1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Lý thuyết ôn thi Quản trị học

313 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tổng Quan Về Quản Trị
Trường học Trường Đại Học Mở Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Quản trị học
Thể loại bài giảng
Thành phố Thành Phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 313
Dung lượng 14,69 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO TRỰC TUYẾN TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 1 BÀI GIẢNG DẠNG VĂN BẢN (SCRIPT) Môn học Quản trị học Chương 1 Tổng quan về quản trị học Chủ đề 1 Khái niệm quản trị Phần 1 Định nghĩa và mục tiêu của quản tri Trong cuộc sống hiện nay, cụm từ Quản trị không còn xa lạ đối với mỗi người Có lẽ chúng ta đã từng nhiều lần thực hiện công việc quản trị, khi có nhân viên dưới quyền, và ngay cả trong trường hợp là một người bình thường, thì cũng cần phải quản trị bản t.

Trang 1

CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO TRỰC TUYẾN TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BÀI GIẢNG DẠNG VĂN BẢN (SCRIPT)

Môn học: Quản trị học

Chương 1: Tổng quan về quản trị học

Chủ đề 1: Khái niệm quản trị

Phần 1: Định nghĩa và mục tiêu của quản tri

Trong cuộc sống hiện nay, cụm từ Quản trị không còn xa lạ đối với mỗi người Có lẽ chúng

ta đã từng nhiều lần thực hiện công việc quản trị, khi có nhân viên dưới quyền, và ngay cả trong trường hợp là một người bình thường, thì cũng cần phải quản trị bản thân, quản trị mối quan hệ với đồng nghiệp, bạn bè, đối tác, như vậy là chúng ta đã thực hiện công việc quản trị rồi

Quản trị ngày nay được ứng dụng rộng rãi, không phải chỉ những lĩnh vực liên quan đến kinh doanh, kinh tế thì mới cần đến quản trị, mà ngay cả trong những lĩnh vực phi lợi nhuận như y tế, giáo dục, quân đội… chúng ta cũng cần thực hiện những hoạt động quản trị Hay trong các tổ chức thiện nguyện, các tổ chức đoàn - hội, quản trị cũng đóng một vai trò hết sức quan trọng

Hôm nay chúng ta sẽ học chương đầu tiên của môn Quản trị học Chương 1 có tiêu đề Tổng quan về quản trị Chương 1 bao gồm 3 chủ đề: Khái niệm quản trị, chức năng quản trị, và

lý thuyết quản trị

Bây giờ chúng ta sẽ cùng nghiên cứu chủ đề đầu tiên: Khái niệm quản trị Tìm hiểu khái niệm quản trị sẽ giúp chúng ta giải thích được quản trị là gì? Chúng ta đã nghe đến thuật ngữ này rất nhiều trong cuộc sống và trong công việc, nhưng chúng ta có hiểu được chính

Trang 2

CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO TRỰC TUYẾN TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

2

xác về thuật ngữ này không? Quản trị nhằm để làm gì, và có những mục tiêu nào? Địnhnghĩa về quản trị, mục tiêu của quản trị, và quan điểm quản trị sẽ được nghiên cứu trong chủ đề này

Quản trị được hiểu là một phương thức để phối hợp các cá nhân khác nhau cùng thực hiện các hoạt động cần thiết, nhằm đạt được mục tiêu đặt ra một cách tốt nhất, với hiệu quả cao

Tiếp theo, học giả Stephen Robbin trong thập kỷ 70, nhấn mạnh đến việc xem Quản trị là một quá trình phối hợp hoạt động của một hay nhiều người cùng thực hiện nhằm đạt được những kết quả mà một người hành động riêng rẽ không thể đạt được Nói cách khác, quản trị là những hoạt động cần thiết để kết hợp những con người khác nhau trong một tổ chức nhằm đạt được mục tiêu chung Như vậy, ở trong bất cứ tổ chức nào, dù là công ty kinh doanh thương mại, nhà máy sản xuất, hay các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức xã hội… cũng đều cần triển khai các hoạt động quản trị

Gareth Jones và Jennifer định nghĩa Quản trị là quá trình hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát nguồn lực nhằm hoàn thành có kết quả và có hiệu quả các mục tiêu của tổ chức

Ở các công ty hoạt động quản trị rất được coi trọng Ví dụ như một công ty kinh doanh nước giải khát, muốn đạt được lợi nhuận cao thì phải làm thế nào để tăng doanh số bán và tiết kiệm chi phí sản xuất Muốn vậy, cần phải làm sao để các bộ phận trong công ty cùng tham

Trang 3

CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO TRỰC TUYẾN TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

gia hợp tác vào quá trình kinh doanh đó Chẳng hạn như bộ phận marketing cần tổ chức các chương trình PR, quảng bá sản phẩm để thúc đẩy việc bán hàng; bộ phận R&D (nghiên cứu và phát triển) cần cho ra những loại nước giải khát mới đáp ứng được nhu cầu của thị trường; bộ phận sản xuất phải tìm các biện pháp để cắt giảm tối đa chi phí; các khâu từ tuyển chọn mua nguyên vật liệu cho đến khâu sản xuất và tung sản phẩm mới ra thị trường phải được phối hợp chặt chẽ…Tất cả những điều đó đòi hỏi áp dụng kiến thức quản trị học Trong điều kiện nguồn lực về tài chính, nhân sự, công nghệ hạn chế, thì các phương pháp lên kế hoạch, tổ chức, điều khiển, kiểm tra… cho các hoạt động ở trong công ty càng trở nên quan trọng hơn

Tóm lại hoạt động quản trị không chỉ diễn ra ở các công ty kinh doanh mà ở bất kỳ tổ chức nào, và cả trong cuộc sống hàng ngày của mọi người

Nội dung thứ 2 của bài, chúng ta cùng tìm hiểu về Mục tiêu của quản trị

Mục tiêu của quản trị là thực hiện công việc đạt kết quả như mong muốn và có hiệu quả cao

 Kết quả: thể hiện sự so sánh giữa đầu ra đạt được so với mục tiêu đầu ra dự kiến (mong muốn) Kết quả được tính theo công thức

𝐾ế𝑡 𝑞𝑢ả (𝑒𝑓𝑓𝑒𝑐𝑡𝑖𝑣𝑒𝑛𝑒𝑠𝑠) = Đầ𝑢 𝑟𝑎 đạ𝑡 đượ𝑐

𝑀ụ𝑐 𝑡𝑖ê𝑢 𝑑ự 𝑘𝑖ế𝑛

 Hiệu quả: đo lường kết quả đạt được so với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó; hay cái thu về so với cái bỏ ra để có được nó Hiệu quả thể hiện việc sử dụng các nguồn lực như thế nào để đạt được mục tiêu Hiệu quả được tính theo công thức

𝐻𝑖ệ𝑢 𝑞𝑢ả (𝑒𝑓𝑓𝑖𝑐𝑖𝑒𝑛𝑐𝑦) =Đầ𝑢 𝑟𝑎 đạ𝑡 đượ𝑐

𝐶ℎ𝑖 𝑝ℎí 𝑏ỏ 𝑟𝑎

Trang 4

CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO TRỰC TUYẾN TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Ví dụ như một công ty sản xuất giày da nhận được một hợp đồng là 10.000 đôi giày nam

và 13.000 đôi giày nữ Thời gian cần phải giao hàng là 10 ngày sau Công ty giao cho hai xưởng sản xuất

Xưởng thứ nhất chuyên sản xuất giày nam, thực hiện được trung bình 1000 đôi giày/ngày Tuy nhiên do bị biến động nhân sự nên việc giao lô hàng bị trễ 1 ngày, khiến công ty bị phạt hợp đồng 20 triệu, tổng số tiền lãi là 150 triệu

Xưởng thứ 2 chuyên sản xuất giày nữ, số lượng giày sản xuất được là 1200 đôi/ngày Do khối lượng sản phẩm phải sản xuất lớn hơn so với năng lực, nên quản đốc đã chủ động thuê thêm thợ với chi phí 40 triệu đồng trong thời gian 10 ngày, tổng số tiền lãi là 130 triệu Trong trường hợp này, kết quả được đo bằng số lượng giày được giao cho hai xưởng trong khoảng thời gian 10 ngày, xưởng thứ 1 là 10.000 đôi giày nam, và xưởng thứ 2 là 13.000 đôi giày nữ Hiệu quả được đo bằng mức độ lãi do mỗi xưởng tạo ra

Ta thấy xưởng thứ 2 làm đạt kết quả (tức là đạt 13.000 đôi giày nữ trong 10 ngày, giữ được

uy tín với khách hàng) nhưng không hiệu quả so với xưởng thứ 1 (vì lãi không tốt bằng xưởng 1, ở đây lãi của xưởng 2 là 150 triệu còn lãi của xưởng 1 là 130 triệu)

Trang 5

CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO TRỰC TUYẾN TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Tóm lại, mục tiêu của quản trị là phải đạt kết quả (làm đúng việc) và hiệu quả (làm đúng cách) Làm đúng việc là điều quan trọng đầu tiên, nhưng chưa đủ, mà còn cần phải đạt hiệu quả (làm đúng cách) nữa

Mặc dù hiệu quả và kết quả là 2 thuật ngữ khác nhau, nhưng chúng có mối liên hệ với nhau Thông thường chúng ta dễ đạt được kết quả nếu bỏ qua hiệu quả Ví dụ việc xưởng giày số

