NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ Nguyễn Tuân Đề 1 Cảm nhận của anh chị về hình tượng Sông Đà qua tùy bút Người lái đò Sông Đà của Nguyễn Tuân MB “Ôi những dòng sông bắt nước từ đâu Mà khi về Đất Nước mình thì bắt lên câu hát ” (Nguyễn Khoa Điềm – Đất Nước) Những dòng sông yêu thương của quê hương, đất nước Việt Nam ta tự bao giờ đã trở thành nguồn cảm hứng bất tận cho các văn nghệ sĩ Và dường như mỗi nhà văn, mỗi nhà thơ lại có cho riêng mình một con sông để nhớ thương Hoàng Cầm tha thiết với sông Đuống yêu.
Trang 1NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ
Nguyễn Tuân
Đề 1: Cảm nhận của anh chị về hình tượng Sông Đà qua tùy bút Người lái đò Sông Đà của Nguyễn Tuân
MB:
“Ôi những dòng sông bắt nước từ đâu
Mà khi về Đất Nước mình thì bắt lên câu hát…”
(Nguyễn Khoa Điềm – Đất Nước)
Những dòng sông yêu thương của quê hương, đất nước Việt Nam ta tự bao giờ đã trở thành nguồn cảm hứng bất tận cho các văn nghệ sĩ Và dường như mỗi nhà văn, mỗi nhà thơ lại có cho riêng mình một con sông để nhớ thương: Hoàng Cầm tha thiết với sông Đuống yêu thương, Hoàng Phủ Ngọc Tường lại giành trọn tình cảm của mình cho dòng sông Hương nơi xứ Huế đầy thơ mộng, kiều diễm thì Nguyễn Tuân – một người nghệ sĩ tài hoa luôn say mê những cái phi thường, tuyệt đỉnh, thích cảm xúc mạnh lại say đắm vẻ đẹp hung bạo nhưng c ũng đầy thơ mộng của dòng Đà giang Với niềm đam mê khám phá sự vật, hiện tượng đến từng chân tơ kẽ tóc cùng vốn tri thức uyên bác từ lịch sử, địa lý, âm nhạc, đến thể thao, quân sự, Nguyễn Tuân đã tạo nên những trang văn hết sức độc đáo với tùy bút Người lái đò Sông Đà (được in trong tập Sông Đà năm 1960), nơi mà nhà văn đã thể hiện vô cùng thành công khi làm
bật lên “chất vàng mười” của vẻ đẹp thiên nhiên, con người Tây Bắc, đặc biệt nổi bật nhất phải kể đến hình tượng
Sông Đà vừa hung bạo nhưng cũng đậm chất trữ tình
TB:
I Khái quát:
- Nguyễn Tuân là một nhà văn yêu nước, giàu lòng tự hào dân tộc Tình yêu nước ấy cũng chính là tình yêu thiên nhiên tha thiết Đến với những tác phẩm của Nguyễn Tuân là ta đang đến với một tâm hồn vô cùng phong phú, với những phát hiện hết sức tinh tế, độc đáo về quê hương
- Nguyễn Tuân đi nhiều, thăm thú cảnh vật khắp nơi, nhưng lần ấy đến thăm Tây Bắc, ông ưng con sông Đà lắm! Hình như ông tìm được ở sông Đà một cái gì đó giống ông: vừa bàng bạc, cao cường bí ẩn nhưng cũng vừa rất nhuần nhụy trữ tình Thế là hành trình khám phá sông Đà chẳng khác gì hành trình khám phá những bí ẩn của bản thân Ông nói thiên nhiên Tây Bắc hùng vĩ lắm nhưng cũng thơ mộng lắm! Tất cả dồn tụ lại hợp nên hình ảnh sông Đà
- Khám phá về sông Đà – dòng chảy dữ dội của núi rừng Tây Bắc là một thành công đặc sắc của ông Chỉ có Nguyễn Tuân mới không nhọc công dò đến ngọn nguồn lạch sông, truy tìm đến tận nơi gốc tích khai sinh ra sông
Đà, để biết chỗ phát nguyên của nó thuộc huyện Cảnh Đông và thoạt kì thủy, dòng sông mang những cái tên Trung Hoa khá thơ mộng: Li Tiên, Bả Biên Giang Cũng chưa có nhà văn nào trước Nguyễn Tuân có thể kể tên vanh vách 50/73 con thác lớn nhỏ nằm lô nhô suốt một dải sông từ Lai Châu về đến chợ Bờ Cũng không có ai như ông, để có thể hạ bút viết đúng 3 câu về màu sắc nước sông Đà đã phải có mấy lần bay ngang qua miền sông ấy
- Nguyễn Tuân gặp sông Đà như hai người tri kỉ gặp nhau Và như trên đã nói, viết về sông Đà có một cái gì đó khiến ta liên tưởng Nguyễn Tuân đang viết về chính mình Phải chăng vì thế mà con sông hiện lên trong những trang tùy bút của nhà văn Nguyễn cá tính vô cùng? Hung bạo là hung bạo nhất, còn thơ mộng thì cũng thơ mộng đến ngọn bến bờ
- Qua cái nhìn của Nguyễn Tuân, con sông Đà trở nên có tính cách phong phú, phức tạp, như một cố nhân "lắm bệnh lắm chứng, chốc dịu dàng đấy, rồi chốc lại bẳn tính và gắt gỏng thác lũ ngay đấy".
II Cách giới thiệu:
- Sông Đà bắt nguồn từ huyện Cảnh Đông, tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), đi qua một vùng núi ác, đến gần nửa đường
“xin nhập quốc tịch Việt Nam” Sông Đà là cái tên thượng nguồn của con sông (đoạn chảy đến Việt Nam) Đó là
con sông tiền sử nhất, nguyên sơ nhất ở miền Bắc nước ta
- Sông có tổng cộng 73 con thác dữ và có tổng chiều dài là 983 km Đoạn thượng nguồn con sông dữ dội và hung bạo lắm! Không chạy dọc cả con sông, Nguyễn Tuân chỉ dành hết bút lực mà miêu tả sông Đà ở thượng nguồn Nơi ấy sông Đà hiện lên sục sôi, nghiệt ngã và đầy thử thách
- Sông Đà được nhà văn quan sát và miêu tả ở nhiều góc độ Ngay từ lời đề từ của tác phẩm, Nguyễn Tuân đã đóng đinh vào lòng người đọc ấn tượng về sự ngang ngạnh, bướng bỉnh lạ thường:
“Chúng thủy giai đông tẩu
Đà giang độc Bắc lưu”
Trang 2 Khẳng định nét độc đáo của dòng sông Đà: Mọi con sông đều chảy về hướng Đông, chỉ có sông Đà chảy theo hướng Bắc.
