1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ

14 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Người Lái Đò Sông Đà
Tác giả Nguyễn Tuân
Trường học University of Social Sciences and Humanities - Vietnam National University, Hà Nội
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Thể loại bài luận
Năm xuất bản 1960
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 56,67 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ Nguyễn Tuân Đề 1 Cảm nhận của anh chị về hình tượng Sông Đà qua tùy bút Người lái đò Sông Đà của Nguyễn Tuân MB “Ôi những dòng sông bắt nước từ đâu Mà khi về Đất Nước mình thì bắt lên câu hát ” (Nguyễn Khoa Điềm – Đất Nước) Những dòng sông yêu thương của quê hương, đất nước Việt Nam ta tự bao giờ đã trở thành nguồn cảm hứng bất tận cho các văn nghệ sĩ Dường như mỗi nhà văn, mỗi nhà thơ lại có cho riêng mình một con sông để nhớ thương Nguyễn Hoàng Cầm tha thiết với sông Đuống.

Trang 1

NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ

Nguyễn Tuân

Đề 1: Cảm nhận của anh chị về hình tượng Sông Đà qua tùy bút Người lái đò Sông Đà của Nguyễn Tuân

MB:

“Ôi những dòng sông bắt nước từ đâu

Mà khi về Đất Nước mình thì bắt lên câu hát…”

(Nguyễn Khoa Điềm – Đất Nước)

Những dòng sông yêu thương của quê hương, đất nước Việt Nam ta tự bao giờ đã trở thành nguồn cảm hứng bất tận cho các văn nghệ sĩ Dường như mỗi nhà văn, mỗi nhà thơ lại có cho riêng mình một con sông để nhớ thương: Nguyễn Hoàng Cầm tha thiết với sông Đuống yêu thương, Hoàng Phủ Ngọc Tường lại giành trọn tình cảm của mình cho dòng sông Hương nơi xứ Huế đầy thơ mộng, kiều diễm thì Nguyễn Tuân – một người nghệ sĩ tài hoa luôn say mê những cái phi thường, tuyệt đỉnh, thích cảm xúc mạnh lại say đắm vẻ đẹp hung bạo nhưng cũng đầy chất trữ tình của dòng Đà giang Với niềm đam mê khám phá sự vật, hiện tượng đến từng chân tơ kẽ tóc cùng vốn tri thức uyên bác từ lịch sử, địa lý, âm nhạc, đến thể thao, quân sự, Nguyễn Tuân đã tạo nên những trang văn hết sức độc đáo Và không thể không đề cập đến Người lái đò Sông Đà (in trong tập tùy bút Sông Đà năm 1960), nơi mà nhà văn đã thể hiện vô cùng thành công vẻ đẹp thiên nhiên, con người Tây Bắc, đặc biệt là hình tượng Sông Đà

Trong lịch sử nhân loại, mỗi dòng sông lớn đều bồi đắp nên một nền văn minh Trong địa hạt văn học Việt Nam, mỗi dòng sông đều gắn với một phong cách nghệ thuật Ta đã được chiêm ngưỡng một dòng

sông mênh mông, hoang vắng, buồn man mác, thấm đẫm nỗi nhớ nhà trong “Tràng Giang” của Huy Cận; hay một khung cảnh đìu hiu, cách biệt của thiên nhiên sông nước Kinh Bắc trong “Bên kia sông Đuống” của Hoàng Cầm Nếu những bài thơ trên chỉ là điều kiện, là khách thể để các nhà thơ bày tỏ

lòng mình thì đến với Người lái đò sông Đà, người đọc mới cảm nhận được rõ nét về một tác phẩm

viết về một dòng sông thực sự Dưới ngòi bút tài hoa của Nguyễn Tuân, hình ảnh dòng sông “độc bắc lưu” hiện lên với những vẻ đẹp độc đáo Trên cái nền thiên nhiên kì vĩ ấy, Nguyễn Tuân cũng đã làm nổi bật lên vẻ đẹp tài hoa nghệ sĩ trong những người lao động bình thường mà ông luôn gọi là “chất vàng mười đã qua thử lửa” bấy lâu mình vẫn khao khát, kiếm tìm

TB:

I Khái quát:

- "Người lái đò sông Đà" rút từ tập tùy bút "Sông Đà" của Nguyễn Tuân Tác phẩm là kết quả của nhiều dịp ông đến với Tây Bắc trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, đặc biệt là kết quả của chuyến đi thực tế Tây Bắc năm 1958

- Nguyễn Tuân đến với nhiều vùng khác nhau, sống với bộ đội, thanh niên xung phong, công nhân cầu đường

và đồng bào các dân tộc Thực tiễn xây dựng cuộc sống mới đã đem lại cho nhà văn nguồn cảm hứng sáng tạo

- Đến với những tác phẩm của Nguyễn Tuân là ta đang đến với một tâm hồn vô cùng phong phú, với những phát hiện hết sức tinh tế, độc đáo về quê hương Nguyễn Tuân là một nhà văn yêu nước, giàu lòng tự hào dân tộc Tình yêu nước ấy cũng chính là tình yêu thiên nhiên tha thiết Khám phá về sông Đà dòng chảy dữ dội của núi rừng Tây Bắc là một thành công đặc sắc của ông Chỉ có Nguyễn Tuân mới không nhọc công dò đến ngọn nguồn lạch sông, truy tìm đến tận nơi gốc tích khai sinh ra sông Đà, để biết chỗ phát nguyên của nó thuộc huyện Cảnh Đông và thoạt kì thủy, dòng sông mang những cái tên Trung Hoa khá thơ mộng: Li Tiên,

Bả Biên Giang Cũng chưa có nhà văn nào trước Nguyễn Tuân có thể kể tên vanh vách 50/73 con thác lớn nhỏ nằm lô nhô suốt một dải sông từ Lai Châu về đến chợ Bờ Cũng không có ai như ông, để có thể hạ bút viết đúng 3 câu về màu sắc nước sông Đà đã phải có mấy lần bay ngang qua miền sông ấy Dòng sông Đà trong cảm nhận của nhà văn có hai nét tính cách đối lập: hung bạo và trữ tình

Nguyễn Tuân đi nhiều, thăm thú cảnh vật khắp nơi, nhưng lần ấy đến thăm Tây Bắc, ông ưng con sông

Đà lắm! Hình như ông tìm được ở sông Đà một cái gì đó giống ông: vừa bàng bạc, cao cường bí ẩn nhưng cũng vừa rất nhuần nhụy trữ tình Thế là hành trình khám phá sông Đà chẳng khác gì hành trình khám phá những bí ẩn của bản thân Ông nói thiên nhiên Tây Bắc hùng vĩ lắm nhưng cũng thơ mộng lắm! Tất cả dồn tụ lại hợp nên hình ảnh sông Đà Nguyễn Tuân ham khám phá Thế nên vào thời điểm năm 1960, còn gì thú vị hơn khi được đến với sông Đà Con sông vừa nguyên sơ lại đầy tính cách

(Chúng thủy giai đông tẩu - Đà giang độc bắc lưu).

Nguyễn Tuân gặp sông Đà như hai người tri kỉ gặp nhau Và như trên đã nói, viết về sông Đà có một cái gì đó khiến ta liên tưởng Nguyễn Tuân đang viết về chính mình Phải chăng vì thế mà con sông hiện

Trang 2

lên trong những trang tùy bút của nhà văn Nguyễn cá tính vô cùng? Hung bạo là hung bạo nhất, còn thơ mộng thì cũng thơ mộng đến ngọn bến bờ

- Sông Đà là cái tên thượng nguồn của con sông (đoạn chảy đến Việt Nam) Đó là con sông tiền sử nhất, nguyên sơ nhất ở miền Bắc nước ta Đoạn thượng nguồn con sông dữ dội và hung bạo lắm! Không chạy dọc cả con sông, Nguyễn Tuân chỉ dành hết bút lực mà miêu tả sông Đà ở thượng nguồn Nơi ấy sông Đà hiện lên sục sôi, nghiệt ngã và đầy thử thách.

