Nhận thấy được sự quan trọng của vấn đề sức lao động, trong bài tập lớn này em sẽ giải thích, phân tích và làm rõ các ý chính bao gồm hàng hóa sức lao động, vai trò của nó đối với vấn đề
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
-*** -BÀI TẬP LỚN MÔN KINH TẾ CHÍNH TRỊ
ĐỀ TÀI:Lý luận về hàng hóa sức lao động Vai trò của hàng hóa sức lao động trong việc tạo ra lợi nhuận cho chủ doanh nghiệp Với tư cách là một người lao động (người
bán sức lao động cho chủ doanh nghiệp), hãy cho biết trách nhiệm của mình đối với
doanh nghiệp và đối với bản thân?
Họ và tên SV: Phạm Thị Giang Lớp tín chỉ: Kiểm toán CLC 63A
Mã SV:11219052
HÀ NỘI, NĂM 2022
Trang 2I MỞ ĐẦU
Trong kinh tế chính trị Mác- Lênin, hàng hóa cũng được định nghĩa là sản phẩm của lao động thông qua trao đổi và mua bán Hàng hóa có thể là hữu hình như sắt thép, quyển sách hay ở dạng vô hình như sức lao động Dù trong thời đại nào, hàng hóa cũng chiếm một vị trí quan trọng trong hoạt động thương mại ngoài ra còn góp phần cho sự phát triển của một quốc gia Không chỉ vậy hàng hóa vô hình như hàng hóa sức lao động được gọi là một loại hàng hóa đặc biệt có vị trí then chốt cho sự phát triển của một nền kinh tế
Ta biết nguồn lao động là tài sản quý giá của một quốc gia, là một điều kiện để thúc đẩy tăng trưởng nền kinh tế Để làm nên sự thịnh vượng, phát triển của một quốc gia, nguồn tài nguyên thiên nhiên sẵn có không còn giữ vị trí chủ yếu mà được dựa vào trí tuệ, tri thức của con người Dựa theo lý luận, luận điểm về loại hàng hóa đặc biệt - sức lao động của Mác-Lênin tạo ra tiền đề vững chắc cho việc lý giải và áp dụng vào thực tiễn xã hội những giải pháp nhằm ổn định phát triển thị trường của loại hàng hóa đặc biệt này cùng những vấn đề liên quan đến nó
Nhận thấy được sự quan trọng của vấn đề sức lao động, trong bài tập lớn này em
sẽ giải thích, phân tích và làm rõ các ý chính bao gồm hàng hóa sức lao động, vai trò của nó đối với vấn đề tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp và những trách nhiệm của người lao động đối với chủ doanh nghiệp và chính bản thân họ
Do kiến thức và kinh nghiệm của em còn hạn chế, bài tập lớn của em không tránh khỏi được sai sót Em xin chân thành cảm ơn cô đã tận tâm hướng dẫn em và
cả lớp, những lời giảng nhiệt huyết, đầy cảm xúc của cô đã giúp em khai sáng tâm hồn, khai sáng thêm nền tri thức mới về môn kinh tế chính trị ạ Em mong cô sẽ góp ý, giúp đỡ em để có một bài tập chính xác, hoàn thiện hơn ạ
Trang 3II NỘI DUNG
1 Lý luận về hàng hóa sức lao động của C.Mác
Khái niệm về hàng hóa sức lao động
Để hiểu rõ và đâỳ đủ về hàng hóa sức lao động, trước hết ta cần hiểu hàng hóa là gì? Hàng hóa là sản phẩm của lao động, có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người thông qua trao đổi, mua bán Và sản phẩm của lao động là hàng hóa khí nhằm đưa ra trao đổi, mua bán trên thị trường Nó tồn tại ở dạng vật thể hoặc phi vật thể
Theo như C.Mác, sức lao động là toàn bộ những năng lực chất và tinh thần tồn tại trong
cơ thể, trong một con người đang sống và được đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị sử dụng Sức lao động là điều kiện cơ bản của sản xuất nhưng không phải trong bất cứ hoàn cảnh nào, sức lao động trờ thành hàng hóa khi nó mang hai điều kiện sau:
Một là người lao động được hoàn toàn tự do về thân thể, họ được làm chủ sức lao động của mình, có quyền bán sức lao động của mình như một loại hàng hóa Ví dụ sức lao động của những người nô lệ chế độ xưa không thể coi là hàng hóa do họ không có quyền tự do bán sức lao động của mình, họ thuộc sở hữu của chủ nô của mình hay nói khác là họ bị "cướp bóc" sức lao động
Hai là người lao động có sức lao động nhưng không có đủ tư liệu sản xuất cần thiết (có thể do sự cướp bóc, tước đoạt đi mọi tư liệu) để tự kết hợp với sức lao động của mình tạo ra hàng hóa để bán cho nên họ bán sức lao động của mình để kiếm sống Nếu như người lao động có tư liệu sản xuất thì họ sẽ sản xuất ra hàng hóa và họ sẽ bán hàng hóa chứ không phải bán sức lao động của mình
Ví dụ như một người nông dân họ có thể tùy ý sử dụng sức lao động bản thân nhưng họ có tư liệu sản xuất thì không thể coi sức lao động của họ là hàng hóa Khi cả hai điều kiện trên cùng tồn tại song song thì sức lao động sẽ tạo thành một loại hàng hóa hàng tất yếu và hiển nhiên Đến nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, hàng hóa sức lao động đã được khẳng định và phổ biến nhưng nó không còn sự bóc lột sức lao động mà thay vào đó là sự thỏa thuận mang tính văn minh hơn
Thuộc tính của hàng hóa sức lao động
Cũng giống như các loại hàng hóa thông thường khác, hàng hóa sức lao động cũng có giá trị và giá trị sử dụng
Giá trị của nó được xác định bởi thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất và tái sản xuất ra sức lao động Sức lao động chỉ tồn tại như năng lực con người sống,
Trang 4gắn liền với cơ thể sống của con người, vì vậy muốn tái sản xuất năng lực đó người lao động phải tiêu dùng một lượng tư liệu sinh hoạt nhất định
Ví dụ như một người công nhân lao động phải tiêu dùng một lượng tư liệu sinh
hoạt để ăn uống, đi lại, học hành, chỉ như vậy thì sức lao động mối được sản xuất
và tái sản xuất liên tục Do đó, thời gian lao động xã hội cần thiết để tái sản xuất ra
sức lao động sẽ được quy thành thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt ấy Hay nói cách khác giá trị của hàng hóa sức lao động được
đo lường gián tiếp thông qua lượng giá trị của các tư liệu sinh hoạt để tái sản xuất ra sức lao động Cho nên giá trị của hàng hóa hợp thành từ giá trị tư liệu sinh hoạt về vật chất và tinh thần để tái sản xuất ra sức lao động, phí tổn đào taọ người lao động và giá trị những tư liệu sinh hoạt về vật chất và tinh thần cho gia đình, con cái của người lao động
Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động để thỏa mãn nhu cầu của người mua-người sử dụng sức lao động Những mua-người mua hàng hóa sức lao động mong muốn thỏa mãn nhu cầu nhu cầu có được giá trị lớn hơn, có được giá trị tăng thêm Giá trị
sử dụng của hàng hóa sức lao động được thể hiện trong quá trình sử dụng sức lao động
Một điểm khác với những dòng hàng hóa thông thường, đối với hàng hóa thông thường giá trị và giá trị sử dụng sẽ biến mất sau quá trình sử dụng còn hàng hóa sức lao động khi được tiêu dùng, ngoài việc sản xuất ra một loại hàng hóa nào đó thì đồng thời nó cũng tạo ra một lượng giá trị mới lớn hơn giá trị của bản thân nó Phần giá trị lớn hơn đó được gọi là giá trị thặng dư C.Mác khẳng định rằng nguồn gốc của giá trị thặng dư là do
hao phí sức lao động mà có Ví dụ gái trị sử dụng sức lao động của Anh Nam khi làm
được 2 chiếc bánh là 50.000 đồng Nhưng giá trị của 2 chiếc bánh đó ở bên ngoài thị trường là 80.000 đồng Vậy giá trị mới 2 chiếc bánh đó lớn hơn giá trị của bản thân giá trị sức lao động của anh Nam.