Đã thâu tóm được cái thần, cái độc đáo của sông Đà và cái thần chữ cũng như cá tính độc đáo của Nguyễn Tuân
trong dòng sông văn chương: Một nhà văn có ý thức sâu sắc về cái tôi cá nhân, về bản ngã, về cá tính riêng trong sáng tạo nghệ thuật.
III Về tính cách :
1 Con sông hung bạo:
a Sự hung bạo thể hiện ở cảnh đá bờ sông dựng vách thành:
- Sông Đà hung bạo, lắm thác nhiều ghềnh:
"Đường lên Mường Lễ bao xa Trăm bảy cái thác, trăm ba cái ghềnh"
(Ca dao)
- Vẻ nguy hiểm của sông không chỉ được thể hiện qua thác nghềnh mà đó còn là "đá bờ sông, dựng vách thành, mặt sông chỗ ấy chỉ lúc đúng ngọ mới có mặt trời Có vách đá thành chẹt lòng Sông Đà như một cái yết hầu Đứng bên này bờ nhẹ tay ném hòn đá qua bên kia vách Có quãng con nai con hổ đã có lần vọt từ bờ này sang bờ kia.”
Ở khía cạnh này, con sông như một bờ hoang thời tiền sử Cái hẹp của lòng sông tác giả tả theo đủ cách: “mặt sông chỗ ấy chỉ lúc đúng ngọ mới có mặt trời” , “Đứng bên này bờ nhẹ tay ném hòn đá qua bên kia vách.”, “Có quãng con nai con hổ đã có lần vọt từ bờ này sang bờ kia”.
Gợi ra được độ cao của những bức thành vách đá cao chẹt chặt lấy lòng sông hẹp và diễn tả được cái lạnh lẽo, âm u của khúc sông
- Hình ảnh “vách đá thành chẹt lòng Sông Đà như một cái yết hầu”
nghệ thuật so sánh độc đáo diễn tả sự nhỏ hẹp của dòng chảy gợi ra lưu tốc rất lớn nhất là vào mùa nước lũ với bao nhiêu nguy hiểm rình rập
Thử tưởng tượng con thuyền nào mà kẹt vào cái khe ấy thì tiến không được, lùi cũng không xong chỉ chờ sóng nước và đá đập cho tan xác mà thôi
- Nhà văn đã tiếp tục khắc sâu ấn tượng về độ cao của những vách đá, sự lạnh lẽo, u tối của đoạn sông và sự nhỏ hẹp
của dòng chảy “ngồi trong khoang đò qua quãng ấy, đang mùa hè mà cũng thấy lạnh, cảm thấy mình như đứng ở
hè một cái ngõ mà ngóng vọng lên một khung cửa sổ nào trên cái tầng nhà thứ mấy nào vừa tắt phụt đèn điện”.
So sánh vừa chính xác, tinh tế, vừa bất ngờ và lạ lùng Cảm giác như Nguyễn Tuân luôn lục lọi đến tận kiệt cùng cái kho ấn tượng nay ăm ắp để tìm cho được một cách nói có thể làm kinh động hồn trí con người
Cảnh tượng hùng vĩ, huyền bí
Tác giả sử dụng tổng hợp nhiều giác quan - so sánh, liên tưởng mới mẻ, độc đáo
b Sự hung bạo thể hiện ở ghềnh đá “quãng mặt ghềnh Hát Loóng”
- “Ở quãng mặt ghềnh Hát Loóng dài hàng ngàn cây số, nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn gùn ghè suốt năm như lúc nào cũng đòi nợ xuýt bất cứ người lái đò Sông Đà nào tóm được qua đấy.”
Lối viết tài hoa, những câu văn diễn đạt theo kiểu móc xích, cấu trúc câu trùng điệp (nước xô đá, đá xô sóng, sóng
xô gió), nghệ thuật tăng tiến được hỗ trợ bởi những thanh trắc liên tiếp đã tạo nên âm hưởng dữ dội, nhịp điệu khẩn
trương, dồn dập như vừa xô đẩy, vừa hợp sức của sóng, gió và đá khiến cho cả ghềnh sông như sôi lên, cuộn chảy dữ dằn
Nhân hóa con sông như một kẻ chuyên đi đòi nợ thuê: dữ dằn, gắt gao, tàn bạo
Tạo nên một mối đe dọa thực sự đối với bất kì người lái đò nào “quãng này mà khinh suất tay lái thì cũng dễ lật ngửa bụng thuyền ra”.
Trang 3- Sự khủng khiếp tàn độc:
+ Được tái hiện từ các góc nhìn khác nhau: từ trên nhìn xuống mặt nước sông “giống như cái giếng bê tông thả xuống sông để chuẩn bị làm móng cầu”; từ dưới lòng sông nhìn ngược lên “thành giếng xây toàn bằng nước sông xanh ve một áng thủy tinh khối đúc dày, khối pha lê xanh như sắp vỡ tan ụp vào…”
+ Được cảm nhận từ các vị thế trải nghiệm khác nhau:
vị thế của người quay phim: “ngồi vào một cái thuyền thúng tròn vành rồi cho cả thuyền cả mình cả máy quay xuống đáy cái hút sông Đà…”
vị thế của người xem phim: “thấy mình đang lấy gân ngồi giữ chặt ghế như ghì lấy mép một chiếc lá rừng bị vứt vào một cái cốc pha lê nước khổng lồ vừa rút lên cái gậy đánh phèn…”
+ Được cảm nhận bằng các giác quan khác nhau: thị giác là những hình ảnh liên tưởng độc đáo và mới lạ; thính
giác: lúc thì “nước ở đây thở và kêu như cửa cống cái bị sặc”, lúc thì “nước ặc ặc lên như vừa rót dầu sôi vào”.
- Giải pháp: “Không thuyền nào dám men gần những cái hút nước ấy, thuyền nào qua cũng chèo nhanh để lướt quãng sông, y như là ô tô sang số ấn ga cho nhanh để vút qua một quãng đường mượn cạp ra ngoài bờ vực Chèo nhanh và tay lái cho vững mà phóng qua cái giếng sâu…”
So sánh, nhân hoá, kết hợp tả kể, liên tưởng, tưởng tượng, thủ pháp điện ảnh
Đó chính là sự minh chứng rõ nhất cho mức độ nguy hiểm tột cùng của những cái hút nước , gây cảm giác lạnh người, hãi hùng, con sông Đà không khác gì loài thủy quái với những tiếng kêu ghê rợn như muốn khủng bố tinh thần
và uy hiếp con người
- Hậu quả khủng khiếp mà những cái hút nước gây ra:
+ “Nhiều bè gỗ rừng đi nghênh ngang vô ý là những cái giếng hút ấy nó lôi tuột xuống”
+ “Có những thuyền đã bị cái hút nó hút xuống, thuyền trồng ngay cây chuối ngược rồi vụt biến đi, bị dìm và bị đi ngầm dưới lòng sông đến mươi phút sau mới thấy tan xác ở khuỷnh sông dưới.”
