Thực trạng công tác quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ từ 5- 6 tuổi tại các trường mẫu giáo của huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam .... Giả thiết khoa học Hoạt động giáo dục
Trang 1HUYỆN BẮC TRÀ MY TỈNH QUẢNG NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÍ GIÁO DỤC
Đà Nẵng – 2021
Trang 2HUYỆN BẮC TRÀ MY TỈNH QUẢNG NAM
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 841.01.14
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Người hướng dẫn khoa học: TS LÊ MỸ DUNG
Đà Nẵng – 2021
Trang 411
TRANG THONG TIN KET QUA NGHIEN CUU LU4N VAN TH�C Si
Tend� tai: "QUAN LY HO�T DQNG GIAO DlJC KY NA.NG SONG
CHO TRE 5-6 TUOI T�I cAc TRUONG MAU GIAO HUY¢N B.AC TRA MY TiNH QUANG NAM"
N ganh: Quan ly giao d\lC
H9 va ten h9c vien: Chung Thi Quyen
Nguoi hu6ng dful khoa h9c: TS Le My Dung
Ca SCY dao 4to: D�i hQC SU ph�m Da Nfulg
Tom tit
1 Nhfrng k�t qua chinh cu.a lu�n van:
DS tai da h� th6ng h6a nhfrng ly lu�n CO' ban vS cong tac quan ly ho�t dc;mg giao d\lC KNS cho
tre tir 5-6 tu6i w cac truong mfo giao trong M th6ng giao d\lC, DS tai phan tf ch th\l'C tr�ng cong tac
quan ly ho�t d<)ng giao d\lC KNS cho tre tir 5-6 tu6i va dS xufit cac bi�n phap nang cao hi�u qua cong
tac quan ly ho�t d<)ng giao d\lC KNS cho tre tir 5-6 tu6i t�i cac trm:mg m&u giao tren dja ban huy�n Bile
Tra My- Tinh Quang Nam , trong thoi gian dSn g6m: Tuyen truySn, nang cao nh�n thuc vs tAm quan
tr9ng cua ho�t d<)ng GDKNS cho tre tir 5-6 tu6i d6i v6i CBQL, GV, PH; KS ho�ch h6a cong tac quan
ly ho�t d<)ng GDKNS cho tre tir 5-6 tu6i; Tang cuong cong tac dao t�o va t�p hufin cho GV vS phuong
phap, hinh thirc giao d\lc GDKNS cho tre tir 5-6 tu6i; Tang cuong ki€m tra, danh gia cong tac GDKNS
cho tre tir 5-6 tu6i; Tang cuong S\l' ph6i hc;rp gifra cac lgc luc;rng GDKNS trong cong tac GDKNS cho
tre tir 5- 6 tu6i; Tang cuong cac diSu ki�n va phi.tang ti�n d€ h6 trc;r cong tac tang cuong GDKNS cho
tre tir 5-6 tu6i
2 Y nghia khoa hqc va thvc ti�n cu.a lu�n van:
Lu�n van da g6p phAn lam sang to nhfrng vfin dS ly lu�n va thgc ti�n vS cong tac q�an ly ho�t
d<)ng giao d\lC KNS cho tre tir 5-6 tu6i tir cac nghien ciru trong va ngoai nu6c Can cu vao h� th6ng CO'
SCY ly lu�n, dS tai da phan tich thgc tr�ng cong tac giao d\lC KNS cho tre tir 5-6 tu6i t�i cac truong mfru
giao, KSt qua phan tich da rut ra nhfrng vfin dS con t6n t�i h�n chS trong cong tac giao d1,1c KNS cho
tre t�i cac truong m&u giao tren dja ban huy�n Bile Tra My Tren CO' SCY d6 tac gia da dS xufit cac giai
phap cho vfin d8 nghien ciru Vi�c ap d1,1ng d6ng b9 cac bi�n phap cua dS tai se g6p phAn nang cao chfit
luc;rng giao d\lc giao d1,1c KNS cho tre tir 5-6 tu6i t�i cac truong m&u giao tren dja ban huy�n Bile Tra
da d8 ra DS tai g6p phAn lam tai li�u tham khao cho cac nha quan ly dao t�o t�i truong m&u giao tren
dia ban tinh Quang N�m va d�c bi�t la cac truong m&u giao CY huy�n mi8n nui c6 nhfrng net tuang
d6ng nhu huy�n Bile Tra My Ben c�nh d6, kSt qua nay la tai li�u tham khao cho cac sinh vien va hQC
vien chuyen nganh quan ly giao d\lC va giao d\lC mAm non t�i cac truong D�i hQC va h9c vi�n trong h�
th6ng giao d\lC cua Vi�t Nam
3 Hmrng nghien CU'U ti�p theo cu.a d� tai:
DS tai c6 th€ nghien cuu CY ph�m vi r<)ng han tren toan tinh Quang Nam D6ng tho·i tang cu6ng
sf> luc;rng m&u diSu tra khao sat voi quy mo l&n, tiSn hanh nghien cuu dinh luc;rng d€ tim ra cac nhan t6
m&u giao
4 Tir khoa: Quan ly; Quan ly ho�t d<)ng dao t�o, Ky nang s6ng; Truong m&u giao; giao d1,1c ky
nang s6ng; huy�n Bile Tra My
Xcicnh(inc
�
TS Le My Dung
t
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Giả thiết khoa học 2
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Phương pháp nghiên cứu 3
7 Cấu trúc của luận văn 3
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO TRẺ TỪ 5-6 TUỔI TẠI CÁC TRƯỜNG MẪU GIÁO 5
1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu về quản lý hoạt động giáo dục KNS cho trẻ mẫu giáo 5
1.1.1 Các nghiên cứu ngoài nước 5
1.1.2 Các nghiên cứu trong nước 7
1.2 Các khái niệm chính của đề tài 8
1.2.1 Khái niệm về quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường 8
1.2.2 Khái niệm về giáo dục, kỹ năng sống và giáo dục kỹ năng sống 11
1.2.3 Khái niệm về trường Mẫu giáo 13
1.2.4 Khái niệm quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ từ 5-6 tuổi tại các trường Mẫu giáo 13
1.3 Sự cấn thiết của hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ từ 5-6 tuổi tại các trường Mẫu giáo 14
1.3.1 Đặc điểm tâm lý lứa tuổi 5- 6 tuổi 14
1.3.2 Sự cần thiết GDKNS cho trẻ từ 5-6 tuổi trong các trường Mẫu giáo 16
1.4 Hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ từ 5-6 tuổi tại các trường Mẫu giáo 16
1.4.1 Mục tiêu của hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ từ 5-6 tuổi tại trường Mẫu giáo 16
1.4.2 Nội dung hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ từ 5-6 tuổi tại trường Mẫu giáo 17
1.4.3 Hình thức và phương pháp tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ từ 5-6 tuổi 19
1.4.4 Môi trường tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ từ 5-6 tuổi tại trường Mẫu giáo 21
1.4.5 Đánh giá kết quả tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ từ 5-6 tuổi tại trường Mẫu giáo 22
Trang 71.5 Nội dung công tác quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ từ 5-6 tuổi tại
các trường Mẫu giáo 23
1.5.1 Quản lý mục tiêu của hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ Mẫu giáo từ 5-6 tuổi 23
1.5.2 Quản lý nội dung của hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ Mẫu giáo từ 5-6 tuổi 24
1.5.3 Quản lý phương pháp, hình thức của hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ Mẫu giáo từ 5-6 tuổi 26
1.5.4 Quản lý môi trường hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ Mẫu giáo từ 5-6 tuổi 27
1.5.5 Quản lý công tác kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ Mẫu giáo từ 5-6 tuổi 28
1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5- 6 tuổi tại các trường mẫu giáo 28
1.6.1 Yếu tố chủ quan 28
1.6.2 Yếu tố khách quan 28
Tiểu kết chương 1 29
Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO TRẺ 5-6 TUỔI TẠI CÁC TRƯỜNG MẪU GIÁO HUYỆN BẮC TRÀ MY TỈNH QUẢNG NAM 30
2.1 Khái quát về tình hình khảo sát 30
2.1.1 Mục tiêu khảo sát 30
2.1.2 Đối tượng khảo sát 30
2.1.3 Nội dung khảo sát 30
2.1.4 Phương pháp khảo sát 31
2.1.5 Thời gian, địa điểm khảo sát 32
2.1.6 Quy trình khảo sát 32
2.2 Khái quát chung về tình hình kinh tế xã hội và công tác giáo dục đào tạo tại huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam 33
2.2.1 Vị trí địa lí, điều kiện kinh tế - xã hội của huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam 33
2.2.2 Tình hình hoạt động giáo dục và đào tạo của huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam 36
2.2.3 Tình hình Giáo dục và đào tạo của giáo dục bậc Mẫu giáo tại huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam 36
2.3 Thực trạng hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ từ 5-6 tuổi tại các trường mẫu giáo của huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam 38
2.3.1 Nhận thức của CBQL, GV và PH về tầm quan trọng của việc GDKN cho trẻ từ 5-6 tuổi trong trường Mẫu giáo 38
Trang 82.3.2 Mục tiêu GDKNS cho trẻ từ 5-6 tuổi tại các trường Mẫu giáo của huyện
Bắc Trà My 39
2.3.3 Nội dung GDKNS cho trẻ từ 5-6 tuổi tại các trường Mẫu giáo của huyện Bắc Trà My 42
2.3.4 Phương pháp tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ từ 5-6 tuổi trong trường Mẫu giáo 46
2.3.5 Môi trường và các điều kiện tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ từ 5-6 tuổi 48
2.4 Thực trạng công tác quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ từ 5- 6 tuổi tại các trường mẫu giáo của huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam 52
2.4.1 Quản lý mục tiêu giáo dục kỹ năng sống cho trẻ từ 5-6 tuổi tại các trường Mẫu giáo huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam 52
2.4.2 Quản lý nội dung giáo dục kỹ năng sống cho trẻ từ 5-6 tuổi tại các trường Mẫu giáo huyện Bắc Trà My tỉnh Quảng Nam 54
2.4.3 Quản lý phương pháp, hình thức giáo dục kỹ năng sống cho trẻ từ 5-6 tuổi tại các trường Mẫu giáo huyện Bắc Trà My tỉnh Quảng Nam 56
2.4.4 Quản lý môi trường và các điều kiện tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ từ 5-6 tuổi tại các trường Mẫu giáo huyện Bắc Trà My tỉnh Quảng Nam 58 2.4.5 Quản lý công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ từ 5-6 tuổi tại các trường Mẫu giáo huyện Bắc Trà My tỉnh Quảng Nam 60
2.4.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động GDKNS cho trẻ từ 5-6 tuổi tại các trường Mẫu giáo trên địa bàn huyện Bắc Trà My 62
2.5 Đánh giá chung 63
2.5.1 Ưu điểm 63
2.5.2 Tồn tại, hạn chế 64
2.5.3 Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế 64
Tiểu kết chương 2 65
Chương 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CỦA TRẺ 5-6 TUỔI TẠI CÁC TRƯỜNG MẪU GIÁO CỦA HUYỆN BẮC TRÀ MY TỈNH QUẢNG NAM 66
3.1 Nguyên tắc đề xuất các biện pháp quản lý 66
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu 66
3.1.2 Nguyên tắt đảm bảo tính kế thừa 66
3.1.3 Nguyên tắt đảm bảo tính khả thi 66
3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống 67
3.1.5 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả 67
3.2 Các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ từ 5-6 tuối tại các trường mẫu giáo của huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam 68
Trang 93.2.1 Tuyên truyền, nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của hoạt động
GDKNS cho trẻ từ 5-6 tuổi đối với CBQL, GV, PH 68
3.2.2 Kế hoạch hóa công tác quản lý hoạt động GDKNS cho trẻ từ 5-6 tuổi 70
3.2.3 Tăng cường công tác đào tạo và tập huấn cho GV về phương pháp, hình thức giáo dục GDKNS cho trẻ từ 5-6 tuổi 73
3.2.4 Tăng cường kiểm tra, đánh giá công tác GDKNS cho trẻ từ 5-6 tuổi tại các trường mẫu giáo trên địa bàn huyện Bắc Trà My 76
3.2.5 Tăng cường sự phối hợp giữa các lực lượng GDKNS trong công tác GDKNS cho trẻ từ 5- 6 tuổi 79
3.2.6 Tăng cường các điều kiện và phương tiện để hỗ trợ cho hoạt động GDKNS cho trẻ từ 5-6 tuổi 81
3.3 Mối quan hệ các biện pháp 84
3.4 Khảo nghiệm tính cấp thiết và tính khả thi của đề tài 85
3.4.1 Mô tả quá trình khảo nghiệm 85
3.4.2 Kết quả khảo nghiệm 85
Tiểu kết chương 3 89
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO 92 PHỤ LỤC PL1
Trang 11DANH MỤC BẢNG BIỂU
Số hiệu
2.6 Mức độ thực hiện mục tiêu giáo dục kỹ năng sống cho trẻ
2.9 Đánh giá của CBQL, GV về kết quả thực hiện nội dung
2.10 Đánh giá của phụ huynh về kết quả đạt được từ hoạt động
2.11 Đánh giá của CBQL, GV về mức độ thực hiện các phương
pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ từ 5-6 tuổi 46
2.12 Kết quả thực hiện các phương pháp giáo dục kỹ năng sống