2 thuê thêm lao động để đảm bảo thời gian giao hàng đã làm chi phí phát sinh và ảnh hưởng đến quy mô lãi mang về, tức là xưởng số 2 chỉ đạt kết quả mà không đạt hiệu quả Tương

tự, hoạt động của một số cơ quan nhà nước có thể đạt được kết quả khá cao nhưng hiệu quả lại đạt thấp Điều này cho thấy để quản trị tốt thì cần đạt được mục tiêu đặt ra (kết quả) và thực hiện sao cho đạt hiệu quả càng cao càng tốt

Có tổ chức nào đạt hiệu quả mà không đạt được kết quả không? Đó chính là khi ta thực hiện không đúng công việc yêu cầu Hoặc khi cắt giảm một số chi phí thực hiện công việc Thông thường, hiệu quả cao liên quan khá chặt chẽ với kết quả cao Năng lực nhà quản trị tốt thể hiện ở chỗ làm đúng việc (đạt kết quả) theo đúng cách (đạt hiệu quả) Năng lực nhà quản trị kém thể hiện ở chỗ kết quả đạt được thấp và hiệu quả cũng đạt thấp

Quản trị đạt hiệu quả khi:

 Chi phí các nguồn lực đầu vào là ít nhất đối với một mức sản lượng đầu ra nhất định Điều này có nghĩa là giảm chi phí đến mức tối thiểu có thể để giữ nguyên sản lượng đầu ra

 Mức sản lượng đầu ra là cao nhất đối với một mức đầu vào nhất định Tức là giữ nguyên các yếu tố đầu vào mà gia tăng sản lượng đầu ra tối đa

Trang 6

CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO TRỰC TUYẾN TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

6

 Giảm các yếu tố đầu vào ở một mức độ nhất định, và đồng thời tăng các yếu tố đầu

ra ở một mức độ nhất định Điều này có nghĩa là đạt được một sự kết hợp nhất định giữa chi phí – kết quả

Vậy chúng ta quản trị những gì?

Có thể phân loại quản trị theo quá trình hoạt động hoặc lĩnh vực hoạt động Căn cứ theo quá trình hoạt động, chúng ta có quản trị đầu vào, quản trị vận hành, và quản trị đầu ra Cần lưu ý là quản trị đầu vào bao gồm quản trị nhân lực, quản trị tài chính, quản trị nguyên vật liệu; quản trị vận hành chính là quản trị quá trình sản xuất; và quản trị đầu ra bao gồm quản trị bán hàng, quản trị marketing Đây cũng chính là các lĩnh vực của quản trị

Trang 7

CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO TRỰC TUYẾN TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH BÀI GIẢNG DẠNG VĂN BẢN (SCRIPT)

Môn học: Quản trị học

Chương 1: Tổng quan về quản trị

Chủ đề 1: Khái niệm quản trị

Phần 2: Quan điểm quản trị

Nội dung thứ 3 sẽ được nghiên cứu trong bài học này là các quan điểm quản trị

Có 3 quan điểm là quản trị công việc, quản trị con người và quản trị sản xuất

Quản trị công việc hướng đến việc tạo ra nhiều sản phẩm hơn với chi phí thấp hơn, cụ thể

là nhằm vào hai mục tiêu sau:

 Nâng cao năng suất của những người thực hiện công việc

 Nâng cao hiệu quả của các tổ chức mà tại đó công việc được thực hiện

Quan điểm quản trị công việc chú trọng phân tích tính hợp lý của các công việc và việc áp dụng khoa học vào quá trình thực hiện các công việc đó Người ta cho rằng cần có quy trình hợp lý, có các nguyên tắc quản trị và tổ chức để đạt được năng suất và hiệu quả cao Quan điểm quản trị công việc chính là nguyên lý nền tảng cho lý thuyết quản trị cổ điển Khác với quan điểm quản trị công việc, quan điểm chú trọng vào quản trị con người trong các tổ chức cho rằng các nguyên tắc và quy trình hợp lý là chưa đủ, nhà quản trị cần phải

có khả năng tạo ra môi trường tích cực và giải quyết tốt các mối quan hệ trong một tổ chức

để thúc đẩy từng các cá nhân hoàn thành xuất sắc công việc Hai nguyên lý cơ bản của việc quản trị hướng đến yếu tố con người được đặt trên quan điểm quan hệ giữa con người và quan điểm hành vi học

Trang 8

CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO TRỰC TUYẾN TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

2

Quan điểm phát triển mối quan hệ giữa con người quan tâm đến chân giá trị của cá

nhân, phát huy tiềm năng của con người, quan tâm đến việc tạo một môi trường làm việc tích cực và khuyến khích mọi người đóng góp và cố gắng

Quan điểm hành vi học sử dụng tâm lý học, xã hội học và nhân loại học để tìm hiểu hành

vi của con người trong các doanh nghiệp, tổ chức Từ đó nhà quản trị đề ra các biện pháp tác động làm thay đổi hành vi của con người nhằm mang lại thành tích cao trong các tổ chức

Bên cạnh quan điểm quản trị tập trung vào công việc hoặc vào con người, thì còn có quan điểm quản trị sản xuất, trong đó tập trung vào quá trình sản xuất

Quan điểm quản trị sản xuất cung cấp cho những nhà quản trị các mô hình, phần mềm,

các công cụ định lượng, các lý thuyết quản trị khoa học như lý thuyết trò chơi, lý thuyết quyết định…để đưa ra những quyết định về các hoạt động thuộc quyền kiểm soát của nhà quản trị

Như vậy, chúng ta có thể thấy, theo dòng phát triển của lịch sử, xuất phát đầu tiên của quản trị học là nhắm vào quản trị các công việc, hoạt động và các tổ chức Cùng với sự phát triển của xã hội và nền kinh tế, người ta nhận thấy vai trò ngày càng lớn của con người, do vậy cách tiếp cận thứ hai của quản trị học là theo hướng quản trị con người trong các tổ chức Công nghiệp hóa mạnh mẽ và sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật đã dẫn đến việc tập trung hướng vào quản trị sản xuất

Đến đây các bạn có thể đặt câu hỏi Quản trị là một khoa học, một nghệ thuật, hay là một nghề chuyên nghiệp? Câu trả lời là tất cả đều đúng

Trước tiên chúng ta khẳng định: quản trị là khoa học.

Trang 9

CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO TRỰC TUYẾN TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Quản trị là khoa học về việc ra quyết định trên cơ sở tư duy hệ thống và vận dụng các quy luật khoa học Tính khoa học của quản trị thể hiện ở chỗ nó cung cấp nền tảng lý thuyết quản trị, giúp nhà quản trị biết cách tư duy hệ thống, khả năng phân tích và nhận diện đúng bản chất vấn đề và các kỹ thuật để giải quyết vấn đề phát sinh Khi đưa ra các quyết định, nhà quản trị phải dựa trên các phân tích khoa học, phải sử dụng kiến thức của nhiều ngành học khác nhau bao gồm toán học, thống kê, lý thuyết kinh tế, công nghệ thông tin, lý thuyết

hệ thống, tâm lý học, hành vi học, xã hội học, luật học

Thứ hai, chúng ta khẳng định, quản trị là nghệ thuật

Tính nghệ thuật của quản trị thể hiện ở chỗ nó tinh lọc kiến thức quản trị để vận dụng phù hợp trong từng lĩnh vực, trong từng tình huống cụ thể Quản trị được sử dụng như một nghệ thuật trong một số lĩnh vực như: nghệ thuật lãnh đạo; nghệ thuật giao tiếp, ứng xử; nghệ thuật quảng cáo…Nhà quản trị thành công vận dụng kiến thức một cách linh hoạt, nhạy bén, sáng tạo, ứng phó kịp thời trong môi trường kinh doanh luôn biến đổi

Với quan điểm quản trị là một nghệ thuật, nhà quản trị cần có khả năng thấu hiểu nhân viên, hiểu được sự tương tác của các yếu tố môi trường, ngoại cảnh tác động đến hoạt động

và kết quả làm việc của nhân viên, từ đó thúc đẩy thực hiện công việc thông qua sự hợp tác của nhiều người

Trong lĩnh vực quản trị, tính khoa học và nghệ thuật được thể hiện ở chỗ: nắm được khoa học quản trị thì sẽ giảm thiểu nguy cơ thất bại trong kinh doanh; nắm được nghệ thuật quản trị thì sẽ giúp những nhà quản trị giữ được sự bền vững trong kinh doanh

Ví dụ như khi nhà quản trị nhận thấy một nhân viên làm việc không đạt hiệu quả; ở góc độ

Trang 10

CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO TRỰC TUYẾN TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

4

cải thiện điều kiện làm việc, xem xét lại quy trình, bố trí sắp xếp công việc, có chính sách lương thưởng và đãi ngộ thích đáng Trong khi đó, ở góc độ nghệ thuật, nhà quản trị có thể quan tâm tìm hiểu tâm lý, nhu cầu, mong muốn của nhân viên, xem xét các mối quan

hệ phức tạp giữa các nhân viên, các vấn đề về đời sống phát sinh ảnh hưởng đến hiệu suất làm việc của nhân viên đó Nhà quản trị sẽ liên hệ với kinh nghiệm bản thân tích lũy được hoặc qua kinh nghiệm của những người khác để giải quyết vấn đề nảy sinh trong quá trình làm việc

Thứ 3, chúng ta khẳng định rằng quản trị là một nghề chuyên nghiệp

Trong bối cảnh kinh tế xã hội của thế giới hiện đại ngày nay, công tác quản trị trên hầu hết các lĩnh vực đều cần phải vận dụng các nguyên tắc, phương pháp quản trị, đòi hỏi nhà quản trị phải được đào tạo ở một trình độ nhất định Do vậy, quản trị là một nghề chuyên nghiệp, được đào tạo một cách hệ thống và bài bản thông qua các chương trình hoàn chỉnh trong các hệ thống giáo dục trên thế giới

Mặt khác, quản trị không phải chỉ nhằm thu được lợi nhuận và lợi ích tối đa Những nhà quản trị hiện đại hướng đến sự phát triển bền vững của doanh nghiệp, trong đó đạo đức là vấn đề nền tảng cần được tôn trọng và gìn giữ Kinh doanh trung thực và minh bạch mới làm nên sự phát triển bền vững của doanh nghiệp, tuy rằng để làm được điều này không phải dễ dàng đối với mọi doanh nghiệp Nhà quản trị cần trả lời các câu hỏi như: Doanh nghiệp sẵn sàng đi xa đến đâu? Lợi nhuận hay tín nhiệm quan trọng hơn? Chúng ta tạo ra giá trị nào cho xã hội? Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đang là một vấn đề được nhắc đến rất nhiều hiện nay, doanh nghiệp của chúng ta có chung một tay đóng góp?

