=> Nhân vật Vũ Nương đã được tác giả khắc hoạ với những nét chân dung về người phụ nữ mang vẻ đẹp toàn vẹn nhất trong xã hội phong kiến.. Thần bài Trong tác phẩm tự sự chi tiết là một y
Trang 1DÀN Ý CHI TIẾT PHÂN TÍCH CÁC TÁC PHẨM TRUYỆN VÀ NHÂN
VẬT NGỮ VĂN 9 (CHẤT LƯỢNG)
CHUYỆN NGƯỜI CON GÁI NAM XƯƠNG Nguyễn Dữ
Nghị luận về tác phẩm truyện.
- Khái niệm: Nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích) là trình bày những
nhận xét, đánh giá của mình về nhân vật, sự kiện, chủ đề hay nghệ thuật của mộttác phẩm cụ thể
- Yêu cầu:
+ Về nội dung: Những nhận xét đánh giá về truyện phải xuất phát từ ý nghĩa củacốt truyện, tính cách, số phận của nhân vật và nghệ thuật trong tác phẩm được người viết phát hiện và khái quát
Các nhận xét, đánh giá về tác phẩm truyện (hay đoạn trích) trong bài nghị luận phải rõ ràng, đúng đắn, có luận cứ và lập luận thuyết phục
+ Về hình thức: Bài nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích) cần có bố cục mạch lạc, có lời văn chuẩn xác, gợi cảm
Mở bài: Giới thiệu tác phẩm (tùy theo yêu cầu cụ thể của đề bài) và nêu ý kiến
đánh giá sơ bộ của mình
Thân bài: Nêu các luận điểm chính về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm, có
phân tích, chứng minh bằng các luận cứ tiêu biểu và xác thực
Kết bài: Nêu nhận định, đánh giá chung của mình về tác phẩm truyện hoặc đoạn
trích
Đề 1: Phân tích nhân vật của Vũ Nương trong tác phẩm “Chuyện người con gái của Nam Xương” của Nguyễn Dữ
Dàn ý tham kháo
1 Mở bài: Giới thiệu tác giả, tác phẩm
Viết về người phụ nữ - Một đề tài không còn mới lạ trong văn học, ta có thể kể đến các tác giả như nổi tiếng như Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Đoàn Thị Điểm… đây là những cây bút tiêu biểu cho mảng đề tài này Bên cạnh đó Nguyễn Dữ cũng là một gương mặt tiêu biểu ngòi bút nhân văn của ông luôn hướng về người phụ nữ Tác phẩm “Chuyện người con gái Nam Xương” là một
Trang 2trong những tác phẩm đặc sắc của nhà văn Nguyễn Dữ Qua câu chuyện, nhà văn đã xây dựng hình ảnh Vũ Nương với cuộc đời đầy bất hạnh, đau khổ
b Phân tích
* Luận điểm 1: Vũ Nương là một người phụ nữ đẹp người, đẹp nết
- Ngay từ đầu truyện Vũ Nương được giới thiệu là người phụ nữ đẹp người đẹp nết “tính đã thùy mị nết na lại thêm tư dung tốt đẹp”
- Trong xã hội phong kiến, một người phụ nữ đẹp phải hội tụ đủ các yếu tố:
“tam tòng, tứ đức”, “công, dung, ngôn, hạnh” Trong đó, dung chính là vẻ bề ngoài của nàng mà Trương Sinh đã xin mẹ “đem 100 lạng vàng cưới về” Chi tiết này đã tô đậm vẻ đẹp nhan sắc và phẩm chất của nàng
=> Nhân vật Vũ Nương đã được tác giả khắc hoạ với những nét chân dung về người phụ nữ mang vẻ đẹp toàn vẹn nhất trong xã hội phong kiến
Song có thể hiểu thật chi tiết về Vũ Nương, chúng ta cần phải đặt nhân vật trong những hoàn cảnh và mối quan hệ khác nhau:
Luận cứ 1: Trong mối quan hệ với chồng:Nàng là người vợ thủy chung, yêu thương chồng hết mực.
* Trong cuộc sống vợ chồng bình thường: nàng hiểu chồng có tính “đa nghi”,
“phòng ngừa quá mức” nên Vũ Nương đã khéo léo cư xử đúng mực, nhường nhịn, giữ gìn khuôn phép nên không lúc nào vợ chồng thất hòa
=> Nàng là người phụ nữ hiểu chồng, biết mình, người phụ nữ đức hạnh Qua đây ta thấy đã hé lộ mâu thuẫn tính cách giữa hai người và đầy tính dự báo
* Khi xa chồng:
- Vũ Nương là người vợ thủy chung yêu thương chồng hết mực Nỗi nhớ chồng
cứ đi cùng năm tháng: “mỗi khi bướm lượn đầy vườn, mây che kín núi”, nàng lại “thổn thức tâm tình, buồn thương da diết”
Trang 3- Nàng mơ về một tương lai gần sẽ lại bên chồng như hình với bóng: Dỗ con, nàng chỉ cái bóng của mình trên vách mà rằng cha Đản.
- Tiết hạnh ấy được khẳng định trong câu nói thanh minh, phân trần sau này của nàng với chồng: “Cách biệt ba năm giữ gìn một tiết Tô son điểm phấn từng đã nguôi lòng, ngõ liễu tường hoa chưa hề bén gót”
=> Qua tâm trạng bâng khuâng, nhớ thương, đau buồn của Vũ Nương, Nguyễn
Dữ vừa cảm thông vừa ca ngợi tấm lòng son sắc, thủy chung của nàng Và nỗi nhớ ấy, tâm trạng ấy cũng chính là tâm trạng chung của những người phụ nữ trong thời loạn lạc, chiến tranh
* Khi bị chồng nghi oan:
- Nàng hết sức phân trần để chồng hiểu rõ tấm lòng trinh bạch của mình:
+ Trước hết, nàng nhắc đến thân phận của mình để có được tình nghĩa vợ chồng:
“Thiếp con kẻ khó được nâng tựa nhà giau”
+ Thiếp theo, nàng khẳng định tấm lòng thủy chung, trong trắng, vẹn nguyên chờ chồng: “Cách biệt ba năm giữ gìn một tiết”
+ Cuối cùng, nàng cầu xin chồng đừng nghi oan : “Dám xin bày tỏ để cởi mối nghi ngờ Mong chàng đừng một mực nghi oan cho thiếp”
=> Nàng đã hết lời tha thiết, hết lòng nhún nhường để cứu vãn, hàn gắn hạnh phúc gia đình đang có nguy cơ bị tan vỡ Qua những lời nói thiết tha đó, nó còn cho ta thấy thái độ trân trọng chồng và gia đình nhà chồng của nàng
- Khi không còn hi vọng, nàng nói trong đau đớn và thất vọng:
+ Hạnh phúc gia đình, “thú vui nghi gia, nghi thất” là niềm khát khao và tôn thờ
cả đời giờ đã tan vỡ
+ Tình yêu giờ đây của nàng được cụ thể bằng những hình ảnh ước lệ: “bình rơi trâm gãy, mây tạnh mưa tan, sen rũ trong ao, liễu tàn trước gió.”
+ Đến nỗi đau chờ chồng dến hóa đá của “cổ nhân” nàng cũng không có được:
“đâu còn có thể lại lên núi Vọng Phu kia nữa”.
=> Vậy là tình yêu, hạnh phúc gia đình vốn là cơ sở tồn tại của người vợ trẻ giờ
đã không còn có ý nghĩa
- Cuối cùng, bị cự tuyệt quyền yêu, quyền hạnh phúc cũng đồng nghĩa với việc nàng bị cự tuyệt quyền tồn tại Nàng tìm đến cái chết sau mọi sự cố gắng không thành
=> Hành động trẫm mình tự vẫn của nàng là hành động quyết liệt cuối cùng để bảo vệ phẩm giá Đối với người con gái đức hạnh và giàu đức hi sinh, phẩm giá còn cao hơn sự sống
* Những năm tháng sống dưới thủy cung
Trang 4- Ở chốn làn mây, cung nước nhưng nàng vẫn một lòng hướng về chồng con, quê hương và khao khát được đoàn tụ.
+ Nàng nhận ra Phan Lang người cùng làng
+ Nghe Phan lang kể về chuyện gia đình mà ứa nước mắt xót thương
- Nàng khao khát được trả lại phẩm giá, danh dự: Gửi chiếc thoa vàng, nhờ PhanLang nói với TS lập đàn giải oan cho mình
- Nàng là người trọng tình, trong nghĩa: Dù thương nhớ chồng con, khao khát được đoàn tụ nhưng vẫn quyết giữ lời hứa sống chết bên Linh Phi
=> Với vai trò là một người vợ, VN là một người phụ nữ chung thủy, mẫu mực,
lí tưởng trong xã hội phong kiến Trong trái tim của người phụ nữ ấy chỉ có tình yêu, lòng bao dung và sự vị tha
Luận cứ 2: Trong mối quan hệ với mẹ chồng: Nàng là người con dâu hiếu thảo.
- Vũ Nương đã thay TS làm tròn bổn phận người con, người trụ cột đối với gia
đình nhà chồng: Chăm sóc mẹ chồng khi già yếu, ốm đau “Nàng hết sức thuốc thang lễ bái thần phật và lấy lời ngọt ngào khuyên lơn”.
- Mẹ chồng mất, nàng hết lòng thương xót, lo liệu ma chay chu đáo đối với cha
mẹ đẻ mình
- Lời trăn trối của bà mẹ chồng trước khi mất đã khẳng định lòng hiếu thảo, tình
cảm chân thành và công lao to lớn của Vũ Nương: “Xanh kia quyết chẳng phụ nàng cũng như con đã chẳng phụ mẹ”.
Luận cứ 3: Trong mối quan hệ với con: Nàng là người mẹ yêu thương con hết mực.
- Thiếu vắng chồng, nàng vẫn một mình sinh con, và nuôi dạy con khôn lớn
- Không chỉ trong vai trò là một mình sinh con, và nuôi dạy con khôn lớn
Không chỉ trong vai trò là một người mẹ, nàng còn đóng vai trò là một người cha hết lòng yêu thương con, không để con phải thiếu thốn tình cảm
- Nàng còn là một người mẹ tâm lí, không chỉ chăm lo cho con về vật chất, mà còn lo cho con cả về mặt tinh thần: Bé Đản sinh ra chưa biết mặt cha, lo con thiếu thốn tình cảm của cha nên chỉ vào cái bóng của mình trên vách mà bảo chaĐản Hơn hết, nàng sớm định hình cho con về một mái ấm, một gia đình hoàn chỉnh
=> VN không chỉ hoàn thành tốt trách nhiệm của một người vợ, người con, người mẹ, người cha mà còn là một người trụ cột của gia đình Nàng xứng đángđược hưởng những gì hạnh phúc, tuyệt vời nhất Thế nhưng trớ trêu thay hạnh phúc đã không mỉm cười với nàng
* Luận điểm 2: Vũ Nương là một người phụ nữ có số phận oan nghiệt.
Trang 5- Số phận bi kịch:
+ Chồng đi lính trở về - nghe con - một mực nghi oan - đánh đuổi đi
+ Hết lời thanh minh, bày tỏ nỗi lòng qua lời than => tự vẫn
Chiến tranh phi nghĩa
Kết thúc: Chi tiết kì ảo - vũ nương trở về - tạ từ - biến mất: hoàn thiện vẻ đẹp
VN, nhưng không giảm đi tính bi kịch
Thân phận của Vũ Nương cũng là thân phận của biết bao người phụ nữ trong xã hội xưa:
- Chi tiết chọn lọc, ngôn ngữ đối thoại và tự bạch phù hợp, yếu tố hoang đường,
kì ảo mang đặc trưng của thể loại truyền kì và thể hiện ước vọng của nhân dân
về kết thức có hậu cho số phận nhân vật
Trang 6- Đọc tác phẩm này người đọc không chỉ ấn tượng với Truyện ngắn của Nguyễn
Dữ khi sử dụng các chi tiết hoang đường, kỳ ảo mà còn thực sự ấn tượng với chitiết cái bóng, chi tiết này ẩn chứa những ý nghĩa văn chương sâu sắc
2 Thần bài
Trong tác phẩm tự sự chi tiết là một yếu tố vô cùng quan trọng, chi tiết chiếc bóng cùng với những chi tiết khác tạo nên sự hấp dẫn của “Chuyện Người con gái Nam Xương”
Trong tác phẩm “ Chuyện người con gái Nam Xương”, Chi tiết cái bóng xuất hiện 2 lần đó là chiếc bóng của Vũ Nương trên tường vào ban đêm do bé Đản nhớ lại kể chuyện với Trương Sinh, chiếc bóng đó xuất hiện thường xuyên vào ban đêm trong thời gian Trương Sinh đi lính, chiếc bóng xuất hiện lần thứ hai là chiếc bóng của Trương Sinh trên tường xuất hiện vào ban đêm sau khi Vũ
Nương đã mất
Trong suy nghĩ của bé Đản chiếc bóng trên tường ở cả hai hoàn cảnh trên đều làcha của nó
+ Giá trị của chiếc bóng: Ở cả hai hoàn cảnh xuất hiện chi tiết cái bóng đều có
ý nghĩa cả về nghệ thuật và nội dung Ở lần xuất hiện thứ nhất cái bóng xuất hiện là cái bóng của Vũ Nương, chiếc bóng xuất hiện lần này qua lời kể ngày thơ của bé Đản là có giá trị đặc sắc về nghệ thuật gió thổi bùng lên cơn ghen trong lòng anh chàng Trương sinh khiến anh ta đã bao lần khiens Trương Sinh vốn đa nghi liền tin ngay Vũ Nương thất tiết, khiến Vũ Nương phải đối mặt với một nỗi oan tày trời, không thể thanh minh trước cơn ghen của Trương Sinh, cuối cùng trong nỗi đau tuyệt vọng nàng phải chọn cái chết để giải thoát Nỗi đau về cả thể xác, lẫn tinh thần
Bên cạnh giá trị về nghệ thuật chi tiết chiếc bóng xuất hiện lần thứ nhất còn có những giá trị nội dung rất lớn việc Vũ Nương chỉ bóng mình trên tường và nói với bé Đản đó là cha của nó đã cho người đọc hiểu được tình yêu thương của nàng bằng hành động này nàng không muốn đứa con nhỏ của mình bị tổn
thương về mặt tinh thần, muốn cho con hiểu rằng nó vẫn đang được lớn lên trong hoàn trong gia đình có cả cha lẫn mẹ
Việc coi bóng mình trên tường là Trương Sinh, còn cho ta thấy Vũ
Nương là một người vợ có tình yêu thương chồng tha thiết, chiến tranh chỉ có thể khiến nàng xa chồng về không gian, thời gian chứ không thể chia cắt về tình nghĩa vợ chồng vô tình mà bền chặt, nếu nàng là hình thì Trương Sinh là bóng, bóng và hình luôn quấn quýt bên nhau không thể tách
Việc sử dụng chi tiết cái bóng xuất hiện trong lời kể của bé Đản còn nhằm
tố cáo chiến tranh phi nghĩa, bất chính Cuộc chiến tranh này đã khiến cho bao người phụ nữ phải chịu nỗi khổ của người chinh phu xa chồng, lo lắng cho sự
Trang 7nguy nan của chồng, một mình gánh vác mọi công việc trong gia đình và luôn phải sống trong trông chờ, khao khát.
