phúc, chim chóc tình tự, ca hát khúc hát về tình yêu say đắm, hoa nở trên đồng nội,cành lá phất phơ, đung đưa theo gió… Với các hình ảnh thơ tươi mới đầy sức sống, cáctính từ được sử
Trang 1ở chốn nước non lặng lẽ này Xuân Diệu say đắm tình yêu, say đắm cảnh trời, sống vộivàng, sống cuống quýt Khi vui cũng như khi buồn, người đều nồng nàn tha thiết”,
“một hồn thơ lúc nào cũng “thiết tha, rạo rực, băn khoăn” “Vội vàng” rút từ tập "Thơthơ" (1938) là một thi phẩm rất tiêu biểu cho hồn thơ Xuân Diệu trước cách mạng Bàithơ thể hiện lòng yêu đời, ham sống đến thiết tha, cuồng nhiệt, là lời giục giã hãy sốngmãnh liệt, sống hết mình, hãy biết quý trọng từng phút, từng giây của cuộc đời mìnhnhất là những năm tháng tuổi trẻ
II THÂN BÀI
1 Đoạn 1: Bốn câu thơ đầu (Khát vọng ngông cuồng)
- Bài thơ được bắt đầu bằng bốn câu thơ ngũ ngôn tưởng như lệch nhịp so với
toàn bài và thể hiện một ước muốn lạ thường:
Tôi muốn tắt nắng đi Cho màu đừng nhạt mất;
Tôi muốn buộc gió lại Cho hương đừng bay đi.
Mở đầu bài thơ, Xuân Diệu đã thể hiện một cái tôi công khai không giấu giếm,
Trang 2hai chữ “tôi muốn” đầy chủ động Cụm từ “tôi muốn” sau đó được lặp lại một lần nữatrong câu thơ thứ ba để nhấn mạnh khát khao, mong muốn rất táo bạo, ngông cuồng củanhà thơ Vì yêu nên thi sĩ luyến tiếc và muốn giữ lại tất cả vẻ đẹp đang có ở cuộc đờinày Nắng và gió vốn là những hiện tượng tự nhiên có quy luật riêng của nó mà conngười không có khả năng để chi phối hay thay đổi Vậy mà, thi sĩ lại muốn đoạt quyềncủa tạo hóa để “tắt nắng” và “buộc gió” để cho thời gian ngừng trôi, để sắc màu đừngnhạt mất, hương thơm đừng bay đi, để thời gian mãi ngừng lại ở phút giây này và lưugiữ mãi khoảnh khắc kì diệu của cuộc đời, để thi sĩ được sống mãi trong tuổi trẻ và tìnhyêu Với câu ngắn, nhịp thơ nhanh, phép điệp nhịp nhàng, bốn câu thơ tựa như khúc dạođầu đầy hứng khởi của một tâm hồn yêu đời, yêu sống thiết tha, nồng nàn
2 Đoạn 2: 9 câu thơ tiếp theo (Của ong bướm… hoài xuân)
Cuộc sống ở chốn trần gian là một thiên đường
Bốn câu thơ đầu đã thể hiện những cảm xúc, mong muốn có phần khác lạ của nhàthơ, bởi vì nếu các nhà thơ lãng mạn đương thời khác thường có xu hướng thoát li, trốntránh thực tại để tìm đến một thế giới khác Ta thấy một Lưu Trọng Lư mơ màng “saysưa trong trường tình”, một Hàn Mặc Tử “kì dị” và “điên cuồng, một Chế Lan Viên cảmthấy thực tại chỉ làm não lòng nên muốn “xa lánh cõi trần gian” để tìm đến một tinh cầugiá lạnh:
Hãy cho tôi một tinh cầu giá lạnhMột vì sao trơ trọi cuối trời xa!
Ðể nơi ấy tháng ngày tôi lẩn tránhNhững ưu phiền, đau khổ với buồn lo!
Một Thế Lữ thì chán nản “Buồn ơi! Xa vắng, mênh mông là buồn…” nên muốntìm cách thoát lên tiên để xem cảnh bồng lai:
Tiên Nga tóc xoã bên nguồn
Hàng tùng rủ rỉ trên cồn đìu hiu;
Mây hồng ngừng lại sau đèo,Mình cây nắng nhuộm, bóng chiều không đi
Trang 3Nguyễn Bính tìm về chốn thôn quê để ẩn mình, Huy Cận thì ảo não muốn đếnbất cứ nơi nào miễn là không phải nơi này, cho dù đó là địa ngục hay thiên đàng…C hỉriêng Xuân Diệu là yêu mến, gắn bó với thực tại bằng lòng yêu đời, ham sống thiết tha,nồng nàn Trong mắt Xuân Diệu, đẹp nhất là cuộc sống ở nơi trần thế Chẳng thế màtừng có lần nhà thơ tự bộc bạch:
Không muốn đi mãi mãi ở vườn trầnChân hóa rễ để hút mùa dưới đấtBằng cặp mắt “xanh non”, “biếc rờn”, bằng cách sống “toàn tâm, toàn trí, toànhồn”, Xuân Diệu đã phát hiện ra cuộc sống ở chốn trần gian là một thiên đường Điều
đó thể hiện rõ qua bức tranh thiên nhiên và cuộc sống con người mà ông miêu tả:
2.1 Bức tranh thiên nhiên
Thiên nhiên thì tươi đẹp, sôi động và căng tràn sức sống Đó là một thế giới rực
rỡ màu sắc, rộn rã những âm thanh, ánh sáng đang tỏa rạng, là cả một mùa xuân tươiđẹp với đầy hoa thơm và trái ngọt:
Của ong bướm này đây tuần tháng mật;
Này đây hoa của đồng nội xanh rì;
Này đây lá của cành tơ phơ phất;
Của yến anh này đây khúc tình si;
Và này đây ánh sáng chớp hàng mi;
Nếu như các nhà thơ mới khác thường yêu sự tàn phai, héo úa của mùa thu và sợmùa xuân đến như Chế Lan Viên từng viết:
Ai đâu trở lại mùa thu trướcNhặt lấy cho tôi những lá vàng?
Với của hoa tươi, muôn cánh rã
Về đây, đem chắn nẻo xuân sang!
(Xuân) Xuân Diệu lại yêu mùa xuân và muốn được sống mãi trong mùa xuân tươi đẹp.Hai chữ “Này đây” được nhắc nhiều lần không phải là sự thừa thãi câu chữ, mà tô đậmkhông gian và thời gian, đó là ngay lúc này và ở tại đây Ở đây và lúc này, mọi thứ đều
Trang 4phúc, chim chóc tình tự, ca hát khúc hát về tình yêu say đắm, hoa nở trên đồng nội,cành lá phất phơ, đung đưa theo gió… Với các hình ảnh thơ tươi mới đầy sức sống, cáctính từ được sử dụng theo mức độ đậm nhạt khác nhau, các biện pháp tu từ như liệt kê,điệp từ, điệp cấu trúc và cách tạo nhịp điệu dìu dặt… Nhà thơ vận dụng tất cả các giácquan để cảm nhận vẻ đẹp của thiên nhiên, trời đất trong mùa xuân Từng câu, từng chữtừng dòng nhanh gấp như muốn liệt kê ra tất thảy những gì tươi đẹp nhất mà cuộc sốngban tặng Vì thế mà các hình ảnh thiên nhiên vào thơ Xuân Diệu trở nên đẹp đẽ, lunglinh, trở thành biểu tượng cho mùa xuân và tuổi trẻ Sự giải phóng của cái tôi và thipháp hiện đại đã chắp cánh cho nhà thơ thể hiện được hay nhất trạng thái cảm xúc hồnnhiên, bồng bột trước vẻ đẹp của mùa xuân, đất trời và muôn loài.
2.2 Bức tranh cuộc sống con người
- Bức tranh cuộc sống con người đầy niềm vui và hạnh phúc: Không chỉ bức
tranh thiên nhiên, muôn loài mà cuộc sống con người cũng đầy niềm vui hạnh phúc:
Và này đây ánh sáng chớp hàng mi, Mỗi sáng sớm, thần Vui hằng gõ cửa;
Tháng giêng ngon như một cặp môi gần;
Tưởng như chưa bao giờ trong văn học Việt Nam hình ảnh mặt trời, ánh bìnhminh lại hiện ra dịu dàng, tình tứ và lãng mạn đến thế Mỗi buổi sáng mặt trời lại tỏaánh bình minh đem sự sống đến cho muôn loài và với Xuân Diệu mỗi ngày được sốngđược nhìn thấy mặt trời, được chiêm ngưỡng hương sắc, vẻ đẹp của vạn vật là một ngàyvui Mùa xuân không chỉ có những buổi bình minh rực rỡ khiến con người tràn ngậpniềm yêu đời mà còn có thần Vui đến gõ cửa đem niềm vui đến đến cho từng nhà, từngngười Các nhà thơ mới khác thường tôn thờ vị thần Sầu bởi chịu ảnh hưởng sâu sắc củaquan niệm mĩ học phương Tây là cái đẹp thường đi liền với cái buồn, phải buồn thì mớiđẹp “Em cứ đẹp và em mãi buồn” thì ở đây Xuân Diệu lại tôn thờ vị thần Vui vì vị thần
ấy là người đem đến niềm vui và hạnh phúc, khiến cho mỗi ngày của mỗi người ở chốntrần gian đều đầy vui sướng
- Quan niệm thẩm mĩ: Vẻ đẹp của mùa xuân, của tháng giêng còn được Xuân
Diệu miêu tả “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần” Câu thơ được coi là nhãn tự
với một so sánh mới mẻ và đầy tài hoa Vẻ đẹp của mùa xuân được ví như một cô gáikiều diễm, hồng hào và tình tứ Tháng giêng là cái vô hình được so sánh với một hìnhảnh cụ thể và mang tính nhục cảm, cùng một chữ “ngon” chuyển đổi cảm giác thần tìnhkhiến câu thơ trở thành hay nhất, mới nhất Khó có thể hình dung ra rằng đây là câu thơ
Trang 5ra đời cách đây gần một thế kỷ Những so sánh táo bạo, mới mẻ ấy đã bộc lộ quan niệm
mỹ học rất độc đáo của nhà thơ Xuân Diệu Nếu các nhà thơ trung đại luôn lấy thiênnhiên làm thước đo, chuẩn mực của cái đẹp thì Xuân Diệu lại lấy con người làm trungtâm cho mọi sự so sánh Người xưa ví vẻ đẹp người con gái với hoa, núi, nước, mây, sosánh khí phách người anh hùng như mai, trúc, phượng, điểu thì Xuân Diệu lấy conngười trong tuổi trẻ và tình yêu, đặc biệt luôn lấy vẻ đẹp của các nàng thiếu nữ làmthước đo chuẩn mực của cái đẹp Người xưa khi miêu tả vẻ đẹp của các thiếu nữ thì viết
“Phù dung như diện, liễu như mi” (Mặt đẹp như hoa phù dung, hàng mi thanh như láliễu) thì trong đoạn thơ này, Xuân Diệu đã so sánh hình ảnh mặt trời đang tỏa ánh sángvào lúc bình minh giống như một cái chớp mắt mắt diễm lệ của một nàng thiếu nữ xinhđẹp Vẻ đẹp của tháng giêng, của mùa xuân được so sánh với một cặp môi gần vừaquyến rũ, vừa tươi hồng, vừa mời gọi của một nàng thiếu nữ hồng hào, tình tứ
- Quan niệm nhân sinh: Ảnh hưởng tôn giáo nên nhiều người quan niệm cuộc
đời là bể khổ và con người khổ vì có nhiều mong muốn, khát vọng mà không đạt được,nên chủ trương con người muốn hết khổ thì phải tu để tiêu diệt mọi ham muốn, khátvọng, hạn chế tối đa những nhu cầu bản thân Thế nhưng thông qua đoạn thơ, XuânDiệu cũng đã gửi đến chúng ta một quan niệm nhân sinh rất mới mẻ, tích cực rằng cuộcsống con người ở nơi trần thế là một thiên đường Người ta cứ đi tìm thiên đường ở đâu
xa mà không thấy rằng thiên đường đang ở trước mắt chúng ta, trong tầm tay của chúng
ta Nó là cuộc sống xung quanh chúng ta, là một mùa xuân đầy hoa thơm và trái ngọt,đầy sắc màu rực rỡ Vậy chần chừ gì nữa, hãy yêu mến và gắn bó với thực tại này, hãyyêu mến và gắn bó với cuộc sống mà chúng ta đang sống, hãy tận hưởng hết vẻ đẹp,hương sắc của cuộc đời Chính vì quan niệm nhân sinh mới mẻ, độc đáo ấy mà XuânDiệu được đánh giá là người “Đốt cảnh bồng lai xua ai nấy về hạ giới” hoặc “XuânDiệu là một người của đời, một người ở giữa loài người Lầu thơ của ông xây dựng trênđất của một tấm lòng trần gian”(Thế Lữ)
2.3 Nỗi khắc khoải thời gian
Xuân Diệu yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống ở chốn trần gian đến mãnh liệt nhưng
‘điên cuồng rồi tỉnh, say đắm vẫn bơ vơ”, tình yêu luôn gắn với nỗi đau, niềm vui songsong với nỗi buồn nên những vần thơ của ông sau đó lại khiến người đọc có cảm giácchênh vênh, hụt hẫng Bởi vậy, ngay sau đó là hai câu thơ:
Tôi sung sướng Nhưng vội vàng một nửa:
Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân.
