1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đề cương bài giảng triết học ( dành cho khối không chuyên ngành triết học trình độ đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ các ngành khoa học tự nhiên công nghệ)

89 34 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đề Cương Bài Giảng Triết Học ( Dành Cho Khối Không Chuyên Ngành Triết Học Trình Độ Đào Tạo Thạc Sĩ, Tiến Sĩ Các Ngành Khoa Học Tự Nhiên Công Nghệ)
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Tự Nhiên
Chuyên ngành Triết học
Thể loại Đề cương
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 1,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo chữ Hy Lạp, philosophia: yêu mến sự thông thái Như vậy, dù ở phương Đông hay phương Tây, người ta đều quan niệm triết học là đỉnh cao của trí tuệ, là sự nhận thức sâu sắc về thế giớ

Trang 1

CHƯƠNG I

KHÁI LUẬN VỀ TRIẾT HỌC

I.TRIẾT HỌC VÀ VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC

1 Triết học và đối tượng của triết học

a Quan niệm về triết học

Triết học ra đời vào khoảng thế kỷ VIII đến thế kỷ VI trước CN, đồng thời ở cả

Ấn Độ, Trung Quốc và Hy Lạp cổ đại

Theo người Ấn Độ, triết học là darshana: sự chiêm ngưỡng dựa trên lý trí, là con đường suy ngẫm để dẫn dắt con người đến lẽ phải Theo gốc Hán tự, thuật ngữ

“triết” có nghĩa là “trí”, “có trí tuệ”, “sáng suốt”, chỉ sự hiểu biết, nhận thức sâu rộng

về vũ trụ và nhân sinh Theo chữ Hy Lạp, philosophia: yêu mến sự thông thái

Như vậy, dù ở phương Đông hay phương Tây, người ta đều quan niệm triết học

là đỉnh cao của trí tuệ, là sự nhận thức sâu sắc về thế giới, nắm bắt được chân lý, hiểu

được bản chất của sự vật, hiện tượng; nó tồn tại với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, một bộ phận của kiến trúc thượng tầng, có trình độ khái quát hóa và tư duy trìu

tượng cao

Theo quan điểm mácxít, triết học là hình thái ý thức xã hội đặc thù, là học thuyết chung nhất về tồn tại và nhận thức; là khoa học về những quy luật chung nhất của sự vận động, phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy Vì vậy, có thể khái quát

rằng: Triết học là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới, về vị trí, vai trò của con người trong thế giới ấy

b Nguồn gốc của triết học

Triết học ra đời từ thực tiễn, do nhu cầu của thực tiễn; nó có nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc xã hội

Về nhận thức: triết học chỉ ra đời khi con người đã đạt đến trình độ trừu tượng

hoá, khái quát hoá, hệ thống hóa để xây dựng nên các học thuyết lý luận

Về xã hội: xã hội xuất hiện chế độ chiếm hữu nô lệ- xã hội có giai cấp đầu tiên

của nhân loại

c Đối tượng của triết học

Thời cổ đại: đối tượng nghiên cứu của triết học là mọi lĩnh vực tri thức (Triết học là khoa học của các khoa học)

Thời Trung cổ: do sự chi phối của tôn giáo, triết học trở thành một bộ môn của

thần học, có nhiệm vụ lý giải và chứng minh cho giáo lý Kinh thánh

Thế kỷ XVII- XVIII: sự phát triển của khoa học tự nhiên, triết học vẫn gắn liền

Trang 2

học là hệ thống phổ biến của các tri thức khoa học, là khoa học của các khoa học, các ngành khoa học khác chỉ là những mắt khâu của triết học

Với tư cách là một khoa học, Triết học Mác nghiên cứu những quy luật chung nhất của sự vận động, phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy

2 Vấn đề cơ bản của triết học

Vấn đề mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, giữa tồn tại và tư duy hay giữa tự nhiên và tinh thần là vấn đề cơ bản của triết học

Tại sao đây là vấn đề cơ bản, vì:

+ Đây là vấn đề cơ sở, nền tảng, xuyên suốt mọi học thuyết triết học trong lịch

sử, quyết định sự tồn tại của triết học;

+ Quyết định sự hình thành thế giới quan, phương pháp luận củ a các triết gia, xác định bản chất của các trường phái triết học;

+ Là điểm xuất phát để giải quyết các vấn đề khác của triết học

Nội dung vấn đề cơ bản:

+ Mặt thứ nhất: (bản thể luận)

+ Mặt thứ hai: (nhận thức luận)

3 Chức năng cơ bản của triết học

a Chức năng thế giới quan

Thế giới quan là toàn bộ những quan điểm về thế giới và về vị trí, vai trò của con người trong thế giới đó Triết học là hạt nhân lý luận của thế giới quan

Về nguồn g ốc, thế giới quan là kết quả trực tiếp của quá trình nhận thức, song

suy cho cùng nó là kết quả của những yếu tố chủ quan và những yếu tố khách quan, của cả hoạt động nhận thức và ho ạt động thực tiễn Hình thành thế giới quan là một quá trình tất yếu mà chủ thể của nó có thể là một cá nhân hay cộng đồng xã hội

Về nội dung, thế giới quan phản ánh thế giới ở ba góc độ:

1 Các đối tượng bên ngoài chủ thể;

2 Bản thân chủ thể và;

3 Mối quan hệ giữa chủ thể và các đối tượng bên ngoài chủ thể

Về hình thức, thế giới quan có thể biểu hiện dưới dạng các quan điểm, quan

niệm rời rạc, cũng có thể biểu hiện dưới dạng hệ thống lý luận chặt chẽ

Về cấu trúc, là hiện tượng tinh thần, thế giới quan có cấu trúc phức tạp và được

tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau, song hai yếu tố cơ bản của thế giới quan là tri thức và niềm tin

Tri thức là cơ s ở trực tiếp cho sự hình thành thế giới quan, song tri thức chỉ

gia nhập vào thế giới quan khi nó đã trở thành niềm tin để hình thành lý tưởng, động

cơ thôi thúc con người hành động Thế giới quan tạo nên cơ sở vững chắc cho con người tiếp tục tìm hiểu thế giới, cho con người xác định thái độ, cách thức hoạt động,

cách thức sống nói riêng và xác l ập nhân sinh quan nói chung Như vậy, chức năng

Trang 3

bao trùm của thế giới quan là chức năng định hướng cho toàn bộ hoạt động sống của con người

Thế giới quan có nhiều trình độ khác nhau:

Thế giới quan huyền thoại là thế giới quan có nội dung pha trộn một cách

không tự giác giữa thực và ảo

Thế giới quan tôn giáo là thế giới quan có niềm tin mãnh liệt vào sức mạnh của

lực lượng siêu nhiên đối với thế giới, được thể hiện qua các hoạt động có tổ chức để suy tôn, sùng bái lực lượng siêu nhiên ấy

Thế giới quan triết học là thế giới quan được thể hiện bằng hệ thống lý luận

thông qua hệ thống các khái niệm, các phạm trù, các quy luật Nó không chỉ nêu ra các quan điểm, quan niệm của con người về thế giới và về bản thân con người, mà còn chứng minh các quan điểm, quan niệm đó bằng lý luận

Triết học ra đời với tính cách là hệ thống lý luận chung nhất về thế giới quan, là hạt nhân lý luận của thế giới quan, đã làm cho thế giới quan phát triển lên một trình độ

tự giác dựa trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm thực tiễn và tri thức khoa học mang lại

b Chức năng phương pháp luận

Phương pháp luận là một hệ thống những quan điểm, những nguyên tắc xuất phát, những cách thức chung để thực hiện hoạt động nhận thức và thực tiễn

Phương pháp luận được phân chia thành cách cấp độ:

+ Phương pháp luận bộ môn là những quan điểm, nguyên tắc xác định các phương pháp nhằm giải quyết các vấn đề cụ thể của các ngành khoa học cụ thể

+ Phương pháp luận chung là những quan điểm, nguyên tắc chỉ đạo việc xác định phương pháp của một nhóm các ngành khoa học có những điểm chung nhất định

+ Phương pháp luận triết học là những quan điểm, nguyên tắc chung nhất; là xuất phát điểm cho việc xác định phương pháp luận bộ môn, các phương pháp luận chung, các phương pháp hoạt động cụ thể của nhận thức và thực tiễn

Các hình thức phương pháp luận vừa độc lập tương đối với nhau, vừa bổ sung, xâm nhập vào nhau, do đó cần vận dụng tổng hợp các phương pháp luận trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn

Phương pháp luận biện chứng duy vật là hệ thống những quan điểm, những nguyên tắc xuất phát chỉ đạo chủ thể trong việc xác định phương pháp cũng như trong việc xác định phạm vi, khả năng áp dụng phương pháp hợp lý, có hiệu quả tối đa

Phương pháp luận biện chứng duy vật là học thuyết về phương pháp nhận thức khoa học và cải tạo thế giới

II SỰ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC TRONG LỊCH SỬ

1 Những vấn đề có tính quy luật của sự hình thành, phát triển tư tưởng triết học trong lịch sử

Trang 4

Trên cơ sở thế giới quan, phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng,

có thể thấy, lịch sử triết học có hai đặc điểm về tính quy luật:

1 Tính quy luật phản ánh của lịch sử triết học được khái quát từ các điều kiện

kinh tế- xã hội, sự phát triển của văn hóa và khoa học trong các giai đoạn lịch sử

2 Tính quy luật giao lưu, bao gồm giao lưu đồng loại và giao lưu khác loại

Giao lưu đồng loại bao gồm giao lưu theo lịch đại và giao lưu đồng đại Giao lưu khác loại bao gồm giao lưu giữa triết học với các hình thái ý thức xã hội khác

Theo đó, sự phát sinh, phát triển của lịch sử tư tưởng triết học chịu sự quy định của các điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan mang tính quy luật

+ Điều kiện kinh tế - xã hội và nhu cầu phát triển của thực tiễn xã hội;

+ Sự phát triển của khoa học tự nhiên và khoa học xã hội;

+ Cuộc đấu tranh giữa hai khuynh hướng triết học cơ bản- CNDV và CNDT; + Cuộc đấu tranh giữa hai phương pháp nhận thức trong lịch sử là phương pháp biện chứng và phương pháp siêu hình;