Trang 11

CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO TRỰC TUYẾN TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Tóm lại, quản trị là một nghề chuyên nghiệp cần được đào tạo một cách bài bản và phải được kiểm soát bởi các vấn đề đạo đức

Các bạn thân mến, ngày nay quản trị ngày càng được quan tâm hơn lúc nào hết, bởi nền kinh tế hội nhập toàn cầu và cạnh tranh gay gắt đã đặt ra cho các tổ chức, các doanh nghiệp ngày càng nhiều cơ hội và thách thức, trong khi đó nguồn lực luôn bị hạn chế so với khả năng của họ Do vậy, việc quản trị là cực kỳ cần thiết để có thể mang lại kết quả vượt bậc

so với yếu tố nguồn lực tối thiểu Các nhà quản trị luôn cố gắng hướng đến việc gia tăng kết quả và giảm thiểu chi phí Nâng cao hiệu quả là mục tiêu cơ bản của hoạt động quản trị trong ngắn hạn Trong khi đó nâng cao kết quả là mục tiêu của quản trị trong dài hạn, bởi

nó hướng đến việc đạt được các kết quả tốt trong môi trường kinh doanh luôn biến đổi

Trang 12

CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO TRỰC TUYẾN TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

1

BÀI GIẢNG DẠNG VĂN BẢN (SCRIPT)

Môn học: Quản trị học

Chương 1: Tổng quan về quản trị học

Chủ đề 2: Chức năng của quản trị

Xin chào các bạn,

Chúng ta đã biết rằng quản trị nhằm giúp các cá nhân hợp tác với nhau để thực hiện các công việc đạt mục tiêu, tức là đạt kết quả và hiệu quả đặt ra, vì vậy quản trị cần được thực hiện như một quy trình phổ biến Một nhà quản trị thực hiện các hoạt động quản trị là những hoạt động nào? Chúng ta sẽ cùng nghiên cứu về các chức năng quản trị để thấy rõ điều này Sau khi học xong bài này, yêu cầu các bạn mô tả được các chức năng quản trị và giải thích được các hoạt động quản trị thể hiện trong cuộc sống và công việc như thế nào

Vào năm 1916, Henri Fayol, một kỹ sư khai thác mỏ người Pháp, một trong những người đầu tiên đưa ra lý thuyết về Quản trị học, ông cho rằng quản trị có năm chức năng, đó là: hoạch định, tổ chức, chỉ huy, phối hợp, và kiểm soát

Vào năm 1937, Luther Gulick và Urwich kết hợp thêm các công việc hành chính và công việc quản trị, họ cho rằng quản trị có bảy chức năng, đó là: hoạch định, tổ chức, nhân sự, chỉ huy, phối hợp, kiểm tra và tài chính Nhiều chuyên gia đã đánh giá cao chức năng tài chính bởi họ cho đây là một điều kiện rất quan trọng để đảm bảo quản trị thành công Cuối những năm 1980 và đầu những năm 1990, các Giáo sư trong các trường đại học ở Mỹ

đã bàn cãi khá nhiều và không thể thống nhất về cách thức phân chia các chức năng quản trị Một số học giả như Elton Mayo, Mary Parker Follet, Chester Barnard, Max Weber,

Trang 13

CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO TRỰC TUYẾN TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Rensis Likert, Chris Argyris… phân chia quản trị thành năm chức năng: lập kế hoạch, tổ chức, nhân sự, lãnh đạo và kiểm soát

Các học giả như James AF Stoner, R Edward Freeman, Daniel R Gilbert, Stephen P Robbins, Mary Coulter, Nancy Langton… chia quản trị thành bốn chức năng: lập kế hoạch,

tổ chức, lãnh đạo, và kiểm soát Họ cho rằng phân chia thành 4 chức năng này là phù hợp nhất vì nó liên quan đến nhiệm vụ và mục tiêu của công ty, đồng thời nó cũng thích hợp để góp phần mang lại kết quả thành công cuối cùng của doanh nghiệp

Trong môn học này, chúng ta cũng phân chia 4 chức năng quản trị là: hoạch định, tổ chức, lãnh đạo, kiểm soát Mọi nhà quản trị trong các doanh nghiệp có quy mô lớn hay nhỏ, hoạt động trong mọi lĩnh vực ngành nghề ở mọi quốc gia, đều có 4 chức năng này

Sau đây chúng ta sẽ nghiên cứu từng chức năng

Trước tiên, nhà quản trị cần nghiên cứu điều kiện cụ thể của doanh nghiệp trong bối cảnh môi trường thay đổi và cạnh tranh, căn cứ vào đó xác định mục tiêu mà doanh nghiệp muốn nhắm tới cũng như các kết quả cụ thể mà doanh nghiệp muốn đạt được

Trang 14

CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO TRỰC TUYẾN TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

3

Ví dụ như sau khi nghiên cứu tình hình thị trường và nhu cầu của khách hàng, căn cứ vào kết quả kinh doanh năm trước, phòng kinh doanh của một công ty đã xác định được mục tiêu doanh số bán trong năm tới Như vậy, phòng kinh doanh phải lên kế hoạch để thực hiện các chiến dịch quảng bá, PR đến khách hàng mục tiêu, lên các phương án phát triển

hệ thống kênh phân phối và mở rộng mạng lưới đại lý… nhằm đạt được mục tiêu doanh số bán hàng đặt ra Đây chính là giai đoạn hoạch định

Đối với các doanh nghiệp mới hình thành thì nhà quản trị cần đề xuất chiến lược phát triển cho doanh nghiệp Trong nhiều trường hợp khác nhà quản trị có thể xem xét hệ thống hóa chiến lược trong các trường hợp cần thiết, lúc này nhà quản trị sẽ xác định sứ mệnh, tầm nhìn, giá trị cốt lõi cho tổ chức; từ đó xác định các mục tiêu mà doanh nghiệp nhắm tới

Ví dụ như một công ty xác định tầm nhìn là trở thành số 1 tại thị trường trong nước về cung cấp các sản phẩm sữa, xác định sứ mệnh là mang lại chất lượng cuộc sống cho người tiêu dùng nhờ việc sử dụng các sản phẩm sữa bổ dưỡng và nhiều giá trị, công ty đã xác định các giá trị cốt lõi phù hợp với sứ mệnh và tầm nhìn là sự trung thực, sự tin cậy, và chất lượng Trên cơ sở đó công ty xác định các mục tiêu chiến lược như: cải tiến chất lượng vượt trội để tạo ra sự khác biệt về sản phẩm, đổi mới công tác chăm sóc khách hàng để duy trì khách hàng trung thành… Trên cơ sở mục tiêu chiến lược đó, công ty sẽ lập các kế hoạch chiến lược, là kế hoạch để đảm bảo kết quả đạt được mục tiêu đặt ra Đây cũng là 1 ví dụ về hoạch định, nhưng có phạm vi rộng và bao quát hơn so với ví dụ trước

Trên cơ sở mục tiêu đã được xác định, nhà quản trị sẽ xác định các hoạt động cần được thực hiện trong một khoảng thời gian cụ thể và nguồn lực cần thiết để thực hiện các hoạt động

đó nhằm đạt được mục tiêu đặt ra Kết quả của việc hoạch định là đưa ra được các kế

Trang 15

CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO TRỰC TUYẾN TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

hoạch dài hạn mang tính định hướng và kế hoạch ngắn hạn với các nội dung cụ thể Nhờ

đó, nhà quản trị có thể quyết định các giải pháp tốt nhất, chủ động né tránh các khó khăn

và các vấn đề phát sinh ngoài dự kiến

Trở lại ví dụ về mục tiêu đạt doanh số bán hàng trong ví dụ thứ nhất, phòng kinh doanh cần xác định chi tiết các công việc cần thực hiện liên quan đến các hoạt động marketing, bán hàng, sản xuất, lên kế hoạch thực hiện các hoạt động đó với ngân sách dự kiến, tính toán số lượng nhân viên cần huy động để triển khai kế hoạch

Trong ví dụ thứ 2, Ban Giám đốc công ty cũng cần lập kế hoạch để thực hiện chiến lược, trong đó xác định rõ nguồn vốn tài chính, con người cần huy động, các công việc ưu tiên

và các chỉ tiêu kết quả cần đạt được về nâng cao chất lượng sản phẩm, gia tăng thị phần khách hàng mới và duy trì thị phần khách hàng trung thành, để góp phần hiện thực hóa chiến lược đặt ra là trở thành nhà cung cấp số 1 về các sản phẩm sữa

Chức năng thứ 2 - Tổ chức

Tổ chức là việc xây dựng cơ cấu, sắp xếp công việc, duy trì và phân bổ nguồn lực phù hợp