Nhà văn đã thành công trong việc đem đến cho người đọc cảm giác chân thực, sống động nhất
d Sự hung bạo thể hiện ở chiến trường sông Đà
- Liên hệ:
“Chiều chiều oai linh thác gầm thét”
(Tây Tiến – Quang Dũng)
Vẻ hung dữ của con thác trong thơ Quang Dũng chưa thấm gì với trang văn của Nguyễn Tuân
- Dấu hiệu đầu tiên là âm thanh tiếng nước thác:
+ Ban đầu tác giả mới để cất lên khúc như đang “oán trách”, “van xin”, “khiêu khích”, “giọng gằn mà chế nhạo”.
+ Thế rồi bất ngờ âm thanh được phóng to hết cỡ, các nhạc khí bừng bừng thét lên khúc nhạc của một thiên nhiên
đang ở đỉnh điểm của một cơn phấn khích mạnh mẽ và man dại: Tiếng thác rống như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu rừng tre nứa nổ lửa, đang phá tuông rừng lửa, rừng lửa cùng gầm thét với đàn trâu da cháy bùng bùng".
Nguyễn Tuân như một nhạc trưởng đang điều khiển một dàn giao hưởng chơi thật hùng tráng bài ca của gió thác xô sóng đá
Bằng nghệ thuật so sánh, nhân hóa tài ba cùng những liên tưởng "rất đắt" , Nguyễn Tuân đã cho thấy một cảnh tượng thác nước hùng vĩ, nguy hiểm vô cùng, âm thanh của thác thì không khác gì âm thanh của một trận động rừng, động đất hay nạn núi lửa thời tiền sử Sông Đà như một bầy thuỷ quái hung hăng, nham hiểm, bạo ngược, xảo quyệt đang gào thét
Lần đầu tiên trong thơ văn có người lại dùng lửa để miêu tả nước, hai nguyên tố có sức hủy diệt rất lớn lại luôn tương khắc với nhau, có nước thì không có lửa, ngược lại, có lửa thì không có nước Vậy mà Nguyễn Tuân đã lấy lửa để tả nước, lấy rừng để tả sông, Nguyễn Tuân quả là đã chơi ngông lắm trong nghệ thuật
- Phối hợp với sóng nước với tiếng thác ầm ầm là "sóng bọt đã trắng xóa cả một chân trời đá Đá ở đây từ ngàn năm vẫn mai phục hết trong lòng sông Mặt hòn đá nào trông cũng ngỗ ngược, hòn nào cũng nhăn nhúm méo mó hơn cả cái mặt nước chỗ này" Sông Đà đã giao việc cho mỗi hòn, để chúng phối hợp lại thành ba trùng vi nguy
hiểm:
+ Trùng vi thạch trận thứ nhất:
Trang 4 Đó là “cả một chân trời đá”, “mặt hòn đá nào trông cũng ngỗ ngược, hòn nào cũng nhăn nhúm méo mó hơn
cả cái mặt nước chỗ này” Bọn đá đứa thì “hất hàm” đứa thì “thách thức”, “mặt nước hò la ùa vào bẻ gãy cán chèo”, sóng nước “đá trái, thúc gối vào bụng vào hông thuyền”…
Đá ở con thác này biết bày binh bố trận như Binh pháp Tôn Tử, gồm năm cửa trận, trong đó “có bốn cửa tử một cửa sinh, cửa sinh nằm lập lờ phía tả ngạn sông”.
Cửa sinh lại chia làm ba tuyến - tiền vệ, trung vệ, hậu vệ - đòi ăn chết con thuyền đơn độc
Khi thạch trận bày xong, đá phối hợp với nước thác dữ dội và nham hiểm
Sóng nước đóng vai trò chính để tiêu diệt chiếc thuyền Vừa vào trận địa, chúng tấn công chiếc thuyền tới
tấp: "Mặt nước hò la vang dậy quanh mình, ùa vào mà bẻ gãy cán chèo võ khí trên cánh tay mình Sóng nước như thể quân liều mạng vào sát nách mà đá trái mà thúc gối vào bụng và hông thuyền Có lúc chúng đội cả thuyền lên Nước bám lấy thuyền như đô vật túm thắt lưng ông đò đòi lật ngửa mình ra giữa trận nước vang trời thanh la bão nạt Sóng thác đã đánh đến miếng đòn hiểm độc nhất, cả cái luồng nước vô sở bất chí ấy bóp chặt lấy hạ bộ người lái đò".
+ Trùng vi thạch trận thứ hai:
Khúc sông này càng tăng thêm nhiều cửa tử để đánh lừa con thuyền, và cũng chỉ có một cửa sinh Cửa sinh ấy
lại không kém phần nguy hiểm khi “thằng đá tướng đứng chiến ở cửa vào”.
Phối hợp với đá là “dòng thác hùm beo đang hồng hộc tế mạnh trên sông đá”.
Cùng với đó là bốn năm bọn thủy quân cửa ải nước bên bờ xô ra, đòi “níu thuyền lôi vào tập đoàn cửa tử”.
Tại trận chiến đánh giáp lá cà này, chúng quyết sinh quyết tử với ông lái đò Khi chiếc thuyền đã vượt qua, bọn
sóng nước cửa tử "vẫn không ngớt khiêu khích, mặc dầu cái thằng đá tướng đứng chiến ở cửa vào đã tiu nghỉu cái mặt xanh lè thất vọng" Đúng là bọn đá sóng nước hiểm độc!
+ Trùng vi thạch trận thứ ba:
Ít cửa ra vào, “bên phải bên trái đều là luồng chết cả”, chỉ có một luồng sống lại “ở ngay giữa bọn đá hậu vệ của con thác” Sông Đà sắp đặt bên phải bên trái đều là luồng chết, luồng sống ở ngay giữa.
Tại đây những boong-ke chìm và pháo đài đá nổi ở đầu chân thác phải đánh tan cái thuyền
Làm ta liên tưởng đến một trận đấu bóng quyết liệt Chiếc thuyền như một cầu thủ phải phóng thẳng, chọc thủng cửa giữa, vút, vút, cửa ngoài, cửa trong, lại cửa trong cùng, và như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước, vừa xuyên được vừa tự động lái được lượn được, tiến về phía khung thành và cuối cùng đã hết thác Trận bóng
đã thắng lợi về phe người lái đò tài ba với "tay lái ra hoa".
