1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Phân tích 12 tác phẩm trọng tâm ngữ văn 12

224 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân Tích Tuyên Ngôn Độc Lập Của Hồ Chí Minh
Thể loại bài làm
Định dạng
Số trang 224
Dung lượng 287,57 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cả bài thơ gồm có 4 đoạn thơ, mạch cảm xúc là nỗi nhớ của nhà thơ về “TâyTiến” từ những chặng đường hành quân gian khổ đến những lúc dừng chân nghỉngơi và cả khi đau đớn tột cùng trước n

Trang 1

TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP ( HCM)

ĐỀ 1: Nhận xét về Tuyên ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh, có ý kiến cho rằng

“Tuyên ngôn Độc lập là một văn kiện lịch sử vô giá” Ý kiến khác lại khẳng định

“Tuyên ngôn Độc lập là một áng văn chính luận mẫu mực” Từ việc cảm nhận về

giá trị của bản Tuyên ngôn Độc lập, anh/chị hãy bình luận những ý kiến trên?

BÀI LÀM:

Nhắc đến chủ tịch Hồ Chí Minh, ta liên tưởng ngay tới một chân dung giản dị mà

vĩ đại, một lãnh tụ kiệt xuất mà gần gũi Nhưng Người còn được nhắc đến với tư

cách một nhà văn, một nhà thơ Như Hồ Chí Minh từng nói: “Tôi hiến cả đời tôi cho dân tộc tôi”, cuộc đời bảy mươi chín xuân của Người từ khi là anh thanh niên

Nguyễn Tất Thành bước đi trên bến Nhà Rồng (05/06/1911) cho đến khi xuôi taynhắm mắt (02/09/1969), không lúc nào trái tim vĩ đại ấy dừng nghĩ cho đất nước,dân tộc Về sự nghiệp sáng tác, Người để lại cho kho tàng văn học dân tộc nhiềutác phẩm giá trị, phong phú về thể loại Trong đó, đặc sắc phải kể đến là những ángvăn chính luận Phong cách sáng tác trong văn chính luận: Ngắn gọn, súc tích, lập

luận chặt chẽ lí lẽ đanh thép Là một văn kiện lịch sử quan trọng, Tuyên ngôn độc lập đã tổng kết một thời kỳ đau thương nhưng vô cùng anh dũng trong cuộc đấu

tranh giành độc lập và khẳng định mạnh mẽ quyền độc lập, tự do của nước ViệtNam mới

Cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, đất nước bước vào kỷ nguyêncủa độc lập, tự do nhưng vẫn phải đứng trước những thách thức của cảnh “ngàncân treo sợi tóc” khi bọn đế quốc và thực dân lợi dụng danh nghĩa quân Đồng minh

âm mưu cưóp nước ta một lần nữa Chính trong thời điểm ấy, ngày 2 tháng 9 năm

1945 trên Quảng Trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh độc bản tuyênngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa Đây là bản tuyênngôn viết cho nhân dân Việt Nam, nhân dân thế giới và công luận Quốc tế Nhận

xét về Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh, có ý kiến cho rằng “Tuyên ngôn độc lập là một văn kiện lịch sử vô giá” Ý kiến khác lại khẳng định “Tuyên ngôn Độc lập là một áng văn chính luận mẫu mực”.

Hai ý kiến đưa ra những cái nhìn và cách đánh giá khác nhau về Tuyên ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh, ý kiến thứ nhất làm nổi bật giá trị lịch sử, giá trị pháp lý mà Tuyên ngôn đã làm được Tuyên ngôn Độc lập là bản “Thiên cổ hùng văn”, kết

tinh truyền thống lịch sử kiên cường, bất khuất của dân tộc ta, góp phần làm phong

phú về quyền tự quyết của các dân tộc trên thế giới – quyền độc lập, tự do Tuyên

Trang 2

ngôn Độc lập đã kết thúc với một quyết tâm sắt đá: “Nước Việt Nam có quyền

hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập Toàn thể dântộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữvững quyền tự do, độc lập ấy”

Bản Tuyên ngôn chính thức chỉ ra một chính quyền cách mạng mới của nhân dânViệt Nam được xây dựng và trưởng thành theo đúng ý nguyện của mọi tầng lớp

nhân dân và cả dân tộc Việt Nam Tuyên ngôn Độc lập khẳng định ý chí sắt đá

không gì lay chuyển nổi và đồng thời là triết lý nhân sinh vĩnh hằng của dân tộcViệt Nam được Chủ tịch Hồ Chí Minh phát hiện “Không có gì quý hơn độc lập, tựdo”

Tuyên ngôn Độc lập là sản phẩm của sự kết hợp các giá trị của truyền thống anh

hùng, bất khuất và ý chí độc lập dân tộc của Việt Nam với sứ mệnh cao cả của giaicấp vô sản được đề cập trong Tuyên ngôn Đảng Cộng sản Nó thể hiện rõ nét cáchmạng Việt Nam là một bộ phận hữu cơ của cách mạng thế giới và giai cấp vô sảnViệt Nam là một bộ phận không thể tách rời của giai cấp vô sản thế giới, có sứmệnh lịch sử cao cả và vĩ đại là giải phóng dân tộc và nhân loại

So với bản Tuyên ngôn độc lập lần thứ nhất (Nam quốc sơn hà - Lí Thường Kiệt)

và bản Tuyên ngôn Độc lập lần thứ hai (Bình Ngô đại cáo - Nguyễn Trãi) thì bản Tuyên ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh đã vươn lên một tầm cao mới, vượt hơn ở

tầm vóc hướng ra thế giới trên tinh thần dân chủ, tự do có kết hợp với truyền thốngyêu nước và tư tưởng nhân đạo của dân tộc

Ý kiến thứ hai, nhấn mạnh hơn vào giá trị nghệ thuật của tác phẩm, vào văn phong,cách thức lập luận, vào bản lĩnh, tư duy của một bậc thầy chính luận khi đặt bút

Toàn văn bản Tuyên ngôn Độc lập không quá dài mà rất súc tích, cô đọng, hàm ý

sâu xa Hồ Chí Minh dùng những lí lẽ đanh thép, những lập luận chặt chẽ, nhữngbằng chứng không thể chối cãi được để viết nên áng văn chính luận mẫu mực.Không chỉ vậy, văn kiện này còn là tấm lòng yêu nước nồng nàn, niềm tự hào dântộc mãnh liệt, sự khao khát độc lập tự do và ý chí quyết tâm bảo vệ tự do, độc lậpcủa nhân dân Việt Nam ở Người

Bản Tuyên ngôn chia làm ba phần rõ rệt, mỗi phần một ý, liên hệ chặt chẽ vớinhau Trong phần một, Hồ Chí Minh đã nêu lên những chân lí về nhân quyền vàdân quyền để làm cơ sở pháp lí cho bản Tuyên ngôn Việc dẫn hai bản tuyên ngôn

này, Bác đã đặt bản Tuyên ngôn Độc lập của ta ngang hàng với các bản Tuyên

ngôn của các nước lớn như Pháp và Mĩ Từ đó khẳng định quyền thiêng liêng củamỗi con người Không những thế, Bác đã nâng lên thành quyền thiêng liêng của

Trang 3

mỗi dân tộc: “suy rộng ra, câu ấy có nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đềusinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tựdo” Bằng phép so sánh tương đồng, hai bản Tuyên ngôn của Pháp và Mỹ đã là cơ

sở pháp lý vô cùng chắc chắn để dân tộc Việt Nam nêu cao quyền độc lập

Phần thứ nhất đã làm nền cho phần thứ hai của bản Tuyên ngôn Nếu trong phầnthứ nhất Bác khẳng định quyền thiêng liêng của mỗi con người, của mỗi dân tộc làquyền được sống, được tự do, được độc lập và mưu cầu hạnh phúc thì trong phầnthứ hai của bản Tuyên ngôn, Bác đã vạch rõ tội ác của thực dân Pháp đã gây ra chođất nước ta, nhân dân ta Hành động của chúng thật dã man, vô nhân đạo, đi ngượclại tinh thần của bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của cách mạng Pháp,vạch rõ bản chất gian xảo của bọn thực dân Pháp Trong phần này Bác lại nêu rõtinh thần nhân đạo, yêu độc lập lự do và tinh thần quyết tâm giành và bảo vệ độclập của dân tộc ta Đến phần thứ ba (phần cuối) Bác lại nói về kết quả của tinh thầnyêu nước, yêu độc lập tự do của dân tộc ta và tuyên bố trịnh trọng với thế giới rằng

“Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do độc lập và thực sự đã trở thành một nước

tự do độc lập”

Như vậy, ta thấy bản Tuyên ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh có một kết cấu, bố cục

khá chặt chẽ Hơn nữa, lời lẽ của bản Tuyên ngôn hùng hồn, nhịp điệu câu văn khádồn dập, sắc cạnh Có những câu văn thật ngắn gọn nhưng lại diễn đạt một ý nghĩa

vô cùng phong phú như câu “Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị” Câuvăn chỉ có chín từ thôi nhưng lại diễn đạt được bao biến động của thời điểm lịch sửlúc bấy giờ

Trong bản Tuyên ngôn Độc lập này Bác đã sử dụng rất thành công các biện

pháp tu từ: điệp từ, điệp ngữ, phép liệt kê để nhấn mạnh, vạch rõ tội ác của kẻ thù

đã gieo rắc cho nhân dân ta, đất nước ta trên nhiều lĩnh vực từ chính trị đến văn

hóa, kinh tế Trong bản Tuyên ngôn Độc lập, Bác còn dùng phép tăng cấp:

“ tuyên bố thoát li hẳn quan hệ với thực dân Pháp, xóa bỏ hết những hiệp ước màPháp đã kí về nước Việt Nam, xóa bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nướcViệt Nam” Với phép tăng cấp này, Bác đã thể hiện cao độ tinh thần độc lập tự chủcủa cả dân tộc Qua những điều trình bày trên, ta thấy rõ Tuyên ngôn độc lập của

Hồ Chí Minh có một giá trị văn chương lớn

Tóm lại, có thể thấy, cả hai ý kiến đều đúng, tuy có nội dung khác nhau tưởngnhư đối lập, mâu thuẫn nhưng thực chất là bổ sung cho nhau cùng khẳng định giátrị to lớn của bản tuyên ngôn Đó là sự kết hợp hài hòa giữa lịch sử chính trị và văn

chương nghệ thuật Tuyên ngân Độc lập là một văn kiện lịch sử vô giá, là áng văn

Trang 4

chính luận mẫu mực; là văn bản pháp lý, văn hoá của muôn đời; là hội tụ vẻ đẹp tưtưởng và tình cảm của Hồ Chí Minh cũng như của toàn dân tộc Việt Nam – BảnTuyên ngôn xứng đáng là “áng thiên cổ hùng văn”.

“Xã tắc từ đây vững bền

Giang sơn từ đây đối mới ”

Tuyên ngôn Độc lập đã mở ra một thời đại mới, vẻ vang, cũng đồng thời kết tinh

trong đó giá trị lịch sử, giá trị thời đại và chắc chắn sẽ trường tồn bất diệt!

ĐỀ 2: Mở đầu bản Tuyên ngôn độc lập, Hồ Chí Minh viết:

Hỡi đồng bào cả nước.

“Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc".

Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ Suy rộng ra, câu ấy có nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do.

Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 cũng nói: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi.”

Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được.

(Trích SGK Ngữ văn 12 tập 1- NXB Giáo dục Việt Nam

* Giới thiệu vài nét về tác giả, tác phẩm, đoạn trích

* Phân tích đoạn trích mở đầu Tuyên ngôn độc lập (Hồ Chí Minh)

Thí sinh có thể cảm nhận theo nhiều cách nhưng cần đáp ứng các yêu cầu sau:

- Nội dung: đoạn trích đã khẳng định những quyền thiêng liêng cao cả của conngười không ai có thể xâm phạm Mọi người, mọi dân tộc trên thế giới đều bìnhđẳng, có quyền sống, quyền sung sướng, quyền tự do…

+ Mở đầu bản Tuyên ngôn Độc lập, Hồ Chí Minh đã trích dẫn từ hai bản tuyênngôn của người Pháp và người Mĩ

+ Dùng phép suy luận tương đồng, sau khi trích Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ,Người còn “Suy rộng ra câu ấy có nghĩa là: Tất cả các dân tộc trên thế giới sinh ra

Trang 5

đều bỡnh đẳng, dõn tộc nào cũng cú quyền sống, quyền sung sướng và quyền tựdo”.