+ Sự kế thừa các tư tưởng triết học trong tiến trình lịch sử;

+ Sự liên hệ, ảnh hưởng, kế thừa, kết hợp giữa các học thuyết triết học của các dân tộc, các quốc gia trên thế giới;

+ Mối quan hệ với các hình thái tư tưởng chính trị, pháp quyền, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật…

2 Sự ra đời và phát triển của triết học phương Đông

a Quan niệm về triết học phương Đông

„„Triết học phương Đông” là khái niệm chỉ nền triết học của các quốc gia châu

Á Triết học phương Đông bắt nguồn từ Ai Cập, Babilon, tới Ấn Độ, Trung Quốc… với hai trung tâm lớn là Ấn Độ và Trung Quốc cổ đại

b Một số đặc điểm triết học phương Đông

Triết học phương Đông ra đời từ rất sớm, vào khoảng thiên niên kỷ thứ III TCN trong các nền văn minh Ai Cập, Ấn Độ và Trung Quốc cổ đại

+ Lấy con người và các vấn liên quan đến con người làm đối tượng nghiên cứu + Thế giới quan bao trùm là thế giới quan duy tâm

+ Sự phân chia niên đại, thời kỳ thường theo các triều đại phong kiến

+ Khuynh hướng chung là hướng nội

+ Tính đại chúng và tính nhân dân là nét nổi bật của triết học phương Đông Nghiên cứu sự ra đời và phát triển của triết học Ấn Độ, cổ, trung đại chúng ta sẽ thấy

rõ cơ sở khoa học của những nhận định trên

Ngay từ khi mới ra đời và suốt cả quá trình tồn tại, phát triển, triết học Ấn Độ

hướng trọng tâm vào nghiên cứu, luận giải các vấn đề nhân sinh dưới góc độ tôn giáo

và tâm linh; xu hướng chung, nổi trội là “hướng nội” Các nhà triết học đều có chung

Trang 5

một mục đích là đi tìm cái Đại ngã trong cái Tiểu ngã của một thực thể cá nhân, lấy cái bên trong để giải thích cái bên ngoài

Tư duy triết học của người Ấn Độ có tính trìu tượng, khái quát cao và trí tưởng

tượng của người Ấn Độ rất phát triển, những “niết bàn”, “thế giới cực lạc”, “sắc, sắc, không, không”…là kết quả sự phát triển tư duy trìu tượng của họ

Tính bút chiến, chiến đấu và phê phán trong triết học Ấn Độ là khá rõ ràng nhưng không triệt để Điều đó phản ánh trạng thái trì trệ của “phương thức sản xuất châu Á” ở Ấn Độ vào triết học, và đến lượt mình, triết học lại trở thành một trong

những nguyên nhân của trạng thái trì trệ đó

Sự giống và khác nhau cơ bản giữa các trường phái triết học chính thống trong triết học Ấn Độ cổ, trung đại Trường phái nào về cơ bản thống nhất với kinh Veda,

thừa nhận vai trò của đạo Brahamane (Bà la môn) được coi là trường phái chính thống

và ngược lại là không chính thống Như vậy, triết học Ấn Độ có 6 trường phái chính thống, 3 trường phái không chính thống

Trong triết học Ấn Độ cổ, trung đại, Phật giáo là một trường phái triết học

không chính thống, nhưng tư tưởng triết học của Phật giáo có một vị trí rất quan trọng

Về bản thể luận, Phật giáo đưa ra tư tưởng “nhất thiết duy tâm tạo” hay “vận pháp duy tâm tạo” (mọi sự vật, hiện tượng từ tâm mà sinh ra, phụ thuộc vào diễn biến của hoàn cảnh, điều kiện cụ thể); “tam giới duy thức” (ba thế giới: sắc giới, dục giới và

vô sắc giới đều do ý thức quyết định); tư tưởng “vô thường”, “vô ngã” và luật nhân

duyên quả báo

Về nhân sinh, Phật giáo đưa ra tư tưởng luân hồi và nghiệp báo, tứ diệu đế, thập nhị nhân duyên và niết bàn “Luân hồi, nghiệp báo”: con người xuất hiện là do nghiệp

Khi còn nghiệp, con người phải quay trở lại tái sinh Tái sinh không phải là sự đầu thai của linh hồn mà là s ự kết tập mới của ngũ uẩn: nghiệp được phân thành 2 loại: thiện nghiệp và ác nghiệp Tổng hợp bù trừ 2 loại đó thành nghiệp lực Nghiệp lực là thiện hay ác sẽ quyết định con người tái sinh vào kiếp nào: thiên, nhân, atula, súc sinh, quỷ, địa ngục Phật giáo chỉ ra lối thoát khỏi luân hồi ở thuyết “tứ diệu đế”

Triết học Trung Quốc cổ, trung đ ại hướng vào giải quyết các vấn đề chính trị-

xã hội, đạo đức, luân lý, lấy con người, lợi ích của con người và xã hội làm trung tâm

Tư tưởng triết học xuyên suốt chiều dài lịch Trung Quốc là tư tưởng “thiên nhân hợp nhất”, “vạn vật đồng nhất thể” Sự thống nhất con người với thế giới là sự

thống nhất toàn bộ, triệt để, cả về thể xác và tinh thần, cả đời sống nhận thức cũng như

đời sống luôn lý, đạo đức; nếu thế giới được xem là “cái một”, là “thái cực”, thì con người cũng được xem là “một thái cực”- “đạo trời và đạo người”

Tư duy của hầu hết các trường phái triết học Trung Quốc là rất cụ thể, có nhiều yếu tố dân sinh, trực quan tâm linh, luôn hướng vào giải quyết các vấn đề thường nhật, bức thiết đang xảy ra Do đó, yếu tố duy lý triết học thường ít được quan tâm, tuy về

Trang 6

sau này, các trường phái triết học Trung Quốc có tiếp thu, kế thừa tư tưởng triết học của các trường phái khác để bổ sung, nâng tầm tư duy duy lý triết học của mình

Cuộc đấu tranh giữa triết học duy vật và triết học duy tâm tuy có diễn ra trong triết học Trung Quốc, song không thực sự nổi bật Thế giới quan duy tâm, tôn giáo bao trùm triết học Trung Quốc thời kỳ cổ, trung đ ại VD: Nho giáo từ chỗ ngả nghiêng giữa duy tâm và duy vật phát triển sang duy tâm nhất nguyên; Lão giáo từ duy vật nhất nguyên phát triển thành hai phái: duy vật duy lý và duy tâm tôn giáo có ma thuật

Nhìn chung, các trường phái triết học Trung Quốc đồng loạt xuất hiện vào thời Xuân Thu, phát triển mạnh trong thời Chiến Quốc và đạt được những thành tựu rất quan trọng Tiêu biểu trong các trường phái là Nho gia, Pháp gia, Đạo gia và Mặc gia

Tư tưởng triết học của Khổng Tử (551- 479 Tcn) và trường phái Nho gia thể

hiện rõ nét trong “Lục kinh”: Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Dịch, Kinh Lễ, Kinh Nhạc, Kinh Xuân thu (đời nhà Tần, Kinh Nhạc bị thất truyền) và “Tứ thư”: Luận Ngữ (ghi lại

những lời nói của Khổng Tử với học trò và người đương thời, cũng những lời bàn của

học trò Khổng Tử), Đại học (Tăng Sâm viết), Trung dung (Tử Tư viết), Mạnh Tử

(Mạnh Tử viết) Với việc hệ thống hóa những tri thức tư tưởng đời trước và trình bày quan điểm nhân, lễ và chính danh, Khổng Tử đã xây dựng nên học thuyết đạo đức- chính trị nổi tiếng là Nho giáo

Tư tưởng cơ bản của triết học Đạo gia: Đạo gia là trường phái triết học có

nhiều yếu tố duy vật và biện chứng sơ khai Tư tưởng của Đạo gia thể hiện ở phạm trù

Đạo và Đức Đạo là bản thể, là cội nguồn sinh ra trời, đất, người và vạn vật Đạo là cái khởi nguyê n- cái ban đầu, thống nhất nên gọi là “cái một” Đạo sinh một, một sinh hai, hai sinh ba, ba sinh vạn vật, vạn vật sinh đến vô cực lại quay về Đạo Đức là thế tiềm tàng c ủa Đạo ở thế giới hiện hữu, phụ thuộc vào Đạo, Đức là tính chất của mọi sự vật, hiện tượng Do vậy, Đạo là bản thể, bản chất tiềm ẩn ở bên trong Còn Đức là tính chất thế lực của Đạo, biểu hiện ra bên ngoài Nhờ Đức mà người ta biết có Đạo

Tư tưởng biện chứng của Đạo gia thể hiện ở chỗ: vạn vật luôn biến đổi không ngừng theo quy luật phản phục âm- dương, thể hiện qua nhiều luận điểm về tính tương

đối của sự vật, hiện tượng và sự chuyển hóa của các mặt đối lập như phúc- họa, cao- thấp, thiện- ác,…

Tư tưởng cơ bản của Triết học Mặc gia là tin tưởng tuyệt đối vào thiện ý của trời, trời thương yêu con người và luôn mong muốn con người hạnh phúc Vì vậy, Mặc Tử và học trò của ông đã xây dựng học thuyết Kiêm ái Hạt nhân của thuyết Kiêm

ái là kiêm tương ái, giao tương lợi, tức là mọi người cùng yêu thương nhau, cùng làm

lợi cho nhau không phân biệt đẳng cấp, sang hèn, mọi người đều phải thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau; giữ điều lành; tránh, bỏ điều ác, không làm hại nhau và chém giết

lẫn nhau Làm được như thế là đúng với “thiện chí” của trời Biện pháp để làm được điều đó là kiêm ái

Trang 7

Tư tưởng cơ bản của triết học Pháp gia thể hiện khác rõ trong học thuyết Pháp

trị với việc đề cao tinh thần duy vật, vô thần và phép biện chúng sơ khai Các nhà triết

học Pháp gia chủ trương dùng pháp trị để thực hiện chính danh và phê phán những hạn chế của thuyết Đức trị