Với nghệ thuật nhân hóa cùng trí tưởng tượng phong phú, những câu văn tài hoa, uyên bác, vận dụng ngôn ngữ của nhiều ngành khác nhau như võ thuật, thể thao, quân sự, Nguyễn Tuân đã tái hiện trước mắt người đọc một
Sông Đà hung bạo, độc ác, “thành ra diện mạo và tâm địa của một thứ kẻ thù số một” của con người Con sông
mà "hằng năm và đời đời kiếp kiếp làm mình làm mẩy với con người Tây Bắc và phản ứng giận dỗi vô tội vạ với
người lái đò Sông Đà" Chẳng thế mà sông Đà được gắn với câu đồng dao thần thoại Sơn Tinh Thủy Tinh "Núi cao sông hãy còn dài - Năm năm báo oán đời đời đánh ghen".
Đoạn văn sử dụng thủ pháp đối lập của văn học lãng mạn để khơi gợi cho người đọc hết những hình dung về sự dữ dội của dòng sông
Nhận xét: Nguyễn Tuân tả sông mà nghe như tác giả đang tả người vậy Dòng sông dữ dội phi thường thật nhưng
nghe sao nó như đang gợi lên cái bất an của con người Sóng cũng biết oán trách, cũng kêu van rồi lại khiêu khích giọng gằn mà chế nhạo Mỗi hòn đá có một tâm thế riêng, một nhiệm vụ, một tính cách như chính con người Tất
cả tạo thành một thế trận không chỉ để đe dọa nhà đò mà khiến cả chúng ta, mỗi khi đọc đến đây hẳn không ít thì nhiều đều nghĩ nó như một chiến trường cổ xưa thực sự Dòng sông càng được miêu tả, càng giống thế giới con người, càng giống như tiếng nói của cha ông đang vọng về từ quá khứ bốn ngàn năm đấu tranh dựng và giữ nước Phải chăng đó chính là cái tạo nên phần hồn cho dòng thác sông Đà? Tạo cho con sông không chỉ là một thực thể của thiên nhiên mà lúc này nó giống như một chứng nhân lịch sử vậy Hay dòng sông cuộn mình dữ dội kia cũng giống như cuộc sống, như lịch sử nước Việt ta chẳng mấy lúc bình yên, như chính là nỗi niềm của dân tộc, là lời của cha ông vọng về từ phía quá khứ, vọng về từ không biết bao nhiêu trận kịch chiến đã có trên sông? Sau cách mạng, cái nhìn thiên nhiên của Nguyễn Tuân thường gắn liền với cài nhìn con người, cái nhìn lịch sử và dân tôc Tùy bút này là một cái nhìn như thế
Trang 5- Sông Đà có vẻ đẹp hoang dại, hùng vĩ và “chất vàng” chính là tiềm năng thủy điện to lớn của sông Đà Khi nghĩ đến những “tuyếc - bin thủy điện”, có lẽ nhà văn đã cảm nhận được vị trí, vai trò của Đà giang trong sự nghiệp xây
dựng đất nước
2 Con sông trữ tình:
- Sông Đà là bức tranh thủy mặc vương vấn lòng người
a Góc nhìn từ trên cao (máy bay), Sông Đà mang vẻ đẹp của một mĩ nhân
- Từ trên cao nhìn xuống, dòng chảy uốn lượn của con sông giống như “cái dây thừng ngoằn ngoèo dưới chân mình”, đặc biệt là giống như mái tóc của người thiếu nữ “con sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân”.
+ Dòng sông mang vẻ đẹp của một áng tóc trữ tình mềm mại, tha thướt và duyên dáng
+ Vẻ đẹp của dòng sông hài hòa với núi rừng Tây Bắc, được núi rừng điểm tô thêm cho nhan sắc mĩ miều
Liên tưởng, so sánh: Sông Đà hiện lên như người thiếu nữ Tây Bắc với vẻ đẹp trữ tình trẻ trung và duyên dáng
- Nhìn ngắm sông Đà từ nhiều thời gian khác nhau, tác giả đã phát hiện ra những sắc màu tươi đẹp và đa dạng của dòng sông Màu nước biến đổi theo mùa, mỗi mùa có vẻ đẹp riêng trong cách so sánh rất cụ thể:
+ Mùa xuân, nước Sông Đà xanh màu “xanh ngọc bích”, tươi sáng, trong trẻo, lấp lánh “chứ nước Sông Đà không xanh màu xanh canh hến của Sông Gâm Sông Lô.”
+ Mùa thu, nước Sông Đà lại “lừ lừ chín đỏ như da mặt một người bầm đi vì rượu bữa, lừ lừ cái màu đỏ giận dữ ở một người bất mãn bực bội gì mỗi độ thu về”.
+ Đặc biệt, nhà văn khẳng định chưa bao giờ con sông có màu đen như thực dân Pháp đã “đè ngửa con sông ta ra
đổ mực Tây vào”, và gọi bằng cái tên lếu láo Sông Đen
Một cách so sánh tài hoa, phong tình
b G óc nhìn từ bờ bãi sông Đà, dòng sông mang vẻ đẹp của một “cố nhân”.
- Vẻ đẹp của nước Sông Đà gợi nhớ đến một trò chơi của con trẻ “trước mắt thấy loang loáng như trẻ con nghịch chiếu gương vào mắt mình rồi bỏ chạy”, đẹp một cách hồn nhiên và trong sáng.
- Vẻ đẹp của nắng sông Đà lại gợi nhớ đến thế giới Đường thi “tôi nhìn cái miếng sáng lóe lên một màu nắng tháng ba” - Đường thi “Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu” (Xuôi thuyền về Dương Châu giữa tháng ba, mùa hoa
khói)
làm cho người đi rừng dài ngày "vui như thấy nắng giòn tan sau kì mưa dầm, vui như nối lại chiêm bao đứt quãng".
- Vẻ đẹp của bờ bãi sông Đà lại gợi nhớ đến thế giới thần tiên trong khu vườn cổ tích “bờ sông Đà, bãi sông Đà, chuồn chuồn bươm bướm trên sông Đà”.
Nhà văn đã cảm nhận được cái chất “đằm đằm ấm ấm” thân thuộc khi gặp lại sau một thời gian “ở rừng đi núi đã hơi lâu”.
c Góc nhìn từ giữa lòng sông Đà, con sông mang vẻ đẹp của một người tình nhân:
- Nội dung của đoạn văn là nói về vẻ thơ mộng của sông Đà ở quãng trung lưu Thác ghềnh lúc này chỉ còn lại trong
nỗi nhớ Nhịp văn thay đổi bằng sự nhịp nhàng, mơ màng, êm dịu đúng như câu tục ngữ của người Thái: “Qua thác Tiếu dải chiếu mà nằm”.
