nửa phong kiến, tiểu thuyết Tắt đèn có tác
dụng giáo dục, thức tỉnh bạn đọc mạnh mẽ Vì thế, nhà vãn Nguyễn Tuân từngnhận xét: "Ngô Tất Tố đã xui người nông dân nổi loạn" , "Cách viết lách nhưthế, cách dựng truyện như thế, không phải là phát động quần chúng nông dân sắcmạnh như gươm giáo Và ông xứng đáng được xem là đồng minh tích cực củacách mạng !
Trang 13MỘT TẤM LÒNG THƯỜNG CON SÂU NẶNG
(Về truyện ngắn Lão Hạc của Nam Cao)
Trong đội ngũ nhà văn hiện đại Việt Nam, Nam Cao được coi là một nhàvăn hiện thực xuất sắc trước Cách mạng Ông hi sinh năm 1951 trong cuộckháng chiến chống Pháp, lúc đó, ông mới 36 tuổi Tuy cuộc đời ngắn ngủinhưng Nam Cao đã để lại cho (lời nhiều áng văn có sức sống lâu bền Tác phẩmcủa Nam Cao - những truyện ngắn, truyện dài - thấm đẫm giá trị hiện thực vànhân đạo Đó là những trang viết chân thực, vô cùng sâu sắc về người nông dânnghèo đói bị vùi dập và người trí thức cùng phẫn phải sống mòn mỏi, bế tắc
trong xã hội cũ Đọc truyện ngắn Lão Hạc của Nam Cao, chúng ta bắt gặp cả
hai kiểu nhân vật đó : lão Hạc và ông giáo Ông giáo là người kể chuyện, lãoHạc là nhân vật chính của câu chuyện Cả hai người đó đều đáng cảm thông vàđáng trân trọng, nhất là lão Hạc Lão Hạc - ông cụ lão nông ấy - đã phải trảiqua hai cái chết trong cuộc đời mòn mỏi bế tắc, nhưng có một tấm lòng thươngcon vô cùng sâu nặng
Đọc phần trước đoạn trích trong sách Ngữ văn 8, chúng ta biết cảnh ngộ của
lão Hạc thật bi thảm Nhà nghèo, vợ chết, hai cha con lão Hạc sống lay lắt, raucháo qua ngày Một ngày nọ, người con trai của lão phẫn chí vì không có tiềncưới vợ, bỏ đi làm phu đồn điền cao su biền biệt, một năm nay chẳng có tin tức
gì Lão Hạc thui thủi sống cô quạnh một minh với con chó Vàng, kỉ vật ngườicon trai để lại Lão gọi con chó là "cậu Vàng", coi con vật như người thân trongnhà Vắng nhà đi kiếm ăn thì thôi, hễ về tới nhà là ông lão lại trò chuyện tâm
tình, chia sẻ mọi nỗi vui buồn với "cậu Vàng" Nhiều khi lão gọi Vàng là con, là cháu, xưng ông cứ y như là hai ông cháu vậy Đối với lão Hạc, con chó là
niềm vui, là nguồn hạnh phúc đơn sơ mà thiết thực giúp lão sống trong đói nghèo
để đợi người con trai trở về xây dựng hạnh phúc lứa đôi và hạnh phúc gia đìnhcho lão được sống bên con, bên cháu, vui vầy như bao người bình thường khác.Nhưrig sự túng quẫn ngày càng đe doạ lão Sau trận ốm nặng kéo dài,-lão yếungười đi ghê lắm Đổng tiền bấy lâu nay dành dụm cạn dần Lão không có việclàm Rồi một cơn bão ập đến, phá sạch sành sanh hoa màu trong vườn Giá gạo thì
cứ cao mãi lên Vì thế, lão Hạc lấy tiền đâu để nuôi "cậu Vàng" ? Kể ra trongnhà cũng còn ít tiền để dành cho đứa con trai, nhưng lão không muốn tiêu lẹmvào đấy Mà cho "cậu Vàng" ăn ít, thì "cậu" gầy đi, tội nghiệp Ông lão nôngnghèo khổ ấy cứ băn khoăn day dứt mãi, cuối cùng dằn lòng quyết định bán "cậuVàng", rồi đến nhà ông giáo cậy nhờ một việc quan trọng
Đọc phần trích trong sách Ngữ văn 8, cũng là phần đặc sắc nhất của thiên
truyện, chúng ta cảm nhận rõ hai sự việc lớn của cuộc đời lão Hạc : việc bán
"cậu Vàng" và việc tìm đến cái chết Hai sự việc ấy tuy khác nhau nhưng đều toátlên một ý nghĩa chung về tấm lòng người cha thương con mênh mông, sâu nặng
Trang 14Bán con chó Vàng, lão Hạc đối mặt với cái chết thứ nhất Vì sao lão Hạcphải bán "cậu Vàng" ? Như phần trên ta đã biết, nếu để con chó lại nuôi thì lãoHạc phải tiêu lẹm vào số tiền dành dụm cho người con đang xa nhà Điều đó,lão không muốn, tuyệt đối không muốn Đối với lão Hạc, số tiền và mảnh vườndành cho con thiêng liêng như một báu vật mà hằng ngày lão chỉ biết hết lòngbảo vệ chứ không bao giờ dám xâm phạm Việc quyết định bán con chó Vàngbắt nguồn từ tấm lòng thương con sâu sắc của một người cha nhân hậu và giàulòng tự trọng.