Hàng hóa sức lao động được các nhà khoa học coi là một hàng hóa đặc biệt do
nó có tính năng đặc biệt, nó được hình thành do con người với mục đích thỏa mãn các nhu cầu đa dạng Đôi khi có phần phức tạp ở cả vật chất lẫn tinh thần và tồn tại song song với quá trình phát triển của toàn xã hội Thêm vào đó vì con người chính là công cụ và là chủ thể làm chủ sức lao động nên việc loại hàng hóa đặc biệt này có chất lượng hay không, có đáp ứng đủ nhu cầu hay không còn phụ thuộc vào nhận thức, tâm lý, địa lý, văn hóa, môi trường họ sinh hoạt, vì vậy mà trên thị trường lao động thì con người có ảnh
Trang 5hưởng quyết định tới cung Đó là đặc điểm cơ bản nhất của giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động so với các hàng hóa khác Nó chính là chìa khóa để giải quyết mâu thuẫn của công thức chung tư bản Như vậy, tiền chỉ trở thành tư bản khi sức lao động trở thành hàng hóa
2 Vai trò của hàng hóa sức lao động trong việc tạo ra lợi nhuận cho chủ doanh nghiệp.
Hàng hóa sức lao động là yếu tố tạo ra lợi nhuận, sự chênh lệch phát triển giữa các doanh nghiệp Khi sức lao động được đem ra trao đổi, buôn bán thì nó sẽ trở thành hàng hóa Nhà tư bản mua sức lao động và trả tiền cho người lao động, người lao động thực hiện tạo ra sản phẩm cho chủ doanh nghiệp Theo nguyên tắc ngang giá trong thỏa thuận mua bán, người lao động phải hao phí một phần thời gian lao động có thể bù đắp được giá trị hàng hóa sức lao động và theo C.Mác thi đây là thời gian lao động tất yếu Ngoài thời gian lao động tất yếu, còn có thời gian lao động thặng dư và hao phí lao động trong
khoảng thời gian này sẽ tạo ra giá trị thặng dư Chính giá trị thặng dư giải thích tại sao có doanh nghiệp có lợi nhuận nhiều hơn doanh nghiệp khác
Ví dụ: một nhà tư bản thuê 1 người công nhân làm việc trong 12h để sản xuất sợi dệt Toàn bộ chi phí sản xuất nhà tư bản bỏ ra là 20$( trong đó 15$ chi phí cho bông, 3$ cho chi phí hao mòn máy móc và 2$ cho giá trị sức lao động) Nếu nhà tư bản để thời gian làm việc của người lao động trong 8h thì nhà tư bản ứng ra 20$ và giá trị mới của sản phẩm thu lại cũng chỉ là 20$ Như vậy sẽ không tạo ra giá trị thặng dư cho donah nghiệp, chưa có tài sản dư ra cho nhà tư bản, vì vậy mà nhà tư bản đã mua sức lao động của người công nhân để sử dụng người lao động đó trong vòng 12h làm việc từ đó sẽ đem lại lợi nhuận cho các nhà tư bản
Có thể nói rằng nguồn gốc của giá trị thặng dư là do lao động của người lao động làm thuê hao phí tạo ra không có nghĩa là người mua hàng hóa sức lao động chính là những nhà tư bản, chủ doanh nghiệp sẽ thu được ngay giá trị thặng dư dưới dạng tiền Trái lại,
để thu được giá trị thặng dư dưới dạng hình thái tiền, C.Mác gọi là thực hiện giá trị thặng
dư thì hàng hóa được sản xuất ra ấy phải được bán đi nghĩa là nó phải được thị trường chấp nhận, từ đó chủ doanh nghiệp mới có thể thu được tiền hay chính là lợi nhuận Ngược lại khi hàng hóa không bán được, chủ doanh nghiệp sẽ bị phá sản Vì vậy mà C.Mác nhấn mạnh rằng những nhà tư bản cần phải chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho quá trình sản xuất và thực hiện giá trị Hơn thế nữa, các nhà tư bản cần biết tận dụng từ sức lao động của công nhân để tạo ra hàng hóa, sản phẩm bán ra thị trường, vừa tận dụng