- Cảnh ven sông lặng tờ hoang dã:
+ Câu đầu của đoạn văn được bắt đầu bằng hình ảnh “Thuyền tôi trôi trên sông Đà” Câu văn ngắn gồm 6 âm tiết
đều là thanh bằng tạo nên không gian nghệ thuật lâng lâng, mơ màng như ru khách sông Đà vào giấc mộng phiêu du
+ “Cảnh ven sông ở đây lặng tờ Hình như từ đời Lí đời Trần đời Lê, quãng sông này cũng lặng tờ đến thế mà thôi”.
Hai chữ “lặng tờ” được nhắc đi nhắc lại tới hai lần theo kiểu trùng điệp rất đặc thù của thơ, không gian vắn g lặng nhưng không thể “lặng tờ” hơn được nữa Du khách đang đi thuyền trên quãng sông này nhưng lại có cảm
giác mình đang đi ngược về quá khứ xa xưa của những đời Lí, đời Trần, đời Lê
Trang 6 Cái lặng tờ trầm tư đột ngột của con sông vốn đã ồn ào, mạnh mẽ gợi lên không khí thiêng liêng trang trọng cổ
kính Đó là dòng sông cổ thi “trắng xóa tràng giang phẳng lặng tờ” mà ta đã từng bắt gặp trong trang thơ của
Huy Cận, sông Đà con sông lịch sử đã từng chứng kiện một chặng đường oanh liệt, hào hùng của dân tộc ta trong những cuộc chiến tranh vệ quốc, câu văn không tả mà nó có sức gợi mênh mong của thi ca
+ Bao trùm cảnh vật là một màu xanh hoang sơ cũng thấy nương ngô “nhú lên mấy lá ngô non đầu mùa” dường như ở đó đã có dấu ấn của con người in trên cái màu xanh non mỡ màng ấy nhưng thật ngạc nhiên “tịnh không một bóng người”
+ Thiên nhiên thật hài hoà và mang vẻ trong trẻo nguyên sơ, dành riêng cho con mắt nhìn “xanh non” của tác giả những hình ảnh kì thú: “Cỏ gianh đồi núi đang ra những nõn búp Một đàn hươu cúi đầu ngốn búp cỏ gianh đẫm sương đêm”.
Đoạn văn đẹp như một bức tranh lụa nhờ việc sử dụng rất nhiều định ngữ: “cỏ gianh đẫm sương đêm”, “lá ngô non đầu mùa” chính những hình ảnh thi vị ấy đã kéo dòng sông hiện đại trở về gần với thực tại hơn.
+ Theo dòng trôi của con thuyền người đọc đi vào thế giới hoang sơ tĩnh mịch, Nguyễn Tuân láy lại cái điệp ngữ
“thuyền tôi trôi” để gợi một dòng sông êm đềm, thơ mộng
+ Cảnh đã làm cho vị tình nhân của non nước Đà giang hết sức xúc động Ông thấy cần phải nói thêm nữa để diễn
tả cho cùng kiệt đặc tính của đối tượng: “Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa”
Hai câu văn khiến người ta tưởng đây là hai vế của một câu song quan trong bài phú lưu thủy Nghệ thuật điệp cấu trúc đã kết dính hai câu thành một bè thơ gợi cảm, bồng bềnh, vấn vương cảm xúc hoài cổ mà ta tưởng như nhịp chảy
của dòng sông đã hòa vào nhịp điệu của câu văn để ru hồn người “lạc vào thời tiền sử” đẹp như “một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa”.
Những so sánh lạ lẫm, chính xác mà cũng thật Nguyễn Tuân! Nhà văn đã đi ngược thói quen, đem giải thích một đặc tính vốn đã khá trừu tượng bằng những khái niệm trừu tượng hơn nữa, khiến cho cảm giác trực tiếp bỗng mở ra những
liên tưởng trùng trùng, bát ngát đầy thơ mộng Đi từ “hoang dại”, “hồn nhiên” là cái còn có thể cảm nhận được, đến
“tiền sử” và “nỗi niềm cổ tích tuổi xưa”, câu văn đã cập bờ siêu cảm giác, đòi hỏi người đọc phải tiếp nhận nó bằng
siêu giác quan chứ không phải bằng giác quan bình thường
Nguyên Tuân đã tìm về vẻ đẹp xưa trong cái ngày hôm nay: Tình yêu quê hương xứ sở
- Khao khát hướng tới tương lai của sông Đà:
+ Say đắm trong cái tĩnh mịch của dòng sông nhưng nhà văn vẫn “thèm được giật mình vì một tiếng còi xúp-lê của chuyến xe lửa đầu tiên đường sắt Phú Thọ - Yên Bái – Lai Châu”.
Có lẽ đây là cách làm duyên của Nguyễn Tuân:
Một mặt nhà văn bộc lộ thèm ước muốn có tiếng còi kéo mình ra khỏi mạng lưới vô hình mà quấn chặt của giấc mơ xưa Qua đó Nguyễn Tuân còn gửi găm cái khao khát được gửi gắm sự đổi mới của đất Tây Bắc hoang dã trong không khí xây dựng Xã Hội Chủ Nghĩa ở miền Bắc trong những năm 1960
Mặt khác tạo nên một cái cớ tuyệt diệu để biến cả đoạn văn thành một bài thơ siêu thực mà trong đó giữa người với cảnh có sự tương thông rất đỗi huyền nhiệm và cái hư phút chốc biến thành cái thực:
+ “Con hươu thơ ngộ ngẩng đầu nhung khỏi áng cỏ sương, chăm chăm nhìn tôi lừ lừ trôi trên một mũi đò Hươu vểnh tai, nhìn tôi không chớp mắt mà như hỏi tôi bàng cái tiếng nói riêng của con vật lành: “Hỡi ông khách Sông
Đà, có phải ông cũng vừa nghe thấy một tiếng còi sương?”.