Nội dung tư tưởng Pháp gia là tổng hợp ba phạm trù: Pháp, Thuật, Thế Đây là công cụ của đế vương Pháp phải rõ ràng minh bạch, thời cuộc thay đổi thì pháp luật

cũng phải thay đổi theo cho phù hợp Muốn quyền lực nhà nước thi hành được pháp

luật thì đế vương phải có Thế, tức là nắm được quyền lực nhà nước và phương pháp, cách thức, thủ đoạn để thực hiện Pháp là dựa vào Thế Vua phải có Thuật của vua, tức

là thuật cai trị và điều khiển bộ máy nhà nước

3 Sự ra đời và phát triển của triết học phương Tây

a Quan niệm về triết học phương Tây

Triết học phương Tây có thể hiểu theo hai nghĩa: Nghĩa rộng, triết học phương

Tây là hệ thống quan điểm, quan niệm của người phương Tây thể hiện qua các trào lưu,

tư tưởng triết học từ triết học Hy Lạp cổ đại đến ngày nay Nghĩa hẹp, triết học phương

Tây được xem như là các trào lưu, quan điểm triết học đương đại và thường được hiểu

là triết học ngoài mácxit

b Bối cảnh ra đời, thành tựu và đặc điểm của triết học Hy Lạp cổ đại

Bối cảnh ra đời:

+ Là một chế độ nô lệ rất điển hình, xã hội phân hóa giai c ấp sâu sắc: chủ nô và

nô lệ Trong giai cấp chủ nô phân hóa thành chủ nô dân chủ và chủ nô quý tộc Phân công lao động rõ rệt: lao động trí óc và chân tay; thành thị và nông thôn

+ Có sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế và khoa học Địa thế rất thuận lợi cho giao lưu, buôn bán với Bắc Phi, Trung Quốc, Ấn Độ Do đó, những con số mà ta quen gọi là số Ả rập, thực tế những con số đó không phải do người Ả rập phát minh ra mà lấy của người Ấn Độ cổ đại Khoa học phát triển: Asimet, Talet, Pitago quê hương của toán học

Đặc điểm chủ yếu của triết học Hy Lạp cổ đại

+ Là triết học của giai cấp chủ nô, triết học chủ yếu xuất hiện trong cuộc đấu tranh giữa chủ nô dân chủ và chủ nô quý tộc với 2 trường phái: chủ nghĩa duy vật (chủ

nô dân chủ) và chủ nghĩa duy tâm (chủ nô quý tộc)

+ Gắn chặt với khoa học tự nhiên, lấy giới tự nhiên làm đối tượng nghiên cứu + Thế giới quan bao trùm là duy vật và vô thần Triết học Hy Lạp ngay từ đầu

đã diễn ra cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm Tiêu biểu là

cuộc đấu tranh giữa đường lối Đêmôcrit và đường lối Platôn

+ Phép biện chứng tự phát, ngây thơ ra đời và phát triển cùng với chủ nghĩa duy

vật mộc mạc, chất phác

Trang 8

+ Triết học Hy Lạp chứa đựng mầm mống của hầu hết các thế giới quan sau này Ngay từ khi xuất hiện chúng luôn được giải quyết theo hai quan điểm đối lập nhau: hoặc là duy vật hoặc là duy tâm

+ Sự phát triển mang tính “cách mạng”, “ đột biến” Thầy theo một trường phái, nhưng trò có thể mở ra một trường phái riêng

+ Coi con người là người chinh phục thiên nhiên, phục vụ cho mình Con người

phương Tây rất khó thích nghi, cái tôi rất mạnh; Pitago: con người là thước đo của vạn vật Con người phương Đông dễ hòa hợp

c Bối cảnh ra đời và đặc điểm của triết học Tây Âu thời kỳ trung cổ

Bối cảnh ra đời

+ Sự thống trị của chế độ phong kiến V- XV

+ Thế kỷ XII, kỹ thuật thủ công nghiệp và dân cư tăng mạnh, nhiều thành phố

ra đời; nhà thờ Kitô giáo phát triển mạnh

Đặc điểm của triết học Tây Âu thời kỳ trung cổ

+ Thế giới quan bao trùm là duy tâm và tôn giáo

+ Cuộc đấu tranh giữa “phái duy danh” và “phái duy thực” thể hiện khuynh

hướng duy vật và duy tâm (phái duy danh gần gũi với chủ nghĩa duy vật, phái duy thực

là biểu hiện của chủ nghĩa duy tâm)

d Bối cảnh ra đời và đặc điểm của triết học thời kỳ Phục hưng

Một số đặc điểm triết học thời kỳ Phục hưng

+ Chủ nghĩa duy vật thời cổ đại được khôi phục và khẳng định chỗ đứng của mình trong đời sống tinh thần của xã hội

+ Xuất hiện những học thuyết chính trị- xã hội phê phán xã hội đương thời và

mơ ước, khát vọng về một tương lai tốt đẹp hơn

+ Các nhà triết học chủ trương c ải cách giáo hội, kịch liệt phê phán các giáo lý trung cổ, bảo vệ các di sản của triết học Hy Lạp cổ đại

+ Chủ nghĩa nhân đ ạo tư sản đề cao con người Họ cho rằng, con người là sản phẩm tối cao và tinh túy nhất trong sự sáng tạo của Thượng đế, vì con người là thượng

đế- con người Trong đó có Copernicus với thuyết Nhật tâm

đ Bối cảnh ra đời và một số thành tựu, đặc điểm của triết học Tây Âu cận đại

Trang 9

Bối cảnh ra đời

+ Thế kỷ XVII- XVII, hàng loạt cuộc cách mạng tư sản nổ ra khắp châu Âu + Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật

Một số thành tựu và đặc điểm của triết học Tây Âu cận đại

+ Là thế giới quan và ngọn cờ lý luận của giai cấp tư sản đang lên với chủ trương phát triển chủ nghĩa tư bản, chống lại trật tự phong kiến và giáo hội

+ Về con người và giải phóng con người là vấn đề trung tâm và đối tượng nghiên cứu của triết học Triết học duy vật gắn bó chặt chẽ với khoa học, nhất là với khoa học tự nhiên nhằm chống lại thế giới quan duy tâm và tôn giáo

+ Phương pháp nhận thức, xem xét các hiện tượng tự nhiên theo phương pháp trực quan, siêu hình, máy móc

+ Là triết học duy vật không triệt để, tức là quan niệm duy vật về giới tự nhiên

và duy tâm khi quan niệm về đời sống xã hội và lịch sử

e Bối cảnh ra đời và một số thành tựu, đặc điểm của triết học cổ điển Đức

Bối cảnh lịch sử cuối thế kỷ XVIII- đầu thế kỷ XIX

+ Cuối thế kỷ XVIII- đầu thế kỷ XIX, Anh và Pháp là những nước tư bản, trong khi đó nước Đức vẫn là phong kiến lạc hậu (dân tộc Giéc-manh gồm gần 300 nước)

+ Do ra đời từ nền công nghiệp chưa phát triển lại bị quan hệ phong kiến chèn

ép, giai c ấp tư sản không dủ mạnh, không thống nhất, thậm chí hèn nhát buộc phải thỏa hiệp với giai cấp địa chủ phong kiến

+ Khoa học tự nhiên, kỹ thuật và công nghiệp phát triển đã vạch ra phép biện chứng của tự nhiên Triết học cổ điển Đức còn là sự kế thừa các trào lưu tư tưởng triết

học tiên tiến từ thế kỷ XVII- XVIII

Một số thành tựu và đặc điểm của triết học cổ điển Đức

+ Vấn đề con người thực sự trở thành trung tâm, là đối tượng nghiên c ứu của triết học (đỉnh cao là triết học nhân bản của Feuerbach)

+ Phép biện chứng duy tâm với hệ thống khái niệm, phạm trù, quy luật (Hegel)

4 Khái lược về sự ra đời, phát triển của tư tưởng triết học Việt Nam thời kỳ phong kiến

a Điều kiện hình thành và phát triển của lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam

Điều kiện tự nhiên: Việt Nam nằm ở phía Đông- Nam châu Á Vị trí địa lý đó

đã tạo lập cơ sở tự nhiên cho khả năng giao lưu, thông thương về kinh tế, chính trị, văn hóa giữa Việt Nam với Trung Quốc và Ấn Độ trong nhiều thế kỷ trước thời cận đại

Do đó, đã chịu ảnh hưởng sâu sắc các học thuyết tư tưởng của Trung Quốc và Ấn Độ

Điều kiện kinh tế- xã hội: Nền kinh tế nước ta là một nền nông nghiệp lạc hậu

tồn tại hàng ngàn năm, lại được bảo tồn bằng một cơ cấu xã hội khép kín của các làng

xã đã trở thành cơ sở hiện thực của một “nền văn hóa dân dã” hay “văn hóa làng mạc”

Trang 10

Điều này, đã làm hạn chế sự phát triển tư duy độc lập, sáng tạo, cản trở sự phát triển tư duy triết học của người Việt Nam

b Những đặc điểm chủ yếu của lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam

Đặc điểm của quá trình hình thành, phát triển tư tưởng triết học Việt Nam

Quá trình phát triển của lịch sử t ư tưởng triết học Việt Nam là quá trình phát triển song trùng hợp nhất giữa hai xu hướng: xu hướng tự thân và xu hướng tiếp biến các tư tưởng triết học được du nhập từ bên ngoài

Rất nhiều quan điểm triết học của các học thuyết nói trên đã trở thành nhân tố hữu cơ của tư duy triết học, quan điểm triết học của người Việt Nam Nhiều nội dung của các quan điểm đó đã được biến đổi cho phù hợp với tư duy triết học truyền thống của người Việt Nam

Đặc điểm về nội dung tư tưởng triết học Việt Nam

Trong cấu trúc ý thức hệ Việt Nam, chủ nghĩa yêu nước với nội dung cơ bản là

tư tưởng về cố kết cộng đồng và độc lập chủ quyền quốc gia đã thường được xác định

ở vào vị trí trung tâm của lịch sử tư tưởng và văn hóa

Đặc điểm về hình thức thể hiện các tư tưởng triết học Việt Nam

Các tư tưởng triết học ở tầm hệ thống các quan điểm, thường được trình bày dưới hình thức trước tác của các triết gia và theo phương thức lý luận