Trong lịch sử nhân loại, mỗi dòng sông lớn đều bồi đắp nên một nền văn minh Trong địa hạt văn học Việt Nam, mỗi dòng sông đều gắn với một phong cách nghệ thuật Ta đã được chiêm ngưỡng một dòng

sông mênh mông, hoang vắng, buồn man mác, thấm đẫm nỗi nhớ nhà trong “Tràng Giang” của Huy Cận; hay một khung cảnh đìu hiu, cách biệt của thiên nhiên sông nước Kinh Bắc trong “Bên kia sông Đuống” của Hoàng Cầm Nếu những bài thơ trên chỉ là điều kiện, là khách thể để các nhà thơ bày tỏ

lòng mình thì đến với Người lái đò sông Đà, người đọc mới cảm nhận được rõ nét về một tác phẩm

viết về một dòng sông thực sự Dưới ngòi bút tài hoa của Nguyễn Tuân, hình ảnh dòng sông “độc bắc lưu” hiện lên với những vẻ đẹp độc đáo Trên cái nền thiên nhiên kì vĩ ấy, Nguyễn Tuân cũng đã làm nổi bật lên vẻ đẹp tài hoa nghệ sĩ trong những người lao động bình thường mà ông luôn gọi là “chất vàng mười đã qua thử lửa” bấy lâu mình vẫn khao khát, kiếm tìm

Sông Đà bắt nguồn từ huyện Cảnh Đông, tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), đi qua một vùng núi ác, đến gần nửa đường xin nhập quốc tịch Việt Nam Sông có tổng cộng 73 con thác dữ và có tổng chiều dài là 983

km Qua cái nhìn của Nguyễn Tuân, con sông Đà trở nên có tính cách phong phú, phức tạp, như một

cố nhân "lắm bệnh lắm chứng, chốc dịu dàng đấy, rồi chốc lại bẳn tính và gắt gỏng thác lũ ngay đấy"

II Cách giới thiệu: Sông Đà được nhà văn quan sát và miêu tả ở nhiều góc độ :

- Ngay từ lời đề từ của tác phẩm, Nguyễn Tuân đã đóng đinh vào lòng người đọc ấn tượng về sự ngang ngạnh, bướng bỉnh lạ thường:

“Chúng thủy giai đông tẩu

Đà giang độc Bắc lưu”

(Mọi con sông đều chảy theo hướng Đông, Duy chỉ có sông Đà theo hướng Bắc)

 Cách giới thiệu tạo ấn tượng về Sông Đà; đã thâu tóm được cái thần, cái độc đáo của sông Đà và cái thần chữ của Nguyễn Tuân

Mở đầu bài là lời đề từ “Chúng thủy giai đông tẩu – Đà giang độc bắc lưu” Khẳng định nét độc đáo của dòng

sông Đà: Mọi con sông đều chảy về hướng Đông, chỉ có sông Đà chảy theo hướng Bắc Khẳng định cá tính độc đáo của Nguyễn Tuân trong dòng sông văn chương: Một nhà văn có ý thức sâu sắc về cái tôi cá nhân, về bản ngã, về cá tính riêng trong sáng tạo nghệ thuật.

III.Về tính cách :

IV. 1.Con sông hung b o: ạ

a) S  hung b o th  hi n   c nh đá b  sông d ng vách thành: ự ạ ể ệ ở ả ờ ự

­ Hình  nh “m t sông ch   y ch  lúc đúng ng  m i có m t tr i” đã g i ra đ ả ặ ỗ ấ ỉ ọ ớ ặ ờ ợ ượ c đ  cao và di n t  đ ộ ễ ả ượ c cái l nh  ạ

l o, âm u c a khúc sông ẽ ủ

­ Hình  nh so sánh “vách đá thành ch t lòng Sông Đà nh  m t cái y t h u” đã di n t  s  nh  h p c a dòng  ả ẹ ư ộ ế ầ ễ ả ự ỏ ẹ ủ

ch y g i ra l u t c r t l n nh t là vào mùa n ả ợ ư ố ấ ớ ấ ướ c lũ v i bao nhiêu nguy hi m rình r p ớ ể ậ

­ B ng liên t ằ ưở ng đ c đáo, Nguy n Tuân đã ti p t c kh c sâu  n t ộ ễ ế ụ ắ ấ ượ ng v  đ  cao c a nh ng vách đá, s  l nh ề ộ ủ ữ ự ạ

l o, u t i c a đo n sông và s  nh  h p c a dòng ch y “ng i trong khoang đò qua quãng  y, đang mùa hè mà  ẽ ố ủ ạ ự ỏ ẹ ủ ả ồ ấ cũng th y l nh, c m th y mình nh  đ ng   hè m t cái ngõ mà ngóng v ng lên m t khung c a s  nào trên cái  ấ ạ ả ấ ư ứ ở ộ ọ ộ ử ổ

t ng nhà th  m y nào v a t t ph t đèn đi n” ầ ứ ấ ừ ắ ụ ệ

b) S  hung b o th  hi n   gh nh đá “quãng m t gh nh Hát Loóng” ự ạ ể ệ ở ề ặ ề

­ Nhân hóa con sông nh  m t k  chuyên đi đòi n  thuê: d  d n, g t gao, tàn b o ư ộ ẻ ợ ữ ằ ắ ạ

­ Đi p t , đi p ng , đi p c u trúc (n ệ ừ ệ ữ ệ ấ ướ c xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió) đ ượ c h  tr  b i nh ng thanh tr c liên ỗ ợ ở ữ ắ

ti p đã t o nên âm h ế ạ ưở ng d  d i, nh p đi u kh n tr ữ ộ ị ệ ẩ ươ ng, d n d p nh  v a xô đ y, v a h p s c c a sóng, gió ồ ậ ư ừ ẩ ừ ợ ứ ủ

và đá khi n cho c  gh nh sông nh  sôi lên, cu n ch y d  d n, t o nên m t m i đe d a th c s  đ i v i b t kì  ế ả ề ư ộ ả ữ ằ ạ ộ ố ọ ự ự ố ớ ấ

ng ườ i lái đò nào “quãng này mà khinh su t tay lái thì cũng d  l t ng a b ng thuy n ra” ấ ễ ậ ử ụ ề

c) S  hung b o th  hi n   nh ng “cái hút n ự ạ ể ệ ở ữ ướ c” ch t ng ế ườ i:

­ S  kh ng khi p tàn đ c: ự ủ ế ộ

+ Đ ượ c tái hi n t  các góc nhìn khác nhau: t  trên nhìn xu ng m t n ệ ừ ừ ố ặ ướ c sông “gi ng nh  cái gi ng bê tông  ố ư ế

th  xu ng sông đ  chu n b  làm móng c u”; t  d ả ố ể ẩ ị ầ ừ ướ i lòng sông nhìn ng ượ c lên “thành gi ng xây toàn b ng  ế ằ

n ướ c sông xanh ve m t áng th y tinh kh i đúc dày, kh i pha lê xanh nh  s p v  tan  p vào…” ộ ủ ố ố ư ắ ỡ ụ

Trang 3

+ Đ ượ c c m nh n t  các v  th  tr i nghi m khác nhau: ả ậ ừ ị ế ả ệ

> v  th  c a ng ị ế ủ ườ i quay phim “ng i vào m t cái thuy n thúng tròn vành r i cho c  thuy n c  mình c  máy quay ồ ộ ề ồ ả ề ả ả

xu ng đáy cái hút sông Đà…” ố

> v  th  c a ng ị ế ủ ườ i xem phim “th y mình đang l y gân ng i gi  ch t gh  nh  ghì l y mép m t chi c lá r ng b   ấ ấ ồ ữ ặ ế ư ấ ộ ế ừ ị

v t vào m t cái c c pha lê n ứ ộ ố ướ c kh ng l  v a rút lên cái g y đánh phèn…” ổ ồ ừ ậ

+ Đ ượ c c m nh n b ng các giác quan khác nhau: th  giác là nh ng hình  nh liên t ả ậ ằ ị ữ ả ưở ng đ c đáo và m i l ;  ộ ớ ạ thính giác: lúc thì “n ướ ở c   đây th  và kêu nh  c a c ng cái b  s c”, lúc thì“n ở ư ử ố ị ặ ướ ặ ặ c  c  c lên nh  v a rót d u sôi ư ừ ầ vào”

­ Gi i pháp: “Không thuy n nào dám men g n nh ng cái hút n ả ề ầ ữ ướ ấ c  y, thuy n nào qua cũng chèo nhanh đ   ề ể

l ướ t quãng sông, y nh  là ô tô sang s   n ga cho nhanh đ  vút qua m t quãng đ ư ố ấ ể ộ ườ ng m ượ n c p ra ngoài b   ạ ờ

v c. Chèo nhanh và tay lái cho v ng mà phóng qua cái gi ng sâu…” ự ữ ế

­> Đó chính là s  minh ch ng rõ nh t cho m c đ  nguy hi m t t cùng c a nh ng cái hút n ự ứ ấ ứ ộ ể ộ ủ ữ ướ c.

­ H u qu  kh ng khi p mà nh ng cái hút n ậ ả ủ ế ữ ướ c gây ra:

­ “Nhi u bè g  r ng đi nghênh ngang vô ý là nh ng cái gi ng hút  y nó lôi tu t xu ng” ề ỗ ừ ữ ế ấ ộ ố

­ “Có nh ng thuy n đã b  cái hút nó hút xu ng, thuy n tr ng ngay cây chu i ng ữ ề ị ố ề ồ ố ượ ồ ụ c r i v t bi n đi, b  dìm và b   ế ị ị

đi ng m d ầ ướ i lòng sông đ n m ế ươ i phút sau m i th y tan xác   khu nh sông d ớ ấ ở ỷ ướ i”

d) S  hung b o th  hi n   chi n tr ự ạ ể ệ ở ế ườ ng sông Đà

* D u hi u đ u tiên là âm thanh ti ng n ấ ệ ầ ế ướ c thác: Âm thanh phong phú: lúc thì nghe nh  là oán trách, lúc nh   ư ư van xin, khi thì khiêu khích, gi ng g n mà ch  nh o, đ c bi t có lúc r ng lên g m thét nh ng âm thanh cu ng  ọ ằ ế ạ ặ ệ ố ầ ữ ồ

n , ghê s  đ  tr n áp con ng ộ ợ ể ấ ườ i.

