1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đề cương tự luận triết học

34 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đề Cương Tự Luận Triết Học
Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 64,49 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về mặt thứ nhất, có ba cách trả lời: a Những người theochủ nghĩa duy vật thì cho rằng vật chất có trước và vật chất quyết định ý thức.Chủ nghĩa duy vật có ba hình thức cơ bản tương ứng v

Trang 1

Đề cương tự luận triết học Câu 1: Vấn đề cơ bản của triết học là gì?

Là vấn đề về mối quan hệ giữa tồn tại và tư duy, giữa vật chất và ý thức Nó làvấn đề cơ bản vì việc giải quyết nó sẽ quyết định cơ sở để giải quyết những vấn

đề khác của triết học, điều đó đã được chứng minh trong lịch sử phát triển lâu dài

và phức tạp của triết học, vấn đề cơ bản của triết học có hai mặt: 1) Giữa vật chất

và ý thức, cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào? 2) Conngười có khả năng nhận thức được thế giới không? Có khả năng phản ánh đúngđắn hiện thực không? Về mặt thứ nhất, có ba cách trả lời: a) Những người theochủ nghĩa duy vật thì cho rằng vật chất có trước và vật chất quyết định ý thức.Chủ nghĩa duy vật có ba hình thức cơ bản tương ứng với ba trình độ phát triểncủa nhận thức: một là, chủ nghĩa duy vật ngây thơ (hay tự phát) của các nhà triếthọc cổ Hi Lạp và La Mã; hai là, chủ nghĩa duy vật siêu hình thế kỉ 17 - 18; ba là,chủ nghĩa duy vật biện chứng do Mac, Enghen xây dựng nên và Lênin phát triển.b) Những người theo chủ nghĩa duy tâm lại quả quyết rằng, ý thức có trước vậtchất, quyết định vật chất, suy đến cùng là thừa nhận sự sáng tạo ra thế giới bằngcách này hay cách khác Chủ nghĩa duy tâm có hai phái: một là, chủ nghĩa duytâm chủ quan, thừa nhận cảm giác, "cái tôi" có trước; hai là, chủ nghĩa duy tâmkhách quan thừa nhận sự sáng tạo ra thế giới bởi một "ý niệm tuyệt đối" nào đó

Về vấn đề này, cả chủ nghĩa duy vật lẫn chủ nghĩa duy tâm đều được xem là nhấtnguyên luận c) Ngoài hai trường phái chủ yếu trên, trong lịch sử triết học còn tồntại một trường phái thứ ba, những người theo trường phái này thừa nhận cả hainguyên thể vật chất và tinh thần xuất hiện cùng một lúc và tồn tại độc lập vớinhau Những người này được gọi là những nhà nhị nguyên luận Thực chất nhịnguyên luận không phải là con đường thứ ba trong triết học, mà đó chỉ là biểuhiện tính chất không triệt để, muốn điều hoà giữa chủ nghĩa duy vật và duy tâm

Về mặt thứ hai, con người có khả năng nhận thức được thế giới không? Có khảnăng phản ánh đúng đắn hiện thực không? Enghen gọi đó là vấn đề tính đồngnhất giữa tư duy và tồn tại theo ngôn ngữ triết học Có hai cách trả lời: a) Tuyệtđại đa số các nhà triết học (cả các nhà duy vật lẫn các nhà duy tâm) đều khẳngđịnh là có, song ở đây có sự khác nhau căn bản giữa các nhà duy vật và các nhàduy tâm, đó là: thế giới là thế giới nào? Thế giới vật chất, hiện thực hay thế giớitinh thần b) Một số nhà triết học mà tiêu biểu là Hium (D Hume) và Kantơ (E.Kant) không thừa nhận là có thể nhận thức được thế giới một cách đầy đủ Nhữngngười này được gọi là những người theo thuyết bất khả tri Sự phát triển của thựctiễn đã bác bỏ quan điểm sai lầm của họ

Câu 2 Thế giới quan và cấu trúc kết cấu của thế giới quan?

Câu 3 Chức năng của thế giới quan và các hình thức phát triển của thế giới quan trong lịch sử?

Khái niệm Thế giới quan Là toàn bộ những quan điểm, quan niệm của con

người về thế giới con người sống trên thế giới dù muốn hay không, họ vẫn

Trang 2

phải tìm hiểu về những thứ xung quanh mình Bao hàm cả những cái thuộc

về thế giới tự nhiên, trong xã hội loài người, những cài thuộc về con người,thuộc xã hội loài người

Trong cuộc sống đời thường con người thường lẫn lộn giữa hai kháiniệm : thế giới quan và nhân sinh quan Một số người thì tách hai khái niệm này

ra khỏi nhau

Nói đến TGQ là nói đến quan hệ của con ngừơi với giới tự nhiên, còn nói đến NSQ là nói đến quan hệ của con người về cuộc sống Tách khỏi 2 khái niệmtrên ra như vậy là ko đúng Cái gọi là NSQ là một phần của TGQ, quan điểm, quan niệm của con người với giá trị của nó chỉ là một phần, một bộ phận của TGQ Vì con người và xã hội loài người là một bộ phận của thế giới cho nên trong quan điểm, quan niệm của con người về thế giới đã quan niệm, quan điểm

về cuộc sống

Chức năng của TGQ: TGQ có rất nhiều chức năng như nhận xét, đánh

giá, nhận thức, nhận định… nhưng chức năng quan trọng nhất là chức năng địnhhướng cho hoạt động của con người, định hướng cho toàn bộ cuộc sống của conngười định hướng cho quan hệ con người, định hướng cho hệ giá trị con người,

từ cách đi cách đứng của con người những người có TGQ khác nhau sẽ định hướng cho hoạt động của mình khác nhau Ví dụ: Mỗi con người có TGQ khác nhau dẫn đến hành động khác nhau Toàn bộ hành động của con người bị TGQ chi phối Cuộc sống của chúng ta đang bị TGQ của chúng ta chi phối