Những tư tưởng triết học Việt Nam, ngoài các trước tác của các nhà tư tưởng còn được thể hiện qua rất nhiều hình thức phong phú Ngay cả hoạt động của các phong trào dân tộc cũng là một hình thức và là một phương thức thể hiện tư tưởng ở chiều sâu của tư duy triết học Vì vậy, nghiên cứu lịch sử tư tưởng Việt Nam cần đến phương pháp của các khoa học liên ngành, mà trước hết là liên ngành các khoa học xã hội và nhân văn

c Những nội dung cơ bản của lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam

(1) Những tư tưởng triết học chính trị, đạo đức và nhân văn trong lịch sử tư

tưởng triết học Việt Nam

- Tư tưởng yêu nước trong lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam

Trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, tư tưởng yêu nước không chỉ là một tư tưởng chính trị mà còn là một tư tưởng đạo đức và nhân văn cao cả Đồng thời, tư tưởng yêu nước của người Việt Nam còn thường được các nhà tư tưởng Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử suy tư ở chiều sâu của những triết lý và trở thành chủ nghĩa yêu nước Việt Nam Vì vậy, đây chính là một nội dung của lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam

Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam là một hệ thống các quan niệm ở chiều sâu triết học về dân tộc và độc lập dân tộc; về một quốc gia độc lập ngang hàng với phương Bắc và những quan niệm về nguồn gốc, động lực của cuộc chiến tranh cứu nước và

Trang 11

giữ nước Những tư tưởng này trở thành những nội dung cốt lõi của lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam:

+ Ý thức về dân tộc và dân tộc độc lập đã nẩy sinh rất sớm ở các cư dân người

Việt Tư tưởng độc lập này đến thời Lý đã được Lý Thường Kiệt kế thừa và khẳng định “Nam quốc sơn hà nam đế cư” Trên lĩnh vực nhận thức lý luận, sự bức bách của cuộc đấu tranh chống ngoại xâm buộc các nhà tư tưởng phải có sự đi sâu hơn, khái quát cao hơn, toàn diện hơn về khối cộng đồng dân tộc Việt Nguyễn Trãi là người đã thực hiện được sứ mệnh này Và tư tưởng này đạt đến trình độ cao hơn, mang một chất mới hơn ở thời đại Hồ Chí Minh

+ Những quan niệm về Nhà nước của một quốc gia độc lập ngang hàng với phương Bắc cũng là một nội dung cơ bản của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam Xây

dựng Nhà nước phải tính tới các yếu tố quốc hiệu, quốc đô, đế hiệu, niên hiệu Thực hiện điều này, Lý Bí đã đặt tên nước ta là Vạn Xuân Nhà Đinh đặt tên nước ta là Đại

Cồ Việt, nhà Lý lại đặt quốc hiệu là Đại Việt… “Hiệu” c ủa người đứng đầu quốc gia cũng được chuyển từ Vương sang Đế hiệu để chứng tỏ sự độc lập ngang hàng với Hoàng Đế phương Bắc Kinh đô cũng được chuyển từ Cổ Loa đến Hoa Lư, rồi từ Hoa

Lư đến Thăng Long để có được nơi “Trung tâm của bờ cõi đất nước…”

+ Nhận thức về nguồn gốc, về động lực của cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước Lập luận về dân tộc độc lập và quốc gia có chủ quyền là một vũ khí quan trọng

trong tay các lực lượng kháng chiến Song muốn chiến thắng kẻ thù đông đ ảo và hùng mạnh hơn gấp nhiều lần thì vấn đề đặt ra là phải làm thế nào để động viên được sức mạnh của toàn dân, để chuyển sức mạnh của người Việt Nam từ yếu thành mạnh Do

đó, ông cha ta rất coi trọng sức mạnh cộng đồng Trần Quốc Tuấn yêu cầu: “Trên dưới một lòng, lòng dân không chia”, vì “Vua tôi đồng lòng, anh em hòa mục, nước nhà góp sức, giặc tự bị bắt” Nguyễn Trãi cũng viết: “Thết quân rượu hòa nước, trên dưới một dạ cha con” Và đến Hồ Chí Minh nêu thành nguyên lý “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết- Thành công, thành công, đại thành công”

Trong lịch sử tư tưởng dân tộc phải tính đến các quan điểm tích cực coi trọng vai trò của dân Lý Công Uẩn nhấn mạnh “Trên vâng mệnh trời, dưới theo ý dân, thấy thuận tiện thì thay đổi” Nguyễn Trãi cũng viết: “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân” Đến thời đại Hồ Chí Minh, quan niệm về dân đã được phát triển đến một trình độ cao hơn

và có cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác- Lênin

(2).Quan niệm về đạo làm người trong lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam

Một trong những vấn đề được các nhà tư tưởng Việt Nam trong lịch sử đặc biệt

quan tâm là vấn đề về đạo làm người Bởi lẽ, đây là vấn đề có liên quan mật thiết với

việc xác định cơ sở tư tưởng của hành động chính trị, đạo đức và nhân sinh

Quá trình suy tư về đ ạo làm người đã dẫn các nhà tư tưởng Việt Nam trong lịch

sử tiếp thu tinh hoa của cả ba đạo Nho, Phật, Lão – Trang và kết hợp chúng trong một

hệ tư tưởng thống nhất cho phù hợp với điều kiện lịch sử chính trị, đạo đức và cuộc

Trang 12

sống của con người Việt Nam Có thể nhận thấy, hầu như trong các trước tác và trong lối sống của các nhà tư tưởng lớn Việt Nam thời phong kiến đều có sự thấm nhuần những tinh túy của cả ba đạo Nho, Phật và Lão – Trang Tùy theo, các điều kiện lịch

sử cụ thể mà có thể nhận thấy vai trò trội hơn của mỗi đạo trong mỗi nhà tư tưởng cũng như trong mỗi tình huống cụ thể

Trong giai đoạn lịch sử Lý– Trần, đạo Phật và đạo Lão– Trang có xu hướng phát triển và ảnh hưởng trội hơn đạo Nho Ngược lại, trong giai đoạn lịch sử thời Lê– Nguyễn, đạo Nho lại có xu hướng được tôn vinh Mỗi nhà tư tưởng, khi nhập thế vào đời phù vua, giúp nước thường chịu nhiều ảnh hưởng của những tư tưởng đạo Nho Ngược lại, khi lui về ở ẩn hoặc trong thời kỳ thanh bình của đất nước lại có xu hướng tôn vinh những tư tưởng của đạo Phật và đạo Lão– Trang

(3) Tư tưởng triết học Phật giáo trong lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam

Có thể khái quát tư tưởng triết học Phật giáo Việt Nam ở hai bộ phận cấu thành

là Siêu hình học và Nhân sinh quan Những triết lý trong bộ phận siêu hình học là lớp

tư tưởng triết học ở chiều sâu, trở thành nội dung c ăn bản trong tư tưởng triết học của các trí thức thời Lý - Trần Đây là những tư tưởng triết học Ấn Độ đã được Trung Hoa hóa và truyền bá vào Việt Nam, được giới trí thức đương thời đặc biệt coi trọng

Phạm trù triết học trung tâm của Thiền tông là “Bản Thể Chân Như” hay “Thực Tướng” các pháp hoặc bản thể “Như Lai” Theo luận giải của Thiền tông, Bản Thể Chân Như chính là nguyên lý thống nhất của thế giới Thế giới các hiện t ượng (Pháp hữu vi) luôn biến đổi không ngừng Tất cả các hiện tượng đó chỉ là biểu hiện của Bản Thể Chân Như Do vậy, về lý luận nhận thức, theo triết học Thiền tông cần phải vượt qua thế giới các hiện tượng để đạt tới Bản Thể Chân Như, khi đó sẽ đạt tới sự giác ngộ cứu cánh Nhưng sự giác ngộ này không phải đạt được bằng con đường đi từ trực quan sinh động (tức là từ nhận thức các hiện tượng) đến bản chất trừu tượng mà là bằng con đường siêu việt qua các hiện tượng Vì vậy, phạm trù “Vô trụ” trở thành phạm trù căn bản trong lý luận nhận thức của Thiền tông Đây thực chất là phép biện chứng của Thiền học Theo tinh thần của phép biện chứng này, thế giới được biểu hiện ra trong tính đa dạng của những khác biệt và mâu thuẫn, nhưng xét theo bản chất chúng thống nhất với nhau

Phạm trù trung tâm trong triết học nhân sinh Phật giáo Việt Nam là phạm trù

“Từ bi” Đây là phạm trù cơ bản trong triết học Phật giáo Đại thừa Nội dung cơ bản của phạm trù này là tinh thần bao dung giữa con người với nhau cũng như với muôn loài vô tình và hữu tình Bản chất triết học sâu xa của phạm trù này là phạm trù “vô ngã” trong triết học Phật giáo cổ đại Ấn Độ Đây cũng chính là tư tưởng triết học nhân văn của Phật giáo Tinh thần cứu độ chúng sinh là một tinh thần thực tiễn Tinh thần

đó là hệ quả tất yếu từ sự giác ngộ từ bi

Trang 13

Như vậy, với tư tưởng từ bi, triết học Phật giáo Việt Nam đã góp phần tạo dựng một cơ sở lý luận cho tư tưởng nhân ái Việt Nam; tư tưởng nhân ái này vốn đã có cơ

sở hiện thực từ lịch sử cố kết cộng đồng dân tộc

(4) Tư tưởng triết học Nho giáo trong lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam Triết học Nho giáo bao gồm hai bộ phận cấu thành là “Hình nhi thượng học” và

“Hình nhi hạ học” Bộ phận thứ nhất có khuynh hướng đi sâu vào triết lý ở tầm siêu

hình học, gắn liền với sách Trung Dung và những chú giải của các nhà Nho Trung Hoa đối với bộ Chu Dịch Những tư tưởng triết học này có vai trò đặc biệt quan trọng đối với các nhà tư tưởng lỗi lạc trong lịch sử Việt Nam như Nguyễn Bỉnh Khiêm, Ngô Thời Nhậm và nhiều nhà tư tưởng khác