Trang 6Đang vui sướng, ngất ngây giữa mùa xuân tươi đẹp, thi sĩ bỗng dưng chững lại,băn khoăn, lo lắng về thời gian, về sự “phai tàn sắp sửa” của mùa xuân Ở đây, XuânDiệu đã thể hiện cái nhìn mới mẻ về thời gian, cuộc đời Bởi nếu các thi sĩ trung đạiquan niệm thời gian vũ trụ là một vòng tuần hoàn vô hạn: Xuân - Hạ - Thu - Đông rồilại trở về Xuân, cứ thế mà lặp lại Nhìn thời gian trong sự vĩnh hằng nên dù có ý thức về
sự chảy trôi của thời gian thì người xưa vẫn ung dung, tự tại trước mọi biến cố của cuộcđời Các nhà thơ hiện đại như Xuân Diệu thì khác, họ nhìn thời gian như một cái trụctuyến tính, thời gian đã một đi thì không bao giờ quay trở lại Một nhà thơ Pháp đã ýthức sâu sắc về sự phá hủy của thời gian với cuộc đời con người: “Ôi đau đớn! Ôi đauđớn! thời gian ăn cuộc đời” Là một nhà thơ có nguồn gốc Tây học, Xuân Diệu khôngthể vô tình trước dòng chảy thời gian Thường người ta chỉ luyến tiếc khi mọi thứ đãtrôi đi, khi đã nhìn thấy sự phai tàn héo úa, khi bị thời gian nhuốm màu nhưng XuânDiệu ngay trong khi mùa xuân vẫn còn xuân sắc, non tơ, ngay cả khi hoa vẫn đang nởtrên đồng nội, chim chóc vẫn ca hát mà ông đã nhìn thấy sự mất mát, tàn phai “Tôisung sướng” vì tất cả nhưng ngay sau đó ba chữ ấy bị ngắt lại bằng một dấu chấm như
là một khoảng lặng của cảm xúc, khiến niềm vui trở thành dở dang và đằng sau từ
“Nhưng” là một cảm xúc hoàn toàn mới, là sự tiếc nuối, sợ hãi bản thân không so kịpvới bước chân của tạo hóa, không thể tận hứng mà tận hưởng hết tất thảy những điềubình dị trong cuộc đời vốn còn nhiều tươi đẹp này Thấy trước được những bước đithẩm âm thầm, lặng lẽ mà khủng khiếp của thời gian nên nhà thơ chỉ sung sướng mộtnửa còn một nửa phải vội vàng, gấp gáp “không chờ nắng hạ mới hoài xuân”, không đợimùa xuân cuộc đời trôi qua rồi mới hối tiếc Tất cả những điều ấy đều thể hiện tấm lòngyêu sống đến tha thiết của Xuân Diệu
3 Đoạn 3: 17 câu thơ tiếp theo (Xuân đương tới… chiều hôm)
Niềm say mê tha thiết với hương sắc trần thế khiến thi sĩ đã nảy sinh một xúc cảm
lo sợ thời gian trôi sẽ làm nhạt phai thanh sắc của đời Bởi thế mà ngay sau những câuthơ tươi vui kia, mạch thơ chuyển ngay sang những điệu thơ trầm lặng, trĩu nặng suy tư:
Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua, Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già,
Mà xuân hết nghĩa là tôi cũng mất.
Lòng tôi rộng nhưng lượng trời cứ chật, Không cho dài thời trẻ của nhân gian,
Trang 7Các từ ngữ: “đương tới” với “đương qua”, “còn non'” với “sẽ già” tương ứng, đốilập nhau, diễn tả mùa xuân và thời gian vận động không ngừng Bước đi của mùa xuân,dòng chảy của thời gian là mải miết, vô tận và trôi qua rất nhanh Trong hiện tại “đangtới" đã có màu li biệt “đương qua”, trong dáng vẻ “còn non” hôm nay đã báo hiệu mộttương lai “sẽ già” Chữ “đang” chuyển thành chữ “đương” một cách nói điệu đà, rất thơ.Cũng bằng chữ “non” và chữ “già” ấy, cũng cái đang đến đã báo hiệu ra đi ấy đượcXuân Diệu nhắc đến một lần nữa trong bài thơ “Giục giã”:
“Tình yêu đến, tình yêu đi, ai biếtTrong gặp gỡ đã có mầm ly biệt
( ) Mau với chứ! Vội vàng lên với chứ!
Em, em ơi! Tình non sắp già rồi ”
Xuân ở đây có nghĩa là mùa xuân, tuổi trẻ Mùa xuân và tuổi trẻ đang tươi đẹpđến thế đáng lẽ tạo hóa phải cho con người sống mãi mà tận hưởng Nhưng điều bi kịch
và nghịch lí là cuộc đời con người lại có hạn Cuộc đời đã ngắn ngủi mà phần đẹp nhấtcuộc đời con người là tuổi trẻ lại càng ngắn ngủi hơn nữa Cuộc đời cũng như tuổi trẻ
đã một đi thì không bao giờ trở lại, khi “xuân hết”, tuổi trẻ đi qua “nghĩa là tôi cũngmất” Càng yêu cuộc sống bao nhiêu, con người càng tiếc thời gian và tuổi trẻ bấynhiêu, huống chi là Xuân Diệu - một người có khát khao giao cảm mãnh liệt với cuộcđời Với Xuân Diệu cái đẹp nhất trong cuộc đời mỗi người là mùa xuân, tình yêu và tuổitrẻ Mùa xuân, tuổi trẻ trôi qua, cuộc đời chỉ còn là vô nghĩa:
“Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất”.
“Lòng tôi rộng” mà “lượng trời cứ chật” Tôi yêu đời đến thế nên muốn trường sinhbất tử, muốn trẻ mãi không già, muốn được sống mãi để tận hưởng hương sắc cuộc đời.Nhưng quy luật của sự sống thật vô cùng nghiệt ngã: “Không cho dài thời trẻ của nhângian” “Hảo hoa vô bách nhật - Nhân thọ vô bách tuế” (Nguyễn Du) “Mỗi năm mộttuổi như đuổi xuân đi ” (Tục ngữ) Thi sĩ đặt ngôn ngữ trong thế tương phản giữa
“rộng” với “chật”, để nhấn mạnh thêm cái nghịch lí của đời người:
“Lòng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật Không cho dài thời trẻ của nhân gian Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại”
Trang 8Xuân của bốn mùa thì tuần hoàn (xuân khứ, xuân lai, xuân bất tận) nhưng đời ngườichỉ có một thời thanh xuân vì tuổi trẻ “chẳng hai lần thắm lại” Các thi nhân xưa dù cónhận ra sự nhỏ bé, sự hữu hạn của đời người so với sự vô hạn của trời đất, vũ trụ nhưng
họ hầu như không có những lời than thở, buồn đau Họ quan niệm thời gian tuần hoàn,lấy sinh mệnh vũ trụ để tính vòng đời, họ tin đời người là kiếp luân hồi, đi rồi sẽ trở lại
Họ thậm chí họ còn đầy sự lạc quan như Mãn Giác Thiền trong “Cáo tật thị chúng”:
“Ai bảo xuân tàn hoa rụng hếtĐêm qua sân trước một nhành mai”
Nhưng các nhà thơ hiện đại như Xuân Diệu thì không bình tĩnh được như thế.Trước không gian mênh mông, con người càng cảm thấy bé nhỏ khi thời gian chảy trôirất nhanh Mùa xuân hôm nay đẹp lung linh nhưng rồi mai đây nó cũng đến lúc phaitàn, già cỗi đi cùng thời gian là điều không ai níu giữ lại được
“Thời gian qua kẽ tay Làm khô những chiếc lá
Kỷ niệm trong tôi Rơi như tiếng sỏi trong lòng giếng cạn”
Bởi thế mà giữa lúc mùa xuân đang còn tươi đẹp mà nhà thơ đã cảm thấy chẳngcòn gì, chẳng thể níu kéo tuổi thanh xuân Tiếng thơ cất lên như một lời than tiếc nuối:
Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn, Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại!