-Việc Vũ Nương coi cái bóng mình trên tường là chồng còn phản ánh mộtniềm hi vọng, niềm khao khát chính đáng của người chinh phụ nữ đó là khát vọng đoàn tụ Điều này giúp ta hiểu Nguyễn Dữ đã thấu hiểu thật sâu sắc nỗi lòng của người phụ nữ khi có chồng đi đánh trận Mặt khác chi tiết chiếc bóng xuất hiện lần thứ nhất còn nhằm gửi gắm tâm sự của Nguyễn Dữ trong xã hội phong kiến xưa ẩn khuất quanh người phụ nữ, đặc biệt là những người phụ nữ bình dân và có thể ập xuống cuộc đời họ bất cứ lúc nào mà họ không thể lường trước được Ngoài những ý nghĩa nói trên chi tiết chiếc bóng xuất hiện lần thứ nhất còn thể hiện tình cảm ngây thơ hồn nhiên của bé Đản một đứa trẻ luôn tin lời người mẹ của mình
+ Nỗi oan của Vũ Nương xoay quanh chi tiết cái bóng lần thứ nhất (một tình huống vì chồng nghi oan là thất tiết) cho ta liên tưởng tới nỗi oan của nhân vật chị kính trong vở chèo “Quan Âm Thị Kính” Họ là những người phụ nữ thật đáng thương, không có cơ hội thanh minh mỗi khi đối mặt với nỗi oan,
Sau khi Vũ Nương tự vẫn Trương Sinh bé Đản sống lặng lẽ, vào một đêm khuya bên ngọn đèn dầu bé Đản trỏ bóng Trương Sinh trên tường và nói “cha Đản lại đến kia kìa” Trương Sinh nhìn theo hướng chỉ của bé Đản và lúc mấy giờ anh anh mới hiểu ra nỗi oan của vợ Thì ra người cha trước kia thường đến vào ban đêm, luôn kè kè bên cạnh Vũ Nương chính là cái bóng của nàng trên tường cũng giống như người cha trong suy nghĩ của bé Đản bây giờ là cái bóng của Trương Sinh trên tường mà thôi,
+ Cũng giống như chiếc bóng xuất hiện lần thứ nhất chiếc bóng lần này có
ý nghĩa sâu sắc về nội dung và nghệ thuật
+ Về nghệ thuật: Chiếc bóng lần này có ý nghĩa mở nút câu chuyện, nó giúp
Trương Sinh hiểu ra nỗi oan của vợ giúp cho sự tức tối, hờn ghen vẫn luôn đọngj lại trong tâm trí, trái tim của anh ta bỗng tan biến Lúc này anh ta hiểu rất
rõ về người cha trước kia của bé Đản “Tại sao chỉ đến vào ban đêm, mẹ Đản đi cũng đi, mẹ Đản ngồi cũng ngồi, nhưng chẳng bao giờ bé Đản cả” lúc này anh tacũng hiểu người vợ xinh đẹp của mình lại hết lời thanh minh trong nước mắt như vậy Chiếc bóng lần này thực sự đã giải oan cho Vũ Nương và chắc chắn khiến cho linh hồn của Vũ Nương được thanh thản
+Về nội dung: Chi tiết chiếc bóng xuất hiện lần thứ hai giúp người đọc hiểu
được tình cảm ngây thơ hồn nhiên của bé Đản, mặt khác chiếc bóng lần này giúp Vũ Nương giải oan nhưng lại giúp người đọc nhận ra một thực tế phũ phàng rằng những người phụ nữ bình dân Việt Nam trong xã hội xưa ra khi mắc oan sẽ khó có cơ hội được giải oan cho mình vì thân phận và tiếng nói của họ đâu có được Và nếu có cơ hội may mắn được giải oan thì chỉ rơi vào tình cảnh
“Cởi được vạ thì má đã xưng”
Trang 8=>Đánh giá: Có thể khẳng định chi tiết chiếc bóng là một trong những yếu tố
nghệ thuật đặc sắc góp phần tạo nên giá trị của tác phẩm “Chuyện người con gái Nam Xương” Việc sử dụng chi tiết chiếc bóng vừa thể hiện tài năng, nghệ thuật, vừa thể hiện tấm lòng nhân đạo cao cả của nhà văn Nguyễn Dữ
3 Kết bài
- Khẳng định sự đóng góp của tác giả
- Khẳng định giá trị của tác phẩm
- Khẳng định lại chi tiết của chiếc bóng
Có thể thấy “Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ là mộttác phẩm xuất sắc Và chi tiết “cái bóng” là một trong những yếu tố góp phần làm nên điều ấy.Quả đúng là “Chi tiết nhỏ làm nên nhà văn lớn” Chi tiết cái bóng đã góp phần thể hiện được tư tưởng của nhà văn Nguyễn Dữ Một tư tưởng chưa đựng những giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc
Đề 3: Cảm nhận về số phận bi kịch của nhân vật Vũ Nương
1 Mở bài
Nguyễn Dữ là nhà văn tiêu biểu của bền văn học trung đại Việt Nam Tên tuổi của ông gắn liền với tác phẩm “Truyền kỳ mạn lục” “Chuyện người con gáiNam Xương” thuộc 16/20 tập truyện Tác giả Nguyễn Dữ đã rất thành công khi xây dựng hình tượng nhân vật Vũ Nương Thông qua cuộc đời và số phận đầy bikịch, khổ đau của nhân vật Vũ Nương tác giả đã phơi bày bộ mặt xấu xa, bất nhân của xã hội phong kiến đương thời đã chà đạp lên số phận con người Đặc biệt là thân phận người phụ nữ
2 Thần bài
- Nêu vài nét về tác giả, tác phẩm
“Chuyện người con gái Nam Xương” được xây dựng dưạ trên một câu chuyện
có thật là “Vợ chàng Trương” vốn được lưu truyền trong dân gian Trên cơ sở một câu chuyện cổ tích, Nguyễn Dữ đã có những hư cấu và sáng tạo tình tiết kì
ảo để “Chuyện người con gái Nam Xương” trở thành một áng văn hấp dẫn, đặc
sắc, giàu giá trị nhân văn
“Chuyện người con gái Nam Xương” xoay quanh về cuộc đời và số phận bi thảm của Vũ Nương Đọc tác phẩm người đọc nhận thấy Vũ Nương là một người phụ nữ hội tụ những phẩm chất cao đẹp của người phụ nữ Việt Nam, một người vợ chung thủy, một người mẹ yêu con, một người con dâu hiếu … Lẽ ra nàng xứng đáng được hưởng một cuộc sống yên bình, hạnh phúc Thế nhưng nàng phải chịu một cuộc đời bất hạnh, khổ đau
1 Luận điểm 1: Trước hết Vũ Nương phải chịu số phận bất hạnh khổ đau
vì là nạn nhân của chiến tranh phong kiến.
Trang 9Cuộc sum vầy của nàng với Trương Sinh chưa được bao lâu thì chiến tranh xảy ra Trương Sinh tuy con nhà hào phú nhưng vì ít học phải đi lính ngay
từ đợt đầu Khi Trương Sinh đi lính nàng đang có mang, Trương Sinh đi chưa đầy một tuần nàng sinh con, mọi công việc nàng gánh vác trong gia đình, từ chăm sóc con thơ, phụng dưỡng mẹ già, ngày tháng dần trôi 1 năm, 2 năm, 3 năm …nàng luôn sống trong tâm trạng chờ mong khắc khoải lo lắng cho sự an nguy của chồng nơi chiến trận Nỗi nhớ thương khắc khoải với người chồng nơi biên ải cứ dâng tràn theo thời gian: “Mỗi khi thấy bướm lượn đầy vườn, mây che kín núi, thì nỗi buồn góc bể chân trời không thể nào không ngăn được” Hình ảnh” bướm lượn” có thể thấy những lúc vui, hay những lúc buồn Vũ
Nương cũng đều cồn cào nỗi nhớ thương chồng.Để an ủi lòng mình đêm đêm
Vũ Nương chỉ cái bóng của mình là Trương Sinh Suy nghĩ này giúp người đọc hiểu được niềm khao khát được đoàn tụ của Trương Sinh với Vũ Nương lớn biếtchừng nào Sau 3 năm dài đằng đẵng chàng Trương Sinh của nàng đã may mắn bình an trở v, tưởng rằng gia đình nhỏ sẽ đầy ắp tiếng cười của ngày đoàn viên, tưởng rằng những vất vả mà nàng đã trải qua trong những năm tháng Trương Sinh đi lính sẽ được bù đắp, thế nhưng sau những giây phút buồn vui ngắn ngủi một bi kịch này trời đã giáng suốt cuộc đời Vũ Nương nàng bị nghi ngờ thất tiết Chiến tranh đã chia lìa nàng và chồng để mỗi khi đứa con thơ hỏi nàng về cha của nó thì nàng đã chỉ chiếc bóng của mình trên tường nói là cha Đản Bé Đản ngây thơ tin lời nàng nói, nên đã không công nhận Trương Sinh là cha và ngây thơ kể với Trương Sinh rất rành rọt về người cha trước kia của mình, “ Thường
có một người đàn ông đêm nào cũng đến, mẹ Đản đi cũng đi, mẹ Đản ngồi cũng ngồi, nhưng chẳng bao giờ bế Đản cả”, nghe lời con, tin lời con trẻ mà cơn ghen tuông bùng lên trong lòng anh ta Nếu không có chiến tranh thì Vũ Nương đâu phải xa chồng thì bé Đản đâu phải xa cha, không có chiến tranh thì gia đình nhỏ bé của Vũ Nương đâu phải đối diện với nghịch cảnh, chiếc bóng oan khuất
Từ nỗi khổ vì chiến tranh của Vũ Nương và sự hi sinh của cha ông ta trong các cuộc chiến tranh bảo vệ sau này, người đọc nhận thấy chiến tranh muôn đời là hành động phi lý, hành động tội ác của những kẻ hiếu chiến
Luận điểm 2: Vũ Nương không chỉ khổ đau bất hạnh vì nàng là nạn nhân của chiến tranh phong kiến mà làm còn khổ hơn vì là nạn nhân của tư tưởng Nam quyền.
- Cuộc hôn nhân của Vũ Nương không bắt đầu từ tình yêu đôi lứa, mà mang tìnhcảm gả bán, bởi vì Trương Sinh là người trong làng nhận thấy Vũ Nương là một người con gái thùy mị, nết na, lại thêm tư dung tốt đẹp, anh ta đã xin mẹ 100 lạng vàng cưới nàng Trương Sinh là con nhà hào phú còn Vũ Nương là con nhà nghèo sự khác biệt về đẳng cấp đã khiến cho Vũ Nương luôn mặc cảm với thân phận của mình, còn Trương Sinh coi gia cảnh của mình để có thể có những đặc quyền với vợ
Trang 10- Ngay từ khi mới về nhà chồng Vũ Nương đã phải đối mặt với sự đa nghi, phòng ngừa quá của Trương Sinh, biết phận mình nên nàng luôn nhường nhịn, giữ gìn khuôn phép để gia đình không thất hòa xảy ra.
- Nếu chiến tranh xảy ra, Vũ Nương khổ nỗi khổ của người chinh phụ, thì khi Trương Sinh trở về nàng phải chịu nỗi khổ của tư tưởng nho giáo phong kiến, chế độ phong kiến nam quyền, khi Trương Sinh nghe lời bé Đản nói về “người cha” của mình thì Trương Sinh đã nghi ngay vợ mình thất tiết Vũ Nương đã phải đón nhận cơn ghen từ chồng, gặp lại Vũ Nương sau khi ra mộ mẹ Trương Sinh la lên cho hả giận, Vũ Nương đã thanh minh trong nước mắt “Thiếp vốn con kẻ khó, được nương tựa nhà giàu, sum họp chưa thỏa tình chăn gối,chia phôi
vì động việc lửa binh” , những lời phân trần của nàng thấu tình đạt lí, đâu có cởi
bỏ được mối nghi ngờ trong đầu óc của Trương Sinh
và như là nói chồng chuyện tày trời kia ai nói những tương sinh độc đoán đa nghi hồ đồ không nói câu chuyện giữa anh ta và bé Đạt Nếu anh ta vừa có thể mắng nhiếc vừa có thể nói về một người đàn ông xuất hiện vào ban đêm trong thời gian anh ta đi lính thì Vũ Nương đã phải có thể tải oan cho mình đối với VũNương nỗi khổ do chiến tranh gây ra Chẳng thấm vào đâu so với nỗi khổ khi chồng bị nghi oan ở thất thiết bị đánh đuổi đi trước nỗi oan tày trời.Khổ nhục này nàng đã bày tỏ nỗi tuyệt vọng đau đớn của mình thiếp Sở dĩ được nương tựavào chàng thì có thú vui ra nghi thức này đã bị rơi trong giấy Xem sự thất vọng đau đớn của nàng cũng chẳng làm lung lay ý chí mù quáng của Trương Sinh
- Bà con hang xóm biện bạch giúp nàng nhưng Trương Sinh cũng chẳng tin Nàng đã trực tiếp nói chuyện tày đình kia ai nói, nhưng Trương Sinh độc đoán,
đa nghi, hồ đồ không nói câu chuyện giữa anh ta và bé Đản Nếu anh ta vừa có thể mắng nhiếc, vừa có thể nói rằng có một người luôn xuất hiện vào ban đêm trong thời gian anh ta đi lính thì Vũ Nương có thể giải oan cho mình Đối với VũNương nỗi khổ do chiến tranh cũng chả thấm vào đâu so với nỗi khổ bị chồng nghi oan là thất tiết và bị đánh đuổi đi.Trước nỗi oan tày trời, trước nỗi khổ nhụcnày nàng đã bày tỏ nỗi tuyệt vọng đau đớn của mình “ Thiếp sở dĩ nương tựa vào chàng, vì có cái thú vui nghi gia, nghi thất Nay đã bình rơi tram gẫy, mây tạnh mưa tan, sen rũ trong ao, liễu tàn trước gió, khóc tuyết bong hoa rụng cuống, kêu xuân cánh én lìa cành…”
Không chỉ bị chồng mắng nhiếc, mà còn bị chồng đánh và đuổi đi Vũ Nương đãphải tìm đến cái chết bên bến Hoàng Giang để giải thoát cuộc đời đau khổ của mình, suy cho cùng cái chết của Vũ Nương là do Trương Sinh bức tử Vũ Nương
là nạn nhân của thói hồ đồ, đa nghi, độc đoán, vũ phu
Luận điểm 3: Mở rộng nâng cao
Số phận bất hạnh của Vũ Nương trong tác phẩm “ Chuyện người con gái Nam Xương” tiêu biểu cho số phận của những người phụ nữ bình dân trong xã hội phong kiến, họ đâu có quyền quyết định số phận của cuộc đời của mình,
Trang 11cuộc đời họ sướng hay khổ, hạnh phúc hay đau khổ đều hoàn toàn phụ thuộc vào cách cư xử của người chồng, số phận của Vũ Nương cho ta hiểu và liên tưởng tới số phận khổ đau của Thúy Kiều trong kiệt tác “Truyện Kiều” của Nguyễn Du Nếu Vũ Nương khổ vì chiến tranh phong kiến, vì tư tưởng bất công nam quyền, thì Thúy Kiều khổ vì nàng là nạn nhân của các thế lực bạo tàn,khổ vì sức mạnh ma quái của đồng tiền Ngày nay chúng ta đang sống trong xã hội văn minh công bằng người phụ nữ được hưởng quyền bình đẳng so với nam giới, họ được quyền hưởng cuộc sống hạnh phúc gia đình do mình có công vun đắp lên Tuy nhiên đâu đó vẫn còn không ít những người phụ nữ phải chịu hậu quả của những tàn dư của xã hội phong kiến, họ của nạn nhân của nạn nhân của thói vũ phu từ người chồng, là nạn nhân của hành động buôn người chúng ta cầnphải lên án bênh vực bảo vệ những người phụ nữ đó.
3 Kết bài
Nguyễn Dữ đã xây dựng nhân vật Vũ Nương là hiện thân của tấm lòng vịtha, của vẻ đẹp của người phụ nữ Song cuộc đời nàng lại có quá nhiều nỗi đớn đau, bất hạnh Ngòi bút của Nguyễn Dữ đã hướng đến thể hiện và trân trọng, ngợi ca vẻ đẹp ấy và bày tỏ sự cảm thông sâu sắc đối với nỗi đau khổ và ước mơ
về một cuộc sống tươi đẹp cho những con người bình thường, có phẩm chất tốt đẹp Thiên truyện còn là lời tố cáo mạnh mẽ chế độ phong kiến hà khắc, cửa quyền, nhẫn tâm đẩy con người vào bước đường cùng không lối thoát
Đề 4: Cảm nhận của em về vẻ đẹp nhân vật Vũ Nương qua đoạn trích sau:
“… Vũ Thị Thiết, người con gái quê ở Nam Xương… mối tình muôn dặm quan san”
( Trích Chuyện người con gái Nam Xương – SGK Ngữ văn 9 tập 1)
1 Mở bài
Nguyễn Dữ là nhà văn tiêu biểu của bền văn học trung đại Việt Nam Tên tuổi của ông gắn liền với tác phẩm “Truyền kỳ mạn lục” “Chuyện người con gáiNam Xương” thuộc 16/20 tập truyện Tác giả Nguyễn Dữ đã rất thành công khi xây dựng hình tượng nhân vật Vũ Nương Đọc tác phẩm này người đọc rất ấn tượng với tình huống chi tiết truyện, nhất là phần đầu của truyện, người đọc sẽ cảm nhận được một cách rõ nét vẻ đẹp trong tâm hồn của nhân vật Vũ Nương – nhân vật chính của truyện
2.Thân bài
* Khái quát: Chuyện “ NCGNX” là một trong 20 truyện trích trong “
Truyền kì mạn lục” áng văn được người đời đánh giá là áng “ Thiên cổ tùy bút” – cây bút kì diệu truyền tới ngàn đời Truyện được viết từ chuyện cổ tích “ Vợ chàng Trương” nhưng với ngòi bút tài năng của mình Nguyễn Dữ đã sáng tạo nên “ Chuyện người con gái Nam Xương” rất riêng giàu giá trị và ý nghĩa
Trang 12Qua câu chuyện về cuộc đời và cái chết thương tâm của Vũ Nương, tác phẩm đã làm nổi bật vẻ đẹp và số phận đau thương của người phụ nữ trong xã hội phong kiến.