Những định ngữ “thơ ngộ, đầu nhung, cỏ sương ” giống như một chiếc đùa thần kì diệu chạm tới đâu thì ở
đó sự vật như cựa quậy, sống động có hồn Cái hoang dại không mất đi mà trái lại đêm đến cho người đọc một
Trang 7vẻ đẹp tươi tắn, tinh khiết văng vẳng trong không gian tĩnh lặng của đôi bờ sông đà là một tiếng “còi sương”
ngân xa như mở ra một chân trời thơ bát ngát
Cuộc đối thoại giữa ông khách sông khách sông Đà và con vật “lành” đích thực là một bài thơ trữ tình, nó
chập chờn chơi vơi Hươu hỏi người hay người tự hỏi một giả định vừa thực vừa ảo Chỉ cần một nét vẽ của Nguyễn Tuân về đàn hươu núi đã gợi trước mắt người đọc cái vẻ đẹp hoang dã hồn nhiên của con sông
Người mơ cảnh cũng mơ, và cái thời điểm “ông khách Sông Đà” bỗng nghe ra tiếng chú hươu gọi hỏi chính là đỉnh
điểm của giấc mơ đó
+ Nhà văn đã khéo tạo được một giấc mơ ngay giữa ban ngày để rồi sau đó sực tỉnh với tiếng động của “Đàn cá dầm xanh quẫy vọt lên mặt sông bụng trắng như bạc rơi thoi Tiếng cá đập nước sông đuổi mất đàn hươu vụt biến”
+ Hình ảnh “đàn cá dầm xanh quẫy vọt lên mặt sông bụng trắng như bạc rơi thoi” như manh sức nặng của một tâm hồn đang hòa vào cũng cảnh vật Một câu văn có cả màu sắc, đường nét và đặc biệt cách miêu tả của nhà văn cũng vô cùng độc đáo Biện pháp nghệ thuật so sánh cùng với nghệ thuật lấy động tả tĩnh gợi lên không gian tĩnh mịch đến độ người ta có thể nghe thấy cả tiếng cá quẫy đuôi làm đàn hươu phải giật mình và ông khách sông Đà cũng chợt tỉnh mộng để quay về thực tại Phút sực tỉnh cũng là phút nhà văn hiến cho độc giả một hình ảnh cực kì sống động mà ai được một lần thấy trong đời hẳn phải nhớ mãi
Bút pháp mượn cái động để tả cái tĩnh đã được vận dụng ở đây hết sức đắc địa Cảnh tĩnh lặng tới mức chỉ tiếng cá quẫy cũng đủ khiến ta phải giật mình Nhưng dưới ngòi bút Nguyễn Tuân, cái tĩnh không đồng nghĩa với sự phẳng lặng, đơn điệu mà vẫn luôn hàm chứa sự bất ngờ, vẫn không ngót biến hoá Theo con thuyền thả trôi, điểm nhìn của nhà văn liên tục di động và “di động” hơn nữa cách nhìn
Có vẻ như Nguyễn Tuân muốn học cách nhìn của “con hươu thơ ngộ”, “vểnh tai”, “nhìn không chóp mắt” những
sự vật như hiện lên từ thế giới cổ tích, sau đó truyền sự bỡ ngỡ lại cho độc giả qua những từ dùng độc đáo, sáng tạo,
kích thích rất mạnh giác quan và vốn ngôn ngữ của chúng ta: “thơ ngộ”, “đầu nhung”, “áng cỏ sương”, “tiếng còi sương’’
Vật nào, cảnh nào được cây đũa thần của nhà văn động đến đều cựa quậy, không chịu ép mình làm một tiêu bản dẹt
Có lúc, Nguyễn Tuân như vượt qua lề luật của phép diễn đạt thông thường để viết: “Đàn cá dầm xanh quẫy vọt lên mặt sông bụng trắng như bạc rơi thoi” Có thể nói câu văn này đã được viết theo bút pháp của hội hoạ lập thể mà mục
đích của nó là muốn cùng một lúc cho người ta thấy được sự vật ở nhiều chiều Trước một nét miêu tả rất cô đọng như thế, ta không chỉ thấy mà còn nghe - thấy cái lấp lánh ánh bạc của bụng cá và nghe tiếng quẫy nước rộn ràng, vang ngân
+ Thuyền tôi trôi trên “dải sông Đà bọt trắng lênh đênh ”
Đến đây tác giả đã phát hiện ra sông Đà với vẻ đẹp tình tứ lãng mạn, vẻ đẹp đậm đà bản sắc văn hóa bởi nó
được gắn với câu thơ rất mực tài hoa của thi sĩ Tản Đà “Dải sông Đà bọt nước lênh đênh – Bao nhiêu cảnh bấy nhiêu tình” Ở đây ta lại bắt gặp một giọng văn quen thuộc của nhà văn họ Nguyễn ông luôn nhìn sự vật dưới
phương diện văn hóa, lịch sử, thẩm mĩ
Càng về xuôi sông Đà càng rộng thêm ra bởi vậy nhìn dòng nước lững lờ trôi mà ta như cảm thấy nó “nhớ thương những hòn đá thác xa xôi để lại trên thượng nguồn Tây Bắc” và “con sông như đang lắng nghe giọng nói êm êm của người về xuôi” Bằng tấm lòng với vẻ đẹp quê hương đất nước, nghệ thuật văn xuôi điêu luyện
của Nguyễn Tuân đã đem đến cho người đọc những khoái cảm được ngắm nhìn vẻ đẹp về con sông Đà nghệ sĩ lẵng mạn trữ tình
Trong những câu cuối của đoạn văn này, ông đã trải lòng mình ra với dòng sông, hoá thân vào nó để lắng nghe
và xúc động: “Dòng sông quãng này lững lờ như nhớ thương những hòn đá thác xa xôi để lại trên thượng nguồn Tây Bắc Và con sông như đang lắng nghe những giọng nói êm êm của người xuôi, và con sông đang trôi những con đò mình nở chạy buồm vải nó khác hẳn những con đò đuôi én thắt mình dây cổ điển trên dòng trên” Qua mỗi dặm đường đất nước, nhà văn đều thấy cảnh vật và con người gắn quyện với nhau rất chặt chẽ Yêu sông
Đà cũng chính là yêu Tổ quốc và yêu con người Việt Nam - những “đồng tác giả” của trăm vẻ đẹp từng làm đắm đuối lòng ta trên “trăm dáng sông xuôi” (ý thơ của Nguyễn Khoa Điềm)