Trang 6nguồn lực đó để tăng giá trị thặng dư đem lại lợi nhuận cho chủ doanh nghiệp Vì vậy mà các nhà tư bản hãy tận dụng tối đa, tuyệt đối nguồn lực- hàng hóa sức lao động
Ta biết, lợi nhuận chính là động cơ, mục tiêu, động lực của các hoạt động sản xuất, kinh doanh trong nền kinh tế thị trường Nó là điều mà chủ doanh nghiệp nào cũng hướng tới khi hoạt động kinh doanh dù trong bất cứ thời kỳ nào
Như tình hình đất nước ta hiện nay, Việt Nam là một quốc gia đang phát triển và thuộc top những quốc gia có sự tăng trưởng, phát triển nhanh nhất Chúng ta có được sự thuận lợi về tài nguyên thiên nhiên- là ưu điểm để phát triển, nhưng để tận dụng được nguồn lợi
đó, cung lao động là một điều vô cùng quan trọng Sự phát triển của công nghệ kĩ thuật ngày càng phát triển, máy móc tự động hóa, tiên tiến hiện đại càng đòi hỏi con người có trình độ tri thức cao dần
Theo báo cáo thống kê của Tổng cục thống kê năm 2018, dân số của cả nước là 94,67 triệu người trong đó có 48,7 triệu người lao động trong độ tuổi lao động, tỷ lệ thiếu việc làm rơi vào khoảng 1,46% Nhận ra rằng Việt nam có nguồn lao động vô cùng dồi dào nhưng chưa phân công đều giữa các khu vực nông thôn và thành thị dẫn đến nguồn lao động vẫn chưa được tận dụng hết sức lao động của họ Không chỉ vậy, nền kinh tế Việt Nam đã chuyển từ nền sản xuất giản đơn sang sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa mà vấn
đề then chốt trong nền kinh tế này là phát huy vai trò tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị bản thân của hàng hóa sức lao động Sức lao động của người Việt nam cò bị hạn chế nhiều mặt như lao động đã qua đào tạo của ta còn thấp, người lao động vẫn mang nặng phong cách sản xuất của một nhà nước tiểu nông chưa có các kĩ năng hợp tác, gánh chịu những rủi ro áp lực cao và chưa được trang bị các kiến thức và kỹ năng đầy đủ vì vậy chưa đáp ứng đủ yêu cầu của các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu xuất khẩu lao động
3 Trách nhiệm của bản thân ( người bán sức lao động ) với doanh nghiệp và đối với bản thân
3.1 Trách nhiệm đối với doanh nghiệp
Như ta đã phân tích từ trước, hàng hóa sức lao động là tạo ra những sản phẩm, giá trị cho chủ doanh nghiệp Những giá trị đó có thể là của cải vật chất như quần áo, thực phẩm hay là những giá trị tinh thần cho người sử dụng để đổi lấy tiền lương cho người lao động Giữa người lao động và chủ doanh nghiệp kí kết bản hợp đồng theo nguyên tắc
"thuận mua vừa bán" những nhà tư bản chấp nhận trả một mức lương phù hợp mà người lao động cũng chấp nhận mức lương đó phù hợp với công sức mình bỏ ra để tạo ra lợi
Trang 7nhuận cho chủ doanh nghiệp Người lao động phải hoàn thành công việc, kế hoạch mà người chủ đặt ra thì họ mới có thể nhận được mức tiền lương phù hợp
Thứ nhất, người lao động phải ý thức có trách nhiệm với công việc của mình, không ngại khó khăn cùng chung tay giải quyết công việc dù nó không nằm trong phụ trách của
họ Phải tuân thủ theo những quy định, nguyên tắc đã ký trong hợp đồng, đem lại được những lợi nhuận, làm việc tuân theo thời gian đã quy định, không được tự ý phá vỡ, đơn phương chấm dứt hợp đồng mà không có lý do thỏa đáng, thuyết phục