* Cảm nhận về nhân vật Vũ Nương qua đoạn trích
a Vũ Nương là người phụ nữ xinh đẹp, nết na, đức hạnh, khéo léo, tế nhị, biết nhún nhường.
Điều đó được thể hiện trong lời giới thiệu của tác giả và trong chính cuộc sống của nàng với Trương Sinh Mở đầu tác phẩm Nguyễn Dữ giới thiệu: “ Vũ Thị Thiết, người con gái quê ở Nam Xương, tính tình đã thùy mị nết na lại thêm
tư dung tốt đẹp” Như vậy chỉ với một câu giới thiệu ngắn gọn Nguyễn Dữ đã khái quát một cách khái quát và đầy đủ và trọn vẹn về vẻ đẹp âm hồn Vũ Nương
ở nàng hội tụ đầy đủ cả: công – dung - ngôn - hạnh
Và cũng bởi vì mến vì dung hạnh của nàng nên Trương Sinh đã xin mẹ trăm lạng vàng về cưới Chi tiết này càng tô đậm cho vẻ đẹp của VN Nhưng điều đó có nghĩa là ở ngay phần đầu của tác phẩm Nguyễn Dữ đã xây dựng giữa hai nhân vật này là một sự cách bức Nếu như Vũ Nương xinh đẹp, nết na đức hạnh thì Trương Sinh lại có tính đa nghi Trương Sinh lại có cái quyền của người đàn ông trong xã hội phong kiến nam quyền, có quyền của nhà giàu đã phải bỏ trăm lạng vàng để cưới vợ Với sự cách bức lớn như thế thì hẳn là cuộc sống của Vũ Nương sẽ gặp nhiều khó khăn Hơn thế nữa Trương Sinh với vợ lại luôn phòng ngừa quá sức nhưng “ Vũ Nương luôn giữ gìn khuôn phép không để
vợ chồng xảy ra thất hòa” Nếu không phải là người phụ nữ tế nhị khéo léo thì hẳn nàng sẽ không giữ được hòa khí trong gia đình như vậy
b.Không chỉ là người phu nữ xinh đẹp nết na, đức hạnh, Vũ Nương còn là một người vợ yêu chồng, một người mẹ yêu con và luôn khao khát hạnh phúc gia đình
Vẻ đẹp ấy của nàng được tác giả làm nổi bật khi Trương Sinh ra trận Trương sinh và nàng cưới nhau chưa được bao lâu thì Trương Sinh phải ra trận,
vì Trương Sinh con nhà hào phú nhưng ít học nên phải ghi tên dầu đi lính Lúc tiễn chồng ra trận Vũ Nương rót chén rượu đầy mà rằng: “ Chàng đi chuyến này
… Cánh hồng bay bổng”
=> Rõ ràng là trong lời nói của Vũ Nương ta nhân ra tình cảm tha thiết mà nàng dành cho chồng Nàng chỉ mong chồng trở về bình yên chứ ko cần công danh hienr hách Nàng lo cho nỗi vất vả của chồng nơi chiến trận và dự cảm được nỗi
cô đơn trong những ngày thiếu vắng chồng Nàng khong một lời than vãn về những vất vả mà mình phải gánh vác Những lời nói của Vũ Nương cảm động đến mức khiến cho những người xung quanh ai lấy đều ứa hai hàng lệ và có lẽ người đọc không khỏi động lòng
Trang 13Rồi Trương Sinh đi ra trân, Vũ Nương ở nhà nhớ chồng da diết: “ Ngày qua tháng lại….ngăn được” Bằng một vài hình ảnh ước lệ tượng trưng Nguyễn
Dữ đã diễn tả nỗi nhớ triền miên, dai dẳng, ngày qua ngày, tháng qua tháng của
Vũ Nương với người chồng nơi chiến trận của nàng Nàng vừa thương chồng, vừa nhớ chồng, vừa thương xót cho chính mình đêm ngày phải đối mặt với nỗi
cô đơn vò võ Tâm trạng nhớ thương, đau buồn ấy, cũng là tâm trạng chung của những người chinh phu trong xã hội loan lạc xưa
“ Nhớ chàng đằng đẵng đường lên bằng trời
Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu
Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong”
( Chinh phụ ngâm khúc)
Thể hiện tâm trạng ấy Nguyễn Dữ càng cảm thông cho nỗi đau khổ của
Vũ Nương, vừa ca ngợi tấm lòng thủy chung, thương nhớ chờ đợi chồng của nàng
* Liên hệ chị Dậu của Ngô Tất Tố: Tấm lòng, tình yêu thương chồng của Vũ Nương khiến ta nhớ đến chị Dậu trong tiểu thuyết “ Tắt đèn” của nhà văn Ngô Tất Tố Dù chỉ là một người phụ nữ nông dân thấp cổ, bé họng nhưng chị đã liềumạng để bảo vệ chồng Có thể nói rằng tấm lòng thủy chung son sắt, tình yêu thương dành cho chồng con chính là nét chung đẹp đẽ trong tâm hồn người phụ
nữ Việt Nam Vẻ đẹp ấy thật đáng trân trọng
* Đánh giá: - Nghê thuật xay dựng nhân vật
- Dụng ý xây dựng nghệ thuật của nhà văn
- Nêu cảm nhận của tác giả
Như vậy bằng cách kể chuyện tự nhiên, chân thực, đoạn trích giúp ta cảm nhận được những nét đẹp trong tâm hồn Vũ Nương Nàng hiện lên không chỉ là một người phụ nữ xinh đẹp, nết na, đức hạnh, khéo léo, tế nhị, biết nhún nhường, màcòn là một người vợ thủy chung hết mức Xây dựng nhân vật này, Nguyễn Dữ muốn gửi vào đó lời ngợi ca, trân trọng đối với những người phụ nữ trong xã hộixưa Và phải thực sự là một người luôn trân trọng và cảm thông với cuôc đời của họ, Nguyễn Dữ mới có thể viết một tác phẩm hay độc đáo đến như vậy
3 Kết bài
Đề 5: Cảm nhận về nhân vật Vũ Nương qua đoạn trích sau:
“ Chàng quỳ xuống đất vâng lời dạy Nàng rót chén rượu đầy tiễn chồng mà rằng:
- Chàng đi chuyến này, thiếp chẳng dám mong đeo được ấn phong hầu, mặc áo gấm trở về quê cũ, chỉ xin ngày về mang theo được hai chữ bình yên, thể là đủ rồi Chỉ e việc quân khó liệu, thế giặc khôn lường Giặc cuồng còn lẩn lút, quân
Trang 14triều còn gian lao, rồi thế chẻ tre chưa có, mà mùa dưa chín quá kì, khiến cho tiện thiếp băn khoăn, mẹ hiền lo lắng Nhìn trăng soi thành cũ, lại sửa soạn áo rét, gửi người ải xa, trồng liễu rủ bãi hoang, lại thổn thức tâm tình, thương người đất thú! Dù có thư tín nghìn hàng, cũng sợ không có cảnh không bay bổng
Nàng nói đến đây, mọi người đều ứa hai hàng lệ Rồi đó, tiệc tiễn vừa tàn,
áo chàng đành rứt Ngước mắt cảnh vật vẫn còn như cũ, mà lòng người đã nhuộm mối tình muôn dặm quan san!
Bấy giờ, nàng đương có mang, sau khi xa chồng vừa đẩy tuần thì sinh ra một đứa con trai, đặt tên là Đản Ngày qua tháng lại, thoắt đã nửa năm, mỗi khi thấy bướm lượn đầy vườn, mây che kín núi, thì nỗi buồn góc bể chân trời không thể nào ngăn được, bà mẹ cũng vì nhớ con mà dân sinh ổm Nàng hết sức thuốc thang lễ bái thần phật và lấy lời ngọt ngào khôn khéo khuyên lơn, song bệnh tình mỗi ngày một trầm trọng, bà biết không sống được, bèn trối lại với nàng rằng:
- Ngắn dài có số, tươi héo bởi trời ( ) Sau này, trời xét lòng lành, ban cho phúc đức, giống dòng tươi tốt, con cháu đông đàn, xanh kia quyết chẳng phụ con, cũng như con đã chẳng phụ mẹ
Bà cụ nói xong thì mất, nàng hết lời thương xót, phàm việc và cay tế lễ,
lo liệu như đối với cha mẹ đẻ mình."
Gợi ý:
1.Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận
Tất cả mọi thứ trên thế gian này theo thời gian đều sẽ bị bào mòn, chỉ có duy nhất nghệ thuật còn lại mãi với thời gian Có những tác phẩm dù trải qua bao nhiêu thế kỉ, qua sự thách thức của dòng đời, nó vẫn còn nguyên sức sống của mình “Chuyện người con gái Nam Xương” là một tác phẩm như thế Đọc tác phẩm này và nhất là phần đầu của tác phẩm, người đọc sẽ cảm nhận được một cách rõ nét vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật Vũ Nương – nhân vật chính của truyện Vẻ đẹp của nàng được hiện lên rõ nét khi nàng khi tiễn chồng ra trận và trong những ngày Trương Sinh không có ở nhà
2 Thân bài
a Khái quát chung về tác phẩm
- “Chuyện người con gái Nam Xương” là một trong số 20 truyện trích trong “Truyền kì mạn lục”, áng văn được người đời đánh giá là “thiên cổ kì bút”- cây bút kì diệu truyền tới ngàn đời - - Truyện được viết từ cốt truyện cổ tích “Vợ chàng Trương”, nhưng với ngòi bút tài năng của mình, Nguyễn Dữ đã sáng tạo nên “Chuyện người con gái Nam Xương” rất riêng, giàu giá trị và ý nghĩa
Trang 15- Qua câu chuyện về cuộc đời và cái chết thương tâm của Vũ Nương, tác phẩm
đã làm nổi bật vẻ đẹp và số phận đau thương của những người phụ nữ trong xã hội phong kiến
b Cảm nhận về nhân vật qua đoạn trích
* Nói qua về VN ở phần đầu của tác phẩm.
- Mở đầu tác phẩm, Nguyễn Dữ đã giới thiệu “Vũ Thị Thiết người con gái quê ở Nam Xương, tính đã thùy mị nết na lại thêm tư dung tốt đẹp” Như vậy, chỉ với
một câu nói ngắn gọn, Nguyễn Du đã khái quát một cách đầy đủ và trọn vẹn vẻ đẹp tâm hồn của Vũ Nương, nàng không chỉ đẹp về hình thức bên ngoài mà còn
có một tâm hồn đẹp, ở nàng hội tụ đầy đủ cả công – dung – ngôn – hạnh
b Không chỉ là một người phụ nữ xinh đẹp, nết na, đức hạnh , Vũ Nương còn là một người vợ yêu thồng, một người mẹ thương con và luôn khao khát hạnh phúc gia đình Vẻ đẹp ấy của nàng được Nguyễn Du làm nổi bật
khi Trương Sinh ra trận
- Trương Sinh và Vũ Nương cưới nhau chưa được bao lâu thì Trương Sinh phải
ra trận bởi Trương Sinh tuy con nhà hào phú nhưng thất học nên phải đi lính vàobuổi đầu Lúc tiễn chồng ra trận, Vũ Nương đã rót chén rượu đầy mà rằng
“Chàng đi chuyến này, thiếp chẳng dám mong được đeo ấn hầu, mặc áo gấm trở về quê cũ, chỉ xin ngày về mang theo được hai chữ bình yên, thế là đủ rồi Chỉ e việc quân khó liệu, thế giặc khôn lường.Giặc cuồng còn lẩn lút, quân triều còn gian lao, rồi thế chẻ tre chưa có, mà mùa dưa chín quá kì, khiến thiếp ôm nỗi quan hoài, mẹ già triền miên lo lắng.Nhìn trăng soi thành cũ, lại sửa soạn
áo rét, gửi người ải xa, trông liễu rủ bãi hoang, lại thổn thức tâm tình, thương người đất thú! Dù có thư tín nghìn hàng,cũng sợ không có cánh hồng bay
bổng.”
=>Rõ ràng là trong lời nói của Vũ Nương ta nhận ra tình cảm tha thiêt mà nàng dành cho chồng Nàng mong chồng trở về bình yên chứ không cần công danh hiển hách Nàng lo cho nỗi vất vả của chồng nơi chiến trận và dự cảm cả nỗi cô đơn trong những ngày vắng bóng chồng Nàng không một lời than vãn về
những vất vả mà mình sẽ phải gánh vác Những lời nói của Vũ Nương cảm độngđến mức khiến cho những người xung quanh ai nấy đều ứa hai hàng lệ và có lẽ người đọc cũng không khỏi động lòng
- Rồi Trương Sinh ra trận ra trận, Vũ Nương ở nhà nhớ chồng da diết Nguyễn
Dữ cũng viết về nỗi nhớ ấy của nàng “Ngày qua tháng lại, thoắt đã nửa năm, mỗi khi thấy bướm lượn đầy vườn, mây che kín núi thì nỗi buồn góc bể chân trời không thể nào ngăn được” Bằng một vài hình ảnh ước lệ tượng trưng, Nguyễn
Du đã diễn tả trọn vẹn nỗi nhớ triền miên, dai dẳng, ngày qua ngày, tháng qua tháng của Vũ Nương với người chồng nơi chiến trận của nàng Nàng vừa
thương chồng, vừa nhớ chồng, vừa thương xót cho chính mình đêm ngày phải
Trang 16đối mặt với nỗi cô đơn vò võ Tâm trạng nhớ thương đau buồn ấy của Vũ Nươngcũng là tâm trạng chung của những người chinh phụ trong mọi thời loạn lạc xưa nay:
"… Nhớ chàng đằng đẵng đường lên bằng trời Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu
Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong…"
(Chinh phụ ngâm)Thể hiện tâm trạng ấy, Nguyễn Dữ vừa cảm thông với nỗi đau khổ của Vũ Nương, vừa ca ngợi tấm lòng thủy chung, thương nhớ đợi chờ chồng của nàng
- Khi hạnh phúc gia đình có nguy cơ tan vỡ, Vũ Nương ra sức cứu vãn, hàn gắn.Khi người chồng trút cơn ghen bóng gió lên đầu, Vũ Nương đã ra sức thanh minh, phân trần Nàng đã viện đến cả thân phận và tấm lòng của mình để
thuyết phục chồng "Thiếp vốn con kẻ khó , nay được nượng tựa nhà giàu , xum họp chưa thỏa tình chăn gối , chia phôi vì động việc lửa binh , cách biệt 3 năm giữ gìn một tiết , tô son điểm phấn chẳng đã nguôi lòng , ngõ liễu tường hoa chưa hề bến gót , đâu có sự mất nết hư thân như lời chàng nói " Những lời nói
nhún nhường tha thiết đó cho thấy thái độ trân trọng chồng, trân trọng gia đình nhà chồng, niềm tha thiết gìn giữ gia đình nhất mực của Vũ Nương
- Với con thơ nàng hết sức yêu thương, chăm chút Sau khi xa chồng đầy tuần, nàng sinh bé Đản, một mình gánh vác cả giang sơn nhà chồng nhưng chưa khi nào nàng chểnh mảng việc con cái Chi tiết nàng chỉ bóng mình trên vách và bảo
đó là cha Đản cũng xuất phát từ tấm lòng của người mẹ Nàng muốn để con trai mình bớt đi cảm giác thiếu vắng tình cảm của người cha, luôn cảm nhận được hình bóng của người cha bên cạnh Tình yêu thương của nàng dành cho chồng, cho con chính là minh chứng của niềm khát khao hạnh phúc gia đình mà người phụ nữ dù ở thời nào cũng mong muốn có được
c Cùng với tình yêu thương chồng con, Vũ Nương còn là một người con dâu hiếu thảo
Xưa nay mối quan hệ mẹ chồng nàng dâu rất phức tạp Người xưa thường nói
Trời mưa ướt lá dai bì/ Con mẹ, mẹ xót, xót gì con dâu! Thế nhưng Vũ Nương
đã hóa giả được những định kiến ấy Chồng xa nhà, nàng đã thay chồng phụng dưỡng mẹ chu đáo Khi bà ốm nàng đã thuốc thang lễ bái thần phật và lấy những lời khôn khéo để khuyên răn để bà vơi bớt nỗi nhớ thương con Đến khi
bà mất, nàng đã hết lời thương xót, ma chay tế lễ cẩn trọng hệt như với cha mẹ
đẻ của mình Cái tình ấy quả có thể cảm thấu cả trời đất cho nên trước lúc chết người mẹ già ấy đã trăng trối những lời yêu thương, động viên, trân trọng con
dâu “Sau này, trời xét lòng lành, ban cho phúc đức giống dòng tươi tốt, con cháu đông đàn, xanh kia quyết chẳng phụ lòng con như con đã chẳng phụ mẹ"
Trang 17Những lời nói của bà cụ hơn hẳn ngàn vạn lời kể của nhà văn Nó một lần nữa chứng minh rằng Vũ Nương là một người con dâu hiếu thảo.