I TGQ triết học có lõi là học thuyết triết học vì vậy chức năng của TGQ

triết học chính là chức năng của học thuyết triết học

Các học thuyết triết học chia làm 2 trường phái cơ bản: CNDT và CNDV.Ngay từ khi ra đời 2 học thuyết này đã không nhất quán với nhau

 CHDV: tất cả học thuyết này thừa nhận tín thứ nhất của vậtchất, tức quan niệm vật chất có trước, ý thức có sau, vật chấtquyết định ý thức được thể hiện qua 3 hình thức cơ bản là:CNDV chất phát, CNDV siêu hình, CNDV biện chứng

 CNDT: thừa nhận tính thứ hai của ý thức, tức quan niệm ý thức

có trước, vật chất có sau, ý thức quyết định vật chất được chialàm 2 loại là: CNDT khách quan và CNDT chủ quan

Tính chất của TGQ triết học bị tính chất của các học thuyết triết học chiphối, tức là nếu như học thuyết triết học đóng vai trò CNDV thì TGQ này

là TGQ DV, nếu học thuyết này thuộc về CNDT thì TGQ này thuộc vềTGQ DT Mà trong CNDV, nếu học thuyết triết học này thuộc về CNDV

Trang 3

chất phát, CNDV siêu hình, CNDV biện chứng thì TGQ này là TGQ chấtphát, siêu hình, biện chứng còn nếu học thuyết triết học này thuộc vềCNDT chủ quan hay CNDT khách quan thì TGQ này là TGQ DT chủquan hay khách quan

CNDV biện chứng do Mác – angel sáng lập được Lê Nin phát triển là một

bộ phận cấu thành chủ nghĩa Mác Nhận thức TGQ bằng phương phápbiện chứng, đặc trưng là khi nhận thức đối tượng nào đó thì nhận thức đốitượng đó trong mối liên hệ với những cái khác, nhận thức ở trạng tháiđộng triết học Mác quan niệm vạn vật trong vũ trụ không tách rời nhau,chúng ràng buộc lẫn nhau, tác động lẫn nhau và biến đổi không ngừng,phản ánh đúng hiện thực cái đang tồn tại

CNDV biện chứng có thể còn có những khiếm khuyết của nó, nó chưa đầy

đủ nhưng tất cả các kết luận của nó đều được xây dựng trên thành tựu khoa học của con người, phản ánh đúng hiện thực cho nên nó có thể tồn tại với tư cách là cơ sở lý luận của TGQ KH và tất nhiên với tư cách là hệ thống mở, CNDV biện chứng là lực lượng cần con người tổng kết thành tựu KH để bổ sung cho nó ngày càng phản ánh đúng hiện thực hơn

Các hình thức thế giới quan trong lịch sử:

II Sự phát triển của TGQ đã là TGQ thể hiện dưới ba hình thức cơ bản:

TGQ thần thoại, TGQ tôn giáo, TGQ triết học

1 TGQ thần thoại hình thành và phát triển trong giai đoạn đầu của XH loài người Đặc trưng cơ bản về TGQ huyền thoại:

- Về hình thức thể hiện: TGQ thần thoại thể hiện chủ yếu qua

các câu chuyện thần thoại

- Về tính chất: Nội cung của truyền thần thoại có sự pha trộn

giữa thần và người, giữa thật và ảo, trật tự không gian và thời gian bị đảo lộn không tự giác Bời vì Công Xã Nguyên Thủy chưa có chữ viết, câu chuyện thông qua truyền miện nên khi truyền miện thì không chính xác, bản thân người dẫn chuyện đưa tình cảm của mình vào đó và càng ngày độ chính xác càng

ít Nội dung câu chuyện càng ngày càng nhiều hơn Trong tất cảnhững câu chuyện thần thoại thì thần thoại Hy Lạp thể hiện rõ nét nhất đặc điểm của TGQ TGQ thần thoại thể hiện nổi bật nhất trong thần thoại Hy Lạp Yếu tố thần và người có sự hòa trộn, đan xen.Thần nhưng lại rất người, người nhưng lại rất thần

Trang 4

- Về trình độ nhận thức: TGQthần thoại thể hiện trình độ nhận

thức thấp, chủ yếu ở cấp độ nhận thức cảm tính nên những gì trừu trượng thường được con người hình dung dưới những sự vật hữu hình, cụ thể

2 TGQ tôn giáo: yếu tố niềm tin là yếu tố giữa vai trò tuyệt đối sức mạnh của thế lực siêu nhiên

- Về hình thức thể hiện: TGQ tôn giáo thể hiện qua giáo lý của

các tôn giáo

- Về tính chất: Niềm tin cao hơn lý trí, nặng tính hư ảo, tuyệt đối

hóa yếu tố thần thánh, vai trò con người bị hạ thấp

- Về trình độ nhận thức: TGQ tôn giáo ra đời khi trình độ nhận

thức và khả năng hoạt động thực tiễn của con người còn rất thấpnên con người bất lực, sợ hãi trước những lực lượng tự nhiên cũng như những lực lượng xã hội dẫn đến việc họ thần thánh hoá chúng, quy chúng về sức mạnh siêu tự nhiên và tôn thờ chúng Trong tất cả các tôn giáo chỉ có tôn giáo phật giáo là nói đến sức mạnh của con người con người có thể giải thoát cho mình bằng cách tích nghiệp thiện, tạo nghiệp thiện do vậy nó không thể tồn tại với tư cách là một TGQ KH