+ Rồi cuối cựng khẳng định: “đú là những lẽ phải khụng ai cú thể chối cói được”

- Nghệ thuật lập luận: Cỏch lập luận của Hồ Chớ Minh vừa ngắn gọn, sỳc tớch, vừakhộo lộo vừa kiờn quyết, lập luận sắc sảo, linh hoạt, sỏng tạo và đầy sức thuyếtphục

+ Khộo lộo: Hồ Chớ Minh tỏ ra trõn trọng những tư tưởng tiến bộ, nhữngdanh ngụn bất hủ của người Mĩ, người Phỏp…

+ Kiờn quyết: một mặt Hồ Chớ Minh khẳng định quyền độc lập tự do củadõn tộc Việt Nam dựa trờn những chõn lớ mà người Mĩ và người Phỏp đó đưa ra,đồng thời cảnh bỏo nếu thực dõn Phỏp tiến quõn xõm lược Việt Nam một lần nữathỡ chớnh họ đó phản bội lại tổ tiờn của mỡnh, làm nhơ bẩn lỏ cờ nhõn đạo, thiờngliờng mà những cuộc cỏch mạng vĩ đại của cha ụng họ đó dành được

+ Lập luận sắc sảo, linh hoạt, sỏng tạo: lời suy rộng ra của Người mang tưtưởng lớn của nhà cỏch mạng Người đó phỏt triển quyền lợi của con người lờn(thành) quyền tự quyết, quyền bỡnh đẳng của cỏc dõn tộc trờn thế giới Đõy là mộtđúng gúp riờng của tỏc giả và cũng là của dõn tộc ta vào một trong những trào lưu

tư tưởng cao đẹp vừa mang tầm vúc quốc tế, vừa mang ý nghĩa nhõn đạo của nhõnloại trong thế kỉ XX

* Từ đú liờn hệ tới phần mở đầu của Đại cỏo bỡnh Ngụ (Nguyễn Trói) để nhận xột

về cỏch xỏc lập chõn lớ về quyền độc lập dõn tộc của mỗi tỏc giả

- Phần đầu Bỡnh Ngụ đại cỏo: Nêu luận đề chính nghĩa

+ Nguyễn Tr•i chắt lọc lấy hạt nhân cơ bản của t tởng nhân nghĩa và

đem đến nội dung mới: nhân nghĩa là yên dân trừ bạo

+ Chân lí về sự tồn tại độc lập, có chủ quyền của nớc Đại Việt: Cơngvực l•nh thổ, nền văn hiến, phong tục, lịch sử riêng, chế độ riêng, hào kiệt + Giọng điệu: trang trọng, hào hùng mang tính chất của một lời tuyênngôn

- Nhận xột về cỏch xỏc lập chõn lớ về quyền độc lập dõn tộc của mỗi tỏc giả

+ Giống nhau: Cả hai tỏc phẩm đều mang giỏ trị văn học -nhõn văn sõusắc Cả hai đoạn trớch đều xỏc lập cơ sở phỏp lớ cho mỗi tuyờn ngụn

+ Khỏc nhau: Mỗi tỏc giả đều sỏng tạo với vẻ đẹp độc đỏo riờng BỡnhNgụ đại cỏo của Nguyễn Trói dựa trờn lập trường "Nhõn nghĩa" của dõn tộc ViệtNam (yờn dõn, trừ bạo) cũn Tuyờn ngụn độc lập của Hồ Chớ Minh đứng trờn lậptrường quyền bỡnh đẳng, quyền độc lập, tự do của cỏc dõn tộc Bỡnh Ngụ đại cỏo cú

Trang 6

phạm vi nội bộ trong nước Đại Việt còn Tuyên ngôn độc lập ngoài việc tuyên bốtrước toàn thể dân tộc Việt Nam, Tuyên ngôn độc lập kế thừa và đưa lên tầm caomới tư tưởng độc lập dân tộc Tác phẩm của Nguyễn Trãi theo thể cáo khi văn sửbất phân còn tác phẩm của Hồ Chí Minh theo thể tuyên ngôn…

Hồ Chủ tịch còn tiếp thu cả tinh hoa văn hoá thế giới một cách có chọn lọc…

TÂY TIẾN ( Quang Dũng)

ĐỀ 1:Cho đoạn thơ:

Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi ! Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi Mường Lát hoa về trong đêm hơi Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây súng ngửi trời Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống

Trang 7

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi Anh bạn dãi dầu không bước nữa Gục trên súng mũ bỏ quên đời!

Chiều chiều oai linh thác gầm thét Đêm đêm Mưởng Hịch cọp trêu người Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói

Mai Châu mùa em thơm nếp xôi

(Quang Dũng, Tây Tiến, Ngữ văn 12, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam,

2017, tr 88)Anh/chị hãy cảm nhận bức tranh thiên nhiên Tây Bắc và hình ảnh người lính

qua đoạn thơ trên Từ đó nhận xét về bút pháp tài hoa lãng mạn của nhà thơ

BÀI LÀM:

Nói về Quang Dũng là nói về một người chiến sĩ mang tâm hồn nghệ sĩ Bạn bèđồng chí thường trầm trồ thán phục trước tài năng nhiều mặt của ông Không chỉhát hay, đàn giỏi mà ông còn sáng tác nhạc, vẽ tranh và viết kịch Đặc biệt, trongnhững giây phút thăng hoa của tâm hồn, Quang Dũng cũng có những bài thơ đểđời như “Tây Tiến”, “Đôi mắt người Sơn Tây”, “Đôi bờ” và nhiều tác phẩmtruyện, kí khác…Chính bởi sự đa tài ấy mà hồn thơ Quang Dũng cũng mang nétriêng độc đáo Đó là một tâm hồn thơ bay bổng lãng mạn, phóng túng và tài hoa.Đọc thơ của Quang Dũng , ta như vừa nghe giai điệu ngân vang của một nhạcphẩm, vừa tưởng thấy sắc màu và đường nét của một bức họa Lại vừa cảm cáichân tình, sâu sắc của đời lính Tất cả quyện hòa nhuần nhuyễn mà tự nhiên, sinhđộng mà sâu lắng Đặc biệt, ở những bài thơ viết về người lính của ông Tây Tiến

là bài thơ nổi tiếng nhất của ông, cũng là một trong những sáng tác hay nhất viết vềngười lính thời chống Pháp của văn học dân tộc Chúng ta cùng tìm hiểu đoạn đầubài thơ: Nỗi nhớ về những chặng đường hành quân qua miền Tây Bắc hùng vĩ,hiểm trở, gian nan vất nhưng không kém phần thơ mộng mà ấm áp tình người

Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi ! Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi Mường Lát hoa về trong đêm hơi Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây súng ngửi trời Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống

Trang 8

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi Anh bạn dãi dầu không bước nữa Gục trên súng mũ bỏ quên đời!

Chiều chiều oai linh thác gầm thét Đêm đêm Mưởng Hịch cọp trêu người Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói

Mai Châu mùa em thơm nếp xôi

Với cảm xúc nhớ nhung, hoài niệm chân thành mà sâu sắc,những hình ảnhthơ gợi về từ miền kí ức không xa với đoàn binh Tây Tiến, một đơn vị quân độichống Pháp ở biên giới Việt Lào, nơi ông từng gắn bó gần hai năm vào sinh ra tử,

và với tâm hồn lãng mạn hào hoa, Quang Dũng đã viết nên bài thơ “ Nhớ TâyTiến” , Sau đổi thành “Tây Tiến” Bài thơ in trong tập thơ “Mây đầu ô”

Cả bài thơ gồm có 4 đoạn thơ, mạch cảm xúc là nỗi nhớ của nhà thơ về “TâyTiến” từ những chặng đường hành quân gian khổ đến những lúc dừng chân nghỉngơi và cả khi đau đớn tột cùng trước những hi sinh mất mát của đồng đội mình, vàkết lại bài thơ là lời thề gắn bó với mảnh đất thiêng liêng Tây Bắc

Bài thơ được viết năm 1948 khi Quang Dũng đã rời xa đoàn quân Tây Tiến,một đơn vị quân đội chiến đấu chống Pháp ở biên giới Việt Lào, nơi mà ông đãgắn bó hai năm trên cương vị đại đội trưởng Mới chỉ rời đơn vị không lâu, ngồi tạiPhù Lưu Chanh, nỗi nhớ về Tây Tiến, về mảnh đất và con người nơi ấy đã thôithúc nhà thơ cầm bút viết lên những vần thơ đầy xúc động

Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!

Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơiDòng hồi tưởng đưa Quang Dũng trở về với những kí ức xa xưa: về những cungđường chiến đấu, về đồng đội của mình… Mỗi kí ức là một mảng ghép tạo thànhbức tranh đa sắc màu về miền nhớ “Tây Tiến” thân thương Khởi đầu của nỗi nhớ

là hình ảnh sông Mã hiện ra vừa thơ mộng, trữ tình nhưng cũng vừa ẩn chứa néthoang sơ, dữ dội, một dòng sông gắn liền với chặng đường hành quân của ngườilính, trở thành chứng nhân lịch sử, thành kỉ niệm trường tồn của những ngày thángchiến đấu và hi sinh Nhớ về sông Mã là nhớ về đoàn quân Tây Tiến, hai tiếngthân thương ấy vang lên đầy tha thiết trong dòng cảm xúc nhớ nhung đầy tiếc nuối!Các từ “rồi”, “ơi” đặt cuối mỗi cái tên được xướng lên nghe như da diết ngân vang,xúc động lòng người

Trang 9

Nhớ về Tây Tiến là nhớ về núi rừng hoang sơ, địa bàn hoạt động của đoànbinh Nhà thơ điệp lại hai lần từ “nhớ” trong một câu thơ như tô đậm cảm xúc baotrùm toàn bài thơ Và đặc biệt, Quang dũng đã diễn tả thật chính xác cảm giác nhớnhung trong lòng mình Không phải là cái nhớ đến cồn cào da diết trong tình yêu,cũng không phải là cái nhớ thương khắc khoải của người vợ ngóng chồng nơi biên

ải, cũng chẳng phải cái nhớ bồn chồn, bâng khuâng trong tình quân dân son sắt dó

là nỗi nhớ chơi vơi Một nỗi nhớ dàn trải miên man, lan tỏa qua không gian, thờigian, làm chênh chao lòng người và ám ảnh tâm trí Dường như không gian mênhmông quá, lòng người trống trải quá mà nỗi nhớ tan hòa khó chế ngự đến vậy.Theo dòng kí ức còn tươi màu thời gian ấy, những cái tên gắn liền với chặngđường hành quân của những chiến binh tây Tiến hiện ra: Sài Khao, Mường Lát,Mường Hịch, Pha Luông …Đó từng là những địa danh xa lạ, đầy bí hiểm của chốnrừng thiêng nước độc đối với những chành trai Hà thành giờ đã trở thành một phần

kỉ niệm không thể nào quên:

Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏiMường Lát hoa về trong đêm hơiCon đường hành quân hiện lên với đầy thử thách, hiểm nguy Đó là kỉ niệm

về những ngày hành quân xuyên qua sương mù giăng kín lối, những đêm ngang

qua bản Mường Lát hoang sơ, huyền ảo “hoa về trong đêm hơi” Và dấu chân người lính đã in trên cả những sườn đèo dốc núi nhiều hiểm nguy mà không kém phần thơ mộng:

Dốc lê khúc khuỷu dốc thăm thẳmHeo hút cồn mây súng ngửi trờiNgàn thước lên cao ngàn thước xuốngNhà ai Pha Luông mưa xa khơi

Câu thơ được tạo bởi những từ láy tượng hình “khúc khuỷu”, “thăm thẳm” rồi các

từ ngữ đối lập “ngàn thước lên cao” và “ ngàn thước xuống ” như những nét vẽđầy gân guốc tái hiện chân thực sự hiểm trở của địa hình Tây Bắc Càng thấu hiểunhững gian khổ hiểm nguy trên đường hành quân ta càng thấy cảm phục ý chí kiêncường của những chàng lính trẻ Hà Thành, họ luôn dũng cảm vượt núi băng rừngvới “bước chân nát đá” tiến lên phía trước tiêu diệt quân thù

Không chỉ cứng cỏi bản lĩnh mà giữa không gian thơ mộng của núi rừng với

“heo hút cồn mây”, mưa“mưa xa khơi”, những chàng trai hào hoa ấy luôn mở lòngđón nhận và say mê thưởng ngoạn Vượt qua được trăm suối nghìn đèo là phút

Trang 10

giây tân hưởng cảm giác được chế ngự thên nhiên, đứng trên đỉnh cao và thả hồnbay bổng cùng trời mây “Súng ngửi trời” – mũi súng chạm đến mây xanh, mộthình ảnh thơ thật độc đáo, vừa gợi được thế đứng trên cao của người lính, nhưchiếm lĩnh không gian, vừa gợi đến cách nhìn hóm hỉnh, lạc quan của tâm hồnngười lính Như hình ảnh “đầu súng trăng treo” đầy ấn tượng trong thơ ChínhHữu Tâm hồn người lính cụ Hồ là như thế, coi thường mọi gian nguy, và luônlãng mạn yêu đời.

Trong hai cặp câu thơ trên, tác giả đã sử dụng nghệ thuật hài thanh thật điêuluyện Những câu thơ nhiều thanh trắc diễn tả cái hiểm trở của địa hình được đanxen khéo léo đầy ý nghĩa với những câu thơ có nhiều thanh bằng, miêu tả khônggian lãng mạn, huyền ảo của núi rừng Tây Bắc Người đọc như đang cảm thấy rõlắm cái vị mặn của mồ hôi, của nước mắt, của máu đã thấm trên từng dãy đá taibèo sắc nhọn, trên từng đèo dốc treo leo Người đọc cũng như đang cảm thấy rõlắm tiếng thở phào nhẹ nhõm, thảnh thơi hòa vào gió ngàn heo hút, hình dung rõlắm ánh mắt ngỡ ngàng thích thú của những chiến sĩ khi chạm tới mây trời vàngắm “nhà ai” ẩn hiện trong làn mưa xa khơi Thật sinh động vô cùng

Trong lá thư của Đại Tướng Võ Ngyên Giáp gửi các chiến sĩ Tây Tiến trướckhi lên đường có đoạn: “Trên con đường về miền Tây, các đồng chí sẽ phải lặn lộinơi rừng xanh suối bạc, ở những địa phương hàng nửa ngày đường không thấy mộtngười… Chỉ một việc cất chân lên đường tiến về hướng Tây là đủ tỏ cái chí hysinh, cái lòng kiên nghị của các đồng chí Các đồng chí biết rằng trên mặt trận nàyphải đương đầu với nhiều hiểm nghèo, khổ sở Nhưng sự hiểm nghèo, khổ sở

có bao giờ chinh phục được lòng anh dũng của những thanh niên hăng hái, có baogiờ chinh phục được chí hướng của một dân tộc " Quang Dũng cũng đã diễn tảnhững hiểm nguy, gian khổ bằng những câu thơ đầy ám ảnh:

Chiều chiều oai linh thác gầm thét Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người.