- Liên hệ: Thúy Kiều : Sự hiếu thảo của Vũ Nương với mẹ chồng khiến ta nhớ đến nhân vật Thúy Kiều trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du – một cô gái sẵ sang bán thân mình để cứu cha và em Có thể nói rằng tấm lòng thủy chung hiếu thảo là nét phẩm chất chung của những người phụ nữ trong XHPK Họ đáng để chúng ta trân trọng và yêu thương
d.Đánh giá
- Đánh giá về nghệ thuật xây dựng nhân vật
- Nhắc lại những nét phẩm chất của nhân vật
- Dụng ý xây dựng nhân vật của nhà văn
- Qua đó nêu cảm nhận về tác giả
Như vậy, bằng cách kể chuyện tự nhiên, chân thực, đoạn trích đã giúp người đọc cảm nhận được những nét đẹp tâm hồn ở nhân vật Vũ Nương Nàng hiện lên là một người vợ thủy chung, một người mẹ thương con và một người con dâu hiếu thảo Xây dựng nhân vật này, Nguyễn Dữ muốn gửi vào đó lời ngợi ca, trân trọng đối với những người phụ nữ trong xã hội xưa Và phải thực
sự là một người luôn trân trọng và cảm thong với số phận và cuộc đời của họ, Nguyễn Dữ mới có được một tác phẩm độc đáo đến như vậy Thật đáng trân trọng
3 Kết bài
- Đánh giá chung
-Nhận định chung về đoạn trích
- Đoạn trích khơi gợi trong em những tình cảm gì?
- Qua đoạn trích em rút ra được bài học gì?
“Chuyện người con gái nam xương”là một áng văn hay thành công về mặt dựngtruyện ,khắc hoạ nhân vật ,kết hợp tự sự và trữ tình, hiện thực và lãng mạn Truyện đã khơi gợi trong lòng người đọc không ít những tình cảm đẹp Nó khiến
ta thêm cảm phục trước tài năng của nhà văn, thêm trân trọng, yêu mến những người phụ nữ trong XHPK Từ một chiếc bóng oan khiên tác phẩm đã gợi ra biếtbao điều chúng phải suy ngẫm về đạo vợ chồng,về cách hành xử trong cuộc sống, về nhân cách, về cuộc đời con người Và có lẽ cũng chính vì thế mà sau bao thăng trầm của lịch sử, “Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn
Dữ vẫn còn mãi trong lòng bạn đọc
Đề 6: Cảm nhận về vẻ đẹp của Vũ Nương(CM: Vũ Nương mang vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam.
BÀI LÀM
Trang 181 Mở bài
Nguyễn Dữ là nhà văn tiêu biểu của bền văn học trung đại Việt Nam Tên tuổi của ông gắn liền với tác phẩm “Truyền kỳ mạn lục” “Chuyện người con gáiNam Xương” thuộc 16/20 tập truyện Chuyện kể về nhân vật chính là Vũ Nươngmột người con gái đẹp người, đẹp nết có tư dung tốt đẹp mang vẻ đẹp truyền thống của người con gái Việt Nam
2 Thân bài
a Trước hết là một người con gái thùy mị, nết na có tư dung tốt đẹp Nhan
sắc của nàng tươi thắm thoát toát lên vẻ đẹp đoan trang, phúc hậu của người phụ
nữ Việt Nam.Nàng có tính nhẫn nhịn, hiền lành, luôn luôn chăm luôn chăm lo hạnh phúc gia đình Bởi vậy chàng Trương mới xin mẹ trăm lạng vàng cưới nàng làm vợ
b Không những vậy Vũ Nương còn là người đảm đang tháo vát Mọi công
việc gia đình và những biến cố lớn đều xảy ra trong lúc Trương Sinh đi
lính.Trương Sinh đi lính chưa đầy một tuần thì nàng sinh con,mọi công việc gia đình đều đổ dồn nên đôi vai nhỏ bé của nàng.Nàng một mình vừa chăm sóc mẹ già, vừa nuôi con nhỏ Rồi mẹ Trương Sinh vì thương nhớ con ốm rồi qua đời Mọi công việc gia đình nàng đều hoàn thành chu tất và trọn vẹn, được làng xóm ngợi khen, mẹ chồng khi nhận, con trai con mới khỏe mạnh
c Bên cạnh đó cũng luôn còn là người con dâu hiếu thảo: Như chúng ta đã
biết trong xã hội phong kiến Mối quan hệ giữa mẹ chồng, nàng dâu là mối quan
hệ rất phức tạp Nhiều khi dẫn tới “cơm chẳng lành, canh chẳng ngọt” Nhưng với Vũ Nương mối quan hệ với mẹ chồng lại rất tốt đẹp Khi chồng đi lính Vũ Nương ở nhà thay chồng chăm sóc, phụng dưỡng mẹ chồng tận tình chu đáo Khi mẹ chồng ốm Vũ Nương lo chạy chữa thuốc thang, lễ bái thần phật “lấy lời ngọt ngàokhôn khéo khuyên lơn” Lời trăng trối của bà mẹ trước lúc mất đã đánh giá công lao của Vũ Nương đối với gia đình và cũng là lời ngợi khen con dâu “Trời xét lòng lành, ban cho phúc đức, giống dòng tươi tốt, con cháu đông đàn, xanh kia quyết chẳng phụ con, cũng như con đã chẳng phụ mẹ” Trước lời người con dâu hiếu thảo như Vũ Nương thì mẹ Trương Sinh không thể không yêu mến và luôn mong cho cho con được hạnh phúc Khi mẹ chồng mất Vũ Nương đã hết lời thương xót, phàm việc, ma chay, tế lễ lo liệu như đối với cha
mẹ đẻ của mình.Tất cả những cử chỉ, việc làm của Vũ Nương đã cho thấy nàng
là một người con dâu hiếu thảo
d Vũ Nương là người vợ chung thủy, hết lòng vun vén hạnh phúc gia đình
Khi mới về nhà chồng biết Trương Sinh có tính đa nghi, nên nàng hết sức giữ gìn khuôn phép Dù chồng nàng có tính đa nghi “đối với vợ phòng vượt quá sức” nhưng nàng không để gia đình thất hòa.Khi tiễn chồng đi lính, Vũ Nương rót chén rượu đầy dặn dò: “ Chàng đi chuyến này thiếp chẳng dám mong đeo được ấn phong hầu, mặc áo gấm trở về quê cũ, chỉ xin ngày về mang theo được
Trang 19hai chữ bình yên thế là đủ rồi” Nàng chỉ lo cho tính mạng và sự bình yên bên mái ấm gia đình Vũ Nương còn cảm thông cho những nổi gian lao, vất vả mà chồng đang phải chịu đựng “ Giặc cuồng còn lại lẻn lút, quân triều còn gian lao” Nàng còn nói lên nỗi nhớ của mình “Nhìn trăng soi thành cũ, lại sửa soạn
áo rét gửi người ải xa, trông liễu rủ bãi hoang, lại thổn thức tâm tình người đất thú” Những lời nói của Vũ Nương khi tiễn chồng ra trận thật cảm động tình nghĩa, khiến mọi người phải ngứa hai hàng lệ, khi xa chồng nàng chung thủy một mình một bóng, nỗi nhớ chồng vò võ kéo dài theo năm tháng “Mỗi khi thấy bướm lượn đầy, vườn mây che kín núi, thì nỗi buồn góc bể chân trời không thể nào ngăn được” Nàng luôn thấy hình bóng chồng bên mình Đêm đêm nàng vẫn đùa con trỏ bóng mình trên tường và nói là cha Đản Khi bị chồng nghi oan nàng tìm mọi cách xóa bỏ ngờ vực trong lòng chồng, khẳng định tấm lòng thủy chung trong sáng của mình “Cách biệt 3năm giữ gìn một tiết Tô son điểm phấn từng đã nguôi lòng, ngoc liễu tường hoa chưa hề bến gót” Nàng cố gắng hàn gắn hạnh phúc gia đình đang có nguy cơ tan vỡ Nàng còn nói lên mong ước củamình về một gia đình hạnh phúc “Thiếp sở dĩ nương tựa vào chàng vì có cái thúvui nghi gia, nghi thất” Mặc dù khi bị chồng nghi oan ruồng rẫy, đánh đuổi đi khiến Vũ Nương phải gieo mình xuống sông tự vẫn Nhưng ở dưới thủy cung nàng vẫn ứa nước mắt khi Phan Lang nhắc đến chuyện Trương Sinh mong đợi
và nhắc đến phần mộ, nhà cửa không ai chăm sóc và nàng vẫn mong có ngày được trở về nên đã gửi hoa vàng cùng lời nhắn cho Trương Sinh
5 Vũ Nương là người mẹ yêu thương con hết mực Nàng là người mẹ hiền
hết lòng nuôi dưỡng, chăm sóc và bù đắp cho đứa con trai nhỏ có sự thiếu vắng tình cha bằng cách đêm đêm nàng chỉ bóng mình trên vách và nói đó là cha Đản.Chính cái bong oan nghiệt đã giết chết Vũ Nương
6 Hơn thế nữa Vũ Nương còn là người trọng tình nghĩa, trọng danh dự, nhân phẩm Khi mới lấy chồng biết chồng có tính đa nghi lên nàng luôn luôn có
ý thức giữ gìn, không để xảy ra điều tiếng thất hòa, khi chồng đi lính Vũ Nương
vò võ đợi chồng điều này được hàng xóm và mẹ chồng ghi nhận Khi bị chồng nghi oan, thanh minh không được nàng bèn gieo mình xuống sông tự vẫn, sẵn sàng dùng cái chết để tỏ lòng mình trinh bạch, để minh oan cho mình, để bảo vệ nhân phẩm của người phụ nữ Lời than của nàng trước trời cao, song thẳm là lời nguyện xin thần sông chứng giám cho nỗi con khuất cũng như tấm lòng thủy chung, trong trắng của nàng “ Kẻ bạc mệnh này duyên phận hẩm hiu,chồng con rẫy bỏ, điều đâu bay buộc, tiếng chịu nhuốc nhơ, thần song có linh xin ngài chứng giám” Vì muốn được phục hồi danh dự, muốn được giải oan nên Vũ Nương đã gửi Phan Lang chiếc hoa vàng cùng với lời nhắn Trương sinh lập dàn giải oan trên bến Hoàng Giang nàng sẽ trở về Dù nhớ quê hương vẫn nặng lòng với chồng con nhưng Vũ Nương không trở về trần gian được nữa, mà chỉ về thấp thoáng giữa dòng nói vọng vào “Thiếp cảm ơn đức Linh Phi, đã thể sống chết không bỏ Đa tạ tình chàng thiếp chẳng về trở về nhân gian được nữa” Như
Trang 20vậy nhân vật Vũ Nương được tác giả khắc họa có nhiều nét mới lạ trong truyện trung đại Những yếu tố kì ảo hoang đường và ngôn ngữ đối thoại biểu hiện cho tâm trạng khiến nhân vật hoàn thiện hơn và có sức cuốn hút riêng Đặc biệt chi tiết chiếc bóng đã làm nổi bật hơn nhân phẩm của Vũ Nương Vẻ đẹp của Vũ Nương là vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam Dù trong bất kì hoàn cảnh nào cũng hiện lên với những người đẹp cao quý đáng trân trọng.
3 Kết bài
“ Chuyện người con gái Nam Xương” Nguyễn Dữ đã hiện lên vẻ đẹp của
Vũ Nương với những vẻ đẹp ngoại hình cũng như phẩm chất bên trong Nguyễn
Dữ đã hết lời ca ngợi vẻ đẹp đó của Vũ Nương Càng trân trọng vẻ đẹp của Vũ Nương bao nhiêu, ta càng cảm thông cho số phận oan nghiệt, đắng cay của Vũ Nương qua nhân vật Vũ Nương người đọc cảm thấy tấm lòng nhân đạo cao cả của Nguyễn Dữ
Đề7: Số phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến thông qua nhân vật Vũ Nương trong tác phẩm “Chuyện người con gái Nam Xương” (*)
1 Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận
Người phụ nữ luôn là đề tài quen thuộc được hể hiện trong văn học thời trung đại Viết về họ, Hồ Xuân Hương đã rất thành ông với bài thơ “Bánh trôi nước”, đại thi hào Nguyễn Du với kiệt tác “Truyện Kiều” và Nguyễn Dữ - học trò của Nguyễn Bỉnh Khiêm với “Chuyện người con gái Nam Xương” – thiên thứ 16 của “Truyền kì mạn lục” Qua nhân vật Vũ Nương, câu chuyện đem đến bao suy tư, trăn trở cho người đọc về thân phận của người phụ nữ trong xã hội phong kiến đầy bất công
2 Thân bài:
a Khái quát (dẫn dắt vào bài):
“Chuyện người con gái Nam Xương” xoay quanh về cuộc đời và số phận bi thảm của Vũ Nương – người con gái nhan sắc, đức hạnh Nàng lấy chồng là Trương Sinh, con nhà hào phú nhưng ít học, có tính đa nghi và hay ghen Cuộc sống gia đình đang êm ấm thì Trương Sinh phải đầu quân đi lính.Chàng đi đầy tuần,Vũ Nương sinh con trai, hết lòng nuôi dạy con, chăm sóc, lo ma chay cho
mẹ già chu đáo và thủy chung đợi chồng Đêm đêm, nàng thường trỏ bóng mình trên vách và nói với con đó là cha của bé Giặc tan, Trương Sinh trở về, tin lời con nhỏ, nghi ngờ vợ thất tiết, nhục mạ, đánh đuổi nàng đi Phẫn uất, Vũ Nươngnhảy xuống sông Hoàng Giang tự vẫn Qua câu chuyện kể, ta thấy người phụ nữ
là nạn nhân của xã hội phong kiến bất công Cuộc đời của họ là một chuỗi dài những khổ đau, bất hạnh
b Số phận người phụ nữ
Trang 21*.Người phụ nữ là nạn nhân của chế độ nam quyền, bị gả bán cho một cuộc hôn nhân không tình yêu
- Cũng giống như số phận của bao người phụ nữ trong xã hội phong kiến, Vũ Nương đã phải chịu sự ràng buộc bởi những lễ giáo khắt khe, ngặt nghèo Biết nàng “tính đã thùy mị nết na,lại thêm tư dung tốt đẹp” cho nên Trương Sinh mến
vì dung hạnh nói với mẹ xin trăm lạng vàng cưới về Đây là một cuộc hôn nhân không bình đẳng, bởi lẽ nó không phải là sự rung động của hai trái tim cùng mộtnhịp mà là do sự sắp đặt mang tính chất mua bán Sự sắp đặt của con nhà giàu, lắm tiền nhiều của, muốn gì được nấy, sắp đặt cho con nhà khó “cha mẹ đặt đâu thì con phải ngồi đó”.Cuộc hôn nhân có sự cách bức giàu nghèo đã khiến Vũ Nương luôn luôn mặc cảm“thiếp vốn con kẻ khó được nương tựa nhà giàu” Và
dù Vũ Nương có luôn giữ gìn khuôn phép thì cuộc sống vợ chồng ấy vẫn tiềm
ẩn nguy cơ tan vỡ và sau này cũng là cái thế để Trương Sinh độc đoán, gia trưởng, đối xử với vợ một cách vũ phu,thô bạo
- Trương Sinh vốn ít học, lại có tính đa nghi và hay ghen, do vậy sự nghi kị, ngờvực làm mầm mống của sự bất hòa đã ủ sẵn trong gia đình Để rồi, sau ba năm
xa cách, khi trở về tưởng Trương Sinh sẽ mang lại hạnh phúc cho gia đình thì cũng lại là lúc tại họa ập xuống cuộc đời Vũ Nương Chỉ vì lời nói ngây thơ của
bé Đản: “Ô hay! Ông cũng là cha tôi ư? Mà ông lại biết nói chứ không giống như cha tôi trước kia…”, làm cho Trương Sinh ngờ vực, hiểu lầm vợ hư hỏng
Dù Vũ Nương có tha thiết giãi bày, có hết lời phân trần để chồng hiểu rõ tấm lòng mình, dù họ hàng làng xóm có hết lòng khuyên can và biện hộ cho nàng thìTrương Sinh cũng không hề đếm xỉa tới,mà chỉ một mực nghi oan cho vợ Rồi
từ chỗ “la um lên cho hả giận”, Trương Sinh đã mắng nhiếc, đuổi vợ đi Phải chăng, xã hội phong kiến với chế độ nam quyền độc đoán, với thói “trọng nam khinh nữ” bám chặt vào huyết quản đã dung túng,cho phép người đàn ông được quyền coi thường, rẻ rúng và đối xử thô bạo với người phụ nữ?