Còn trời đất nhưng chẳng còn tôi mãi, Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời”;
“Tiếc cả đất trời vì không được sống mãi, trẻ mãi để tận hưởng mọi cái đẹp củathiên nhiên và cuộc đời Sự nuối tiếc ấy bắt nguồn từ lòng yêu đời và ham sống, khaokhát được sống hết mình với tuổi trẻ:
“Mười chín tuổi, hỡi những nàng má ngọc
Ríu rít chim, là tuổi ước mơ hoa!
Hãi chàng trai kiều diễm mãi vui ca
Mười chín tuổi! Chẳng hai lần hoa nở!”
("Đẹp" - Xuân Diệu)
Trang 9Đỗ Lai Thúy đã gọi Xuân Diệu là “Nhà thơ của nỗi ám ảnh thời gian” “Tuổi trẻchẳng hai lần thắm lại” cũng như “Mười chín tuổi! Chẳng hai lần hoa nở”, đó là bi kịchcủa người đời từ xưa đến nay Có ham sống và yêu đời mới cảm nhận sâu sắc bi kịch ấy,mới mang nỗi ám ảnh thời gian ấy.
Hoài Thanh đã rất đúng khi nói về Xuân Diệu “khi vui cũng như khi buồn, ngườiđều nồng nàn tha thiết” Khi vui, yêu đời, thi sĩ nhìn đời bằng cặp mắt xanh non, biếcrờn và cảm nhận cuộc sống ở chốn trần gian là một thiên đường, nhìn đâu cũng đẹp,cũng đáng yêu, đáng sống Khi buồn đau, nuối tiếc vì thời gian trôi thì cảm xúc cũngvẫn rất nồng nàn, nhìn dòng đời ngược xuôi trôi dạt, đôi mắt tinh nhạy của người nghệsĩ nhìn đâu cũng thấy chia li xa cách:
Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi, Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt…
Con gió xinh thì thào trong lá biếc, Phải chăng buồn vì nỗi phải bay đi?
Chim rộn ràng bỗng đứt tiếng reo thi, Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa?
Chẳng bao giờ, ôi, chẳng bao giờ nữa
Thời gian, tháng năm vốn không có mùi vị nhưng Xuân Diệu lại cảm nhận đượcmùi và vị của nó chính là chia phôi Câu thơ được chuyển đổi cảm giác, sự tương giaogiữa các giác quan khiến cho ta tưởng như người thi sĩ nhìn đâu cũng thấy chia lìa, điđâu cũng thấy chia phôi Cả đoạn thơ man mác bâng khuâng, ngậm một nỗi tiếc nuốibùi ngùi Tất cả hiện vật, sự vật trên thế gian đều không được vẹn tròn ngày vui Núisông thì buông lời than tiễn biệt, gió và chim thì đều mang nỗi nợ phải bay đi, phải lìa
tổ Quả thật mọi cuộc vui đều có lúc tàn Cảm nhận rất rõ được điều ấy, thi sĩ thốt lêntrong sự tiếc nuối: “Chẳng bao giờ, ôi, chẳng bao giờ nữa ” Đến đây ta đã vỡ lẽ vì saothi sĩ lại có khát vọng táo bạo, ngông cuồng là muốn tắt nắng buộc gió, níu giữ mãi tuổitrẻ mùa xuân ở lại Nhưng khát vọng cháy bỏng, ước muốn táo bạo ấy không thể trởthành hiện nên trở thành sự khắc khoải in đậm trong chữ “ôi”, dấu chấm cảm giữa dòngthơ và dấu chấm lửng cuối dòng thơ Không thể buộc gió, chẳng thể tắt nắng để níu giữmãi hương sắc mùa xuân, Xuân Diệu đã hối thúc mình và mọi người hãy sống vội vàng,hãy chạy đua cùng thời gian: “Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm.” Lời giục giã hốithúc mang sắc điệu mạnh mẽ, quyết liệt bởi kiểu câu cầu khiến có sử dụng dấu chấm
Trang 10cảm giữa dòng Có thể nói câu thơ “Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm” rẩt điểnhình, tiêu biêu cho hồn thơ vội vàng cuống quýt của Xuân Diệu trước cách mạng tháng
8 Xuân Diệu vẫn luôn hối thúc, giục giã mọi người cần sống mau, sống vội như thế:
Mau với chứ! Thời gian không đứng đợi
– Gấp đi em, anh rất sợ ngày mai
“Mùa chưa ngả chiều hôm” là một cách kết hợp từ mới lạ, thú vị Xuân Diệu đãdùng từ chỉ thời gian cuối ngày để chỉ thời điểm cuối mùa “Mùa chưa ngả chiều hôm”
là mùa chưa tàn, chưa úa, vì thế hãy vội vàng mau chóng tận hưởng hương sắc của nó
4 Đoạn 4: Chín câu còn lại
Mùa xuân vẫn đang còn hương sắc nhưng đã báo hiệu “chia phôi” nên nhà thơbộc lộ một khao khát mãnh liệt - khao khát được giao cảm tận độ với đời, hưởng trọnthanh sắc của thời tươi, khao khát tận hưởng và tận hiến Sự bùng nổ về cảm xúc khi cáitôi được giải phóng đã dẫn đến sự bùng nổ những cách tân, sáng tạo nghệ thuật:
Ta muốn ôm
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn;
Ta muốn riết mây đưa và gió lượn,
Ta muốn say cánh bướm với tình yêu,
Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều
Và non nước, và cây, và cỏ rạng,
Ba chữ “Ta muốn ôm” đứng biệt lập ở giữa dòng như muốn bộc lộ hết những hamhố, cuồng nhiệt của Xuân Diệu với cuộc sống trần thế Đang từ những câu thơ 8 chữ,bỗng rút ngắn lại với câu thơ 3 chữ - câu ngắn nhất trong toàn bài thơ, còn làm chogiọng thơ đanh lại, rắn chắc như một mệnh lệnh đòi hỏi hiện thực hoá những khát vọng
Từ xưng “tôi” ở đầu bài thơ, ở đoạn thơ này nhà thơ chuyển sang xưng “ta” Chữ “ta”
ấy thực ra vẫn là biến thể của chữ “tôi” vẫn để diễn tả một cái tôi cuồng nhiệt, ham sống
và yêu đời tha thiết nhưng cái tôi ấy đã có sự hòa lẫn với cái ta như muốn nói lên mộtkhát vọng chung cho mọi người, hối thúc, lay tỉnh bao người hãy sống mãnh liệt, hãysống tận độ trong từng phút giây của cuộc đời Sau đó, cụm từ “ta muốn” được lặp đilặp lại nhiều lần góp phần tạo nhịp điệu hối hả, thể hiện khao khát được sống hết mình
Trang 11với cuộc đời của thi sĩ, nồng nhiệt, rối rít, cuống quýt như muốn cùng lúc giang tay ômhết cả vũ trụ, cả cuộc đời, mùa xuân vào lòng mình.
Hạnh phúc của con người là được sống cao độ cho mỗi phút giây của tuổi xuân.Say đắm thiên nhiên, cảnh trời, Xuân Diệu muốn tận hưởng thiên nhiên và sự sống vàphải là thiên nhiên giữa thời tươi, phải là sự sống mới bắt đầu mơn mởn, phải là xuânhồng căng mọng, quyến rũ Xuân Diệu tham lam, ham hố muốn tận hưởng tất cả những
gì ngon nhất, đẹp nhất của sự sống Xuân Diệu nhìn mùa xuân, cuộc đời như người tìnhtuyệt vời của mình Bởi vậy hàng loạt động từ mạnh theo trình tự tăng tiến lần lượt xuấthiện trong các dòng thơ: “ôm”, “riết”, “say”, “thâu”, “cắn” kết hợp với hình ảnh thơtươi mới, đầy sức sống là biểu hiện của tình yêu mùa xuân và cuộc đời ngày càng sayđắm, mãnh liệt Thi nhân như muốn ôm hết vào lòng mình cái cây non xanh, đầy sứcsống của “sự sống bắt đầu mơn mởn” Từ “mơn mởn” là một từ láy rất gợi cảm và giàu
ý nghĩa Nó gợi hình ảnh về sự vật, cây cối, con người đang ở độ non tơ, tươi mới đầysức sống Ôm hết cả “mây đưa và gió lượn”, “cánh bướm với tình yêu”, “non nước”,
“cây” và “cỏ rạng” nhưng ôm thôi vẫn chưa đủ vì ôm vẫn còn còn lỏng lẻo quá Nếukhông ôm cho chặt để giữ lấy thì tất cả vẻ đẹp ấy sẽ trôi đi nên không chỉ ôm mà phải
“riết” tức là ôm cho thật chặt Khao khát được giữ mãi khoảnh khắc tươi đẹp của cuộcđời khiến tác giả cảm thấy ôm “riết” vẫn chưa đủ mà phải ôm chặt đến độ say mê, ngâyngất, để cái bên ngoài chuyển hóa vào trong tâm hồn Nhưng dẫu có “say” và say đếnmức độ thế nào đi chăng nữa thì đối tượng mà ta say đắm vẫn chỉ là một khách thể ởbên ngoài Bởi vậy mà nhà thơ khao khát được “thâu” là được hòa nhập, thu vào là một
để tận hưởng đến tận cùng hết mọi vẻ đẹp của cuộc đời Xuân Diệu muốn tận hưởngmọi thứ đến mức:
Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng, Cho no nê thanh sắc của thời tươi;
Điệp từ "cho" liên tiếp kết hợp với tính từ chỉ cảm xúc viên mãn như "no nê”,
“chếnh choáng”, “đã đầy" đã thể hiện cảm xúc cuồng nhiệt, mãnh liệt muốn tận hưởngmùa xuân cuộc đời một cách tối đa, tận cùng nhất Đi liền đó là câu thơ thừa thãi liên từ
“và”: “Và non nước, và cây, và cỏ rạng” Chính sự lặp lại có vẻ như thừa thãi ấy lại làmột sáng tạo rất hiện đại của Xuân Diệu Sự lặp lại liên tiếp liên từ “và” trong một dòngthơ đã truyền đến người đọc một cảm xúc hăm hở cuồng nhiệt của một gã si tình trướcngười tình nhân mà mình yêu đắm đuối
Trang 12Để rồi lời yêu cháy bỏng đã không thể kìm nén mà vang lên đầy tha thiết và nhụccảm:
- Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!