Bán con chó Vàng vì thương con, nhưng rồi lão Hạc lại vô cùng ăn năn,day dứt Lão sang nhà ông giáo giãi bày những nỗi đau thống thiết của mình
"Mặt lão đột nhiên co rúm lại Những vết nhãn xô lại với nhau, ép cho nướcmắt chảy ra Cái đầu lão ngoẹo về một bên và cái miệng móm mém của lãomếu như con nít Lão hu hu khóc " Mấy câu văn ngắn ngủi đặc tả ngoại hìnhnhân vật thật ấn tượng Tác giả đã sử dụng các từ tượng hình : "co rúm lại", "xôlại", "ngoẹo về một bên" và một từ tượng thanh "hu hu" khiến cho nét mặt,thân hình và tâm trạng của lão Hạc hiện lên thật thê thảm Làm một việc vì tìnhthương con, nhưng người cha ấy vẫn tự dằn vặt, đau khổ như vừa phạm lỗi lớn.Phải chăng lão Hạc cảm thấy mình có lỗi với "cậu Vàng", con vật rất đỗi thânthương của lão ? Ta nghe lời lão kể với ông giáo trong truyện mà như nghechính lão Hạc kể với ta : "Này cái giống nó cũng khôn ! Nó cứ làm in như nó
trách tôi; nó kêu ư ử, nhìn tôi, như muốn bảo tôi rằng : A ! Lão già tệ lắm ! Tôi
ăn ở với lão như thế mà lão xử với tôi như thế này'à ? Thì ra tôi già bằng này
tuổi đầu rồi còn đánh lừa một con chó, nó không ngờ tôi nỡ tâm lừa nó ! ".Đây là lời nói, hay chính là lời sám hối, lời tự than, tự trách mình quá phũphàng, nhẫn tâm của một tấm lòng nhân hậu ! Từ những nét ngoại hình quằnquại đến những lời ăn năn, sám hối này, lão Hạc quả là một con người nặng tìnhnặng nghĩa, thuỷ chung, vô cùng trung thực Từ ngày người con phẫn chí ra đi
vì không có tiền cưới vợ, lão Hạc luôn mang tâm trạng "mắc tội" bởi không loliệu nổi hạnh phúc cho con Lão cố dành tiền cho con, cộ chăm sóc "cậu Vàng"như chăm sóc kỉ vật của con Vậy mà giờ đây lão phải bán "cậu Vàng" chongười ta giết thịt, lão cảm thấy mình "mắc tội" nặng hơn, tội với con người, tộivới cả con vật Tấm lòng người lão nông ấy bao la, sâu nặng biết nhường nào.Con chó Vàng sẽ bị người ta giết thịt Lão Hạc dự cảm rõ điều đó Đối với lão,
đó là cái chết thứ nhất, một cái chết do chính lão gây ra Nhưng, người đọcchúng ta ngày nay, suy ngẫm sâu xa một chút, sẽ thấu hiểu và xiết bao xótthương ông lão nông khốn khổ và nhân hậu ấy Và chúng ta cũng hiểu rằngchính cái xã hội thực dân phong kiến bấy giờ đã đẩy lão Hạc và biết bao ngườinông dân khác vào bi kịch như lão Hạc Vì hạnh phúc của một người con này,lão Hạc phải chứng kiến cái chết của một "người con." khác, phải tự huỷ diệtmột niềm vui, một kỉ vật thân thương của đời mình Nêu sự việc lão Hạc bán
Trang 15chó, rồi đau khổ vật vã tự trách mình, ngòi bút Nam Cao đã lay động tận nơisâu thẳm tình cảm bạn đọc chúng ta.
Nhưng Nam Cao không dừng lại ở đó Nhà văn tiếp tục lay động chúng tabằng một sự việc tiếp sau dữ dội hơn, thống thiết hơn Đó là việc lão Hạc tìmđến cái chết Với cái chết lần thứ hai này, tấm lòng người lão nông thương conmênh mông, sâu nặng ấy mãi mãi toả sáng Tìm hiểu về sự việc này, chúng tathử hoá thân vào nhân vật ông giáo để lắng nghe lời lão Hạc nói và chứng kiếncông việc ông lão làm Sau những lời đắng cay về việc bán chó, lão Hạc rề rà,nhỏ nhẹ mà tha thiết, chân thành giãi bày hoàn cảnh của mình để nhờ ông giáogiúp cho hai việc Việc thứ nhất : gửi ba sào vườn, khi anh con trai lão trở vềthì ông giáo giao lại để anh có đất ở, có vốn mà sinh nhai Việc thứ hai : gửi bamươi đồng bạc (hai mươi nhăm đồng tích cóp tằn tiện hơn một năm trời và nămđồng vừa bán chó) để khi ông lão chết, nhờ hàng xóm chi tiêu cho việc machay Những điều lão Hạc thu xếp, nhờ cậy ông giáo thật là chu đáo Nghĩ đếncon, ông cụ luôn mong ước con được sống yên ổn, hạnh phúc Nghĩ về mình cụluôn luôn tự trọng, không muốn phiền luỵ ai Khi nghe lão Hạc trình bày, ônggiáo bật cười bảo : "Sao cụ lo xa quá thế ? Cụ còn khoẻ lắm, chưa chết đâu mà
sợ ! Cụ cứ để tiền ấy mà ăn " Ông giáo không thể biết được rõ ý nghĩa việclão Hạc nhờ cậy Còn chúng ta, đọc truyện, nhận rõ ông cụ lão nông đó đãchuẩn bị cho cái chết của mình thật là bình tĩnh, chủ động, tự nguyện, tự giác.Thực ra lão đã âm thầm chuẩn bị cho cái chết của mình từ khi bán "cậu Vàng",đúng như lời lão nói với ông giáo : "Tôi đã liệu đâu vào đấy Thế nào rồi cũngxong" Như vậy, trong tình cảnh đói khổ, túng quẫn, lão Hạc đã định liệu cho
"cậu Vàng" - con vật thân thương nhất - và bản thân mình một sự giải thoát.Với con chó thì hoá kiếp cho "để thành kiếp người" Còn với mình, lão chết đểthành kiếp gì ? Thật mịt mờ, bế tắc Nhà văn Nam Cao cứ nhẹ nhàng dẫn dắtcâu chuyện theo lời kể của ông giáo, đưa người đọc chúng ta từ sự việc nàysang sự việc khác đầy hấp dẫn, bất ngờ Sau khi nghe lời lão Hạc nói rằng :
"Tôi đã liệu đâu vào đấy", ông giáo đã cảm động bởi cách lo toan chu đáo, tấmlòng thành thực, vừa thương con, vừa tự trọng của lão Hạc thì được nghe Binh