+ Thương nhớ chồng là thế, lại bị chồng ruồng rẫy, gạt bỏ Giữ gìn khuôn phép, rất mực thủy chung lại bị coi là thất tiết, chịu tiếng nhuốc nhơ…Nàng không hiểu vì sao bị đối xử bất công, bị mắng nhiếc và đuổi đi, không có quyền được
tự bảo vệ ngay cả khi có họ hàng làng xóm bênh vực và biện bạch cho.Hạnh phúc gia đình, thú vui nghi gia nghi thất, niềm khao khát của cả đời nàng đã tan
vỡ, tình yêu không còn “bình rơi trâm gãy, mây tạnh mưa tan, sen rủ trong ao, liễu tàn trước gió”, cả nỗi đau khổ chờ chồng đến hóa đá trước đây,cũng không còn có thể có lại được nữa
+ Thất vọng đến tột cùng, cuộc hôn nhân đã không có cách nào hàn gắn nổi, Vũ Nương đành mượn sông Hoàng Giang rửa sạch nỗi oan nhục, giãi bỏ tấm lòng trong trắng của mình Lời than của nàng như lời nguyền xin thần sông chứng giám nỗi oan khuất và đức hạnh của nàng: “Kẻ bạc mệnh này duyên phận hẩm hiu, chồng con rẫy bỏ, điều đâu bay buộc, tiếng chịu nhuốc nhơ, thần sông có
Trang 22linh, xin ngài chứng giám Thiếp nếu đoan trang giữ tiết, trinh bạch gìn lòng, vào nước xin làm ngọc Mỵ nương, xuống đất xin làm cỏ ngu mĩ Nhược bằng lòng chim dạ cá, lừa chồng dối con, dưới xin làm mồi cho cá tôm, trên xin làm cơm cho diều quạ và xin chịu khắp mọi người phỉ nhổ".
-> Qua tác phẩm,ta thấy Vũ Nương đã nhiều lần gắng gượng để vượt lên số phận nhưng cuộc đời nàng không thoát khỏi là nạn nhân của chế độ nam quyền độc đoán, chà đạp và ức hiếp con người
-> Cái chết của Vũ Nương thực chất là do bị chồng bức tử - một cái chết đầy oan
ức Vậy mà, Trương Sinh thấy nàng tự tận chỉ một chút động lòng mà không hề
ân hận, day dứt Ngay cả khi, đứa con trỏ tay vào bóng chàng trên vách nói là cha, chàng hiểu rõ nỗi oan của vợ thì cũng coi là việc đã qua rồi Như thế,
chuyện danh dự , chuyện sinh mệnh của người phụ nữ bị tùy tiện định đoạt bởi người chồng, người đàn ông mà không có hành lang đạo lí, không được dư luận
xã hội bảo vệ, chở che Nỗi oan của Vũ Nương đã vượt ra ngoài phạm vi gia đình, là một trong muôn vàn oan khuất của cái xã hội vùi dập thân phận con người, nhất là người phụ nữ Sống trong xã hội đầy rẫy những oan trái, bất công,quyền sống của con người không được đảm bảo, người phụ nữ với thân phận
“bèo dạt mây trôi” có thể gặp bao nhiêu tai họa giáng xuống bất kì lúc nào, vì những nguyên cớ vu vơ không thể tưởng tượng Rõ ràng, xã hội phong kiến đã sinh ra bao Trương Sinh với đầu óc gia trưởng, độc đoán, là nguyên nhân sâu xa của những đau khổ mà người phụ nữ phải chịu
b Người phụ nữ là nạn nhân của chiến tranh phi nghĩa:
- Không chỉ là nạn nhân của chế độ nam quyền độc đoán, người phụ nữ còn là nạn nhân của chiến tranh phong kiến Cả cuộc đời Vũ Nương, chỉ vui thú nghi gia nghi thất vậy mà về làm vợ Trương Sinh, cuộc sống vợ chồng “sum họp chưa thỏa tình chăn gối,chia phôi vì động việc lửa binh” Buổi Trương Sinh ra
đi, mẹ già bịn rịn, vợ trẻ đương bụng mang dạ chửa, sự thể rồi sẽ ra sao đã khiến
mọi người có mặt ở đó đều phải ứa hai hàng lệ: “Chàng đi chuyến này, thiếp chẳng dám mong được đeo ấn hầu, mặc áo gấm trở về quê cũ,chỉ xin ngày về mang theo được hai chữ bình yên, thế là đủ rồi Chỉ e việc quân khó liệu, thế giặc khôn lường Giặc cuồng còn lẩn lút, quân triều còn gian lao,rồi thế chẻ tre chưa có, mà mùa dưa chín quá kì, khiến thiếp ôm nỗi quan hoài,mẹ già triền miên lo lắng.”
=> Những câu văn biền ngẫu, sóng đôi như trái tim người vợ trẻ phập phồng lo
sợ cho người chồng phải đi lính thú Chiến tranh xa cách, mẹ già cũng vì thươngnhớ con mà sinh bệnh rồi qua đời Con thơ được sinh ra không biết mặt cha, vợ trẻ nhớ chồng chỉ còn biết trỏ vào bóng mình trên vách, bảo là cha của bé…Chính chiến tranh làm cho gia đình li tán, vợ chồng xa cách dẫn đến hiểu lầm Cũng chính cái mối nghi ngờ không thể gỡ ra ấy của Trương Sinh đã trở thành nguyên nhân gây bất hạnh cho cuộc đời Vũ Nương Nếu không có chiến tranh,
Trang 23Trương Sinh không bị bắt đi lính,thì đâu bé Đản không chịu nhận cha, thì đâu
Vũ Nương phải chịu nỗi oan tày trời dẫn đến cái chết thương tâm Rõ ràng, chiến tranh phong kiến đã gây ra cảnh sinh li và cũng góp phần dẫn đến cảnh tử biệt, làm tan nát bao nhiêu gia đình
*Liên hệ: Có thể nói,sống trong xã hội phong kiến bất công, Vũ Nương cũng như bao người phụ nữ khác – người con gái bình dân trong “Bánh trôi nước”, Thúy Kiều, Đạm Tiên trong “Truyện Kiều” đều phải sống long đong, trôi dạt, phải tìm đến cái chết giải nỗi oan ức, phải thoát khỏi cuộc đời đầy khổ đau ở chốn nhân gian Đại thi hào Nguyễn Du đã khái quát về cuộc đời, thân phận người phụ nữ bằng tiếng kêu đầy ai oán:
3 Kết bài:
“Chuyện người con gái nam xương”là một áng văn hay thành công về mặt dựng truyện ,khắc hoạ nhân vật ,kết hợp tự sự và trữ tình, hiện thực và lãng mạn Truyện đã khơi gợi trong lòng người đọc không ít những tình cảm đẹp Nó khiến
ta thêm cảm phục trước tài năng của nhà văn, thêm trân trọng, yêu mến những người phụ nữ trong XHPK Từ một chiếc bóng oan khiên tác phẩm đã gợi ra biếtbao điều chúng phải suy ngẫm về đạo vợ chồng,về cách hành xử trong cuộc sống, về nhân cách, về cuộc đời con người Và có lẽ cũng chính vì thế mà sau bao thăng trầm của lịch sử, “Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn
Trang 24- Dựa vào những điều cơ bản trên,người viết soi chiếu và “Chuyện người con gái Nam Xương” để phân tích những biểu hiện cụ thể về nội dung nhân văn
trong tác phẩm Từ đó đánh giá những đóng góp của Nguyễn Dữ vào tiếng nói nhân văn của văn học thời đại ông
- Tuy cần dựa vào số phận bi thương của nhân vật Vũ Nương để khai thác vấn
đề, nhưng nội dung bài viết phải rộng hơn bài phân tích nhân vật, do đó cách trình bày phân tích cũng khác
II Dàn bài chi tiết
Mở bài:
- Từ thế kỉ XVI, xã hội phong kiến Việt Nam bắt đầu khủng hoảng, vấn đề số phận con người trở thành mối quan tâm của văn chương, tiếng nói nhân văn trong các tác phẩm văn chươngngày càng phát triển phong phú và sâu sắc
- “Truyền kì mạn lục” của Nguyễn Dữ là một trong số đó Trong 20 thiên truyện của tập truyền kì, “chuyện người con gái Nam Xương” là một trong
những tác phẩm tiêu biểu cho cảm hứng nhân văn của Nguyễn Dữ
- Đặc biệt, một biểu hiện rõ nhất về cảm hứng nhân văn, nàng là nhân vật để tác giả thể hiện khát vọng về con người, về hạnh phúc gia đình, tình yêu đôi lứa: + Nàng luôn vun vén cho hạnh phúc gia đình
+ Khi chia tay chồng đi lính, không mong chồng lập công hiển hách để được
“ấn phong hầu”, nàng chỉ mong chồng bình yên trở về
+ Lời thanh minh với chồng khi bị nghi oan cũg thể hiện rõ khát vọng đó:
“Thiếp sở dĩ nương tựa và chàng vì có cái thú vui nghi gia nghi thất”
Tóm lại : dưới ánh sáng của tư tưởng nhân vănđã xuất hiện nhiều trong văn chương, Nguyễn Dữ mới có thể xây dựng một nhân vật phụ nữ bình dân mang đầy đủ vẻ đẹp của con người Nhân văn là đại diện cho tiếng nói nhân văn của tác giả
2 Nguyễn Dữ trân trọng vẻ đẹp của Vũ Nương bao nhiêu thì càng đau đớn trước bi kịch cuộc đời của nàng bấy nhiêu.
Trang 25- Đau đớn vì nàng có đầy đủ phẩm chất đáng quý và lòng tha thiết hạnh phúc gia đình, tận tuỵ vun đắp cho hạnh phúc đó lại chẳng được hưởng hạnh phúc choxứng với sự hi sinh của nàng:
+ Chờ chồng đằng đẵng, chồng về chưa một ngày vui, sóng gió đã nổi lên từ một nguyên cớ rất vu vơ (Người chồng chỉ dựa vào câu nói ngây thơ của đứa trẻ
đã khăng khăng kết tội vợ)
+ Nàng hết mực van xin chàng nói rõ mọi nguyên cớ để cởi tháo mọi nghi ngờ; hàng xóm rõ nỗi oan của nàng nên kêu xin giúp, tất cả đều vô ích Đến cả
lời than khóc xót xa tột cùng “Nay đã bình rơi trâm gãy,… sen rũ trong ao, liễu tàn trước gió,… cái én lìa đàn,…” mà người chồng vẫn không động lòng.
+ Con người ttrong trắng bị xúc phạm nặng nề, bị dập vùi tàn nhẫn, bị đẩy đếncái chết oan khuất
-> Bi kịch đời nàng là tấn bi kịch cho cái đẹp bị chà đạp nát tan, phũ phàng.
3 Nhưng với tấm lòng yêu thương con người, tác giả không để cho con người trong sáng cao đẹp như nàng đã chết oan khuất.
- Mượn yếu tố kì ảo của thể loại truyền kì, diễn tả Vũ Nương trở về để được rửa sạch nỗi oan giữa thanh thiên bạch nhật, với vè đẹp còn lộng lẫy hơn xưa
- Nhưng Vũ Nương được tái tạo khác với các nàng tiên siêu thực : nàng vẫn khát vọng hạnh phúc trần thế (ngậm ngùi, tiếc nuối, chua xót khi nói lời vĩnh
biệt “thiếp chẳng thể về với nhân gian được nữa”.
- Hạnh phúc vẫn chỉ là ước mơ, hiện thực vẫn quá đau đớn (hạnh phúc gia đình tan vỡ, không gì hàn gắn được)
4 Với niềm xót thương sâu sắc đó, tác giả lên án những thế lkực tàn ác chà đạp lên khát vọng chính đáng của con người.
- XHPK với những hủ tục phi lí (trọng nam khinh nữ, đạo tòng phu,…) gây bao nhiêu bất công Hiện thân của nó là nhân vật Trương Sinh, người chồng ghen tuông mù quáng, vũ phu
- Thế lực đồg tiền bạc ác (Trương Sinh con nhà hào phú, một lúc bỏ ra 100 lạng vàng để cưới Vũ Nương) Thời này đạo lí đã suy vi, đồng tiền đã làm đen bạc tình nghĩa con người
à Nguyễn Dữ tái tạo truyện cổ Vợ chàng Trương, cho nó mạng dáng dấp của thời đại ông, XHPKVN thế kỉ XVI
C- Kết bài:
- “Chuyện người con gái Nam Xương” là một thiên truyền kì giàu tính nhân
văn Truyện tiêu biểu cho sáng tạo của Nguyễn Dữ về số phận đầy tính bi kịch của người phụ nữ trong chế độ phong kiến
Trang 26- Tác giả thấu hiểu nỗi đau thương của họ và có tài biểu hiện bi kịch đó khá sâu sắc.