2.13 Mức độ thực hiện về môi trường và các điều kiển tổ chức
hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ từ 5-6 tuổi 49
2.14 Kết quả thực hiện về môi trường và các điều kiển tổ chức
hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ từ 5-6 tuổi 50 2.15 Mức độ đóng góp của phụ huynh trong việc cải thiện môi
trường và các điều kiện giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 51 2.16 Mức độ thực hiện công tác quản lý mục tiêu giáo dục kỹ
2.17 Kết quả thực hiện công tác quản lý mục tiêu giáo dục kỹ
2.18 Mức độ thực hiện công tác quản lý về nội dung giáo dục
Trang 12Số hiệu
2.19 Kết quả thực hiện công tác quản lý về nội dung giáo dục
2.20 Mức độ thực hiện công tác quản lý phương pháp và hình
thức giáo dục kỹ năng sống cho trẻ từ 5-6 tuổi 57
2.21 Kết quả thực hiện công tác quản lý phương pháp và hình
thức giáo dục kỹ năng sống cho trẻ từ 5-6 tuổi 57 2.22
Mức độ thực hiện công tác quản lý môi trường và các điều kiện tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ từ 5-
2.24 Mức độ thực hiện công tác quản lý kiểm tra đánh giá hoạt
động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ từ 5-6 tuổi 61 2.25 Kết quả thực hiện công tác quản lý kiểm tra đánh giá hoạt
động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ từ 5-6 tuổi 61 2.26
Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý hoạt động GDKNS cho trẻ từ 5-6 tuổi tại các trường Mẫu giáo trên địa bàn huyện Bắc Trà My
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hoạt động giáo dục KNS cho trẻ ở lứa tuổi Mẫu giáo là nhiệm vụ có vai trò đặc biệt quan trọng Đối với trẻ ở lứa tuổi 5- 6 tuổi là thời điểm bước ngoặt, là sự kiện quan trọng khiến các nhà giáo dục cần quan tâm Giúp trẻ hoàn thiện những thành tựu phát triển tâm lý trong suốt thời kỳ Mẫu giáo, mặt khác là sự chuẩn bị tích cực cho trẻ đủ điều kiện để làm quen dần với hoạt động học tập và cuộc sống ở trường phổ thông, để trẻ bước vào lớp 1 với sự tự tin, thích nghi nhanh chóng với môi trường giáo` dục mới Việc chuẩn bị sẵn sàng về mặt tâm lý đến học tập ở trường tiểu học là nhiệm vụ quan trọng bậc nhất của giai đoạn giáo dục Mẫu giáo nói chung và trẻ ở lứa tuổi 5 – 6 tuổi nói riêng Trẻ bước vào trường học ngoài mặt tâm lý, vốn tri thức nhất định để nhìn nhận thế giới xung quanh, các chuẩn mực hành vi đạo đức, kỹ năng sống giúp trẻ nhanh chóng gia nhập vào tập thể, tìm được vị trí của mình trong tập thể đó, có ý thức trách nhiệm trong các hoạt động Chất lượng, hiệu quả giáo dục KNS cho trẻ em tùy thuộc vào nhiều yếu tố như: gia đình, nhà trường và xã hội Đặc biệt phụ thuộc trực tiếp vào công tác quản lý của các nhà quản lý trong các trường Mẫu giáo Tăng cường thay đổi người có trình độ quản lý, đồng thời nâng cao hiệu quả giáo dục KNS, hình thành được KNS phù hợp cho trẻ em trong các trường Mẫu giáo là nhiệm vụ hết sức cấp thiết đối với bậc giáo dục Mẫu giáo hiện nay Do vậy, hoạt động giáo dục KNS và quản lý hoạt động giáo dục KNS cho trẻ Mẫu giáo và đặc biệt với trẻ 5 - 6 tuổi có ý nghĩa vô cùng quan trọng
Theo CTGDMG do Bộ GD&ĐT ban hành kèm theo Thông tư số 17/2009/TT- BGD&ĐT ngày 25/7/2009 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đã chỉ rõ chương trình giáo dục trẻ Mẫu giáo nói chung và lứa tuổi Mẫu giáo lớn 5 - 6 tuổi nói riêng được thực hiện dựa theo các chủ đề và lĩnh vực phát triển của trẻ bao gồm 5 lĩnh vực: GD phát triển thể chất; GD phát triển nhận thức, GD phát triển thẩm mỹ, GD phát triển ngôn ngữ;
GD phát triển tình cảm và kỹ năng xã hội Tuy nhiên, nội dung GD lĩnh vực phát triển tình cảm và kỹ năng xã hội không được quy định thành bộ môn riêng biệt mà được lồng ghép trong các hoạt động và bộ môn khác
Huyện Bắc Trà My là huyện miền núi của tỉnh Quảng Nam, có vị trí địa lý phức tạp, với nhiều đồi núi, sông suối, mặt bằng dân cư đa dạng, trình độ dân trí không đồng đều Phần lớn dân cư ở đây là người dân tộc thiểu số, một phần là công nhân viên chức với mức thu nhập bình quân thấp, môi trường sống phức tạp dẫn đến nhiều tác động khác nhau lên trẻ em ở lứa tuổi này Khi gặp tình huống, mỗi trẻ có cách phản ứng, xử
lý và ứng phó khác nhau tùy theo hoàn cảnh Nhìn chung, trẻ em ở đây thường nhút nhát, phản ứng chậm hơn so với trẻ em ở các huyện đồng bằng có độ tuổi tương đồng
Vì vậy, việc nghiên cứu sâu về đặc điểm tâm sinh lý của trẻ, đặc điểm địa phương và những kỹ năng cần thiết phù hợp với trẻ ở địa phương Xây dựng chương trình giáo
Trang 14dục và quản lý hoạt động GD KNS cho trẻ em từ 5-6 tuổi một cách khoa học Giúp trẻ
em chuẩn bị tâm lý vững vàng, tự tin bước vào lớp 1 là việc làm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng
Thực tế cho thấy, hoạt động GD KNS cho trẻ từ 5-6 tuổi tại các trường mầm nom trên địa bàn huyện Bắc Trà My đã đạt được nhiều kết quả quan trọng Bên cạnh đó, công tác này vẫn còn tồn tại một số hạn chế nhất định như: Một bộ phận GV, PHHS chưa nhận thức rõ sự cần thiết của hoạt động GD KNS cho trẻ 5 - 6 tuổi; Công tác quản lý hoạt động GD KNS cho trẻ từ 5-6 tuổi còn mờ nhạt; việc xây dựng kế hoạch
GD KNS cho trẻ từ 5-6 tuổi tại các trường chưa được quan tâm đúng mức Công tác xây dựng kế hoạch chưa bám sát với yêu cầu thực tiễn; các nội dung, hình thức và phương pháp GD KNS cho trẻ chưa phong phú, đa dạng, kết quả mang lại chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới Xuất phát từ những lý do trên, tác giả lựa chọn đề
tài: “Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5 - 6 tuổi tại các trường Mẫu giáo trên địa bàn huyện Bắc Trà My tỉnh Quảng Nam” làm đề tài nghiên cứu luận văn
thạc sĩ quản lý giáo dục cho bản thân
2 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn về công tác quản lý hoạt động giáo
dục kỹ năng sống cho trẻ 5 - 6 tuổi tại các trường Mẫu giáo trên địa bàn huyện Bắc Trà
My Đề tài xây dựng các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5
- 6 tuổi tại các trường Mẫu giáo trên địa bàn huyện Bắc Trà My tỉnh Quảng Nam cho những năm đến, nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho trẻ
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5 - 6 tuổi tại các trường Mẫu giáo trên địa bàn huyện Bắc Trà My tỉnh Quảng Nam
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5 - 6 tuổi tại các trường Mẫu
giáo trên địa bàn huyện Bắc Trà My tỉnh Quảng Nam
3.3 Phạm vi nghiên cứu
- Đề tài tiến hành nghiên cứu tại 13/13 trường Mẫu giáo trên địa bàn huyện Bắc Trà My tỉnh Quảng Nam
- Thời gian nghiên cứu: Thực hiện khảo sát và phân tích thực trạng công tác quản
lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5 - 6 tuổi tại các trường Mẫu giáo huyện
Bắc Trà My tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2018-2020 để đề xuất biện pháp cho giai đoạn 2021-2025
4 Giả thiết khoa học
Hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5 - 6 tuổi tại các trường Mẫu giáo trên địa bàn huyện Bắc Trà My tỉnh Quảng Nam trong thời gian qua đã được triển khai và chú trọng nhưng vẫn còn nhiều hạn chế trên một số phương diện, trong đó có công tác
Trang 15quản lý của người hiệu trưởng
Nếu làm sáng tỏ các vấn đề lý luận, thực tiễn về công tác quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5 - 6 tuổi và xác lập các biện pháp quản lý một cách khoa học, phù hợp với yêu cầu đổi mới về công tác quản lý của nhà trường hiện nay, sẽ góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5 - 6 tuổi tại các trường Mẫu giáo trên địa bàn huyện Bắc Trà My tỉnh Quảng Nam trong thời gian đến
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu, xác định cơ sở lý luận về công tác quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5 - 6 tuổi tại các trường Mẫu giáo
- Khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng công tác quản lý hoạt động giáo dục
kỹ năng sống cho trẻ 5 - 6 tuổi tại các trường Mẫu giáo trên địa bàn huyện Bắc Trà
My, tỉnh Quảng Nam
- Đề xuất các biện pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5 - 6 tuổi tại các trường Mẫu giáo trên địa bàn huyện Bắc Trà My tỉnh Quảng Nam trong thời gian đến
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Bao gồm: phương pháp phân tích, tổng hợp lý thuyết sử dụng để xây dựng cơ sở
lý luận về công tác quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5 - 6 tuổi tại các trường Mẫu giáo
6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát: Quan sát việc tổ chức các hoạt động giáo dục dục kỹ
năng sống cho trẻ 5 - 6 tuổi tại các trường Mẫu giáo để bổ sung tư liệu, thông tin cho vấn đề nghiên cứu
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Thu thập ý kiến của các đối tượng thông qua việc trưng cầu ý kiến Các nội dung trưng cầu ý kiến là các vấn đề liên quan đến thực trạng của vấn đề nghiên cứu Nhằm rút ra những kết luận thực tiễn, làm cơ sở đề
ra các biện pháp có tính khả thi để nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5 - 6 tuổi tại các trường Mẫu giáo hiện nay
- Phương pháp chuyên gia: Lấy ý kiến của cán bộ Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện
Bắc Trà My và một số cán bộ quản lý trường Mẫu giáo về công tác tổ chức, quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5 - 6 tuổi tại các trường Mẫu giáo
- Phương pháp thống kê toán học: Để xử lý kết quả điều tra, khảo sát
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục các tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn cấu trúc gồm 3 chương Cụ thể như sau:
Chương 1 Cơ sở lý luận về công tác quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5 - 6 tuổi tại các trường Mẫu giáo
Chương 2 Thực trạng công tác quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ
Trang 165 - 6 tuổi tại các trường Mẫu giáo huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam
Chương 3 Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5 - 6 tuổi tại các trường Mẫu giáo huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam
Trang 17Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC
KỸ NĂNG SỐNG CHO TRẺ TỪ 5-6 TUỔI TẠI
CÁC TRƯỜNG MẪU GIÁO
1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu về quản lý hoạt động giáo dục KNS cho trẻ mẫu giáo
Vấn đề hình thành kĩ năng sống, giáo dục kỹ năng sống và quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống, nhằm nâng cao khả năng hiểu biết và ứng dụng kĩ năng sống của trẻ em vào thực tiễn đã thu hút nhiều công trình nghiên cứu ở các tiếp cận khoa học khác nhau: giáo dục học, tâm lý học, xã hội học, kinh tế học, quản lý giáo dục Tổng quan nghiên cứu của luận văn với mục đích xây dựng bức tranh toàn cảnh
về các công trình nghiên cứu liên quan đến “Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em ở các trường Mẫu giáo” sẽ tập trung vào 3 hướng sau:
Hướng thứ nhất: Các nghiên cứu về kĩ năng sống và giáo dục kĩ năng sống Hướng thứ hai: Các nghiên cứu về công tác giáo dục kỹ năng sống và quản lý
hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ ở các trường mầm non, mẫu giáo
Hướng thứ ba: Các nghiên cứu về trường Mẫu giáo
Để thực hiện nghiên cứu này tác giả đã tham khảo các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, cụ thể như sau:
1.1.1 Các nghiên cứu ngoài nước
Nghiên cứu của Nasheeda (2008) thực hiện tại Hồng Kong về giáo dục kỹ năng sống cho lứa tuổi thanh thiếu niên cho thấy ở lứa tuổi này, trẻ phải trải qua nhiều thay đổi về phát triển thể chất, nhận thức, tình cảm và xã hội Lúc này, trẻ cho rằng chúng không thể truyền đạt những gì chúng muốn với cha mẹ, GV và người lớn thường cảm thấy bản thân nằm giữa xung đột và tranh luận Những tình huống đó khiến trẻ căng thẳng, tức giận, tự ti, dẫn đến kết quả học tập thấp và có những hành vi gây rối ở trường học cũng như ở nhà Chương trình giáo dục kỹ năng sống với các kỹ năng cơ bản để phát triển cá nhân và xã hội sẽ giúp trẻ ứng phó với những thách thức ngày trong đời sống Thông qua đó, trẻ biết được cách thức tốt hơn để giao tiếp với người khác, nâng cao sự tự tin, học cách chịu trách nhiệm về hành động của mình, trưởng thành hơn, thích và biết đưa ra những lựa chọn và quyết định đúng đắn [44]
Theo MOE (2006), để giáo dục kỹ năng sống hiệu quả, GV cần sử dụng các phương pháp dạy và học Trong đó, tạo cơ hội cho những người học xác định các vấn
đề của bản thân, thảo luận về các giải pháp, lập kế hoạch và thực hiện các chương trình hành động hiệu quả Việc dạy và học kỹ năng sống thông qua các phương pháp có sự tham gia của người học cho thấy, việc học tập đạt kết quả tốt nhất khi người học phải tích cực tham gia trong giờ học[46] Các phương pháp dạy và học có sự tham gia của
Trang 18người học được khuyến khích dùng trong giáo dục kỹ năng sống bao gồm: nghiên cứu tình huống, động não, thăm thực địa, thảo luận phiên, kể chuyện, thảo luận nhóm, tranh luận, áp phích, trò chơi đóng vai, các trò chơi, dự án, biểu diễn thơ và đóng kịch [47] Nghiên cứu của Barnet và cộng sự (1995) tiến hành tại Pakistan và Ấn Độ về giáo dục kỹ năng sống cho thấy, việc phát triển GV ảnh hưởng rất lớn đến việc thực hiện chương trình giảng dạy Nghiên cứu chỉ ra rằng, đào tạo GV được coi là một khoản chi phí trong quá trình thực hiện chương trình Kết quả cho thấy, thực tế ở nhiều trường học lựa chọn GV không được trải qua đào tạo về kỹ năng sống, hoặc đôi khi là người có kinh nghiệm hay mới chỉ đủ điều kiện để giảng dạy, điều này ảnh hưởng tiêu cực đến việc giảng dạy chương trình.[45]
Báo cáo của Morris và cộng sự (2013) trình bày kết quả nghiên cứu của chương trình Foundations of Learning (FOL) – Nền tảng học tập, đánh giá các can thiệp được thiết kế để đào tạo GVMG Nhằm giúp họ có thể quản lý tốt hơn hành vi của trẻ và thúc đẩy một môi trường học tập trong lớp học tích cực hơn Báo cáo đưa ra nhận định rằng, những kỹ năng được cải thiện có thể củng cố năng lực xã hội và tình cảm của trẻ
em, đồng thời cho phép GV dành nhiều thời gian hơn cho việc giảng dạy và học tập trong lớp học FOL đã được tiến hành thử nghiệm ở Newark, New Jersey, Chicago và Illinois thông qua hoạt động đào tạo GV và sự hỗ trợ từ các chuyên gia tư vấn nhằm củng cố kỹ năng quản lý lớp học Tổng cộng có 71 trung tâm GDMG (với 91 phòng học tham gia) được phân công ngẫu nhiên để thực hiện FOL hoặc tiến hành hoạt động giáo dục trẻ như bình thường Kết quả về sự khác biệt trong thực hành lớp học và hiệu suất của trẻ giữa hai nhóm so sánh cho thấy, điều quan trọng là phải xem xét bối cảnh
mà các chương trình GDMG hoạt động, đồng thời việc hỗ trợ năng lực xã hội và tình cảm của trẻ em có thể mang lại những tác động tích cực nhưng cần phải coi đó là một phần của chiến lược tổng thể tăng cường GDMG [46]
Các tác giả đưa ra một số đề xuất sau:
(i) Mức độ thấp về các nguồn lực và sự hỗ trợ thể chế cũng như sự tiếp nhận của
GV đối với các chiến lược mới có thể mang đến những thách thức trong quá trình thực hiện các chiến lược quản lý lớp học;
(ii) Mô hình tư vấn sẽ được hưởng lợi từ việc bao gồm một kế hoạch toàn diện để giám sát và hỗ trợ các tư vấn viên cho GV;
(iii) Cần có nhiều nghiên cứu hơn để hiểu các cơ chế thông qua đó tư vấn góp phần cải thiện hoạt động thực hànhcủa GV;
(iv) Mặc dù một sự can thiệp như chương trình FOL có thể cải thiện kỹ năng xã hội và tình cảm của trẻ, tuy nhiên đây chỉ là một khía cạnh của chất lượng GDMG; (v) Các can thiệp tập trung vào việc tăng cường năng lực của trẻ có thể cần phải được củng cố bằng sự hỗ trợ liên tục của cấp quản lý trường MG;
(vi) Việc theo dõi trẻ theo lộ trình sẽ là cơ chế tốt nhất để xác định liệu các can thiệp GDMG có hiệu quả về mặt chi phí hay không
Trang 191.1.2 Các nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam, một số nghiên cứu tiêu biểu về quản lý giáo dục kỹ năng sống cho
HS và trẻ MG như sau:
Trần Anh Tuấn (2012) đã phân tích thực trạng quản lý giáo dục kỹ năng sống cho
HS hiện nay trong nhà trường phổ thông, từ đó đề xuất các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Giúp học sinh thích ứng được với cuộc sống nhà trường và cuộc sống xã hội [39]
Trên cơ sở lý luận về quản lý sự phối hợp giữa giáo viên và cán bộ quản lí trong công tác giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học, Huỳnh Lâm Anh Chương (2015) cho rằng: Đây là vấn đề cần thiết cho cán bộ quản lí, đặc biệt là hiệu trưởng nhà trường, để tham khảo và áp dụng trong quá trình quản lý công tác giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Để đảm bảo mục tiêu giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thì cần có sự phối hợp giữa các lực lượng giáo dục, trong đó GV và cán bộ quản lí là hai lực lượng chính Tuy nhiên, sự phối hợp này không diễn ra tự phát mà cần được tổ chức theo định hướng thống nhất, dưới tác động chủ đạo của cán bộ quản lí giáo dục Theo đó, tác giả đề xuất các nhóm biện pháp quản lý giáo dục kĩ năng sống, bao gồm: Nâng cao nhận thức cho GV và cán bộ quản lí về những kiến thức và kỹ năng phối hợp trong công tác giáo dục kỹ năng sống cho học sinh; Ban hành các quy định về nhiệm vụ, quyền lợi của giáo viên và cán bộ quản lí trong công tác giáo dục kĩ năng sống; Tổ chức xây dựng kế hoạch và chương trình giáo dục kỹ năng sống cụ thể; Chỉ đạo giáo vi phối hợp với cán bộ quản lí thực hiện đúng tiến độ kế hoạch giáo dục; Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch của giáo viên và cán bộ quản lí [12]
Đối với vấn đề quản lý giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em trong các trường Mẫu giáo, Công Thị Hồng Điệp (2017) tiến hành nghiên cứu khảo sát tại các trường MG quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội và đưa ra kết quả: Thực trạng công tác giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em trong các trường Mẫu giáo được đánh giá ở mức độ khá tốt Hiện tại nhà trường đã thực hiện các nội dung quản lý giáo dục kỹ năng sống như: lập
kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiện kế hoạch giáo dục kỹ năng sống trong nhà trường Mẫu giáo Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em trong các trường Mẫu giáo được xác định bao gồm: Yếu tố thuộc về gia đình và yếu tố thuộc về môi trường; Yếu tố thuộc về cán bộ quản lí trường Mẫu giáo; Yếu tố thuộc về giáo dục Mẫu giáo Tác giả khẳng định để nâng cao chất lượng hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em trong các trường Mẫu giáo, cần thực hiện đồng
bộ các biện pháp quản lý giáo dục kỹ năng sống trong nhà trường: Khảo sát kĩ năng sống hiện có của trẻ em Mẫu giáo 5-6 tuổi và lập kế hoạch giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em; Tổ chức giáo dục kỹ năng sống theo chương trình giáo dục kỹ năng sống cho trẻ Mẫu giáo 5-6 tuổi phù hợp với bối cảnh hiện nay; Tổ chức bồi dưỡng cho giáo viên kiến thức, kỹ năng giáo dục kỹ năng sống cho trẻ Mẫu giáo trong trường MG; Tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện kế hoạch giáo dục kỹ năng sống cho trẻ MG;
Trang 20Tổ chức tốt sự phối hợp giữa các bộ phận trong nhà trường tham gia giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em [14]
Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Thu Hằng (2013) với đề tài: “Giáo dục kĩ năng sống cho trẻ Mẫu giáo dân tộc thiểu số khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam qua các môn tự nhiên và xã hội, khoa học”; Luận văn thạc sĩ của Lương Thị Hằng (2012):
“Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống cho trẻ Mẫu giáo ở Trường Trung học phổ thông Nam Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên”; Nguyễn Trường Nguyên (2013): “Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp ở các trường trung học cơ sở trong bối cảnh hiện nay” Nhìn chung, các đề tài này
đều tập trung đưa ra được các lý luận và các biện pháp cần thiết cho tổ chức, quản lý hoạt động GDKNS cho các bậc học tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông
Từ những thực tế đó cho thấy các công trình nghiên cứu, các bài viết nghiên cứu về KNS và GDKNS đã đề cập những nội dung cơ bản về KNS và cách thức GDKNS cho trẻ Mẫu giáo nói chung, song rất ít có những công trình nào đi sâu nghiên cứu một cách có hệ thống về quản lý KNS dành cho trẻ Mẫu giáo Đặc biệt là việc nghiên cứu công tác quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ Mẫu giáo từ 5 - 6 tuổi tại huyện Bắc Trà My tỉnh Quảng Nam hiện nay chưa có ai nghiên cứu [18]
Như vậy, thông qua các nghiên cứu kể trên, người nghiên cứu có thể tiếp thu và
kế thừa kết quả nghiên cứu đi trước về hệ thống hóa cơ sở lý luận, thực tiễn của những
tác giả đi trước, làm cơ sở thực hiện đề tài luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục: “Quản lý giáo dục kỹ năng sống cho trẻ Mẫu giáo từ 5 – 6 tuổi ở huyện huyện Bắc Trà My tỉnh
Quảng Nam”
1.2 Các khái niệm chính của đề tài
1.2.1 Khái niệm về quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường
Theo quan điểm điều khiển học: Quản lí là chức năng của những hệ có tổ chức, với bản chất khác nhau: sinh học, xã hội học, kỹ thuật nó bảo toàn cấu trúc các hệ, duy trì chế độ hoạt động Quản lí là một tác động hợp quy luật khách quan, làm cho hệ vận động, vận hành và phát triển
Theo Mary Parker Follet "quản lý là nghệ thuật khiến công việc được thực hiên thông qua người khác"
Theo F.Taylor (1856 - 1915) là người đầu tiên làm cho các vấn đề của quản lý thành đối tượng của môn học khoa học độc lập và chính ông đã biến các tư tưởng quản lý thành các nguyên tắc và kỹ thuật lao động cụ thể, tạo ra được năng suất và hiệu quả cao trong
Trang 21sản suất: "Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất, rẻ nhất"
Theo quan điểm của lí thuyết hệ thống: Quản lí là "Phương thức tác động có chủ định của chủ thể quản lí lên hệ thống, bao gồm hệ các quy tắc, các ràng buộc về hành