để đạt được mục tiêu chung Chức năng tổ chức liên quan đến việc phân công lao động và phối hợp các nguồn lực khác nhau để thực hiện được các kế hoạch đề ra trong chức năng hoạch định Nó liên quan đến việc thiết lập cơ cấu nhân sự, lựa chọn những người phù hợp với tổ chức, phân công nhiệm vụ cho các cá nhân khác nhau, đưa ra những quy trình, thủ tục để mọi người cùng thực hiện và qua đó đạt được các mục tiêu và mục đích của doanh nghiệp Nhà quản trị cần hiểu rõ nhân viên, nắm được các nguồn tài nguyên có thể sử dụng, phân chia công việc, đào tạo nhân viên, tổ chức các nhóm làm việc hợp tác

Trang 16

CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO TRỰC TUYẾN TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

5

Ví dụ như khi thiết kế cơ cấu tổ chức cho 1 công ty, giám đốc cần quyết định cần có các

bộ phận nào, các bộ phận đó đảm nhiệm các công việc gì, số lượng nhân viên cho mỗi bộ phận là bao nhiêu, các trưởng phó đơn vị và nhân viên cần có yêu cầu cụ thể như thế nào

để đảm nhiệm được công việc tại bộ phận đó

Chức năng thứ 3 - Lãnh đạo

Lãnh đạo đóng vai trò rất quan trọng đối với sự thành công của nhà quản trị Lãnh đạo là việc dẫn hướng các hoạt động và kết quả làm việc của nhân viên để giúp đạt được các mục tiêu của tổ chức

Quá trình lãnh đạo là quá trình tạo cảm hứng làm việc cho người khác, tác động vào hành

vi của nhân viên để họ làm việc một cách tích cực, tự nguyện

Cụ thể là xây dựng và truyền đạt tầm nhìn, chỉ đạo hướng dẫn, khuyến khích sự nhiệt tình, động viên sự cam kết và nỗ lực với công việc, kết nối sự hợp tác để hướng đến việc xây dựng một tập thể làm việc hợp tác và tích cực Lãnh đạo thường được thực hiện thông qua các hình thức như tư vấn, hướng dẫn, động viên, hỗ trợ Những người trong vai trò lãnh đạo phải có khả năng ảnh hưởng, thúc đẩy những người khác hướng đến mục tiêu vì chính những người này sẽ trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ hoặc trách nhiệm đề ra trong quá trình lập kế hoạch

Chức năng thứ 4 – Kiểm soát

Kiểm soát là quá trình đo lường việc thực hiện và thực hiện các hoạt động nhằm đảm bảo đạt được các kết quả mong muốn Kiểm soát bao gồm việc đo lường, so sánh kết quả đạt được với mục tiêu đã đặt ra, đưa ra các hoạt động đúng đắn cần thiết để duy trì hoặc cải thiện kết quả đạt được, hoặc khắc phục những sai sót nếu có

Trang 17

CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO TRỰC TUYẾN TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Kiểm soát được thực hiện thông qua việc lựa chọn các mục tiêu cần đánh giá, từ đó xác lập tiêu chuẩn cần đạt được, đưa ra các chỉ tiêu đo lường và đánh giá, sử dụng hệ thống thông tin phản hồi để ghi nhận và đánh giá các kết quả đạt được, so sánh với tiêu chuẩn đặt ra, từ

đó đề xuất các giải pháp khắc phục, cải tiến, sửa chữa

Ví dụ như trưởng các bộ phận trong 1 công ty cần kiểm soát được kết quả thực hiện công việc của các nhân viên, thông qua việc xác định các yêu cầu mà nhân viên cần đạt được, xác định các quy trình thực hiện và tiêu chuẩn hóa các kết quả đạt được thông qua các chỉ tiêu KPI Trong quá trình các nhân viên thực hiện nhiệm vụ, nhà quản trị có hệ thống kiểm tra giám sát, thu thập thông tin phản hồi thông qua các buổi họp nhóm tổ chức thường xuyên và đưa ra các quyết định để điều chỉnh kịp thời Trưởng bộ phận đánh giá kết quả hoàn thành công việc của các nhân viên và quyết định mức thù lao tương xứng

Các bạn thân mến, như vậy chúng ta vừa nghiên cứu 4 chức năng của quản trị là hoạch định, tổ chức, lãnh đạo, kiểm soát Bốn chức năng này đóng vai trò rất quan trọng trong sự thành công của bất kỳ tổ chức nào Một nhà quản trị phải thực hiện các chức năng này để đạt được mục tiêu của công ty Nắm vững các chức năng này sẽ giúp chúng ta thực hiện các công việc thành công và thuận lợi

Trang 18

CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO TRỰC TUYẾN TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Phần 1: Lý thuyết quản trị khoa học và quản trị hành chính

Ở hai chủ đề trước chúng ta đã nghiên cứu khái niệm quản trị và các chức năng quản trị Trong chủ đề này chúng ta sẽ nghiên cứu các lý thuyết về quản trị

Các bạn thân mến, các nguyên tắc của quản trị đã hình thành từ rất xa xưa trong nền văn minh cổ đại của người Ai Cập với những kim tự tháp hùng vĩ Từ thế kỷ 16, quản trị được

áp dụng ở châu Âu trong các hoạt động kinh doanh thương mại, đẩy mạnh vào thế kỷ 18 trong cuộc cách mạng công nghiệp Đến thế kỷ 19, lý thuyết quản trị ngày càng được phát triển nhanh chóng và rộng rãi khắp nơi, góp phần tích cực vào sự phát triển của xã hội và kinh tế trên thế giới

Theo thời gian phát triển, lý thuyết quản trị được phân thành 3 dòng là:

- Lý thuyết quản trị cổ điển

- Lý thuyết quản trị hành vi

- Lý thuyết quản trị hiện đại

Lý thuyết quản trị cổ điển bao gồm lý thuyết quản trị khoa học và lý thuyết quản trị hành chính

Lý thuyết quản trị khoa học chú trọng đến tính khoa học của việc sắp xếp công việc, chuyên môn hóa và phân công lao động hiệu quả Lý thuyết quản trị hành chính nhấn mạnh việc quản trị theo nguyên tắc và quy trình

Trang 19

CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO TRỰC TUYẾN TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Trong khi đó, lý thuyết quản trị hành vi chú trọng đến yếu tố con người trong các hoạt động quản trị

Cả 2 dòng lý thuyết này đều hướng đến việc tăng năng suất lao động

Lý thuyết quản trị hiện đại bao gồm quản trị định lượng, quản trị hệ thống, quản trị tình huống, quản trị chất lượng, quản trị theo mục tiêu, quản trị tri thức và học tập trong tổ chức Các lý thuyết giúp đưa ra các quyết định trong bối cảnh môi trường biến đổi liên tục Sau đây chúng ta sẽ nghiên cứu các dòng lý thuyết này Đầu tiên là lý thuyết quản trị khoa học

Người đặt nền móng cho lý thuyết quản trị khoa học và được coi là đại diện ưu tú nhất của

lý thuyết này là Frederick Winslow Taylor - một kỹ sư cơ khí Hoa Kỳ

F W Taylor đã nghiên cứu mối quan hệ giữa con người và công việc Ông cho rằng mối quan hệ giữa nhà quản trị và người lao động không phải là mối quan hệ đối lập mà mang tính chất hợp tác, và để có điều này thì cần phân định rõ công việc và trách nhiệm của nhà quản trị và người lao động Ông nhận thấy rằng việc sử dụng lao động vào thời điểm đó không căn cứ vào khả năng và trình độ của người công nhân, công nhân làm việc theo thói quen, không theo tiêu chuẩn và phương pháp, trong khi đó nhà quản trị không chú trọng chức năng lập kế hoạch và tổ chức công việc Ông cho rằng yếu tố căn bản để giảm thời gian làm việc và tăng hiệu suất là tối ưu hóa công việc

Ông đưa ra 4 nguyên tắc quản trị khoa học, đó là:

 Thiết kế công việc một cách khoa học (thay cho phương pháp cũ dựa vào kinh nghiệm); tiến hành tiêu chuẩn hóa cách thức thực hiện công việc và xác định các điều kiện làm việc phù hợp Cụ thể là nhà quản trị cần nghiên cứu các thao tác, quy

Trang 20

CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO TRỰC TUYẾN TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

3

 Đề cao vai trò hoạch định của nhà quản trị, hoạch định cụ thể và chi tiết công việc của công nhân thay vì để họ tự ý lựa chọn phương pháp làm việc riêng ; và phân công công việc giữa các nhân viên, phân chia trách nhiệm rõ ràng giữa nhà quản trị

và nhân viên để mỗi bên đều làm tốt phần công việc của mình

 Tuyển chọn công nhân/nhân viên một cách thận trọng và đào tạo, huấn luyện kỹ lưỡng để đảm bảo họ có đủ năng lực thực hiện công việc

 Động viên, khen thưởng bằng vật chất để phát triển tinh thần hợp tác đồng đội, thay

vì khích lệ những nỗ lực cá nhân riêng lẻ của công nhân Trong cuốn sách “Các nguyên tắc quản trị khoa học” của mình, Taylor đã viết “mục tiêu chính của quản trị là tìm sự thịnh vượng tối đa cho doanh nghiệp và kết hợp với sự thịnh vượng tối

đa cho nhân viên”

Cũng trong thời gian đó, đôi vợ chồng người Mỹ Frank và Lillian Gibreth đã nghiên cứu thời gian và cách thức làm việc của các nhóm thợ Họ chia công việc thành nhiều phần việc nhỏ hơn và tổ chức hợp lý các công việc để đạt hiệu quả cao hơn Qua quan sát động tác của những người thợ, họ đã thấy rằng có nhiều cử động như với tay, cúi, khom lưng… có thể kết hợp lại hoặc loại bỏ để làm tăng năng suất lao động Có thể nói, Frank và Lillian Gilbreth đã tạo ra những bước đột phá quan trọng trong việc đơn giản hóa và hợp lý hóa công việc