Đề 9: Phân tích ý nghĩa lời thoại của nhân vật Vũ Nương
1 Mở bài
Tác phẩm “ Chuyện người con gái Nam Xương” trích trong tập truyện “ Truyền kì mạn lục” của tác giả Nguyễn Dữ đã để lại trong lòng người đọc nhiều cảm xúc khó phai Có lẽ cảm động nhất là những lời thoại chứa chan cảm xúc của Vũ Nương, đã lấy đi rất nhiều những giọt nước mắt cảm thông xót xa
2 Thân bài
a Khái quát chung về tác phẩm
- “Chuyện người con gái Nam Xương” là một trong số 20 truyện trích trong “Truyền kì mạn lục”, áng văn được người đời đánh giá là “thiên cổ kì bút”- cây bút kì diệu truyền tới ngàn đời Truyện được viết từ cốt truyện cổ tích
“Vợ chàng Trương”, nhưng với ngòi bút tài năng của mình, Nguyễn Dữ đã sáng tạo nên “Chuyện người con gái Nam Xương” rất riêng, giàu giá trị và ý nghĩa
Vũ Nương là đại diện cho vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam dướichế độ phong kiến Không như Nguyễn Du miêu tả thật tinh tế nét đẹp “nghiêngnước nghiêng thành” của Thúy Kiều Vũ Nương được giới thiệu là người congái đẹp người, đẹp nết có tư dung tốt đẹp, một người phụ nữ đảm đang tháo vát,yêu thương chồng con hết mực, một người con dâu hiếu thảo… Vì là ngườicùng làng nhận thấy Vũ Nương có những phẩm chất tốt đẹp nên Trương Sinh đãxin mẹ 100 lạng vàng cưới Vũ Nương làm vợ, Trương Sinh vốn là người chồng
đa nghi, ít học, khi binh đao loạn lạc Trương Sinh phải ra trận Khi tiễn chồng
ra trận Vũ Nương dặn dò chồng khiến ai cũng phải ứa hai hang lệ phẩm quanhững lời thoại chứa chan cảm xúc
a Lời thoại 1: Ngày tiễn chồng ra trận, nàng đã dặn rằng: “Chàng đi chuyến
này, thiếp chẳng mong đeo được ấn phong hầu, mặc áo gấm trở về quê cũ, chỉxin ngày về mang theo được hai chữ bình yên, thế là đủ rồi” Từng lời, từng chữnàng thốt ra thấm đẫm tình nghĩa vợ chồng thủy chung, son sắt, khiến “mọingười đều ứa hai hàng lệ” Phận làm vợ, ai chẳng mong chồng mình được phongchức tước, áo gấm về làng Còn nàng thì không Nàng chỉ ước ao giản dị rằngchàng Trương trở về được bình yên để có thể sum họp, đoàn tụ gia đình, hạnhphúc ấm êm như ngày nào.Qua lời thoại cũng thể hiện nỗi nhớ nhung khắc khoảicủa người vợ yêu chồng Nhìn đâu cũng nhớ, cũng tưởng tượng đến chồng Đâycũng chính là lời nói của người vợ thùy mị nết na, dịu dàng và rất yêu chồng.Lời dặn dò ấy xuất phát từ trái tim giàu tình yêu thương biết chấp nhận tất cả,biết đợi chờ để yên long người đi xa Đồng thời òn giúp ta cảm nhận được khátkhao bình dị của người phụ nữ trong xã hội phong kiến có một gia đình hạnhphúc, êm ấm Thế nhưng mong ước của nàng đã không thực hiện được Bị
Trang 27chồng một mực nghi oan, Vũ Nương tìm mọi lời lẽ để chứng minh sự trong sạchcủa mình Nàng vẫn đoan trang, đúng mực, chỉ nhẹ nhàng giải thích:
b Đến lời thoại thứ 2 ta biết them được rằng:“Thiếp vốn con kẻ khó, được
nương tựa nhà giàu Sum họp chưa thỏa tình chăn gối, chia phôi vì động việc lửabinh Cách biệt ba năm giữ gìn một tiết Tô son điểm phấn từng đã nguôi lòng.Ngõ liễu tường hoa chưa hề bén gót Đâu có sự mất nết hư thân như lời chàngnói Xin chàng đừng một mực nghi oan cho thiếp” Lời thoại của nàng luôn từtốn, nhẹ nhàng, chất chứa nghĩa tình Chỉ qua những lời thoại, từ “ngôn” của VũNương đã để lại một ấn tượng khó phai trong lòng người đọc bởi vẻ từ tốn, tếnhị của nàng Và cũng từ những câu nói ấy, chúng ta cảm nhận được sự hy sinh
vô bờ của nàng vì chồng con, gia đình Khi chồng ra trận, cả giang san nhàchồng trĩu nặng trên đôi vai gầy guộc, mỏng manh của nàng Nàng phải sinh conmột mình giữa nỗi cô đơn lạnh lẽo, thiếu sự vỗ về, an ủi của người chồng Thật
là một thử thách quá khó khăn với một người phụ nữ chân yếu tay mềm Nhưngnàng vẫn vượt qua tất cả, một mình vò võ nuôi con khôn lớn, đợi chồng về Lờithoại trên cũng là một lời giải thích cho sự hiểu nhầm tai hại của Trương Sinh: “Mong chàng đừng một mực nghi oan cho thiếp”, nàng hết lòng hàn gắn hạnhphúc gia đình, nàng cố tình phân trần để chồng hiểu rõ lòng mình
c Ở lời thoại lần thứ 3 nàng đã nói lên nỗi đau đớn thất vọng của mình: “
Thiếp sở dĩ nương tựa vào chàng vì có cái thú vui nghi gia nghi thất Nay đãbình rơi trâm gãy, mây tạnh mưa tan, sen rũ trong ao, liễu tàn trước gió; khóctuyết bông hoa rụng cuống, kêu xuân cái én lìa đàn, nước thẳm buồn xa, đầu còn
có thể lại lên núi Vọng Phu kia nữa” Qua lời thoại Vũ Nương đã nói lên nỗiđau đớn thất vọng khi không hiểu sao mình bị nghi oan, bị đối xử bất công.Đồng thời đó còn là sự tuyệt vọng đến cùng cực khi khao khát của cả đời nàngvun đắp đã tan vỡ Tình yêu không còn Cả nỗi đau khỏ chờ chồng đến hoá đánhư trước đây cũng không còn có thể làm được nữa.Sự tuyệt vọng đến cùng cựckhi khao khát của cả đời nàng vun đắp đã tan vỡ Tình yêu không còn Cả nỗiđau khổ chờ chồng đến hoá đá như trước đây cũng không còn có thể làm đượcnữa Sự chối bỏ của người chồng chính là nỗi bất hạnh lớn nhất của người phụ
nữ Sự chối bỏ ấy minh chứng cho tất cả, sự không tin tưởng, không yêu thương,tin tưởng vợ Và còn gì đau xót hơn nỗi bất hạnh ấy đối với một người phụ nữdành cả cuộc đời chăm lo cho chồng con cũng như cả gia đình nhà chồng Lễgiáo phong kiến với những hủ tục bất công đã khiến người phụ nữ không đượccoi trọng trong xã hội, đến hạnh phúc cá nhân cũng không được tự do lựa chọn
Sự bất công trong xã hội phong kiến còn được thể hiện ở sự độc đoán của ngườichồng, toàn quyền quyết định mọi việc trong nhà, nghỉ oan cho vợ nhưng lạikhông nói thẳng cho vợ, cũng không nghe vợ thanh minh mà cứ vậy đánh đậprồi đuổi vợ đi
Chồng khăng khăng lên án vợ mà không chịu nghe nàng minh oan lấy một lời.Thái độ khinh bỉ, lời nói nhục mạ và hành động tàn bạo của Trương Sinh khiến
Trang 28nàng phải tìm đến cái chết Uất ức, tủi nhục, Vũ Nương đã chọn cái chết đểkhẳng định phẩm giá trong sạch của mình.
d Lời thoại thứ 5 trước khi chết, nàng nguyện: “Kẻ bạc mệnh này duyên
phận hẩm hiu, chồng con rẫy bỏ, điều đâu bay buộc, tiếng chịu nhuốc nhơ, thầnsông có linh, xin ngài chứng giám Thiếp nếu đoan trang giữ tiết, trinh bạch gìnlòng, vào nước xin làm ngọc Mị Nương, xuống đất xin làm cỏ Ngu Mĩ Nhượcbằng lòng chim dạ cá, lừa chồng dối con, dưới xin làm mồi cho cá tôm, trên xinlàm cơm cho diều quạ và xin chịu khắp mọi người phỉ nhổ” Sau cùng, VũNương đã trẫm mình xuống sông tự tử, hành động quyết liệt này thể hiện mongmuốn gìn giữ nhân phẩm, đức hạnh và danh dự của người phụ nữ Lời thoại làmột lời than, một lời nguyền xin thần sông chứng giám nỗi oan khuất và tiếthạnh trong sạch của nàng Lời thoại đã thể hiện nỗi thất vọng đến tột cùng, nỗiđau cùng cực của người phụ nữ phẩm giá nhưng bị nghi oan nên tự đẩy đến chỗtận cùng là cái chết Những lời nói cuối cùng của nàng thâu tóm tất cả nhữngngang trái của một đời phụ nữ: công lao nuôi con, chờ chồng thành vô ích; hạnhphúc gia đình (thú vui nghi gia nghi thất) tan vỡ, tình cảm vợ chồng không còn(bình rơi trâm gãy, mây tạnh mưa tan, sen rũ trong ao, liễu tàn trước gió), cả nỗiđau khổ chờ chồng đến thành hóa đá trước đây cũng không còn có thể làm lạiđược nữa Nàng có thể hi sinh tất cả, chịu nhường nhịn vì chồng vì con chứ thàchết không mang nỗi nhục này Nàng chết đi để lương tâm thanh thản để bảnthân trong sạch để không phải hổ thẹn với lòng với người Những người phụ nữnhỏ bé, không thể làm chủ cuộc sống của mình mà phải chịu biết bao phong babão táp, phó mặc cuộc đời của mình cho người khác Chi tiết Vũ Nương gieomình xuống bến sông Hoàng Giang là hình ảnh có sức ám ảnh lớn, khiến chongười đời mãi mãi xót xa về tấm bi kịch đẫm đầy nước mắt của người phụ nữ tốtđẹp nhưng chịu nhiều oan ức, là tấn bi kịch cái đẹp bị chà đạp, bị rẻ rúng, bị vùidập không thương tiếc, là bản án đanh thép tố cáo bộ mặt tàn bạo, bất nhân của
xã hội phong kiến đương thời.Để cho Vũ Nương tìm đến cái chết là tìm đến giảipháp tiêu cực nhất Nhưng dường như đó là cách thoát khỏi tình cảnh duy nhấtcủa nàng Đó cũng là cách duy nhất của nhà văn có thể lựa chọn Hành độngtrẫm mình tự vẫn của nàng là hành động quyết liệt cuối cùng để bảo toàn danh
dự Bởi đối với nàng, phẩm giá còn cao hơn cả sự sống
e Khái quát: Qua câu chuyện từ nhiều thế kỉ trước bằng năng lực sáng tạo của mình Nguyễn Dữ đã xây dựng nhân vật có chiều sâu hơn, các chi tiết kì ảo được
mô tả vừa lung linh vừa hiện thực tạo lên vẻ đẹp riêng của tác phẩm Vũ Nương
là người phụ nữ thủy chung, đức hạnh vẹn toàn mà vô cùng bất hạnh Tác phẩm
là lời tố cáo hiện thực xã hội phong kiến đương thời nêu bật thân phận nỗi đau của người phụ nữ trong bi kịch gia đình
3 Kết bài
Trang 29“Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ là một áng văn hay
- tiêu biểu cho thể loại truyền kỳ và được người đời đánh giá là “thiên cổ kỳ bút” Qua những lời thoại của Vũ Nương ta cảm nhận được số phận bi đát của người phụ nữ trong xã hội phong kiến, vừa có ý nghĩa ca ngợi vẻ đẹp của lòng vịtha - tiêu biển là hình ảnh Vũ Nương, qua câu chuyện người đọc càng cảm thấy giá trị cuộc sống của người phụ nữ trong xã hội ngày nay
Đề 10: Phân tích đoạn truyện sau: “ … Phan Lang người cùng làng với Vũ Nương … mà biên đi mất” ( Ý Nghĩa các chi tiết kì ảo)
1 Mở bài
“Chuyện người con gái Nam Xương” là tác phẩm tiêu biểu của
Nguyễn Dữ Thành công của Nguyễn Dữ trong tác phẩm này là xây dựng được nhiều chi tiết có giá trị Trong đó nổi bật là những chi tiếtkì ảo cuối truyện
2.Thân bài
“Truyền kì mạn lục” là đỉnh cao của thể loại truyện truyền kì từng được đánh giá là “ Áng thiên cổ tùy bút” Truyện thường sử dụng cốt truyện có sẵn từ dân gian, nhưng sự sáng tạo thêm các chi tiết để tác phẩm trở lên hấp dẫn Nếu truyện cổ tích “ Vợ chàng Trương” kết thúc ở đoạn Vũ Nương nhảy xuống sông
tự vẫn thì “Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ ông sáng tạo thêm nhieuf chi tiết kì ảo khiến câu chuyện trở lên kì ảo và ý nghĩa
a Khái quát chi tiết kì ảo
Phan Lang người cùng làng với Vũ Nương cứu con rùa mai xanh chính là Linh Phi vợ của vua Nam Hải
Trong một lần chạy loạn Phan Lang bị chết đuối và được Linh Phi cứu sống Phan lang gặp Vũ Nương dưới động rùa Vũ Nương nhắn gửi cho Trương Sinh hoa vàng cùng lời nhắn lập cho nàng cái đàn giải oan Vũ Nương hiện về trong giây lát rồi biến mất
b Ý nghĩa của chi tiết kì ảo
Những chi tiết kì ảo trên là phần sáng tạo của Nguyễn Dữ so với truyện cổ tích “
Vơ chàng Trương” nó chứa đựng nhiều ý nghĩa và làm lên giá trị của tác phẩm
Để phù hợp với đặc trưng của truyện truyền kì, làm thành một kết thúc có hậu thỏa mãn ước mơ của nhân dân ta về một xã hội công bằng: Người ở hiền gặp lành, người gặp oan ức được minh oan Khẳng định chân lí cái đẹp là bất tử Vũ Nương khôn chết mà được sống trong cõi vĩnh hằng vì nàng là hiện thân của cái đẹp
-Góp phần hoàn thành vẻ đẹp của Vũ Nương: Nàng không chỉ đẹp ở cuộc sống dương thế mà còn đẹp ở một thế giới khác
- Vũ Nương mặc dù được sống ở thế giới khác sung sướng và hạnh phúc nhưng khi nghe Phan lang kể chuyện nhà nàng đã ứa nước mắt Đó là những giọt nước
Trang 30mắt xót xa nhung nhớ yêu thương một con người vẫn nặng tình, nặng nghĩa với gia đình, quê hương.
- Không chỉ vậy với Trương Sinh người đã gián tiếp bức tử nàng, đẩy cuộc đời nàng đến đau thương mà Vũ Nương không một lời oán trách Khi hiện về nàng vẫn thiết tha: “Đa tạ tình chàng, thiếp chẳng thể trở về nhân gian được nữa” Cho thấy Vũ Nương là một người giàu lòng vị tha, bao dung và nhân hậu
- Đối với Linh Phi người đã cứu sống nàng nên Vũ Nương luôn canh cánh trong lòng một lời thề: “ Cảm ơn đức Linh Phi đã thề sống chết cũng không bỏ” Cho thấy Vũ Nương là người sống ân nghĩa thủy chung, là người trọng tình nghĩa
- Mặc dù sống ở cõi tiên nhưng Vũ Nương vẫn khao khát phục hồi danh dự, vẫn day dứt khổ vì nỗi oan chưa được giải nên nàng nhờ Phan Lang nhắn với
Trương Sinh lập đàn giải oan cho nàng
- Yếu tố kì ảo góp phần phản ánh hiện thực và tố cáo xã hội phong kiến một cách sâu sắc hơn
Tuy tác phẩm kết thúc có hậu nhưng cũng không làm mất đi tính bi kịch của tác phẩm
-Vũ Nương trở về dương thế rực rỡ uy nghi nhưng chỉ thấp thoáng giữa dòng rồibóng nàng mờ nhạt dần rồi biến mất
=> Tất cả chỉ là ảo ảnh, là một chút an ủi cho người bạc phận là nàng và chồng con âm dương chia lìa đôi ngả, hạnh phúc thật sự đã vĩnh viễn rời xa đâu còn có thể lưu lại được nữa
- Lời từ biệt nghẹn ngào chua xót của nàng ở bến Hoàng Giang: “ Thiếp chẳng thể trở về nhân gia được nữa” đã kết tội cho xã hội phong kiến bất công đã chà đạp lên quyền sống của người phụ nữ
c Đánh giá
- Những yếu tố kì ảo được đưa vào truyện rất tự nhiênhợp líbởi nó được đưa xen
kẽ với yếu tố thực về địa danh:
+ Bến Hoàng Giang
+ Ải Chi Lăng
+ Về thời đại lịch sử cuối đời khai đại nhà Hồ
+ Cùng với nhân vật lịch sử Trần Thiên Bình
+ Sự kiện lịch sử quân Minh sang xâm lược nước ta nhiều người chạy trốn đắm thuyền
+ Trang phục của các mĩ nhân quần áo thướt tha mái tóc búi xẽ
+ Tình cảnh nhà Vũ Nương: Không có người chăm sóc, cây cối rậm thành rừng,
cỏ gai rợp mắt
Trang 31Tác dụng: Làm cho thế giới kì ảo lung linh mơ hồ trở lên gần gũi với cuộc đời thực, làm tăng độ tin cậy khiến người đọc không cảm thấy ngỡ ngàng.