* Các trùng vi th ch tr n: ạ ậ

­ Trùng vi th ch tr n th  nh t ạ ậ ứ ấ

Đó là “c  m t chân tr i đá”, “m t hòn đá nào trông cũng ng  ng ả ộ ờ ặ ỗ ượ c, hòn nào cũng nhăn nhúm méo mó h n c ơ ả cái m t n ặ ướ c ch  này” ỗ

+ Đá   con thác này bi t bày binh b  tr n nh  Binh pháp Tôn T , g m năm c a tr n, trong đó “có b n c a t   ở ế ố ậ ư ử ồ ử ậ ố ử ử

m t c a sinh, c a sinh n m l p l  phía t  ng n sông” ộ ử ử ằ ậ ờ ả ạ

+ C a sinh l i chia làm ba tuy n ­ ti n v , trung v , h u v  ­ đòi ăn ch t con thuy n đ n đ c ử ạ ế ề ệ ệ ậ ệ ế ề ơ ộ

Khi th ch tr n bày xong, đá ph i h p v i n ạ ậ ố ợ ớ ướ c thác d  d i và nham hi m ữ ộ ể

­ Trùng vi th ch tr n th  hai ạ ậ ứ

+ Khúc sông này càng tăng thêm nhi u c a t  đ  đánh l a con thuy n, và cũng ch  có m t c a sinh. C a sinh ề ử ử ể ừ ề ỉ ộ ử ử

y l i không kém ph n nguy hi m khi “th ng đá t ng đ ng chi n   c a vào”

+ Ph i h p v i đá là “dòng thác hùm beo đang h ng h c t  m nh (lao nhanh) trên sông đá” ố ợ ớ ồ ộ ế ạ

+ Cùng v i đó là b n năm b n th y quân c a  i n ớ ố ọ ủ ử ả ướ c bên b  xô ra, đòi “níu thuy n lôi vào t p đoàn c a t ” ờ ề ậ ử ử

­ Trùng vi th ch tr n th  ba ạ ậ ứ

Ít c a ra vào, “bên ph i bên trái đ u là lu ng ch t c ”, ch  có m t lu ng s ng l i “  ngay gi a b n đá h u v   ử ả ề ồ ế ả ỉ ộ ồ ố ạ ở ữ ọ ậ ệ

c a con thác” ủ

2) Con sông tr  tình: ữ

a) Góc nhìn t  trên cao (máy bay), Sông Đà mang v  đ p c a m t mĩ nhân ừ ẻ ẹ ủ ộ

* T  trên cao nhìn xu ng, dòng ch y u n l ừ ố ả ố ượ n c a con sông gi ng nh  “cái dây th ng ngo n ngoèo d ủ ố ư ừ ằ ướ i  chân mình”, đ c bi t là gi ng nh  mái tóc c a ng ặ ệ ố ư ủ ườ i thi u n  “con sông Đà tuôn dài tuôn dài nh  m t áng tóc  ế ữ ư ộ

tr  tình, đ u tóc chân tóc  n hi n trong mây tr i Tây B c bung n  hoa ban hoa g o tháng hai và cu n cu n  ữ ầ ẩ ệ ờ ắ ở ạ ồ ộ

mù khói núi Mèo đ t n ố ươ ng xuân”.

­ Dòng sông mang v  đ p c a m t áng tóc tr  tình m m m i, tha th ẻ ẹ ủ ộ ữ ề ạ ướ t và duyên dáng.

­ V  đ p c a dòng sông hài hòa v i núi r ng Tây B c, đ ẻ ẹ ủ ớ ừ ắ ượ c núi r ng đi m tô thêm cho nhan s c mĩ mi u ừ ể ắ ề

* Nhìn ng m sông Đà t  nhi u th i gian khác nhau, tác gi  đã phát hi n ra nh ng s c màu t ắ ừ ề ờ ả ệ ữ ắ ươ ẹ i đ p và đa 

d ng c a dòng sông. Màu n ạ ủ ướ c bi n đ i theo mùa, m i mùa có v  đ p riêng trong cách so sánh r t c  th : ế ổ ỗ ẻ ẹ ấ ụ ể

­ Mùa xuân, n ướ c Sông Đà xanh màu “xanh ng c bích”, t ọ ươ i sáng, trong tr o, l p lánh ẻ ấ

­ Mùa thu, n ướ c Sông Đà l i “l  l  chín đ  nh  da m t m t ng ạ ừ ừ ỏ ư ặ ộ ườ ầ i b m đi vì r ượ u b a, l  l  cái màu đ  gi n  ữ ừ ừ ỏ ậ

d    m t ng ữ ở ộ ườ ấ i b t mãn b c b i gì m i đ  thu v ” ự ộ ỗ ộ ề

­ Đ c bi t, nhà văn kh ng đ nh ch a bao gi  con sông có màu đen nh  th c dân Pháp đã “đè ng a con sông  ặ ệ ẳ ị ư ờ ư ự ử

ta ra đ  m c Tây vào”, và g i b ng cái tên l u láo Sông Đen ổ ự ọ ằ ế

* Góc nhìn t  b  bãi sông Đà, dòng sông mang v  đ p c a m t “c  nhân” ừ ờ ẻ ẹ ủ ộ ố

­ V  đ p c a n ẻ ẹ ủ ướ c Sông Đà g i nh  đ n m t trò ch i c a con tr  “tr ợ ớ ế ộ ơ ủ ẻ ướ c m t th y loang loáng nh  tr  con  ắ ấ ư ẻ ngh ch chi u g ị ế ươ ng vào m t mình r i b  ch y”, đ p m t cách h n nhiên và trong sáng ắ ồ ỏ ạ ẹ ộ ồ

­ V  đ p c a n ng sông Đà l i g i nh  đ n th  gi i Đ ẻ ẹ ủ ắ ạ ợ ớ ế ế ớ ườ ng thi “tôi nhìn cái mi ng sáng lóe lên m t màu n ng  ế ộ ắ tháng ba Đ ườ ng thi “Yên hoa tam nguy t há D ệ ươ ng Châu”” (Xuôi thuy n v  D ề ề ươ ng Châu gi a tháng ba, mùa  ữ

Trang 4

­ V  đ p c a b  bãi sông Đà l i g i nh  đ n th  gi i th n tiên trong khu v ẻ ẹ ủ ờ ạ ợ ớ ế ế ớ ầ ườ n c  tích “b  sông Đà, bãi sông  ổ ờ

Đà, chu n chu n b ồ ồ ươ m b ướ m trên sông Đà”.

­> nhà văn đã c m nh n đ ả ậ ượ c cái ch t “đ m đ m  m  m” thân thu c khi g p l i sau m t th i gian “  r ng đi  ấ ằ ằ ấ ấ ộ ặ ạ ộ ờ ở ừ núi đã h i lâu” ơ

* Góc nhìn t  gi a lòng sông Đà, con sông mang v  đ p c a m t ng ừ ữ ẻ ẹ ủ ộ ườ i tình nhân:

+ Đó là v  đ p tĩnh l ng, yên  , thanh bình nh  còn l u l i d u tích c a l ch s  cha ông ẻ ẹ ặ ả ư ư ạ ấ ủ ị ử

+ Đó là v  đ p t ẻ ẹ ươ i m i, tràn tr  nh a s ng, nh  b t đ u m t mùa n y l c sinh sôi ớ ề ự ố ư ắ ầ ộ ả ộ

+ Đó còn là v  đ p hoang s , c  kính ẻ ẹ ơ ổ

­ C nh đ p quá nên đã g i c m h ng cho thi ca bao đ i. V  đ p  y đã cùng v i sông Đà ch y qua không  ả ẹ ợ ả ứ ờ ẻ ẹ ấ ớ ả gian, th i gian, và đ c bi t là ch y qua c  nh ng áng th  ca bao đ i, th  Nguy n Quang Bích r i T n Đà… đ ờ ặ ệ ả ả ữ ơ ờ ơ ễ ồ ả ể

tr  thành b t t  Trong cái nhìn c a thi sĩ T n Đà, Sông Đà đã tr  thành “m t ng ở ấ ử ủ ả ở ộ ườ i tình nhân ch a quen bi t” ư ế 3.Đánh giá:

Ngh  thu t xây d ng hình t ệ ậ ự ượ ng:

­ Tác ph m cũng cho th y s  tài hoa và uyên bác c a Nguy n Tuân. V n s ng phong phú và trí t ẩ ấ ự ủ ễ ố ố ưở ng t ượ ng 

d i dào đã giúp nhà văn t o nên nh ng trang vi t h t s c đ c đáo và có giá tr  ngh  thu t cao ồ ạ ữ ế ế ứ ộ ị ệ ậ

­ Nhà văn cũng đã th  hi n tài năng điêu luy n c a m t ng ể ệ ệ ủ ộ ườ i ngh  sĩ ngôn t ệ ừ

Ý nghĩa c a hình t ủ ượ ng Sông Đà:

­ Sông Đà hi n lên qua nh ng trang văn c a Nguy n Tuân không ch  thu n túy là thiên nhiên, mà còn là m t  ệ ữ ủ ễ ỉ ầ ộ

s n ph m ngh  thu t vô giá. ­> Qua đây tác gi  cũng kín đáo th  hi n tình c m yêu n ả ẩ ệ ậ ả ể ệ ả ướ c tha thi t và ni m say ế ề

mê, t  hào v i thiên nhiên c a quê h ự ớ ủ ươ ng x  s  mình ứ ở

­ Hình t ượ ng sông Đà còn có ý nghĩa là phông n n cho s  xu t hi n và tôn vinh v  đ p c a con ng ề ự ấ ệ ẻ ẹ ủ ườ i ­ ng ườ i lái đò trên dòng sông.