vi đối với mọi đối tượng ở các cấp trong hệ thống nhằm duy trì tính trội hợp lí của cơ cấu và đưa hệ thống đạt tới mục tiêu"
Theo tác giả Trần Khánh Đức: “Quản lý là hoạt động có ý thức của con người nhằm định hướng, tổ chức, sử dụng các nguồn lực và phối hợp hành động của một nhóm người hay một cộng đồng người để đạt được mục tiêu đề ra một cách hiệu quả nhất trong bối cảnh và điều kiện nhất định” [15]
Theo tác giả Hồ Văn Vĩnh: “Quản lí là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lí tới đối tượng quản lí, nhằm đạt mục tiêu đã đề ra” [43]
Theo tác giả Nguyễn Thanh Bình: "Quản lí là một nghệ thuật đạt được mục tiêu
đã đề ra thông qua điều khiển, phối hợp, hướng dẫn, chỉ huy hoạt động của những người khác" [5]
- Quản lý giáo dục
Quản lý giáo dục là bộ phận của hệ thống quản lý xã hội Theo GS.TS Phạm Minh Hạc:" Quản lý giáo dục hay còn được hiểu là quản lý nhà trường, quản lý trường học là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức
là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh."; "Quản lý nhà trường, quản lý giáo dục là tổ chức hoạt động dạy học có tổ chức hoạt động dạy học, thực hiện được các tính chất của nhà trường Việt Nam xã hội chủ nghĩa cần cụ thể hóa đường lối giáo dục của Đảng và biến đường lối đó thành hiện thực, đáp ứng yêu cầu của nhân dân, của đất nước ".[16]
Xét ở cấp vĩ mô: Quản lý giáo dục là quản lí một nền giáo dục hoặc hệ thống giáo dục Theo Nguyễn Kỳ và Bùi Trọng Tuân thì: “Quản lí giáo dục là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống và hợp qui luật) của chủ thể quản lí đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục là các Nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu xã hội” [23] Còn theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lí giáo dục là hoạt động tự giác của chủ thể quản lí nhằm huy động, tổ chức, điều phối, điều chỉnh, giám sát, một cách có hiệu quả các nguồn lực giáo dục (nhân lực, vật lực, tài lực) phục vụ cho mục tiêu phát triển giáo dục, đáp ứng các yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội ” [22]
Theo đồng tác giả Nguyễn Kỳ và Bùi Trọng Tuân giải thích: “Quản lí giáo dục là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống và hợp qui luật) của chủ thể quản lí đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơsở giáo dục là các Nhà trường), nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu
Trang 22phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu xã hội” [23]
Theo Phạm Minh Hạc: “Quản lí giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lí làm cho hệ vận hành theo đường lối, nguyên lý của Đảng thực hiện được các tính chất của nhà trường XHCN Việt Nam
mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy, giáo dục thế hệ trẻ, đưa thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục đến mục tiêu dự kiến tiến lên trạng thái về chất" [17]
Xét ở gốc độ vi mô: Theo tác giả Trần Kiểm cho rằng: “Quản lí giáo dục vi mô được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống
và hợp qui luật) của chủ thể quản lí đến tập thể GV, CNV, tập thể HS, cha mẹ HS và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển dục của nhà trường” [22] Theo Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lí nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lí giáo dục, để tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh” [35]
Như vậy, có thể kết luận rằng: Quản lí giáo dục chính là quá trình tác động có định hướng của ngành giáo dục, nhà quản lí giáo dục trong việc vận dụng nguyên lý, phương pháp chung nhất của khoa học nhằm đạt được những mục tiêu đề ra Những tác động đó thực chất là những tác động khoa học đến nhà trường, làm cho nhà trườngtổ chức một cách khoa học, có kế hoạch đảm bảo quá trình giáo dục đạt được mục tiêu giáo dục
Quản lý nhà trường
Trường học là tổ chức giáo dục, là một đơn vị cấu trúc của cơ sở hệ thống giáo dục quốc dân Xét về bản chất, trường học là tổ chức mang tính nhà nước – xã hội – sư phạm thể hiện bản chất giai cấp, bản chất xã hội và bản chất sư phạm
Quản lý nhà trường là một bộ phận của quản lý giáo dục, trong nhà trường, quản lý bao gồm nhiều nội dung khác nhau, như: quản lý đội ngũ giáo viên, quản lý học sinh; quản lý cơ sở vật chất, quản lý tài chính, quản lý hoạt động dạy học Trong đó, dạy học
và giáo dục trong sự thống nhất với nhau là hoạt động trung tâm của nhà trường Do đó, quản lý nhà trường thực chất là quản lý quá trình sư phạm của giáo viên; quản lý hoạt động học tập - tự giáo dục của học sinh diễn ra chủ yếu trong quá trình dạy học Vì vậy, trong nhà trường, hoạt động cơ bản là hoạt động giáo dục và hoạt động dạy học Theo
đó, đối tượng quản lý là hoạt động của người dạy, người học và các tổ chức sư phạm của nhà trường trong việc thực hiện các kế hoạch, chương trình giáo dục và đào tạo, nhằm đạt được mục tiêu đã quy định [1, tr.20]
Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lý trường học là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh” [17]
Có thể hiểu rằng: Quản lý nhà trường là hệ thống những tác động của chủ thể
Trang 23quản lý (hiệu trưởng) đến tập thể giáo viên, nhân viên, học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường để nghiên cứu các vấn đề liên quan
1.2.2 Khái niệm về giáo dục, kỹ năng sống và giáo dục kỹ năng sống
- Giáo dục
Theo ông John Dewey (1859 – 1952), nhà triết học, nhà tâm lí học và nhà cải cách giáo dục người Mỹ Ông cho rằng, cá nhân con người không bao giờ vượt qua được quy luật của sự chết và cùng với sự chết thì những kiến thức, kinh nghiệm mà cá nhân mang theo cũng sẽ biến mất Tuy nhiên, tồn tại xã hội lại đòi hỏi phải những kiến thức, kinh nghiệm của con người phải vượt qua được sự khống chế của sự chết để duy trì tính liên tục của sự sống xã hội Giáo dục là “khả năng” của loài người để đảm bảo tồn tại xã hội Ngoài ra, ông John Dewey cũng cho rằng, xã hội không chỉ tồn tại nhờ truyền dạy, nhưng còn tồn tại chính trong quá trình truyền dạy ấy Như vậy, theo quan điểm của ông John Dewey, ông cũng đề cập đến việc truyền đạt, nhưng ông nói rõ hơn
về mục tiêu cuối cùng của việc giáo dục, là dạy dỗ.[37]
- Kỹ năng sống
Theo WHO (1993): KNS là những KN mang tính tâm lý xã hội và KN giao tiếp được vận dụng trong những tình huống hằng ngày để tương tác một cách hiệu quả với người khác và giải quyết có hiệu quả những vấn đề, những tình huống của cuộc sống hằng ngày
Theo UNICEF (UNICEF Thái Lan, 1995): KNS là những hành vi cụ thể, thể hiện khả năng chuyển đổi kiến thức và thái độ thành hành động thích ứng trong cuộc sống KNS phải dựa trên nhận thức, thái độ và chuyển biến thành hành vi như một yêu cầu liên hoàn và có hướng đích
Theo Trần Trọng Thủy cho rằng kỹ năng là mặt kỹ thuật của hành động, con người nắm vững cách thức hành động nghĩa là con người nắm vững kỹ thuật hành động là có kỹ năng [40, tr.15]
Theo tác giả Lê Quang Sơn cho rằng: KN là khả năng vận dụng những dữ kiện, tri thức, khái niệm để làm sáng tỏ những dấu hiệu bản chất của sự vật, hiện tượng, giải quyết thành công những nhiệm vụ lý thuyết và thực tiễn xác định KN được tạo ra trên
cơ sở kiến thức, kiến thức cơ sở của KN phải phản ánh đầy đủ các thuộc tính chính yếu để đạt mục đích đặt ra trước hành động (KN) [38, tr.15]
Hoàng Thế Nhật (2015) cho rằng: “Kỹ năng sống với tư cách là đối tượng của giáo dục kỹ năng sống là năng lực tâm lý xã hội để đáp ứng và đối phó với những yêu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày” [30]
Lê Bích Ngọc (2009) xác định: “kỹ năng sống là những kỹ năng tinh thần hay những kỹ năng tâm lý, kỹ năng tâm lý - xã hội cơ bản giúp cho cá nhân tồn tại và thích ứng trong cuộc sống Những kỹ năng này giúp cho cá nhân thể hiện được chính mình cũng như tạo ra những nội lực cần thiết để thích nghi và phát triển kỹ năng sống còn được
Trang 24xem như một biểu hiện quan trọng của năng lực tâm lý xã hội giúp cho cá nhân vững vàng trước cuộc sống có nhiều thách thức nhưng cũng nhiều cơ hội trong thực tại” [28]
Từ nghiên cứu các quan điểm trên, theo quan điểm của tác giả: Kỹ năng sống là khả năng cá nhân con người có được thông qua giáo dục hoặc trải nghiệm thực tiễn, giúp cho con người ứng xử tích cực, hiệu quả với mọi biến đổi của đời sống xã hội, thích ứng với cuộc sống xã hội, sống mạnh khỏe và an toàn
- Giáo dục kỹ năng sống
Đối với lứa tuổi Mẫu giáo, việc giáo dục KNS là quá trình phát triển năng lực tâm lí - xã hội của trẻ để vượt qua những thách thức của cuộc sống, đồng thời làm thay đổi hành vi, thói quen có thể gây rủi ro Mang lại hiệu quả tiêu cực thành những hành
vi mang tính xây dựng, tích cực, hiệu quả để nâng cao chất lượng cuộc sống cá nhân
và quá trình phát triển bền vững cho xã hội Mục tiêu của giáo dục KNS là nhằm giúp trẻ thay đổi cách ứng xử của mình theo hướng tích cực, hiệu quả Chỉ có cách học dựa trên tự khám phá bản thân hoặc tự lĩnh hội từ các hoạt động giáo dục và giao tiếp với mọi người xung quanh thì mới giúp trẻ nhận bết và thay đổi căn bản hành vi của mình Bản chất của GDKNS chính là sự trải nghiệm với cuộc sống Giáo dục dựa vào sự trải nghiệm hay học tập qua kinh nghiệm dựa trên các hoạt động có hướng dẫn Đây là hình thức học tập gắn liền với các hoạt động có sự chuẩn bị ban đầu và có phản hồi, trong đó đề cao kinh nghiệm chủ quan của trẻ Trong hình thức học tập này, giáo viên chỉ đóng vai trò thúc đẩy việc trực tiếp trải nghiệm của học sinh, đảm bảo quá trình học tập và lĩnh hội kiến thức của trẻ có ý nghĩa lâu dài
Theo tác giả Nguyễn Thanh Bình, GDKNS là hình thành cho trẻ cách sống tích cực trong xã hội hiện đại, là xây dựng những hành vi lành mạnh và thay đổi những hành vi, thói quen tiêu cực trên cơ sở giúp người học có cả kiến thức, giá trị, thái độ và các kĩ năng thích hợp [5, tr.20]
Tác giả Lê Bích Ngọc cho rằng: GDKNS là quá trình tác động sư phạm có mục đích, có kế hoạch nhằm hình thành năng lực hành động tích cực, có liên quan với kiến thức và thái độ, giúp cá nhân ý thức về bản thân, quan hệ xã hội, giao tiếp, thực hiện công việc, ứng phó có hiệu quả với các yêu cầu, thách thức của cuộc sống hàng ngày, thông qua những mối liên nhân cách trong điều kiện sống cụ thể [29, tr.35]
Đối với trẻ Mẫu giáo, GDKNS cho trẻ được hiểu là giáo dục những kỹ năng mang tính cá nhân và xã hội Nhằm giúp các em có thể chuyển tải những gì mình hiểu biết và những gì mình cảm nhận cùng với những gì mình quan tâm thành những khả năng thực thụ Giúp trẻ biết phải làm gì, làm như thế nào trong những tình huống khác nhau của cuộc sống
Tóm lại, giáo dục kỹ năng sống là một bộ phận của quá trình giáo dục tổng thể, thực chất đó là rèn luyện năng lực tâm lý - xã hội cho con người và giúp họ có những hành vi tích cực, mang tính xây dựng, thay đổi những hành vi, thói quen tiêu cực trên cơ