Tư kể việc lão Hạc xin bả chó Ông giáo đã thốt lên : "Hỡi ôi ! Lão Hạc".Người đọc cũng ngỡ ngàng, sửng sốt, tưởng rằng lão Hạc sẽ làm một việc xấu
xa, đáng buồn như việc Binh Tư thường làm : đánh bả chó, rồi thịt chó uốngrượu Vẻ đẹp của hình tượng lão Hạc bỗng mờ đi, như cuộc sống lúc bấy giờ
"cứ mỗi ngày một thêm đáng buồn" Câu chuyện tưởng chừng ngoặt sanghướng khác Những dòng chữ lời văn như ngưng đọng lại, căng thẳng, hồi hộp !Nhưng rồi, đến phần cuối của câu chuyện, tất cả đã ùa ra Lão Hạc đã chọnmột cái chết dữ dội, bất ngờ Chứng ta hãy vào nhà lão Hạc Một cảnh tượngrùng rợn thảm thương bày ra trước mắt ta : "Lão Hạc đang vật vã ở trên giường,đầu tóc rũ rượi, quần áo xộc xệch, hai mắt long sòng sọc Lão tru tréo, bọt mép
Trang 16sùi ra, khắp người chốc chốc lại bị giật mạnh một cái, nảy lên Hai người đànông lực lưỡng phải ngồi đè lên người lão Lão vật vã đến hai giờ đồng hồ rồimới chết " Dồn dập trong mấy câu miêu tả là các từ tượng hình "vật vã", "rũrượi", "xộc xệch", "long sòng sọc", và các cụm động từ mạnh như "sùi ra",
"giật mạnh", "nảy lên", "đè lên", đã cực tả một cái chết thật dữ dội, đau Tại sao lão Hạc không chọn một cái chết khác êm dịu, lặng lẽ, âm thầm ? Đốichiếu với cái chết thứ nhất của "cậu Vàng", nhìn thoáng bên ngoài, ta cảm thấycái chết của lão Hạc như có những nét tương tự "Cậu Vàng" bị lão Hạc đánhlừa, cho ãn cơm, rồi bị hai người ("thằng Mục" và "thằng Xiên") đè xuống, tróilại Lão Hạc cũng bị hai người đàn ông lực lưỡng "đè lên người" Biết là mình
đớn-sẽ chết, "cậu Vàng" kêu "ư ử", lão Hạc thì "tru tréo", "vật vã", Phải chăng khichọn cho mình cái chết dữ dội thảm thương này, người lão nông ấy như có ý tựtrừng phạt minh, chia sẻ nỗi đau với con vật thân yêu như ruột thịt Bởi vì, cảđời ông lão sống trung thực, chưa đánh lừa ai Lần đầu tiên lão làm một việcxấu Xa là đánh lừa "cậu Vàng", người bạn thân thiết, niềm hạnh phúc, niềm vuicủa chính mình Lão đã lừa để con chó bị chết thì giờ đây lão cũng phải chết theokiểu con chó bị lừa Điều này càng chứng tỏ lão Hạc có lòng tự trọng rấtcao, ứng xử trung thực vô ngần Và cũng chứng tỏ ngòi bút nhà văn Nam Caosắc lạnh, tỉnh táo vô cùng Nam Cao rất thương con người, tôn trọng con người,đồng thời luôn đòi hỏi cao ở con người Ông đã đặt nhân vật lão Hạc vào nhữngcuộc lựa chọn khắc nghiệt : chọn hai cái chết Cái chết thứ nhất tuy không đauđớn về thể xác nhưng lại đau đớn, day dứt về tinh thần Còn cái chết thứ hai,tuy đau đớn thể xác nhưng dường như ông lão đã được giải thoát và thanhthản về tinh thần vì lão đã trả hết nợ đời, nợ với con chó Vàng, nợ với đứa contrai tội nghiệp phải bỏ nhà ra đi
Có thể nói, đọc truyện Lão Hạc, chúng ta thấy nổi bật lên, ấn tượng mạnh
mẽ nhất là câu chuyện về hai cái chết : cái chết của con chó Vàng do lão Hạcgây nên và cái chết của lão Hạc do tự lão lựa chọn Cả hai cái chết này đều bắtnguồn từ tình cảm người cha thương con mênh mông, sâu nặng Lão Hạc phảibán "cậu Vàng" - cũng là cách tự huỷ một niềm vui, một khát vọng để khôngphải tiêu lẹm vào số tiền dành cho con Lão Hạc tự tử cũng nhằm không muốnsống thừa, sống lay lắt, vô vị mà ăn lẹm vào số vốn liếng, mảnh đất đợi convề Người cha ấy đã hi sinh cả cuộc đời mình cho hạnh phúc của con Ngườilão nông ấy đã sống một cuộc đời đau khổ nhưng thật trong sáng, đáng cảmthương và trân trọng
Cùng với nhân vật lão Hạc, chúng ta bắt gặp nhân vật ông giáo (có thể coi
là tác giả) Nhờ ông giáo, nhờ nhà văn kể chuyện, chúng ta càng thấm thìa hơncuộc đời đau khổ của lão Hạc Khi ông giáo nghĩ "Cuộc đời đáng buồn, nhưnglại đáng buồn theo một nghĩa khác", chúng ta hiểu rằng Nam Cao rất xót xa,Căm giận cái xã hội tối tăm ngột ngạt bấy giờ Xã hội ấy đã đẩy những người
Trang 17có nhân cách cao đẹp như lão Hạc vào tình cảnh đói nghèo, bế tắc, phải chếtthảm thương Khi ông giáo than thở : "Chao ôi ! Đối với những người ở quanh
ta, nếu ta không cố tìm mà hiểu họ, thì ta chỉ thấy họ gàn dở toàn những cớ
để cho ta tàn nhẫn; không bao giờ ta thương ", chúng ta càng thấu hiểu suynghĩ sâu sắc, mang tính triết lí và tình thương bao la đậm chất nhân văn của NamCao Và chúng ta cũng rút ra được bài học thiết thực về cách nhìn, cách ứng xử
mà các nhà nghiên cứu gọi là "vấn để đôi mắt"
Tóm lại, truyện ngắn Lão Hạc đã thể hiện một cách chân thực, cảm động