Bộ phận thứ hai của Nho giáo có xu hướng đi sâu vào những luận điểm triết học

về chính trị và đạo đức, nhằm xác lập ý thức hệ cai trị phong kiến theo mô hình chế độ trung ương tập quyền cao độ

Nhiều tư tưởng tiến bộ trong các quan điểm về chính trị đạo đức của Nho giáo

đã được các nhà tư tưởng Việt Nam kế thừa theo tinh thần thực tiễn của dân tộc Đó là

tư tưởng thân dân, trọng dân, coi dân là gốc của quốc gia; đó là tư tưởng nhân nghĩa trong đời sống chính trị- xã hội; đó là mối quan hệ biện chứng song trùng giữa vua– tôi, cha– con, chồng– vợ; đó là các phạm trù đạo đức trung, hiếu, tiết, nghĩa Trong khi kết thừa và sử dụng các tư tưởng tiến bộ đó, các nhà tư tưởng Việt Nam đã bổ sung

và làm thay đổi các nội hàm một số khái niệm vốn có của Nho giáo Trung Hoa

(5) Sự đối lập giữa thế giới quan duy vật và duy tâm, triết học và tôn giáo trong lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam

Sự phát triển của lịch sử tư tưởng Việt Nam luôn diễn ra trong mối quan hệ

song trùng, giao thoa và tổng hợp nhưng trong sự thống nhất đó vẫn có những biểu hiện của sự đối lập và đấu tranh giữa các loại thế giới quan duy vật và duy tâm, triết học và tôn giáo Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân, nhưng có một nguyên nhân

cơ bản là do sự phát triển của nó luôn có sự giao lưu, tiếp biến với các hệ tư tưởng được du nhập từ bên ngoài, nhưng vẫn nằm trong hệ quy chiếu của tư tưởng triết học phương Đông vùng châu Á Vì vậy, cuộc đấu tranh giữa thế giới quan duy vật với thế giới quan duy tâm; giữa triết học với tôn giáo, tín ngưỡng thường xuyên diễn ra dưới các hình thái biểu hiện rất đặc biệt Cuộc đấu tranh đó không có điểm kết thúc trong suốt chiều dài lịch sử thời phong kiến, cho đến khi bắt đầu có sự thâm nhập của các hệ

tư tưởng triết học phương Tây cận đại và đặc biệt là từ khi có hệ tư tưởng triết học Mác- Lênin được truyền bá vào Việt Nam

Cuộc đấu tranh giữa các quan điểm triết học theo lập trường duy vật và duy tâm không được phân định rõ ràng giữa các trường phái và giữa các nhà tư tưởng; và

cũng không phải chỉ với việc giải quyết một vấn đề cụ thể mà trải rộng trên nhiều vấn

đề, nhưnaôcs thể khẳng định

Trang 14

chủ nghĩa duy tâm trong lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam mang màu sắc tôn giáo có nguồn gốc từ tín ngưỡng dân gian cổ truyền và “tam giáo” là thế giới quan bao trùm, còn thế giới quan duy vật và chủ nghĩa vô thần chỉ thể hiện mờ nhạt và chỉ trong phạm

vi giải quyết một số vấn đề cụ thể trong một hoàn cảnh cụ thể

Về mặt hình thái biểu hiện, cuộc đấu tranh giữa các quan điểm duy vật và duy

tâm trong lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam được biểu hiện trong việc giải quyết mối quan hệ giữa các phạm trù “Tâm” - “Vật”; “Linh hồn” - “Thể xác”; “Lý” - “Khí”; v.v…; trong việc kiến giải về nguyên nhân và nguồn gốc của các sự kiện trong đời sống chính trị của đất nước và số mệnh của con người trong xã hội Đó là những vấn

đề như nguồn gốc của sự an, nguy, hưng, vong đối với các triều đại; vấn đề về bản tính

và số mệnh của mỗi con người; vấn đề “Đạo Trời” và “Đạo Người”, v.v…

III TRIẾT HỌC MÁC– LÊNIN VÀ VAI TRÕ CỦA NÓ TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI

1 Triết học Mác- Lênin

a Khái niệm triết học Mác- Lênin

Triết học Mác ra đời vào những năm 40 của thế kỷ XIX Sự ra đời của triết học Mác không phải là một ngẫu nhiên mà là sự kết tinh có tính quy luật của quá trình phát triển lịch sử tư tưởng triết học nhân loại và trên cơ sở các điều kiện kinh tế- xã hội cũng như trình độ phát triển khoa học tự nhiên ở thế kỷ XIX, là kết quả của sự thống

nhất giữa điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan Triết học Mác- Lênin là hệ thống quan điểm duy vật biện chứng về tự nhiên, xã hội và tư duy- thế giới quan và phương pháp luận khoa học, cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động để nhận thức và cải tạo thế giới

Triết học Mác- Lênin là triết học duy vật biện chứng theo nghĩa rộng Đó là hệ

thống quan điểm duy vật biện chứng cả về tự nhiên, cả về xã hội Trong triết học Mác- Lênin, chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng thống nhất hữu cơ với nhau

b Đối tượng của triết học Mác- Lênin

Triết học Mác- Lênin xác định đối tượng nghiên cứu của mình là tiếp tục giải quyết vấn đề mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trên lập trường duy vật triệt để; nghiên cứu những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy, từ đó định hướng cho hoạt động nhận thức, hoạt động thực tiễn của con người nhằm cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội theo con đường tiến bộ

Triết học Mác- Lênin và các khoa học cụ thể có quan hệ chặt chẽ với nhau: + Các khoa học cụ thể nghiên cứu những quy luật trong các lĩnh vực riêng biệt của tự nhiên, xã hội và tư duy Triết học Mác- Lênin nghiên cứu những quy luật chung nhất, phổ biến nhất, tác động đến cả ba lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy

+ Các khoa học cụ thể cung c ấp những dữ liệu, đ ặt ra những vấn đề, cơ sở cho

sự phát triển triết học Mác- Lênin Triết học Mác- Lênin cung cấp cơ sở thế giới quan,

Trang 15

phương pháp luận cho các khoa học cụ thể A.Anhxtanh viết: “Các khái quát của triết học cần phải dựa trên các kết quả khoa học Tuy nhiên, mỗi khi đã xuất hiện và được truyền bá rộng rãi, chúng thường ảnh hưởng đến sự phát triển của tư tưởng khoa học khi chúng chỉ ra một trong rất nhiều phương hướng phát triển có thể có”

c Chức năng của triết học Mác- Lênin

- Chức năng thế giới quan

Thế giới quan là toàn bộ những quan điểm về thế giới và vị trí, vai trò của con

người trong thế giới đó Triết học Mác- Lênin đem lại thế giới quan duy vật biện chứng, là hạt nhân thế giới quan khoa học và cách mạng

Thế giới quan duy vật biện chứng là nhân tố định hướng cho con người nhận thức đúng đắn thế giới hiện thực; nâng cao vai trò tích cực, sáng tạo của con người ;

là cơ sở khoa học để đấu tranh với các loại thế giới quan duy tâm, tôn giáo, phản khoa học Với bản chất khoa học và cách mạng, thế giới quan duy vật biện chứng là hạt nhân trong hệ tư tưởng của giai c ấp công nhân và các lực lượng tiến bộ, cách mạng, là

cơ sở lý luận trong cuộc đấu tranh chống các tư tưởng phản cách mạng, phản động, chống diễn biến hòa bình, tự diễn biến do các thế lực thù địch gây ra

Chức năng phương pháp luận

Phương pháp luận là một hệ thống những quan điểm, những nguyên tắc xuất phát, những cách thức chung để thực hiện hoạt động nhận thức và thực tiễn Triết học

Mác- Lênin thực hiện chức năng phương pháp luận chung nhất cho nhận thức và thực tiễn Phương pháp luận duy vật biện chứng trang bị cho con người hệ thống những

nguyên tắc, quy tắc, yêu cầu của hoạt động nhận thức và thực tiễn

Triết học Mác- Lênin trang bị cho con người hệ thống các khái niệm, phạm trù,

quy luật làm công cụ nhận thức khoa học; giúp con người phát triển tư duy khoa học,

đó là tư duy ở cấp độ phạm trù, quy luật

2 Vai trò của triết học Mác – Lênin trong đời sống xã hội

a Vai trò của triết học Mác – Lênin trong sự phát triển của triết học nhân loại và trong chủ nghĩa Mác- Lênin

Với sự sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, Mác và Ăngghen đã tạo ra cuộc cách mạng trong lịch sử triết học nhân loại Triết học

của Mác và Ăngghen là triết học duy vật triệt để nhất, hoàn bị nhất

Sự ra đời của triết học Mác đã làm cho chủ nghĩa xã hội không tưởng có căn cứ khoa học để trở thành thực sự khoa học Qua đó, phong trào công nhân đã tìm thấy ở triết học Mác vũ khí tinh thần của mình, còn triết học Mác tìm thấy ở phong trào công

nhân vũ khí vật chất của mình : «Giống như thấy giai cấp vô sản là vũ khí vật chất của mình, giai cấp vô sản thấy triết học là vũ khí tinh thần của mình»

Trang 16

Với sự sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, triết học Mác và Ăngghen đã khắc được sự đối lập giữa triết học với hoạt động thực

tiễn của con người Đúng như Mác nhận định: «Các nhà triết học đã chỉ giải thích thế giới bằng nhiều cách khác nhau, song vấn đề là cải tạo thế giới »

Với việc đưa phạm trù thực tiễn vào lý luận nhận thức nói riêng vào triết học nói chung, Mác và Ăngghen đã tạo ra sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong triết học của mình

Với sự sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, Mác và Ăngghen đã khắc phục được sự đối lập giữa triết học với các khoa học cụ thể;

đã chấm dứt mâu thuẫn giữa triết học với các khoa học cụ thể

Triết học Mác có sự thống nhất giữa chủ nghĩa duy vật với phương pháp biện chứng, giữa lý luận và thực tiễn, giữa tính đảng với tính khoa học cho nên nó là họ c thuyết mở, luôn tự đổi mới, phát triển cùng với sự phát triển của tư tưởng nhân loại

b Vai trò của triết học Mác – Lênin trong giải quyết những nhiệm vụ cấp thiết của đời sống xã hội Việt Nam