Nhận xét, đánh giá cuối bài: Nguyễn Tuân yêu Tây Bắc, yêu một trời hoa ban trắng, yêu ông lái đò nghệ sĩ, yêu con sông Đà hung bạo trữ tình phải chăng đó là thứ tình yêu sông núi, yêu con người Việt Nam tài hoa dũng cảm
Trang 8Và ông đến với sông Đà như một cái cớ, một cơ duyên để ông được thỏa thuê với khát vọng khám phá, khát vọng thể hiện cái tôi trữ tình nghệ sĩ của mình Đó là vẻ đẹp tĩnh lặng, yên ả, thanh bình như còn lưu lại dấu tích của lịch
sử cha ông
Tiểu kết: Hai đặc điểm trên tưởng chừng như đối lập mà hài hòa, thống nhất trong cùng đối tượng Sông Đà được
nhìn nhận như một con người, có tính cách cụ thể, sinh động
IV Đánh giá:
- Nghệ thuật xây dựng hình tượng:
+ Tác phẩm cũng cho thấy sự tài hoa và uyên bác của Nguyễn Tuân Vốn sống phong phú và trí tưởng tượng dồi dào đã giúp nhà văn tạo nên những trang viết hết sức độc đáo và có giá trị nghệ thuật cao
+ Nhà văn cũng đã thể hiện tài năng điêu luyện của một người nghệ sĩ ngôn từ
- Nghệ thuật miêu tả:
+ Sông Đà được nhìn từ nhiều góc độ: Văn hóa, địa lí, lịch sử, văn học trí tưởng tựởng phong phú, khả năng quan sát tinh tường bằng nhiều giác quan; vốn tri thức rộng, sâu của tác giả về nhiều ngành nghề: quân sự, văn học, thể thao
+ Biện pháp: liên tưởng so sánh có sức diễn tả chính xác và sắc sảo, liệt kê, động từ mạnh có giá trị tạo hình cao, sức gợi lớn để xây dựng, khiến Sông Đà như một sinh thể có hồn, có tính cách mụ dì ghẻ chuyên làm mình , làm mẩy với người lái đò
Vẻ đẹp của thiên nhiên Tây Bắc vừa hùng vĩ vừa diễm lệ, thơ mộng
- Ý nghĩa của hình tượng Sông Đà:
+ Sông Đà hiện lên qua những trang văn của Nguyễn Tuân không chỉ thuần túy là thiên nhiên, mà còn là một sản phẩm nghệ thuật vô giá
+ Hình tượng sông Đà còn có ý nghĩa là phông nền cho sự xuất hiện và tôn vinh vẻ đẹp của con người - người lái
đò trên dòng sông
Qua đây tác giả cũng kín đáo thể hiện tình cảm yêu nước tha thiết và niềm say mê, tự hào với thiên nhiên của quê hương xứ sở mình
KB:
Nguyễn Tuân say mê miêu tả dòng sông với tất cả sự tinh tế của cảm xúc, và bằng một tình yêu thiết tha với thiên nhiên đất nước Lòng ngưỡng mộ, trân trọng, nâng niu tự hào về một dòng sông, một ngọn thác, một dòng chảy đã tạo
nên những trang văn đẹp hiếm có Với "Người lái đò sông Đà", Nguyễn Tuân đã dựng hình ảnh một sông Đà mà ông
đã từng muốn “diện mạo và tâm địa một thứ kẻ thù số một” nhưng cũng rất đúng nếu nói rằng thiên nhiên ấy cũng
chính là kẻ tôn vinh số một giá trị của con người Trái lại cái hùng vĩ của sóng, của thác, của sông nước Đà Giang đã làm sáng chói lên hình ảnh con người đẹp nhất, kiêu hùng nhất, người lái đò trên sông Đà người anh hùng người nghệ
sĩ chế ngự thiên nhiên hùng mạnh Hình như Tùy bút Sông Đà đọc nhiều mà vẫn còn hấp dẫn lắm! Ai mới đọc e còn
cảm thấy ngại ngùng nhưng đọc rồi lại thấy cuốn hút Đọc để cảm nhận thế giới của dòng sông nhưng lần nào tôi cũng thấy nó vọng ra bao điều mới mẻ của thế giới con người Tôi băn khoăn tự hỏi, phải chăng đó là điều tạo nên tính hấp dẫn đa chiều của hình ảnh dòng sông? Có thể nói khẳng định rằng, Người lái đò Sông Đà là một áng văn đẹp được làm nên từ tình yêu quê hương đất nước say đắm, thiết tha của một con người muốn dùng văn chương để ca ngợi vẻ đẹp vừa kì vĩ, hào hùng vừa trữ tình, thơ mộng của thiên nhiên
Đề 2: Cảm nhận của anh/ chị về vẻ đẹp người lái đò trong tùy bút Người lái đò Sông Đà của Nguyễn Tuân
MB: (Tham khảo đề 1)
TB:
1. Khái quát:
- (Tham khảo đề 1)
- “Người lái đò sông Đà” là một tác phẩm viết về một con người lao động trên sông nước, đó là ông lái đò Bằng tấm lòng yêu thương, trân trọng con người, Nguyễn Tuân đã ca ngợi hết lời về một người lao động trí dũng, một nghệ
sĩ tài hoa trong lĩnh vực chèo đò vượt ghềnh thác sông Đà
2. Lai lịch người lái đò:
- Trong phần đầu tác phẩm, Nguyễn Tuân đã giới thiệu khá rõ rệt về lai lịch của người lái đò sông Đà:
+ Đó là một ông lão gần bảy mươi tuổi, “làm nghề chở đò dọc” suốt sông Đà đã mười năm liền và thôi làm đò cũng gần chục năm nay, quê ông ở “ngay chỗ ngã tư sông sát tỉnh” Lai Châu
+ Chân dung: “tay ông lêu nghêu như cái sào, chân ông lúc nào cũng khuỳnh khuỳnh gò lại như kẹp lấy một cái cuống lái tưởng tượng, giọng ông ào ào như tiếng nước trước mặt ghềnh sông, nhỡn giới ông vòi vọi như lúc nào cũng mong một cái bến xa nào đó trong sương mù”, “cái đầu bạc quắc thước… đặt lên thân hình gọn quánh chất sừng chất mun”.