Chốn thâm sơn cùng cốc ấy, “Chiều chiều ” rồi “đêm đêm” luôn có những âmthanh ghê rợn, đó là tiếng thác gầm thét, tiếng bước chân, tiếng gầm của những conthú khát máu Chỉ mới nghĩ đến thôi đã đủ khiến lòng người hoang mang, sợ hãi

Những khó khăn, hiểm nguy bủa vây, dọa dẫm, trêu ngươi suốt ngày đêm.Vậy mà, lính Tây Tiến vẫn kiên cường đối mặt để hoàn thành nhiệm vụ được giao.Dẫu còn nhiều hi sinh mất mát

Trang 11

Anh bạn dãi dầu không bước nữa Gục lên súng mũ bỏ quên đời

Câu thơ gợi lên cái mệt mỏi của những bước chân hành quân bởi âm điệu kéo dàicủa các từ “dãi dầu”, “nữa” Đó là hiện thực đau đớn của chiến trường miền Tây.Chiến đấu trong môi trường tự nhiên khắc nghiệt, thiếu thốn đủ bề, thậm chí cónhững lúc phải nhịn đói cả ngày dài thì sự hi sinh là không tránh khỏi Nhưng,cách Quang Dũng nói về cái chết của đồng đội mình “gục lên súng mũ bỏ quênđời” khiến ta ngỡ như đó chỉ là một phút nghỉ ngơi lấy lại sức thôi, vẫn trong hàngngũ, vẫn súng mũ bên mình Đọc đến câu thơ này, nhiều cựu chiến binh Tây Tiến

đã không thể cầm lòng, bởi thực tế, có những đồng đội hi sinh không thể chôn cấtbởi địa bàn xung quanh toàn núi đá tai bèo Mỗi chiến sĩ đi qua chỗ đồng đội nằmlại chỉ kịp đặt xuống một viên đá để che thân cho bạn Họ bị ám ảnh bởi những cáichết lặng thầm đơn độc vì họ hiểu hơn ai hết về sự hi sinh của đồng đội mình Cáichết đến nhẹ nhàng, thầm lặng mà sao nghe nhói lòng!

Với bao nhiêu kí ức hiện về, Cảm xúc thơ Quang Dũng lại một lần nữa tuôntrào thành tiếng gọi “Tây Tiến” thiết tha, trìu mến:

Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói Mai Châu mùa em thơm nếp xôi.

Đối lập với thiên nhiên khắc nghiệt hiểm trở là một không gian yên bình ấm áp củanhững bản làng đọng lại trong nỗi nhớ của nhà thơ Đó là cơm lên khói, là “thơmnếp xôi” tỏa lan khắp không gian, hương vị của sự đủ đầy, ấm no trong mái ấm giađình, nó như an ủi, động viên, như tiếp thêm sức mạnh cho những người lính trẻ xanhà Hương vị của Tây Bắc cũng là sự thơm thảo của lòng người nơi ấy, nó hiện về

trong nỗi nhớ của bất kì ai đã từng lên với Tây Bắc: Đất Tây Bắc tháng ngày không có lịch /Bữa xôi đầu còn tỏa nhớ mùi hương (Chế Lan Viên)

Câu thơ cuối có kết hợp từ thật lạ “Mùa em” Phải chăng đó không chỉ làmùa của xôi nếp mới, mùa của sự đủ đầy vật chất, mà đó còn là mùa của yêuthương, lãng mạn, mùa của sự sẻ chia tình nghĩa Có thể, “Mùa em” đã trở thànhmột mùa đặc biệt được mong đợi nhất đối với những chàng lính hào hoa, nhiều mơmộng ấy Bằng nỗi nhớ và tình yêu chân thành mà sâu sắc với Tây Bắc, QuangDũng đã thi vị hóa những kỉ niệm, khiến chúng trở nên đẹp đẽ lung linh lạ thường!

Đọc thơ Quang Dũng, ngay những dòng đầu, độc giả đã thấy toát lên phong

vị của cái tài hoa lãng mạn Thiên nhiên Tây Bắc hiểm trở, khoang sơ đến rùngmình nhưng qua ngòi bút của chàng trai có tâm hồn lãng mạn, nhiều mộng mơbỗng trở nên lung linh huyền ảo Núi rừng Tây Bắc được khắc họa bởi những nét

Trang 12

vẽ vừa gân guốc cứng cỏi, vừa mềm mại uyển chuyển của nhà thơ tạo nên nét riêngthật độc đáo Không phải chỉ bởi Quang Dũng vốn đa tài, có năng khiếu hội họa,

âm nhạc mà còn bởi tâm hồn yêu thiên nhiên, yêu mảnh đất hùng thiêng của mộtcon người đã từng gắn bó máu thịt với nơi ấy đã quyện hòa làm nên phong cách tàihoa lãng mạn ấy

Tóm lại, qua mười bốn câu thơ đầu bài thơ Tây Tiến, tác giả đã phác họa thành công bức tranh thiên nhiên hoành tráng, trên đó nổi bật lên hình ảnh chiến sĩ

can trường và lạc quan, đang dấn thân vào máu lửa với niềm kiêu hãnh “Chiếntrường đi chẳng tiếc đời xanh ” Đoạn thơ để lại một dấu ấn đẹp đẽ về thơ cakháng chiến mà sự thành công là ở sự kết hợp hài hòa giữa khuynh hướng sử thi vàcảm hứng lãng mạn Gần một thế kỉ đã trôi qua mà bài thơ vẫn giữ được giá trịtrường tồn trong lòng độc giả nhiều thế hệ

ĐỀ 2: Trong bài thơ “Tây Tiến”, Quang Dũng viết:

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm, Heo hút cồn mây súng ngửi trời, Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống, Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi,

Người đi Châu Mộc chiều sương ấy,

Có thấy hồn lau nẻo bến bờ?

Có nhớ dáng người trên độc mộc, Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa?

(“Tây Tiến”, Quang Dũng, Ngữ văn 12, Tập một, NXB Giáo dục

Việt Nam, 2011, tr 87-89) Cảm nhận của anh/ chị về hai đoạn thơ trên, từ đó chỉ ra sự biến đổi về cảm xúc vàbút pháp miêu tả của tác giả

BÀI LÀM

I Mở bài

- Giới thiệu một số nét tiêu biểu về tác giả Quang Dũng: Cuộc đời, con người vàphong cách nghệ thuật đặc trưng của nhà thơ

- Nêu khái quát chung về tác phẩm “Tây tiến”: Hoàn cảnh sáng tác, vị trí, giá trị

nội dung, giá trị nghệ thuật

- Khái quát nội dung của đoạn trích: Vẻ đẹp thiên nhiên Tây Bắc, vừa hùng vĩ dữ dội vừa trữ tình tạo nên sự biến đổi về cảm xúc và bút pháp miêu tả của tác giả

Trang 13

II Thân bài

1 Đoạn thơ thứ nhất – Vẻ đẹp hùng vĩ của núi rừng Tây Bắc:

- Ấn tượng đầu tiên được tác giả tập trung bút lực để khắc họa là núi cao vực sâu,

là đèo dốc điệp trùng: Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm/ Heo hút cồn mây súng ngửi trời/ Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống

+ Những câu thơ chủ yếu dùng thanh trắc tạo nên những nét vẽ gân guốc, mạnh

mẽ, chạm nổi trước mắt người đọc cái hùng vĩ và dữ dội của thiên nhiên

+ Nhịp ngắt 4/3 quen thuộc của thể thơ 7 chữ như bẻ gẫy câu chữ để tạo độ caodựng đứng giữa hai triền dốc núi Nhịp ngắt đã trở thành giao điểm phân định rạchròi hai hướng lên xuống của vô vàn con dốc tạo thành các cung đường hành quâncủa đoàn quân Tây Tiến, gợi ra những dãy núi xếp theo hình nan quạt trải dài khắpmiền Tây Bắc Người đọc hình dung ra hình ảnh dốc rồi lại dốc nối tiếp nhau, khúckhuỷu gập ghềnh đường lên, rồi lại thăm thẳm hun hút đường xuống

+ Những từ láy giàu sức tạo hình khúc khuỷu, thăm thẳm, heo hút được đặt liêntiếp nhau để đặc tả sự gian nan trùng điệp Dốc khúc khuỷu vì quanh co, hiểm trở,gập ghềnh khó đi, vừa lên cao đã vội đổ dốc, cứ thế gấp khúc nối tiếp nhau Thămthẳm không chỉ đo chiều cao mà còn gợi ấn tượng về độ sâu, cảm giác như húttầm mắt người, không biết đâu là giới hạn cuối cùng Heo hút gợi ra sự vắng vẻ,quạnh hiu của chốn rừng thiêng nước độc Từ láy cũng mang đến cho người đọccảm tưởng rằng người lính Tây Tiến đã vượt qua vô vàn những đèo dốc để chinhphục đỉnh núi cao nhất

2 Đoạn thơ thứ hai – Vẻ đẹp trữ tình, thơ mộng.

- Cảnh thơ mộng trữ tình của sông nước miền Tây được nhà thơ diễn tả qua những

chi tiết: trên sông, chiều sương giăng mắc mênh mang kì ảo, dòng sông trôi lặng

tờ mang đậm sắc màu cổ tích, có dáng người mềm mại, uyển chuyển đang lướttrên con thuyền độc mộc, hoa đôi bờ đong đưa theo dòng nước như vẫy chào tạmbiệt người ra đi…

- Cảnh đẹp như mộng lại như tranh, chỉ vài nét chấm phá mà tinh tế, tài hoa:Quang Dũng không tả mà chỉ gợi, cảnh thiên nhiên không phải là vô tri vô giác,

mà phảng phất trong gió trong cây như có hồn người: "Có thấy hồn lau nẻo bếnbờ"

- "Hồn lau" trong thơ của Quang Dũng cũng là "hồn lau" của biệt li phảng phấtmột chút buồn nhưng không xao xác, xé rách, lãng quên mà đầy nỗi nhớ thương,lưu luyến Nỗi nhớ thương, lưu luyến đó đã được nhà thơ thể hiện trong những từngữ như "có nhớ", "có thấy" Tình yêu đối với cỏ cây, hoa lá, dòng sông, dáng

Trang 14

người… đã làm cho cuộc sống đầy hi sinh, gian khổ của những người lính có thêmnhựa sống Bốn câu thơ làm hiện lên bức tranh thủy mặc nhưng lại không tĩnh tại

mà sống động, thiêng liêng

3 Sự biến đổi về cảm xúc và bút pháp miêu tả của tác giả

- Nhà thơ đã vận dụng thủ pháp nghệ thuật tô đậm cái phi thường, gây ấn tượngmạnh về cái hùng vĩ, dữ dội cũng như cái tuyệt mĩ, thơ mộng Một trong nhữngthủ pháp nghệ thuật được sử dụng đắc địa nhất là thủ pháp đối lập Đối lập giữacái hùng vĩ, dữ dội với cái tuyệt mĩ, thơ mộng, đối lập giữa gian khổ, vất vả với anh hùng, bất khuất, đối lập giữa cái bi và cái hùng

III Kết bài:

- Vẻ đẹp thiên nhiên Tây Bắc

- Phong cách nghệ thuật hào hoa, lãng mạn của Quang Dũng

ĐỀ 3: Phân tích vẻ đẹp hình tượng thiên nhiên Tây Bắc trong thi phẩm Tây Tiến

của nhà thơ Quang Dũng, qua hai đoạn thơ dưới đây:

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây súng ngửi trời Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi

Và:

Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

Có nhớ dáng người trên độc mộc Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa

BÀI LÀM:

Tây Tiến là thi phẩm của nỗi nhớ mẽnh mang, chơi vơi giữa bộn bề những hoài

niệm Bao mảnh ký ức ập vào, cồn cào đã dội về trong trí nhớ của người đại độitrưởng về đất, về người chốn Tây Bắc, giờ lui vào quá khứ Và chắc chắn rằng,một phần ký ức không thể nào quên của không chỉ người đại đội trưởng, mà tất cảnhững người lính đã từng chiến đấu dọc biên giới Việt – Lào, đó chính là thiênnhiên đầy heo hút, hoang sơ của chốn miền Tây Làm sao có thể quên được, mộtthiên nhiên thật dữ dội:

“Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây súng ngửi trời Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống

Trang 15

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”

Mà cũng nên thơ trữ tình đến thế:

“Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

Có nhớ dáng người trên độc mộc Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa” 

Nhắc đến Quang Dũng là nhắc đến một trong những thế hệ nhà thơ được tôiluyện và trưởng thành trong bom lửa thời kỳ kháng chiến chống Pháp Ông tên thật

là Bùi Đình Diệm (1921 – 1988), quê ở Hà Tây, nay thuộc về Hà Nội Là mộtngười đa tài, có thể vẽ tranh, sáng tác nhạc, nhưng vẫn nổi tiếng và được nhiềungười biết đến với tư cách một nhà thơ Phong cách thơ Quang Dũng nổi bật lên

chất phóng khoáng, hào hoa đầy lãng mạn Bài thơ Tây Tiến là một bài thơ đem lại

dấu ấn đậm nét, khắc ghi Quang Dũng vào sâu tâm trí độc giả Ban đầu bài thơ lấy

nhan đề: Nhớ Tây Tiến, nhưng sau khi in trong tập Mây đầu ô, tác giả đổi lại thành Tây Tiến.

“Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây súng ngửi trời Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”

Bốn câu thơ mà dựng lên trước mắt ta cái độ cao đến rợn người của chiếntrường Tây Tiến Đất nước ta với đặc điểm địa hình 3/4 là núi đồi, nhưng quanhững lời thơ đậm chất tạo hình của Quang Dũng, tưởng chừng như bao dãy đồi,ngọn núi đều đã “đổ bộ” hết lên vùng miền Tây này, phủ đặc trên những cungđường của binh đoàn Tây Tiến Điệp từ "dốc" vừa gợi sự liên tiếp, chồng chất củanhững con dốc, dốc này chưa qua dốc khác đã phủ hiện trước mặt Hơn thế nữa

những từ láy đi kèm còn gợi cả cái khốc liệt của những con dốc “Khúc khuỷu”,

“thăm thẳm”, “heo hút” vẽ cho ta một hình dung về sự hoang sơ, kỳ vĩ, xa xôi,

trúc trắc, mấp mô, hun hút rợn người Ngỡ như các anh đang đi trong mây, đang

cưỡi trên mây (“cồn mây”) để lên đến đỉnh trời Và khi đã chiếm lĩnh được đỉnh cao nhất thì “súng” các anh đã “ngửi trời”! Có một tiếng cười, thú vị mà tinh

nghịch của người lính hào hoa Hà Nội khi đã chiếm lĩnh được đỉnh cao nhất

Không phải “súng chạm trời” mà là “súng ngửi trời” Khẩu súng được nhân hóa

như con người (chính là các anh đó thôi!) đã khiến câu thơ trở nên hóm hỉnh, tinhnghịch, nhưng không kém hào hoa của những chàng trai đất kinh thành hoa lệ lênđánh giặc ở miền Tây Câu trên nặng nhọc, gấp gáp; câu dưới nhẹ nhàng, thơ mộng

Trang 16

trong sự tự hào của người chiến thắng Ta hiểu đây không chỉ là đỉnh cao của thiênnhiên mặt đất mà chính là đỉnh cao trong sự chiến thắng của tinh thần, nghị lựcngười chiến sĩ.