• T ng k t ổ ế

1 Một dòng sông hung bạo – hiểm ác:

Sông Đà hung bạo, lắm thác nhiều ghềnh: "Đường lên Mường Lễ bao xa – Trăm bảy cái thác,

trăm ba cái ghềnh" (Ca dao) và cái hung bạo ấy còn được thể hiện qua dòng chảy ngỗ ngược

của nó: "Chúng thủy giai đông tẩu – Đà giang độc bắc lưu", một dòng chảy riêng, không khuôn mình vào lẽ thường Vẻ nguy hiểm của sông không chỉ được thể hiện qua thác nghềnh mà

đó còn là "đá bờ sông, dựng vách thành, mặt sông chỗ ấy chỉ lúc đúng ngọ mới có mặt

trời Có vách đá thành chẹt lòng Sông Đà như một cái yết hầu Đứng bên này bờ nhẹ tay ném hòn đá qua bên kia vách Có quãng con nai con hổ đã có lần vọt từ bờ này sang bờ kia Ngồi trong khoang đò qua quãng ấy, đang mùa hè mà cũng thấy lạnh, cảm thấy mình như đứng ở hè một cái ngõ mà ngóng vọng lên một khung cửa sổ nào trên cái tầng nhà thứ mấy nào vừa tắt phụt đèn điện" Bằng nghệ thuật so sánh độc đáo, Nguyễn

Tuân đã cho thấy sự nguy hiểm của dòng sông, một nơi hẹp như thế mà lưu tốc dòng nước vốn nhanh bây giờ lại trở nên xiết vô cùng Cứ thử tưởng tượng con thuyền nào mà kẹt vào cái khe ấy thì tiến không được, lùi cũng không xong chỉ chờ sóng nước và đá đập cho tan xác mà thôi

- Cảnh đá bờ sông dựng vách thành/ vách đá chẹt lòng sông Đà như một cái yết hầu/ ngồi trong khoang đò qua

quãng ấy, đang mùa hè mà cũng thấy lạnh trên cái tầng thứ mấy nào vừa tắt phụt đèn điện

Vách đá "đá bờ sông dựng vách thành" và những bức thành vách đá cao chẹt chặt lấy lòng sông hẹp Cái hẹp của lòng sông tác giả tả theo đủ cách: Mặt sông chỗ ấy chỉ lúc đúng ngọ mới có mặt trời Con

hổ con nai có thể vọt qua sông, và chỉ cần nhẹ tay thôi cũng có thể ném hòn đá từ bờ bên này qua bên kia vách "Ngồi trong khoang đò qua quãng ấy, đang mùa hè cũng thấy lạnh, cảm thấy mình như đứng

ở hè một cái ngõ mà ngóng vọng lên một cái khung cửa sổ nào trên cái tầng nhà thứ mấy nào vừa tắt phụt đèn điện" So sánh vừa chính xác, tinh tế, vừa bất ngờ và lạ lùng Cảm giác như Nguyễn Tuân luôn lục lọi đến tận kiệt cùng cái kho ấn tượng nay ăm ắp để tìm cho được một cách nói có thể làm kinh động hồn trí con người

 Cảnh tượng hùng vĩ, huyền bí

 Tác giả sử dụng tổng hợp nhiều giác quan - so sánh, liên tưởng mới mẻ, độc đáo

Dữ dội của sông Đà không phải chỉ có thác đá mà nó còn là cảnh đá bờ sông dựng vách thành hiềm trở Ở khía cạnh này, con sông như một bờ hoang thời tiền sử Chỗ ấy hai bên bờ sông hẹp lại ngồi trong khoang đò qua quãng ấy chỉ lúc đúng Ngọ mới có mặt trời Có chỗ, con nai con hổ đã từng có lần vọt qua bờ bên kia Hay đại loại ta cứ tưởng tượng như đang đi giữa một con phố hẹp ngóng vọng

Trang 5

lên khung cửa sổ trên cái tầng nhà thứ mấy vừa tắt phụt đèn điện Con sông trở nên hoang vắng cổ xưa và có cái gì đó bí hiểm vô cùng

­ Vách đá “đá b  sông d ng vách thành” và nh ng b c thành vách đá cao ch t ch t l y lòng sông h p. Cái h p c a  ờ ự ữ ứ ẹ ặ ấ ẹ ẹ ủ lòng sông tác gi  t  theo đ  cách: ả ả ủ

+ “M t sông ch   y ch  lúc đúng ng  m i có m t tr i” ặ ỗ ấ ỉ ọ ớ ặ ờ

+ “Con h  con nai có th  v t qua sông, và ch  can nh  tay thôi cũng có th  ném hòn đá t  b  bên này qua bên kia  ổ ể ọ ỉ ẹ ể ừ ờ vách…”

­> So sánh v a chính xác, tinh t , v a b t ng  và l  lùng ừ ế ừ ấ ờ ạ

Hùng vĩ của sông Đà còn ở tiếng gầm của thác: hàng cây số nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn luồng gió gầm ghè suốt năm Âm thanh của tiếng nước đổ nghe như tiếng người Cũng oán trách, cũng kêu van rồi lại khiêu khích giọng gằn mà chế nhạo Nguyễn Tuân tả sóng mà nghe như tác giả đang tả người vậy Hay dòng sông kia chính là nỗi niềm của dân tộc, là lời của cha ông vọng về từ phía quá khứ, vọng về từ không biết bao nhiêu trận kịch chiến đã có trên sông?

- Mặt ghềnh Hát Loóng/ nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió/đòi nợ xuýt bất cứ người lái đò sông Đà

Nguyễn Tuân như một nhạc trưởng đang điều khiển một dàn giao hưởng chơi thật hùng tráng bài ca của gió thác xô sóng đá Ban đầu tác giả mới để cất lên khúc như đang "oán trách", "van xin", "khiêu khích", "giọng gằn mà chế nhạo" Thế rồi bất ngờ âm thanh được phóng to hết cỡ, các nhạc khí bừng bừng thét lên khúc nhạc của một thiên nhiên đang ở đỉnh điểm của một cơn phấn khích mạnh mẽ và man dại: "nó rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu rừng tre nứa nổ lửa rừng lửa cùng gầm thét với đàn trâu da cháy bùng bùng " Sự liên tưởng vô cùng phong phú,

âm thanh của thác nước sông Đà được Nguyễn Tuân miêu tả không khác gì âm thanh của một trận động rừng, động đất hay nạn núi lửa thời tiền sử Lấy lửa để tả nước, lấy rừng để tả sông, Nguyễn Tuân quả là đã chơi ngông lắm trong nghệ thuật

 Cái dữ dằn của ghềnh sông với sự hợp sức của gió, của sóng, của đá = điệp từ, điệp ngữ, điệp cấu trúc, tăng tiến

và sự hỗ trợ bởi các thanh trắc

=> mối đe doạ thực sự với người lái đò

- Những cái hút nước giống như cái giếng bê tông/ nước ặc ặc/ từ đáy cái hút nhìn ngược lên vách thành hút mặt

sông chênh nhau tới một cột nước cao đến vài sải

+ Những cái hút nước khủng khiếp  qua: so sánh, nhân hoá, kết hợp tả kể, liên tưởng, tưởng tượng, thủ pháp điện ảnh

=> gây cảm giác lạnh người, hãi hùng

Những cái hút nước ở quãng Tà Mường Vát phía dưới Sơn La lại ghê rợn hơn nữa "Nước ở đây thở

và kêu như cửa cống cái bị sặc Trên mặt cái hút xoáy tít đáy, cũng đang quay lừ lừ những cánh quạ đàn Không thuyền nào dám men gần những cái hút nước ấy, thuyền nào qua cũng chèo nhanh để lướt quãng sông, y như là ô tô sang số ấn ga cho nhanh để vút qua một quãng đường mượn cạp ra ngoài bờ vực Chèo nhanh và tay lái cho vững mà phóng qua cái giếng sâu, những cái giếng sâu nước ặc ặc lên như vừa rót dầu sôi vào Có những thuyền đã bị cái hút nó hút xuống, thuyền trồng ngay cây chuối ngược rồi vụt biến đi, bị dìm và đi ngầm dưới lòng sông đến mươi phút sau mới thấy tan xác ở khuỷnh sông dưới".