“Xuân hồng” ở đây là một hình ảnh thơ đa nghĩa, là mùa xuân của đất trời đang
độ non tơ, tươi đẹp nhưng cũng có nghĩa là tuổi xuân đương độ đẹp nhất của đời người.Động từ "cắn" ở câu thơ cuối đồng thời khép lại bài thơ chính là điểm nhấn ấn tượngnhất của cả bài Vận dụng hết cả các giác quan để tận hưởng còn chưa đủ, nhà thơ muốndùng hành động táo bạo mạnh mẽ hơn để chiếm hữu tối đa vẻ đẹp của mùa xuân, củacuộc đời Ông muốn chạm vào nhiều hơn, muốn nuốt trọn hương sắc của đất trời khôngcho nó biến mất Có thể nói, từ “cắn” là cách sử dụng ngôn ngữ rất táo bạo Phải dùngngôn ngữ đến như thế mới có thể nói hết khát vọng sống mãnh liệt của thi sĩ Câu thơ:
“Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!” trở thành một trong những câu thơ độc đáo,táo bạo nhất trong thơ hiện đại Cùng với “Tháng Giêng ngon như một cặp môi gần”,Xuân Diệu đã làm cả một cuộc cách mạng lớn trong thi ca để trở thành nhà thơ mớinhất trong các nhà thơ mới
Với cách sử dụng ý thơ theo cấp độ tăng tiến, từ ngữ mạnh bạo, giàu sức gợi kếthợp với nhịp thơ biến hóa vui tươi, vồ vập, giục giã, đoạn thơ thứ 3 trong bài thơ "VộiVàng" đã diễn tả chân thực quan niệm nhân sinh tiến bộ và mới mẻ của Xuân Diệu.Không chỉ bộc lộ cái tôi khát khao mãnh liệt sống, tận hưởng, nhà thơ còn muốn gửigắm tới mọi người thông điệp nhân sinh ý nghĩa Sống là phải biết trân trọng thời gian,sống phải biết tận hưởng, yêu hết mình và cũng phải hiến dâng hết mình
2 Nội dung
Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh từng nói: “Đây là tiếng nói của một tâm hồn yêuđời, yêu sống đến cuồng nhiệt” Bài thơ thể hiện một quan niệm nhân sinh rất mới mẻ
Trang 13của Xuân Diệu Nhà thơ yêu cuộc sống trần thế, tìm thấy trong đó biết bao điều hấp dẫn
và đáng sống Cả thiên nhiên và con người đều tràn đầy niềm vui, hạnh phúc, sungsướng Nhưng tạo hóa không sinh ra con người để hưởng thụ mãi, cuộc đời con người
là có hạn Bởi vậy, con người cần vội vàng biết tận hưởng những gì mà cuộc sống bantặng, phải biết sống hết mình với cuộc đời Đó là quan niệm nhân sinh rất nhân văn, tíchcực Nó giúp ta thêm yêu cuộc sống này, biết trân trọng từng khoảnh khắc của cuộcsống, biết sống tận hiến và tận hưởng để một khi cuộc đời, tuổi trẻ có trôi qua ta cũngkhông phải ân hận, hối tiếc vì đã sống hoài, sống phí “Vội vàng” của Xuân Diệu thểhiện rõ dấu ấn của một nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới về cả nội dung và nghệthuật, xứng đáng được coi là một tuyệt tác cho mọi thời
LUYỆN ĐỀ
Đề bài 1: Nhà phê bình văn học Hoài Thanh có nhận xét: “Bây giờ khó mà nói được cái ngạc nhiên của làng thơ Việt Nam hồi Xuân Diệu đến Người đã tới giữa chúng ta với một y phục tối tân và chúng ta đã rụt rè không muốn kết thân với con người có hình thức phương xa ấy Nhưng rồi ta cũng quen dần, vì ta thấy người cùng ta tình đồng hương vẫn nặng”
Trình bày ý kiến của anh (chị) về nhận xét trên.
I MỞ BÀI
Khi Thơ mới bắt đầu thắng thế, nếu Thế Lữ được coi là ngôi sao sáng nhất củabầu trời Thơ mới buổi đầu, thì chỉ vài năm sau, ở giai đoạn thứ hai, Thế Lữ phải nhườngngôi “đệ nhất thi sĩ” cho Xuân Diệu Trong “Thi nhân Việt Nam”, Hoài Thanh khi nhậnxét (và có ý so sánh) một số phong cách các nhà Thơ mới đã tinh tường khái quát:
“Hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo não như HuyCận, quê mùa như Nguyễn Bính, kì dị như Hàn Mạc Tử, Chế Lan Viên và thiết tha, rạorực, băn khoăn như Xuân Diệu…” “Thiết tha, rạo rực, băn khoăn”, phải là ba tính từ(chứ không phải một) đã thâu tóm đúng thần thái thơ và đời Xuân Diệu Các nhà phêbình, các nhà thơ, bạn đọc trong và ngoài nước đã không tiếc lời ngợi ca thơ ông, VớiThế Lữ thì Xuân Diệu là “một tâm hồn đằm thắm và rất dễ cảm xúc”, là “nhà thi sĩ củatuổi xuân, của lòng yêu, và của ánh sáng”, còn thơ Xuân Diệu “không phải là văn
Trang 14chương nữa; đó là lời nói, là tiếng reo vui hay tiếng năn nỉ, là sự chân thành cảm xúc,hoặc là những tình ý rạo rực biến lẩn trong những thanh âm” “Xuân Diệu là người củađời, một người ở giữa loài người Lầu thơ của ông xây dựng trên đất của một tấm lòngtrần gian” Cả Hoài Thanh và Vũ Ngọc Phan đều có chung một đánh giá: “Xuân Diệumới nhất trong các nhà Thơ mới” và “Xuân Diệu đã đem đến cho thơ caViệt Nam nhiều cái mới nhất”… Và có thực sự hiểu thơ Xuân Diệu mới nhận thấy thơXuân Diệu vẫn kế thừa sâu sắc thơ ca truyền thống của dân tộc Về điều này, Hoài
Thanh – tác giả của “Thi nhân Việt Nam” đã nhận xét: “Bây giờ khó mà nói được cái ngạc nhiên của làng thơ Việt Nam hồi Xuân Diệu đến Người đã tới giữa chúng ta với một y phục tối tân và chúng ta đã rụt rè không muốn kết thân với con người có hình thức phương xa ấy Nhưng rồi ta cũng quen dần, vì ta thấy người cùng ta tình đồng hương vẫn nặng”
II THÂN BÀI
1.Giải thích
- Y phục tối tân: chỉ đặc điểm hiện đại, mới mẻ của thơ Xuân Diệu
- Tình đồng hương vẫn nặng: chỉ đặc điểm và sự kế thừa thơ ca truyền thống củadân tộc
- Xuân Diệu là một trí thức Tây học , đã hấp thụ ảnh hưởng của tư tưởng và vănhoá Pháp Đối với thơ ca Pháp, ông đặc biệt chịu ảnh hưởng sâu sắc của trường thơtượng trưng Thơ Xuân Diệu thể hiện quan hệ tương giao giữa các giác quan cùng tínhnhạc của thơ Ông là nhà thơ của niềm khát khao giao cảm với đời Niềm say mê mùaxuân, tuổi trẻ, tình yêu ở Xuân Diệu đã dẫn đến một cách tân đặc sắc về cảm hứng, thitứ, bút pháp; xây dựng hình ảnh, cú pháp, nhịp điệu … Xuân Diệu đến với thơ ca và cónhững đóng góp mới mẻ về thi pháp với những cách tân nghệ thuật giàu sáng tạo
- Nhưng sự cách tân của Xuân Diệu vẫn có nguồn gốc của thơ ca truyền thống mà
Hoài Thanh gọi đó là “tình đồng hương vẫn nặng” Bởi lẽ Xuân Diệu là con của một
ông tú kép nên có điều kiện tiếp xúc và sớm hiểu biết văn chương cổ điển Ông cũngtiếp thu các đức tính cần cù, kiên nhẫn cuả người cha xứ Nghệ và cái hồn nhiên say đắmcủa người mẹ nơi gió cát vùng biển miền Trung Bản thân Xuân Diệu còn hấp thụ mộtcách tự nhiên ảnh hưởng của nền văn hoá truyền thống trong quá trình học tập, sinhsống (ông từng học ở Qui Nhơn, Huế, Hà Nội và có thời gian công tác ở Mĩ Tho)
=> Xuân Diệu được mệnh danh là “nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới” Ôngtìm đến thơ ca hiện đại Pháp vì nó có khả năng diễn tả chân thực những khát khao mãnh
Trang 15liệt của lòng mình nhưng Xuân Diệu vẫn gắn bó với thơ ca dân tộc Khi cái mới xuấthiện, ban đầu nó xa lạ nhưng người ta dần quen với nó và nhận ra trong cái mới ấy cógốc rễ là truyền thống Bởi vậy, có thể nói hồn thơ Xuân Diệu là sự kết hợp nhuầnnhuyễn giữa hai yếu tố: cổ điển và hiện đại
2 Phân tích, chứng minh
2.1 Đặc điểm sáng tác rất mới mà rất truyền thống về nội dung:
- Xuân Diệu trước tiên là một nhà thơ mới rất mới Điều đó được thể hiện rõ ở phươngdiện nội dung như sau:
+ Ông yêu tha thiết cuộc sống ở chốn trần gian và thấy cuộc sống ở chốn trầngian ở thời hiện tại là một thiên đường Từ thiên nhiên đến con người đều tràn đầy sứcsống và niềm vui Ông thường viết về mùa xuân, tuổi trẻ và với ông, tất cả đều là tìnhyêu thứ nhất, là mùa xuân đầu