Nhưng đặc biệt hơn, bằng thủ pháp đối lập, sự kinh hoàng, hiểm trở của những

con dốc nơi đây mới hiện lên đầy đủ: “Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống” Đó

là một sự gãy gập đột ngột, bất ngờ Không hề thoai thoải dễ đi như những vùngmiền khác, dốc nơi này dựng cao chót vót, nổi lên, vươn lên thẳng đứng chạm cảmây trời Nhưng khi chạm đỉnh dốc rồi, sa chân bước hụt có thể rơi ngay xuống

chân dốc sâu thăm thẳm Nếu câu thơ “Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm” là câu

thơ đã tạo nên được những liên tưởng thật kỳ thú, rợn ngợp, kích thích vì sự phối

hợp các thanh trắc đem lại cái hiểm trở, trúc trắc, thì câu thơ: “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi” lại được kết tạo bởi những thanh bằng liên tiếp, gợi sự êm dịu, tươi

mát của tâm hồn những người lính trẻ, trong gian khổ vẫn lạc quan yêu đời Có thếnói, bằng cách phối họp thanh điệu với sự đối lập cao, khổ thơ như khúc nhạc trầmbổng phiêu linh, làm say mê, quyến rũ độc giả Sự đối lập của thanh điệu, nhịpđiệu câu thơ đem đến sự đối lập của cảnh và tình trong hai câu thơ và đấy chính lànét tài hoa của thi sĩ Xưa, Tản Đà cũng có câu thơ như vậy:

“Tài cao phận thấp chí khí uất

Giang hồ mê chơi quên quê hương” 

Nhưng câu thơ của Tản Đà chủ yếu là gợi tình, còn câu thơ của Quang Dũngchủ yếu lại là vẽ cảnh Tất nhiên trong cảnh có tình Trên đường hành quân ra trận,hình ảnh một mái nhà thấp thoáng trong màn mưa mỏng nơi lưng chừng núi thì ấmlòng chiến sĩ, gợi nhớ tình người biết bao! Mặt khác, trên đường hành quân cheoleo vách núi dựng đứng, mà vẫn không bỏ qua một mái nhà thơ mộng như vậy, thì

đó chính là tâm hồn hào hoa nghệ sĩ của người lính Tây Tiến - những chàng trai

kinh thành “đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm” Tâm hồn các anh phải phong phú,

cao đẹp, lãng mạn như thế nào thì mới cảm nhận được cảnh đẹp như vậy Và chỉmột khổ thơ nhớ lại bước đường hành quân trên núi cao Tây Tiến của các anh mà

đã bộc lộ rõ nét tài hoa ấy Đó là khẩu khí Quang Dũng đã thổi hồn vào ngôn ngữ

thi ca để làm nên khổ thơ tuyệt bút mang đậm chất thơ Tây Tiến này.

Chỉ bằng mấy dòng thơ, Quang Dũng đã tái hiện đầy đủ bức tranh của núi rừngmiền Tây được vẽ bằng bút pháp vừa hiện thực, vừa lãng mạn, vừa giàu chất họalại giàu chất nhạc Nét vẽ vừa gân guốc, mạnh mẽ, dữ dội nhưng lại cũng rất mềmmại tạo nên vẻ đẹp hài hòa cho bức tranh thiên nhiên miền Tây hùng vĩ mà đoànquân Tây Tiến đi qua Chính điều đó tạo nên một xúc cảm mạnh mẽ trong lòng

Trang 17

người đọc, không chỉ bởi sự heo hút, rợn ngợp của thiên nhiên, còn bật lên trong talòng ngưỡng mộ về tinh thần người lính, thiên nhiên càng ghê gớm, thì ý chí conngười càng mạnh mẽ, băng vượt qua mọi chông gai, nẻo đường.

Đến với khổ thơ thứ hai, thiên nhiên Tây Bắc đã phủ lên một hơi thở bồngbềnh, của chốn phiêu linh, hiu hắt chiều sương, không còn cái rợn ngợp, trúc trắcnhư ở khổ một nữa Cả đoạn thơ nhuốm một vẻ buồn của tâm trạng, nếu như ởnhững khổ thơ trên trong bài người ta thấy một giọng thơ lãng mạn trẻ trung vàtươi tắn của anh lính trẻ Tây Tiến thì đến đây, tâm trạng như có phần trùng xuống.Phải chăng giữa mênh mang nỗi nhớ niềm yêu, giữa những hồi ức đẹp đẽ gian khổ

mà hào hùng, anh dũng mà tài hoa, lòng Quang Dũng bỗng dưng cảm thấy cô đơn,buồn bã khi chợt hiểu ra rằng tất cả đều đã chìm sâu trong quá khứ

“Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

Có nhớ dáng người trên độc mộc Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa” 

Đoạn thơ mở đầu bằng hình ảnh “người đi Châu Mộc” trong “chiều sương ấy

” Giữa một không gian mờ mờ, ảo ảo, hư hư, thực thực, tác giả đã đẩy người đọc

về một điểm thời gian xa xôi vô định ở đâu đó trong nỗi nhớ của mình Hình ảnh

“người đi” trong “chiều sương ấy” là một ý thơ độc đáo vô cùng Độc đáo bởi

chiều sương ấy cho ta hiểu là khung cảnh của quá khứ Cùng cảnh sông nước,tưởng như, người đi ấy đang chèo thuyền ngược dòng ký ức để trở về bờ ChâuMộc hoài niệm Nơi có những bãi cỏ bát ngát mênh mông, có dãy núi Pha Luôngcao gần hai nghìn mét Quang Dũng đã khám phá ra bao vẻ kì thú của miền ChâuMộc Năm tháng đã đi qua và miền đất ấy trở thành một mảnh hồn của bao người.Buổi chiều thu đầy sương ấy in đậm hồn người khiến cho hoài niệm thêm mênhmang Khi sương nhòa vào dòng nước khiến sương thêm bồng bềnh, khiến dòngnước càng bảng lảng Với tâm hồn thi sĩ tài hoa, Quang Dũng đã cảm nhận vẻ đẹp

thơ mộng của thiên nhiên Châu Mộc qua cảnh sắc “chiều sương” và “hồn lau nẻo bến bờ”.

Cần chú ý điệp ngữ: “có thấy”, “có nhớ” Thấy và nhớ là ấn tượng đập mạnh

vào thị giác, cảm giác, vào chiều sâu tâm hồn Thấy và nhớ như khắc sâu thêm ấntượng về miền Tây Bắc Từ thấy và nhớ, ba hình ảnh đã trôi về lung linh, huyềnhoặc Trước hết là thấy lau ở nẻo bến bờ Hồn lau là hồn mùa thu, hoa lau nở trắng,

lá lau xào xạc trong gió thu nơi bờ sông bờ suối Thân lau vốn mềm, khẽ lay tronggió, tựa như sinh thể vô tri ấy được thổi hồn khiến cái xào xạc càng thêm miên

Trang 18

man, lay động Và trong chia phôi còn có nhớ, nhớ cảnh rồi nhớ đến người: con

thuyền độc mộc và dáng người chèo thuyền độc mộc, hình ảnh “hoa đong đưa” trên dòng nước lũ Ý thơ “Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa” lạ mà đầy sức gợi, cũng thật đa tình “Hoa đong đưa” là hoa rừng đong đưa làm duyên trên dòng

nước hay là hình ảnh ẩn dụ gợi tả các cô gái miền Tây Bắc xinh đẹp lái thuyềnduyên dáng, uyển chuyển như những bông hoa rừng đang đong đưa trên dòngsuối? Có lẽ là cả hai, cả thiên nhiên và con người đều là những bông hoa kỷ niệmtuyệt đẹp, luôn bung nở hương sắc trong trí nhớ người lính ấy Những dòng thơ màđong đầy bao nỗi nhớ, bao hoài niệm về một vùng đất ẩn hiện trong sương chiều,hiu hắt lau sậy đem đến cho ta cái nhìn khác về thiên nhiên Tây Bắc, đâu chỉ cónguy hiểm chết người, còn đẹp đến lạ lùng, đẹp nên thơ nên mộng

Có thể nói, thiên nhiên Tây Bắc đã hiện lên qua hai nét tương phản cực kỳ đốilập Nguy hiểm đến chết chóc, mà thơ mộng đến nao lòng Nhưng điểm chung vẫn

là vẻ đẹp, đẹp trong cái kỳ vĩ hoang sơ, hiếm nơi nào có được Đó là vẻ đẹp đểthương và để nhớ! Bằng bút pháp lãng mạn, Quang Dũng đã tạc dựng nên hìnhtượng thiên nhiên Tây Tiến thật độc đáo, Quang Dũng không chỉ là nhà thơ, ôngcòn là họa sĩ, những vần thơ ông như ẩn hiện nét bút cọ, thi trung hữu họa, nhữngcái gồ ghề, nhấp nhô, tròng trành, thăm thẳm đã như tạc vào trong tâm trí ngườiđọc Và qua thủ pháp của ngòi bút lãng mạn, cái hùng vĩ càng hiện lên sừng sữnghơn, to lớn hơn, cái bồng bềnh càng hư ảo, miên man hơn Có thể nói, QuangDũng đã góp thêm một bức tranh tuyệt đẹp về những miền đất tổ quốc Với hìnhảnh thiên nhiên hùng vĩ vô cùng mà cũng bay bổng, gợi cảm vô cùng

Tây Tiến là bản tình ca về nỗi nhớ, qua ngòi bút bay bổng và hết mực tài hoa,

tác giả đã tạc dựng lại vẻ đẹp rất riêng của thiên nhiên núi rừng Tây Bắc: dữ dội,

mà cũng đầy trữ tình Qua đó ta thấy được sự gắn bó của nhà thơ với thiên nhiên

và con người – biểu hiện của một tấm lòng gắn bó với quê hương, đất nước Đồngthời là tấm lòng trĩu nặng yêu thương với những người đồng đội, đồng chí – mànhà thơ luôn khắc cốt ghi tâm

ĐỀ 4: Cảm nhận vẻ đẹp thi trung hữu hoạ trong đoạn thơ dưới đây:

Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!

Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi Mường Lát hoa về trong đêm hơi Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

Trang 19

Heo hút cồn mây súng ngửi trời Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống Nhà ai Pha luông mưa xa khơi

(Tây Tiến - Quang Dũng)BÀI LÀM:

Một nhà phê bình đã từng quả quyết rằng nếu xét muời tác giả tiêu biểu thời khángchiến chống Pháp, sẽ không có Quang Dũng, nhưng nếu xét mười thi phẩm xuất

sắc nhất của thời bom lửa ấy thì không thể không có Tây Tiến Quả là như vậy, Tây Tiến như bức tượng đài sừng sững thách thức cả khốc liệt của chiến tranh, sự

tàn phá của thời gian để ngày càng toả sáng trong kho tàng văn chương đất Việt.Đặc biệt không thể không nhắc đến bút pháp thi trung hữu hoạ - sức tạo hình, điêukhắc ngôn từ của người nghệ sĩ Quang Dũng, đặc biệt trong những vần thơ dướiđây:

“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!

Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi Mường Lát hoa về trong đêm hơi Dốc lên khúc khuỷu dốc thảm thắm Heo hút cồn mây súng ngửi trời Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi.”

Quang Dũng nhà thơ của xứ Đoài mây trắng, nhà thơ của những vần thơ lãngmạn, bay bổng, đậm nét hào hoa Cuộc kháng chiến chống Pháp đi qua để lạinhững dấu ấn không thế phai mờ trong tâm hồn dân tộc Đó là điểm hội tụ củamuôn triệu tấm lòng yêu nước, môi trường thử thách tinh thần chiến đấu ngoancường, bất khuất của nhân dân ta Cuộc kháng chiến còn làm nảy sinh biết baohình ảnh đẹp mà đẹp nhất là hình ảnh người lính Bên cạnh những bài thơ nổi tiếng

một thời như Đồng chí của Chính Hữu, Nhớ của Hồng Nguyên, Tây Tiến của

Quang Dũng là một thi phẩm đặc sắc Đoàn quân Tây Tiến quy tụ một lực lượngđông đảo đủ mọi tầng lóp thanh niên từ khắp phố phường Hà Nội Có nhiều thanhniên học sinh thuộc tầng lóp trí thức tiểu tư sản vừa rời trang sách nhà trường đểtham gia vào cuộc chiến đấu của dân tộc Tất cả những con người ấy ra đi với lítưởng chung của dân tộc là chiến đấu bảo vệ độc lập, tự do của Tổ quốc Họ ra đikhông hẹn ngày trở về chiến đấu với mục đích “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh.”

Trang 20

Tư tưởng ấy là hào khí của cả một thế hệ, đã từng được phản ánh trong một bài hátthời đó:

“Đoàn Vệ quốc quân một lần ra đi, Nào có xá chi đâu ngày trở về.”