Thật là những cái bẫy ghê sợ, chết người!

- Sự hung bạo của sông Đà còn thể hiện ở thác nước, nhà văn đã nhân hoá con sông thành một sinh thể dữ dằn,

gào thét  Sông Đà như một bầy thuỷ quái: hung hăng, nham hiểm, bạo ngược, xảo quyệt

Cũng như "quãng mặt ghềnh Hát Loóng, dài hàng cây số nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô

gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm như lúc nào cũng đòi nợ xuýt bất cứ người lái

đò Sông Đà nào tóm được qua quãng đấy" Bằng kết cấu trùng điệp, tác giả đã làm rõ sự nguy

hiểm của con sông hung dữ, sẵn sàng lấy đi tính mạng bất cứ tay lái nào khinh suất

­ Gió trên sông Đà: “Dài hàng cây s  n ố ướ c xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió, cu n cu n lu ng gió gùn ghè su t năm …”  ồ ộ ồ ố

­> b ng l i vi t tài hoa, nh ng câu văn di n đ t theo ki u móc xích, c u trúc câu trùng đi p, g i hình  nh con sông Đà  ằ ố ế ữ ễ ạ ể ấ ệ ợ ả

cu ng n , d  d n nh  lúc nào cũng mu n tiêu di t con ng ồ ộ ữ ằ ư ố ệ ườ i.

­ Nh ng hút n ữ ướ ở c   quãng Tà M ườ ng Vát: “n ướ ở c   đây th  và kêu nh  c a c ng cái b  s c”, “ch  gi ng n ở ư ử ố ị ặ ỗ ế ướ c sâu  c  ặ

c lên …” nh ng cái hút n c lôi tu t bè g  xu ng ho c hút nh ng chi c thuy n xu ng r i đánh chúng tan xác” ­> L i 

so sánh đ c đáo khi n con sông Đà không khác gì loài th y quái v i nh ng ti ng kêu ghê r n nh  mu n kh ng b   ộ ế ủ ớ ữ ế ợ ư ố ủ ố tinh th n và uy hi p con ng ầ ế ườ i.

(“ Khi thì “oán trách van xin” , khi thì “ khiêu khích, giọng gằn và chế nhạo”, khi thì “rống lên”, “reo như đun sôi”…)

Trang 6

­ Âm thanh thác n ướ c sông Đà:

+ Ban đ u tác gi  m i đ  c t lên khúc nh  đang “oán trách”, “van xin”, “khiêu khích”, “gi ng g n mà ch  nh o”,  ầ ả ớ ể ấ ư ọ ằ ế ạ

“nó r ng lên nh  ti ng m t ngàn con trâu m ng đang l ng l n gi a r ng v u r ng tre n a n  l a… r ng l a  ố ư ế ộ ộ ồ ộ ữ ừ ầ ừ ứ ổ ử ừ ử cùng g m thét v i đàn trâu da cháy bùng bùng…” ­> S  liên t ầ ớ ự ưở ng vô cùng phong phú, âm thanh c a thác n ủ ướ c sông Đà đ ượ c Nguy n Tuân miêu t  không khác gì âm thanh c a m t tr n đ ng r ng, đ ng đ t hay n n núi l a  ễ ả ủ ộ ậ ộ ừ ộ ấ ạ ử

th i ti n s  L y l a đ  t  n ờ ề ử ấ ử ể ả ướ c, l y r ng đ  t  sông, Nguy n Tuân qu  là đã ch i ngông l m trong ngh  thu t ấ ừ ể ả ễ ả ơ ắ ệ ậ

Cả đoạn văn hầu như chỉ thấy Nguyễn Tuân sử dụng thủ pháp đối lập của văn học lãng mạn để khơi gợi cho người đọc hết những hình dung về sự dữ dội của dòng sông Lúc ấy dòng sông không khác gì dòng lửa, bức bối, khó chịu, bứt rứt vô cùng Tiếng gầm thét của thác nước ngoài kia đang rống lên ầm

ĩ như những ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu rừng tre nứa nổ lửa Rồi những xoáy nước giống như những cái giếng sâu nước ặc ặc lên như vừa rót dầu sôi vào Có khi lại như hàng ngàn con đom đóm đang châm lửa vào đầu ngọn sóng Dòng sông dữ dội phi thường thật nhưng nghe sao nó như đang gợi lên cái bất an của con người Dòng sông cuộn mình dữ dội như cuộc sống, như lịch sử nước Việt ta chẳng mấy lúc bình yên Sau cách mạng, cái nhìn thiên nhiên của Nguyễn Tuân thường gắn liền với cài nhìn con người, cái nhìn lịch sử và dân tôc Tùy bút này là một cái nhìn như thế

Tiếng thác réo nghe càng ghê sợ hơn! "Như là oán trách gì, rồi lại như là van xin, rồi lại như là

khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo Tiếng thác rống như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu rừng tre nứa nổ lửa, đang phá tuông rừng lửa, rừng lửa cùng gầm thét với đàn trâu da cháy bùng bùng" Bằng nghệ thuật so sánh, nhân hóa tài ba cùng

những liên tưởng "rất đắt", Nguyễn Tuân đã cho thấy một cảnh tượng thác nước hùng vĩ, nguy hiểm vô cùng Lần đầu tiên trong thơ văn có người lại dùng lửa để miêu tả nước, hai nguyên tố có sức hủy diệt rất lớn lại luôn tương khắc với nhau, có nước thì không có lửa, ngược lại, có lửa thì không có nước Vậy mà Nguyễn Tuân đã làm được điều đó Ông quả là một nghệ sĩ bậc thầy!

Phối hợp với sóng nước với tiếng thác ầm ầm là "sóng bọt đã trắng xóa cả một chân trời đá Đá

ở đây từ ngàn năm vẫn mai phục hết trong lòng sông Mặt hòn đá nào trông cũng ngỗ ngược, hòn nào cũng nhăn nhúm méo mó hơn cả cái mặt nước chỗ này" Sông Đà đã giao

việc cho mỗi hòn, để chúng phối hợp lại thành ba trùng vi nguy hiểm:

- Đá trên sông Đà bày thạch trận chặn đánh tiêu diệt con người  qua trí tưởng tượng phong phú, tài quan sát, sử

dụng ngôn từ điêu luyện, nhân hoá hợp lí

­ Trùng vi đá:

+ Trùng vi th ch tr n th  I: B n đá đ a thì “h t hàm” đ a thì “thách th c”, “m t n ạ ậ ứ ọ ứ ấ ứ ứ ặ ướ c hò la ùa vào b  gãy cán chèo”,  ẻ sóng n ướ c “đá trái, thúc g i vào b ng vào hông thuy n”… ố ụ ề

Trùng vi thứ nhất: Sông Đà bày ra năm cửa trận, có bốn cửa tử, một cửa sinh, cửa sinh nằm lập lờ phía tả ngạn sông Hàng tiền vệ, có hai hòn canh một cửa đá trông như là sơ hở, thực chất chúng đóng vai trò dụ chiếc thuyền vào tuyến giữa Ở trùng vi thứ nhất này sóng nước đóng vai trò chính để tiêu diệt chiếc thuyền Vừa vào trận địa, chúng tấn công chiếc thuyền tới tấp: "Mặt nước hò la vang dậy

quanh mình, ùa vào mà bẻ gãy cán chèo võ khí trên cánh tay mình Sóng nước như thể quân liều mạng vào sát nách mà đá trái mà thúc gối vào bụng và hông thuyền Có lúc chúng đội cả thuyền lên Nước bám lấy thuyền như đô vật túm thắt lưng ông đò đòi lật ngửa mình ra giữa trận nước vang trời thanh la bão nạt Sóng thác đã đánh đến miếng đòn hiểm độc nhất, cả cái luồng nước vô sở bất chí ấy bóp chặt lấy hạ bộ người lái đò".

+ Trùng vi th ch tr n th  II: Sông n ạ ậ ứ ướ c bài binh b  tr n   kh p n i, tăng nhi u c a t , c a sinh n m   phía h u  ố ậ ở ắ ơ ề ử ử ử ằ ở ữ

ng n… ạ

Vượt qua trùng vây thứ nhất, ông lái đò phải đương đầu với trùng vây thứ hai: "Tăng thêm nhiều

cửa tử để đánh lừa con thuyền vào, và cửa sinh lại bố trí lệch qua phía bờ hữu ngạn Dòng thác hùm beo hồng hộc tế mạnh trên sông đá đánh khuýp quật vu hồi chiếc thuyền" Tại

trận chiến đánh giáp lá cà này, chúng quyết sinh quyết tử với ông lái đò Khi chiếc thuyền đã vượt qua, bọn sóng nước cửa tử "vẫn không ngớt khiêu khích, mặc dầu cái thằng đá tướng đứng chiến ở cửa vào đã tiu nghỉu cái mặt xanh lè thất vọng" Đúng là bọn đá sóng nước hiểm độc!