số phận đau thương và phẩm chất cao quý của người nông dân cùng khổ trongcuộc đời cũ Cuộc đời ấy là xã hội thực dân nửa phong kiến ở nưóc ta, giai đoạntrước Cách mạng tháng Tám nãm 1945 mà "hạnh phúc chỉ là một cái chănquá hẹp Người này co thì người kia bị hở" Lão Hạc, vì tình thương con sâunặng đã chấp nhận những giá lạnh cuộc đời để nhường chút hơi ấm của tấmchăn hạnh phúc cho người con xa nhà Cũng qua câu chuyện về lão Hạc, nhàvăn Nam Cao thể hiện lòng thương yêu, thái độ trân trọng đối với những conngười bất hạnh mà biết sống cao thượng Tác phẩm này cho thấy tài năng củanhà văn qua nghệ thuật xây dựng tình huống truyện ; kể các sự việc, khắc hoạnhân vật sinh động, có chiều sâu tâm lí, cách kể linh hoạt, hấp dẫn, ngôn ngữgiản dị, tự nhiên mà trĩu nặng những cảm xúc và suy nghĩ lắng sâu
Trang 18NƠI CHẤT MUỐI THẤM DAN : QUÊ BIỂN
(Về bài thơ Quê hương của Tế Hanh)
Nói chung, nhà thơ nào mà chẳng có một miền quê Vì vậy những bài thơnói về cái núm ruột sinh tồn ấy, với họ không có gì khó hiểu Nhưng nếu gọi đó
là những nhà thơ của quê hương - ở cấp độ đề tài và cảm hứng một đời thì chưaphải Trong bối cảnh ấy, ta mới biết quý một Tế Hanh bình dị chân thành,những phẩm chất của quê hương, mảnh đất đã tạo nên ở nhà thơ một sức sốngdai bền, một tấm lòng chung thuỷ Gương mặt nhà thơ, nghĩa là cốt cách thơ,giọng điệu thơ từ đó mà hình thành, rồi cũng từ đó mà được nâng cao, để tươi
tốt một cây thơ nặng tình với đất Quê hương, bởi vậy, tuy đã xuất hiện từ khi
tác giả còn rất trẻ, mới bước vào làng thơ, nó vẫn là một chấm son giữa cánhđổng thơ mới Cái mới ở đây không phải trong khu vực đề tài mà ở thể thơ, ởcấu trúc bài thơ, nhất là ở hồn thơ Thể thơ tám chữ là mới (tuy đã xuất hiệntrong thể loại hát nói - nhưng nằm trong hệ thi pháp trung đại), cấu trúc bàithơ có một cách phân đoạn không đều, không theo bố cục : đề, thực, luận, Jkếtcủa thơ Đường Tất cả (hai yếu tố trên) do hồn thơ, do cảm hứng của "cái tôi"trữ tình xô đẩy như những con sóng biển khi dìu dặt, lúc tràn bờ Cảm hứng ấydiễn đạt bằng những hình ảnh ngôn từ đầy sáng tạo
Bài thơ mở ra bằng hai câu khái quát nhưng nội dung của nó không chỉ có
ý nghĩa thuyết minh hạn hẹp :
Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới :
Nước bao vây, cách biển nửa ngày sông.
Nếu xét theo ý nghĩa thông tin đơn giản thì ta hiểu đó là một làng ven biển,như một thứ cù lao, dân ở đấy làm nghề đánh cá Nhưng cái tình của Tế Hanh,cái hồn biển của Tế Hanh đã gửi vào câu chữ để cái làng ấy hiện ra duyêndáng, nên thờ, phảng phất một cơn gió biển làm sóng nước bồng bềnh Làng ởvào thế trung tâm, nước là đường' viền, nước màu lạnh làm nền, còn đất (làng)như một điểm ấm sáng hiện ra như một niềm thương nhớ chơi vơi Thêm nữa, làngkhông chỉ cố "nước bao vây" mà khoảng cách biển cũng được đó bằngnước (nửa ngày sông) Thời gian được đo bằng không gian, một không giannước vừa quấn quyện vừa mênh mông thơ mộng Làng vốn là làng mà làngcũng như con thuyền bốn mùa dập dờn trong sóng nước êm ru Nhà thơ đã cábiệt hoá cái làng chài lưới của mình bằng những cảm nhận rất riêng ấy Nó vừa
tả thực vừa hiện lên như một giấc chiêm bao
Rồi sáu câu miêu tả cảnh "trai tráng bơi thuyền đi đánh cá" cũng đượcmiêu tả bằng sự kết hợp giữa bút pháp tả thực và bút pháp lãng mạn ấy :
Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng
Trang 19Đúng là một câu thơ có hoạ, có nhạc Đẹp vô ngần với màu sắc của bứctranh vùng trời vùng biển giữa một sớm mai hồng với gió nhẹ, trời trong như cósức thanh lọc và nâng bổng tâm hồn Cũng đẹp vô ngần là nhạc điệu, tiết tấu.Bằng nhịp ngắt 3/2/2, câu thơ như mặt biển dập dềnh, con thuyền rã khơi nhịpnhàng với những con sóng chao lên lượn xuống, như một sự nâng đỡ, vỗ về.Không dùng kích thước để đếm đo, thay vào đó một tấm lòng đưa tiễn, dịu ngọtthân thương, trìu mến Tuy nhiên, hình ảnh trung tâm của đoạn thơ vẫn là hìnhảnh con thuyền Con thuyền ấy chắc ở đâu cũng thế, nó chỉ bình thường thôi,nhưng riêng với nhà thơ, nó rất lạ : trẻ trung như những trai làng trên con thuyền
ấy, con thuyền mang khuôn mặt họ, sức sống niềm vui của họ Sự hồ hởi trongphút lên đường của con thuyền trên mặt biển được so sánh với con tuấn mã vượtđường xa là một liên tưởng bất ngờ, độc đáo Con thuyền do đó có một vẻ đẹpriêng, một sức sống riêng Nó cũng có hổn, cũng thật đẹp, thật đáng yêu, cũngbầu bạn thân thiết với con người Dân trai tráng trên con thuyền ấy vốn cũngbình thường đã trở thành những tao nhân, tráng sĩ Cánh buồm trên con thuyên
ấy, trong một phút xuất thần đã được đặc tả, được linh diệu hoá rất hay :
Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng
Rướn thân trắng bao ỉa thâu gổp gió
Cánh buồm ấy thực ra cũng không có gì đặc biệt, nó chỉ là "chiếc buồm.vôi", nhưng ở đây nỏ đã được hoá thân nhằm kết tinh cho một thứ đời sống bên
trong của làng chài lưới Thiêng liêng sâu nặng biết bao, nó như những mảnh