Trong đoàn người nô nức lên đường đi chiến đấu, trong hàng ngũ những thanhniên trí thức ngày hôm qua có khi là những tự vệ chiến đấu trên phố phường, chiếnlũy Hà Nội, mà hôm nay đã có mặt trong đoàn quân Tây Tiến, thấp thoáng xuấthiện một khuôn mặt: Quang Dũng, tác giả của bài thơ Như bao thanh niên trí thứccủa Hà Nội ngày ấy, Quang Dũng cũng háo hức gia nhập đoàn quân Tây Tiến vớimột niềm say mê của tuổi trẻ và một chút lãng mạn của những người thanh niên

“nho sĩ quý tộc” ảnh hưởng trong Chinh phụ ngâm:

“Dã nhà đeo bức chiến bào”

hay

“Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao.”

Cũng chính vì thế mà những thanh niên như Quang Dũng sẵn sàng chấp nhậnmọi gian khổ, hi sinh để chiến đấu đến ngày thắng lợi cuối cùng Vào Tây Tiến,Quang Dũng cùng sống và chiến đấu một thời gian với đơn vị này và sau đóchuyển sang đơn vị khác Một ngày ngồi ở Phù Lưu Chanh, Quang Dũng nhớ vềnhững người đồng đội, nhớ về những tháng ngày chiến đấu gian nan nhưng hàohùng, nhớ đơn vị cũ, nhớ những con đường hành quân mà ông cùng đơn vị từng điqua

Quang Dũng không chỉ là nhà thơ, ông còn là hoạ sĩ, là nhạc sĩ, cho nên nhữngvần thơ của ông đậm tính nhạc, tính hoạ Thơ là một hình thức sáng tác văn họcnghiêng về thể hiện cảm xúc thông qua tổ chức ngôn từ đặc biệt, giàu nhạc tính,giàu hình ảnh và gợi cảm Thi trung hữu họa: trong thơ có hoạ (có tranh, có cảnh),tức là nói đến đặc trưng của thơ trữ tình là giàu hình ảnh, giàu tính chất tạo hình,đọc thơ mà tưởng thấy cả khung cảnh hiện ra ở trước mắt

Tính hoạ được tạo nên trong nỗi nhớ chơi vơi, nỗi nhớ chông chênh giữa hai bờthực ảo:

“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!

Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi ”

Mở đầu bài thơ là lời gọi tha thiết, ngọt ngào Tác giả gọi tên đơn vị Tây Tiến,gọi tên con sông vùng Tây Bắc: sông Mã mà thân thiết, dạt dào cảm tình như gọitên những người thân thương trong cuộc đời mình Phải chăng trung đoàn TâyTiến, núi rừng Tây Bắc gần gũi, thân thương với tác giả và khi xa thì Tây Bắc, Tây

Trang 21

Tiến trở thành một “mảnh tâm hồn” của tác giả “Nhớ chơi vơi gợi lên dài rộng vềkhông gian, gợi nên cái xa cách về thời gian Nhớ chơi vơi! Hai tiếng "chơi vơi"dùng ở đây thật là đắc địa, diễn tả một nỗi nhớ không có hình, không có lượngnhưng hình như rất nặng và mênh mang đầy ắp Cái tâm trạng nhớ ấy ta đã bắt gặpkhông chỉ một lần trong ca dao:

“Ra về nhớ bạn chơi vơi”

hoặc:

“Nhớ ai bổi hổi bồi hồi,

Như đứng đống lửa, như ngồi đống than ”

Quang Dũng lấy nỗi nhớ trong ca dao để tượng trưng thêm cho nỗi nhớ chơi vơicủa mình, thật là chi tiết đắt giá! Nhưng tất cả đã lùi về quá khứ Quang Dũng cấtlên tiếng gọi như sự níu kéo mọi ký ức quay trở lại

Tính hoạ được gợi lên qua những địa danh và thời tiết khắt nghiệt xứ sở miềnTây:

“Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

Mường Lát hoa về trong đêm hơi”

“Sài Khao, Mường Lát” là hai địa danh được nhắc đến Những cái tên như cósức tạo hình, nó gợi những nơi chốn hoang sơ, thưa vắng, heo hút Những cái tênnhư những địa chỉ in hằn dấu chân người lính Và cũng chính nơi hoang vu đó, ký

ức đập về màn sương lạnh trắng phủ kín lối đi, che lấp cả đoàn quân mỏi mệt.Sương bồng bềnh, giá buốt làm trơn ướt những con đường, làm tê lạnh da người.Mỗi địa danh đều gợi lên trong người đọc về hình ảnh của một xứ lạ, phương xa;nếu ta chỉ thử thay Sài Khao bằng một tên gọi khác là lớp sương huyền ảo ấy tanbiến ngay

Một hình ảnh rất gợi là: “Mường Lát hoa về trong đêm hơi” Đêm hơi là đêmđẫm hơi sương, là đêm lạnh Tiếp tục gợi sự khắc nghiệt của khí hậu Nhưng từ

“hoa về”, lại đem đến nhiều cách hiểu Có thể hiểu hoa theo nghĩa thực, nhữngbông hoa rừng nở, mùi hương quyện trong đêm hơi Nhưng cũng có thể hiểu, khichiến sĩ hành quân đêm, những bó đuốc họ mang, giống như những bông hoa lửa,phá đi giá lạnh và đêm tối

Tính hoạ được thể hiện đặc sắc qua hình ảnh những con dốc Tây Tiến:

“Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây súng ngửi trời Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”

Trang 22

Đất nước ta với đặc điểm địa hình 3/4 là núi đồi, nhưng qua những lời thơ đậmchất tạo hình của Quang Dũng, tưởng chừng như bao dãy đồi, ngọn núi đều đã “đổbộ” hết lên vùng miền Tây này, phủ đặc trên những cung đường của binh đoàn TâyTiến Điệp từ "dốc" vừa gợi sự liên tiếp, chồng chất của những con dốc, dốc nàychưa qua dốc khác đã phủ hiện trước mặt Hơn thế nữa những từ láy đi kèm còngợi cả cái khốc liệt của những con dốc “Khúc khuỷu”, “thăm thẳm”, “heo hút” vẽcho ta một hình dung về sự hoang sơ, kỳ vĩ, xa xôi, trúc trắc, mấp mô, hun hút rợnngười Nhưng đặc biệt hơn, bằng thủ pháp đối lập, sự kinh hoàng, hiểm trở củanhững con dốc nơi đây mới hiện lên đầy đủ: “Ngàn thước lên cao ngàn thướcxuống” Đó là một sự gãy gập đột ngột, bất ngờ Không hề thoai thoải dễ đi nhưnhững vùng miền khác, dốc nơi này dựng cao chót vót, nổi lên, vươn lên thẳngđứng chạm cả mây trời Nhưng khi chạm đỉnh dốc rồi, sa chân bước hụt có thể rơingay xuống chân dốc sâu thăm thẳm Con đường hành quân điệp trùng với bao cáikhắc nghiệt, dữ dội của mỗi vùng rừng biên ải Đọc đoạn thơ, chưa cần suy ngẫmnội dung bên trong, chúng ta đã có thể hình dung ra con đường mà Quang Dũngmiêu tả Kết cấu đoạn thơ cứ thanh bằng thanh trắc đan chéo nhau, trải dài ra miênman, vô tận như con đường xa thẳm khấp khểnh.

Nếu câu thơ “Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm” tới 5 thanh trắc trong 1 câuthơ đã tạo nên được những liên tưởng thật kỳ thú, rợn ngợp, kích thích, thì câu thơ:

“Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi” lại lập lại cân bình, câu thơ được dệt bởi nhữngthanh bằng liên tiếp gợi tả sự êm dịu, tươi mát của tâm hồn những người lính trẻ,trong gian khổ vẫn lạc quan yêu đời Nhịp thơ cũng chậm lại, âm điệu nhẹ nhàngnhư phút nghỉ chân hiếm hoi của người lính Trong màn mưa rừng, tất cả nhạtnhòa, bao mệt nhọc cũng tan biến, chỉ còn lại cảnh bồng bềnh, thi vị

Quang Dũng không chỉ được biết đến với tư cách là một nhà thơ, ông là mộtnghệ sĩ đa tài, có thể vẽ tranh và sáng tác nhạc Cho nên, chính tài năng nhiều mặt

đó đã bổ trợ tương hỗ nhau, để Quang Dũng dựng tạc nên những nét vẽ thật ấntượng về thiên nhiên miền Tây Có nhà phê bình đã từng cho rằng, những vần thơviết về dốc Tây Tiến là những vần thơ tuyệt bút, có lẽ bởi tính hoạ đậm nét đã làmnên điểm sáng cho cả bài thơ, làm nên ấn tượng lâu bền trong lòng người đọc

Tây Tiến là bài thơ đặc sắc nhất góp phần đưa tên tuổi Quang Dũng lên một tầm

cao mới của nghệ thuật Với ngòi bút tài hoa, lãng mạn của mình Quang Dũng đãxây dựng thành công hình tượng người lính vừa bi tráng vừa tài hoa, hình tượngthiên nhiên Tây Bắc hùng vĩ dữ dội mà nên thơ nên hoạ Những kết hợp tương

Trang 23

khắc đó làm nên một Tây Tiến lạ và lệch, có sức sống lâu bền trong trái tim bạn

đọc dù bao thế hệ đi nữa

ĐỀ 5: Trong bài thơ Tây Tiến của nhà thơ Quang Dũng có đoạn:

Doanh trại bùng lên hội đuốc hoa Kìa em xiêm áo tự bao giờ Khèn lên man điệu nàng e ấp Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ Người đi Mộc Châu chiều sương ấy

Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

Có nhớ dáng người trên độc mộc Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa

(Trích: Tây Tiến – Quang Dũng)

Anh/chị hãy cảm nhận đoạn thơ trên Từ đó nhận xét về nét riêng trong phong cáchsáng tác của nhà thơ

BÀI LÀM:

Quang Dũng là nhà thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Pháp vàchống MĨ, ông là một nghệ sĩ đa tài làm thơ, vẽ tranh, viết văn, soạn nhạc nhưngthành công nhất là thơ Với tâm hồn lãng mạn, tài hoa của một nhà thơ “xứ Đoàimây trắng”, Quang Dũng đã sáng tác những bài thơ giàu chất nhạc, chất họa, như:

“Tây Tiến”, “Đôi mắt người Sơn Tây”, “Đôi bờ”, Mây đầu ô, Quán bên đường…Trong đó tiêu biểu nhất là bài thơ “Tây Tiến” Tác phẩm hấp dẫn người đọc khôngchỉ ở cảm xúc thơ chân thực sâu lắng của tình đồng chí đồng đội, mà nó còn gợi vềtrong tâm trí độc giả hình ảnh một miền đất xa xôi, hoang dại nhưng thơ mộng vôcùng, nơi ấy lưu dấu những kỉ niệm không thể nào quên của một đoàn quân đã trởthành huyền thoại:

“Doanh trại bùng lên hội đuốc hoa Kìa em xiêm áo tự bao giờ

Khèn lên man điệu nàng e ấp Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ Người đi Mộc Châu chiều sương ấy

Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

Có nhớ dáng người trên độc mộc Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”

Trang 24

Cất chân ra đi từ mảnh đất Hà Thành, nơi phố thị phồn hoa, những chàngtrai vừa đủ tuổi trưởng thành vốn chỉ quen với đèn sách bút nghiên, đã vượt cảtrăm cây số lên bảo vệ biên giới miền Tây Bắc của Tổ quốc Những chặng đườnghành quân qua vực sâu núi thẳm, băng qua mưa bom bão đạn kẻ thù, và cả khi đốidiện với thiếu thốn, với bệnh tật… tất cả đều đó không làm vơi đi ý chí, nghị lựcphi thường của những chiến binh vệ trọc Các anh vẫn giữ được tâm hồn lạc quanyêu đời, vẫn luôn mở lòng đón nhận những rung động đẹp đẽ từ những khoảnhkhắc đầm ấm vui tươi trong những đêm hội dã chiến, hay cảnh sông nước yênbình, lãng mạn ở chốn thâm sơn cùng cốc ấy

Không nhớ sao được những phút giây sôi nổi cùng nhau trong đêm liên hoanngập tràn ánh đuốc:

“Doanh trại bùng lên hội đuốc hoa”

Câu thơ như làm bừng sáng cả không gian, xua đi cái u uất, tịch mịch củanúi rừng, xóa tan cái mệt mỏi dãi dầu trong mỗi bước hành quân của người lính.Động từ “bừng” trong câu thơ đầu đoạn không chỉ diễn tả sự vận động nhanh, rộngkhắp và đầy bất ngờ của ánh sáng, mà còn gợi được cái háo hức của lòng người,gợi những ánh mắt lấp lánh niềm vui với nụ cười rạng rỡ Đêm hội liên hoan được

tổ chức, không phải tiệc rượu tưng bừng, không có đèn xanh pháo đỏ nhưng cũng

đủ làm lòng người náo nhiệt bởi ánh sáng của đuốc, sắc màu rực rỡ của nhữngbông hoa vừa được chọn hái giữa rừng Chỉ một nét phác họa mà gợi cả hình, cảtiếng, cả cái rộn ràng háo hức của lòng người, đủ cho thấy chất tài hoa nghệ sĩ củaQuang Dũng!

Trong không khí vui tươi ấy, ta mường tượng như đang được chứng kiến từgiây phút đầu tiên khi ánh đèn sân khấu bừng lên, những diễn viên bất ngờ xuấthiện với xiêm y lộng lẫy:

“Kìa em xiêm áo tự bao giờ”

Các cô gái Tây Bắc với trang phục biểu diễn rực rỡ như những bông hoatươi tắn của núi rừng bước ra sân khấu mang đến hương sắc ngọt ngào, say đắmlan tỏa khắp nơi khiến những chàng lính trẻ Hà Thành khôi khỏi ngỡ ngàng, háohức “Kìa em”

Những chàng lính đi từ ngỡ ngàng này đến ngạc nhiên khác, họ bị cuốn hútbởi giai điệu man dại của tiếng khèn vang xa trầm hùng như tiếng của gió ngàn,của suối reo, của chim kêu, vượn hót

“Khèn lên man điệu nàng e ấp Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ”

Trang 25

Khèn là nhạc cụ dân tộc ở núi rừng Tây Bắc, thường người Tây Bắc sẽ sửdụng loại nhạc cụ này trong các dịp lễ hội, đó là tiết mục văn nghệ đặc sắc mangnét riêng trong đời sống tinh thần của người dân Tây Bắc.