-Những yếu tố kì ảo có giá trị thật lớn Thông qua các yếu tố kì ảo nhà văn thể hiện niềm thương cảm , trân trọng đối với người phụ nữ trong xã hội phong kiếnđồng thời thể hiện ước mơ ngàn đời của nhân dân ta về chiến thắng cuối cùng cái thiện thắng cái ác, cái đẹp lẽ công bằng ở đời
3 Kết bài
Đã nhiều thế kỉ trôi qua nhưng đến nay “ Người con gái Nam Xương” củaNguyễn Dữ vẫn còn nguyên giá trị Những yếu tố kì ảo ở cuối truyện đã góp phần rất lớn tạo nên thành công ấy của tác phẩm Nó góp phần thể hiện sâu sắc chủ đề của tác phẩm tạo nên sự hấp dẫn lôi cuốn đối với người đọc và làm lên sức sống lâu bền của áng thiên cổ tùy bút Đọc tác phẩm ta thấy rõ tài năng sáng tạo tuyệt vời của Nguyễn Dữ, từ đó ta lại càng thêm nâng niu trân trọng cái tài, cái tâm của tác giả dành cho những thân phận bèo bọt trong xã hội phong kiến
Cách 1: Kim Lân là nhà văn tiêu biểu của nền văn xuôi hiện đại
Việt Nam Trong suốt cuộc đời cầm but của mình ông để lại nhiều tác phẩm cógiá trị, trongđó đặc sắc nhất là truyện ngắn « Làng » Truyện viết về hình ảnhngười nông dân trong thời kì đổi mới - Đó là ông Hai một người có tình yêu vớilàng quê tha thiết gắn bó, hòa quyện thống nhất trong tình yêu đất nước vô cùngsâu nặng Tình cảm thiêng liêng ấy được thể hiện xuyên suốt tác phẩm
Cách 2: Đề tài người nông dân đã trở thành mảnh đất màu mỡ để các nhà
văn ươm trồng lên biết bao kiệt tác.Trước CMT8 Ngô Tất Tố đã đem đến chongười đọc một chị Dậu với sức sống mãnh liệt của người nông dân bị áp bức,Nam Cao đem đến một lão Hạc một người giàu lòng tự trọng và lòng thươngcon vô bờ bến Sau CM Kim Lân nhà văn của nông dân đã đem đến cho ngườiđọc hình ảnh người nông dân trong thời kì đổi mới, đó là nhân vật ông Hai trongtruyện ngắn « Làng » Truyện kể về ông Hai một người nông dân có tình yêuvới làng quê tha thiết gắn bó, hòa quyện thống nhất trong tình yêu đất nước vôcùng sâu nặng Tình cảm thiêng liêng ấy được thể hiện xuyên suốt tác phẩm
Cách 3:Tình yêu làng luôn là tình cảm gắn bó thiêng liêng trong tâm hồn mỗi
người dân Việt Nam, song ở mỗi thời kì lịch sử tình cảm đó lại mang vẻ đẹp lấplánh ánh sáng thời đại Trong những năm đầu của cuộc kháng chiến người nông
Trang 32dân Việt Nam không chỉ yêu làng, mà còn yêu kháng chiến, yêu cách mạng.Điều này được khắc họa rõ nét qua truyện ngắn “Làng” của nhà văn Kim
Lân.Đọc truyện ngắn “Làng” của nhà văn Kim Lân, người đọc vô cùng ấn
tượng về nhân vật ông Hai Đó là một người nông dân có tình cảm yêu làng, yêunước, đáng quý, đáng trân trọng
II Thân bài
1.Khái quát
Truyện ngắn “Làng” được viết vào những năm đầu của cuộc kháng chiến
chống quân Pháp xâm lược Câu chuyện xoay quanh nhân vật chính là ông Hai
-một người rất tự hào và yêu mến làng Chợ Dầu của mình Do chiến tranh nêngia đình ông phải tản cư nhưng ông luôn mong ngóng tin tức về làng Hình ảnhông Hai đau khổ khi nghe tin làng theo giặc được miêu tả rất độc đáo Cuốitruyện, ông Hai vui mừng khi nghe tin cải chính rằng làng mình không theo giặc
dù cho nhà ông bị đốt trong đám cháy ấy Ở nhân vật này, ông Hai thể hiện nhậnthức của mình, hơn cả là nhận thức chung của giai cấp nông dân trong cuộcchiến tranh vệ quốc Từ tình yêu làng da diết, nhân vật đã nâng lên thành tinhthần yêu nước mạnh mẽ, hi sinh tài sản riêng để giữ vững lòng trung với TổQuốc
2.Cảm nhận nhân vật ông Hai
a Hoàn cảnh của nhân vật
- Ông Hai là một Lão nông quê ở làng Chợ Dầu
- Ông lão yêu làng nên hay khoe về làng Chợ Dầu của mình Nếu trước cáchmạng ông hay khoe với sự giàu có trù phú của làng Thì sau cách mạng ông lãoluôn yêu và tự hào về phong trào kháng chiến của làng ông
- Theo lệnh của ủy ban kháng chiến, gia đình ông phải đi tản cư Ban đầu ôngnhất định không đi cùng anh em dân quân tự vệ đánh Pháp, nhưng về sau ông tựnhủ tản cư âu cũng là kháng chiến
=> Nhận xét: Từ hoàn cảnh của nhân vật ông Hai, nhà văn giúp người đọc nhận
ra được nét phẩm chất đáng quý trong tâm hồn của lão nông chất phát Tình yêulàng hòa quyện với tình yêu đất nước, kháng chiến đây cũng là sự thay đổi lớntrong tư tưởng và nhận thức của người nông dân trong những năm đầu cuộckháng chiến chống thực dân Pháp Vẻ đẹp của nhân vật ông Hai được thể hiệnchân thực và cảm động qua tác phẩm
a Trước khi nghe tin làng theo giặc, ở nơi tản cư, ông Hai luôn nhớ làng da diết, muốn về làng, muốn tham gia kháng chiến
* Chuyển ý:Trước hết ông Hai hiện lên là một người yêu nước, yêu làng, luôn tự
hào về quê hương- nơi chôn nhau cắt rốn của mình
Trang 33+ Trước Cách mạng tháng Tám: Khi nhắc đến làng là ông Hai tự hào về cái
“sinh phần” của viên tổng đốc làng ông, nó nguy nga, đồ sộ Không những thế, ông còn khoe và hãnh diện với mọi người về: “con đường làng trải toàn là đá xanh Trời mưa, trời gió bão, bùn đi không dính gót Trong làng, nhà ngói san sát như trên tỉnh”.
+ Sau cách mạng tháng Tám: Khi khoe làng, ông còn nhắc đến những ngày
“cùng anh em đào đường, đắp ụ, xẻ hào, khuân đá….” Điều đó cho thấy rõ
ràng trong ông Hai đã có sự thay đổi về nhận thức Trước đây ông chỉ chú ý đếncái hào nhoáng, bóng bẩy bên ngoài thì giờ đây ông trân trọng những kỉ niệmkhi cùng mọi người xây dựng cho làng Từ hình ảnh khoe làng giàu và đẹp, ông
đã thay đổi nhận thức của mình Làng vẫn giàu và đẹp đó nhưng giờ đây làng rất
yêu nước, rất “tinh thần”.
- Ngoài ra, tình yêu ấy còn thể hiện khi gia đình ông xa làng đi tản cư Ông nhớ:
“Ôi nhớ làng, nhớ cái làng quá” Điều đó không lạ bởi “làng” là nơi thân
thương gắn bó, là nơi chôn nhau cắt rốn gắn với những kỉ niệm sâu sắc củangười nông dân Sự gắn bó ấy làm sống dậy tâm hồn của những sự vật tưởnggần như vô tri vô giác
* Liên hệ - mở rộng: Nhà thơ Chế Lan Viên từng viết:
“Khi ta ở chỉ là nơi đất ở Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn.”
- Ở nơi xa quê hương, hình ảnh một ông lão đứng ngóng chờ nghe tin tức kháng
chiến thật dễ mến Mỗi khi có tin báo thắng lợi từ đài phát thanh “ruột gan ông như múa cả lên”, lúc ấy, ông Hai rất vui và hòa cùng tiếng reo với mọi người.
Tình yêu làng của ông Hai cũng là tình yêu của biết bao nhiêu con người ViệtNam trong kháng chiến Chính tình yêu ấy là động lực thôi thúc họ giữ đất, giữlàng, giữ nét văn hóa cổ truyền của dân tộc
b Tình yêu làng yêu nước của nhân vật ông Hai khi nghe tin làng theo giặc.
* Chuyển ý: Tình yêu làng quê hòa quyện với tình yêu đất nước của ông Hai
được nhà văn khắc họa chân thực và cảm động qua một tình huống gây cấn, vàkịch tính đó là tình huống ông Hai nghe tin làng chợ Dầu theo Tây
Trang 34- Nghe tin sét đánh ấy, ông Hai bàng hoàng: “cổ ông nghẹn ắng hẳn lại, da mặt
tê rân rân Ông lão lặng đi, tưởng như không thở được Một lúc sau ông mới rặn è è, nuốt một cái gì vướng ở cổ, ông cất tiếng hỏi, giọng lạc hẳn đi” Từ
đỉnh cao của niềm vui, niềm tin ông Hai rơi xuống vực thẳm của sự đau đớn, tủi
hổ vì cái tin ấy quá bất ngờ - Cái tin ấy được những người tản cư đã kể rảnh rọt
quá, lại khẳng định họ “chúng tôi vừa ở dưới ấy lên đây mà lại” làm ông không
thể không tin Sự đau đớn thể hiện rõ qua nét mặt, cử chỉ, giọng nói của ông lão
=>Không đau đớn và bàng hoàng sao được vì sâu thẳm trong con tim ông làngChợ Dầu là làng anh hùng, làng của kháng chiến và cách mạng Thế mà giờ đây,tất cả niềm tin, hi vọng, niềm tự hào đã hoàn toàn sụp đổ trong ông
- Vì vậy mà trên đường về nhà“ông Hai cúi gằm mặt xuống mà đi”, ông xấu
hổ không dám nhìn ai, ông tự vấn lương tâm của chính mình Rồi ông thoángnghĩ đến mụ chủ nhà Còn gì chua chát, đau đớn hơn khi giọng nói của người
đàn bà cho con bú vẳng vọng theo: “Cha mẹ tiên sư chúng nó! Đói khổ ăn cắp
ăn trộm bắt được người ta còn tha Còn cái giống Việt gian bán nước chỉ cho mỗi đứa một nhát.” =>Tình yêu làng bị sụp đổ, tình cảm của ông bị tổn thương.
Và chỉ có tình yêu sâu nặng với quê hương của mình, con người ta mới thấy nỗiđau đớn ấy mà ông Hai là một ví dụ điển hình Còn gì đớn đau hơn khi lòng tựtôn của mình lại bị một sự thật bẽ bàng làm cho sụp đổ Còn gì đớn đau bằng cáinỗi đau về nơi mình luôn tự hào lại là nơi mình phải hổ thẹn?
- Sự uất ức đến căm giận theo đuổi ông mãi khi về tận nhà “Về đến nhà ông
Hai nằm vật ra giường, mấy đứa trẻ thấy bố hôm nay có vẻ khác nên bọn nó len lén đưa nhau ra đầu nhà chơi sậm chơi sụi với nhau” Lúc ấy, “nước mắt ông lão cứ giàn ra”, ông rít lên những tiếng kêu đau đớn, nhục nhã Đồng cảm với
nhân vật ấy, người đọc như cảm nhận sự đau đớn, hổ thẹn và uất ức theo từng cửchỉ, từng hành động của ông Có lẽ đây là đoạn miêu tả nội tâm độc đáo nhất,
thành công nhất của nhà văn “Nhìn lũ con, tủi thân, nước mắt ông lão cứ giàn
ra Chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian đấy ư? Chúng nó cũng bị người ta
rẻ rúng hắt hủi đấy ư?”.
- Nghệ thuật độc thoại nội tâm diễn tả cụ thể những câu hỏi giằng xé trong đầu
ông Hai Nếu không yêu làng đến thế thì ông không đau đớn, tủi nhục đến vậy.Ông căm thù những kẻ theo Tây, phản bội làng, ông nắm chặt hai tay lại mà rít
lên: “Chúng bay ăn miếng cơm hay miếng gì vào mồm mà đi làm cái giống Việt gian bán nước để nhục nhã thế này” Niềm tin, nỗi ngờ vực giằng xé trong ông.
“Ông kiểm điểm lại từng người trong óc”, thấy họ đều có tinh thần cả “có đời nào lại cam tâm làm điều nhục nhã ấy” Ông đau xót nghĩ đến cảnh “người ta ghê tởm, người ta thù hằn cái giống Việt gian bán nước”.
=>Tác giả đã để cho nhân vật trải qua từng cung bậc tâm lí, đẩy lên cao trào rồibật ngược như vỡ òa ở phần sau Ngẫm kĩ, ta thấy đối với người nông dân chất
Trang 35phác, chân lấm,tay bùn thì cái tin làng theo giặc quả thật là cú sốc to lớn, là điềuđau đớn và nặng nề mà họ phải chịu đựng.
- Từ đau đớn, nhục nhã, ông Hai trở nên gắt gỏng với vợ con Rồi tâm trạng ông
Hai chuyển dần sang lo lắng, sợ hãi: “Đã ba bốn hôm nay, ông Hai không bước
chân ra đến ngoài, cả đến bên bác Thứ ông cũng không dám sang Suốt ngày ông chỉ quanh quẩn ở trong cái gian nhà chật chội ấy mà nghe ngóng … Cứ thoáng nghe những tiếng Tây, Việt gian, cam – nhông… là ông lủi ra một góc nhà, nín thít.” Nỗi ám ảnh, day dứt nặng nề biến thành sự sợ hãi thường xuyên
trong ông Ông cảm thấy như mình mang nỗi nhục của tên bán nước Việt gian
theo Tây Từ chỗ một con người sống cởi mở, niềm nở, ông trở thành người khép nép, lo lắng.
- Tình thế của ông càng trở nên bế tắc, tuyệt vọng khi bà chủ nhà có ý đuổi gia đình ông với lý do không chứa người của làng Việt gian Ông đau khổ không
phải vì bị đuổi đi mà đau khổ vì lí do bị đuổi Có lúc ông lại nghĩ đến việc về lại
làng nhưng lại nghĩ: “Về làm gì cái làng ấy nữa, chúng nó theo Tây cả rồi Về làng tức là bỏ kháng chiến, bỏ Cụ Hồ.”, là cam chịu quay trở lại làm nô lệ cho
thằng Tây Tình yêu làng lúc này đã lớn rộng thành tình yêu nước bởi dẫu tìnhyêu, niềm tin và tự hào về làng Dầu có bị lung lay nhưng niềm tin về Cụ Hồ vàcuộc kháng chiến không hề phai nhạt Đó là cả một nhận thức lớn trong tâm hồncủa người nông dân Với một người chỉ qua lớp bình dân học vụ, chỉ biết vài conchữ nhưng mỗi sáng vẫn đọc to từng chữ trên báo, vẫn hòa cùng mọi người bàntán về tình hình, ta thấy tinh thần ấy thật đáng quý
- Thật khó để ông đi đến lựa chọn: “Làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây thì phải thù” Câu nói ấy thể hiện tấm lòng son sắc của ông dành cho quê hương,
đất nước, qua đó ông đưa ra quyết định, thà không quay về làng cho thấy sự kiênquyết trong cách nghĩ, cách sống của ông Hai Niềm mơ ước lớn lao nhất củaông chính là được quay về làng thăm lại anh em, đồng chí Vậy mà giờ đây, ôngkhông những buộc phải bỏ làng mà còn thù làng Chắc chắn, để đi đến quyếtđịnh này, nhân vật cũng khổ tâm và đau đớn hơn cả Dù đã xác định thế nhưngông vẫn không thể dứt bỏ tình cảm của mình đối với quê hương Bởi thế mà ông
càng xót xa, đau đớn Người nông dân trong văn của Kim Lân là như thế, yêu ghét rõ ràng, rạch ròi.
- Trong tâm trạng bị dồn nén và bế tắc ấy, để vợi bớt nỗi đau đớn, dằn vặt tronglòng và yên tâm về quyết định của mình, ông chỉ biết trò chuyện với cu Húc,đứa con út, giúp ông bày tỏ tình yêu sâu nặng với làng Chợ Dầu, bày tỏ tấm lòngthủy chung son sắt với kháng chiến, với Cụ Hồ(chết thì chết có bao giờ dám đơnsai) Đó là một cuộc trò chuyện đầy xúc động Nỗi nhớ quê, yêu quê, nỗi đauđớn khi nghe tin quê hương theo giặc cứ chồng chéo đan xen trong lòng ông lão.Nhưng trong ông vẫn cháy lên một niềm tin tưởng sắt đá, tin tưởng vào Cụ Hồ,tin tưởng vào cuộc kháng chiến của dân tộc Niềm tin ấy đã phần nào giúp ông
Trang 36có thêm nghị lực để vượt qua khó khăn này Dường như ông Hai đang nóichuyện với chính mình, đang giãi bày với lòng mình và cũng như đang tự nhắc
nhở: hãy luôn “Ủng hộ cụ Hồ Chí Minh” Tình quê và lòng yêu nước thật sâu
nặng và thiêng liêng
c Khi cái tin kia được cải chính, gánh nặng tâm lí tủi nhục được trút bỏ, ông Hai tột cùng vui sướng và càng tự hào về làng chợ Dầu.