hồn làng, nghĩa là một thứ hồn vía quê hương thân thuộc đến bâng khuâng Nói
đến cánh buồm no gió, cánh buồm căng là do có gió thổi vào, nghĩa là tư thếphụ thuộc, bị động Nhưng tình hình ở đây có sự đảo ngược, buồm và gió đượctrao đổi vị trí cho nhau Các động từ tình thái là trong hệ thống ấy "Rướn thântrắng" là chủ động, một sự chủ động hào hùng thể hiện khả năng sức mạnh,
"thâu góp gió" cũng là chủ động nhưng mơ mộng đầy chất lãng tử, thi nhân Cảhai câu thơ cứ lung linh vừa thực vừa như không thực hày tạo ấn tượng về cáiđẹp rất khó giải thích rạch ròi, âu đó cũng là phẩm chất của những câu thơ hay,dấu hiệu của những tài năng mà mấy ai có được ? Nhưng, xét cho cùng nhữngsáng tạo hình ảnh của Tế Hanh, tất nhiên phải do yếu tố tài năng, nhưng đằngsau cái tài năng đột xuất ở đây còn có cái tình Chính vì cái tình với quê hươngphải dạt dào đến mức nào, chẳng hạn như sóng gió một vùng biển làng quê mới
có thể làm cho con thuyền, chiếc buồm cất cánh
Như thế là chất muối mặn của biển khơi đã thấm dần từ khung cảnh một làngchài lưới, "cách biển nửa ngày sông" đến ngọn gió, con thuyền, cánh buồm, mộtkhông gian mặn mòi thân thuộc Không tả muối mặn nhưng hương vị đặc trưng ấy
cứ đang lan toả, đang phảng phất đâu đây để không lẫn với một vùng quê khác Đó
là "cái đạm" như có người nói, nhưng là "cái đạm sau khi đã nồng"
Trang 20Thế là con thuyền nhẹ nhõm chỗ trời trong gió nhẹ ra đi với cánh buồm hivọng, vẫn là con thuyền ấy, ngày hôm sau đầy nặng cá trở về, giấc mơ đã trởthành hiện thực Hiện thực trong cái ồn ào tấp nập của dân làng ra đón ghe, đón
cá Là hiện thực rồi mà nó vẫn như mơ : "Nhờ ơn trời biển lặng cá đầy ghe".Đặt những câu thơ vào bối cảnh nhọc nhằn đầy hiểm nguy của việc ra khơinhững năm trước Cách mạng, khi trình độ và phương tiện còn thấp kém, thô sơ(chưa có thông tin, chưa có tàu thuyền đánh bắt cá xa bờ, ) còn phụ thuộc rấtnhiều vào may rủi, mới thấy íời cầu nguyện trong thơ không phải là vô nghĩa
Vì vậy, con thuyền trở về là niềm vui đầy ắp trong khoang Những con cá bằng
mồ hôi nước mắt - đôi khi phải đánh đổi bằng cả tính mạng con người - đượcnhìn bàng ánh mắt thân thương trìu mến : "Những con cá tươi ngon thân bạctrắng" Nhưng, cảnh con thuyền về bến đọng lại nhiều cảm nghĩ nhất là bốncâu tiếp theo tả chính con thuyền và "Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá" :
Dân chài lưới làn da ngâm rám nắng,
Cả thân hình nồng thở vị xa xăm ;
Chiếc thuyền im bêh mỏi trở về nằm
Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ.
Chắc khoẻ như những bức tượng đồng nâu, ấy là màu da của người vật lộnvới nắng, gió khơi xa đội trời lướt biển, ăn sóng nói gió vốn từng quen Đó làhình thức, dấu hiệu bên ngoài Câu thơ toàn vẹn, nguyên khối và nổi bật hơn, ấntượng hơn là câu "Cả thân hình nồng thở vị xa xăm" Chất thực và chất thơ
đã tạo nên một thân hình cường tráng, săn chắc đã được thử thách tồi luyệnbằng sóng lớn gió to, bằng bao nhiêu bất trắc Trước biển rộng, những conngười được nghệ thuật tạo hình bằng ngôn ngữ dựng lên kì vĩ, lớn lao, ngangtầm với trời cao, biển rộng Song, sự bất động - khi liên tựởng đến bức phùđiêu - trở nên sinh động vì hơi thở ấm áp, "nồng thở vị xa xăm" của con người.Hơi thở của những chàng trai dường như nồng nàn hơn sau mỗi lần đi biển Đó
là nồng độ,-còn vị xa xăm là vị gì ? Đây là thứ hương vị đặc biệt không thể cảm
nhận được bằng một giác quan cụ thể Bởi nó chỉ thấp thoáng, không định hình
và không thể gọi tên : vị của xa xôi, của biển cả Na xăm là một cảm giác
không gian vốn không có mùi vị, đây đúng là một sáng tạo vô giá của nhà thơ,
nó gợi được sự liên tưởng và những khát khao chiếm lĩnh những chân trời xa lạ
mà những con thuyền ra khơi cùng những nhà thám hiểm mưu trí kiên cường.Hình ảnh con thuyền cũng giống hình ảnh con người đã trở về sau nhữngchuyên đi xa Nó vừa là những con thuyền thực vừa là những con thuyền thơ.Thực là vì nó đã về bến đỗ để được neo đậu, được bình yên không còn bị giódập sóng xô Nhưng chất thơ là ở chỗ : nó cũng như một con người Biện phápnhân hoá của nhà thơ đã phát huy hiệu quả tối đa khi kết hợp với thủ pháp đốilập Con thuyền lúc ra khơi hăng hái, hào hứng không kém con người ("Chiếc
Trang 21thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã - Phãng mái chèo, mạnh mẽ vượt trườnggiang"), nay nó lặng lẽ vì mỏi mệt, muốn nghỉ ngơi sau một chuyến đi vất vảgian truân Nhưng im lặng không phải là vô tri, là vô tư lự Ngược lại nó giốngnhư bậc hiền triết : trong im lặng, nó vẫn khái quát nghĩ suy về sự được mấtcủa con thuyền Nó lại biết nghe cái mà không ai có thể nghe :
Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ.