Triết học Mác- Lênin là cơ sở thế giới quan và phương pháp luận khoa học để Đảng ta phân tích xu hướng phát triển của xã hội trong điều kiện cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại đang phát triển mạnh mẽ, hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế tri thức trong kỷ nguyên toàn cầu hóa

c Triết học Mác – Lênin là cơ sở lý luận khoa học của sự nghiệp đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam phải dựa trên cơ sở lý luận khoa học, trong đó hạt nhân là phép biện chứng duy vật

d Vai trò của triết học Mác – Lênin rất quan trọng còn do chính yêu cầu đổi mới nhận thức triết học hiện nay

Triết học Mác- Lênin là học thuyết mở, do đó, việc tiếp tục bổ sung, đổi mới là một nhu cầu tự thân và bức thiết của triết học này trong giai đoạn hiện nay

IV SỰ KẾ THỪA, PHÁT TRIỂN VÀ VẬN DỤNG SÁNG TẠO TRIẾT HỌC MÁC- LÊNIN TRONG THỰC TIỄN CÁCH MẠNG VIỆT NAM

1 Hồ Chí Minh với việc kế thừa, vận dụng và phát triển triết học Mác- Lênin

Sự hình thành tư tưởng triết học Hồ Chí Minh dựa vào sự kế thừa nguồn gốc lý luận: tư tưởng triết học, văn hóa phương Đông, phương Tây; triết học Mác- lênin và nguồn gốc thực tiễn, nhân cách Hồ Chí Minh Người đã phát triển tư tưởng triết học truyền thống của dân tộc Việt Nam nói chung, chủ nghĩa yêu nước nói riêng lên một tầm cao mới, gắn với dân tộc và thời đại

Trang 17

Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh về giải phóng dân tộc, về cách mạng Việt Nam,

về chủ nghĩa xã hội, về con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam…bắt nguồn từ truyền thống văn hóa Việt Nam, nổi bật là chủ nghĩa yêu nước, tinh thần nhân ái, khoan dung c ủa dân tộc Việt Nam Đây là một trong những tiền đề khách quan để tạo nên tư tưởng triết học Hồ Chí Minh

Hồ Chí Minh đã trang bị cho cán bộ, đ ảng viên thế giới quan duy vật biện chứng, giúp họ nhìn nhận, xem xét, đánh giá đúng tình hình, đề ra đường lối, chủ trương, chính sách sát thực tiễn, có hiệu quả

Hồ Chí Minh đã dựa chắc vào vấn đề cơ bản của tiết học để giải quyết mối quan

hệ giữa việc nâng cao đời sống vật chất và đời sống tinh thần của nhân dân; giữa phát triển sản xuất với củng cố hệ thống chính trị; giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển giáo dục, văn hóa; giữa xây dựng đất nước với đ ấu tranh chống kẻ thù, bảo vệ tổ quốc; kết hợp sức mạnh dân tộc với thời đại;…

Về khuynh hướng tư duy, tư tưởng triết học Hồ Chí Minh đi sâu giải quyết các vấn đề nhân sinh; lấy cái cốt lõi là giải phóng con người khỏi áp bức, bất công, đem lại cuộc sống hòa bình, tự do, ấm no, hạnh phúc cho đồng bào là mục đích hướng tới

Có thể nêu những cống hiến của Hồ Chí Minh trong việc phát triển triết học Mác- Lênin là: tư tưởng về giải phóng dân tộc; về chủ nghĩa xã hội và con đường di lên chủ nghĩa xã hội; về phương pháp cách mạng và nghệ thuật chỉ đạo cách mạng; Khái quát lại, tư tưởng triết học Hồ Chí Minh là hệ thống những quan điểm, quan niệm duy vật biện chứng về con đường cách mạng Việt Nam, thực hiện cách mạng giải phóng dân tộc, tiến lên chủ nghĩa xã hội, không kinh qua giai đo ạn phát triển tư bản chủ nghĩa nhằm xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thố ng nhất, dân chủ

và giàu mạnh, góp phần vào cách mạng thế giới

2 Sự vận dụng sáng tạo tư tưởng triết học Hồ Chí Minh của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thực tiễn cách mạng

Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng với Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân tiến hành cuộc đấu tranh lâu dài giành độc lập, từng bước xây dựng chủ nghĩa xã hội Hiện nay, việc kiên trì chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đặc biệt là nắm vững và vận dụng sáng tạo thế giới quan, phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử vào sự nghiệp đổi mới, xây dự ng và bảo vệ tổ quốc

xã hội chủ nghĩa có ý nghĩa đặc biệt quan trọng

Trang 18

CHƯƠNG II

BẢN THỂ LUẬN

I KHÁI NIỆM “BẢN THỂ LUẬN” VÀ NỘI DUNG BẢN THỂ LUẬN TRONG LỊCH SỬ TRIẾT HỌC

1 Khái niệm “bản thể luận”

Bản thể luận (ontology) là lý luận nghiên cứu về bản chất của tồn tại Về mặt

nguyên từ, trong tiếng Hy Lạp, khái niệm này là một từ ghép giữa “on” (ontos) là “hữu thể, tồn tại” với “logos” là “khoa học, nghiên cứu, học thuyết”, có nghĩa là một học thuyết về tồn tại tự thân

Khái niệm bản thể luận được dùng trong các trường phái triết học phương Tây

trước Mác gồm hai nghĩa Bản thể luận theo nghĩa rộng, chỉ bản chất tối hậu của mọi

tồn tại, mà bản chất này phải thông qua nhận thức luận mới nhận thức được Cách tiếp

cận này tạo ra sự đối lập tương đối giữa bản thể luận và nhận thức luận Bản thể luận theo nghĩa hẹp, tức là trong bản thể luận theo nghĩa rộng lại có hai nội dung, một là nghiên cứu khởi nguyên và kết cấu của vũ trụ, hai là nghiên cứu bản chất của vũ trụ,

cái thứ nhất là vũ trụ luận, cái thứ hai là bản thể luận Cách tiếp cận này tạo ra sự đối lập tương đối giữa bản thể luận và vũ trụ luận

Học thuyết ý niệm của Plato là bản thể luận, song ông cũng nói đến lý luận hồi

ức của ý niệm Thuyết bốn nguyên nghân của Aristotle là bản thể luận, song c ũng liên

hệ với quan điểm nhận thức luận của ông

Johann Friedrich Herbart (1776- 1841) cho rằng phương pháp luận là nghiên cứu các sự vật mâu thuẫn tồn tại trong nhận thức cảm tính, còn bản thể luận là tìm hiểu các tồn tại chân thực không mâu thuẫn

2 Một số nội dung cơ bản về bản thể luận trong lịch sử triết học phương Đông

a Bản thể luận trong triết học Phật giáo Ấn Độ

Bản thể luận trong triết học Phật giáo Ấn Độ có sự phát triển không ngừng, tạo nên sự khác biệt lớn giữa thời kỳ đầu và thời kỳ sau, song về căn bản học thuyết bản thể luận này có ba nội dung chính: thuyết bản thể “Thực hữu”, thuyết bản thể “Tính không” và thuyết bản thể “Tâm thức”

Trang 19

Phái Nhất thiết hữu bộ với mệnh đề “ngã không hữu pháp” (cái ta là không còn vạn pháp là có) cho rằng sự tồn tại của đời sống con người là do “ngũ uẩn” hòa hợp

với nhau mà thành hoàn toàn không có bản chất thực tại chân chính

Một trong những luận điểm quan trọng của phái này là mọi tồn tại có thể chia thành hai phương diện là bản thể và hiện tượng, đem các loại tồn tại khác nhau quy về hai yếu tố cuối cùng là thể tính và công năng VD như lấy cứng, ẩm, nóng, động làm bản tính của đất, nước, lửa, gió (“tứ đại”), những yếu tố cuối cùng chính là “pháp thế” mang tính vĩnh cửu Còn bản thể với tư cách là yếu tố đa dạng của bản thể thường hằng khi phát sinh tác dụng sẽ biểu hiện ra thành hiện tượng Bản thể là vĩnh hằng, bất biến, bản thể có khi phát sinh tác dụng, có khi không phát sinh tác dụng từ đó mà khiến cho tồn tại có các hình dáng và vị trí khác nhau Bản thể đã phát sinh tác dụng là

“quá khứ pháp”, đang phát sinh tác dụng là “hiện tại pháp”, sẽ phát sinh tác dụng là

“vị lai pháp”

Thứ hai, thuyết bản thể “Tính không”

Phái Trung Quán chủ trương “nhân pháp nhị không” có nghĩa là tất cả mọi tồn

tại bao gồm con người và sự vật, vật chất và tinh thần đều do nhân duyên hòa hợp mà sinh ra, đều không có bản chất cố định của mình (“tự tính”), tất cả đều là “không” Tuy

nhiên, học thuyết “không”, song không bài trừ có (“hữu”- tồn tại), mà lấy không làm

có, không và có gắn liền với nhau

Long Thọ (Trung Quán) định nghĩa về “không”: “Chúng nhân duyên sinh pháp, ngã thuyết tức thị không (vô)”, có nghĩa là mọi sự vật do nhân duyên sinh ra đều là không Long Thọ cho rằng nếu như vũ trụ vạn vật đều là duyên khởi thì rõ ràng tất cả

đều không có bản chất của mình (“tự tính”) Kinh Bát nhã, Huyền Trang có viết: “Sắc

bất dị không, không bất dị sắc; sắc tức thị không, không tức thị sắc Thụ, tưởng, hành, thức diệc phục như thị” (Sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc; sắc chính là không, không chính là sắc Thụ, tưởng, hành, thức cũng đều như thế) Điều này có nghĩa là mọi tồn tại (hữu) bao gồm các yếu tố vật chất và yếu tố tinh thần đều gắn với

“không” và ngược lại, “không” cũng gắn chặt với các yếu tố vật chất và yếu tố tinh thần; mọi tồn tại đều là “không” vô tự tính, “không” vô tự tính cũng không tách rời mọi tồn tại Ở đây, cần lưu ý học thuyết “Tính không”, không phải là sự phủ định sự tồn tại của bản thể hay chủ trương bản thể luận vô bản thể, mà là tách tư duy và ngôn

ngữ con người khỏi bản chất của thế giới trực giác Và không hay tính không là phạm

trù triết học về bản chất của thế giới, có nội dung đặc biệt và ý nghĩa phong phú, chứ không phải là “không” theo nghĩa thông thường, trống rỗng