sở trải nghiệm để có cả kiến thức, giá trị, thái độ và các kĩ năng thích hợp, giúp người
Trang 25học giải quyết được vấn đề và thích ứng tốt nhất trong cuộc sống Việc GDKNS cho trẻ
từ 5- 6 tuổi tại các trường Mẫu giáo là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch của các lực lượng giáo dục đến trẻ Giúp trẻ có những kiến thức về cuộc sống, khả năng làm chủ bản thân và ứng xử phù hợp trong các mối quan hệ trong xã hội, khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống hằng ngày, để có thể thích ứng tốt nhất với môi trường sống
1.2.3 Khái niệm về trường Mẫu giáo
Theo Điều lệ trường Mẫu giáo (ban hành kèm theo quyết định số BGD & ĐT ngày 24 tháng 12 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ GD & ĐT) đã quy định: Nhà trường là đơn vị cơ sở của ngành giáo dục được thành lập theo quy hoạch, kế hoạch của Nhà nước, nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục, được tổ chức theo các loại hình công lập, bán công, dân lập, tư thục Trường Mẫu giáo là đơn vị cơ sở của bậc học Mẫu giáo và cũng được tổ chức theo các loại hình như các bậc học khác [7]
04/2015/QĐ-1.2.4 Khái niệm quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ từ 5-6 tuổi tại các trường Mẫu giáo
Đối với bậc học Mẫu giáo, chủ thể gián tiếp quản lý hoạt động giáo dục KNS cho trẻ Mẫu giáo là các cán bộ quản lý của Phòng, Sở và Bộ GD&ĐT phụ trách giáo dục KNS Chủ thể quản lý trực tiếp đến hoạt động giáo dục KNS cho trẻ ở các trường Mẫu giáo là các cán bộ quản lý bao gồm: hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, tổ trưởng và các trưởng bộ phận trong trường Mẫu giáo; Trong đó, hiệu trưởng là người đứng đầu và quản lý chung Đối tượng quản lý hoạt động giáo dục KNS cho trẻ Mẫu giáo chính là hoạt động giáo dục KNS cho trẻ Mẫu giáo Mục đích quản lý hoạt động giáo dục KNS cho trẻ Mẫu giáo, nhằm đảm bảo chất lượng giáo dục KNS, hình thành những KNS cần thiết, hình thành khả năng hành động để thích ứng và làm chủ các tình huống trong cuộc sống
Quản lý hoạt động GDKNS trong trường Mẫu giáo chính là những công việc của nhà trường mà người cán bộ quản lý trường Mẫu giáo cần thực hiện những chức năng quản lý để tổ chức, thực hiện công tác GDKNS Đó chính là những hoạt động có ý thức, có kế hoạch và hướng đích của chủ thể quản lý tác động tới các hoạt động GDKNS trong nhà trường Nhằm huy động nguồn lực, thực hiện các chức năng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều phối, điều chỉnh, giám sát, một cách có hiệu quả các nguồn lực giáo dục gồm (nhân lực, vật lực, tài lực), nhằm hình thành cho trẻ Mẫu giáo những hành vi lành mạnh, tích cực Đồng thời thay đổi những hành vi thói quen tiêu cực, giúp trẻ có thể tự mình giải quyết được các vấn đề và thích ứng tốt nhất trong cuộc sống, đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện nhân cách cho trẻ phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội hiện nay
Quản lý hoạt động giáo dục KNS cho trẻ Mẫu giáo là hệ thống những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản
lý (Hiệu trưởng) đến tập thể cán bộ, GV, nhân viên, tập thể trẻ, cha mẹ trẻ và các lực
Trang 26lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường Nhằm thực hiện có chất lượng và có hiệu quả mục tiêu giáo dục KNS cho trẻ của nhà trường
Tóm lại, quản lý hoạt động GDKNS trong nhà trường được hiểu là một hệ thống những tác động sư phạm hợp lý và có hướng đích của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, các lực lượng xã hội trong và ngoài trường, nhằm huy động và phối hợp sức lực, trí tuệ của họ vào mọi mặt hoạt động GDKNS của nhà trường, hướng vào việc hoàn thành
có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục và rèn luyện KNS cho trẻ Mẫu giáo đã đề ra
1.3 Sự cấn thiết của hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ từ 5-6 tuổi tại các trường Mẫu giáo
1.3.1 Đặc điểm tâm lý lứa tuổi 5- 6 tuổi
1.3.1.1 Đặc điểm phát triển thể chất
Đây là giai đoạn trẻ tăng trưởng nhanh cả về cân nặng và chiều cao Tốc độ tăng trưởng này phụ thuộc vào nhiều yếu tố bên trong cũng như bên ngoài: yếu tố ditruyền, chế độ dinh dưỡng, bệnh tật, môi trường sống của trẻ lứa tuổi trẻ phát triển rất nhanh về hình thái và hoàn thiện chức năng các cơ quan, đồng thời trẻ rất nhạy cảm với các yếu tố thuận lợi cũng như bất lợi tác động đến bản thân [1]
Để theo dõi và điều chỉnh tốc độ tăng trưởng của trẻ, cần phải căn cứ vào biểu đồ tăng trưởng của trẻ theo công bố của WHO năm 2007; phấn đấu giữ cho trẻ
có tốc độ tăng trưởng nằm trong kênh A Đây là giai đoạn mà trẻ đang bước đầu hình thành những thói quen hành vi cơ bản Do đó, trong quá trình giáo dưỡng, GV
và các bậc cha mẹ trẻ cần kiên trì dạy và rèn luyện cho trẻ những thói quen, hành vi cần thiết; Từng bước nâng cao sự khéo léo trong việc phối hợp các hoạt động của các
bộ phận cơ thể, đặc biệt là khả năng linh hoạt của chân, tay và khả năng biểu đạt nhận thức của trẻ bằng ngôn ngữ [39]
1.3.1.2 Đặc điểm phát triển nhận thức
Theo Nguyễn Ánh Tuyết (2014), quá trình phát triển nhận thức của trẻ 5-6 tuổi là sự phát triển nối tiếp của giai đoạn 4-5 tuổi với các hiện tượng tâm lý như: tri giác, trí nhớ, tưởng tượng Ở mức độ cao hơn, thể hiện ở các điểm như: Mức độ phong phú của các kiểu loại nhận thức; mức độ chủ định các quá trình tâm lý rõ ràng, có ý thức hơn; tính mục đích hình thành và phát triển ở mức độ cao hơn; độ nhạy cảm của các giác quan tinh nhạy hơn; Khả năng kiềm chế các phản ứng tâm lý phát triển [42]
1.3.1.3 Đặc điểm phát triển ngôn ngữ
Đối với trẻ từ 5-6 tuổi, các hình thức ngôn ngữ có kết cấu chặt chẽ được hình thành, tính biểu cảm của ngôn ngữ được phát triển Chức năng điều khiển của ngôn ngữ được phát triển, biểu hiện ở việc hiểu các tác phẩm văn học, sự thực hiện hướng dẫn và yêu cầu của người lớn Chức năng lập kế hoạch của ngôn ngữ được hình thành khi giải quyết các nhiệm vụ thực hành và nhiệm vụ trí tuệ Ngôn ngữ của trẻ trở thành hoạt động đặc biệt dưới các hình thức như: sự lắng nghe, đàm thoại, thảo luận và kể
Trang 27chuyện Theo Nguyễn Ánh Tuyết (2014), những biểu hiện cụ thể của quá trình phát triển ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ của trẻ từ 5-6 tuổi thể hiện ở các hướng: Trẻ nắm vững ngữ
âm và ngữ điệu khi sử dụng tiếng mẹ đẻ (biết đọc diễn cảm, biết dùng điệu bộ bổ sung cho ngôn ngữ nói); vốn từ và cơ cấu ngữ pháp phát triển Ngôn ngữ trẻ giai đoạn mang các tính chất đặc trưng: (i) Ngôn ngữ giải thích: trẻ có nhu cầu nhận sự giải thích và cũng thích giải thích cho các bạn; (ii) Ngôn ngữ tình huống (hoàn cảnh) do giao tiếp với người xung quanh bằng những thông tin mà trẻ trực tiếp tri giác được trong khung cảnh; (iii) Trẻ có thể diễn đạt mạch lạc, do vốn từ danh từ chiếm 50% nên câu nói của trẻ thường ngắn gọn, rõ ràng; (iv) Tính địa phương trong ngôn ngữ nền văn hóa của địa phương, cộng đồng thể hiện rõ trong ngôn ngữ của trẻ (nói ngọng, nói mất dấu ); (v) Tính cá nhân bộc lộ rõ qua các sắc thái khác nhau của trẻ, đặc biệt ở chức năng ngôn ngữ biểu cảm [42]
1.3.1.4 Đặc điểm phát triển tự ý thức
Trẻ từ 5-6 tuổi bắt đầu hiểu được mình là người như thế nào, có những phẩm chất gì, những người xung quanh đối xử với mình ra sao, tại sao mình lại có hành động này hay hành động khác Sự tự ý thức (ý thức bản ngã) được thể hiện rõ nhất trong sự
tự đánh giá về thành công hay thất bại của mình, về những ưu điểm hay khuyết điểm của bản thân, về những khả năng và cả sự bất lực Ngoài ra, nó còn được biểu hiện rõ trong sự phát triển giới tính của trẻ Ở tuổi này, trẻ không chỉ nhận ra mình là trai hay gái, mà còn biết rõ ràng nếu mình là trai hay gái thì hành vi phải thể hiện như thế nào cho phù hợp với giới tính của mình Sự tự ý thức được xác định rõ ràng giúp trẻ điều khiển và điều chỉnh hành vi phù hợp với các chuẩn mực và quy tắc xã hội, từ đó mà hành vi của trẻ mang tính xã hội, tính nhân cách đậm nét hơn trước [26]
1.3.1.5 Đặc điểm giao tiếp
Giao tiếp của trẻ Mẫu giáo là quá trình tiếp xúc tâm lý của trẻ với những người khác Nhằm mục đích truyền đạt, tiếp nhận, trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm và hành động của trẻ với các chủ thể qua việc hiểu ngôn ngữ và diễn đạt ngôn ngữ bằng lời nói, nét mặt, cử chỉ và điệu bộ Thông qua giao tiếp, nhân cách của trẻ được hình thành và phát triển [41]
Ở trẻ Mẫu giáo có 4 hình thức giao tiếp được thay thế nhau: giao tiếp nhân cách tình huống, giao tiếp công việc tình huống, giao tiếp nhận thức ngoài tình huống và giao tiếp nhân cách ngoài tình huống Ở cuối giai đoạn tuổi Mẫu giáo đã xuất hiện hình thức giao tiếp nhân cách ngoài tình huống với người lớn Trẻ tập trung vào “thế giới con người” chứ không phải thế giới đồ vật Trong các cuộc trò chuyện của trẻ, các chủ đề về cuộc sống, về công việc của người lớn và các mối quan hệ qua lại của họ chiếm ưu thế chứ không phải là các đồ vật hay các động vật và thiên nhiên Nhờ sự hướng dẫn của người lớn, trẻ nắm được những chuẩn mực đạo đức, đánh giá những hành vi của mình và hành vi của mọi người xung quanh Trẻ biết đòi hỏi mọi người công nhận thành tích của bản thân, vạch ra sự thất bại của trẻ khác và giấu giếm những
Trang 28thất bại của bản thân Trẻ thường hay kể về bản thân, về cái gì trẻ thích và không thích, chúng chia sẻ với bạn các nhận thức, “kế hoạch cho tương lai”
Tóm lại, với những đặc điểm mang tính đặc thù như đã nêu ở trên, để giúp trẻ từ 5-6 tuổi học tập một cách có hiệu quả khi bước vào lớp 1 ở trường tiểu học, trẻ cần được chuẩn bị một cách toàn diện về thể chất, trí tuệ, ngôn ngữ và giao tiếp - xã hội Trong đó, việc chuẩn bị cho trẻ về kỹ năng sống đóng vai trò hết sức quan trọng Nếu trẻ được chuẩn bị tốt về kỹ năng sống, các em sẽ dễ dàng hòa nhập với môi trường mới với tâm thế sẵn sàng để bắt đầu cuộc sống mới ở trường học một cách vui vẻ, cảm thấy
tự tin và có tinh thần trách nhiệm
1.3.2 Sự cần thiết GDKNS cho trẻ từ 5-6 tuổi trong các trường Mẫu giáo
Luật Giáo dục năm 2005, được sửa đổi, bổ sung năm 2009 đã quy định mục tiêu giáo dục Mẫu giáo như sau: “Giáo dục Mẫu giáo tổ chức thực hiện, chăm sóc, giáo dục trẻ từ ba tháng tuổi đến sáu tuổi Mục tiêu của giáo dục Mẫu giáo là giúp trẻ phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ vào học lớp 1” (Điều 21 - Điều 22) [8]
Cụ thể, mục tiêu của giáo dục Mẫu giáo được xác định trong Chương trình GDMG (2017) gồm:
- Giúp trẻ phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu
tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1;
- Hình thành và phát triển ở trẻ những chức năng tâm sinh lý, năng lực và phẩm chất mang tính nền tảng, những KNS cần thiết phù hợp với lứa tuổi;
- Khơi dậy và phát triển tối đa những khả năng tiềm ẩn, đặt nền tảng cho việc học
ở các cấp học tiếp theo và cho việc học tập suốt đời
Theo “Báo cáo tổng quan tình hình giáo dục và chăm sóc trẻ thơ” do Ủy ban Dân