Hai ông bà cũng nghiên cứu mối quan hệ giữa năng suất lao động và việc cải thiện tinh thần làm việc thông qua cải thiện môi trường làm việc, bao gồm điều chỉnh ánh sáng, nhiệt

độ, thiết kế nơi làm việc Đặc biệt, sau khi ông Frank qua đời, bà Lillian đã tiếp tục tập trung vào yếu tố con người trong sản xuất công nghiệp Bà đưa ra nhiều ý tưởng về việc

Trang 21

CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO TRỰC TUYẾN TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

công nhân cần được làm việc trong những điều kiện đảm bảo an toàn, làm việc theo số ngày tiêu chuẩn, được nghỉ giải lao giữa giờ và được nghỉ ăn trưa vào giờ quy định

Cùng thời với Taylor, còn có Henry Laurence Gantt - một kỹ sư cơ khí người Mỹ - đã đưa

ra biểu đồ Gantt giúp tổ chức thực hiện các công việc một cách hợp lý Biểu đồ Gantt miêu

tả tiến trình thực hiện dòng công việc để hoàn thành mục tiêu đặt ra, vạch ra các giai đoạn của công việc theo kế hoạch, so sánh nó với thực tế Hiện tại, biểu đồ Gantt là một công cụ quan trọng trong hoạt động quản trị vận hành, được sử dụng để lập lịch trình tiến độ thực hiện dự án

Lý thuyết quản trị khoa học chú trọng phát triển các kỹ năng quản trị qua việc phân công

và chuyên môn hóa quá trình lao động, hình thành quy trình sản xuất dây chuyền, nhấn mạnh vai trò của việc tuyển chọn và huấn luyện nhân viên (theo Frederick Winslow Taylor); dùng đãi ngộ để tăng năng suất lao động (theo Frank và Lillian Gibreth); nhấn mạnh giảm giá thành để tăng hiệu quả, sử dụng các phương pháp hệ thống và hợp lý để giải quyết các vấn đề quản trị (Frank và Lillian Gibreth, Henry Laurence Gantt) Có thể thấy lý thuyết quản trị khoa học có nhiều đóng góp cho sự phát triển của lý thuyết quản trị Tuy nhiên lý thuyết quản trị khoa học cũng có nhiều hạn chế, đó là chú trọng nhiều đến khía cạnh kỹ thuật và chủ trương áp dụng nguyên tắc quản trị tổng quát cho mọi trường hợp nên nó chỉ áp dụng tốt trong môi trường ổn định, việc áp dụng trong môi trường có nhiều biến động và phức tạp sẽ rất khó khăn Mặt khác lý thuyết quản trị khoa học đề cao tính kinh tế và ít chú trọng tính nhân văn

Sau đây chúng ta nghiên cứu dòng lý thuyết thứ 2 trong lý thuyết quản trị khoa học – đó là

lý thuyết quản trị hành chính

Trang 22

CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO TRỰC TUYẾN TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

5

Trong khi lý thuyết quản trị khoa học chú trọng đến hợp lý hóa công việc và những nhiệm

vụ mà người công nhân, nhân viên phải làm thì lý thuyết quản trị hành chính lại phát triển những nguyên tắc quản trị chung cho một tổ chức Người đại diện tiêu biểu cho lý thuyết quản trị hành chính là Henry Fayol và Max Weber

Henry Fayol là một nhà quản trị người Pháp, được mệnh danh là “Taylor của châu Âu” Taylor cho rằng năng suất lao động kém là do công nhân không biết cách làm việc và không được kích thích đầy đủ về kinh tế Ông chỉ ra rằng năng suất lao động của nhân viên tùy thuộc vào sự sắp xếp, tổ chức của nhà quản trị Fayol rất nhấn mạnh đến tầm quan trọng của nguyên tắc quản trị, ông là người đầu tiên trong lịch sử coi nguyên tắc quản trị là phương hướng của hoạt động quản trị

Căn cứ vào kinh nghiệm, Fayol đã khái quát 14 nguyên tắc quản trị cơ bản, đó là:

1/ Phân chia công việc: công việc phải được phân chia rồi lại chia nhỏ nữa thành những

yếu tố nhỏ nhất có thể thực hiện được để tận dụng những lợi thế của việc chuyên môn hóa;

2/ Quyền hạn tương xứng với trách nhiệm: mỗi người làm việc cần được trao quyền hạn

đủ để thực hiện tốt công việc được giao;

3/ Kỷ luật: mỗi người lao động cần tuân thủ bất cứ thỏa thuận nào đã được xác định rõ ràng

giữa họ và tổ chức mà họ làm việc; các nhà quản trị phải xử phạt công minh mọi trường hợp vi phạm;

4/ Thống nhất chỉ huy: người lao động nhận mệnh lệnh và chịu trách nhiệm trước một

người cấp trên duy nhất;

5/ Thống nhất chỉ đạo: những hoạt động có chung một mục đích phải được kết hợp lại và

điều hành theo cùng một kế hoạch; và đạt được cùng một mục tiêu

Trang 23

CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO TRỰC TUYẾN TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

6/ Lợi ích cá nhân phục tùng lợi ích tập thể: quyền lợi của tổ chức phải được ưu tiên hơn

quyền lợi của cá nhân;

7/ Trả thù lao thỏa đáng: thù lao được trả căn cứ vào kết quả đạt được, động viên người

lao động bằng tiền thưởng nhưng tránh tình trạng thù lao quá cao;

8/ Quản lý tập trung: quyền hành phải tập trung vào nhà quản trị cao nhất; mức độ tập

trung tùy từng trường hợp và điều kiện cụ thể của tổ chức;

9/ Hệ thống cấp bậc: cần có hệ thống chỉ huy và phân quyền rõ ràng từ cấp cao nhất đến

cấp thấp nhất, truyền đạt mọi chỉ thị và thông tin thông qua hệ thống cấp bậc này; hệ thống cấp bậc chỉ có thể thay đổi trong những tình huống khẩn cấp;

10/ Trật tự: mỗi việc làm phải được xác định sao cho người làm việc đó hiểu rõ nó và mối

quan hệ của nó với các công việc khác;

11/ Công bằng: những quy tắc và thỏa thuận đã thiết lập cần được thi hành một cách công

bằng;

12/ Ổn định nhân sự: ổn định trong bố trí, sắp xếp nhân lực, khuyến khích người lao động

trung thành với tổ chức và cam kết làm việc lâu dài;

13/ Tinh thần chủ động và sáng tạo: người lao động cần được khuyến khích suy xét độc

lập trong phạm vi quyền hạn được trao và công việc đã xác định của mình; khuyến khích

và phát triển sáng kiến ở tất cả mọi thành viên, mọi cấp quản trị;

14/ Tinh thần đồng đội: người lao động cần được khuyến khích xác định rõ quyền lợi của

mình với những người trong cùng một tổ chức và nhờ vậy mà thống nhất được các nỗ lực, xây dựng tinh thần làm việc đồng đội

Bên cạnh Fayol, có một đại diện tiêu biểu thứ 2 trong trường phái quản trị hành chính là

Trang 24

CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO TRỰC TUYẾN TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

7

nhận là một trong bốn người sáng lập ngành xã hội học và quản trị công đương đại - đã có nhiều đóng góp vào lý thuyết quản trị hành chính, thông qua việc phát triển tổ chức quan liêu bàn giấy, đây là phương thức hợp lý để tổ chức một công ty phức tạp Hệ thống quan liêu bàn giấy được định nghĩa là một hệ thống chức vụ với các nhiệm vụ được phân chia

rõ ràng, phân cấp phân quyền cụ thể, các mục tiêu phân biệt, hay nói cách khác, là một hệ thống quyền hành có thứ bậc và trật tự Hiện nay chúng ta đều hiểu rằng từ “quan liêu” thường được dùng để nói về một tổ chức nặng nề về thủ tục hành chính, phức tạp và phiền toái, một tổ chức cứng nhắc, lỗi thời Cách hiểu này hoàn toàn khác với tư tưởng ban đầu của Weber

Năm đặc điểm của hệ thống quan liêu bàn giấy theo Weber là:

1 Phân công lao động rõ ràng: công việc, quyền lợi và trách nhiệm được quy định rõ ràng và được hợp pháp hóa;

2 Thứ bậc thẩm quyền rõ ràng: Các chức vụ, vị trí được thiết lập theo hệ thống chỉ huy, thẩm quyền và trách nhiệm của mỗi vị trí đều được xác định rõ , mỗi người ở một vị trí nào đó đều phải báo cáo cho người ở 1 vị trí cao hơn;

3 Các quy tắc và thủ tục chính thức: các văn bản hướng dẫn hành vi các quyết định trong công việc và các hồ sơ văn bản đều được lưu giữ theo trình tự hợp lý;

4 Khách quan: Các nhà quản trị phải tuân thủ mọi quy định và thủ tục Luật lệ cần được áp dụng công bằng và thống nhất cho mọi người;

5 Đánh giá dựa trên kết quả công việc: Nhân sự được lựa chọn và thăng cấp theo khả năng, kết quả làm việc, thông qua thi cử, huấn luyện và kinh nghiệm;

Có thể nói, đặc điểm nổi bật của lý thuyết quản trị hành chính là sắp đặt hợp lý các hoạt động trong một tổ chức căn cứ theo các nguyên tắc, quy định nhằm tăng năng suất lao

Trang 25

CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO TRỰC TUYẾN TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