Thứ ba, thuyết bản thể “Tâm thức”

Tìm hiểu mối quan hệ giữa chủ thể và bản thể, đưa bản thể vào trong chủ thể,

thậm chí quy về chủ thể có hai lối tư duy trong lý luận này: Một là, chú trọng tìm hiểu bản tính của tâm là phái Như Lai Hai là, chú trọng phát triển hoạt động tâm thức là phái Duy Thức Phái Như Lai coi Phật tính là tính không, coi Phật tính không chỉ là

Trang 20

căn nguyên để chúng sinh thành Phật mà còn là bản tính của vạn sự vạn vật, do đó cũng mang ý nghĩa bản thể của vạn vật trong vũ trụ Phái Duy Thức coi thế giới là biểu tượng, quy tồn tại thành nhận thức, từ đó tiến thêm một bước coi tâm thức là căn nguyên, là bản thể của vũ trụ vạn vật trong đó có chúng sinh

Mệnh đề căn bản của Duy thức học là “vạn pháp duy thức” (tất cả mọi sự vật chỉ là tâm thức), mệnh đề này có nhiều cách thể hiện khác nhau như “nhất thiết duy thức”, “duy thức sở biến”, “duy thức vô cảnh” Ý nghĩa của mệnh đề này là tâm thức

là tiền đề của nhận thức, vạn vật do tâm thức phân biệt ra (“vạn pháp”) đều là sự biến

thiên và biểu hiện của tâm thức, đều không tách khỏi tâm thức Duy thức tam thập luận tụng viết: “Thị chư thức chuyển biến, phân biệt sở phân biệt, do bỉ thử giai vô, cố

nhất thiết duy thức”, có nghĩa là thế giới hiện tượng được hình thành từ hai yếu tố tâm thức chủ quan và đối tượng khách quan đều là sự biểu hiện của duy thức, đều không tách rời sự biến động của tâm thức, vạn pháp đều là tâm thức, tất cả đều là tâm thức

b Bản thể trong triết học Kinh Dịch

Theo Kinh Dịch, bản thể của vũ trụ là Thái cực Thái cực chính là khởi nguyên

của vũ trụ, là nguyên nhân đầu tiên, là nguyên lý tối hậu của trời đất muôn vật “Hệ từ thượng” có viết: “Dịch có Thái cực, Thái cực sinh Lưỡng nghi, Lưỡng nghi sinh Tứ tượng, Tứ tượng sinh Bát quái ”

3 Một số nội dung cơ bản về bản thể luận trong lịch sử triết học phương Tây

a Bản thể luận trong triết học Hy Lạp cổ đại

Democritus (460- 370 TCN)

Theo Democritus, bản nguyên của thế giới gồm có hai thứ là nguyên tử (tồn tại)

và chân không (không tồn tại) Ông nêu ra ba bước luận chứng để chứng minh nguyên

tử và chân không là bản nguyên của thế giới

Thứ nhất, lấy sự vật có thể cảm giác được là tiêu chuẩn thì sự vật có nhiều, vô

cùng, vô tận và luôn vận động Xuất phát từ kinh nghiệm thì chúng ta có thể chia tách các sự vật tồn tại, do đó giữa các sự vật phải có khoảng không, và vì có khoảng không thì các sự vật mới có thể sinh thành và biến hóa được

Thứ hai, chia tách có điều kiện, điều kiện đó chính là chân không Vì nếu không

có chân không thì giữa các sự vật sẽ không có không gian, nếu không có không gian thì không những sự vật không thể chia tách được mà còn không thể phát triển được

Thứ ba, nguyên tử là đơn vị nhỏ nhất của tồn tại Không phải vật nào cũng có

thể làm bản nguyên dược, mà nguyên tử phải tồn tại bất sinh, bất diệt

Nguyên tử có những tính chất sau:

Một là, lúc ban đầu, nguyên tử lưu động khắp nơi theo mọi hướng trong không

gian, và từ những đơn vị đơn độc, chúng va chạm với nhau, gắn kết với nhau mà hợp thành vạn vật

Trang 21

Hai là, sự lưu động của nguyên tử là tất nhiên và không theo một trật tự,

nguyên tắc nào cả

Ba là, nguyên tử có hình cầu, vì “hình cầu là trạng thái vận động dễ dàng nhất” Bốn là, vị trí và trật tự sắp xếp các nguyên tử khác nhau sẽ quyết định nên các

sự vật khác nhau

Năm là, chúng ta không thể quan sát được nguyên tử Bằng quan niệm này,

nguyên tử với tư cách bản nguyên thế giới đã được trừu tượng hóa đến cao độ

Plato (427- 347 TCN)

Với Plato, tri thức có bốn cấp độ: Ảnh tượng- Hiện tượng- Tri thức toán học- Ý niệm Ý niệm là tri thức có cấp độ cao nhất, chính vì vậy, nhiệm vụ của các nhà triết học là phải đi tìm cái tuyệt đối, chính là ý niệm

Theo Plato, về mặt logic: Ý niệm là khái niệm chung, phổ quát nhất; về mặt bản thể luận: Ý niệm là nguyên lý tồn tại cho vạn vật; về mặt giá trị luận: Thế giới hiện tượng chia sẻ hoàn thiện tuyệt đối ở thế giới ý niệm Ý niệm cao nhất là “Thiện”, là căn nguyên của mọi tồn tại, nhận thức và giá trị

Aristotle (384- 322TCN)

Theo Aristotle, mọi sự vật tồn tại đều là một sự vật cá thể và cụ thể, và mọi sự vật đều là thể thống nhất của vật chất và hình thức Ông nêu bốn nguyên nhân tồn tại của sự vật:

Thứ nhất, nguyên nhân chất liệu, lý giải sự vật được làm bằng vật liệu gì

Thứ hai, nguyên nhân hình thức, xác định sự vật có hình dạng như thế nào Thứ ba, nguyên nhân tác thành, tìm ra cái làm nên sự vật

Thứ tư, nguyên nhân mục đích, nêu lên cái đích mà sự vật hướng tới

Trong bốn nguyên nhân, nguyên nhân mục đích là nguyên nhân cuối cùng, cũng là nguyên nhân quan trọng nhất, vì Aristotle quan niệm, tất cả sự vật trong giới tự nhiên đều có mục đích của mình

b Bản thể luận trong triết học phương Tây trung đại

1 Chứng minh xuất phát từ vận động, theo Thomas Aquinas, vật thúc đẩy đầu

tiên cho mọi sự vận động đó là Thượng đế

2 Chứng minh từ nguyên nhân tác thành, hữu thể tác thành cho mọi sự tồn tại

đó chính là Thượng đế

Trang 22

3 Chứng minh từ hữu thể khả năng và hữu thể tất yếu, hữu thể tất yếu là

nguyên nhân (tự thân) cho tất cả mọi sự tồn tại- Thượng đế

4 Chứng minh từ mức độ hoàn mỹ, sự vật tồn tại có mục đích, mục đích này

khiến nó tốt, đẹp- hoàn mỹ Sự hoàn mỹ tuyệt đối là nguyên nhân cho mọi sự hoàn mỹ khác, Thomas Aquinas gọi hoàn mỹ tuyệt đối là Thượng đế

5 Chứng minh từ trí tuệ tuyệt đối, vũ trụ vô cùng phong phú, phức tạp, song lại

trật tự và hài hòa, các sự vật trong vũ trụ có thể vận hành theo đúng đặc tính của mình một cách có quy luật Thomas Aquinas cho rằng một quy luật như vậy nhất định phải

Thứ nhất, về bản thể luận, Francis Bacon cho rằng toàn thể thế giới vạn vật là

do các phân tử mang tính vật chất cấu thành

Thứ hai, Francis Bacon cho rằng bản thân tự nhiên có quy luật mang tính khách quan, không bị tác động bởi ý chí con người, thậm chí đến Thượng đế Do đó, để nhận

thức một cách tốt hơn bản chất của tự nhiên, Francis Bacon đưa ra một giả định là phải cho rằng tự nhiên có tính quy luật bất biến, mang tính phổ biến và tất yếu và nếu như vậy thì tri thức mới có sức mạnh

Thứ ba, con người có thể nhận thức được hình thức và bản chất của giới tự

nhiên bằng lý tính và thông qua các phương pháp khoa học

Thứ tư, Francis Bacon cho rằng bản thân vật chất và các hình thái vận động của

nó mang tính đa dạng

René Descartes (1596- 1605)

Vấn đề bản thể luận của Descartes được xuất phát từ phương pháp hoài nghi Descartes coi “tôi tư duy, vậy tôi tồn t ại” là nguyên lý thứ nhất của triết học Từ “tôi tư duy” mới dẫn đến “tôi tồn tại”, vì vậy “tôi tồn tại” ở đây hoàn toàn không có sự tồn tại

về mặt thân thể mà thuần túy là tồn tại về mặt tư tưởng

Descartes đưa ra ba luận chứng để chứng minh sự tồn tại của Thượng đế

Thứ nhất, tôi có một quan niệm chí thiện, theo Descartes “tôi” thì không phải

chí thiện, vì vậy “tôi” không thể nào tạo ra quan niệm chí thiện như vậy được Song trên thực tế, tôi hiện đang có một quan niệm chí thiện như vậy, do đó, bắt buộ c phải có một tồn tại chí thiện, bằng không tôi sẽ không thể có một quan niệm như vậy

Thứ hai, “tôi” có một quan niệm chí thiện do đâu mà có “Tôi” không phải chí

thiện, song tôi lại có một quan niệm chí thiện “Tôi” không thể tự sinh ra được, tất yếu phải do một bậc chí thiện hoàn hảo sáng tạo ra Cũng do quan hệ này mà “tôi” chỉ có được quan niệm chí thiện chứ không trở thành chí thiện

Trang 23

Thứ ba, quan niệm chí thiện bao gồm tồn tại Sự tồn tại và bản chất của Thượng

đế (bậc chí thiện) không tách rời nhau, giống như quan niệm hang động trong núi không thể tách rời quan niệm về ngọn núi