+ Ông thể hiện quan niệm nhân sinh rất độc đáo, mới lạ Bằng sự nhạy cảm củamình, Xuân Diệu ý thức được sự chảy trôi của thời gian, hiểu rằng thời gian một đikhông trở lại nên luôn mang trong mình nỗi ám ảnh, sợ hãi trước sự trôi chảy của thờigian Bởi vậy, nhà thơ muốn chạy đua với thời gian để giành giật sự sống tận hưởngtừng phút giây của cuộc đời, thể hiện niềm ham sống lành mạnh Ông cho rằng, conngười phải sống nhanh, sống gấp, sống hết mình với cuộc đời để một khi cuộc đời trôiqua cũng không phải ân hận và tiếc nuối, phải “Sống toàn tâm,toàn trí, sống toàn hồn” ,
“Sống toàn thân và thức ngọn giác quan” với cuộc đời và “Thà một phút huy hoàng rồichợt tắt/Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm”
+ Ông thể hiện quan niệm thẩm mĩ rất hiện đại, luôn lấy thiên nhiên làm chuẩnmực, thước đo của cái đẹp Xuân Diệu là nhà thơ của mùa xuân, tình yêu và tuổi trẻ,hầu như mọi sự so sánh của ông đều hướng đến con người trong tuổi trẻ và tình yêu,đặc biệt là các nàng thiếu nữ đẹp
+ Thơ mới là thơ của cái “tôi”, viết về cái “tôi”, nhưng chỉ với Xuân Diệu, sự tồntại của cái “tôi” mới được đẩy lên với ý nghĩa tuyệt đối của nó Thơ ông tràn ngập chữ
“tôi”, nó được khai thác và biểu hiện ở nhiều cấp độ khác nhau Có điều, con người rất
có ý thức về bản ngã ấy không phải là cái “tôi” khép kín mà là cái “tôi” luôn phơi trải,luôn mở ra trước cuộc đời, là một tâm hồn khao khát tìm gặp những tâm hồn Nó ítnhiều phô diễn bức chân dung tự họa của nhà thơ:
Ta là một là riêng là thứ nhất
Trang 16Không có ai bè bạn được cùng ta
- Cảm hứng thơ Xuân Diệu rất mới lạ nhưng đề tài vẫn rất truyền thống Trước Cáchmạng tháng Tám, đóng góp của Xuân Diệu không phải là ở đề tài mà nét đặc sắc củaXuân Diệu là ở cảm hứng, thể hiện cảm xúc mãnh liệt của ông trước cuộc đời:
+ Các nhà thơ truyền thống cũng viết về sự cô đơn Trước nay, cô đơn trong thơcủa các nhà thơ cũ là vì thiếu vắng con người, thiếu vắng một cái gì bầu bạn như Tản
Đà cô đơn vì “Suông rượu, suông tình, bạn cũng suông”, Nguyễn Bính thì “Cô đơn buồn lại thêm buồn / Tạnh mưa bươm bướm có còn sang chơi” Nhưng Xuân Diệu thì
lại khác, con người và thơ văn Xuân Diệu cũng chịu ảnh hưởng của nỗi buồn cô đơntrong văn thơ lãng mạn Pháp Vì hướng tới sự giao cảm về phương diện tinh thần vàtâm hồn nên tình yêu trong thơ Xuân Diệu rất mãnh liệt, say đắm Xuân Diệu yêu đờitha thiết, khao khát được đáp lại nhưng rồi ông nhận ra yêu tha thiết vẫn là chưa đủ,nhiều khi yêu say đắm mà vẫn bơ vơ, tình yêu như nước đổ lá khoai Bởi vậy, hầu hếtnhiều bài thơ của Xuân Diệu là nỗi đau của một trái tim yêu đắm say, nồng nhiệt màkhông được đến đáp xứng đáng và thường thấm đẫm nỗi buồn cùng mặc cảm cô đơn.Cho nên vẫn là nỗi cô đơn nhưng sự cô đơn của Xuân Diệu khác các nhà thơ cũ ở chỗ
dù có người, có vật, có cảnh bên mình cũng vẫn là “hòn đảo cô đơn” :
Dù tin tưởng chung một đời một mộng
Em vẫn là em, anh vẫn cứ là anh
Có thể nào qua vạn lí trường thành Của hai vũ trụ chứa đầy bí mật
(Xa cách )+ Tình yêu trong thơ Xuân Diệu không diễn tả bóng gió, ước lệ tượng trưng nhưtrước kia mà nói một cách cụ thể, đầy đủ với ý nghĩa tình yêu bao gồm cả tâm hồn và
thân xác: “Đây gối lả Tay em đây , mời khách ngả đầu say”, “Mình em không được quấn chân anh / Sát đôi vai, kề đôi ngực / Trộn nhau đôi mái tóc ngắn dài”
+ Thiên nhiên trong thơ xưa thường được tiếp nhận bằng thị giác, ít nhiều bằngthính giác nhưng Xuân Diệu thưởng thức thiên nhiên không chỉ vậy mà còn cả bằng xúcgiác:
Tôi để da tay ý dịu tràn Gửi vào cây cỏ chút mơn man
Trang 17Chân trần sung sướng nghe da đất Tôi nhận xa xôi của dặm ngàn
(Đi dạo )
Và cả bằng vị giác: “Hương hiu hiu nên gió cũng ngọt ngào” Mọi biến thái mong
manh, tinh vi, huyền diệu nhất của thiên nhiên, tạo vật và lòng người đều đã được hồnthơ nhạy cảm của Xuân Diệu phát hiện và miêu tả rõ nét bằng những câu thơ đẹp vàtinh tế, tạo được dấu ấn độc đáo riêng
2.2 Đặc điểm sáng tác rất mới mà rất truyền thống về nghệ thuật:
- Sự bùng nổ về cảm xúc của cái Tôi cá dẫn đến sự bùng nổ về sáng tạo nghệ thuật:
+ Xuân Diệu thường nhân hoá thiên nhiên một cách táo bạo Nhà thơ gắn cho
thiên nhiên những tâm tư, hành động, tâm trạng “rất người” một cách tự nhiên, hợp lí :
“Bữa nay lạnh , mặt trời đi ngủ sớm”
“Đêm bâng khuâng đôi miếng lẩn trong cành”
“Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng”
+ Xuân Diệu ảnh hưởng của thơ Pháp thế kỉ XIX về cách diễn đạt, thể thơ tự do,câu thơ dài ngắn, co duỗi linh hoạt, nhịp điệu, cú pháp… nên cách diễn đạt của XuânDiệu quá mới đối với người đọc Việt Nam lúc bấy giờ:
Hôm nay tôi đã chết trong người Xưa hẹn nghìn năm yêu mến tôi
( Ý thơ )
Hơn một loài hoa đã rụng cành Trong vườn sắc đỏ rũa màu xanh
( Đây mùa thu tới )
+ Xuân Diệu cũng lục tìm, sáng chế những từ mới, sử dụng hình ảnh thơ tươi mớiđầy sức sống:
“Cơn gió xinh thì thào trong lá biếc”
“Cành biếc run run chân ý nhi”
Trang 18“Em vui đi răng nở ánh trăng rằm”
- Nhưng nghệ thuật thơ Xuân Diệu cũng mang các yếu tố truyền thống:
+ Có lúc những từ ngữ Xuân Diệu chọn lựa thật giản dị, mộc mạc :
Anh bước điềm nhiên không vướng chân Anh đi lững thững chẳng theo gần
Vô tâm nhưng giữa bài thơ lạ Anh với em như một cặp vần ( Thơ duyên )
+ Ông sử dụng những biệp pháp tu từ thường thấy trong thơ ca truyền thống nhưđiệp ngữ, điệp từ :
“Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua Xuân còn non nghĩa là xuân sắp già”
“Của ong bướm này đây tuần tháng mật Này đây hoa của đồng nội xanh rì
Này đây lá của cành tơ phơ phất
Và này đây ánh sáng chớp hàng mi”
có vẻ rất phương Tây là một “ tình đồng hương vẫn nặng” nghĩa là vẫn rất Việt Nam.
Đây chính là nét độc đáo của Xuân Diệu nói riêng và của phong trào Thơ mới nói chung
III KẾT LUẬN
Trang 19Sinh thời, Xuân Diệu vẫn tìm đến sự giao cảm với cuộc đời bằng thơ, bằng tâmhồn của một nhà thơ thiết tha yêu sự sống Sự nghiệp mà ông để lại là một di sản thơ vôgiá mà từng ý thơ, từng lời thơ vẫn tiếp tục nảy sinh, đánh thức dậy niềm vui, nỗi buồn
và bao xôn xao trong lòng tuổi trẻ hôm nay Là nhà thơ “mới nhất” trong các nhà Thơmới, ông đã mang đến cho thi đàn Việt Nam một nguồn cảm hứng yêu đời dào dạt, mộtluồng rung động mới mẻ trước tình yêu, một nhịp sống hoàn toàn mới lạ và một cái tôigiàu bản sắc Ông cũng là người tìm ra nhiều kiểu cấu trúc hiện đại cho câu thơViệt Nam và làm phong phú thêm hình thức thơ bằng những hình ảnh độc đáo và nhữngnét nhạc điệu tân kì Có thể nói, sự cộng hưởng giữa khát vọng sống và khát vọng đổimới thơ ca là nguồn động lực thúc đẩy mọi sự tìm tòi sáng tạo và tạo ra sức mạnh cảmhóa đặc biệt của thơ Xuân Diệu trước Cách mạng Tháng Tám
Với nửa thế kỉ hành trình sáng tạo, Xuân Diệu đã để lại cho các thế hệ độc giả vànhất là những người cầm bút bài học thấm thía về tài năng và bản lĩnh thi sĩ Con đường
đi của Xuân Diệu từ một nhà thơ lãng mạn thành một nhà thơ Cách mạng là con đườngtiêu biểu cho thế hệ Thơ mới 1932-1945 Vị trí của ông trên văn đàn dân tộc là một vịtrí không ai có thể thay thế được Cùng với khát vọng sống thiết tha sôi nổi, thơ XuânDiệu sẽ tiếp tục hành trình trong cuộc sống hôm nay và mai sau
Đề số 2: Lẽ sống lớn của Xuân Diệu qua bài thơ “Vội vàng”
- Lẽ sống: quan niệm sống và mục đích sống mà nhà thơ hướng tới
- Lẽ sống thể hiện trong bài thơ ngay ở nhan đề “Vội vàng": Sống gấp gáp, vội vàng để
tận hưởng vẻ đẹp của trời đất, sống mà không chần chừ để phí quá nhiều thời gian
Trang 20nhưng không có nghĩa là sống hời hợt bỏ qua nhiều thứ; sống là phải biết hưởng thụ vàbiết yêu thương.