+ Trùng vi th ch tr n th  III: Sông Đà s p đ t bênph i bên trái đ u là lu ng ch t, lu ng s ng   ngay gi a ạ ậ ứ ắ ặ ả ề ồ ế ồ ố ở ữ

Đến trùng vi thứ ba: Ít cửa hơn, bên phải bên trái đều là luồng chết cả Cái luồng sống ở chặng ba này lại ở ngay giữa bọn đá hậu vệ của con thác Tại đây những boong-ke chìm và pháo đài đá nổi ở đầu chân thác phải đánh tan cái thuyền Làm ta liên tưởng đến một trận đấu bóng quyết liệt Chiếc thuyền

Trang 7

như một cầu thủ phải phóng thẳng, chọc thủng cửa giữa, vút, vút, cửa ngoài, cửa trong, lại cửa trong cùng, và như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước, vừa xuyên được vừa tự động lái được lượn được, tiến về phía khung thành và cuối cùng đã hết thác Trận bóng đã thắng lợi về phe người lái đò tài

ba với "tay lái ra hoa"

­> Nh n xét: V i trí t ậ ớ ưở ng t ượ ng phong phú, nh ng câu văn tài hoa, uyên bác , v n d ng ngôn ng  c a nhi u ngành  ữ ậ ụ ữ ủ ề khác nhau nh  võ thu t, th  thao, quân s , , Nguy n Tuân đã tái hi n tr ư ậ ể ự ễ ệ ướ c m t ng ắ ườ ọ i đ c m t Sông Đà hung b o,  ộ ạ

đ c ác không khác gì “k  thù s  m t c a con ng ộ ẻ ố ộ ủ ườ i”.

- Sông Đà “thành ra diện mạo và tâm địa của một thứ kẻ thù số một” sẵn sàng dìm chết con thuyền

=> Khung cảnh sông Đà giống như sa bàn khổng lồ, một trận đồ thiên la địa võng thách đố, khủng bố tinh thần người lái đò làm nghề sông nước

- Sông Đà có vẻ đẹp hoang dại, hùng vĩ và « chất vàng » chính là tiềm năng thủy điện to lớn của sông Đà Khi nghĩ đến những « tuyếc- bin thủy điện », có lẽ nhà văn đã cảm nhận được vị trí, vai trò của Đà giang trong sự

nghiệp xây dựng đất nước

Nói cái dữ dội, nghiệt ngã của dòng thác sông Đà, ta không thể quên những bãi đá Mà nói chính xác hơn, đó phải được coi là những thạch trận Mỗi hòn có một tâm thế riêng, một nhiệm vụ, một tính cách như chính con người vậy Đá cũng chia thành ba hàng mà chặn ở trên sông Có hòn làm nhiệm vụ như mồi nhử các thuyền Hòn khác lại là một boong ke Rồi hòn làm nhiệm vụ tấn công bệ vệ oai phong lẫm liệt Tất cả tạo thành một thế trận không chỉ để đe dọa nhà đò mà khiến cả chúng ta, mỗi khi đọc đến đây hẳn không ít thì nhiều đều nghĩ nó như một chiến trường cổ xưa thực sự Vậy phải chăng những hòn đá với nhiều tâm thế kia chính là những người lính biên cương luôn nhấp nhổm lo lắng chẳng bao giờ yên được? Dòng sông càng miêu tả, càng giống thế giới con người Càng giống như tiếng nói của cha ông đang vọng về từ quá khứ bốn ngàn năm đấu tranh dựng và giữ nước Phải chăng đó chính là cái tạo nên phần hồn cho dòng thác sông Đà? Tạo cho con sông không chỉ là một thực thể của thiên nhiên mà lúc này nó giống như một chứng nhân lịch sử vậy

Sông Đà dữ dội khiến nhà đò ngay cả những ai non tay lái, yếu thần kinh chỉ cần nghe thấy đã phát hoảng lên rồi Ấy vậy mà đoạn sông nước hiền hòa, nó lại đẹp như một cố nhân

Ngồi trên máy bay mà nhìn xuống con sông Đà tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc

ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban, hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mùi khói Mèo đốt nương xuân Đúng là một khung cảnh hết sức mơ mộng, diệu huyền Rồi sông Đà không giống như sông Gâm, hay sông Lô lúc nào cũng chỉ xanh xanh màu canh hến Sông Đà đẹp bởi màu xanh ngọc bích vào mùa xuân Sang thu nước sông lừ lừ chín đỏ như da mặt người bầm đi vì rượu bữa, lừ lừ cái màu đỏ giận dữ ở một người bất mãn, bực bội gì mỗi độ thu về Với tác giả có lúc con sông còn giống như một cố nhân Trong một lần lạc đường, tác giả vô tình nhìn ngắm nó mà nhớ lại một tứ thơ Đường của Lý Bạch xưa Đến đây dòng sông Đà khiến người ta quên hẳn đi cái dữ dội nghiệt ngã của mình Dòng sông gần gũi như con người và xinh đẹp trẻ trung như thiếu nữ

Còn nữa, nhìn cảnh bờ sông Đà, bãi sông Đà, chuồn chuồn bươm bướm trên sông mà vui như nắng giòn tan sau một kỳ mưa dầm, vui như nối lại chiêm bao đứt quãng Có chỗ, đoạn sông lặng như tờ gợi một miền cổ tích xa xưa hay có lúc ngồi đò, ta bắt gặp hình ảnh một con hươu thơ ngộ ngẩng đầu nhung khỏi ánh cỏ sương, chăm chăm nhìn tôi lừ lừ trôi trên một mũi đò Đúng là nhìn cảnh ấy chẳng

ai dám nghĩ dòng sông ở quãng trên lúc nào cũng sẵn sàng ăn chết bất cứ một cái thuyền nào sơ hở Cảnh về đoạn sông này trữ tình thơ mộng và huyền diệu xiết bao

Hình như Tùy bút Sông Đà đọc nhiều mà vẫn còn hấp dẫn lắm! Ai mới đọc e còn cảm thấy ngại

ngùng nhưng đọc rồi lại thấy cuốn hút Đọc để cảm nhận thế giới của dòng sông nhưng lần nào tôi cũng thấy nó vọng ra bao điều mới mẻ của thế giới con người Tôi băn khoăn tự hỏi, phải chăng đó là điều tạo nên tính hấp dẫn đa chiều của hình ảnh dòng sông? Có thể nói khẳng định rằng, Người lái đò

con người muốn dùng văn chương để ca ngợi vẻ đẹp vừa kì vĩ, hào hùng vừa trữ tình, thơ mộng của thiên nhiên

Qua đó, ta thấy con Sông Đà như một loài thủy quái, hung hăng, bạo ngược biết bày thạch trận, thủy trận hòng tiêu diệt thuyền bè trên dòng nước của nó, một thứ thiên nhiên Tây Bắc với "diện mạo và

tâm địa một thứ kẻ thù số một" Con sông mà "hằng năm và đời đời kiếp kiếp làm mình làm mẩy

với con người Tây Bắc và phản ứng giận dỗi vô tội vạ với người lái đò Sông Đà" Chẳng thế mà sông

Đà được gắn với câu đồng dao thần thoại Sơn Tinh Thủy Tinh "Núi cao sông hãy còn dài – Năm

năm báo oán đời đời đánh ghen".

Trang 8

2 Một dòng sông thơ mộng- trữ tình:

Nguyễn Tuân là bậc thầy về ngôn ngữ trong nền văn học hiện đại Việt Nam Những tác phẩm của ông

viết bằng cái “ngông” và bằng tình yêu tha thiết “Người lái đò sông Đà” là bài tùy bút lấy cảm hứng từ

chuyến đi thực tế Hình ảnh con sông Đà được nhìn qua lăng kính tâm hồn nghệ sỹ với nhiều vẻ đẹp khác nhau mang lại ấn tượng độc đáo đối với người đọc Nguyễn Tuân đã rất thành công khi xây dựng hình tượng sông Đà bằng chất liệu ngôn ngữ và tình cảm phong phú

Sông Đà đâu chỉ lắm thác nhiều ghềnh đầy hiểm nguy cho người lái đò mà còn đậm nét thơ mộng, trữ tình: "Con Sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện

trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân" Một cách so sánh tài hoa, phong tình Nước Sông Đà còn thay đổi theo mùa, trong

đó đẹp nhất là mùa xuân và mùa thu: "Mùa xuân dòng xanh ngọc bích, chứ nước Sông Đà

không xanh màu xanh canh hến của Sông Gâm Sông Lô Mùa thu nước Sông Đà lừ lừ chín

đỏ như da mặt một người bầm đi vì rượu bữa, lừ lừ cái màu đỏ giận dữ ở một người bất mãn bực bội gì mỗi độ thu về".