Nếu những chàng trai "nồng thở vị xa xăm" thì con thuyền - bất ngờ thay,
"nghe chất muối thấm dần" trên cơ thể cảm nhận về sự mận mòi này là cầmgiác có thật, ấy là niềm vui lặng lẽ của con thuyền được dày dạn hơn trong tôiluyện để cứng cáp hơn Tục ngữ có câu "Ai ơi chân cứng đá mềm", phải chăngcon thuyền đang nói với chính mình để chuẩn bị cho những cuộc ra khơi rồi sẽcòn tiếp nối
Nhìn chung, cảnh ra khơi và cảnh trở về đã hoàn tất một chuyến đi xa, ấy lànhững chuyến đi thực thì rất đỗi nhọc nhằn, gian truân, vất vả Nhưng vì lànghề kiếm sống, họ phải ra đi để họ và gia đình họ có cái ăn, cái mặc hằng ngày.Công việc sinh nhai lương thiện và cao quý ấy rất đáng ngợi ca Tình yêuquê hương của nhà thơ là tình yêu những con người như thế Đó là sự đồngcảm, trân trọng, quý mến chân thành
Tuy nhiên những kí hoạ của nhà thơ không phải là những bức tranh trựctiếp tức thời Cảnh và người với nhà thơ, nó chỉ hiện lêp trong kí ức, nghĩa là cómột khoảng cách xa xôi, vì thế nó mới là một miền "tưởng nhớ" :
Nay xa cách lòng tôi luôn tưởng nhớ
Màu nước xanh, cá bạc, chiếc buồm vôi,
Thoáng con thuyền rẽ sóng chạy ra khơi,
Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá !
Trong nỗi niềm "tưởng nhớ" ấy, dường như chỉ cần nhắm mắt lại là cảnh vàngười lại hiện ra rõ mổn một Bởi nó đã nhập tâm, nhập vào kí ức của thi nhânthời bé dại ấu thơ Nó sẽ còn là hành trang đi suốt cuộc đời cảnh và người ấyhiện ra bằng màu sắc và bằng đường nét y như thật, y như là đương diễn ra Bởimàu nước xanh, bởi màu cá bạc, cả chiếc buồm vôi nữa chỉ ở quê biển nhà thơ
nó mới như thế Sau này, trước trời xanh Quảng Trị, nhà thơ vẫn một cái nhìnbiến lạ thành quen : "Trời vẫn xanh một màu xanh Quảng Trị - Tận chân trời
mây núi có chia đâu" (Nói chuyện với con sông Hiền Lương) Ây là chưa kể
giọng thơ : kể mà như đếm, nói với người mà như nói với mình ("Màu nướcxanh / cá bạc / chiếc buồm vôi") theo lối ngắt câu làm ba nhịp như nghẹn ngàomột nỗi nhớ thương đau đáu Từ "nghề chài lưới" đến "cái mùi nồng mặn", từ
"cánh buồm giương to" đến "chiếc buồm vôi", cái ảo thu về cái thực, cái thựctrong tâm tưởng, nó tha thiết đến nao lòng Bài thơ đã kết thúc, nhưng bức
Trang 22tranh về quê hương vùng biển, cảnh và người vùng biển, nhất là tình của nhàthơ với quê hương vẫn đầy dư vị, ngân nga Tình cảm ấy như chất muối thấmđẫm trong những câu thơ, cả giọng thơ bồi hồi tuy ngôn ngữ thơ nói chung vôcùng bình dị.
Trang 23NIỀM U UẤT KHÔNG NGUÔI
(Về bài thơ Nhớ rừng của Thế Lữ)
Trước hết, ta cần hiểu vì sao tác giả bài thơ lậi mượn "lời con hổ ở vườnbách thú" ? Chú thích cho một hình tượng thơ có lẽ không ngoài một dụng ý :tránh đi sự suy diễn, hiểu lầm Hình tượng con hổ cho dù có là một sự hoá thâncủa thi sĩ, nó vẫn la một chủ thể trữ tình, nhất quán và toàn vẹn Đó là phần nổicủa bài thợ Còn phía sau, phần chìm có thể liên tưởng đến hai lớp nghĩa có cả
ý thức giải phóng cá nhân (cái tôi), có cả tâm trạng nhớ tiếc, ru hoài của mộtdân tộc đang bị xiềng xích, đang khao khát tự do, với thái độ phủ nhận thực tại
mà hướng về quá khứ oanh liệt vàng son Bởi vậy, khi phân tích bài thơ khôngthể bỏ qua cái nhìn chính diện
Cái nhìn đối mặt với cảnh ngộ bị cẩm tù của con hổ, cơ sở của niềm u uấtkhông nguôi, là một cái nhìn đầy bi kịch Tính chất bi kịch này cần được hiểutheo hai cấp độ: một là hoàn cảnh đổi thay, nhưng con hổ không đổi thay Sự
"không đổi thay" của con hổ ở cả hai phương diện chủ quan và khách quan:
một mặt nó không cam chịu hạ mình và một mặt nữa: nó không chấp nhậnhoàn cảnh- Không chịu hạ mình vì con hổ luôn ý thức mình là một bậc đếvương, ngự trị trên cái ngai vàng vĩnh hằng của bậc vua chúa Còn thái độkhông chấp nhận hoàn cảnh cũng là từ đó mà ra: chấp nhận môi trường sống
đã đổi thay, nó không còn là chính nó Không chấp nhận, không tự đổi thay tạonên độ chênh và sự giằng xé dữ dội Tâm trạng nguyên khối ấy tượng hình lênmột con hổ với niềm u uất không nguôi chạy dọc bài thơ, đi vào từng câu thơnhư những hồng cầu để nuôi cơ thể
Hai đoạn thơ nói về hoàn cảnh đã đổi thay (đoạn 1 và đoạn 4) tạo nên xungđột, một xung đột không thể dung hoà, thật là ngột ngạt Nhưng trong cái vòngxoáy của tâm tư ấy, mỗi đoạn thơ là một nỗi đau riêng Có nỗi đau của sự bấtđắc chí, bị "sa cơ", lỡ vận phải rơi vào cảnh ngộ trớ trêu (đoạn 1), phải chấpnhận một cảnh ngộ không thể nào chấp nhận : vừa giả tạo vừa tầm thường(đoạn 4) Đối lập thứ nhất (đoạn 1) là đối lập giữa hai giống loài không thể nào là
"ngang bầy", là đồng loại, giữa con hổ với con người, giữa con hổ với cậpbáo yên phận, với bọn "gấu dở hơi" Ý thức về sự không thể "ngang bầy" nayđang phải chịu "ngang bầy" tạo nên cú sốc đầu tiên vô cùng chua chát:
Gậm một khối căm hờn trong cũi sắt,
Khác với hình thức của câu thơ thất ngôn kiểu cũ, câu thơ tám chữ đó làmột sự cầch tân, nhưng sự đột biến của cuộc cách mạng thi ca phải nói đến ầmđiệu, ở tỉ lệ những thạnh bằng, thanh trắc của câu Tròng câu thơ Đường luật, tỉ
lệ đó ngang bằng hoặc xấp xỉ ngang bằng, có sự phối hợp đan xen, còn ở đâytần số những thanh bằng bị áp đảo, không những thế, các thanh trắc đều dổn