Thứ hai, người lao động cần có sự chủ động, thích ứng nhanh với những thay đổi, dù đứng ở vị trí nào cũng phải nỗ lực hết sức mình để hoàn thành các công việc chung Chủ động hoàn thành những công việc được giao mà không cần những người quản lý giám sát công việc.Nếu có thể những người lao động hãy chủ động làm nhiều hơn là nhiệm vụ được giao Sự chủ động luôn là một yếu tố quan trọng, cần thiết có ở mỗi người lao động
dù cho ở bất cứ công việc, vị trí nào
Điều thứ ba là sự thích nghi với mọi hoàn cảnh của doanh nghiệp, mọi thách thức, khó khăn của doanh nghiệp, nỗ lực cố gắng không chỉ vì tiền lương, tiền công mà còn vì mục tiêu của doanh nghiệp đem lại lợi nhuận, giúp cho chủ doanh nghiệp đi được đường dài Khi chủ doanh nghiệp có được lợi nhuận thì người lao động cũng sẽ được hưởng một phần lợi từ lợi nhuận kiếm được Chẳng hạn, một doanh nghiệp ngày càng đi lên, kiếm được nhiều lợi nhuận, doanh thu tăng cao thì chắc chắn họ sẽ không tiếc việc bỏ ra thêm một phần để thưởng cho công nhân của họ, thưởng cho sức lao động mà họ bỏ ra, nó sẽ là nguồn khích lệ, động viên giúp người lao động cố gắng, bỏ ra nhiều sức lao động hơn Không chỉ vậy, người lao động hãy chủ động sáng tạo, góp ý kiến chung để cải thiện những quy định đã lạc hậu, đề suất đến cho chủ doanh nghiệp những phương án giúp cải tiến sử dụng hiệu quả các công nghệ tiên tiến để đem lại năng suất hơn cho sản phẩm đồng thời cải thiện sức lao động của người lao động
Cuối cùng, sự học hỏi, chấp nhận tiếp thu những cái mới, đặc biệt trong thời đại công nghệ 4.0 hiện nay thì việc áp dụng thành quả khoa học để gia tăng năng suất cùng với chất lượng của từng sản phẩm đưa ra ngoài thị trường sao cho sản phẩm của doanh
nghiệp cũng như của một tổ chức được người dùng đón nhận Quan trọng hơn khi đã tham gia một công việc thì cần đòi hỏi mỗi người lao động có thái độ làm việc tốt luôn nhiệt tình và có thái độ phù hợp khi đón nhận công việc được giao
3.2 Trách nhiệm của bản thân ( người bán sức lao động) đối với bản thân
Trang 8Mối quan hệ giữa chủ doanh nghiệp và người lao động luôn là đề tài được quan tâm khi doanh nghiệp tuyển dụng nhân lực, mối quan hệ vừa có sự mâu thuẫn nhưng vừa bổ trợ,
hỗ trợ nhau tác động lẫn nhau Mặc dù chủ doanh nghiệp sử sụng sức lao động của người lao động làm công cụ tạo ra sản phẩm, gái trị thặng dư nhưng ngược lại người lao động sẽ bán sức lao động về trí tuệ, đầu óc hay thể chất để đem lại thu nhập cho bản thân, đáp ứng thỏa mãn những nhu cầu cả về vật chất lẫn tinh thần của bản thân và đồng thời đem lại lợi nhuận cho chủ doanh nghiệp
Khi là một người lao động thì họ cần phải có sự hiểu biết về các quyền về người lao động để tự bảo vệ bản thân mình, tìm hiểu về những quy định về việc sử dụng người lao động trong nước và ngoài nước, tìm hiểu kỹ càng về những quy định về công đoàn, liên đoàn lao động Việt Nam
Ví dụ như trong bộ Luật lao động năm 2021 "hưởng lương phù hợp với trình độ kỹ năng nghề trên cơ sở thoả thuận với người sử dụng lao động; được bảo hộ lao động, làmviệc trong điều kiện bảo đảm về an toàn lao động, vệ sinh lao động; nghỉ theo chế độ, nghỉ hằng năm có lương và được hưởng phúc lợi tập thể; Thành lập, gia nhập, hoạt động công đoàn, tổ chức nghề nghiệp và tổ chức khác theo quy địnhcủa pháp luật; yêu cầu và tham gia đối thoại với người sử dụng lao động, thực hiện quy chế dânchủ và được tham vấn tại nơi làm việc để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; tham giaquản lý theo nội quy của người sử dụng lao động."