“ Vang vọng núi rừng tiếng khèn gọi bạn Điệu múa khèn nghiêng ngả tán ô đen”

Cùng với sự khỏe khoắn, dũng mãnh của những chàng trai trong điệu múakhèn là hình ảnh những cô gái yểu điệu dịu dàng, e ấp duyên dáng trong điệu múaxòe ô khiến người xem ngây ngất, đắm say Không khí đó đã xua tan mọi muộnphiền, mỏi mệt của đoàn quân Tây Tiến, như tiếp thêm sức mạnh tinh thần cho họ

để tiếp tục chặng đường đầy khó khăn phía trước Phải chăng, bởi vậy mà câu thơcuối khổ đọc lên nhẹ nhàng bay bổng làm sao: “Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ”.Dường như tâm hồn chiến sĩ như đã cất cánh - thăng hoa

Nhớ về những phút giây yên bình lãng mạn không thể không nhớ đến cảnhsông nước hữu tình vùng Tây Bắc xa xôi

“Người đi Mộc Châu chiều sương ấy”

Hình ảnh buổi chiều sương lãng mạn, nhẹ nhàng, thơ mộng khác với sự hùng vĩ dữdội ở khúc thượng nguồn sông Mã Một thế giới khác của thiên nhiên Tây Bắcđược mở ra, không còn cái gân guốc, hiểm trở của sườn đèo dốc đá mà cảnh vật trởnên thơ mộng trữ tình biết mấy Cả không gian núi rừng Châu Mộc được bao phủbởi làn sương mỏng manh lãng đãng, khiến cảnh sắc thêm lung linh huyền ảo, vừanhư thực vừa như mơ, gợi nỗi buồn man mác, nỗi lưu luyến của người ra đi XuânDiệu cũng đã từng bị cái không gian sương khói ấy làm cho thẩn thơ: “Sươngnương theo trăng ngừng lưng trời – Tương tư nâng lòng lên chơi vơi”

Trong buổi chiều sương trên vùng sông nước Mộc Châu tâm hồn ngườichiến sĩ còn nặng tình vương vấn với “hồn lau nẻo bến bờ” Vạn vật như hữu linh,lòng người sao nỡ vô tình!

Hai câu thơ cuối là nỗi nhớ về hình bóng con người hòa quyện cùng thiênnhiên thơ mộng:

“Có nhớ dáng người trên độc mộc Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”

Bóng dáng người trên độc mộc với dáng vẻ vững trãi mà duyên dáng,thướt tha hàihòa trong vẻ đẹp của sông nước mênh mông Trên dòng sông ấy, những cánh hoakhông bị dập vùi mà nương theo dòng nước lũ, đong đưa như làm duyên làm dáng,bồng bềnh

Trang 26

Điệp ngữ "có nhớ- có thấy" làm tăng thêm xúc cảm, nỗi nhớ da diết, nồngnàn của tác giả dành cho nơi đây Hình ảnh đối lập giữa dòng nước lũ và hoa đongđưa, dòng lũ cuộn trào mạnh mẽ với cành hoa nhẹ nhàng lung lay, hai hình ảnhnhư đối lập hoàn toàn nhưng lại hài hòa, nên thơ.Bút pháp gợi mà không tả vớinhững nét vẽ cách điệu đã tạo nên bức tranh đậm đà chất hội họa hòa với chất thi

vị trữ tình lôi cuốn người đọc, đưa ta vào một thế giới hoang sơ, cổ tích

Khi bàn về nét riêng trong phong cách sáng tác của Quang Dũng qua “TâyTiến”, Giáo sư Hà Minh Đức có nhận xét, “Bài thơ được viết ra với những màu sắcthẩm mỹ phong phú Có cái đẹp hùng tráng của núi rừng hiểm trở, và vẻ đẹp bình

dị nên thơ của cuộc sống nơi bản làng quê hương, có cảm hứng mạnh mẽ hòa hợpvới chất trữ tình nhẹ nhàng mềm mại trong thơ Đặc biệt Tây Tiến là bài thơ giàunhạc điệu, nhạc điệu của cuộc sống và của tâm hồn Mỗi đoạn thơ mang một nhạcđiệu riêng vừa mạnh mẽ, vừa uyển chuyển khi đưa người đọc về với những kỉ niệm

xa nên thơ và gợi cảm” Và, độc giả dễ dàng nhận thấy một nhạc điệu du dương,tình tứ ngân vang, trải dài khắp không gian nỗi nhớ từ đêm hội liên hoan đến cảnhsông nước miền Tây thơ mộng ấy Nét riêng đầy lãng mạn hào hoa ấy ít thấy trongnhiều bài thơ viết về người lính cùng thời như Đồng chí (Chính Hữu), “Cá nước”(Tố Hữu)…

Có thể nói, qua tám câu thơ đậm đà chất thơ, chất họa, chất nhạc, ngườinghệ sĩ tài hoa Quang Dũng đã khắc họa thật đẹp những kỉ niệm buổi sinh hoạt vănnghệ đầm ấm và cảnh sông nước hữu tình khiến lòng người mê đắm Qua đoạnthơ, ta không chỉ thấy vẻ đẹp tâm hồn lãng mạn, lạc quan yêu đời của những chàng

vệ trọc mà còn thấy được cái tình trong từng nét vẽ, câu thơ của Quang Dũng Quảthực nhà thơ luôn ngưỡng mộ và yêu tha thiết những kỉ niệm gắn bó cùng đoànquân Tây Tiến Độc giả cũng trân trọng hơn những rung cảm đẹp đẽ của hồn thơQuang Dũng và yêu thêm mảnh đất và con người Tây Bắc kiên cường

ĐỀ 6 : Cho đoạn thơ:

“ Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

Trang 27

Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành”

(Trích: Tây Tiến – Quang Dũng)

Anh/chị hãy cảm nhận vẻ đẹp hình tượng người lính trong đoạn thơ trên Từ đónhận xét về sự quyện hòa giữa chất hiện thực và lãng mạn trong thơ Quang Dũng

BÀI LÀM:

Quang Dũng là nhà thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Pháp,ông là một nghệ sĩ đa tài làm thơ, vẽ tranh, viết văn, soạn nhạc nhưng thành côngnhất là thơ Với tâm hồn lãng mạn, tài hoa của một người con “xứ Đoài mâytrắng”, Quang Dũng đã sáng tác những bài thơ giàu chất nhạc, chất họa, như: “Mây đầu ô”, “Thơ văn Quang Dũng”… Trong đó tiêu biểu là bài thơ “Tây Tiến”.Bài thơ không là dòng cảm xúc nhớ nhung của Quang Dũng về mảnh đất Tây Bắchùng vĩ, hoang sơ, dữ dội với biết bao kỉ niệm gắn bó Ấn tượng sâu đậm nhất

trong dòng cảm xúc ấy là hình ảnh những người lính Tây Tiến thật oai phong lẫm

liệt, thật sang trọng hào hoa:

“ Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành”

Tây Tiến là tên một đơn vị quân đội được thành lập đầu năm 1947, có nhiệm

vụ phối hợp với bộ đội Lào, đánh tiêu hao sinh lực địch, bảo vệ biên giới Việt –Lào Chiến sĩ Tây Tiến phần đông là thanh niên, học sinh, trí thức Hà Nội, nhữngchàng trai hào hoa thanh lịch, lãng mạn yêu đời Lên với chiến trường Tây Bắc, họ

Trang 28

phải đối mặt với bao khó khăn thử thách, nhưng vẫn luôn ngời sáng một ý chí, mộttinh thần chiến đấu dũng cảm kiên cường Quang Dũng gắn bó cùng đoàn quânTây Tiến từ những ngày đầu thành lập trên cương vị Đại đội trưởng, anh yêuthương và cảm phục sâu sắc những chiến sĩ trẻ đầy quả cảm của đoàn quân Cuốinăm 1948, khi rời đơn vị cũ chưa lâu, tại Phù Lưu Chanh, vì rất nhớ đoàn quân,Quang Dũng đã viết bài thơ “Nhớ Tây Tiến, sau đổi tên thành “Tây Tiến” (in trongtập thơ “Mây đầu ô”).

Hai tiếng thân thương “Tây Tiến” được nhắc đến trong bài với thật nhiềucảm xúc, khi thì đầy nuối tiếc, luyến lưu “Tây Tiến ơi!”, lúc lại da diết cồn cào:

“nhớ ôi Tây Tiến”, và cái tên “Tây Tiến” lúc này được gọi lên đầy kiêu hãnh tựhào:

“ Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm”

Những vần thơ ngồn ngộn chất hiện thực, nửa thế kỷ sau mà người đọc vẫncảm thấy trong khói lửa, trong âm vang của tiếng súng, những gương mặt kiêuhùng của đoàn dũng sĩ Tây Tiến “ Đoàn binh không mọc tóc”, “ Quân xanh màulá”, tương phản với “ dữ oai hùm” Cả ba nét vẻ đều sắc, góc cạnh hình ảnh những

“ Vệ túm”, “Vệ trọc” một thời gian khổ đươc nói đến một cách hồn nhiên Quân

phục xanh màu lá, nước da xanh và đầu không mọc tóc vì sốt rét rừng, thế mà quắc

thước hiên ngang, xung trận đánh giáp lá cà “ dữ oai hùm” làm cho giặc Pháp kinhhồn bạt vía “ Tam quân tì hổ khí thôn Ngưu” là hình ảnh các tráng sĩ “ Sát Thát”,đời Trần “ Quân xanh màu lá dữ oai hùm” là chí khí lẫm liệt hiên ngang của anh

bộ đội cụ hồ trong chín năm kháng chiến chống Pháp

Gian khổ và ác liệt thế, nhưng họ vẫn mộng vẫn mơ

“Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”

Lí tưởng sống của những chàng lính thật đẹp Họ luôn biết dung hòa giưamộng và mơ Mộng giết giặc, đánh tan lũ xâm lăng để giữ bình yên cho xóm làng.Tâm thế luôn sẵn sàng chiến đấu và lập công, “ mắt trừng” Còn mỗi đêm khuya,lại đắm mình trong những ước mơ thật đẹp :“Hà Nội dáng kiều thơm” Ba chữ “dáng kiều thơm” đã diễn tả thật “ đắt” cái phong độ hào hoa, đa tình của nhữngchiến binh Tây Tiến, những chàng trai của đất nghìn năm văn hiến, giữa khói lửachiến trường vẫn mơ, vẫn nhớ về một mái trường xưa, một góc phố cũ, một tà áo

Trang 29

trắng, một “dáng kiều thơm” Ngòi bút của Quang Dũng biến hoá, lúc bình dị mộcmạc, lúc lại mộng ảo nên thơ, và đó chính là vẻ đẹp vừa hào hùng vừa hào hoa củamột hồn thơ chiến sĩ

Bốn câu thơ tiếp theo ở cuối phần 3, một lần nữa nhà thơ nói về sự hy sinhtráng liệt của những anh hùng vô danh trong đoàn quân Tây Tiến

“Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”

Có biết bao chiến sĩ đã ngã xuống nơi góc rừng, bên bờ dốc vì độc lập, tự do của

Tổ quốc Đó là những cái chết lặng thầm, đơn độc và lạnh lẽo vô cùng Bởi đồngđội vẫn tiếp tục hành quân, còn các anh nằm lại nơi biên cương, miền viễn xứ - đấtkhách quê người Cả câu thơ sử dụng nhiều từ Hán Việt khiến giọng điệu thơtrang trọng cổ kính, khiến những nấm mồ hoang dại, đơn độc trở nên thiêng liêng,nhưng cũng không tránh khỏi nỗi xót xa, thương cảm trong lòng người đọc

“Áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành”

Hình ảnh “áo bào” xuất hiện trong câu thơ khiến cái chết của các anh trở nênoai hùng, bi tráng lạ thường, tưởng như đó là phút sa cơ của người dũng tướng củamột thời hào khí Đông A Nhưng sự thật đau lòng là khi nằm xuống, tấm quầnmanh áo còn không lành lặn huống chi là áo bào Quấn thân các anh có thể chỉ làtấm vải dù che mưa che gió Các anh đã “về đất” một cách thanh thản, bình dị; yênnghỉ trong lòng Mẹ, giấc ngủ nghìn thu Sự ra đi thật nhẹ nhàng mà lòng người ởlại trĩu nặng nỗi xót xa

Cả đoàn quân lặng đi, chỉ còn nghe thác sông Mã thay tiếng của hồn thiêngsông núi, tiếng của đồng bào, của Tổ quốc “gầm lên” như một loạt đại bác nổ xétrời, vừa đau đớn vừa uất nghẹn căm hờn “Khúc độc hành” vừa là khúc hát tiễnđưa hồn tử sĩ, vừa là khúc hát lên đường đầy thiêng liêng, bi tráng

Có người cho rằng, Quang Dũng là một trong những nhà thơ đầu tiên củanền thơ ca kháng chiến nói rất cảm động về sự hy sinh anh dũng của các chiến sĩ

vô danh Quả thực vậy, nếu Chính Hữu, qua bài “Đồng Chí” đã nói rất hay vềngười nông dân mặc áo lính, thì Quang Dũng, với bài thơ “Tây Tiến” đã dựng lênmột tượng đài hùng vĩ uy nghiêm và đầy bi tráng về những chàng trai Hà Nội

“mang gươm đi mở cõi” dũng cảm, can trường, trong gian khổ chiến đấu hy sinhvẫn lạc quan yêu đời Đó là vẻ đẹp riêng độc đáo làm nên huyền thoại về một đoàn

Trang 30

binh không mọc tóc thủa nào! Trong thơ Quang Dũng, hiện thực khốc liệt củachiến tranh được nói đến thẳng thắn, không hề né tránh, nhưng cách mà nhà thơnhìn nhận và biểu đạt trong từng câu thơ dù có đau thương chết chóc nhưng khôngkhiến người đọc cảm thấy bi quan, buồn chán, mà trái lại, hiện thực chỉ càng thổibùng lên ý thức đấu tranh đòi sự sống, cùng tình yêu và sự tôn vinh đẹp đẽ hàohùng Bởi vậy mà hình tượng tập thể anh hùng Tây Tiến hiện lên trong trang thơcủa Quang Dũng mang vẻ đẹp hào hùng, bi tráng, khơi gợi cảm xúc ngưỡng mộ, tựhào nhiều hơn là cảm xúc xót đau, thương cảm

Nhìn chung, đoạn thơ trên đã thể hiện thật rõ nét cốt cách và bút pháp lãngmạn, hồn thơ tài hoa của Quang Dũng Nếu “thơ là sự thể hiện con người và thờiđại một cách cao đẹp” thì đoạn thơ đã cho ta cảm nhận về ấn tượng ấy “Tây Tiến”

đã mang vẻ đẹp độc đáo của một bài thơ viết về người lính – anh bộ đội cụ Hồnhững năm đầu kháng chiến chống Pháp Bài thơ hội tụ mọi vẻ đẹp và bản sắc củathơ ca kháng chiến ca ngợi chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạngViệt Nam

VIỆT BẮC ( Tố Hữu)

ĐỀ 1 : Cho đoạn thơ sau:

- Mình về mình có nhớ ta Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng.