- Về hình thức thể hiện: TGQ triết học thể hiện chủ yếu qua các

học thuyết triết học TGQ triết học không chỉ thể hiện quan điểm, quan niệm của con người về thế giới mà nó còn chứng minh các quan điểm, quan niệm ấy bằng lý luận

- Về tính chất: đề cao vai trò trí tuệ Cụ thể hơn tính chất của

TGQ triết học bị tính chất của các học thuyết triết học qui định

và tất cả các học thuyết triết học điều thể hiện cấp độ nhận thức cao

- Về trình độ nhận thức: TGQ triết học ra đời khi nhận thức của

con người đã đạt đến trình độ cao của sự khái quát hoá, trừu tượng hoá và khi các lực lượng xã hội đã ý thức được sự cần thiết phải có định hướng về tư tưởng để chỉ đạo cuộc sống

Câu 4 Phân tích định nghĩa của Lênin về phạm trù vật chất? Ý nghĩa của phương pháp luận của nó?

- Trên cơ sở kế thừa những thành tựu của các nhà triết học đi trước, khái quát những thành quả của khoa học tự nhiên và cơ sở thực tiến những năm cuối TK

Trang 5

19 đầu TK 20, từ nhu cầu của cuộc đấu tranh chống CN duy tâm, Lê nin đã vach

rõ ý đồ xuyên tạc những thành tựu khoa học tự nhiên của những nhà triết học duy tâm, khẳng đinh bản chất vật chất của thế giới và đưa ra đinh nghĩa về vật chất: ” Vật chât là phạm trù triết học dùng đẻ chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại,phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”

- Định nghĩa vật chất của Lê nin có 3 nội dung quan trọng:

+ Thứ nhất, khẳng định vật chất là một phạm trù triết học có nghĩa là muốn khẳng định và phân biệt vật chất với tư cách là một phạm trù triết học (tức phạmtrù khái quát thuộc tính cơ bản nhất, phổ biến nhất của mọi tồn tại vật chất và được xác định từ góc độ giải quyết vấn dề cơ bản của triết học) với khái niệm vật chất được sử dụng trong các khoa học chuyên ngành ( tức khái niệm dùng chỉ những dạng vật chất cụ thể, cảm tính, những biểu hiện cụ thể củ thế giới vật chất, tự nhiên hay xã hội)

+ Khẳng định vật chất là một phạm trù triết học để chỉ thực tại khách quan nghĩa là: Thực tại khách quan là thuộc tính quan trọng nhất để phan biệt vật chất

và ý thức, để khẳng định rằng đó những cái đang tồn tại độc lập với ý thức con người trong đời sống xã hội vật chất đó là tồn tại XH, nó không phụ thuộc vào ýthức XH

+ Khẳng định vật chất (dưới hình thức tồn tại cụ thể của nó) là cái có thể gây nên cảm giác ở con người khi nó trực tiếp hay gián tiếp tác động đến giác quan của con người, ý thức của con người là sự phản ánh đối với vật chất còn vật chất

+ Định nghĩa vật chất đã bác bỏ quan điểm xuyên tạc của CN duy tâm về CN duy vật và khẳng định bản chất của CN duy vật luôn được “khẳng định và tồn tại”, cơ sở nền tảng của CN duy vật vẫn tiếp tục phát triển và nó cũng bác bỏ các quan niệm trước đây về vật chất, góp phần mở đường cho các KH tự nhiên

Trang 6

trong việc tìm ra các hình thức mới của vật chất để chứng minh cho sự phong phú của cấu trúc vật chất Vì vậy nó cung cấp thế giới quan, phương pháp luận cho hoạt động nhận thức và hoạt động cải tạo thực tiễn.

Câu 5 Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về nguồn gốc bản chất của ý thức Y nghĩa của việc nắm vững vấn đề này?

Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định: ý thức của con người là sản phẩm của quá trình phát triển tự nhiên và lịch sử - xã hội Để hiểu được nguồn gốc và bản chất của ý thức cần phải xem xét trên cả hai mặt tự nhiên và xã hội

I Nguồn gốc của ý thức

1 Thuộc tính phản ánh của vật chất và sự ra đời của ý thức

- Phản ánh là thuộc tính chung của mọi dạng vật chất Đó là năng lực giữ lại, tái hiện của hệ thống vật chất này những đặc điểm của hệ thống vật chất khác trongquá trình tác động qua lại

- Cùng với sự tiến hoá của thế giới vật chất, thuộc tính phản ánh của nó cũng phát triển từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp Trong đó ý thức là hình thức phản ánh cao nhất của thế giới vật chất

- Ý thức là một thuộc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao của bộ não người, là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ óc con người

2 Vai trò của lao động và ngôn ngữ trong sự hình thành và phát triển của ý thức

- Lao động là hoạt động đặc thù của con người, làm cho con người khác với tất

cả các động vật khác

+ Trong lao động, con người đã biết chế tạo ra các công cụ và sử dụng các công

cụ để tạo ra của cải vật chất

+ Lao động của con người là hành động có mục đích - tác động vào thế giới vật chất khách quan làm biến đổi thế giới nhằm thoả mãn nhu cầu của con người.+ Trong quá trình lao động, bộ não người được phát triển và ngày càng hoàn thiện, làm cho khả năng tư duy trừu tượng của con người cũng ngày càng phát triển

- Lao động sản xuất còn là cơ sở của sự hình thành và phát triển ngôn ngữ.+ Trong lao động, con người tất yếu có những quan hệ với nhau và có nhu cầu cần trao đổi kinh nghiệm Từ đó nảy sinh sự "cần thiết phải nói với nhau một cái

Trang 7

gì đấy" Vì vậy, ngôn ngữ ra đời và phát triển cùng với lao động.

+ Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu thứ hai, là cái "vỏ vật chất" của tư duy, là

phương tiện để con người giao tiếp trong xã hội, phản ánh một cách khái quát

sự vật, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn và trao đổi chúng giữa các thế hệ Chính

vì vậy Ăngghen coi: lao động và ngôn ngữ là "hai sức kích thích chủ yếu biến"

bộ não con vật thành bộ não con người, phản ánh tâm lý động vật thành phản ánh ý thức Lao động và ngôn ngữ, đó chính là nguồn gốc xã hội quyết định sự hình thành và phát triển ý thức

II Bản chất của ý thức

Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ não người thông qua hoạt động thực tiễn, nên bản chất của ý thức là hìnhảnh chủ quan của thế giới khách quan, là sự phản ánh sáng tạo thế giới vật chất

- Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan Điều đó có nghĩa là nội dung của ý thức là do thế giới khách quan quy định, nhưng ý thức là hình ảnh chủ quan, là hình ảnh tinh thần chứ không phải là hình ảnh vật lý, vật chất như chủ nghĩa duy vật tầm thường quan niệm

- Khi nói ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, cũng có nghĩa là

ý thức là sự phản ánh tự giác, sáng tạo thế giới

+ Phản ánh ý thức là sáng tạo, vì nó bao giờ cũng do nhu cầu thực tiễn quy định.Nhu cầu đó đòi hỏi chủ thể phản ánh phải hiểu được cái được phản ánh Trên cơ

sở đó hình thành nên hình ảnh tinh thần và những hình ảnh đó ngày càng phản ánh đúng đắn hơn hiện thực khách quan Song, sự sáng tạo của ý thức là sự sángtạo của phản ánh, dựa trên cơ sở phản ánh

+ Phản ánh ý thức là sáng tạo, vì phản ánh đó bao giờ cũng dựa trên hoạt động thực tiễn và là sản phẩm của các quan hệ xã hội Là sản phẩm của các quan hệ

xã hội, bản chất của ý thức có tính xã hội

Quan điểm trên của triết học Mác về nguồn gốc và bản chất của ý thức hoàn toàn đối lập với chủ nghĩa duy tâm coi ý thức, tư duy là cái có trước, sinh ra vật chất và chủ nghĩa duy vật tầm thường coi ý thức là một dạng vật chất hoặc coi ýthức là sự phản ánh giản đơn, thụ động thế giới vật chất

III- Ý nghĩa phương pháp luận

1 Do ý thức chỉ là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan nên trong nhận thức và hoạt động thực tiễn phải xuất phát từ thực tế khách quan Cần phải chống bệnh chủ quan duy ý chí

2 Do ý thức là sự phản ánh tự giác, sáng tạo hiện thực, nên cần chống tư tưởng

Trang 8

thụ động và chủ nghĩa giáo điều xa rời thực

tiễn

Câu 6 Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức.Y nghĩa

phương pháp luận của việc nắm vững vấn đề này trong nhận thức và họat động thực tiễn?

1 Phạm trù vật chất (xem câu trả lời trước) và phạm trù ý thức

(xem câu trả lời trước)

2 Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức

a) Vật chất quyết định ý thức:

- Vật chất có trước, ý thức có sau Vật chất sinh ra ý thức, ý thức

là chức năng của óc người - dạng vật chất có tổ chức cao nhất của thế giới vật chất

- Ý thức là sự phản ánh thế giới vật chất vào óc con người Thế giới vật chất là nguồn gốc khách quan của ý thức

b) Ý thức có tính độc lập tương đối, tác động trở lại vật chất:

- Ý thức có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm với một mức độ nhất định

sự biến đổi của những điều kiện vật chất

- Sự tác động của ý thức đối với vật chất phải thông qua hoạt động của con người Con người dựa trên các tri thức về những quy luật khách quan mà đề ra mục tiêu, phương hướng thực hiện;xác

định các phương pháp và bằng ý chí thực hiện mục tiêu ấy

Sự tác động của ý thức đối với vật chất dù có đến mức độ nào đi chăng nữa thì nó vẫn phải dựa trên sự phản ánh thế giới vật chất

c) Biểu hiện của mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trong đời sống xã hội là quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, trong

đó tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội và ý thức xã hội có tínhđộc lập tương đối tác động trở lại tồn tại xã hội Ngoài ra, mối quan hệ giữa vật chất và ý thức còn là cơ sở để xem xét các mối quan hệ khác như: chủ thể và khách thể, lý luận và thực tiễn, điềukiện khách quan và nhân tố chủ quan v.v

3 Ý thức phương pháp luận

Trang 9

- Vật chất quyết định ý thức, ý thức là.sự phản ánh vật chất, cho nên trong nhận thức phải bảo đảm nguyên tắc "tính khách quan của sự xem xét" và trong hoạt động thực tiễn phải luôn luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo các quy luật khách quan.