động Lý thuyết quản trị hành chính đã đóng góp rất nhiều vào lý luận và thực tiễn quản trị, và vẫn còn được áp dụng đến ngày nay Tuy vậy, lý thuyết quản trị hành chính chưa chú trọng đến yếu tố con người và tác động của xã hội, đây chính là nhược điểm của lý thuyết này

Trang 26

CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO TRỰC TUYẾN TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

1

BÀI GIẢNG DẠNG VĂN BẢN (SCRIPT)

Môn học: Quản trị học

Chương 1: Tổng quan về quản trị học

Chủ đề 2: Chức năng của quản trị

Xin chào các bạn,

Chúng ta đã biết rằng quản trị nhằm giúp các cá nhân hợp tác với nhau để thực hiện các công việc đạt mục tiêu, tức là đạt kết quả và hiệu quả đặt ra, vì vậy quản trị cần được thực hiện như một quy trình phổ biến Một nhà quản trị thực hiện các hoạt động quản trị là những hoạt động nào? Chúng ta sẽ cùng nghiên cứu về các chức năng quản trị để thấy rõ điều này Sau khi học xong bài này, yêu cầu các bạn mô tả được các chức năng quản trị và giải thích được các hoạt động quản trị thể hiện trong cuộc sống và công việc như thế nào

Vào năm 1916, Henri Fayol, một kỹ sư khai thác mỏ người Pháp, một trong những người đầu tiên đưa ra lý thuyết về Quản trị học, ông cho rằng quản trị có năm chức năng, đó là: hoạch định, tổ chức, chỉ huy, phối hợp, và kiểm soát

Vào năm 1937, Luther Gulick và Urwich kết hợp thêm các công việc hành chính và công việc quản trị, họ cho rằng quản trị có bảy chức năng, đó là: hoạch định, tổ chức, nhân sự, chỉ huy, phối hợp, kiểm tra và tài chính Nhiều chuyên gia đã đánh giá cao chức năng tài chính bởi họ cho đây là một điều kiện rất quan trọng để đảm bảo quản trị thành công Cuối những năm 1980 và đầu những năm 1990, các Giáo sư trong các trường đại học ở Mỹ

đã bàn cãi khá nhiều và không thể thống nhất về cách thức phân chia các chức năng quản trị Một số học giả như Elton Mayo, Mary Parker Follet, Chester Barnard, Max Weber,

Trang 27

CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO TRỰC TUYẾN TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Rensis Likert, Chris Argyris… phân chia quản trị thành năm chức năng: lập kế hoạch, tổ chức, nhân sự, lãnh đạo và kiểm soát

Các học giả như James AF Stoner, R Edward Freeman, Daniel R Gilbert, Stephen P Robbins, Mary Coulter, Nancy Langton… chia quản trị thành bốn chức năng: lập kế hoạch,

tổ chức, lãnh đạo, và kiểm soát Họ cho rằng phân chia thành 4 chức năng này là phù hợp nhất vì nó liên quan đến nhiệm vụ và mục tiêu của công ty, đồng thời nó cũng thích hợp để góp phần mang lại kết quả thành công cuối cùng của doanh nghiệp

Trong môn học này, chúng ta cũng phân chia 4 chức năng quản trị là: hoạch định, tổ chức, lãnh đạo, kiểm soát Mọi nhà quản trị trong các doanh nghiệp có quy mô lớn hay nhỏ, hoạt động trong mọi lĩnh vực ngành nghề ở mọi quốc gia, đều có 4 chức năng này

Sau đây chúng ta sẽ nghiên cứu từng chức năng

Trước tiên, nhà quản trị cần nghiên cứu điều kiện cụ thể của doanh nghiệp trong bối cảnh môi trường thay đổi và cạnh tranh, căn cứ vào đó xác định mục tiêu mà doanh nghiệp muốn nhắm tới cũng như các kết quả cụ thể mà doanh nghiệp muốn đạt được

Trang 28

CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO TRỰC TUYẾN TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

3

Ví dụ như sau khi nghiên cứu tình hình thị trường và nhu cầu của khách hàng, căn cứ vào kết quả kinh doanh năm trước, phòng kinh doanh của một công ty đã xác định được mục tiêu doanh số bán trong năm tới Như vậy, phòng kinh doanh phải lên kế hoạch để thực hiện các chiến dịch quảng bá, PR đến khách hàng mục tiêu, lên các phương án phát triển

hệ thống kênh phân phối và mở rộng mạng lưới đại lý… nhằm đạt được mục tiêu doanh số bán hàng đặt ra Đây chính là giai đoạn hoạch định

Đối với các doanh nghiệp mới hình thành thì nhà quản trị cần đề xuất chiến lược phát triển cho doanh nghiệp Trong nhiều trường hợp khác nhà quản trị có thể xem xét hệ thống hóa chiến lược trong các trường hợp cần thiết, lúc này nhà quản trị sẽ xác định sứ mệnh, tầm nhìn, giá trị cốt lõi cho tổ chức; từ đó xác định các mục tiêu mà doanh nghiệp nhắm tới

Ví dụ như một công ty xác định tầm nhìn là trở thành số 1 tại thị trường trong nước về cung cấp các sản phẩm sữa, xác định sứ mệnh là mang lại chất lượng cuộc sống cho người tiêu dùng nhờ việc sử dụng các sản phẩm sữa bổ dưỡng và nhiều giá trị, công ty đã xác định các giá trị cốt lõi phù hợp với sứ mệnh và tầm nhìn là sự trung thực, sự tin cậy, và chất lượng Trên cơ sở đó công ty xác định các mục tiêu chiến lược như: cải tiến chất lượng vượt trội để tạo ra sự khác biệt về sản phẩm, đổi mới công tác chăm sóc khách hàng để duy trì khách hàng trung thành… Trên cơ sở mục tiêu chiến lược đó, công ty sẽ lập các kế hoạch chiến lược, là kế hoạch để đảm bảo kết quả đạt được mục tiêu đặt ra Đây cũng là 1 ví dụ về hoạch định, nhưng có phạm vi rộng và bao quát hơn so với ví dụ trước

Trên cơ sở mục tiêu đã được xác định, nhà quản trị sẽ xác định các hoạt động cần được thực hiện trong một khoảng thời gian cụ thể và nguồn lực cần thiết để thực hiện các hoạt động

đó nhằm đạt được mục tiêu đặt ra Kết quả của việc hoạch định là đưa ra được các kế

Trang 29

CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO TRỰC TUYẾN TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

hoạch dài hạn mang tính định hướng và kế hoạch ngắn hạn với các nội dung cụ thể Nhờ

đó, nhà quản trị có thể quyết định các giải pháp tốt nhất, chủ động né tránh các khó khăn

và các vấn đề phát sinh ngoài dự kiến

Trở lại ví dụ về mục tiêu đạt doanh số bán hàng trong ví dụ thứ nhất, phòng kinh doanh cần xác định chi tiết các công việc cần thực hiện liên quan đến các hoạt động marketing, bán hàng, sản xuất, lên kế hoạch thực hiện các hoạt động đó với ngân sách dự kiến, tính toán số lượng nhân viên cần huy động để triển khai kế hoạch

Trong ví dụ thứ 2, Ban Giám đốc công ty cũng cần lập kế hoạch để thực hiện chiến lược, trong đó xác định rõ nguồn vốn tài chính, con người cần huy động, các công việc ưu tiên

và các chỉ tiêu kết quả cần đạt được về nâng cao chất lượng sản phẩm, gia tăng thị phần khách hàng mới và duy trì thị phần khách hàng trung thành, để góp phần hiện thực hóa chiến lược đặt ra là trở thành nhà cung cấp số 1 về các sản phẩm sữa

Chức năng thứ 2 - Tổ chức

Tổ chức là việc xây dựng cơ cấu, sắp xếp công việc, duy trì và phân bổ nguồn lực phù hợp

để đạt được mục tiêu chung Chức năng tổ chức liên quan đến việc phân công lao động và phối hợp các nguồn lực khác nhau để thực hiện được các kế hoạch đề ra trong chức năng hoạch định Nó liên quan đến việc thiết lập cơ cấu nhân sự, lựa chọn những người phù hợp với tổ chức, phân công nhiệm vụ cho các cá nhân khác nhau, đưa ra những quy trình, thủ tục để mọi người cùng thực hiện và qua đó đạt được các mục tiêu và mục đích của doanh nghiệp Nhà quản trị cần hiểu rõ nhân viên, nắm được các nguồn tài nguyên có thể sử dụng, phân chia công việc, đào tạo nhân viên, tổ chức các nhóm làm việc hợp tác

Trang 30

CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO TRỰC TUYẾN TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

5

Ví dụ như khi thiết kế cơ cấu tổ chức cho 1 công ty, giám đốc cần quyết định cần có các

bộ phận nào, các bộ phận đó đảm nhiệm các công việc gì, số lượng nhân viên cho mỗi bộ phận là bao nhiêu, các trưởng phó đơn vị và nhân viên cần có yêu cầu cụ thể như thế nào

để đảm nhiệm được công việc tại bộ phận đó

Chức năng thứ 3 - Lãnh đạo

Lãnh đạo đóng vai trò rất quan trọng đối với sự thành công của nhà quản trị Lãnh đạo là việc dẫn hướng các hoạt động và kết quả làm việc của nhân viên để giúp đạt được các mục tiêu của tổ chức