Mình về mình có nhớ không Nhìn cây nhớ núi, nhìn sống nhớ nguồn?

- Tiếng ai tha thiết bên cồn Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi

Áo chàm đưa buổi phân li Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay (Trích: Việt Bắc – Tố Hữu)

Anh/chị hãy phân tích đoạn thơ trên Từ đó nhận xét về chất trữ tình – chính trị

trong ngòi bút thơ Tố Hữu

BÀI LÀM:

Tố Hữu là nhà thơ lớn, là cánh chim đầu đàn của nền thơ ca cách mạng Việt

Nam Các tác phẩm của ông luôn in đậm khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãngmạn, mang tính trữ tình chính trị và đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc “Việt Bắc” làmột trong những sáng tác hay nhất của đời thơ Tố Hữu, là đỉnh cao của thơ kháng

Trang 31

chiến chống Pháp Đó được xem như một bản tổng kết bằng thơ cuộc kháng chiếntrường kì, gian khổ mà anh dũng kiên cường Cả bài thơ cũng là dòng chảy cảmxúc dạt dào, tha thiết về nỗi nhớ Việt Bắc Tiêu biểu trong bài thơ là những dòng kí

ức về giờ phút chia tay đầy bịn rịn lưu luyến của kẻ ở người đi:

- Mình về mình có nhớ ta Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng.

Mình về mình có nhớ không Nhìn cây nhớ núi, nhìn sống nhớ nguồn?

- Tiếng ai tha thiết bên cồn Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi

Áo chàm đưa buổi phân li Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”

Tố Hữu viết Việt Bắc nhân một sự kiện lịch sử trọng đại của dân tộc Sauchiến dịch Điện Biên Phủ thắng lợi, tên giặc Pháp cuối cùng rời khỏi quê hương,

cơ quan trung ương chính phủ rời chiến khu Việt Bắc về tiếp quản thủ đô sau mườilăm năm gắn bó Trong giờ phút chia tay đầy lưu luyến bịn rị, Tố Hữu đã viết bàithơ này Mạch thơ tuôn trào theo dòng hồi tưởng của nhà thơ về những năm thánggắn bó với mảnh đất và con người Việt Bắc mà khởi nguồn là giây phút chia li thậtxúc động nghẹn ngào

Chúng ta đã từng có những áng văn chương lớn nói về những cuộc chia lylàm não lòng nhiều thế hệ người đọc Việt Nam Đó là giọt nước mắt chia li củangười chinh phụ tiễn chồng ra biên ải (Chinh phụ ngâm – Đặng Trần Côn); đó làphút tử biệt “một giã gia đình một rửng rưng” của người chiến sĩ bước vào khói lửađạn bom (Tống biệt hành – Thâm tâm); hay đó là cuộc chia li “chói ngời sắc đỏ”của người vợ xa chồng trong khánh chiến chống Mĩ Thế nhưng, có một cuộc chia

li không thấm đẫm nước mắt, không nhuốm màu tử biệt đã đi vào lịch sử, đánh dấumột bước ngoặt quan trọng của dân tộc Không phải là cuộc chia li chồng vợ haycủa đôi trai gái chung tình, mà buổi tiễn chân bộ đội miền xuôi về với thủ đô vẫnnghe sao thật tình tứ, mặn nồng

- Mình về mình có nhớ ta Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng.

Ngay từ câu thơ đầu tiên, người ở lại đã cất lên tiếng lòng đầy băn khoăn trăn trở

về tình cảm của người ra đi Thật dễ hiểu, bởi trong mỗi cuộc chia li thì người ở lại

Trang 32

luôn có tâm trạng nặng nề hơn, vừa phải đối diện với một không gian trống trải,thiếu vắng bóng người, vừa luyến tiếc những năm tháng gắn bó, liệu người đi rồi

có còn nhớ ta chăng?

Câu hỏi tu từ mang âm hưởng ca dao “mình về có nhớ ta chăng? – Ta về tanhớ hàm răng mình cười”, với lối xưng hô “mình – ta” ngọt ngào, đằm thắm nhưđôi trai gái yêu nhau đã khơi gợi tình cảm gần gũi, tha thiết nhớ thương của người

về xuôi: Người về chốn thị thành phồn hoa, có còn nhớ đến ta?

Vừa khơi gợi cảm xúc, câu hỏi tu từ vừa như nhắc nhớ về khoảng thời gian gắn bómười lăm năm, kể từ những ngày đầu mới xây dựng căn cứ địa Việt Bắc Chỉ nhắcđến khoảng thời gian đằng đẵng ấy thôi cũng đủ khơi dậy biết bao kỉ niệm vềnhững gian khổ, thiếu thốn “ta” và “mình” đã trải qua Nó “ thiết tha, mặn nồng”bền chặt, keo sơn và luôn in dấu trong lòng người ở lại

Kỉ niệm không chỉ được nhắc nhớ qua thời gian “mười lăm năm” mà cònđược nhắc nhớ qua không gian núi rừng Việt Bắc qua cấu trúc câu hỏi được lặp lại:

“Mình về mình có nhớ không Nhìn cây nhớ núi, nhìn sống nhớ nguồn?”

Câu thơ vẽ lên không gian đặc trưng của núi rừng Việt Bắc, không gian đã từnggắn bó một thời gian khổ hào hùng của người đi kẻ ở, giờ đây đã trở thành khônggian của nỗi nhớ Nhà thơ đã sử dụng hai điệp từ lặp đi lặp lại ở hai vế “nhìn –nhớ” để nhấn mạnh và khắc sâu những diễn biến sẽ có trong tâm trí người ra đi.Núi rừng, sông suối nơi Việt bắc sẽ trở thành một phần kí ức của bộ đội miền xuôi,

để khi về lại thủ đô, mỗi lần nhìn “cây” nhìn “sông” ở nơi ấy sẽ gợi nhắc về khônggian “núi”, “nguồn” chốn thượng ngàn Câu thơ bộc lộ sự thấu hiểu tâm trạngngười đi và ngâmd ẩn một lời nhắc nhớ ngườ đi gìn giữ tấm chân tình: đừng vìhoàn cảnh sống thay đổi mà quên những ngày tháng đồng cam cộng khổ ở ViệtBắc thân thương

Qua hai cặp câu hỏi tu từ giãi bày nỗi lòng nhớ nhung, trăn trở của người ởlại, ta không chỉ thấy được tình cảm đậm đà sâu sắc của đồng bào Việt Bắc dànhcho cán bộ miền xuôi, mà còn thấy được sự trân trọng, nâng niu những kỉ niệmbuồn vui suốt mười lăm năm gắn bó của họ

Để đáp lại những băn khoăn trăn trở của người ở lại, người ra đi đã khẳngđịnh tình cảm của mình bằng những câu thơ đầy xúc động:

- Tiếng ai tha thiết bên cồn Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi

Trang 33

Áo chàm đưa buổi phân li Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay

Nếu như Việt Bắc băn khoăn “mình về mình có nhớ…” thì đây chính là lời khẳngđịnh chắc chắn về nỗi nhớ, về tình cảm của người đi dành cho Việt Bắc trong sựđồng điệu tâm hồn Người đi không chỉ nhớ mà còn khắc ghi sâu đậm trong tâmkhảm “tiếng” và “hình” của người ở lại Đại từ phiếm chỉ “ai” khiến đối tượng củanỗi nhớ trở nên bao quát hơn và thi vị hơn, bởi nó khiến câu thơ mang dáng dấpnhững câu dân ca ngọt ngào, tình tứ: “ Nhớ ai ra ngẩn vào ngơ/ Nhớ ai, ai nhớ, bâygiờ nhớ ai” Bởi đã gắn bó rất lâu nên tiếng nói của người Việt Bắc đã trở thànhđối tượng sâu đậm đầu tiên của nỗi nhớ Thứ thanh âm “tha thiết” quen thuộcmang đặc trưng của vùng miền đã gieo vào lòng người đi nỗi “bâng khuâng” vừabuồn vui, vừa luyến nhớ, khiến bước chân trở nên “bồn chồn”, bởi lòng ngổnngang nỗi nhớ, chùng chình nửa ở nửa đi! Trong hai câu thơ lục bát, tác giả sửdụng đến ba từ láy “tha thiết”, bâng khuâng”, “bồn chồn” để diễn tả trạng thái cảmxúc đang trào dân và luôn thường trực của người ra đi Lời đáp phải chăng đã giảiđáp thỏa đáng nỗi niềm băn khoăn của đồng bào Việt Bắc?

Tiếp theo trong lời đáp ấy, nhịp thơ thay đổi, khiến câu thơ như bẻ đôi, chia

Bốn câu thơ đáp lời người ở lại của cán bộ miền xuôi bằng tình cảm chânthành và sâu nặng đã thực sự làm yên lòng người ở lại Dù không dùng đến một từ

Trang 34

“nhớ”, nhưng nỗi nhớ tràn ngập bốn dòng thơ và xâm lấn trong tâm hồn, trongchiều sâu cảm xúc của người ra đi Tình cảm ấy cũng thủy chung son sắt, đậm đàtha thiết lắm thay!

Nhiều nhà nghiên cứu nhận định rằng thơ Tố Hữu là thơ của thứ tình cảmlớn, niềm vui lớn, cảm xúc thơ luôn gắn liền với những sự kiện chính trị quantrọng có ý nghĩa cộng đồng Nhưng phải nhận thấy một điều rằng, dù là đề cập đếnnội dung chính trị nhưng rất gần gũi, giàu cảm xúc mà không hề khô khan giáođiều Đoạn thơ nói tái hiện khung cảnh chia tay trong thời khắc lịch sử quan trọngcủa đất nước giữa đồng bào Việt Bắc và bộ đội miền xuôi mà nghe như cuộc chiatay đầy lưu luyến bịn rịn của đôi trai gái yêu nhau vậy Thật lãng mạn và thắm thiếttình người

Qua tám câu thơ đầu, bằng việc sử dụng cấu trúc đối đáp giao duyên

“ta”-“mình”, kết hợp với việc sử dụng những ngôn từ hình ảnh giàu sức gợi hình, gợicảm mà mộc mạc chân thành, nhà thơ đã làm nổi bật khung cảnh chia tay đầy lưuluyến giữa bộ đội miền xuôi và Việt Bắc Đoạn thơ cũng góp phần ngợi ca vẻ đẹptrong tâm hồn con người Việt Bắc, ngợi ca tình nghĩa cách mạng thủy chung gắn

bó Bằng việc sử dụng khéo léo, tài tình ngôn ngữ dân tộc, Tố Hữu đã trữ tình hóamối quan hệ chính trị, khiến tình quân dân trở nên thi vị và đầy ấn tượng Đoạn thơgóp phần làm nên thành công của tác phẩm và đem đến cho người đọc ấn tượngthật đẹp về một thời kì đau thương nhưng vĩ đại của dân tộc

ĐỀ 2:

- Mình đi, có nhớ những ngày Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù

Mình về, có nhớ chiến khu Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai?

Mình về, rừng núi với ai Trám bùi để rụng, măng mai để già Mình đi, có nhớ những nhà Hắt hui lau xám, đậm đà long son Mình về, còn nhớ núi non Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh

Mình đi, mình có nhớ mình Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa?

Trang 35

mà mỗi lần đọc lại đều rưng rưng rưng xúc động:

- Mình đi, có nhớ những ngày Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù Mình về, có nhớ chiến khu

Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai?

Mình về, rừng núi với ai Trám bùi để rụng, măng mai để già Mình đi, có nhớ những nhà

Hắt hui lau xám, đậm đà long son Mình về, còn nhớ núi non

Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh Mình đi, mình có nhớ mình

Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa?