- Ý thức có tính độc lập tương đối, tác động trở lại vật chất thôngqua hoạt động của con người, cho nên cần phải phát huy tính tíchcực của ý thức đối với vật chất bằng cách nâng cao năng lực nhận thức các quy luật khách quan và vận dụng chúng vào trong hoạt động thực tiễn của con người

- Cần phải chống lại bệnh chủ quan duy ý chí cũng như thái độ thụ động, chờ đợi vào điều kiện vật chất, hoàn cảnh khách quan

Câu 9 Phép biện chứng là gì? Các hình thức cơ bản của phép biện chứng trong lịch sử ?

A Khái niệm biện chứng

Phép biện chứng là học thuyết nghiên cứu, khái quát biện chứng của thế giới thành hệ thống các nguyên lý, quy luật khoa học nhằm xây dựng hệthống các nguyên tắc phương pháp luận của nhận thức và thực tiễn

Phép biện chứng thuộc về biện chứng chủ quan

Phép biện chứng đối lập với phép siêu hình - phương pháp tư duy về sự vật, hiện tượng của thế giới trong trạng thái cô lập tĩnh tại và tách rời

B Các hình thức cơ bản của phép biện chứng

Trong lịch sử triết học, phép biện chứng phát triển qua ba hình thức cơ bản: phép biện chứng chất phác thời cổ đại, phép biện chứng duy tâm cổ điển Đức vàphép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác-Lênin

Phép biện chứng chất phác thời cổ đại

Phép biện chứng chất phác thời cổ đại là hình thức đầu tiên của phép biện

chứng trong lịch sử triết học, là nội dung cơ bản trong nhiều hệ thống triết học của Trung Quốc, Ấn Độ và Hy Lạp cổ đại Tiêu biểu như Tư tưởng biện chứng của triết học Trung Quốc là “biến dịch luận” (học thuyết về những nguyên lý, quy luật biến đổi phổ biến trong vũ trụ); “ngũ hành luận” (học thuyết về những nguyên tắc tương tác, biến đổi của các tố chất bản thể trong vũ trụ) của Âm dương gia

Trong triết học Ấn Độ biểu hiện rõ nét nhất của tư tưởng biện chứng là triết học Phật giáo với các phạm trù như: “vô ngã”, “vô thường”, “nhân duyên”

Thời cổ đại Hy Lạp, một số nhà triết học duy tâm (Platon) coi phép biện chứng

là nghệ thuật tranh luận để tìm ra chân lý Arixtôt đồng nhất phép biện chứng với lôgíc học Một số nhà triết học duy vật có tư tưởng biện chứng về sự vật (biện chứng khách quan) Hêraclit coi sự biến đổi của thế giới như một dòng

Trang 10

chảy Ông nói: “Mọi vật đều trôi đi, mọi vật đều biến đổi” “Người ta không thể tắm được hai lần trong cùng một dòng sông”.

Phép biện chứng chất phác thời cổ đại có đặc điểm là: Nhận thức đúng về tính biện chứng của thế giới nhưng không phải dựa trên thành tựu của khoa học mà bằng trực kiến thiên tài, bằng trực quan chất phác, là kết quả của sự quan sát trực tiếp Do đó, chưa đạt tới trình độ phân tích giới tự nhiên, chưa chứng minh được mối liên hệ phổ biến nội tại của giới tự nhiên

Từ nửa cuối thế kỷ XV, khoa học tự nhiên bắt đầu phát triển mạnh, đi vào

nghiên cứu từng yếu tố riêng biệt của giới tự nhiên dẫn đến sự ra đời của

phương pháp siêu hình và phương pháp này trở thành thống trị trong tư duy triếthọc và nghiên cứu khoa học vào thế kỷ XVIII

Phép biện chứng duy tâm cổ điển Đức được khởi đầu từ Cantơ và hoàn thiện ở

hệ tthống triết học của G.Hêghen

Triết học cổ điển Đức đã trình bày những tư tưởng cơ bản nhất của phép biện chứng duy tâm Tính duy tâm trong triết học của G.Hêghen được biểu hiện ở chỗ, ông coi phép biện chứng là quá trình phát triển khởi đầu của “ý niệm tuyệt đối”, coi biện chứng chủ quan là cơ sở của biện chứng khách quan

Ông cho rằng “ý niệm tuyệt đối” là điểm khởi đầu của tồn tại, tự “tha hóa” thành giới tự nhiên và trở về với bản thân nó trong tồn tại tinh thần Tinh thần,

tư tưởng, ý niệm tuyệt đối là cái có trước, thế giới hiện thực chỉ là bản sao chép của ý niệm

Như vậy, Hêghen, là người xây dựng phép biện chứng tương đối hoàn chỉnh vớimột hệ thống khái niệm, phạm trù, quy luật Tuy nhiên, phép biện chứng

Hêghen là phép biện chứng duy tâm, là phép biện chứng ngược đầu; ông coi biện chứng của ý niệm sinh ra biện chứng của sự vật, chứ không phải ngược lại.Ph.Ăngghen nhận xét rằng: “Tính chất thần bí mà phép biện chứng đã mắc phải

ở trong tay Hêghen tuyệt nhiên không ngăn cản Hêghen trở thành người đầu tiên trình bày một cách bao quát và có ý thức những hình thái vận động chung của phép biện chứng Ở Hêghen, phép biện chứng bị lộn ngược đầu xuống đất Chỉ cần dựng nó lại là sẽ phát hiện được cái hạt nhân hợp lý của nó ở đằng sau cái vỏ thần bí của nó”

Câu 10:Quy luật là gì?Cơ sở để phân loại quy luật ?(trang 117-118)

1 KháI niệm “quy luật”

Quy luật là mối liên hệ bản chất, tất nhiên, phổ biến và lặp đi lặp lại giữa các sự vật hiện tượng, giữa các thuộc tính của các sự vật cũng như giữa các thuộc tính của cùng một sự vật

Các quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy của con người đều mang tính khách quan Con người chỉ có thể nhận thức quy luật để vận dụng chúng chứ không thể tuỳ tiện xoá bỏ quy luật

Trang 11

Các quy luật được phản ánh trong các khoa học cũng không phải là sự sáng tạo tuỳ ý của con người mà là sự phản ánh các quy luật khách quan của tự nhiên, xã hội và tư duy mà thôi.