* Chuyển ý: Tình yêu làng, yêu nước lại một lần nữa được thể hiện rõ nét trong
đoạn cuối của tác phẩm, khi đúng lúc ông Hai có được quyết định khó khăn nhấtthì cái tin làng Chợ Dầu phản bội đã được cải chính
- Sự đau khổ của ông Hai trong những ngày qua nhiều bao nhiêu thì niềm phấn
khởi và hạnh phúc của ông lúc này càng lớn bấy nhiêu Miệng ông “bô bô” từ
đầu ngõ, chạy hết nơi này đến nơi khác khoe với mọi người về cái tin làng ông
bị đốt, nhà ông bị đốt rằng “Tây nó đốt nhà tôi rồi bác ạ, đốt nhẵn! Toàn là sai
sự mục đích cả Láo Láo hết” Cái cách ông đi khoe việc Tây đốt sạch nhà của ông là biểu hiện cụ thể ý chí “Thà hi sinh tất cả chứ không chịu mất nước” của
người nông dân lao động bình thường Mất hết cả cơ nghiệp mà ông không hềbuồn tiếc, thậm chí còn rất sung sướng, hạnh phúc Phải chăng, niềm hạnh phúc
to lớn hơn đằng sau ấy là một tấm lòng yêu nước trong sạch, kiên định theochính sách của cụ Hồ?Đây chính là chi tiết khiến người đọc bùi ngùi, trân trọnghơn tình yêu của ông Hai dành cho làng, cho kháng chiến và cho tổ quốc ViệtNam yêu dấu
* Liên hệ mở rộng:Quả đúng như nhà văn Ra-xun Gam-za-tốp đã từng nói
“Người ta chỉ có thể tách con người ra khỏi quê hương, chứ không thể tách quê hương ra khỏi con người” có nghĩa là con người có thể rời xa quê hương về mặt
khoảng không vũ trụ, địa lý nhưng trong sâu thẳm trái tim, tâm hồn mỗi người,quê hương vẫn luôn tồn tại
3.Đánh giá khái quát
Truyện ngắn "Làng" đã rất thành công khi miêu tả diễn biến tâm lí nhân vật
ông Hai từ một tình huống có tính bất ngờ, căng thẳng, thử thách Nội tâm nhânvật được miêu tả cụ thể gợi cảm và gây ấn tượng mạnh mẽ về sự ám ảnh daydứt Ngôi kể mang đậm sắc thái nông thôn, góp phần khắc hoạ tính cách điểnhình của nhân vật Có được thành công này vì Kim Lân Không chỉ là một câybút truyện ngắn vững vàng, đặc sắc mà còn rất am hiểu gắn bó với người nôngdân ở nông thôn Việt Nam Từ diễn biến tâm trạng của nhân vật ông Hai, nhàvăn ca ngợi tình cảm yêu làng yêu nước bền chặt sâu sắc trong ngày đầu khángchiến Nhân vật ông Hai trở thành nhân vật điển hình của người nông dân ViệtNam trong thời kì kháng chiến chống Pháp
III Kết bài
Trang 37Nhân vậtông Hai là nhân vật tiêu biểu, điển hình về người nông dân trongbuổi đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, người nông dân yêu làng, yêunước, có niềm tin tuyệt đối vào cách mạng Qua nhân vật ông Hai, ta thấy đượcnhận thức của người nông dân về cuộc kháng chiến Thấy được nghệ thuật miểu
tả nhân vật tài tình của nhà văn Kim Lân cũng như tình cảm gắn bó, quý trọngngười nông dân của nhà văn Đọc truyện, ta càng thêm khâm phục và yêuthương biết bao tình yêu nước và sự hy sinh cao cả của những thế hệ đi trước và
từ đó tự rút ra bài học quý giá cho bản thân: hãy biết yêu thương nơi mình sinh
ra và lớn lên, hãy biết trân trọng và luôn tin tưởng về một tương lai tươi sáng
ĐỀ 2: CẢM NHẬN VỀ NHÂN VẬT ÔNG HAI TRONG ĐOẠN TRÍCH SAU
Ông lão ôm thằng con út lên lòng, vỗ nhè nhẹ vào lưng nó, khẽ hỏi:
- Húc kia! Thầy hỏi con nhé, con là con ai?
- Là con thầy mấy lại con u.
- Thế nhà con ở đâu?
- Nhà ta ở làng Chợ Dầu.
- Thế con có thích về làng chợ Dầu không?
Thằng bé nép đầu vào ngực bố trả lời khe khẽ:
- Có.
Ông lão ôm khít thằng bé vào lòng, một lúc lâu ông lại hỏi:
- À, thầy hỏi con nhé Thế con ủng hộ ai?
Thằng bé dơ tay lên, mạnh bạo và rành rọt:
- Ủng hộ cụ Hồ Chí Minh muôn năm!
Nước mắt ông lão giàn ra, chảy ròng ròng trên hai má Ông nói thủ thỉ:
- Ừ đúng rồi, ủng hộ cụ Hồ con nhỉ.
Mấy hôm nay ru rú ở xó nhà, những lúc buồn khổ quá chẳng biết nói cùng ai, ông lại thủ thỉ với con như vậy Ông nói như để ngỏ lòng mình, như để mình lại minh oan cho mình nữa.
Anh em đồng chí biết cho bố con ông.
Cụ Hồ trên đầu trên cổ xét soi cho bố con ông.
Cái lòng bố con ông là như thế đấy, có bao giờ dám đơn sai Chết thì chết có bao giờ dám đơn sai: Mỗi lần nói ra được đôi câu như vậy nỗi khổ trong lòng ông cũng vơi đi được đôi phần.
(Trích Làng - Kim Lân, Ngữ văn lớp 9, tập 1, NXB Giáo dục Việt Nam, 2011, tr.169 - 170)
A Mở bài :
Cách 1:Kim Lân là nhà văn tiêu biểu của nền văn xuôi hiện đại Việt
Nam Trong suốt cuộc đời cầm but của mình ông để lại nhiều tác phẩm có giá
trị, trongđó đặc sắc nhất là truyện ngắn « Làng » Truyện viết về hình ảnh người
Trang 38nông dân trong thời kì đổi mới - Đó là ông Hai một người có tình yêu với làng
quê tha thiết gắn bó, hòa quyện thống nhất trong tình yêu đất nước vô cùng sâunặng Tình cảm thiêng liêng ấy được thể hiện xuyên suốt tác phẩm Nhưngđược thể hiện sâu sắc nhất qua cuộc trò chuyện của ông Hai với đứa con út tamới thấm thía điều đó
Cách 2: Đề tài người nông dân đã trở thành mảnh đất màu mỡ để các nhà
văn ươm trồng lên biết bao kiệt tác.Trước CMT8 Ngô Tất Tố đã đem đến chongười đọc một chị Dậu với sức sống mãnh liệt của người nông dân bị áp bức,Nam Cao đem đến một lão Hạc một người giàu lòng tự trọng và lòng thươngcon vô bờ bến Sau CM Kim Lân nhà văn của nông dân đã đem đến cho ngườiđọc hình ảnh người nông dân trong thời kì đổi mới, đó là nhân vật ông Hai trongtruyện ngắn « Làng » Truyện kể về ông Hai một người nông dân có tình yêuvới làng quê tha thiết gắn bó, hòa quyện thống nhất trong tình yêu đất nước vôcùng sâu nặng Tình cảm thiêng liêng ấy được thể hiện xuyên suốt tác phẩm.Nhưng được thể hiện sâu sắc nhất qua cuộc trò chuyện của ông Hai với đứa con
út ta mới thấm thía điều đó
Cách 3: Tình yêu làng luôn là tình cảm gắn bó thiêng liêng trong tâm hồn
mỗi người dân Việt Nam, song ở mỗi thời kì lịch sử tình cảm đó lại mang vẻ đẹplấp lánh ánh sáng thời đại Trong những năm đầu của cuộc kháng chiến ngườinông dân Việt Nam không chỉ yêu làng, mà còn yêu kháng chiến, yêu cáchmạng Điều này được khắc họa rõ nét qua truyện ngắn “Làng” của nhà văn KimLân Đến với đoạn truyện kể về cuộc trò chuyện của ông Hai với đứa con út tamới thấm thía điều đó
B Thân bài:
1 Khái quát về tác phẩm
- Hoàn cảnh sang tác:Truyện ngắn “làng” của nhà văn Kim Lân được viết
năm 1948,thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp Được đăng lần đầu trênbáo văn nghệ năm 1948 Truyện thành công không chỉ bởi tài năng viết truyệncủa Kim Lân mà còn do sự am hiểu người nông dân cùng thời kì lịch sử lúc bấygiờ.Nhà văn đã có lần tâm sự:" cái không khí ngày đầu kháng chiến ở nôngthôn,tôi đã vào làng.Lúc ấy Tây còn đóng ở cầu Đuống,tôi về làng chơi mấy lầnchứng kiến tận mắt thế nào là làng chiến đấu".Truyện hấp dẫn bạn đọc ở nghệthuật miêu tả tâm lí nhân vật trong những tình huống đặc biệt cùng với cách viếtđơn giản ngôn ngữ mộc mạc dân dã
- Khái quát chủ đề:Truyện ngắn “Làng” khai thác một tình cảm bao trùm, phổ
biến của người nông dân trong thời kì đổi mới đó là tình yêu làng quê hòaquyện, thống nhất trong tình yêu đất nước
Trang 39Vị trí đoạn trích: Đoạn truyện trín lă lời tđm sự của ông Hai với đứa con Út
-Đê diễn tả tđm trạng đau khổ, bế tắc, cũng như tình yíu “Lăng” vă tấm lòngchung thủy của ông với khâng chiến, với cụ Hồ
2 Phđn tích diễn biến tđm trạng ông Hai
a Khâi quât nội dung đoạn trước đó.
- Ở phần đầu của tâc phẩm, người đọc đê được chứng kiến một ông Hai rất yíu
vă tự hăo về lăng của mình
- Ông Hai lă một người nông dđn Việt Nam sinh ra ở lăng chợ Dầu, thuần hậu,chất phâc Giống như bao người nông dđn khâc ông Hai có một tình yíu vớilăng quí thiết tha sđu nặng
- Trước câch mạng ông thường khoe về sự giău có trù phú của lăng với mộtniềm tự hăo, kiíu hênh
- Khi cuộc khâng chiến bùng nổ ông phải rời lăng tới nơi tản cư mới Ở nơi tản
cư ông luôn đau đâu nhớ về lăng quí của mình, nhớ về tinh thần khâng chiến,nhưng rồi bỗng nhiín ông nghe tin lăng chợ Dầu theo tđy Câi tin đó lăm choông từ đỉnh cao của niềm vui, niềm tự hăo, kiíu hênh rơi xuống vực thẳm của sựđau xót, tủi hổ, nhục nhê
- Quâ đau khổ nhục nhê, ông Hai không dâm đi đđu, không biết tđm sự cùng ai,nhất lă khi nghe tin mụ chủ nhă đuổi khĩo, ông Hai rơi văo tận cùng của sự bếtắc, giằng xĩ vă cuối cùng ông quyết định dứt khoât tột cùng đau đớn: “ lăng thìyíu thật nhưng theo tđy thì phải thù”
b Tđm trạng của ông Hai khi tđm sự với thằng con út
Chuyển ý:Mặc dù quyếtđịnh như vậy nhưng trong lòng ông Hai vẫn bộn bề tđm
trạng, dồn nĩn vă bế tắc ông Hai trút lòng mình văo lời tđm tình thủ thỉ với đứacon út
*Tại sao ông Hai chọn trò chuyện với con?
Sẽ có không ít người đọc thắc mắc rằng tại sao ông Hai lại chọn trò chuyện vớiđứa con út - một đứa trẻ chưa hiểu chuyện gì, chưa biết gì về khâng chiến, vềcâch mạng Trò chuyện với đứa con còn bĩ lă câi câch để ông trải lòng mình, để
tự minh oan cho mình vă cũng lă để ông có thím niềm tin văo những điều mẵng đê chọn lựa Xđy dựng chi tiết năy cho thấy Kim Lđn thực sự rất am hiểutđm lí của con người, nhất lă người nông dđn trong khâng chiến
Luận điểm 1: Ông Hai có tình yíu lăng quí tha thiết sđu nặng
* Trong cuộc trò chuyện ông vẫn hướng con về lăng, về quí hương nguồn cội
- Mở đầu đoạn trích lă hình ảnh ông Hai: “ Ôm thằng út văo lòng, vỗ nhỉ nhẹvăo lưng nó”
Trang 40=> Cử chỉ ấy xiết bao trìu mến thân thương mà ông Hai dành cho con.
- Mặc dù cái làng mà ông rất mực tin yêu đã theo giặc, dù cho làng đã phản bội
ông đến mức ông “phải thù” làng thế nhưng khi nói chuyện với con ông vẫn
hỏi: :"Thế nhà con ở đâu?Thế con có thích về làng chợ Dầu không?" Câu hỏi có
vẻ ngô nghê mà ông biết trước được câu trả lời của con nhưng dường như ôngvẫn muốn nghe
=> Hỏi con như vậy là ông vẫn muốn con nhớ về cội nguồn, gôc gác của mình.Muốn con hiểu rằng Chợ Dầu chính là quê hương của con, là nơi con được sinh
ra và lớn lên, được yêu thương và che chở Điều đó có nghĩa là dù đã thù làngnhưng trong sâu thẳm tâm hồn người nông dân chất phác ấy vẫn dành cho làngmột tình yêu tha thiết, mãnh liệt Câu hỏi của ông với con cũng là cái cách ôngkiểm tra tình cảm của mình Nghe câu trả lời của con chắc ông vui lắm,vui vìdường như nó đã trùng với suy nghĩ của ông Như vậy có thể khẳng định tìnhyêu với làng chợ Dầu trong chưa chết hẳn,chỉ có điều giờ đây đó là một tìnhyêu đau đớn,một bi kịch
*Luận điểm 2: Ông Hai một long thủy chung với kháng chiến, với cách mạng và cụ Hồ.
- Ông Hai yêu làng ai cũng phải thừa nhận nhưng hơn cả ở nhân vật này là tìnhyêu đất nước và niềm tin dành cho kháng chiến Điều đó cũng được bộc lộ một
cách rõ nét trong cuộc trò chuyện của ông với con Ông hỏi con tiếp: “Thế con ủng hộ ai?" Câu trả lời của đứa con:" Ủng hộ Hồ Chí Minh Muôn năm" dường như
đã hoàn toàn trùng khít với suy nghĩ và tình cảm của ông
- Ông hãnh diện vì điều đó, ông tự hào về điều đó,ông hạnh phúc vô cùng.Nghe con nói vậy, nước mắt ông lão giàn ra, chảy ròng ròng trên hai má Ôngnói thủ thỉ “ Ừ đúng rồi, ủng hộ cụ Hồ con nhỉ” Ông khóc vì hạnh phúc, khóc vìcon ồn còn rất nhỏ nhưng đã có tinh thần kháng chiến,đã có niềm tin bất diệt vàocách mạng, vào cụ Hồ Ông lặp lại câu nói của con nhưng thực chất là để nói rõlòng mình Ông tin kháng chiến, tin cách mạng, ông sẵn sàng hi sinh tình cảmriêng của mình vì tình cảm cao đẹp đó
=> Mặc dù nhắc con phải luôn nhớ về làng, phải khắc sâu trong tim, tình yêu làng chợ Dầu Ông Hai không quên trách nhiệm của mình với kháng chiến, với
cụ Hồ Nếu làng chợ dầu là nơi ông sinh ra gắn bó cả cuộc đời, thì cuộc kháng chiến, cách mạng và cụ Hồ lại cho ông, gia đình ông một cuộc sống tự do, thoát khỏi ách nô lệ Vì thế khi nghe con nói ủng hộ HCM thì nước mắt ông chảy ròngròng, đó là những giọt nước mắt xúc động ăn năn của một lão nông đang bị mang tiếng là việt gian theo giặc nhưng một lòng ủng hộ cụ Hồ
- Nỗi tủi thân dồn nén trong mấy ngày qua nay mới có dịp bộc lộ Ngần ấy tuổi đầu mà “nước mắt cứ ròng ròng” => Nỗi đau ấy mới đáng trân trọng làm sao,