Quá trình lãnh đạo là quá trình tạo cảm hứng làm việc cho người khác, tác động vào hành

vi của nhân viên để họ làm việc một cách tích cực, tự nguyện

Cụ thể là xây dựng và truyền đạt tầm nhìn, chỉ đạo hướng dẫn, khuyến khích sự nhiệt tình, động viên sự cam kết và nỗ lực với công việc, kết nối sự hợp tác để hướng đến việc xây dựng một tập thể làm việc hợp tác và tích cực Lãnh đạo thường được thực hiện thông qua các hình thức như tư vấn, hướng dẫn, động viên, hỗ trợ Những người trong vai trò lãnh đạo phải có khả năng ảnh hưởng, thúc đẩy những người khác hướng đến mục tiêu vì chính những người này sẽ trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ hoặc trách nhiệm đề ra trong quá trình lập kế hoạch

Chức năng thứ 4 – Kiểm soát

Kiểm soát là quá trình đo lường việc thực hiện và thực hiện các hoạt động nhằm đảm bảo đạt được các kết quả mong muốn Kiểm soát bao gồm việc đo lường, so sánh kết quả đạt được với mục tiêu đã đặt ra, đưa ra các hoạt động đúng đắn cần thiết để duy trì hoặc cải thiện kết quả đạt được, hoặc khắc phục những sai sót nếu có

Trang 31

CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO TRỰC TUYẾN TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Kiểm soát được thực hiện thông qua việc lựa chọn các mục tiêu cần đánh giá, từ đó xác lập tiêu chuẩn cần đạt được, đưa ra các chỉ tiêu đo lường và đánh giá, sử dụng hệ thống thông tin phản hồi để ghi nhận và đánh giá các kết quả đạt được, so sánh với tiêu chuẩn đặt ra, từ

đó đề xuất các giải pháp khắc phục, cải tiến, sửa chữa

Ví dụ như trưởng các bộ phận trong 1 công ty cần kiểm soát được kết quả thực hiện công việc của các nhân viên, thông qua việc xác định các yêu cầu mà nhân viên cần đạt được, xác định các quy trình thực hiện và tiêu chuẩn hóa các kết quả đạt được thông qua các chỉ tiêu KPI Trong quá trình các nhân viên thực hiện nhiệm vụ, nhà quản trị có hệ thống kiểm tra giám sát, thu thập thông tin phản hồi thông qua các buổi họp nhóm tổ chức thường xuyên và đưa ra các quyết định để điều chỉnh kịp thời Trưởng bộ phận đánh giá kết quả hoàn thành công việc của các nhân viên và quyết định mức thù lao tương xứng

Các bạn thân mến, như vậy chúng ta vừa nghiên cứu 4 chức năng của quản trị là hoạch định, tổ chức, lãnh đạo, kiểm soát Bốn chức năng này đóng vai trò rất quan trọng trong sự thành công của bất kỳ tổ chức nào Một nhà quản trị phải thực hiện các chức năng này để đạt được mục tiêu của công ty Nắm vững các chức năng này sẽ giúp chúng ta thực hiện các công việc thành công và thuận lợi

Trang 32

CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO TRỰC TUYẾN TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Phần 3: Lý thuyết quản trị hiện đại

Các bạn thân mến, theo cách tiếp cận quản trị theo khoa học, nhà quản trị thực hiện nguyên tắc chuyên môn hóa dựa trên quan niệm rằng con người sẽ làm việc với hiệu suất cao khi công việc được mô tả chi tiết và cụ thể Tuy nhiên điều này có thể làm hạn chế cơ hội tự thể hiện của người lao động Theo quan điểm của cách tiếp cận hành chính, con người làm việc trong 1 tổ chức có các quy định, quy tắc rõ ràng, 1 hệ thống cấp bậc được mô tả và phân cấp rõ ràng với sự chỉ đạo và kiểm soát từ cấp cao thì sẽ có kết quả và hiệu suất tốt Tuy nhiên điều này sẽ tạo ra những nhân viên phụ thuộc và thụ động, ảnh hưởng đến tâm

lý người lao động

Các nhà lý thuyết tâm lý cho rằng các nhà quản trị nên thay đổi quan niệm về người lao động, họ không phải là những người thụ động, thích được chỉ huy, giao việc cụ thể mà ngược lại họ sẽ làm việc tốt hơn, có nhiều sáng kiến và năng suất lao động tăng cao hơn nếu có được sự tin tưởng từ cấp trên, được chủ động trong công việc Hơn nữa, các mối quan hệ trong tổ chức, bao gồm mối quan hệ giữa cấp trên và cấp dưới, giữa các đồng nghiệp với nhau, cần được cải thiện để tạo ra môi trường làm việc thân thiện và tích cực Tuy có những ưu điểm như vậy nhưng lý thuyết quản trị hành vi cũng còn nhược điểm là coi con người là phần tử trong hệ thống khép kín chứ chưa quan tâm đến yếu tố ảnh hưởng

từ bên ngoài

Trang 33

CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO TRỰC TUYẾN TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Và bây giờ chúng ta sẽ nghiên cứu trường phái quản trị hiện đại với lý thuyết quản trị định lượng, lý thuyết quản trị hệ thống, (lý thuyết) quản trị chất lượng, lý thuyết quản trị tình huống

Lý thuyết quản trị định lượng ra đời từ trong thế chiến II, khi nước Anh đã tập hợp nhiều nhà khoa học nghiên cứu cơ chế chống lại sự tấn công của Đức Kết thúc chiến tranh thế giới II và từ thập niên 50, các kỹ thuật định lượng được các nhà công nghiệp Mỹ quan tâm

và áp dụng vào nghiên cứu, tạo điều kiện để nâng cao tính chính xác của các quyết định quản trị Những nỗ lực này của họ là cơ sở để phát triển các lý thuyết khác về quản trị Đó chính là: lý thuyết quản trị định lượng, lý thuyết hệ thống, lý thuyết quyết định

Các lý thuyết này được xây dựng dựa trên quan điểm “quản trị là ra quyết định, và muốn quản trị đạt hiệu quả thì các quyết định phải đúng đắn” Lý thuyết định lượng nhấn mạnh phương pháp khoa học trong khi giải quyết các vấn đề quản trị, áp dụng phương pháp tiếp cận hệ thống để tìm kiếm các quyết định tối ưu trong hệ thống khép kín

Và quản trị hướng tới tối ưu hóa việc sử dụng nguồn lực Do vậy, quan điểm cơ bản của lý thuyết quản trị định lượng khác biệt hoàn toàn với hai lý thuyết trên

Lý thuyết này dựa trên giả thiết là tất cả các vấn đề đều có thể giải quyết được bằng các

mô hình toán, sử dụng kết quả thống kê với sự trợ giúp của máy tính điện tử, chú trọng các yếu tố kinh tế - kỹ thuật hơn các yếu tố tâm lý xã hội Vì vậy người ta cho rằng lý thuyết định lượng là sự tiếp nối của lý thuyết quản trị khoa học

Ngày nay lý thuyết quản trị định lượng đã thâm nhập hầu hết mọi tổ chức hiện đại với những kỹ thuật phức tạp Các kỹ thuật này đã đóng góp rất lớn cho công tác lập kế hoạch,

tổ chức thực hiện và kiểm soát các hoạt động

Trang 34

CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO TRỰC TUYẾN TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

3

Có thể nói là khoa học quản trị, quản trị sản xuất, quản trị vận hành, quản trị tồn kho, quản trị chuỗi cung ứng, quản trị điều hành, quản trị hệ thống thông tin, phân tích chuỗi giá trị, quản trị chất lượng, phân tích quy trình kinh doanh … là rất quan trọng trong các tổ chức lớn và hiện đại Nhà quản trị ứng dụng các công cụ toán học một cách có hệ thống để khảo sát vấn đề mà các tổ chức đều gặp phải, đó là làm thế nào sản xuất hàng hóa và dịch vụ đạt được kết quả và hiệu quả Tuy nhiên, lý thuyết định lượng cũng có nhược điểm rất lớn là

ít chú trọng đến vai trò của con người trong tổ chức, mặt khác các kỹ thuật quản trị của lý thuyết này khá phức tạp nên cần phải có các chuyên gia hỗ trợ khi thực hiện

Tiếp theo đây, chúng ta sẽ nghiên cứu về Lý thuyết quản trị hệ thống

Lý thuyết này xuất phát từ quan điểm xem tổ chức như là một hệ thống

Trong 1 thời gian dài tổ chức được xem là có tính hệ thống, trong đó thành tích của tập thể bao gồm sự đóng góp của các thành viên Tuy nhiên sự hợp tác giữa nhiều người và các bộ phận trong tổ chức thường là không hoàn hảo và cần phải được cải thiện, vì thế chúng ta phải hiểu được tính phức tạp của 1 tổ chức với tính chất là 1 hệ thống, bao gồm nhiều bộ phận tương tác với nhau, hay còn gọi là các hệ thống con, cùng hoạt động để đạt được mục tiêu chung

Tổ chức được mô tả như 1 hệ thống mở tương tác với môi trường trong quá trình liên tục biến đổi các yếu tố đầu vào - bao gồm con người, công nghệ, thông tin, tiền, vật tư – thành đầu ra là sản phẩm và dịch vụ cho khách hàng Trong một công ty, hệ thống quản trị điều hành đóng vai trò trung tâm của quy trình tạo ra sản phẩm và dịch vụ, và nó cần được sự

hỗ trợ và phối hợp của các hệ thống khác như hệ thống cung ứng, kế toán, bán hàng, và thông tin Tổ chức chỉ đạt được kết quả cao khi mỗi hệ thống con đồng thời thực hiện tốt nhiệm vụ của mình và phối hợp tốt với các hệ thống con khác

Trang 35

CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO TRỰC TUYẾN TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Có một lý thuyết quan trọng và thích ứng trong môi trường biến đổi hiện nay, đó là lý thuyết quản trị theo tình huống