2 Phân loại quy luật

Người ta có thể phân loại quy luật theo nhiều cách khác nhau Căn cứ vàomức độ tính phổ biến chia thành :

Quy luật riêng – tác động trong những phạm vi nhất định, ví dụ, quy luật đấu tranh sinh tồn chỉ tồn tại trong thế giới động vật;

Quy luật chung – tác động trong phạm vi rộng hơn các quy luật riêng Ví

dụ, quy luật bảo toàn và chuyển hoá năng lượng Quy luật này tác động trong phạm vi rộng hơn, trong một loạt sự vật, hiện tượng (nhiệt năng, cơ năng, điện năng, v.v.);

Quy luật phổ biến - tác động trong tất cả các lĩnh vực tự nhiên, xã hội và

tư duy (các quy luật của phép biện chứng duy vật) Ví dụ, quy luật phủ định của phủ định tồn tại cả trong tự nhiên, xã hội và tư duy

Căn cứ vào lĩnh vực tác động, chia thành:

Quy luật tự nhiên - nẩy sinh, tác động trong lĩnh vực tự nhiên Ví dụ, quy luật đồng hoá và dị hoá;

Quy luật xã hội - nẩy sinh và tác động trong lĩnh vực xã hội Ví dụ, quy luật đấu tranh giai cấp trong xã hội có giai cấp;

Quy luật tư duy - nẩy sinh, tác động trong lĩnh vực tư duy Ví dụ, quy luật

kế thừa, v.v

Quy luật của phép biện chứng duy vật nghiên cứu những quy luật phổ biến nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy Các quy luật này phản ánh sự vận động, phát triển của sự vật dưới những phương diện cơ bản nhất Quyluật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập chỉ ra nguồn gốc của sự

Trang 12

vận động, phát triển của sự vật Quy luật từ những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất và ngược lại chỉ ra cách thức vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng Quy luật phủ định của phủ định chỉ ra

khuynh hướngvận động, phát triển của sự vật, hiện tượng

Câu 11 Trình bày mối quan hệ giữa sự thay đổi về lượng và sự thay đổi về chất của sự vật?Ý nghĩa rút ra từ vấn đề này?(vở viết và trang 124)

1 Khái niệm chất và khái niệm lượng

a Khái niệm chất

Chất là phạm trù triết học chỉ tính quy định khách quan vốn có của các sựvật, hiện tượng, là sự thống nhất hữu cơ các thuộc tính làm cho sự vật là

nó mà không phải cái khác; ví dụ, cái bàn, cái ghế, v.v

Để hiểu chất là gì cần hiểu thuộc tính là gì? Thuộc tính về chất là một khía cạnh nào đó về chất của sự vật được bộc lộ ra khi tác động qua lại với các sự vật khác Đó có thể là tính chất, trạng thái, yếu tố, v.v của sự vật Ví dụ, chất của đồng chỉ bộc lộ ra khi đồng tác động qua lại với nhiệt

độ, không khí, điện, v.v Chất của một người được bộc lộ ra qua quan hệ của người đó với những người khác và qua công việc mà người đó làm, v.v

Mỗi sự vật có nhiều thuộc tính Tổng hợp những thuộc tính cơ bản tạo thành chất cơ bản của sự vật Như vậy, sự vật cũng có nhiều chất

Chất của sự vật là khách quan, vì đó là chất của sự vật, không do ai gán cho sự vật Nó do thuộc tính của sự vật quy định

b Khái niệm lượng

Lượng là phạm trù triết học chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự vật, hiện tượng về mặt quy mô, trình độ phát triển, biểu thị con số các thuộc tính, các yếu tố cấu thành sự vật

Lượng được thể hiện thành số lượng, đại lượng, trình độ, quy mô, nhịp

Trang 13

điệu của sự vận động và phát triển Chẳng hạn chỉ kích thước dài hay ngắn, quy mô to hay nhỏ, trình độ cao hay thấp, tốc độ nhanh hay chậm v.v Ví dụ, khi nói sinh viên năm thứ hai, thì sinh viên là chất để phân biệtvới công nhân, bộ đội, còn năm thứ hai chính là lượng, chỉ trình độ của sinh viên.