- Về dáng sông : Từ trên cao nhìn xuống: “Sông Đà tuôn dài như một áng tóc trữ tình… ; Sông Đà như một áng tóc mun, dài ngàn ngàn vạn vạn sải”

Dòng sông Đà không chỉ có những "dòng thác hùm beo đang hồng hộc tế manh trên sông đá" mà nó còn là bức tranh thủy mặc vương vấn lòng người Từ trên tàu bay nhìn xuống "con sông Đà tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc, chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban, hoa gạo"

 qua liên tưởng, so sánh: Sông Đà hiện lên như người thiếu nữ Tây Bắc với vẻ đẹp trữ tình trẻ trung và duyên dáng

Con Sông Đà gợi cảm với vẻ đẹp của nắng tháng ba Đường thi "Yên hoa tam nguyệt há Dương

Châu", làm cho người đi rừng dài ngày "vui như thấy nắng giòn tan sau kì mưa dầm, vui như nối lại chiêm bao đứt quãng".

- Về sắc màu : Nhìn ngắm sông Đà từ nhiều thời gian và không gian khác nhau: phát hiện những màu sắc tươi đẹp

và đa dạng của dòng sông: Màu nước của dòng sông thay đổi theo mùa :“Mùa xuân, dòng xanh ngọc bích”, Mùa thu lừ lừ chín đỏ như da người bầm đi vì……

 Màu sắc dòng sông thay đổi theo mùa:

o "Mùa xuân xanh màu ngọc bích", khác với sông Gâm, sông Lô "màu xanh canh

hến"

o Mùa thu nước sông "lừ lừ chín đỏ như da mặt một người bầm đi vì rượu bữa" ->

Sông Đà mỗi mùa mang một vẻ đẹp riêng, quyến rũ và tình tứ

- Hai bên bờ sông :

+“ lặng tờ,

+ hoang dại như một bờ tiền sử…”

+ “ Hồn nhiên như nỗi niềm cổ tích tuổi xưa”…

=> Sông Đà thật mỹ lệ và như “một cố nhân…lắm bệnh nhiều chứng” một người tình nhân chưa quen biết gợi

cảm hứng nghệ thuật và cảm xúc: vừa Đường thi lại vừa hiện đại

 Đến với sông Đà, hăm hở, say mê đến nỗi tác giả như thấy mình như đang "sắp đổ ra sông Đà" Nguyễn Tuân nhìn sông Đà như một cố nhân với những cảnh quan hai bên bờ cực kì gợi cảm: lá non nhú trên những nương ngô, những con hươu "ngẩng đầu nhung khỏi áng cỏ sương" Dòng sông Đà như gợi những nỗi niềm sâu thẳm trong lịch sử đất Việt: "Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa… lặng tờ "như từ Lí, đời Trần, đời Lê"

- Sụng Đà thực sự là một sản phẩm nghệ thuật vô giá của tạo hóa Nhà văn kín đáo thể hiện tình cảm yêu mến tha thiết đối với thiên nhiên đất nước qua việc thi tài cùng tạo hóa làm hiện ra vẻ đẹp của con sông qua những trang viết tài hoa của mình

­ Khái quát dòng sông:

+ Sông Đà là b c tranh th y m c v ứ ủ ặ ươ ng v n lòng ng ấ ườ i.

+ T  trên tàu bay nhìn xu ng “con sông Đà tuôn dài nh  m t áng tóc tr  tình, đ u tóc, chân tóc  n hi n trong mây tr i  ừ ố ư ộ ữ ầ ẩ ệ ờ Tây B c bung n  hoa ban, hoa g o …” ắ ở ạ

­ Màu s c dòng sông thay đ i theo mùa: ắ ổ

+ “Mùa xuân xanh màu ng c bích”, khác v i sông Gâm, sông Lô “màu xanh canh h n” ọ ớ ế

Trang 9

+ Mùa thu n ướ c sông “l  l  chín đ  nh  da m t m t ng ừ ừ ỏ ư ặ ộ ườ ầ i b m đi vì r ượ u b a …” ữ

­> Sông Đà m i mùa mang m t v  đ p riêng, quy n rũ và tình t ỗ ộ ẻ ẹ ế ứ

­ Sông Đà g i không khí huy n tho i th  m ng ợ ề ạ ơ ộ

+ Nguy n Tuân nhìn sông Đà nh  m t c  nhân v i nh ng c nh quan hai bên b  c c kì g i c m: lá non nhú trên  ễ ư ộ ố ớ ữ ả ờ ự ợ ả

nh ng n ữ ươ ng ngô, nh ng con h ữ ươ u“ng ng đ u nhung kh i áng c  s ẩ ầ ỏ ỏ ươ ng” …

+ Dòng sông Đà nh  g i nh ng n i ni m sâu th m trong l ch s  đ t Vi t: “B  sông hoang d i nh  m t b  ti n s  B   ư ợ ữ ỗ ề ẳ ị ử ấ ệ ờ ạ ư ộ ờ ề ử ờ sông h n nhiên nh  m t n i ni m c  tích tu i x a… l ng t  “nh  t  Lí, đ i Tr n, đ i Lê” ồ ư ộ ỗ ề ổ ổ ư ặ ờ ư ừ ờ ầ ờ

=> Nh n xét: C nh sông Đà đ p, th  m ng, h u tình và đ y s c s ng, làm mê đ m lòng ng ậ ả ẹ ơ ộ ữ ầ ứ ố ắ ườ i.

Sông Đà còn có những quãng, những không gian, những cảnh sắc đầy thơ mộng: "Cảnh ven sông ở

đây lặng tờ Hình như từ đời Lí đời Trần đời Lê, quãng sông này cũng lặng tờ đến thế mà thôi" Có những cảnh hoang vu, hoang sơ đến kì lạ: "Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử.

Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa" Cảnh sông Đà còn là "những nương ngô nhú lên những lá ngô non đầu mùa, những cỏ gianh đồi núi đang ra những nõn búp Một đàn hươu cúi đầu ngốn cỏ gianh đẫm sương đêm" Trong lúc đang thưởng thức cảnh sắc

thiên nhiên thơ mộng và tuyệt đẹp như thế, nhà văn bỗng cảm thấy "thèm được giật mình vì một

tiếng còi xúp-lê của một chuyến xe lửa đầu tiên đường sắt Phú Thọ – Yên Bái – Lai Châu" ,

muốn được đánh thức bởi sự hiện diện của con người Thiên nhiên tuy đẹp đấy nhưng hoang sơ, "tịnh

không một bóng người", "một nương ngô nhú lên mấy lá ngô non đầu mùa" mà không có ai

chăm sóc, mà dường như từ đời Lí đời Trần đời Lê, quãng sông này cũng vắng lặng như thế mà thôi Thật buồn tẻ! Từ quá khứ nhà văn trở về với hiện tại và hướng tới tương lai đẹp đẽ Đất đai ở đây sẽ

có con người khai phá, đường xá sẽ được mở, những ngôi làng thị trấn sẽ được mọc lên, khắp nơi đều đầy ắp tiếng cười nói của mọi người Rõ ràng cảnh vật nếu không có con người thì vẫn chỉ là hoang

sơ, tẻ nhạt mà thôi! Đang mộng mơ bên cảnh sông Đà, Nguyễn Tuân có mối giao cảm kì lạ với loài vật: "Con hươu thơ ngộ ngẩng đầu nhung khỏi ánh cỏ sương, chăm chăm nhìn tôi lừ lừ trôi

trên một mũi đò Hươu vểnh tai, nhìn tôi không chớp mắt mà như hỏi tôi bằng cái tiếng nói riêng của con vật lành: Hỡi ông khách sông Đà, có phải ông cũng vừa nghe thấy một tiếng còi sương?" Ở đây dường như là con vật hỏi người hay chính là người đang say trong cảnh mộng mà

tự hỏi mình Cảnh sông Đà thơ mộng là thế, có những khoảng lặng diệu kì khiến con người ta rơi vào cảm giác thần tiên để rồi tiếng đập nước của "đàn cá dầm xanh quẫy vọt lên mặt sông bụng

trắng như bạc rơi thoi đuổi mất đàn hươu vụt biến" đánh thức người đang mộng Nguyễn Tuân

đã dùng cái động để tả thật tài tình cái tĩnh lặng kì diệu Trở về với thực tại, lênh đênh trên dòng nước xanh ngọc đẹp đẽ, phẳng lặng, nhà thơ có sự đồng điệu trong cảm xúc về sông Đà như Tản Đà khi trước: "Dải sông đà bọt nước lênh bênh – Bao nhiêu cảnh bấy nhiêu tình" của "một người

tình nhân chưa quen biết" Con sông Đà như một sinh vật có linh hồn, dòng nước trôi lững lờ "như nhớ thương những hòn đá thác xa xôi để lại trên thượng nguồn, như đang lắng nghe những giọng nói êm êm của người xuôi" Con sông trở nên hiền hòa và thơ mộng, nó "trôi những con

đò mình nở chạy buồm vải nó khác hẳn những con đò đuôi én thắt mình dây cổ điển trên dòng trên".