- Quan niệm sống thể hiện trong bài thơ:
+ Yêu và gắn bó với cuộc sống ở chốn trần gian
+ Cuộc đời con người đẹp nhất trong mùa xuân, tình yêu, tuổi trẻ
+ Sống vội vàng, hết mình với cuộc đời
2 Phân tích, chứng minh
2.1 Yêu và gắn bó với cuộc sống ở chốn trần thế
* Khao khát mãnh liệt vượt qua giới hạn của con người để được sống mãi trong khoảnh khắc tươi đẹp ở thực tại: muốn đoạt quyền tạo hóa để "tắt nắng, buộc gió" để giữ lại
màu sắc và mùi hương, để thời gian ngừng trôi, để tận hưởng trọn vẹn vẻ đẹp của đấttrời:
"Tôi muốn bay đi"
* Cuộc sống ở chốn trần gian là một thiên đường
- Xuân Diệu vẽ lên cả một thiên đường tràn ngập âm thanh và sắc màu qua bức tranh thiên nhiên và cuộc sống con người”
+ Bức tranh thiên nhiên: "Của ong bướm môi gần” Không gian ngập tràn màusắc: Xanh của cỏ cây => Màu của sự sống đang ở độ căng tràn nhất Không gian ngậptràn âm thanh: Khúc hát mời gọi của yến anh Điệp từ "này đây": Khát khao được tậnhưởng, lời mời gọi không thể chối từ của kẻ si tình trót để quên trái tim khi ghé quanhân thế Cái căng mọng, tràn trề nhựa sống của mùa xuân được Xuân Diệu cảm nhậnnhư một "cặp môi gần" đầy quyến rũ
+ Bức tranh cuộc sống con người đầy niềm vui: “Mỗi buổi sớm thần Vui hằng gõcửa” Tôn thờ vị thần Vui và vị thần này mỗi ngày đều mang đến niềm vui, hạnh phúcđến từng người, từng nhà
2.2 Cuộc đời con người đẹp nhất trong mùa xuân, tình yêu, tuổi trẻ
- Các hình ảnh thơ tươi mới đầy sức sống và đều có đôi có cặp
- Quan niệm thẩm mĩ: “Và này đây ánh sáng chớp hàng mi” + “Tháng giêng ngon như
một cặp môi gần”: Lấy con người trong tuổi trẻ, tình yêu nhất là các nàng thiếu nữ đẹp
là chuẩn mực của cái đẹp
Trang 21- Quan niệm phần đẹp nhất của cuộc đời con người là mùa xuân và tuổi trẻ Mùa xuân
và tuổi trẻ trôi qua thì cuộc đời con người sẽ không còn nhiều ý nghĩa “Nói làm chi rằngxuân vẫn tuần hoàn/Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại”, “Mà xuân hết nghĩa là tôi cũngmất”
2.3 Sống vội vàng, hết mình với cuộc đời một cách đầy ham hố
* Nhận thức về thời gian, cuộc đời: "Tôi sung sướng chẳng bao giờ nữa":
Thi sĩ vừa mừng vừa lo, vui sướng vì được cảm nhận và thưởng thức vẻ đẹp củađất trời, vậy nhưng cũng đầy buồn tiếc vì tuổi trẻ rồi cũng qua nhanh, cái đẹp rồi cũng
có lúc sẽ tàn phai, trời đất là vô hạn còn đời người chỉ thoáng chốc ngắn ngủi, phần đẹpnhất của cuộc đời là mùa xuân, tình yêu, tuổi trẻ còn ngắn ngủi hơn nữa
Thi sĩ bâng khuâng lo lắng cho tuổi trẻ ngắn ngủi của mình Ông lại hoài niệm vềcuộc đời, về những thứ mà có thể mình không thưởng thức hết được => Nỗi buồn thấmvào cảnh vật khiến chúng cũng man mác một nỗi buồn chia phôi
* Phải sống vội vàng, gấp gáp và hết mình với cuộc đời: “Mau đi thôi… cắn vào
ngươi!”
Càng trân trọng, càng không muốn để mất, con người ta càng trở nên vội vã.Không thể tắt nắng, buộc gió cho thời gian ngừng trôi nên thi sĩ chọn cách chạy đuacùng thời gian, lí trí và con tim lên tiếng mách bảo Xuân Diệu phải sống hết mình đểmọi thứ trôi qua không còn gì phải hối tiếc Khát khao bùng lên mãnh liệt, đỉnh điểm là
"cắn" vào mùa xuân đang tràn ngập sự sống
3 Đánh giá:
- Quan niệm sống mới mẻ, táo bạo và tích cực
- Sự bùng nổ trong cảm xúc và khát vọng đã dẫn đến những sáng tạo nghệ thuật mới lạ:Thể thơ tự do phóng túng, câu thơ co duỗi nhịp nhàng, nhịp điệu gấp gáp, linh hoạt theocung bậc cảm xúc, các phép tương giao ảnh hưởng của thơ tượng trưng cũng sử dụngtriệt để Những câu thơ vắt dòng, từ ngữ táo bạo và hình ảnh thơ tân kì, tươi mới, đầysức sống, các động từ mạnh… cùng với các biện pháp tu từ như điệp từ, điệp ngữ, điệpcấu trúc, liệt kê, so sánh, chuyển đổi cảm giác, sử dụng động từ mạnh theo chiều tăngtiến
III KẾT LUẬN
Trang 22- Khẳng định quan niệm nhân sinh mởi mẻ, tích cực của Xuân Diệu Từ đó khẳngđịnh lẽ sống: sống tận hiến và tận hưởng để không bao giờ phải ân hận về những nămtháng đã sống hoài, sống phí.
- Nêu cảm xúc, suy nghĩ của bản thân: Thêm yêu và trân trọng những gì mà cuộcsống đã ban tặng, thấy mỗi khoảnh khắc của cuộc đời đều có ý nghĩa
1930 – 1945 và trong dàn đồng ca đa sầu đa cảm của các nhà thơ lãng mạn thì hồn thơHuy Cận là ảo não nhất Khi ông xuất hiện trên thi đàn thì người ta thấy dậy lên mộttiếng địch buồn Thơ của ông thường thể hiện một nỗi buồn lớn, triền miên, vô tận vàtưởng chừng kéo dài đến hàng ngàn, hàng vạn năm Vì thế người ta mệnh danh ông lànhà thơ của nỗi “sầu vạn cổ” hay “thiên cổ sầu” “Tràng Giang” ra đời năm 1939, sau
đó được đưa vào tập thơ “Lửa thiêng” in năm 1940 là bài thơ tiêu biểu cho hồn thơ HuyCận trước cách mạng Tác phẩm là bức tranh cảnh vật tràng giang mênh mông sóngnước và trong bức tranh cảnh vật ấy ẩn chứa một nỗi buồn triền miên, vô tận
II THÂN BÀI
1 Khái quát
- Hoàn cảnh ra đời: “Trên cánh đồng văn chương màu mỡ người nghệ sĩ như
những hạt cát bụi bay lượn trong không khí để tìm cho mình những dư vị còn lại” VàHuy Cận là hạt cát đã bay lượn tìm kiếm vẻ đẹp của quê hương, xứ sở để làm thơ.Người nghệ sĩ ấy đã đứng trước dòng sông Hồng đỏ nặng phù sa để nguồn xúc cảmlắng đọng lại ở thi phẩm “Tràng Giang” Ấy là khi còn là sinh viên của trường Cao đẳngcanh nông, vào các buổi chiều cuối tuần Huy Cận thường đạp xe lên vùng Chèm để vẽtranh ngoạn cảnh Vào một buổi chiều mùa thu năm 1939, ông đã dừng lại để ngắm
Trang 23cảnh sông Hồng Cảnh vật dòng sông mênh mông sóng nước gợi hứng cho nhà thơ sángtác bài thơ “Tràng Giang” Bài thơ được xem là thi phẩm nổi tiếng thể hiện rõ phongcách thơ của Huy Cận Mặc dù được gợi ý, gợi tứ từ cảnh vật sông Hồng nhưng theonhà thơ thì trong bài thơ này ông không chỉ viết về sông Hồng mà viết về tất cả cácdòng sông quê hương Ban đầu, tác phẩm có tên là “Chiều trên sông” nhưng về sau đổithành “Tràng giang”
Bài thơ có 4 khổ thơ và bức tranh cảnh vật tràng giang không được miêu tả theotrình tự nhất định, bởi nhà thơ không có ý định khắc họa bức tranh thiên nhiên đầy đủ
mà chỉ có ấn tượng về một nỗi buồn trải dài vô tận trong không gian và thời gian
- Đề từ:
+ Lời đề từ thường là câu, đoạn thơ hay câu, đoạn văn ngắn gọn, cô đọng dẫn ra ởđầu tác phẩm hoặc hoặc một bộ phận của tác phẩm (chương, hồi, đoạn, phần) Lời đề từkhông chỉ có thể là lời của chính tác giả, mà đôi khi là thơ, văn mà tác giả mượn củamột tác giả nào đó Đề từ xuất hiện đa dạng trong tất cả các văn bản nghệ thuật như thơ,truyện ngắn, tiểu thuyết, văn bản kịch, kí và cả trong những bức thư nhưng xuất hiệnnhiều nhất là trong thơ và truyện ngắn Đề từ nhằm nêu lên nguồn cảm hứng, chủ đề tưtưởng của tác phẩm, hướng người đọc vào ý đồ nghệ thuật của tác phẩm nhưng đôi khi
nó cũng chỉ là vật trang sức cho tác phẩm mà không đem đến nhiều ý nghĩa
+ Câu thơ đề từ “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài” thuộc kiểu lời đề từ cónhiều ý nghĩa Trước hết, lời đề từ này gợi không gian rộng lớn, rợn ngợp với cảnh “trờirộng sông dài” và trong không gian ấy hình ảnh con người càng trở nên nhỏ bé, lẻ loi,tội nghiệp Đồng thời, lời đề từ còn bộc lộ rõ cảm xúc, cảm hứng chủ đạo xuyên suốttác phẩm Đó là tâm trạng “bâng khuâng”, nỗi buồn mênh mang, da diết, khôn nguôi,gợi cả nỗi buồn sâu lắng trong lòng người đọc Lời đề từ này như vậy vừa là cảm hứngvừa có tác dụng định hướng về ý nghĩa, vừa tạo tính cổ điển, hiện đại cho bài thơ
2 Khổ thơ 1:
Huy Cận là một nhà thơ mới, ông yêu thích cả thơ ca Việt Nam, thơ Đường vàchịu ảnh hưởng sâu sắc của văn học Pháp Bởi vậy thơ Huy Cận vừa mang màu sắc dântộc vừa có tính cổ điển và vừa rất hiện đại Những đặc điểm nổi bật của thơ Huy Cận
được thể hiện rõ ngay từ khổ thơ đầu tiên của bài thơ:
Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp, Con thuyền xuôi mái nước song song.