Trang 9+ Đó là một người lái đò lão luyện “trên dòng sông Đà, ông xuôi ngược hơn 100 lần rồi, chính tay giữ lái độ 60 lần” trong thời gian hơn mười năm sống trên sông nước
Ở diện mạo của ông lái đò chỉ có một điểm duy nhất chứng tỏ tuổi ông đã cao đó là mái tóc bạc, khi dùng tay che
mái tóc này đi, người ta lầm tưởng “mình đang đứng trước một chàng trai đang ngồi ngoài bến chính bờ sông”
Diện mạo, ngoại hình của ông lái đò gây ấn tượng mạnh bởi đó giống như là ngoại hình của một chàng thanh niên lực lưỡng, dẻo dai, cường tráng Sức khỏe, thể chất của ông lái đò in đậm dấu ấn nghề nghiệp, do suốt đời vật lộn với sông nước nên cần phải có một thể lực phi thường để chiến đấu lại với những con thác dữ
- Binh pháp Tôn Võ Tử nói: “Biết mình biết người trăm trận trăm thắng”
+ Sở dĩ người lái đò sông Đà bất khả chiến bại trong số hơn một trăm lần vượt thác sông Đà đầy nguy hiểm vì ông đã nằm lòng đối tượng chiến đấu của mình Nguyễn Tuân gọi ông là “thổ công” trên sông nước
+ Ông là một con người hiểu biết, từng trải, thành thạo về con sông đến mức độ “lấy mắt mà nhớ tỉ mỉ như đóng đanh vào lòng tất cả những luồng nước của tất cả những con thác hiểm trở”
+ Người đò nằm lòng con sông như thuộc một trường thiên anh hùng ca “thuộc tất cả những cái chấm than, chấm câu và những đoạn xuống dòng”
Không chỉ dày dặn kinh nghiệm, ông lái đò còn nâng nghề nghiệp của mình – công cụ mưa sinh thành một niềm đam
mê mãnh liệt trong đời Bởi đối mặt với thác dữ, tức là đối mặt với cái chết song ông không hề sợ hãi mà cảm thấy đó
là sự thú vị trong nghề nghiệp của mình Với ông lái đò thì sông Đà chỉ thực sự đậm đà ở đoạn nhiều ghềnh thác, nếu phải chèo đò ở những đoạn bằng phẳng thì ông thấy chân mình như dại đi và buồn ngủ như người mèo đi bộ ở đồng bằng
3. Vẻ đẹp trí dũng ở hình ảnh ông lái đò:
a Khắc họa trong tương quan với hình ảnh sông Đà hung bạo, hùng vĩ:
- Nghệ thuật tương phản đã làm nổi bật một cuộc chiến không cân sức:
+ Một bên là thiên nhiên bạo liệt, hung tàn, sức mạnh vô song với sóng nước, với thạch tinh nham hiểm
+ Một bên là con người bé nhỏ trên chiếc thuyền con én đơn độc và vũ khí trong tay chỉ là những chiếc cán chèo
Cái tài năng, bản lĩnh và những phẩm chất tuyệt vời của người lái đò sông
b Cuộc giao tranh với ba trùng vi thạch trận:
- Như một vị tướng tài ba, ông lái đò đã điều khiển thế trận như một chiến lược, chiến thuật độc đáo
- Cuộc vượt thác lần một:
+ Sông Đà hiện lên như một kẻ thù nham hiểm, xảo quyệt
Sông Đà chia thành năm cửa trận, trong đó có bốn cửa tử và một cửa sinh, cửa sinh được nguỵ trang nằm lập lờ bí hiểm phía tả ngạn
Vừa vào thạch trận “sóng, nước, đá sông hò la vang dậy”, ùa vào định “bẻ gãy cán chèo võ khí” trên tay người lái đò Sóng nước như một đám quân liều mạng xông vào “đá trái”, “thúc gối vào bụng, vào hông thuyền” Nước như một đô vật “túm thắt lưng ông đò đòi vật ngửa mình ra giữa trận nước vang trời thanh
la não bạt” rồi đánh miếng “đòn hiểm” vào chỗ “hạ bộ”.
(Dẫn chứng thêm một số ý)
+ Trước sự hung hãn của bầy thạch tinh và sóng nước, ông lái đò kiên cường bám trụ “hai tay giữ mái chèo khỏi bị hất lên khỏi sóng trận địa phóng thẳng vào mình”.
+ Bị trúng đòn, mắt người lái đò như thấy “một cửa bể đom đóm” nhưng ông vẫn “cố nén vết thương”, “hai chân vẫn kẹp chặt lấy cuống lái” Trên “con thuyền sáu bơi chèo” dù “mặt méo bệch đi”, ông vãn kiên cường vượt qua cuộc hỗn chiến, vẫn cầm lái chỉ huy “ngắn gọn mà tỉnh táo” để phá tan trùng vi thạch trận thứ nhất.
Trang 10 Ông lái đò thật sự là một con người lão luyện, luôn bình tĩnh, dũng cảm, biết nén mọi đau đớn để chiến thắng đối chủ hiểm ác của mình
- Cuộc vượt thác lần hai:
+ Dưới cây bút tài hoa, phóng túng, con sông Đà tiếp tục được dựng dậy như “kẻ thù số một” của con người với tâm
địa còn độc ác và xảo quyệt hơn
Kẻ địch thay chiến thuật Chúng tăng thêm nhiều cửa tử, cửa sinh lại bố trí lệch sang phía bờ hữu ngạn nhằm đánh lừa con thuyền
“Đám thuỷ quân” định “níu thuyền lôi vào tập đoàn cửa tử”.
(Dẫn chứng thêm một số ý)
+ Ông lái đò “không một phút nghỉ tay nghỉ mắt, phải phá luôn vòng vây thứ hai và đổi luôn chiến thuật”.
+ Trước dòng thác hùm beo hồng hộc tế mạnh trên sông đá, ông lái đò cùng chiếc thuyền cưỡi trên dòng thác như cưỡi trên lưng hổ
+ Ông lái đò đã “nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá” nên đã “nắm chặt được bờm sóng đúng luồng” rồi
“ghì cương lái ( ) mà phóng nhanh vào cửa sinh”
+ Khi bốn năm bọn thủy quân cửa ải nước xô ra, ông đò không hề nao núng mà tỉnh táo, linh hoạt thay đổi chiến
thuật, ứng phó kịp thời “đứa thì ông tránh mà rảo bơi chèo lên, đứa thì ông đè sấn lên mà chặt đôi ra để mở đường tiến” để rồi “những luồng tử đã bỏ hết lại sau thuyền”.
Ông lái đò là một con người có nhiều kinh nghiệm, có hành động chuẩn xác, mau lẹ, quyết đoán, một ông lão thông minh tài giỏi
- Cuộc vượt thác lần ba:
+ Bị thua ông đò ở hai lần giao tranh trước, trong trùng vi thứ ba, dòng thác càng trở nên điên cuồng, dữ dội
Ít cửa hơn nhưng “bên phải, bên trái đều là nguồn chết cả”.
Cửa sinh nằm giữa bọn đá hậu vệ của con thác
(dẫn chứng một số ý chính)
+ Chính giữa ranh giới của sự sống và cái chết, người đọc càng thấy tài nghệ chèo đò vượt thác của ông lái thật tuyệt
vời Ông cứ “phóng thẳng thuyền, chọc thủng cửa giữa… vút qua cổng đá”, “vút, vút, cửa ngoài, cửa trong, lại cửa trong cùng, thuyền như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước, vừa xuyên vừa tự động lái được lượn được” để rồi chiến thắng vinh quang.
+ Câu văn “thế là hết thác” như một tiếng thở phào nhẹ nhõm khi ông lái đã bỏ lại hết những thác ghềnh ở phía sau
lưng
Đến đây, trình độ chèo thuyền lái đò vượt thác của người lái đò đã đạt đến mức độ tài hoa, đã nâng lên thành nghệ thuật chèo đò, là một tay chèo điêu luyện, một nghệ sĩ trên sông nước
Nói như Nguyễn Tuân đó là “một tay lái ra hoa”
c Nguyên nhân chiến thắng:
- Thứ nhất, đó là chiến thắng của sự ngoan cường, lòng dũng cảm, ý chí quyết tâm vượt qua những thử thách khốc liệt của cuộc sống