Người lao động phải ý thức biết tự bảo vệ bản thân, đồng ý ký kết hợp động với các chủ doanh nghiệp khi có đầy đủ yêu cầu, chấp thuận với những thỏa thuận mà không có sự ép buộc nào Người lao động có quyền đỏi hỏi về mức lương, công việc phù hợp với bản thân người lao động bên cạnh đó là chế độ thời gian giờ làm, nghỉ ngơi, hay các chế độ lương thưởng, phụ cấp cũng phải được quy định rõ rảng
Theo quy định của bộ luật lao động, người lao động được bảo hộ lao động,được đảm bảo về môi trường làm việc an toàn và yêu cầu các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân có liên quan đến lao động sản xuất phải tuân thủ theo quy định về vệ sinh lao động và an taonf lao động Cải thiện điều kiện lao động, chăm sóc sức khỏe cho người lao động, giảm thiểu các mối nguy hại có thể ảnh hưởng đếnan toàn và sức khỏe của người lao động.Nơi lao động phải thoáng khí,sạch sẽ,tránh khói bụi,chất độc hại nguy hiểm cho bản thân người lao động
Bên cạnh đó, khi thấy môi trường làm việc không được đảm bảo, người lao động có quyền đưa ra những kiến nghị, ý kiến lên chủ doanh nghiệp để có những điều chỉnh cho
Trang 9phù hợp Phải biết đến các quyền và lợi ích của bản thân để tự bảo vệ được chính mình và những người lao động khác khỏi sự bóc lột của người doanh nghiệp
Điều quan trọng hơn nữa là, luôn chủ đọng học tập, sáng tạo để đem ại lợi nhuận cho chủ doanh nghiệp, không chỉ ngoài đem lại lợi nhuận cho chủ doanh nghiệp, mà còn rút ra được những kinh nghiệm, trải nghiệm cho bản thân, rút ra những bài học qúy giá Có trách nhiệm với chính bản thân mình trước sau đó ta mới có được sự trách nhiệm được với những người xung quanh, có trách nhiệm với doanh nghiệp hoàn thành các công việc, nhiệm vụ được giao Chủ động, sẵn sàng học tập một cách nghiêm chỉnh, có trách nhiệm với bản thân vừa đem lại lợi ích cho chủ doanh nghiệp, đem lại bài học, kinh nghiệm làm việc của bản thân người lao động
4 KẾT LUẬN
Từ thời xưa sức lao động đã được coi là một loại hàng hóa nhưng phải đến tư bản nó mới được chấp nhận là một lọai hàng hóa và được sử dụng rộng rãi, phổ biến Nhò vào sức lao động các nhà tư bản, chủ doanh nghiệp biến những tư liệu sản xuất thành tiền, từ
đó kiếm được lợi nhuận Chủ doanh nghiệp sử dụng sức lao động để kiếm lợi nhuận trong khi đó người lao động sử dụng sức lao động của mình bán ra để đổi lấy tiền công Chủ doanh nghiệp sử dụng triệt để hàng hóa sức lao động để đem lại càng nhiều lợi nhuận càng tốt trong khi đó người lao động sẽ sử dụng sức lao động( trí tuệ, tri thức, thời gian, sức khỏe ) để đổi lại những đồng tiền cho mình, càng đem đến nhiều lợi nhuận thì tiền lương người lao động nhận được cũng tăng cao hơn
Giữa người lao động và chủ doanh nghiệp có mối quan hệ vừa hợp tác, vừa mâu thuẫn
và liên kết với nhau qua bản hợp đồng Hai bên dù là chủ doanh nghiệp hay là người lao động thì cũng cần có trách nhiệm và nghĩa vụ với đối phương và với chính bản thân của mình., đồng thời hướng tới việc tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp, đem lại những giá trị, dịch vụ tốt nhất phục vụ cho nhu cầu thị trường, cùng nhau chung tay phát triển và xây dựng đất nước phát triển, đem lại cuộc sống tốt đẹp hơn
Thông qua việc phân tích lý luận về hàng hóa sức lao động và vai trò của chúng đối với lợi nhuận, ta nhận thấy việc nghiên cứu vấn đề này có ý nghãi vô cùng lớn trong thực tiễn, đặc biệt đối với các doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy kinh tế doanh nghiệp nói riêng
và xã hội nói chung