Lượng là cái khách quan vốn có của sự vật Đối với những sự vật liên quan tới tình cảm khi nhận thức lượng không thể xác định bằng các đại lượng con số mà phải trừu tượng hoá bằng định tính Ví dụ, lòng tốt, tình yêu, v.v

Lưu ý là sự phân biệt chất và lượng cũng chỉ là tương đối Cái trong mối quan hệ này được coi là chất thì trong mối quan hệ khác được coi là lượng Ví dụ, số 4 trong mối quan hệ phân biệt với các số nguyên, dương khác thì nó được coi là chất Nhưng trong mối quan hệ số 4 có tổng số bằng 4 số 1 cộng lại, hay bằng 2 số 2 cộng lại thì khi ấy nó được coi là lượng

2 Mối quan hệ giữa sự thay đổi về lượng và thay đổi về chất

a Những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất

Mỗi sự vật đều có lượng, chất và chúng thay đổi trong quan hệ chặt chẽ với nhau Lượng thay đổi nhanh hơn chất, nhưng không phải mọi thay đổicủa lượng đều ngay lập tức làm thay đổi căn bản về chất

Sự thay đổi về lượng chưa làm thay đổi về chất chỉ trong giới hạn nhất định Vượt quá giới hạn đó sẽ làm cho sự vật không còn là nó, chất cũ mất đi, chất mới ra đời

Giới hạn mà trong đó, sự thay đổi về lượng (tăng lên hoặc giảm đi) chưa làm thay đổi về chất được gọi là độ Nói cách khác, độ là phạm trù triết học chỉ sự thống nhất giữa lượng và chất, là khoảng giới hạn mà trong đó

sự thay đổi về lượng (tăng lên hoặc giảm đi) chưa làm cho sự thay đổi căn bản về chất của sự vật diễn ra Ví dụ, độ của chất sinh viên là từ khi nhập học tới trước khi bảo vệ thành công đồ án, luận văn tốt nghiệp

Trang 14

Những điểm giới hạn mà khi sự thay đổi về lượng đạt tới đó sẽ làm cho

sự thay đổi về chất của vật diễn ra được gọi là điểm nút Thời điểm bảo

vệ thành công đồ án, hoặc luận văn tốt nghiệp của sinh viên là điểm nút

để chuyển từ chất sinh viên lên chất cử nhân

Sự thay đổi về chất do những thay đổi về lượng trước đó gây ra gọi là bước nhảy Bước nhảy là sự kết thúc một giai đoạn phát triển của sự vật

và là điểm khởi đầu của một giai đoạn phát triển mới Bước nhảy vọt làm cho sự vật phát triển bị gián đoạn

b Những thay đổi về chất dẫn đến những thay đổi về lượng

Chất mới ra đời sẽ tác động trở lại tới sự thay đổi của lượng mới (làm thay đổi quy mô, nhịp điệu, tốc độ v.v phát triển của sự vật) Ví dụ, khi trở thành cử nhân thì tốc độ đọc, hiểu vấn đề tốt hơn khi còn là sinh viên, v.v Như vậy, không chỉ sự thay đổi về lượng gây nên những thay đổi về chất mà cả sự thay đổi về chất cũng gây nên những thay đổi về lượng

c Các hình thức của bước nhảy

Bước nhảy để chuyển hoá về chất của sự vật hết sức đa dạng, phong phú với nhiều hình thức khác nhau Dựa trên nhịp điệu thực hiện bước nhảy, người ta chia bước nhảy thành bước nhảy đột biến và bước nhảy dần dần

Bước nhảy đột biến, chất của sự vật biến đổi một cách nhanh chóng ở tất

cả các bộ phận cơ bản, cấu thành sự vật Ví dụ, phản ứng hạt nhân (Ur

235 đạt đến khối lượng nhất định sẽ xảy ra vụ nổ hạt nhân) rất nhanh và làm thay đổi chất của sự vật nhanh chóng

Bước nhảy dần dần là quá trình thay đổi về chất diễn ra bằng con đường tích luỹ dần dần những nhân tố của chất mới và mất đi dần dần những nhân tố của chất cũ Ví dụ, quá trình chuyển biến vượn người thành ngườidiễn ra hàng vạn năm, hết sức lâu dài Cần lưu ý, bước nhảy dần dần (là

sự chuyển hoá dần dần sang chất mới) khác sự thay đổi dần dần về lượng (tích luỹ liên tục về lượng, ví dụ như sự tích luỹ tiền gửi tiết kiệm) của sự vật

Trang 15

Căn cứ vào quy mô thực hiện bước nhảy của sự vật, người ta chia thành bước nhảy toàn bộ và bước nhảy cục bộ.

Bước nhảy toàn bộ là bước nhảy làm thay đổi về chất tất cả các mặt, các

bộ phận, các yếu tố cấu thành sự vật Ví dụ, khi thực hiện cách mạng Tháng Tám năm 1945, chúng ta đã thực hiện bước nhảy toàn bộ trên tất

cả các mặt đời sống kinh tế - chính trị - xã hội - văn hoá - đạo đức, v.v

Bước nhảy cục bộ là bước nhảy làm thay đổi một số mặt, một số yếu tố,

bộ phận của sự vật đó Ví dụ, quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước

ta hiện nay đang hàng ngày, hàng giờ làm thay đổi từng mặt đời sống kinh tế - xã hội - văn hoá theo hướng xã hội chủ nghĩa

Trong lĩnh vực xã hội, thay đổi về lượng được gọi là “tiến hoá”, thay đổi

về chất được gọi là “cách mạng”

Tóm lại, sự thống nhất giữa lượng và chất trong sự vật tạo thành độ của

sự vật Những thay đổi về lượng dần dần đến giới hạn nhất định thì xảy rabước nhảy, chất cũ bị phá vỡ, chất mới ra đời cùng với độ mới Đó chính

là cách thức phát triển của sự vật Quá trình này diễn ra liên tục làm cho

sự vật không ngừng vận động, biến đổi

3 Ý nghĩa phương pháp luận

Trong hoạt động thực tiễn, muốn có thay đổi về chất của sự vật phải tích luỹ về lượng, không được nóng vội chủ quan