số, Gia đình và Trẻ Việt Nam phối hợp với Ngân hàng Phát triển Châu Á thực hiện năm 2005, giáo dục Mẫu giáo được xác định là việc hỗ trợ trẻ để trẻ phát triển tốt nhất theo hướng phát triển toàn diện, lồng ghép, bằng cách tập trung vào các kỹ năng khác nhau về xã hội, tình cảm và nhận thức, những kỹ năng này giúp trẻ sẵn sàng cho việc học hỏi, chuẩn bị vào học tiểu học và tham gia đời sống xã hội [20]
Như vậy, giáo dục Mẫu giáo là cấp học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, với mục tiêu hàng đầu là giáo dục trẻ phát triển toàn diện (về các mặt phát triển thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm, kỹ năng xã hội và thẫm mỹ), chuẩn bị tốt tâm thế cho trẻ bước vào tiểu học cũng như đặt nền tảng cho việc học tập suốt đời
1.4 Hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ từ 5-6 tuổi tại các trường Mẫu giáo
1.4.1 Mục tiêu của hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ từ 5-6 tuổi tại trường Mẫu giáo
Mục tiêu GDKNS cho trẻ ở trường Mẫu giáo là nhằm giúp trẻ có kinh nghiệm trong cuộc sống, biết được những điều nên làm và không nên làm, giúp trẻ tự tin, chủ
Trang 29động và biết cách xử lí các tình huống trong cuộc sống, khơi gợi khả năng tư duy sáng tạo của trẻ, đặt nền tảng cho trẻ trở thành người có trách nhiệm và có cuộc sống hài hòa trong tương lai
Theo tác giả Nguyễn Thanh Bình [5, tr.22], mục tiêu của hoạt động GDKNS cụ thể đối với trẻ cuối độ tuổi Mẫu giáo như sau:
- Phát triển thể lực: trẻ có một số KNS và thói quen tự phục vụ liên quan đến sức khỏe, an toàn, vệ sinh thân thể, vệ sinh ăn uống, vệ sinh môi trường sinh hoạt; biết cách phòng tránh một số bệnh thông thường; nhận biết những nơi không an toàn, nguy hiểm và cách phòng tránh,
- Phát triển nhận thức: trẻ có một số hiểu biết về môi trường tự nhiên và xã hội gần gũi; có khả năng quan sát, so sánh, phân loại, phán đoán, phân tích để tìm hiểu mối quan hệ nhân quả đơn giản
- Phát triển ngôn ngữ: trẻ nghe và hiểu lời nói trong giao tiếp; có khả năng dùng lời nói để diễn đạt ý nghĩ, cảm xúc và tình cảm của mình
- Phát triển tình cảm, ứng xử và quan hệ xã hội: trẻ mạnh dạn, tự tin, lễ phép trong giao tiếp, có hành vi ứng xử đúng đắn với bản thân, với mọi người xung quanh; biết chấp nhận sự khác nhau của bản thân, bạn bè và những người xung quanh; bước đầu biết tôn trọng, hòa nhập, chia sẻ, cộng tác với bạn bè trong nhóm lớp và những người gần gũi; có ý thức trách nhiệm và kiên trì thực hiện công việc được giao đến cùng; thực hiện các quy tắc đơn giản, nếp sống văn minh trong gia đình, trường lớp và nơi công cộng; yêu quý, quan tâm, giúp đỡ người thân trong gia đình, bạn bè và cô giáo ở lớp; yêu quý các vật nuôi, cây trồng và bước đầu có ý thức bảo vệ môi trường.Rèn luyện một số phẩm chất, KNS phù hợp; biết cách xử lý tình huống trong từng hoàn cảnh cụ thể, bày tỏ tình cảm phù hợp, đúng lúc; tự lập trong các tình huống quen thuộc; có một số kỹ năng tự phục vụ, hợp tác, có trách nhiệm
1.4.2 Nội dung hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ từ 5-6 tuổi tại trường Mẫu giáo
Đối với bậc học Mẫu giáo thì nội dung hoạt động GDKNS trong chương trình GDMG hết sức đơn giản, gần gũi, thiết thực với trẻ Theo tác giả Lê Bích Ngọc [28], những KNS cần hình thành cho trẻ vào cuối độ tuổi Mẫu giáo, bao gồm 7 nhóm kỹ năng sau:
Trang 30- Kỹ năng ăn uống: ăn thức ăn nấu chín, uống nước đun sôi; ăn không rơi vãi; biết mời mọi người trước khi ăn; tự dọn dẹp bàn ăn gọn gàng, sạch sẽ…
- Kỹ năng vệ sinh cá nhân: đi vệ sinh đúng nơi quy định, sử dụng đồ dùng vệ sinh đúng cách; tự đánh răng, rửa mặt, rửa tay bằng xà phòng, chải tóc gọn gàng; tự dọn dẹp đồ dùng cá nhân gọn gàng, sạch sẽ…
- Kỹ năng tự bảo vệ sức khỏe: biết mặc trang phục phù hợp với thời tiết; giữ gìn quần áo sạch sẽ, ăn mặc gọn gàng; nhận biết một số biểu hiện khi ốm, nguyên nhân và cách phòng tránh
- Kỹ năng tự bảo vệ bản thân và phòng tránh các tai nạn thông thường: nhận biết
và phòng tránh những hành động hay vật dụng nguy hiểm, những nơi không an toàn; nhận biết một số trường hợp khẩn cấp nguy hiểm và gọi người giúp đỡ
1.4.2.4 Nhóm kỹ năng giao tiếp
- Kỹ năng lắng nghe: nghe chăm chú, nhìn vào người đối thoại; không ngắt lời, không nói leo và chờ đợi đến lượt
- Kỹ năng bày tỏ ý kiến: mạnh dạn bày tỏ ý kiến của mình bằng nhiều cách: điệu
bộ, cử chỉ, nét mặt, tranh vẽ, lời nói; nói rõ ràng, không nói tục
- Kỹ năng thân thiện: chào hỏi khi gặp gỡ, tạm biệt khi chia tay; cảm ơn khi được giúp đỡ, xin lỗi khi làm phiền, khi có lỗi; lễ phép với người lớn, tôn trọng bạn, nhường nhịn em bé
Trang 31- Kỹ năng diễn đạt rõ ràng, biểu cảm: sử dụng vốn từ phong phú, lời nói biểu cảm; nói rõ ràng, tròn câu, không ê a, ấp úng, lí nhí
- Kỹ năng đọc sách, viết chữ: hiểu được nghĩa của một số loại ký hiệu như: tranh
vẽ, biển báo, chữ viết, Thích viết ra những ý nghĩa của mình bằng nhiều loại ký hiệu: tranh vẽ, biển báo, chữ viết,
1.4.5.7 Nhóm kỹ năng nhận thức
- Kỹ năng quan sát: quan sát những đặc điể m nổi bật về màu sắc, hình dạng, kích thước, chuyển động, vị trí trong không gian của sự vật, hiện tượng xung quanh; quan sát bằng sự cảm nhận của các giác quan
- Kỹ năng so sánh: so sánh những đặc điểm giống nhau và khác nhau của sự vật bằng các giác quan hay đếm, đong, đo, đặt chồng, đặt cạnh hay đặt kề
- Kỹ năng phân loại: phân loại các sự vật gần gũi theo một hoặc hai đặc điểm về màu sắc, hình dạng, kích thước, chất liệu, công dụng, tính chất,
- Kỹ năng tưởng tượng: thể hiện sự tưởng tượng của mình theo nhiều cách khác nhau: vui chơi, vẽ, xé dán, nặn, hát, múa
- Kỹ năng ghi nhớ có chủ định: ghi nhớ những sự vật, sự việc gần gũi: nơi để đồ dùng, đồ chơi, địa chỉ gia đình, các số điện thoại cần thiết, công việc làm trong ngày, những ngày kỉ niệm, ngày lễ của gia đình,
1.4.3 Hình thức và phương pháp tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ từ 5-6 tuổi
1.4.3.1 Hình thức giáo dục kỹ năng sống cho trẻ từ 5-6 tuổi
GDKNS cho trẻ từ 5-6 tuổi có thể tiến hành trong tất cả các hoạt động của trẻ hàng ngày như: vui chơi, học tập, chăm sóc sức khỏe, lao động vừa sức, lễ hội, tham quan, Đây là những hoạt động có nhiều thuận lợi để giáo dục, rèn luyện cho các em những thao tác, kỹ năng, thói quen, hành vi tốt Mỗi hoạt động có ưu thế riêng đối với việc dạy những KNS cần thiết với cuộc sống của trẻ
* GDKNS thông qua hoạt động vui chơi
Vui chơi là hoạt động chủ đạo, đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống của trẻ Mẫu giáo, giúp trẻ phát triển toàn diện Các loại trò chơi được tổ chức trong chương trình GDMG có thể sử dụng để GDKNS cho trẻ là trò chơi dân gian, trò chơi vận động, trò chơi đóng vai, trò chơi xây dựng-lắp ghép, trò chơi đóng kịch, trò chơi học tập, trò chơi sử dụng phương tiện công nghệ hiện đại Thông qua trò chơi, trẻ được phát triển các kỹ năng ý thức về bản thân, quan hệ xã hội, giao tiếp, thực hiện công việc, ứng phó với những thay đổi Giaos viên cần xác định những KNS cần hướng dẫn trẻ, chọn trò chơi phù hợp với KNS đó
* GDKNS thông qua hoạt động học
Hoạt động học là một hoạt động cơ bản trong trường Mẫu giáo Tổ chức hoạt động học có hiệu quả là góp phần thực hiện tốt nội dung trong chương trình giáo dục
và phát triển trẻ toàn diện Qua các hoạt động này, GV tập cho trẻ KN trình bày, trao
Trang 32đổi, hợp tác với bạn, làm việc theo nhóm, sáng tạo, Vì vậy, hoạt động học là hình thức quan trọng để GDKNS cho trẻ Mẫu giáo
Xuất phát từ đặc điểm nhận thức và hoạt động chủ đạo của trẻ từ 5-6 tuổi là hoạt động chơi, hoạt động học ở lứa tuổi Mẫu giáo được tổ chức chủ yếu dưới hình thức chơi Việc học của trẻ ở lứa tuổi này được tổ chức có chủ định theo kế hoạch dưới sự hướng dẫn trực tiếp của giáo viên với các hoạt động như: thể dục; làm quen với toán; khám phá khoa học; khám phá xã hội; kể chuyện- đọc thơ; làm quen với chữ cái; tạo hình; âm nhạc.Với hình thức này, trẻ tiếp thu nội dung kiến thức, kỹ năng có hệ thống dưới sự hướng dẫn trực tiếp của giáo viên Thông qua hoạt động, trẻ lĩnh hội, củng cố
và chính xác hóa các kiến thức, kỹ năng; hình thành hành vi, thái độ và những năng lực cần thiết để tham gia vào các hoạt động học tập ở giai đoạn sau này
* GDKNS thông qua hoạt động lao động
Hoạt động lao động đối với trẻ từ 5-6 tuổi không nhằm mục đích tạo ra sản phẩm vật chất mà được sử dụng như một phương tiện giáo dục toàn diện cho trẻ Qua đó, rèn luyện trẻ các kỹ năng lao động tự phục vụ, biết tiết kiệm, hứng thú lao động, ý thức sẵn sàng tham gia lao động; kỹ năng tổ chức công việc của mình và công việc chung; tạo mối quan hệ tốt đẹp với các bạn trong quá trình lao động Hoạt động lao động của trẻ Mẫu giáo được tổ chức dưới các hình thức:
- Lao động tự phục vụ: Giáo viên rèn luyện và củng cố thói quen tự phục vụ qua các thời điểm sinh hoạt hằng ngày của trẻ ở trường, đồng thời nhắc nhở phụ huynh luôn tạo điều kiện cho trẻ thực hiện ở nhà một cách độc lập
- Lao động trực nhật: rèn luyện ở trẻ kỹ năng tổ chức công việc của mình và công việc chung, biết chuẩn bị và biết thu dọn dụng cụ sau khi làm việc, hình thành tinh thần
tự giác, ý thức trách nhiệm với công việc và thói quen hoàn thành công việc của mình
- Lao động tập thể: giáo dục trẻ biết thỏa thuận, phân công công việc, phối hợp với nhau để hoàn thành công việc
* GDKNS thông qua hoạt động ăn, ngủ, vệ sinh cá nhân
Đây là hoạt động nhằm hình thành cho trẻ một số nền nếp, thói quen trong sinh hoạt, đáp ứng nhu cầu sinh lý của trẻ, tạo cho trẻ trạng thái thoải mái, vui vẻ Với hình thức này, việc học của trẻ được thực hiện một cách ngẫu nhiên Trẻ tiếp thu kiến thức,
kỹ năng, kinh nghiệm sống một cách tự nhiên, thông qua các hoạt động sinh hoạt hằng ngày của trẻ trong trường Mẫu giáo
1.4.3.2 Phương pháp thực hiện GDKNS cho trẻ Mẫu giáo
Để GDKNS cho trẻ một cách hiệu quả, giáo viên có thể sử dụng các phương pháp sau:
* Phương pháp trực quan-minh họa (quan sát, làm mẫu, minh họa):
Phương pháp này cho trẻ quan sát, tiếp xúc, giao tiếp với các đối tượng, phương tiện (vật thật, đồ chơi, tranh ảnh), hành động mẫu Thông qua việc sử dụng các giác quan kết hợp với lời nói, nhằm tăng cường vốn hiểu biết, phát triển tư duy và ngôn ngữ của trẻ Để
Trang 33hình thành và có được những KNS một cách bền vững, trẻ cần được quan sát, bắt chước, tập mẫu, thực hành thường xuyên trong cuộc sống hàng ngày
* Phương pháp nêu gương-đánh giá
Nêu gương: sử dụng các hình thức khen, động viên phù hợp, đúng lúc, đúng chỗ Biểu dương trẻ là chính
Đánh giá: thể hiện thái độ đồng tình hoặc chưa đồng tình của người lớn, của bạn bè trước việc làm, hành vi, cử chỉ của trẻ Từ đó đưa ra nhận xét, tự nhận xét trong từng tình huống hoặc hoàn cảnh cụ thể Không sử dụng các hình phạt làm ảnh hưởng đến sự phát triển tâm sinh lý của trẻ
* Phương pháp dùng lời (trò chuyện, đàm thoại):