Mười lăm năm đi hết cuộc đời trai trẻ, mười lăm năm gắn bó với thượngngàn heo hút, biết bao kỉ niệm vơi đầy, người thi sĩ - chiến sĩ ấy làm sao không lưuluyến khi rời xa? “ Khi ta ở chỉ là nơi đất ở - Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn” Tháng

10 năm 1954, nhà thơ theo cơ quan trung ương, chính phủ rời chiến khu Việt Bắc

về tiếp quản thủ đô sau khoảng thời gian dài đã đồng cam cộng khổ cùng mảnh đất

và con người Việt Bắc, trong giây phút chia tay đầy lưu luyến và dạt dào xúc cảm,

Tố Hữu đã viết bài thơ Việt Bắc Những kỉ niệm cứ ùa về như dòng thượng nguồntuôn chảy qua lời đối đáp ngọt ngào đằm thắm của kẻ ở - người đi mà khởi nguồn

Trang 36

là phút nắm tay giã biệt bịn rịn đầy lưu luyến Nối tiếp là những lời gợi nhắc củangười ở lại về những kỉ niệm không thể nào quên

Vẫn trong cấu trúc đối đáp “ta – mình” như lời giao duyên tình tứ gợi vềkhông gian văn hóa làng Việt gần gũi thân thương, từng câu hỏi của người ở lạinhư xoáy sâu vào tâm trí người đi:

“Mình đi, có nhớ những ngày Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù”

Nhớ về Việt Bắc là nhớ về những ngày tháng cùng chung sống với những cơnmưa đầu nguồn xối xả, với lũ suối thành sông, với âm u núi rừng mây mù giăngkhắp Thời tiết khắc nghiệt mang đặc trưng của thiên nhiên nơi đây đã tôi luyện ýchí, nghị lực và tinh thần thép cho những người chiến sĩ đến từ miền xuôi Cáchnói nhấn mạnh “những mây cùng mù” càng tô đậm những khó khăn gian khổ đãtrở thành quen thuộc, đã trở thành một phần cuộc sống suốt 15 năm ròng gắn bó.Người ở lại gợi nhắc đầy trăn trở: liệu rằng người về xuôi có còn nhớ chăng?

“Mình về có nhớ chiến khu, Miếng cơm chấm muối mối thù nặng vai?”

Vẫn là “mình” đó mà lúc lại là “mình đi”, lúc lại là “mình về”, dường nhưcảm xúc của người ở lại chộn rộn quá, như chống chếnh, như chơi vơi, vừa nhớtiếc, vừa luyến lưu Không chỉ nhớ về khung cảnh mưa lũ mây mù, có chút ảmđạm nhưng vẫn mang đậm chất trữ tình, thơ mộng, phóng khoáng và hùng vĩ củathiên nhiên, mà người ở lại còn gợi nhớ về cuộc sống sinh hoạt ở chiến khu với

“miếng cơm chấm muối” đạm bạc mà nghĩa tình Câu thơ có vế sóng đôi “mối thù

nặng vai” diễn tả ý chí quyết tâm một lòng của quân và dân Việt Bắc Những khókhắn thiếu thốn ấy càng thổi bùng lên ngọn lửa hờn căm, càng nhắc nhở về mối thùquân xâm lược đang kết hình kết khối đè nặng lên vai Câu thơ cũng bộc lộ niềm tựhào của những con người đã từng trải qua những ngày tháng gian khổ, kiên trì đấutranh để giành lại độc lập tự do và đem đến cho nhân dân cuộc sống hạnh phúc, ấm

no

Phút chia tay thật nhiều điều muốn nói! Những câu hỏi như khơi sâu người ởbộc lộ nỗi trống trải, thiếu hụt trong lòng bằng hình ảnh nhân hóa:

“Mình về, rừng núi nhớ ai Trám bùi để rụng, măng mai để già”

Trang 37

Người về với thị thành tấp nập, để lại khoảng trống khó lấp đầy của không gian.Núi rừng cũng như bần thần nhớ “ai” Những món ăn đặc sản núi rừng “trám bùi”,

“măng mai” cũng để rụng, để già, không còn người thu hái Tất cả trở về vớinguyên sơ, với sự tĩnh lặng hiu hắt khi bộ đội về xuôi Không buồn nhớ sao được! Vẫn với tâm trạng băn khoăn luyến nhớ, người ở lại hỏi người ra đi:

“Mình đi có nhớ những nhà Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son?”

Hai câu thơ có hình ảnh tượng trưng và tương phản đầy ấn tượng Những ngôi nhàsàn thấp thoáng sau những vạt lau sậy hắt hiu, hoang vắng, đó là mái ấm củanhững con người Việt bắc chân chất mộc mạc Đó cũng là nơi nuôi dưỡng nhữngtấm lòng son sắt thủy chung với cách mạng trường kì Vẫn trong mạch cảm xúcbăn khoăn trăn trở, đồng bào gợi nhớ những hình ảnh thân thương ấy bằng mộtniềm kiêu hãnh về phẩm chất cách mạng của mình Sự tương phản hình ảnh “hắthiu lau xám” và “đậm đà lòng son”, một hình ảnh ẩn dụ rất đẹp ca ngợi tấm lòngson sắt thủy chung, càng khắc sâu ấn tượng về những con người tuy còn nghèokhổ, thiếu thốn nhưng giàu tình yêu nước, gắn bó thủy chung với cách mạng vàkháng chiến

Nhớ về Việt Bắc, không thể không nhớ đến những ngày tháng đấu tranh giankhổ:

“Mình về, còn nhớ núi non Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh Mình đi, mình có nhớ mình

Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa?”

Cùng với những hình ảnh đặc trưng cho vùng cao Việt Bắc của quê hương, đại

từ mình xuất hiện đều đặn, nhịp nhàng và biến hóa linh hoạt suốt khổ thơ đã tạonên sắc điệu trữ tình thắm thiết, đậm đà tính dân tộc Nếu đại từ “mình” được dùng

để chỉ những người bộ đội miền xuôi, người ra đi trong cuộc chia tay ấy thì sangđến câu thơ cuối khổ, “mình” được điệp lại ba lần với ý nghĩa khác nhau mà lạiquyện hòa, gắn bó không thể rạch ròi phân định Đó là cách xưng hô ân tình, đằmthắm như lời lẽ tình tứ của đôi trai gái xưa “ Mình về ta chẳng cho về - Ta nắm vạt

áo ta đề câu thơ” Mình có trong ta mà ta cũng luôn hiện hữu trong trái tim mình Với tình cảm gắn bó tha thiết ấy, người ra đi hãy đừng quên những tháng ngàycùng nhau chiến đấu “khi kháng Nhật – thủa còn Việt Minh”, và đừng quên nhữngcái tên thân thuộc Tân Trào, Hồng Thái, nơi khởi nguồn của những chiến công;

Trang 38

đừng vội phai nhòa những kí ức thiêng liêng về buổi lễ xuất quân dưới gốc đa cổthụ bên mái đình Tân Trào năm ấy

Câu thơ cuối cùng có sự đổi chỗ thú vị: Mái đình Hồng Thái, cây đa Tân Tràođược hoán vị thành “Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa” vừa nhấn mạnh cáitên đã đi vào lịch sử vừa tạo nên tính chất mới mẻ, độc đáo cho câu thơ lục bát.Người Việt Bắc luôn mong muốn người ra đi hãy khắc ghi và luôn gìn giữ nhữngphẩm chất cách mạng vốn có vẹn nguyên như những ngày đầu!

Nói đên sự đóng góp của Tố Hữu trong nền thơ ca Việt Nam hiện đại, khôngthể không nói đến đóng góp quan trọng trong việc gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc,tinh thần dân tộc trong thơ Thơ Tố Hữu bài nào cũng vậy, đều đậm đà sâu sắcphong vị quê hương, từ ngôn từ giản dị, mộc mạc, cách xưng hô ‘mình- ta” thântình ấm áp; hình ảnh của dưa cà mắm muối, của sân đình gốc đa, của dáng mẹ,dáng chị, dáng anh quen thuộc, chân quê đến cách cảm, cách nghĩ và một tâm hồndào dạt nghĩa tình trong thơ Tất cả điều đó đã làm nên nét rất riêng trong phongcách sáng tác của nhà thơ Đó cũng là lí do khiến thơ của Tố Hữu chyển tải nhữngđiều lớn lao mà rất tự nhiên thấm sâu vào lòng người đọc nhiều thế hệ, làm nên sứcsống lâu bền

Với mười hai câu thơ lục bát Tố Hữu đã tạo thành sáu câu hỏi với kết cấutrùng điệp như khắc sâu vào kỉ niệm người đi về một miền đất hoang sơ mà nghĩatình Mỗi câu đều gợi lại nét tiêu biểu trong chuỗi kỉ niệm về Việt Bắc: Việt Bắcgian khổ thiếu thốn, Việt Bắc nghĩa tình sâu đậm, Việt Bắc gắn liền với những sựkiện lịch sử trọng đại của cách mạng Việt Nam Đọc đoạn thơ ta như thấy ngânvang khúc nhạc tình yêu êm ái dịu dàng Những câu hỏi là nỗi niềm băn khoăn củađồng bào Việt Bắc đấy nhưng thực chất lại chính là những lời tự dặn lòng mìnhcủa nhà thơ: trở về xuôi rồi đừng quên những năm tháng cơ hàn khốn khó ở ViệtBắc, đừng quên những con người mộc mạc mà ân nghĩa thủy chung Ta nhận thấymột tấm lòng biết ơn sâu nặng của nhà thơ với Việt Bắc, thấy yêu mến và trântrọng hơn sự cống hiến của nhân dân mọi miền cho độc lập hôm nay Tôi chợt hỏimình “ta đã làm gì cho Tổ quốc hôm nay?”

ĐỀ 3 : Cho đoạn thơ:

- Ta với mình, mình với ta Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh Mình đi, mình lại nhớ mình Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu

Nhớ gì như nhớ người yêu

Trang 39

Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương Nhớ từng bản khói cùng sương Sớm khuya bếp lửa người thương đi về

Nhớ từng rừng lứa bờ tre Ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê vơi đầy

(Trích: Việt Bắc – Tố Hữu)

Anh/chị hãy phân tích đoạn thơ trên Từ đó nhận xét về sự kết hợp yếu tố nhạc và

họa trong thơ Tố Hữu

BÀI LÀM:

Nói về sức hấp dẫn trong thơ Tố Hữu, Xuân Diệu đã từng nhận xét rằng đó

là những vần thơ “từ trái tim vọt ra” vừa lãng mạn vừa tràn đầy “máu huyết” Quảnhiên là thế! Thơ Tố Hữu được khơi dẫn bởi mạch nguồn của tinh thần và ý chícách mạng, của lí tưởng đẹp đẽ và tình yêu đất nước sâu sắc Đọc mỗi dòng thơcủa ông, ta đều thấy chất chính trị quyện hòa nhuần nhuyễn với chất trữ tình đằmthắm ngọt ngào “ Việt Bắc” là một minh chứng tiêu biểu cho nét phong cách sángtác đó của nhà thơ Trong tác phẩm, tình cảm nhớ nhung lưu luyến giữa đồng bàoViệt Bắc với bộ đội miền xuôi được Tố Hữu diễn đạt bằng những câu thơ tình tứ

vô cùng:

- Ta với mình, mình với ta Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh Mình đi, mình lại nhớ mình Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu

Nhớ gì như nhớ người yêu Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương Nhớ từng bản khói cùng sương Sớm khuya bếp lửa người thương đi về

Nhớ từng rừng lứa bờ tre Ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê vơi đầy

Nếu ai đó không biết rằng “Việt Bắc” là lời giã biệt, lời tri ân của cán bộ, bộđội miền xuôi với đồng bào Việt Bắc sau mười lăm năm gắn bó làm nên thắng lợicủa trận Điện Biên Phủ lừng lẫy thì hẳn sẽ nghĩ đó là những câu hát giao duyêntình tứ của những bậc liền anh liền chị ở một xứ Kinh Bắc nào Sự kiện lịch sửquan trọng ấy được ghi khắc không chỉ trong trí nhớ mà còn khắc sâu trong trái tim

Trang 40

của bao người yêu thơ Đó là sức mạnh của “một tiếng nói yêu thương luôn luônchan hòa ánh sáng” (Hoài Thanh) trong ngòi bút trữ tình - chính trị của Tố Hữu.

Có nhà phê bình từng nhận định “Người Tố Hữu là một thi sĩ, một chiến sĩnhưng chúng ta đừng quên cốt cách của nó là thi sĩ” Tâm hồn của một thi sĩ làmcách mạng đã khiến cho những điều khô khan, cứng nhắc cũng trở nên mềm mạitrong thơ Chẳng thế mà,Tố Hữu đã thi vị hóa mối quan hệ quân - dân trở nên gầngũi, cởi mở và chân thành biết mấy Vốn dĩ, cách xưng hô “mình – ta” đã rất quenthuộc trong đời sống người dân lao động xưa, trong đối đáp giao duyên hay trongthơ ca dân gian Ta dễ dàng bắt gặp những câu ca dao ngọt ngào say đắm: “ Mình

về ta chẳng cho về - ta nắm vạt áo, ta đề câu thơ” Hay “Mình về có nhớ ta chăng –

Ta về ta nhớ hàm răng mình cười” Ở đây, Tố Hữu thay lời bộ đội miền xuôi thânmật xưng hô “ta-mình” với đồng bào Việt Bắc, khiến tình cảm quân dân càng thêmkhăng khít, mặn nồng

Đoạn thơ là lời đáp lại tình cảm của người đi với người ở lại Đồng bào ViệtBắc vì nhớ nhung, lo lắng mà gặng hỏi người về xuôi có còn nhớ những ngày “Mưa nguồn suối lũ những mây cùng mù?” Đáp lại tình cảm sâu nặng ấy, người ra

đi đã bộc lộ sự thủy chung son sắt như một lời thề :

- Ta với mình, mình với ta Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh

Câu thơ điệp lại theo cấu trúc vòng tròn: “ta với mình” rồi lại “mình với ta”tạo nên sự gắn bó quyện hòa như không thể tách rời, không gì chia cắt Lại thêmcâu khẳng định tấm lòng, tình cảm trước sau như một của người ra đi, vẫn luôn

“mặn mà đinh ninh”, không bao giờ phai nhạt Đọc câu thơ, ta ngỡ như đó là lờithề non hẹn biển của đôi trai gái yêu nhau: “Thuyền về có nhớ bến chăng – Bến thìmột dạ khăng khăng đợi thuyền” Hẳn rằng lời khẳng định chân thành ấy của bộđội miền xuôi đã làm ấm lòng người ở lại

Dường như ngần ấy chưa đủ để nói hết những lưu luyến nhớ nhung củangười ra đi dành cho mảnh đất và con người Việt Bắc Mười lăm năm gắn bó chứđâu phải một sớm một chiều, tất cả như còn vẹn nguyên trong tâm trí người ra đi:

Mình đi, mình lại nhớ mình Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu

Ngày đăng: 27/03/2022, 06:20

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w