Lý thuyết quản trị theo tình huống cho rằng quản trị hữu hiệu là căn cứ vào tình huống cụ thể để vận dụng kết hợp các lý thuyết đã có từ trước Lý thuyết cổ điển (bao gồm lý thuyết quản trị khoa học và quản trị hành chính) cũng như lý thuyết hành vi chủ trương năng suất lao động là chìa khóa để đạt hiệu quả quản trị Trong khi đó lý thuyết định lượng cho rằng việc quyết định đúng đắn là điều quan trọng nhất trong quản trị

Chúng ta cần kết hợp các lý thuyết nói trên để vận dụng linh hoạt trong điều kiện thực tiễn

cụ thể, bởi không thể áp dụng các nguyên tắc chung đồng loạt cho các tổ chức có quy mô, đặc điểm, mục tiêu khác nhau

Bây giờ, chúng ta sẽ nghiên cứu về vấn đề Quản trị chất lượng

Edwards Deming là người thiết lập nền tảng đầu tiên cho trào lưu hướng về chất lượng trong quản trị Phương thức quản trị chất lượng toàn diện (TQM) được hình thành và áp dụng, nhằm nhấn mạnh việc cam kết thực hiện chất lượng toàn diện cho bất kỳ cá nhân, bộ phận, công việc nào trong tất cả các khâu từ sản xuất đến cung ứng, phân phối sản phẩm/dịch vụ Các nguyên tắc quản trị chất lượng được áp dụng vào mọi khía cạnh trong hoạt động sản xuất và nỗ lực đáp ứng nhu cầu của khách hàng, tức là phải làm công việc theo cách đúng nhất ngay từ đầu

Một số tổ chức hướng đến việc đạt được giấy chứng nhận ISO của tổ chức Tiêu chuẩn quốc

tế, bởi vì giấy chứng nhận này được nhiều quốc gia xem như một chuẩn mực về việc thực hiện quy trình đảm bảo chất lượng Vì vậy các doanh nghiệp muốn vươn lên vị trí dẫn đầu đều nhắm đến việc có được giấy chứng nhận về ISO ở mọi cấp độ Các doanh nghiệp này

Trang 36

CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO TRỰC TUYẾN TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

5

phải đạt tới những tiêu chuẩn được đánh giá nghiêm ngặt bởi các kiểm soát viên chất lượng bên ngoài theo những yêu cầu của ISO

Lý thuyết Quản trị theo mục tiêu được Peter Ferdinand Drucker xây dựng

Trong bối cảnh khoa học công nghệ và thông tin thay đổi hàng ngày, theo Drucker, cần thay đổi về căn bản quan niệm và cách tiếp cận quản trị trước đây Mục đích của quản trị không chỉ là lợi nhuận, là hiệu quả mà còn phải đáp ứng được nhu cầu đa dạng, thường xuyên biến đổi của khách hàng, do đó makerting phải trở thành một hoạt động không thể thiếu của bất kỳ doanh nghiệp nào Và quản trị doanh nghiệp là một công việc sáng tạo trên nền tảng makerting, trong đó công việc nghiên cứu và phát triển (R&D) cần được thực hiện thường xuyên nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội

Drucker đã phát triển cách tiếp cận quản trị theo mục tiêu (MBO), bao gồm các mục tiêu: phục vụ khách hàng, cung cấp hàng hoá dịch vụ, trách nhiệm đối với nhân viên, trách nhiệm đối với xã hội… Tính đa dạng của khách hàng và việc thường xuyên thay đổi nhu

cầu của họ đòi hỏi nhà quản trị phải sẵn sàng đối đầu với những rủi ro Muốn vậy, phải có năng lực ra quyết định, có khả năng tập hợp đội ngũ thống nhất, có khả năng thúc đẩy và khuyến khích nhân viên tham gia ra quyết định

Drucker nhấn mạnh tầm quan trọng của việc kết nối mục tiêu bộ phận với mục tiêu chung của tổ chức, có nghĩa là mục tiêu tổ chức được đảm bảo từ việc đạt được các mục tiêu bộ phận, và các mục tiêu bộ phận lại được đảm bảo từ việc đạt được các mục tiêu cá nhân Ông cũng nhấn mạnh việc ủy quyền để cho các nhà quản trị cấp dưới được quyền chủ động nhằm đạt đến kết quả cuối cùng, đồng thời tạo cơ hội để các nhà quản lý cấp dưới thăng tiến khi họ thực sự có năng lực và thành tích Drucker đã đưa ra 3 nguyên tắc thiết kế tổ

Trang 37

CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO TRỰC TUYẾN TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

chức khác nhau, đó là các nguyên tắc lấy nhiệm vụ làm trung tâm; lấy thành quả làm trung tâm; và lấy quan hệ công việc làm trung tâm

Cuối cùng, chúng ta chuyển sangvấn đề Quản trị tri thức và tổ chức học tập

Quản trị tri thức hướng đến việc liên tục tích lũy và sử dụng kiến thức để phát triển trong một tổ chức, trong đó công nghệ thông tin được xem là công cụ đắc lực để phát triển, tổ chức, và chia sẻ tri thức để đạt được sự thành công Các tài sản tri thức của một tổ chức bao gồm: bằng phát minh, quyền sở hữu trí tuệ, bí quyết thương mại, các quy trình và phương pháp quản lý đặc thù, cũng như các kiến thức và sự thông hiểu tích lũy được của toàn bộ lực lượng lao động trong tổ chức

Một tổ chức nhấn mạnh đến quản trị tri thức được gọi là tổ chức học tập, được định nghĩa

là nơi con người, các giá trị và các hệ thống có năng lực thay đổi liên tục và cải tiến việc thực hiện các hoạt động dựa trên nền tảng những bài học kinh nghiệm Tổ chức học tập luôn khuyến khích và giúp đỡ mọi thành viên liên tục học hỏi và nhấn mạnh việc chia sẻ thông tin, làm việc đồng đội, giao quyền cho người lao động, và khuyến khích sự tham gia của mọi người vào công việc

Các bạn thân mến,

Có nhiều trường phái khác nhau trong cách tiếp cận và quan niệm về quản trị Điều đó thể hiện tính đa dạng, phức tạp của thực tiễn quản trị Chúng ta vừa nghiên cứu 3 dòng lý thuyết

về quản trị, thể hiện cho sự thay đổi trong nhận thức của lịch sử nhân loại về quản trị Đó

là một quá trình đi từ cách tiếp cận quản trị theo góc độ kinh tế - kỹ thuật, tổ chức - hành chính sang cách tiếp cận theo góc độ tâm lý - xã hội, chuyển qua tiếp cận theo văn hoá và cuối cùng là tiếp cận theo hướng tích hợp và thích nghi trong môi trường biến đổi

Trang 38

CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO TRỰC TUYẾN TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

7 Chúng tôi xin kết thúc bài học về lý thuyết quản trị ở đây Xin chào và hẹn gặp lại các bạn trong những bài học sau

Trang 39

CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO TRỰC TUYẾN TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH BÀI GIẢNG DẠNG VĂN BẢN (SCRIPT)

là chủ thể của các hoạt động quản trị, vậy nhà quản trị là ai? Nhà quản trị cần có các yêu cầu gì? Chúng ta sẽ nghiên cứu các vấn đề này trong Chương 2: Nhà quản trị

Chương 2 bao gồm ba nội dung ứng với ba chủ đề chính:

 Chủ đề 1: Khái niệm nhà quản trị,

 Chủ đề 2: Năng lực và tố chất nhà quản trị và

 Chủ đề 3: Đạo đức và trách nhiệm nhà quản trị

Sau khi học xong chương 2, chúng ta sẽ:

 Xác định được vị trí của nhà quản trị trong tổ chức

 Phân biệt được các cấp bậc quản trị

 Trình bày được ba nhóm vai trò cơ bản của nhà quản trị

 Phân biệt được những năng lực cần thiết của nhà quản trị

 Giải thích được mối quan hệ giữa năng lực quản trị và các cấp bậc quản trị

 Trình bày được tầm quan trọng của tố chất, đạo đức và trách nhiệm của nhà quản trị

Trang 40

CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO TRỰC TUYẾN TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

2

Trong buổi học ngày hôm nay chúng ta sẽ tìm hiểu chủ đề đầu tiên: Chủ đề 1: Khái niệm nhà quản trị Đối với chủ đề này, các bạn được kỳ vọng sẽ:

 Xác định được vị trí của nhà quản trị trong tổ chức

 Phân biệt được các cấp bậc quản trị

 Trình bày được ba nhóm vai trò cơ bản của nhà quản trị

Để đạt được mục tiêu như trên, chúng ta sẽ tìm hiểu 3 nội dung chính:

 Thứ nhất: Định nghĩa nhà quản trị,

 Thứ hai: Các cấp bậc quản trị và

 Thứ ba: Vai trò nhà quản trị trong tổ chức

Chúng ta tìm hiểu nội dung thứ nhất, định nghĩa nhà quản trị:

Nhà quản trị là những người làm việc trong các tổ chức, họ hoàn thành mục tiêu cùng với

và thông qua những người khác

Nhà quản trị thực hiện các công việc: lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát việc thực hiện các hoạt động để đạt được các mục tiêu của tổ chức Nhà quản trị có trách nhiệm chỉ đạo, điều hành, hỗ trợ trực tiếp, giám sát, động viên người khác nỗ lực làm việc và giúp

họ hoàn thành mục tiêu đề ra

Trong một tổ chức, có nhà quản trị đương nhiên phải có nhân viên thừa hành, làm những công việc do nhà quản trị đã phân công Như vậy, điểm khác biệt căn bản giữa nhà quản trị

và người thừa hành là gì? Trả lời được câu hỏi này, chúng ta sẽ xác định được nhà quản trị

là ai trong tổ chức

Ngày đăng: 10/06/2022, 15:18

w