Trang 24Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả;
Củi một cành khô lạc mấy dòng
* Câu thơ đầu (bao gồm ý nghĩa nhan đề)
Có biết bao thi sĩ đã mượn thiên nhiên để giải bày lòng mình Tâm trạng của conngười, nhất là nỗi buồn thường được giãi bày ra trong cảnh vật Ta đã thấy điều đó trongthơ Nguyễn Du “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”, đã thấy một nỗi buồn như thếtrong “Chinh phụ ngâm”:
Người buồn cảnh thiết tha lòngCành cây sương đượm tiếng trùng mưa phunNỗi buồn của con người thì vô vàn, nhất là với các nhà thơ mới thì buồn rất nhiềunên thiên nhiên trong thơ mới thường đẹp nhưng lại buồn đến da diết Trong những nămtháng tăm tối của đất nước, Huy Cận cũng buồn và thi sĩ cũng tìm đến phơi trải lòngmình qua các hình ảnh thiên nhiên đẹp Vì thế, ngay từ câu thơ đầu tiên, tác giả đãhướng người đọc hình dung ra một dòng sông mênh mang sóng nước
Bài thơ ngay từ đầu đã có sự láy lại nhan đề: “Tràng giang” Trong tiếng Việt hiệnhành có hai từ chỉ chiều dài là từ “trường” và từ “tràng” Nói như vậy có nghĩa là
“Tràng giang” vốn đồng nghĩa với trường giang, cùng có nghĩa là sông dài nhưngtrường giang thì chỉ có nghĩa chỉ chiều dài còn tràng giang không chỉ gợi chiều dài dòngsông mà còn có sức gợi rất lớn, thể hiện sự tinh tế của Huy Cận khi sử dụng tiếng Việt.Việc láy lại vần “ang” có tác dụng gợi tả cả chiều rộng của dòng sông, bởi thế Trànggiang không chỉ là dòng sông dài mà là Đại giang (sông lớn) Vần “ang” còn tạo một dư
âm vang xa, ngân dài và âm hưởng trầm hùng tạo nên âm hưởng chung của cả bài thơ.Hơn nữa “Tràng giang” là từ Hán Việt nên còn gợi cho bài thơ một không khí cổ kính,gợi tả một dòng sông từ ngàn xưa chảy qua hàng ngàn năm lịch sử, văn hóa, chảy quakhông biết bao nhiêu áng sử thi Ngoài ra, nhan đề này còn gợi cả một nỗi buồn triềnmiên không dứt Nỗi buồn ấy mở rộng, mênh mông bát ngát trên dòng tràng giang
Trên mặt nước của dòng đại giang mênh mông, bát ngát là những con sóng lăntăn, gợn gợn Những con sóng tuy nhỏ nhưng muôn vàn con sóng cùng từ láy “điệpđiệp” đã gợi tả sự nối tiếp nhau, kéo dài đến vô tận thành bức tranh thiên nhiên rộng
mở, kì vĩ Đứng trước cảnh vật bao la, vô cùng vô tận ấy nỗi buồn của nhà thơ có trong
và trải dài trên từng con sóng Nỗi buồn vì thế cũng triền miên, vô tận, thành nỗi sầu
Trang 25vạn kỉ, thiên cổ sầu vẫn thường thấy trong thơ Huy Cận: “Một chiếc linh hồn nhỏ, mangmang thiên cổ sầu”.
* Câu thơ 2 + 3:
Giữa dòng Đại giang còn xuất hiện hình ảnh một con thuyền, con thuyền ấykhông có người lái nên mái chèo của nó bị buông lơi Con thuyền trôi không địnhhướng, song song với dòng nước theo kiểu nước chảy thì thuyền trôi Bởi vậy, hình ảnhcon thuyền giữa dòng đại giang mênh mông sóng nước trong câu thơ trước hết gợi ấntượng về sự nhỏ bé, trôi dạt, vô phương hướng
Thuyền và nước đi liền với nhau nên người ta thường nói “nước chảy thuyềntrôi” Nhưng ở câu thơ này thì dòng nước và con thuyền lại đi song song với nhau, cóchuyển động ngược hướng của cảnh “thuyền về nước lại” Thuyền và nước đi songsong với nhau thế nên không bao giờ gặp gỡ, bỗng trở thành hai cá thể độc lập không có
sự gắn bó và gợi tính chất phân ly của cuộc đời Câu thơ như vậy một lần nữa nhấnmạnh thêm nỗi buồn khiến khổ thơ quả thật đã nói rất nhiều đến nỗi buồn Nỗi buồn ởcâu thơ trước đã được thể hiện trực tiếp từ qua từ “buồn” và trải dài theo chiều dài củadòng đại giang thì ở đây nỗi buồn thể hiện qua chữ “sầu” và tỏa ra theo chiều rộngthành “sầu trăm ngả” Một nỗi buồn lan tỏa khắp vũ trụ bao la, rộng lớn như thế thì có
lẽ chúng ta chỉ tìm thấy ở các nhà thơ lãng mạn 1930-1945 và ở hồn thơ Huy Cận
* Câu thơ bốn:
Hình ảnh con thuyền trôi dạt giữa dòng đại giang đã gợi sự nhỏ bé, trôi dạt, vôphương hướng nhưng hình ảnh cành củi khô xuất hiện trong câu thơ thứ tư còn gợibuồn, gợi sự cô đơn, tội nghiệp hơn rất nhiều Trên mặt nước Tràng giang đã có nhữngcon sóng lăn tăn, gợn gợn, đã có hình ảnh con thuyền nhỏ bé giờ còn xuất hiện thêmhình ảnh một cành củi khô Hình ảnh sóng, con thuyền vốn là hình ảnh quen thuộc trongthơ ca xưa nay nhưng đến thời điểm “Tràng giang” ra đời thì hình ảnh cành củi khô vẫn
là một thi liệu mới mẻ chưa từng được nhắc đến Cành củi khô vốn là một cành cây đãlìa khỏi cây, nó đã mất đi sự sống và nay lại lạc giữa mấy dòng nước So với sự mênhmông, rộng lớn trong dòng Đại giang, hình ảnh con thuyền đã nhỏ bé thì hình ảnh cảnhcủi còn nhỏ hơn nhiều Cả hai hình ảnh con thuyền và cành củi đều nằm trong hệ thốnghình ảnh gợi sự nhỏ bé, trôi dạt… Những hình ảnh đó đều gợi ta liên tưởng về nhữngkiếp người nhỏ bé, vô danh, trôi dạt giữa dòng đời Nghệ thuật đối lập giữa các hìnhảnh con thuyền, cành củi với sự rộng lớn của dòng Đại giang càng nhấn mạnh thêm nỗibuồn, tô đậm thêm sự nhỏ bé, vô định của kiếp người Bút pháp "tả cảnh ngụ tình" củaHuy Cận trong khổ thơ cũng thật tài tình, chỉ thông qua vài hình ảnh giản đơn như
Trang 26“sóng gợn”, “ con thuyền”, “củi một cành khô” mà tác giả có thể truyền tải mạnh mẽnhững cảm xúc của mình đến người đọc khiến khổ thơ không chỉ là bức tranh cảnh vậtthiên nhiên mà hơn nữa là cảm xúc vũ trụ, là nỗi buồn nơi đáy hồn nhân thế
*Đánh giá chung về khổ thơ
Có thể nói, ở khổ thơ này ta vừa nhận ra dấu ấn của Đường thi vừa nhận ra nhữngđặc điểm ảnh hưởng của thơ tượng trưng Pháp
+ Tính chất cổ điển: được thể hiện trước hết ở thể thơ bảy chữ với những cách
ngắt nhịp của thơ truyền thống là 4/3 , bút pháp tả cảnh ngụ tình trong thơ cổ thế thểhiện rõ qua việc miêu tả bức tranh cảnh vật Tràng Giang và qua bức tranh cảnh vật đó
để thể hiểu tâm trạng là nỗi buồn trước cảnh trời rộng sông dài Cổ điển ở nghệ thuậtđối chủ yếu là đối ý chứ không phải trong câu thiên về niêm luật Đó là sự đối lập giữahình ảnh con thuyền, cành củi với dòng đại giang mênh mông sóng nước; Đối lập với
sự nhỏ bé, đơn chiếc với sự rộng lớn vô cùng vô tận, nghệ thuật đối cũng làm cho giọngđiệu của đoạn thơ trở nên uyển chuyển phát huy thế mạnh của thơ đường cùng với việc
sử dụng các từ Hán Việt tạo không khí trang trọng, sự tương xứng nhịp nhàng Bên cạnh
đó việc láy lại vần ang và các từ lấy nguyên gốc “ song song”,”điệp điệp” cũng lànhững yếu tố tạo nên cổ điển cho bài thơ
+ Tính chất hiện đại: Huy Cận giống phần đông các thi sĩ trong phong trào thơ
mới đều chịu ảnh hưởng khá rõ của trường thơ tượng trưng Pháp thế kỷ 19 Nhà thơXuân Diệu là bạn thân của Huy Cận đã từng viết :
Tôi nhớ Rembô với VeclenHai chàng thi sĩ choáng hơi menSay thơ xa lạ mơ tình bạn
Khinh rẻ khuôn món bỏ lối quen Xuân Diệu tự ví mình và Huy Cận như hai chàng thi sĩ Pháp say mê sáng tạo, từ
bỏ mọi khuôn mòn để tìm đến với “thơ xa lạ” Vì vậy, “Tràng giang” của Huy Cận dẫumang rất nhiều yếu tố cổ điển nhưng trước hết nó vẫn là một bài thơ hiện đại, là một sảnphẩm của thơ ca lãng mạn Tính chất hiện đại trong khổ thơ được thể hiện ở việc sửdụng các thi liệu rất mới mẻ Đó chính là hình ảnh cành củi khô lạc giữa dòng nước gợinỗi buồn, gợi liên tưởng đến những kiếp người nhỏ bé trôi dạt Những hiện đại hơn hơn
cả là cảm xúc vì chưa bao giờ người ta thấy thơ lại mang một nỗi buồn lớn đến thế, mộtnỗi buồn tưởng chừng kéo dài đến hàng ngàn, hàng vạn năm Đó là nỗi buồn của mộtthế hệ nhà thơ mới trong một xã hội xấu xa thối nát, họ rơi vào bế tắc trong việc tìm lốithoát vì thế tạo nên những dòng lệ trong văn chương Ngoài ra, nỗi buồn còn xuất phát
Trang 27từ quan niệm Mỹ học của các nhà thơ mới, quan niệm mà họ chịu ảnh hưởng từ phươngTây: “Em cứ đẹp và em mãi buồn” Với họ cái đẹp đi liền với cái buồn, phải buồn thìmới đẹp và đó có lẽ cũng là quan niệm mà Huy Cận đã thể hiện trong bài thơ này.
=> Khổ thơ cũng như toàn bộ bài thơ không chỉ là nỗi buồn mà còn là bức tranhcảnh vật về dòng tràng giang Tìm hiểu bài thơ từ góc độ thiên nhiên cảnh vật ta thấyđây là một bài thơ rất đỗi Việt Nam, với những hình ảnh quen thuộc với người ViệtNam như dòng sông, sóng gợn, con thuyền, cành củi khô dập dềnh Ở những khổ thơsau ta còn bắt gặp thêm những hình ảnh những cánh bèo trôi dạt, một buổi chợ chiều,một chuyến đò ngang Vì thế xét ở một góc độ nào đó, Tràng giang là một bài thơ ca hát
về non sông đất nước, do đó dọn đường cho lòng yêu Tổ quốc
Ai đó đã từng nói cuộc sống là điểm xuất phát, là đối tượng khám phá, là cái đíchcuối cùng của thơ ca Những tác phẩm nghệ thuật chân chính luôn bắt rễ từ đời sốnghiện thực sẽ có sức lan tỏa mãi trong trái tim bạn đọc “Tràng giang” của Huy Cận bắtnguồn từ hiện thực đời sống, từ cảnh sông Hồng mênh mông sóng nước với con thuyền,cành củi trôi dạt, từ tình cảnh đau thương của đất nước và đã thể hiện được những nỗiniềm nhà thơ muốn ký thác, như một tiếng thở dài bất lực của thi nhân trước cảnh nướcmất nhà tan Nỗi niềm ấy của người nghệ sĩ chân chính Huy Cận hẳn sẽ còn lắng đọngmãi để những vần thơ có đủ sức sống đi theo năm tháng
3 Khổ thơ 2:
Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu, Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều.