Sử dụng các phương tiện ngôn ngữ nhằm truyền đạt và giúp trẻ thu nhận thông tin, kích thích trẻ suy nghĩ, chia sẻ ý tưởng, bộc lộ những cảm xúc, gợi nhớ những hình ảnh
và sự kiện bằng lời nói Giáo viên nên tận dụng các thời điểm trong ngày để trò chuyện với trẻ về các mối quan hệ, các hành vi ứng xử đúng, sai của con người với con người, giữa con người với môi trường xung quanh, Giải thích để trẻ hiểu vì sao cần phải ứng
xử như vậy Khuyến khích trẻ suy nghĩ, chia sẻ cảm xúc, ý tưởng, thái độ tích cực đối với con người và môi trường xung quanh Khi trò chuyện, giải thích cho trẻ nên dùng câu từ đơn giản, ngắn gọn, rõ ràng, cụ thể, gắn với kinh nghiệm sống của trẻ
* Phương pháp thực hành, trải nghiệm:
Phương pháp này giúp trẻ bắt chước, tập thử và tích cực thực hành thường xuyên các KNS, bao gồm: phương pháp thực hành thao tác với đồ vật, đồ chơi; phương pháp dùng trò chơi; phương pháp nêu tình huống có vấn đề; phương pháp luyện tập
* Phương pháp giáo dục bằng tình cảm và khích lệ:
Phương pháp dùng cử chỉ điệu bộ kết hợp với lời nói thích hợp để khuyến khích
và ủng hộ trẻ hoạt động nhằm khơi gợi niềm vui, tạo niềm tin, cổ vũ sự cố gắng của trẻ trong quá trình hoạt động, qua đó giáo dục trẻ KNS
1.4.4 Môi trường tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ từ 5-6 tuổi tại trường Mẫu giáo
Môi trường giáo dục có ảnh hưởng đến sự thành công trong học tập của trẻ Cả hai môi trường bên trong và bên ngoài lớp học đều rất quan trọng đối với việc dạy và học Vì vậy, việc thiết kế môi trường rất quan trọng Đối với nhà giáo dục, việc xây dựng môi trường giáo dục phù hợp sẽ là phương tiện để phát triển phù hợp với từng cá nhân trẻ và từng lứa tuổi Với cha mẹ trẻ và xã hội, quá trình xây dựng môi trường giáo dục sẽ thu hút được sự tham gia của các bậc cha mẹ trẻ và sự đóng góp của cộng đồng để giúp trẻ phát triển Vì vậy, nhà trường cần phối hợp với Ban đại diện cha mẹ học sinh, các tổ chức đoàn thể xã hội và cá nhân, nhằm tạo mối quan hệ gắn kết giữa nhà trường, gia đình và xã hội để thống nhất quan điểm, nội dung, phương pháp giáo dục giữa nhà trường, gia đình và xã hội Huy động mọi lực lượng của cộng đồng chăm
lo sự nghiệp giáo dục, xây dựng phong trào học tập và môi trường giáo dục lành mạnh,
Trang 34góp phần xây dựng cơ sở vật chất nhà trường Sự phối hợp đó có thể tiến hành dưới các hình thức:
* Với gia đình
- Họp toàn thể cha mẹ trẻ Mẫu giáo của lớp theo định kỳ, đột xuất
- Chỉ đạo giáo viên chủ nhiệm thường xuyên trao đổi, tuyên truyền kiến thức chăm sóc và giáo dục trẻ cho PHHS thông qua góc tuyên truyền hay trao đổi trực tiếp trong giờ đón, trả trẻ
- Mời PHHS tham gia và cùng phối hợp tổ chức các chuyên đề, trao đổi tọa đàm
về các vấn đề liên quan đến GDKNS cho trẻ
- Phối hợp với gia đình thông qua Ban đại diện cha mẹ trẻ Mẫu giáo ở trường
- Trao đổi qua điện thoại, thư tín với phụ huynh
- Xây dựng kênh thông tin thường xuyên giữa gia đình và nhà trường từ nhiều phía
* Với các đoàn thể và các lực lượng xã hội
- Nhà trường phối hợp chặt chẽ với Hội Phụ nữ để tạo ra sự hỗ trợ trực tiếp, làm tốt công tác tuyên truyền, hướng dẫn kiến thức nuôi dạy trẻ trong các bậc cha mẹ và cộng đồng
- Nhà trường phối hợp với Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh ở địa phương để xây dựng chi đoàn trường vững mạnh, nòng cốt trong mọi hoạt động và gương mẫu thực hiện mục tiêu giáo dục
- Nhà trường phối hợp với Y tế địa phương trong việc bảo vệ, chăm sóc sức khỏe trẻ và cán bộ, giáo viên, nhân viên nhà trường
- Nhà trường phối hợp với trường Tiểu học trong quan hệ nối tiếp chuẩn bị tâm thế cho trẻ từ 5-6 tuổi bước vào lớp Một
- Nhà trường phối hợp với các tổ chức, cá nhân khác, nhằm giúp nhà trường cải thiện các điều kiện về cơ sở vậy chất để chăm sóc và giáo dục trẻ và nâng cao hiệu quả giáo dục
1.4.5 Đánh giá kết quả tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ từ
5-6 tuổi tại trường Mẫu giáo
Kiểm tra đánh giá được tiến hành trong cả quá trình quản lý hoạt động CSGD trẻ nói chung và công tác GDKNS nói riêng của nhà trường Kiểm tra thường đi liền với đánh giá Với từng cá nhân, từng bộ phận đánh giá để họ tự nhận thấy khả năng của mình, khắc phục những hạn chế để vươn lên hoàn thành nhiệm vụ như mục tiêu đã đề
ra Thông qua hoạt động kiểm tra đánh giá thường xuyên và định kì, thu nhận được thông tin đầy đủ, chính xác, kíp thời Giúp Hiệu trưởng ban hành những quyết định chính xác, kịp thời đảm bảo thực hiện kế hoạch và mục tiêu của nhà trường Những yêu cầu và nội dung cụ thể của kiểm tra đánh giá công tác tăng cường GDKNS cho trẻ bám sát mục tiêu GDKNS cho trẻ đã đề ra, bao gồm:
* Kiểm tra, đánh giá công tác tăng cường GDKNS của GV
Trang 35Để kiểm tra, đánh giá công tác GDKNS của GV, Hiệu trưởng phải:
- Xây dựng được tiêu chí đánh giá
- Xác định được hình thức kiểm tra: đọc báo cáo, nghe báo cáo, dự giờ hoạt động
sư phạm của GV, kiểm tra hồ sơ GV, việc chuẩn bị phương tiện, đồ dùng dạy học, kiểm tra trực tiếp nền nếp học sinh, kiểm tra kỹ năng nghiệp vụ GDKNS; trực tiếp phỏng vấn đối tượng được kiểm tra Kiểm tra, đánh giá cá nhân trong và ngoài nhà trường từ nhiều kênh thông tin khác nhau
- Tổng kết đánh giá, xếp loại từ đó khen thưởng và góp ý sửa sai kịp thời, có những điều chỉnh hợp lý nhằm thực hiện tốt những mục tiêu đề ra
* Kiểm tra đánh giá sự phát triển về các KNS của trẻ Mẫu giáo
Kiểm tra đánh giá sự phát triển về các KNS của trẻ Mẫu giáo là khâu cuối cùng của quá trình GDKNS cho trẻ, giúp giáo viên thu được những thông tin từ trẻ, là cơ sở thực tế để giáo viên tự đánh giá khả năng tổ chức hoạt động của mình, giúp giáo viên
tự điều chỉnh, tự rèn luyện nghiệp vụ sư phạm Gúp Hiệu trưởng đánh giá một cách chính xác chất lượng hoạt động GDKNS cho trẻ của nhà trường, trên cơ sở đó có những chủ trương, biện pháp chỉ đạo, uốn nắn kịp thời Đây là cơ sở để các cấp quản
lý đánh giá kết quả giáo dục toàn diện của nhà trường
Đánh giá sự phát triển KNS của trẻ bao gồm đánh giá trẻ hằng ngày, đánh giá trẻ cuối chủ đề và đánh giá cuối độ tuổi Cần phân tích, đối chiếu với mục tiêu tăng cường GDKNS, kết quả thực tế trên trẻ nhằm theo dõi sự phát triển của trẻ và điều chỉnh kế hoạch tăng cường GDKNS cho trẻ
Để việc đánh giá đạt được mục tiêu đề ra, Hiệu trưởng cần phải bám sát vào những nội dung đánh giá, các mức đánh giá, sử dụng các hình thức đánh giá phù hợp
và tuân theo một quy trình đánh giá khoa học Sau mỗi đợt kiểm tra đánh giá, Hiệu trưởng chỉ đạo biểu dương những gương điển hình trong công tác GDKNS, đồng thời động viên, nhắc nhở những cá nhân thực hiện chưa tốt
1.5 Nội dung công tác quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ từ
5-6 tuổi tại các trường Mẫu giáo
1.5.1 Quản lý mục tiêu của hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ Mẫu giáo
đã định hướng đúng trong việc chuẩn bị nội dung chương trình, lập kế hoạch giảng dạy, giáo dục Do đó, mục tiêu GDKNS thông qua cho trẻ cần được trình bày một cách
rõ ràng, phổ biến một cách công khai, rộng rãi đến tất cả những đối tượng liên quan
Trang 36đến hoạt động GDKNS trong nhà trường, nhất là đội ngũ CBQL, GV, những người trực tiếp thực hiện mục tiêu Điều đó được thể hiện qua các hoạt động sau:
- Nhà trường nắm vững và thực hiện theo các văn bản quy định của Bộ Giáo dục
và Đào tạo, Sở Giáo dục và Đào tạo và Phòng Giáo dục và Đào tạo về công tác GDKNS Giáo viên có nhận thức đúng đắn và tích cực tham gia công tác tăng cường GDKNS cho trẻ Mẫu giáo
- Tác động mạnh mẽ về tính tích cực của chương trình, nội dung, hình thức, phương pháp GDKNS và các điều kiện hỗ trợ cho hoạt động GDKNS cho trẻ từ 5-6 tuổi tại các trường Mẫu giáo
- Tác động sâu rộng và bền vững của hoạt động tăng cường GDKNS được thể hiện qua kết quả đạt được ở trẻ từ 5-6 tuổi về sự phát triển toàn diện, qua sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường với các lực lượng giáo dục khác
1.5.2 Quản lý nội dung của hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ Mẫu giáo từ 5-6 tuổi
1.5.2.1 Quản lý kế hoạch, nội dung, chương trình, hình thức thực hiện giáo dục
kĩ năng sống
Việc quản lý xây dựng kế hoạch giáo dục KNS cho trẻ từ 5-6 tuổi là việc làm quan trọng, cần thiết trong công tác quản lý giáo dục của các nhà quản lý và Ban giám hiệu các trường Mẫu giáo Đây là một quá trình xác định những mục tiêu, nội dung, chương trình hành động và các hình thức, biện pháp tổ chức, thời gian tiến hành, chỉ tiêu cần đạt để thực hiện được những mục tiêu đó trong tương lai
Việc xây dựng kế hoạch hoạt động giáo dục KNS cho trẻ giúp người quản lý tư duy một cách có hệ thống để tiên liệu các tình huống có thể xảy ra Phối hợp với các nguồn lực trong và ngoài nhà trường để tổ chức việc giáo dục KNS cho trẻ từ 5-6 tuổi
có hiệu quả hơn Tập trung vào các mục tiêu, chính sách của Đảng, Nhà nước và của Ngành giáo dục trong việc giáo dục KNS cho trẻ từ 5-6 tuổi Nắm vững các nhiệm vụ
cơ bản của nhà trường trong việc giáo dục KNS cho trẻ để phối hợp với các cán bộ, giáo viên, nhân viên khác, sẵn sàng ứng phó và đối phó với những thay đổi của môi trường bên ngoài Để việc xây dựng kế hoạch giáo dục KNS cho trẻ từ 5-6 tuổi đạt kết quả cao, người quản lý phải dựa trên tình hình thực tế của học sinh, thực trạng về số lượng và chất lượng đội ngũ giáo viên nhà trường trong năm học, tình hình kinh tế - xã hội của địa phương mà trường mình đóng Xác định những nội dung, yêu cầu, biện pháp cho thích hợp Việc nắm vững tình hình thực tế đội ngũ giáo viên và trẻ phải bao gồm tình hình mang tính thường xuyên, lâu dài và phổ biến và tình hình có tính chất thời sự, cá biệt, có thể ảnh hưởng ít nhiều đối với tập thể nhà trường
1.5.2.2 Quản lý, xây dựng đội ngũ giáo viên thực hiện giáo dục kĩ năng sống trong nhà trường
Đội ngũ giáo viên là nòng cốt quyết định chất lượng giáo dục học sinh Xây dựng đội ngũ giáo viên có năng lực giáo dục KNS cho trẻ từ 5-6 tuổi là đặc biệt quan trọng,
Trang 37nó ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng giáo dục KNS cho trẻ Đội ngũ giáo viên có năng lực giáo dục KNS cho trẻ từ 5-6 tuổi phải là những cô giáo tâm huyết, thương yêu trẻ,
có kinh nghiệm thực tế, có vốn kiến thức nhất định về KNS, có khả năng hợp tác, cuốn hút trẻ, biết lắng nghe và chia sẻ với các em, hiểu tâm sinh lý lứa tuổi trẻ Do vậy rất cần
sự chỉ đạo của Hiệu trưởng để khuyến khích, động viên, chọn lựa đội ngũ giáo viên phù hợp, chất lượng, nhiệt tình, tận tâm để giáo dục KNS cho trẻ đạt hiệu quả
Kể từ năm học 2010-2011, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Chỉ thị dạy tích hợp KNS vào các môn học và hoạt động trong các nhà trường Để tích hợp được nội dung giáo dục KNS vào bài giảng, giáo viên cần phải linh hoạt, khéo léo điều khiển giờ dạy Thầy trò cùng tích cực làm việc để có thể chuyển tải và lĩnh hội đầy đủ nội dung kiến thức của bài học một cách nhẹ nhàng, vừa nắm được kiến thức của bài học vừa nhận thức được giá trị của cuộc sống Từ đó hình thành các KNS cho bản thân Muốn thực hiện được nội dung trên các nhà quản lý một mặt phải lập kế hoạch chi tiết, cụ thể cho hoạt động Mặt khác, cần phải tổ chức tập huấn, hội thảo, tọa đàm
để nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm cho đội ngũ giáo viên, đồng thời phân cấp quản lý cho đội ngũ tổ trưởng, tổ phó, nhóm trưởng chuyên môn để thống nhất việc tích hợp giáo dục KNS vào từng chương, từng bài cụ thể Theo dõi chặt chẻ việc thực hiện tích hợp vào bài dạy của đội ngũ giáo viên, đánh giá giờ dạy và kiểm tra đánh giá kết quả rèn luyện của trẻ Tổ chức triển khai thực hiện và đánh giá rút kinh nghiệm + Quản lý giáo viên chủ nhiệm (GVCN) lớp trong hoạt động giáo dục KNS
Ở trường Mẫu giáo, giáo viên chủ nhiệm là đội ngũ chủ chốt của nhà trường làm công tác giáo dục trẻ từ 5-6 tuổi, trong đó có hoạt động giáo dục KNS Giáo viên chủ nhiệm quản lý và giúp lớp tổ chức học tập, rèn luyện để đạt mục tiêu giáo dục Giáo viên chủ nhiệm là cầu nối giữa lớp với nhà trường, giữa nhà trường với gia đình và địa phương để cùng giáo dục trẻ Giáo viên chính là điểm tựa tinh thần, là linh hồn của lớp học để tạo ra một tập thể lớp năng động, sáng tạo Với vai trò đó, giáo viên chủ nhiệm
sẽ tạo ra được động lực thi đua, tạo môi trường thân thiện giữa cô và trò, giữa trẻ với trẻ, giữa tập thể lớp với các tổ chức đoàn thể và Hội cha mẹ học sinh Như vậy, việc GDKNS thông qua hoạt động của giáo viên chủ nhiệm sẽ góp phần hoàn thiện nhân cách trẻ MG
Để đội ngũ giáo viên chủ nhiệm lớp thực hiện tốt nhiệm vụ của mình, nhà quản
lý cần chỉ đạo giáo viên căn cứ kế hoạch tổng thể của nhà trường để xây dựng kế hoạch giáo dục KNS cho phù hợp với từng khối lớp, đặc điểm đối tượng trẻ và điều kiện thực tế của nhà trường; Chỉ đạo tổ chức triển khai và kiểm tra, đánh giá trẻ Người Hiệu trưởng cần quản lý hoạt động GDKNS của giáo viên chủ nhiệm trên các mặt sau:
- Quản lý việc xây dựng kế hoạch của giáo viên như: việc chuẩn bị giáo án của giáo viên chủ nhiệm theo chủ đề, chủ điểm, các hoạt động tự chọn
- Quản lý việc triển khai hoạt động giáo dục KNS: triển khai trong giờ sinh hoạt
Trang 38lớp, trong các hoạt động giáo dục khác
- Quản lý việc phối hợp của giáo viên chủ nhiệm lớp với các lực lượng giáo dục khác trong và ngoài nhà trường như cán bộ Đoàn, giáo viên bộ môn, Hội cha mẹ trẻ Mẫu giáo trong việc tổ chức các hoạt động giáo dục KNS của lớp mình phụ trách Giáo viên chủ nhiệm với tư cách là người tham mưu, người tổ chức để các lực lượng này cùng tham gia vào quá trình hoạt động của trẻ (học tập, vui chơi, rèn luyện .) nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động giáo dục KNS
- Quản lý việc đánh giá kết quả trẻ: Sau một chủ đề, chủ điểm giáo dục hoặc sau mỗi đợt sinh hoạt chuyên đề, giáo viên chủ nhiệm phải đánh giá kết quả hoạt động của từng trẻ ở các mức độ và khía cạnh khác nhau Kết quả đánh giá là căn cứ để xếp loại trẻ ở mỗi học kỳ và cuối năm học
Tóm lại, từ thực tiễn giáo dục trẻ từ 5-6 tuổi, nhà trường sẽ có những biện pháp quản lý để tác động vào những yếu tố tích cực, phát huy hiệu quả giáo dục, khắc phục
và hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực Qua đó, việc quản lý được thể hiện ở những nội dung sau: Quản lý việc xây dựng kế hoạch tuần, tháng, năm; Quản lý sự đôn đốc đối với giáo viên chủ nhiệm; Quản lý việc theo dõi các hoạt động giáo dục KNS; Quản lý việc phối hợp với giáo viên bộ môn, giáo viên chủ nhiệm, PHHS, các tổ chức tập thể
và các cá nhân trong và ngoài nhà trường
1.5.2.3 Quản lý các điều kiện hỗ trợ thực hiện hoạt động giáo dục kĩ năng sống
Để hoạt động giáo dục KNS đạt hiệu quả cao, người Hiệu trưởng cần quản lý tốt các điều kiện hỗ trợ như: CSVC (phòng học, sân chơi, bãi tập, ), các trang thiết bị (máy chiếu, tài liệu, băng hình ) và kể cả nguồn tài chính dành cho hoạt động GDKNS
Hoạt động giáo dục KNS rất cần có CSVC, phương tiện, tài liệu để hoạt động Ở nhiều đơn vị, giáo viên chưa được đào tạo một cách căn bản về giáo dục KNS; phương tiện, tài liệu dành cho hoạt động này còn khan hiếm; nguồn kinh phí chi cho hoạt động này còn quá eo hẹp Vì vậy, để tháo gỡ những vướng mắc trên, người Hiệu trưởng cần
có kế hoạch, thường xuyên tổ chức bồi dưỡng các chuyên đề nâng cao nhận thức và kĩ năng tổ chức hoạt động giáo dục KNS cho giáo viên Đồng thời, động viên khích lệ tinh thần và có chế độ thỏa đáng, kịp thời cho đội ngũ những người làm công tác giáo dục KNS Từ đó, khơi dậy lòng nhiệt tình và ý thức trách nhiệm của họ
1.5.3 Quản lý phương pháp, hình thức của hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ Mẫu giáo từ 5-6 tuổi
Cũng như tất cả các hoạt động giáo dục khác, để thực hiện quản lý giáo dục KNS cho trẻ Mẫu giáo từ 5-6 tuổi đạt hiệu quả cao Người hiệu trưởng vừa phải quản lý chỉ đạo việc thực hiện mục tiêu giáo dục KNS vừa phải đảm bảo thực hiện các hình thức giáo dục KNS theo một số nguyên tắc sau:
- Trong giờ dạy, không chỉ đơn thuần là việc truyền thụ kiến thức mà còn rèn cho trẻ có kĩ năng học tập, các KNS, giáo dục cho trẻ có những hành vi, cử chỉ, thái độ,
Trang 39tình cảm, nhân sinh quan, thế giới quan đúng đắn Giáo dục KNS phải là hoạt động sinh động giúp trẻ từ 5-6 tuổi được bổ sung, tăng cường thêm những năng lực cần thiết
để các trẻ có thể hoạt động độc lập, chủ động tránh và vượt qua được những khó khăn thử thách trong thực tế cuộc sống
- Hiệu trưởng và giáo viên cần biết phối hợp việc GDKNS bằng nhiều hình thức
và các biện pháp khác nhau GDKNS cho trẻ từ 5-6 tuổi là việc làm cấp thiết, cần tiến hành thường xuyên, liên tục ở mọi lúc, mọi nơi, trong các hoạt động đều có thể thực hiện được
Hoạt động ngoại khoá, hoạt động vui chơi, hội thi, thể dục thể thao, tham quan
du lịch, giao lưu văn hoá; hoạt động bảo vệ môi trường; lao động và các hoạt động xã hội khác là những hoạt động có điều kiện thuận lợi để giáo dục, rèn luyện cho trẻ từ 5-6 tuổi các KNS trong thực tế và có tác dụng trực tiếp đến việc giáo dục nhận thức, tư tưởng, thái độ nhận thức của trẻ
Vì vậy, người hiệu trưởng phải xây dựng kế hoạch cụ thể, quan tâm tổ chức các hoạt động này, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục KNS cho trẻ MG Ngoài ra, để tổ chức tốt các hoạt động ngoài giờ lên lớp, người hiệu trưởng cần tạo những điều kiện, phương tiện cần thiết để trẻ từ 5-6 tuổi thực hiện tốt các yêu cầu, những thao tác, các kĩ năng, những hành vi nhà trường đề ra đối với bậc học Mẫu giáo
1.5.4 Quản lý môi trường hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ Mẫu giáo
từ 5-6 tuổi
Sự phối hợp giữa gia đình - nhà trường - xã hội trong việc giáo dục KNS cho trẻ Mẫu giáo từ 5-6 tuổi là rất quan trọng và cần thiết để xây dựng môi trường giáo dục thân thiện cho trẻ
Để thực hiện được điều đó, cán bộ quản lý cần nhận thức được tầm quan trọng của việc phối hợp giáo dục giữa gia đình - nhà trường - xã hội để có sự quản lý đúng đắn và linh hoạt Bởi lẽ quá trình hình thành và phát triển nhân cách nói chung, các phẩm chất đạo đức, tư tưởng chính trị nói riêng luôn bị chế ước bởi những điều kiện khách quan và chủ quan tác động Để công tác giáo dục KNS cho trẻ từ 5-6 tuổi đạt hiệu quả cao, cần xây dựng một môi trường giáo dục lành mạnh, môi trường văn hóa thuận lợi cho giáo dục, trong đó mọi người từ gia đình đến cộng đồng đều cùng chung tay với nhà trường làm tốt việc định hướng giá trị của xã hội chúng ta
Nhà trường cần phối hợp với các lực lượng giáo dục nhằm tạo mối quan hệ gắn kết giữa nhà trường - gia đình và xã hội để thống nhất quan điểm, nội dung, phương pháp giáo dục; xây dựng phong trào học tập và môi trường giáo dục lành mạnh Bên cạnh đó, nhà trường phải làm sao cho xứng đáng là trung tâm giáo dục của địa phương; làm thế nào để địa phương luôn đồng tình, ủng hộ, phối kết hợp với nhà trường nhằm mục đích chung là giáo dục con em nên người
Chính vì vậy, người quản lý cần xây dựng kế hoạch, tổ chức chỉ đạo và quản lý chặt chẽ sự phối hợp giữa các lực lượng giáo dục trong việc tổ chức hoạt động giáo
Trang 40dục KNS về cả nội dung, hình thức tổ chức và cách thức phối hợp Nhằm phát huy tối
đa tiềm năng của các lực lượng giáo dục, tạo nên sức mạnh tổng hợp để công tác giáo dục KNS cho trẻ từ 5-6 tuổi đạt hiệu quả như mong muốn
1.5.5 Quản lý công tác kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ Mẫu giáo từ 5-6 tuổi
Việc kiểm tra, đánh giá hoạt động GDKNS góp phần đánh giá chất lượng giáo dục trong nhà trường Qua kiểm tra đánh giá, CBQL nhà trường đánh giá được mức độ thực hiện của đội ngũ giáo viên; mức độ hưởng ứng tham gia của trẻ Mẫu giáo; quá trình thực hiện trong nhà trường diễn ra có đảm bảo kế hoạch hay không? Như vậy, ban giám hiệu cần có kế hoạch kiểm tra việc thực hiện giáo dục KNS cho trẻ từ 5-6 tuổi của giáo viên chủ nhiệm, bằng các hình thức như: quan sát, dự giờ, kiểm tra hồ sơ,
sổ sách của giáo viên
Qua kiểm tra, đánh giá việc giáo dục KNS cho trẻ từ 5-6 tuổi cần có những hình thức đánh giá thi đua, khen thưởng theo nhiều mức độ khác nhau Qua đó, phát hiện những mặt tích cực để động viên kích thích; hoặc nhìn thấy những sai sót lệch lạc để
có biện pháp uốn nắn, nhắc nhở điều chỉnh kịp thời nhằm nâng cao hiệu quả của quá trình giáo dục Vì vậy kiểm tra đánh giá là một trong những khâu quan trọng của hoạt động quản lý Nếu như không kiểm tra đánh giá thì các nhà quản lý giáo dục không thể phân tích nguyên nhân cũng như đề xuất các biện pháp kịp thời
1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5- 6 tuổi tại các trường mẫu giáo
1.6.1 Yếu tố chủ quan
Nhận thức của hiệu trưởng về tầm quan trọng của hoạt động giáo dục KNS cho trẻ ở các trường mẫu giáo; Nhận thức về vị trí, vai trò của hoạt động giáo dục KNS cho trẻ 5- 6 tuổi là yếu tố cơ bản có ảnh hưởng lớn đến việc hình thành và phát triển nhân cách của trẻ
Năng lực, kinh nghiệm, kỹ năng quản lí và sự hiểu biết của cán bộ quản lý và giáo viên là những yếu tố có ảnh hưởng quan trọng trong hoạt động giáo dục và quản
lý hoạt động giáo dục KNS cho trẻ 5-6 tuổi
Các phẩm chất, tâm lý (tính cách, phong cách làm việc, giao tiếp, ứng xử…) của cán bộ quản lý, giáo viên cũng ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả và chất lượng của hoạt động giáo dục KNS cho trẻ em nói chung và trẻ 5-6 tuổi nói riêng
Yếu tố chủ quan là những là những vấn đề thuộc về chủ thể giáo dục như: cán bộ quản lý, giáo viên Những yếu tố này hoàn toàn có thể kiểm soát được Yếu tố chủ quan của quá trình quản lý hoạt động giáo dục KNS cho trẻ 5- 6 tuổi chính là năng lực thể chất, năng lực chuyên môn, ý thức, kỹ năng, cơ sở vật chất, trang thiết bị của chủ thể giáo dục
1.6.2 Yếu tố khách quan
Các yếu tố khách quan có thể tác động một cách mạnh mẽ và trực tiếp vào các