Trang 24trọng tải vào đầu và cuối câu như những gọng kìm rắn chắc, những kim khí vachạm nhau Uất ức và bất lực là tâm thế của các sinh vật bị giam cầm, nhất làvái giống loài không chịu đựng được xiềng xích, giam cầm như loài hổ Bất lựcuất ức cộng với bất lực buông xuôi là đặc tả chân dung đầy ấn tượng ỏ hai câuđầu Nó được phân bố tinh vi đến từng âm tiết Nếu câu đầu, những âm thanhchối tai đặc quánh lại thì đến câu sau, nó mất hút, nó bị thay thế : những thanhbằng buông xuôi, trải rộng, lan xa không còn sinh khí nữa Cái khinh và cái tứccủa con hổ chỉ còn được nén lại trong lòng như một nỡi niềm u ẩn Nó cứ dàythêm trầm tích của niềm đau Không phải ngẫu nhiên trong đoạn thơ tiếp nốisáu câu, có đến bốn câu nói đến loài người Đành rằng ở đây, giữa con hổ vớicon người, giữa con hổ với đồng loại (gấu, báo) đã diễn ra một sự thay bậc đổingôi, nhưng có lẽ niềm căm phẫn với con người, với giống người mới đủ sứctạo nên một giọng thơ hằn học Là bởi vì với con hổ thì loài báo, loài gấu vốn
là những con vật hiền lành, vô hại, nhưng với con người đã diễn ra một tươngquan đối nghịch giữa thắng vẩ thua
Mà sự thua thắng này, oan uổng thay, không do thực tài thực sức (có lẽ loàingười chỉ hơn loài hổ ở sự túc trí đa mưu) Cái lẽ ra phải thua đã thắng, đôi mắthạt đậu đã có thể chế giễu cả rừng thiêng Sự hạ nhục đối với loài hổ, đau đớnthay là vị thế phải tôn thờ, sùng bái (ông ba mừơi) chỉ còn là "trò lạ mắt, thứ đồchơi" Còn câu thơ nói về cặp báo, bọn gấu chẳng qua chỉ là một thứ vĩ thanhcủa cái mặt bằng hèn kém mà con hổ phải rơi vào Nếu đoạn một của bài thơnói về sự đổi thay vị trí thì đoạn bốn của bài thơ nói về tâm trạng của con hổkhi phải đối mặt với cái mà nó không muốn đối mặt Tâm trạng ấy giống nhưmột quả bóng bị xì hơi, ấy là tâm trạng của giống chim trời bị trói cánh Cũng
là cảnh rừng thiêng nhưng chỉ là sự "học đòi bắt chước vẻ hoang vu", nó tầmthường nhạt nhẽo Nó có đủ nhưng thật ra không có gì, vì cảnh thiên nhiêntưởng như là có cả, nhưng linh hồn của nó thì không :
Hoa chăm, cỏ xén, lối phẳng, cây trồng ; Dải nước đen giả suối, chẳng thông dòng Len dưới nách những mô gò thấp kém
Nếu sự đổi mới của thơ ca hắt đầu từ nhịp điệu, thì đây là một trường hợp
mở đầu, một ví dụ điển hình Nếu ngắt nhịp, ta có câu một : 2/2/2/2, câu hai :5/3, câu ba : 3/5 thật là phóng túng Nó diễn tả sự chật chội, bị bó buộc, gò bócần phải phá tung ra để nói được cái thật của cảm nghĩ, cái khao khát đượctháo cũi sổ lồng
Ghìm nén và tung phá, ấy là xung lực độc khởi của từng đoạn thơ Nó cũngcòn là cảm hứng của toàn bộ bài thơ nếu nhìn một cách vĩ mô tổng thể Ngay
sự đan cài giữa cái hôm nay và cái hôm qua, cái mất, cái còn, cái nhạt tẻ và cáihuy hoàng ngày xưa của nó, tất cả đều hỗ trợ cho nhau, soi chiếu vào nhau mà
Trang 25trở nên lấp lánh Tuy nhiên, về cơ bản, bài thơ như một hoài niệm Ngày xưa
mới là cái đích cuối cùng, là cứu cánh Gội rễ mà niềm say đắm hướng vềkhông phải là hôm nay mà từ hôm nay hướng về hôm qua, về cái một đi khôngtrở lại : "Nơi ta không còn được thấy bao giờ", "Nơi thênh thang ta vùng vẫyngày xưa" Tiếng nấc nghẹn ngào ấy hướng về cái phía rừng thiêng - nguồn cộicủa niềm tự hào khi "hầm thiêng" đang là bá chủ
Phủ nhận cái trước mắt, cái hiện thời, lối thoát chỉ còn hai hướng : trở vềquá khứ hoặc ngưỡng vọng tới tương lai' Con hổ không có tương lai, nó chỉ cònquá khứ Đối lập hai vùng không gian ấy, cảm hứng lãng mạn trào dâng nhữnggiai điệu say mê Quá khứ đã trở nên một vầng hào quang chói lọi khác thường
do những tưởng tượng được đẩy lên đến mức tột cùng sảpg khoái Thơ mới nóiriêng và chủ nghĩa lãng mạn nói chung đã t,ự tạo cho mình một miền đất, mộtkhoảng trời riêng để tự do vùng vẫy Cái lớn lao, cái dữ dội, cái phi thườngtrong màn sương bí ẩn lung linh, huyền ảo của quá khứ hiện ra có ý nghĩa giảithoát "một khối căm hờn" không tan của hiện tại Ây là một quá khứ rất đặctrưng của loài hổ : cả thời gian, cả không gian, cả niềm nhớ tiếc cái thuở huyhoàng một đi không trở lại Các yếu tố thuộc ngoại cảnh và thuộc nội tâm trênđây được nhào nặn lại nhằm khắc hoạ, làm nổi bật chủ thể trữ tình là nhân vật
tự gọi là "ta" nhưng thực chất là "cái tôi" bừng thức, "cái tồi" trung tâm củamột "thời oanh liệt", cảnh rừng thiêng vì sao có lúc được gợi ra với "bóng cả, câygià", khi thì bóng tối âm thầm với "lá gai cỏ sắc", cả những cỏ hoa khôngtuổi không tên ? Ba cung bậc của tự nhiên gắn với độ trường cửu, vĩnh hằng, với
sự hoang dã, âm u và với cả một nền hoa cỏ vô danh nhằm tôn vinh một nhân vậtthần thánh mà tất cả phải cúi dầu "Ta biết ta chúa tể cả muôn loài" Nhân vậtthần thánh đường bệ, uy nghiêm ấy hiện ra bằng một bức tranh đặc tả, cả ngoạihình và sức mạnh bên trong ghê gớm Một bước chân của loài hổ, một vũ điệulượn vờn tự nhiên của nó không giống đồng loạị, không giống một ai Sự phongphú và nhất quán trong hệ thống động tác ngoại hình nàý là để chuẩn bị cho mộtphút cao trào khi tất cả trở thành sở hữu riêng của nó, do nó chế ngự':
Trong hang tối, mắt thần khi đã quắc,
Là khiên cho mọi vật đều ỉm hơi.