Nắng xuống, trời lên sâu chót vót;
Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.
3.1 Hai câu đầu:
Thơ là cây đàn muôn điệu của tâm hồn của nhịp thở con tim, thơ có thể giúp conngười bộc lộ mọi cung bậc cảm xúc như niềm vui, nỗi buồn sự cô đơn tuyệt vọng… Cónhững tâm trạng của con người chỉ có thể diễn đạt bằng thơ và nỗi buồn của Huy Cậncũng phải tìm đến thơ và qua các hình ảnh thơ để được giãi bày Trong khổ thơ này, bứctranh cảnh vật sông nước được mở rộng về đôi bờ và bầu trời Những cồn cát trên sôngnhấp nhô, gió chiều nhè nhẹ thổi "đìu hiu" gợi buồn da diết Cồn là một bãi đất nằm ởgiữa sông, nó vốn đã gợi sự đơn độc, trơ trọi Đã thế lại là “cồn nhỏ” càng gợi sự lẻ loi,
Trang 28cây lưa thưa, phất phơ trước làn gió nhẹ Nghệ thuật đảo ngữ đã đảo trật tự cú phápthông thường đặt từ láy “lơ thơ” lên đầu câu thơ càng gợi sự hoang vắng của cảnh vật.Riêng về từ “đìu hiu”, Huy Cận nói ông học được trong “Chinh phụ ngâm”:
Non Kì quạnh quẽ trăng treoBến Phì gió thổi đìu hiu mấy gòGió thổi đìu hiu đã gợi sự buồn bã, quạnh vắng của bức tranh cảnh vật nhưng hơihướng từ ý thơ của “Chinh phụ ngâm” còn gợi cả âm hồn, tử khí phảng phất trong giótrong cây, càng nhấn mạnh sự quạnh hiu của cảnh vật và nỗi buồn
Trước cảnh vật hoang vắng, thi sĩ đi tìm dấu hiệu cuộc sống con người như một lẽ
tự nhiên Câu thơ thứ hai của khổ thơ bắt đầu nhắc đến các dấu hiệu của cuộc sống conngười nhưng có vẻ như nhắc đến chỉ là để phủ nhận Lấy động để tả tĩnh, câu thơ "Đâutiếng làng xa vãn chợ chiều" đã làm nổi bật sự ngạc nhiên, chút bâng khuâng của người
lữ khách về cái vắng vẻ, cái hoang vắng của đôi bờ tràng giang Các nhà thơ mới coitrọng tính nhạc trong thơ, vận dụng nghệ thuật phối âm, hoà thanh rất thần tình, tạo nênnhững vần thơ giàu âm điệu, nhạc điệu Hai câu thơ này của khổ thơ có điệp âm "lơthơ" và "đìu hiu", có vần lưng: "nhỏ- gió", có vần chân: "hiu- chiều" làm ta liên tưởngđến câu thơ đầy chất thơ, chất nhạc của Xuân Diệu:
"Con đường nhỏ nhỏ gió xiêu xiêu
Lả lả cành hoang nắng trở chiều"
(Thơ duyên)
Dấu hiệu của cuộc sống con người ở đây là âm thanh của một buổi chợ chiều đãvắng người Một buổi chợ đông, ồn ào náo nhiệt bao nhiêu thì một buổi chợ chiều hiuhắt, ảm đạm, xao xác bấy nhiêu Đây lại là âm thanh một buổi chợ chiều ở một cái làng
xa nào đó vẳng lại Câu thơ có thể hiểu theo hai hướng khác nhau xuất phát từ hai cáchhiểu về từ “đâu” Đâu có nghĩa là đâu đó hoặc có nghĩa là đâu có Trước tiên, câu thơđược như một câu hỏi, một lời thở than cảnh vật Tràng giang quạnh vắng đến mức ngay
cả âm thanh của một buổi chiều từ cái làng xa nào đó vẳng lại cũng không có Vắnglặng đến tuyệt đối, không những không có sự hoạt động của con người mà ngay đến âmthanh của hoạt động đó cũng không có Ngoài ra, có thể hiểu theo cách khác là đâu đógiữa không gian cảnh vật tràng giang vẳng lại âm thanh xao xác của một buổi chợchiều Có âm thanh nhưng cảnh vật không trở nên vui tươi và sống động hơn, trái lạicàng trở lên nên vắng lặng Dù có hiểu theo cách nào thì câu thơ vẫn là để tô đậm nỗi
Trang 29buồn và bức tranh cảnh vật hoang vắng, hiu hắt Tuy vậy, đặt trong hệ thống toàn bàithơ thì cách hiểu thứ nhất có phần phù hợp hơn, vì trong suốt bài thơ Huy Cận dườngnhư muốn phủ nhận tất cả những gì thuộc về cuộc sống con người Không có âm thanhcủa buổi chợ chiều cùng hệ thống với các ý thơ như “không một chuyến đò ngang”,
“không cầu gợi chút niềm thân mật”, “không khói hoàng hôn”
3.2 Hai câu thơ sau:
Trong bài thơ, bức tranh cảnh vật tràng giang càng lúc càng được mở rộng, đếnhai câu thơ sau của khổ thơ thứ hai thì không gian cảnh vật tràng giang đã vụt lớn lên,
mở rộng đến vô cùng, vô tận và cảm xúc vũ trụ được thể hiện một cách mãnh liệt Tìnhcảm, cảm xúc chân thành, mãnh liệt vốn là cơ sở tạo nên một tác phẩm nghệ thuật chânchính, cảm xúc càng mãnh liệt, thăng hoa thơ càng có sức ám ảnh trái tim bạn đọc Và ởđây, cảm xúc mãnh liệt của Huy Cận đã đem đến những câu thơ xuất thần Trời đã vềchiều, nắng từ trên cao chiếu rọi xuống đẩy bầu trời lên cao hơn Vẻ đẹp của bầu trờicao xanh đã bao lần đi vào thi ca dân tộc: "Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao" (Thuvịnh); "Trời cao xanh ngắt- Ô kìa " (Tiếng sáo Thiên Thai); "Xanh biếc trời cao, bạcđất bằng" (Xuân Diệu) Để diễn tả chiều cao của bầu trời Tràng giang, thi sĩ Huy Cậnkhông dùng từ cao thông thường mà sử dụng từ “sâu” Từ “sâu” vừa gợi chiều cao vừagợi cái thăm thẳm, hun hút đến vô cùng của bầu trời chiều Từ láy “chót vót” càng tôđậm hơn chiều cao đến không cùng, không tận ấy
"Nắng xuống/ trời lên sâu chót vót"
Ở đây, một lần nữa nhà thơ lại miêu tả một chuyển động ngược hướng “nắngxuống, trời lên” như để tô đậm thêm tính chất phân li của cuộc đời vốn đã được nhắcđến trong khổ thơ thứ nhất ở cảnh “Thuyền về nước lại” Thế nên thi sĩ tả cảnh suy chocùng là để thể hiện tâm trạng là nỗi buồn, sự cô đơn, nhỏ bé trước cuộc đời và vũ trụbao la
Đến câu thơ cuối của khổ thơ “Sông dài trời rộng bến cô liêu” thì một không gian
ba chiều đã được mở ra mà chiều nào cũng không có giới hạn Cùng với cái cao, sâuhun hút của bầu trời chiều tràng giang là bề rộng đến bao la, bát ngát của trời đất, vũ trụ
và chiều dài đến vô cùng vô tận của dòng sông Tất cả gợi bức tranh cảnh vật trànggiang mênh mông đến rợn ngợp Giữa cảnh vật Tràng giang hùng vĩ, mênh mông,hoang vắng xuất hiện một cái bến cô liêu, tức là một cái bến trơ trọi, vắng vẻ không cómột bóng người Nghệ thuật đối lập, cụ thể là đối ý đã đối lập giữa sự mênh mông củacảnh vật tràng giang với sự trơ trọi, nhỏ bé của cái bến để tô đậm thêm cả hai chiều, vừa
tô đậm thêm cái bát ngát của dòng trường giang vừa tô đậm là cái nhỏ bé, hoang vắng
Trang 30của cái bến Cô liêu ở đây không chỉ là sự cô liêu của cái bến mà còn được hiểu là sự côliêu của hồn người Nỗi buồn của Huy Cận trong khổ thơ này là tâm lý tự nhiên của mộtcon người cảm thấy mình nhỏ bé trước thiên địa vô thủy vô chung Cảm xúc ấy cũnggiống như nỗi niềm của một nhà thơ Trung Quốc thời trung đại:
Ai người trước đã qua
Ai người sau đã tới Ngẫm trời đất vô cùngMột mình tuôn giọt lệ (Trần Tử Ngang)
Đánh giá về khổ thơ: Nghệ thuật thể thơ bảy chữ với cách ngắt nhịp quen thuộc 4/3,
cách sử dụng từ ngữ đầy sáng tạo như các từ láy lơ thơ, đìu hiu, chót vót,… cách thểhiện những chuyển động ngược hướng, dấu phẩy phân chia câu thơ thành ba phần rõ rệt
là những biện pháp nghệ thuật đặc sắc góp phần làm nổi bật cảm xúc được thể hiệntrong khổ thơ Xuyên suốt trong khổ thơ là một nỗi buồn và nỗi buồn ấy trước hết là nỗibuồn của con người cảm thấy mình nhỏ bé trước vũ trụ bao la vô tận Ngoài ra, nỗibuồn nơi đáy hồn nhân thế thể hiện rõ qua việc phủ nhận hoàn toàn những dấu hiệu củacuộc sống con người Huy Cận nói riêng, các nhà thơ lãng mạn nói chung, đã đem tâmtrạng buồn, cô đơn của mình “phủ lên thiên nhiên” Tuy nhiên, ở bề sâu của nỗi sầu vũtrụ ấy vần là tình yêu thắm thiết đối với quê hương đất nước Điều đó lí giải vì sao nhàthơ Xuân Diệu đã nhận xét: “Tràng giang là bài thơ ca hát non sông đất nước, do đó dọnđường cho lòng yêu giang san Tổ quốc”
ở đây đều gợi lên sự chia li "tan" mà không "hợp":
Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng;
Mênh mông không một chuyến đò ngang.
Không cầu gợi chút niềm thân mật, Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.
Trước cảnh "mênh mông" sông dài trời rộng, cánh bèo xanh nổi như một nét điểm