Trong hoạt động thực tiễn cần tránh rơi vào “tả khuynh” - nhấn mạnh bước nhảy khi chưa đủ sự tích luỹ về lượng; bởi lẽ, khi ấy rất dễ rơi vào phiêu lưu, mạo hiểm Đồng thời, phải tránh “hữu khuynh” - tuyệt đối hoá

sự tích luỹ về lượng, không dám thực hiện bước nhảy khi đã đủ sự tích luỹ về lượng; khi ấy dễ rơi vào bảo thủ, trì trệ, ngại khó

Khi tích luỹ về lượng đã đủ cần thực hiện bước nhảy, tránh bảo thủ, trì trệ, ngại khó

Trong hoạt động thực tiễn cần phân biệt đúng các hình thức của bước

Trang 16

nhảy và vận dụng sáng tạo bước nhảy.

Để sự vật còn là nó phải nhận thức được độ của nó và không để cho lượng thay đổi vượt quá giới hạn độ Ví dụ, khi sử dụng đồ điện phải chú

ý tới công xuất, điện áp của nó, nếu không sẽ cháy, v.v

Câu 12 Tại sao nói mâu thuẫn là nguồn gốc của sự vận đông và phát triển?Căn cứ để phân loại mâu thuẫn và một số nội dung của mâu thuẫn?

2 Mâu thuẫn là nguồn gốc của sự vận động và sự phát triển

Đấu tranh của các mặt đối lập là nguồn gốc, động lực của sự vận động, phát triển của sự vật Bởi lẽ, khi các mặt đối lập thống nhấtvới nhau thì sự vật còn là nó Nhưng khi mâu thuẫn từ khác biệt trở nên gay gắt cần giải quyết thì khi ấy sự thống nhất cũ của sự vật mất đi, xuất hiện sự thống nhất mới, chính là sự vật mới ra đời thay thế sự vật cũ Sự thống nhất mới này lại mâu thuẫn nhau, rồi lại được giải quyết, cứ như vậy sự vật vận động, biến đổi, phát triển Nói cách khác, khi hai mặt đối lập tác động lẫn nhau, cả hai mặt đối lập đều biến đổi, mâu thuẫn biến đổi và được giải quyết thì mâu thuẫn cũ mất đi làm sự vật không còn là

nó Sự vật mới ra đời, mâu thuẫn mới lại xuất hiện Cứ như vậy

sự vật vận động, phát triển Lưu ý rằng, cả thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập đều có vai trò quan trọng trong sự vận động, phát triển của sự vật

3 Phân loại mâu thuẫn

Căn cứ vào quan hệ đối với sự vật được xem xét, người ta phân biệt các mâu thuẫn thành mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài

Mâu thuẫn bên trong là sự tác động qua lại giữa các mặt, các khuynh hướng đối lập nhau của cùng một sự vật Ví dụ, mâu thuẫn giữa đột biến và di truyền trong cơ thể động vật

Mâu thuẫn bên ngoài là sự tác động qua lại giữa các mặt, các

Trang 17

khuynh hướng đối lập nhau của các sự vật khác nhau Ví dụ, mâuthuẫn giữa con người với môi trường tự nhiên bên ngoài.

Sự phân chia thành mâu thuẫn bên trong và bên ngoài chỉ có tính tương đối Trong mối liên hệ này một mâu thuẫn nào đó được coi

là mâu thuẫn bên trong, nhưng trong mối liên hệ khác lại được coi là mâu thuẫn bên ngoài Ví dụ, mâu thuẫn giữa con người và

tự nhiên nếu ta lấy con người và tự nhiên làm sự vật thì đó là mâu thuẫn bên ngoài Nhưng nếu ta lấy mối liên hệ giữa hệ thiên

hà và mặt trời làm sự vật thì đó có thể lại là mâu thuẫn bên trong

hệ thiên hà mặt trời của chúng ta, v.v

Mâu thuẫn bên trong đóng vai trò quyết định trực tiếp đối với sự vận động phát triển của sự vật Mâu thuẫn bên ngoài đóng vai tròquan trọng nhưng chỉ phát huy tác dụng thông qua mâu thuẫn bên trong Giải quyết mâu thuẫn bên trong không thể tách rời việc giải quyết mâu thuẫn bên ngoài Giải quyết mâu thuẫn bên ngoài là điều kiện để giải quyết mâu thuẫn bên trong

Căn cứ vào ý nghĩa đối với sự tồn tại và phát triển của sự vật, người ta chia thành mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn không cơ bản

Mâu thuẫn cơ bản là mâu thuẫn quy định bản chất của sự vật và tồn tại trong suốt quá trình tồn tại của sự vật Ví dụ, mâu thuẫn

cơ bản trong thời kỳ quá độ ở nước ta là mâu thuẫn giữa khuynh hướng tự giác lên chủ nghĩa xã hội với khuynh hướng tự phát lênchủ nghĩa tư bản

Mâu thuẫn không cơ bản là mâu thuẫn đặc trưng cho một phươngdiện nào đó của sự vật và quy định sự vận động phát triển của phương diện đó của sự vật Ví dụ, mâu thuẫn giữa lao động trí óc

và lao động chân tay trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta

Căn cứ vào vai trò của mâu thuẫn đối với sự vận động và phát triển của sự vật trong một giai đoạn phát triển nhất định, người ta

Ngày đăng: 01/05/2022, 17:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w