Cảm giác của người đọc chúng ta là con hổ đang ngược thời gian, bơi trongdòng hoài niệm miên man không phải là vô cớ Chính con hổ cũng tự nhận:
"Ta sống mãi trong tình thương nỗi nhớ" Những câu thơ tám chữ vốn có dunglượng lớn hơn câu thơ thất ngôn được liên kết bằng những từ nối ở đầu nhịp,đầu câu chẳng phải là vô tình như những điệp khúc bắc cầu cho "tình thươngnỗi nhớ" ấy dài ra :
Nhớ cảnh sơn lâm, bóng cả, cây già, Với tiêng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núi,
Trang 26Với khi thét khúc trường ca dữ dội
Cũng đều là những hoài niệm về quá khứ, nhưng đoạn ba không giống vớiđoạn hai vì trước hết nó gắn với nỗi xót xa, nhớ tiếc (còn đoạn hai là đặc tả chândung) Nỗi nhớ tiếc đến quận thất nỗi lòng ấy tạo ra bởi ngữ điệu riêng Nhữngchữ "đâu" như xát muối cứ như kiếm tìm vào một hoang vắng, xa xôi đứng ở đầucâu để kết thúc bằng những dấu hỏi tu từ như oán than, như ngơ ngác :
Nào đâu những đêm vàng bên bở suối
Đâu những ngày mưa chuyển bôh phương ngàn
Đâu những bình minh
Cũng là cái thực (trong quá khứ) với con hổ, nhưng từ đoạn hai, rồi đoạn
ba, và kết thúc bằng đoạn năm, cái thực ấy cứ bị đẩy đi để mỗi lúc một xa hơn.Cảm xúc thơ mỗi lúc một chới với Chỗ đứng thời gian không còn xác địnhnữa, câu thơ vội vàng, gấp gáp như níu kéo lại một chút gì đó của ngày xưa
Hình tượng con hổ vừa là thi sĩ vừa là bậc đế vương rực rỡ lên trong ánh chiềusắp lặn hiện lên trong toàn cảnh ấy Cũng trong ánh chiều sắp lặn, chiều kích,tầm cỡ con hổ cứ lớn dần lên Sự vận động đầy tính bất ngờ và biến ảo tạo đượcnhững câu thơ thật hay, với bài thơ nói riêng, với cuộc cách mạng nhằm hiệnđại hoá thơ nói chung thời ấy Nhiều người khen đoạn thơ như một bức tranh tứbình có cả đêm, ngày, sáng, tối Nhưng có lẽ cần chú ý nhiều hơn đến hồn chữ,
hồn thơ Đêm vốn là đêm tối {bóng ăm thầm, hang tối) trở thành đêm vàng thơ
mộng Vẫn là con suối ngàn sâu và ngàn xưa nhưng lộng lẫy hẳn lên Nó truyềndẫn được vào tâm hồn con hổ, để là con hổ thi nhân ("Ta say mồi đứng uốngánh trăng tan") Cũng vậy, "ngày mưa" vốn buồn bã, đìu hiu, đơn điệu biếtchừng nào, nhưng với một tâm hồn vừa được gột rửa để không còn là trần tụcnữa, con hổ có một cái say khác, lặng lẽ thôi mà rạo rực ở bên trong : "Ta lặngngắm giang sơn ta đổi mới" Bài thơ có hai câu thật sự mới mẻ trong cách đặtcâu thì một dành cho đoạn hai : ("Với khi thét khúc trường ca dữ dội"), cònmột cho đoạn ba : "Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt" Đây là hai trường hợpdùng đảo ngữ rất đắt, nó tạo được cái hình ảnh kì lạ, lớn lao của loài hổ : hoặcvới nó, thiên nhiên phải nâng tầm lên cho tương xứng, hoặc nó không chỉ là nó,
nó đang vươn tới cái chiều kích vũ trụ, cái vô tận vô cùng
Đoạn năm của bài thơ, như trên đã phân tích, vẫn tràn chảy trong 'dòng
hoài niệm, nhưng cái ảo của quá khứ xa xôi dần dần đã bị cái thực thay vào.
Mà đã thực thì đâu còn là thơ nữa Quá khứ không tồn tại trong dạng hình ảnhchính là vì thế Chỉ là ý tưởng trong câu "Hỡi oai linh, cảnh nước non hùngvĩ" Còn câu "Nơi thênh thang ta vùng vẫy ngày xưa" cũng chỉ là lặp lại câu
"Thuở tung hoành hống hách những ngày xưa" Cái thực khi hiện ra chỉ còn
sự chật chội, tù túng, còn ước mơ, còn tưởng tượng chỉ là một ảo tưởng ngầm