-> Nguyễn Tuân say mê miêu tả dòng sông với tất cả sự tinh tế của cảm xúc, và bằng một tình yêu thiết tha thiên nhiên đất nước Lòng ngưỡng mộ, trân trọng, nâng niu tự hào về một dòng sông, một ngọn thác, một dòng chảy đã tạo nên những trang văn đẹp hiếm có Nguyễn Tuân xứng đáng là một cây bút tài hoa bậc nhất của nền văn học Việt Nam

3 Nghệ thuật miêu tả:

- Sông Đà được nhìn từ nhiều góc độ: Văn hóa, địa lí, lịch sử, văn học trí tưởng tựởng phong phú, khả năng quan sát tinh tường bằng nhiều giác quan; vốn tri thức rộng, sâu của tác giả về nhiều ngành nghề: quân sự, văn học, thể thao

- Biện pháp: liên tưởng so sánh có sức diễn tả chính xác và sắc sảo , liệt kê, động từ mạnh có giá trị tạo hình cao, sức gợi lớn để xây dựng, khiến Sông Đà như một sinh thể có hồn, có tính cách mụ dì ghẻ chuyên làm mình , làm mẩy với người lái đò

 Vẻ đẹp của thiên nhiên Tây Bắc = vừa hùng vĩ vừa diễm lệ, thơ mộng

Bằng phong cách nghệ thuật độc đáo: uyên bác, tài hoa, không quản nhọc nhằn để cố gắng khai thác kho cảm giác và liên tưởng phong phú, bộn bề nhằm tìm cho ra những chữ nghĩa xác đáng nhất, có khả năng lay động người đọc nhiều nhất, Nguyễn Tuân đã sáng tác được rất nhiều tác phẩm có giá trị lớn, trong đó có sông Đà, một thành quả nghệ thuật đẹp đẽ mà tác giả thu hoạch được trong chuyến đi tới vùng Tây Bắc tổ quốc xa xôi, rộng lớn Ông đã tìm được cái chất vàng của thiên nhiên cùng thứ

Trang 10

vàng mười đã qua thử lửa được thể hiện trong thiên tùy bút "người lái đò Sông Đà" mà con sông Đà với sự hung bạo, trữ tình và thơ mộng của nó đã được tác giả miêu tả thật tài hoa

­ Sông Đà đ ượ c kh c h a b ng bi n pháp ngh  thu t nhân hóa, cùng h  th ng t  v ng phong phú, giàu có, th  hi n  ắ ọ ằ ệ ệ ậ ệ ố ừ ự ể ệ

s  tài hoa uy n bác c a Nguy n Tuân ự ế ủ ễ

­ V n d ng ki n th c phong phú, nh t là ngôn t    các ngành quân s , võ thu t, đi n  nh,  đ  miêu t  con sông    ậ ụ ế ứ ấ ừ ở ự ậ ệ ả ể ả ở nhi u góc đ ề ộ

­ S  d ng nhi u câu văn dài, nh p nhàng, uy n chuy n, hình  nh so sánh đ c đáo, m i l ử ụ ề ị ể ể ả ộ ớ ạ

Ti u k t: ể ế

- Hai đặc điểm trên tưởng chừng như đối lập mà hài hòa, thống nhất trong cùng đối tượng Sông Đà được nhìn nhận như một con người, có tính cách cụ thể, sinh động.

- Nguyễn Tuân say mê miêu tả dòng sông với tất cả sự tinh tế của cảm xúc, và bằng một tình yêu thiết tha với thiên nhiên đất nước Lòng ngưỡng mộ, trân trọng, nâng niu tự hào về một dòng sông, một ngọn thác, một dòng chảy đã tạo nên những trang văn đẹp hiếm có Ông xứng đáng là một cây bút tài hoa bậc nhất của nền văn học Việt Nam.

Đề 2: Cảm nhận của anh/ chị về vẻ đẹp người lái đò trong tùy bút Người lái đò Sông Đà của Nguyễn Tuân

MB: (Tham khảo đề 1)

TB:

Ý 1: Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm:

+ Nguyễn Tuân là nhà văn tài hoa, có phong cách độc đáo

+ Người lái đò Sông Đà in trong tập Sông Đà (1960) Ở tác phẩm này, nhà văn đã thể hiện khá thành công vẻ

đẹp thiên nhiên, con người Tây Bắc qua hình tượng Sông Đà và người lái đò

Ý 2: Vẻ đẹp tài hoa, nghệ sĩ ở hình ảnh ông lái đò:

+ Ông lái đò được đặt trong tình huống thử thách đặc biệt: chiến đấu với thác dữ sông Đà, vượt qua ba trùng vi

thạch trận bằng tài nghệ “ tay lái ra hoa”

+ “nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá”và ung dung chủ động trong hình ảnh “ trên thác hiên ngang người lái đò sông Đà có tự do, vì người lái đò ấy đã nắm được cái quy luật tất yếu của dòng nước Sông Đà” + Rất nghệ sĩ trong hình ảnh “ nắm chắc lấy cái bờm sóng đúng luồng, ông đò ghì cương lái, bám chắc lấy luồng nước đúng mà phóng nhanh vào cửa sinh…”; với lũ đá nơi ải nước, “đứa thì ông tránh mà rảo bơi chèo lên, đứa thì ông đè sấn lên mà chặt đôi ra để mở đường tiến”, con thuyền trong sự điều khiển của ông lái: “ như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước, vừa xuyên vừa tự động lái được, lượn được ”…

 Việc đưa con thuyền tìm đúng luồng nước đúng, vượt qua bao cạm bẫy của thạch trận sông Đà quả thực là một nghệ thuật cao cường từ một tay lái điêu luyện

+ Sau cuộc vượt thác, ông đò ung dung trở về nhịp sống đời thường, tâm hồn bình dị, yêu mến gắn bó với quê

hương trong hình ảnh: “ Đêm ấy nhà đò đốt lửa trong hang đá, nướng ống cơm lam, toàn bàn tán về cá anh vũ cá dầm xanh…”, nhớ tiếng gà gáy ấm áp nên ông lái đò cho buộc bu gà vào đuôi thuyền : “ có tiếng gà gáy đem theo

nó đỡ nhớ nương ruộng bản mường mình…”Đó cũng là bản chất của tâm hồn nghệ sĩ

Ý 3: Vẻ đẹp trí dũng ở hình ảnh ông lái đò:

+ Một mình một thuyền, ông lái giao chiến với sóng thác dữ dội như một viên dũng tướng luôn bình tĩnh đối

đầu với bao nguy hiểm: “ hai tay giữ mái chèo khỏi bị hất lên khỏi sóng trận địa phóng thẳng vào mình…”, gan góc và bản lĩnh trước “ sóng nước như thể quân liều mạng vào sát nách mà đá trái mà thúc gối vào bụng và hông thuyền…”, và “ ông lái đò cố nén vết thương…hai chân vẫn kẹp chặt lấy cuống lái…” , mặc dù “ mặt méo bệch đi

” vì những luồng sóng “ đánh đòn âm, đánh đòn tỉa”, “ nhưng trên cái thuyền sáu bơi chèo, vẫn nghe tiếng chỉ

huy ngắn gọn tỉnh táo của người cầm lái” …

+ Đối mặt với thác dữ sông Đà, ông đò có một lòng dũng cảm vô song: “Cưỡi lên thác sông Đà, phải cưỡi đến cùng như là cưỡi hổ” …

+ Ông lái đò khôn ngoan vượt qua mọi cạm bẫy của thác ghềnh, đưa con thuyền vượt thác an toàn khi “ những luồng tử đã bỏ hết lại sau thuyền” , còn lũ đá thì “thất vọng thua cái thuyền”… Cuộc đọ sức giữa con người với

thiên nhiên thật ghê gớm, căng thẳng, đầy sáng tạo và con người đã chiến thắng

 Vẻ đẹp người lái đò Sông Đà là vẻ đẹp của người anh hùng lao động trong công cuộc dựng xây cuộc sống mới của đất nước

Ý 4: Đặc sắc trong nghệ thuật xây dựng hình tượng của Nguyễn Tuân:

- Người lái đò bình thường, vô danh nơi sóng nước hoang vu, khuất nẻo qua lăng kính nghệ sĩ của Nguyễn Tuân

là một nghệ sĩ tài hoa trong nghệ thuật vượt thác ghềnh

- Phát huy cao độ trí tưởng tượng phong phú, vận dụng những kiến thức của nhiều lĩnh vực để làm nổi bật hình ảnh người lái đò trí dũng, tài hoa…

Ngày đăng: 04/06/2022, 16:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w