Như vậy, Descartes đã hạ tác dụng của Thượng đế xuống thấp nhất, thuần túy

chỉ còn thuộc tính chí thiện hoàn mỹ Và thực thể Thượng đế chỉ mang ý nghĩa sáng tạo mang tính bản thể luận chứ không có tác dụng thực tế đối với trí tuệ con người

d Bản thể luận trong triết học cổ điển Đức

và xã hội loài người vươn tới những giá trị ấy là vươn tới thế giới văn hóa, vươn tới giá trị của bản thể người

Georg Wihelm Friedrich Hegel (1770- 1831)

Theo Hegel, sự phát triển của tinh thần trải qua ba bậc th ang từ thấp đến cao, thang bậc sau bao hàm trọn vẹn thang bậc trước

1 Tinh thần chủ quan- tinh thần trong quan hệ với chính bản thân mình, là đối tượng nghiên cứu của nhân học, hiện tượng học và tâm lý học Học thuyết về tinh thần chủ quan bàn về cuộc sống của từng con người đơn lẻ;

2 Tinh thần khách quan- tinh thần dưới hình thức thực tại thể hiện trong pháp luật, luân lý và đạo đức Vương quốc của tinh thần khách quan là gia đình, xã hội công dân và nhà nước;

3 Tinh thần tuyệt đối là sự thống nhất (tồn tại tự nó và cho nó) giữa tính khách quan của tinh thần và khái niệm của nó, là tinh thần trong chân lý tuyệt đối của mình, biểu hiện ở nghệ thuật, tôn giáo và triết học

II NỘI DUNG BẢN THỂ LUẬN TRONG TRIẾT HỌC MÁC- LÊNIN

1 Cách tiếp cận và giải quyết vấn đề bản thể luận trong triết học Mác- Lênin

Triết học Mác- Lênin chứng minh bản chất của thế giới là vật chất, thế giới thống nhất ở tính vật chất Điều này thể hiện ở những điểm cơ bản sau:

Một là, chỉ có một thế giới duy nhất và thống nhất là thế giới vật chất Thế giới

vật chất tồn tại khách quan, có trước và độc lập với ý thức của con người

Hai là, mọi bộ phận của thế giới vật chất đều có mối liên hệ thống nhất với

nhau, biểu hiện ở chỗ chúng đều là những dạng cụ thể của vật chất, là những kế t cấu vật chất, do vật chất sinh ra và chịu sự chi phối của các quy luật khách quan phổ biến của thế giới vật chất

Trang 24

Ba là, thế giới vật chất tồn tại vĩnh viễn, vô hạn và vô tận Vật chất không được

sinh ra và không bị mất đi mà chỉ chuyển từ dạng này sang dạng khác Trong thế giới không có nơi nào và lúc nào có gì khác ngoài những quá trình vật chất đang biến đổi

và chuyển hóa lẫn nhau, là nguồn gốc, nguyên nhân và kết quả của nhau

2 Quan niệm của triết học Mác- Lênin về vật chất

Định nghĩa vật chất của Lênin Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ

thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của

chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác

Nội dung cơ bản của định nghĩa: Thứ nhất, vật chất là thực tại khách quan, tức

là tồn tại khách quan bên ngoài ý thức, có thật và không phụ thuộc vào ý thức Thứ hai, vật chất là cái gây nên cảm giác ở con người khi bằng cách nào đó (trực tiếp hoặc gián tiếp) tác động lên giác quan con người Thứ ba, vật chất là cái mà cảm giác, tư

duy, ý thức chẳng qua là sự phản ánh của nó

Ý nghĩa của định nghĩa: Thứ nhất, định nghĩa đã chỉ ra rằng vật chất là thực tại

khách quan không phụ thuộc vào ý thức của con người, kiên định và triệt để quan điểm nhất nguyên của chủ nghĩa duy vật, vạch ra đường ranh giới với chủ nghĩa duy tâm và

nhị nguyên luận Thứ hai, định nghĩa đã chỉ ra rằng vật chất có thể được ý thức phản

ánh, khẳng định năng lực nhận thức của con người, vạch ra đường ranh giới với thuyết

bất khả tri Thứ ba, định nghĩa đã chỉ ra đặc tính duy nhất của vật chất là thực tại

khách quan, khắc phục được hạn chế của chủ nghĩa duy vật trước đây đồng nhất vật

chất với hình dạng cụ thể hoặc kết cấu của vật chất

Vận động là phương thức tồn tại của vật chất Theo Ph.Ăngghen, vận động

hiểu theo nghĩa chung nhất (…) bao gồm tất cả mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn

ra trong vũ trụ, kể từ sự thay đổi vị trí đơn giản cho đến tư duy

Vật chất tồn tại bằng cách vận động, trong vận động và thông qua sự vận động

mà các dạng vật chất thể hiện đặc tính của mình Không có vật chất không vận động, không có sự vận động nào là không phải là sự vận động của vật chất hoặc bắt nguồn từ vật chất Vận động là sự tự thân vận động của vật chất, được tạo nên do sự tác động lẫn nhau của các tồn tại vật chất Sự vận động của vật chất là vô cùng, vô tận

Vận động của vật chất còn bao hàm cả hiện tượng đứng im tương đối; không có hiện tượng đứng im tương đối thì không có sự vật nào tồn tại được

Các hình thức vận động cơ bản của vật chất Dựa trên những thành tựu khoa học thời đại mình, Ph.Ăngghen chia vận động thành 5 hình thức cơ bản: cơ học, vật lý, hoá học, sinh học, xã hội

Mối quan hệ giữa các hình thức vận động: Thứ nhất, các hình thức vận động nói trên khác nhau về chất Thứ hai, các hình thức vận động cao xuất hiện trên cơ sở các hình thức vận động thấp, bao hàm trong nó các hình thức vận động thấp hơn Thứ

ba, trong sự tồn tại của mình, mỗi sự vật có thể gắn liền với nhiều hình thức vận động

Trang 25

khác nhau Tuy nhiên, bản thân sự tồn tại của sự vật đó bao giờ cũng đặc trưng bằng một hình thức vận động cơ bản

Không gian, thời gian là những hình thức tồn tại của vật chất

Mọi sự vật tồn tại khách quan đều có vị trí, có hình thức kết cấu, có độ dài, ngắn, ngang, dọc, cao, thấp của nó và tồn tại trong các mối tương quan nhất định với những dạng vật chất khác Tất cả những thuộc tính đó gọi là không gian

Mọi sự vật đều ở trong trạng thái không ngừng biến đổi, mà mọi sự biến đổi diễn ra đều có quá trình, có độ dài của sự diễn biến, nhanh, chậm kế tiếp nhau Tất cả những thuộc tính đó được gọi là thời gian

Những tính chất của không gian và thời gian: tính khách quan; tính vĩnh cửu; tính vô tận và vô hạn; không gian có ba chiều còn thời gian chỉ có một chiều

3 Quan điểm của triết học Mác- Lênin về nguồn gốc và bản chất của ý thức

a Nguồn gốc của ý thức

Nguồn gốc tự nhiên của ý thức

Ý thức là một thuộc tính của vật chất, nhưng không phải của mọi dạng vật chất,

mà chỉ là thuộc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc con người; là hình thức phản ánh đặc trưng riêng có của con người, được phát triển từ thuộc tính phản ánh có ở mọi dạng vật chất

Phản ánh là sự tái tạo những đặc điểm của dạng vật chất này ở dạng vật chất khác trong quá trình tác động qua lại lẫn nhau giữa chúng Trong quá trình ấy, vật

nhận tác động bao giờ cũng mang thông tin của vật tác động

Thuộc tính phản ánh của vật chất có quá trình phát triển lâu dài từ thấp đến cao,

từ đơn giản đến phức tạp Phản ánh được thể hiện dưới nhiều hình thức: phản ánh vật

lý, hóa học, sinh học, phản ánh Tâm lý và phản ánh Ý thức Những hình thức này tương ứng với quá trình tiến hóa của vật chất Ý thức là hình thức cao nhất của sự phản ánh thế giới hiện thực

Như vậy, bộ óc người (cơ quan phản ánh thế giới vật chất xung quanh) cùng với

thế giới bên ngoài tác động lên bộ óc - đó là nguồn gốc tự nhiên của ý thức

Nguồn gốc xã hội của ý thức

Những tiền đề, nguồn gốc tự nhiên rất quan trọng, không thể thiếu, song điều kiện quyết định cho sự ra đời của ý thức là những tiền đề, nguồn gốc xã hội Trong đó,

cơ bản nhất và trực tiếp nhất là lao động và ngôn ngữ

Lao động là quá trình con người sử dụng công cụ lao động tác động vào giới tự nhiên nhằm thay đổi giới tự nhiên cho phù hợp với nhu cầu của con người Lao động làm thay đổi cấu trúc cơ thể, đem lại dáng đi thẳng bằng hai chân, giải phóng hai tay, phát triển khí quan và não bộ…của con người

Trang 26

Trong quá trình lao động, con người tác động vào thế giới khách quan làm thế giới khách quan bộc lộ những thuộc tính, những kết cấu, những quy luật vận động của

nó, tạo ra khả năng hình thành nên những tri thức nói riêng và ý thức nói chung Lao động là cơ sở của sự hình thành và phát triển ngôn ngữ Trong lao động, con người tất yếu có những quan hệ với nhau và có nhu cầu trao đổi kinh nghiệm Từ đó, ngôn ngữ

ra đời và phát triển cùng với lao động Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu vật chất chứa đựng thông tin mang nội dung ý thức Không có ngôn ngữ , ý thức không thể tồn tại và thể hiện

Như vậy, nguồn gốc cơ bản, trực tiếp và quan trọng nhất quyết định sự ra đời và

phát triển của ý thức là nhân tố lao động Sau lao động và đồng thời với lao động là ngôn ngữ, đó là hai sức kích thích chủ yếu đã ảnh hưởng đến bộ óc của con vượn, đã làm cho bộ óc đó dần dần biến chuyển thành bộ óc c ủa con người, khiến cho tâm lý động vật dần dần chuyển hóa thành ý thức

b Bản chất và kết cấu của ý thức

* Bản chất của ý thức:

Chủ nghĩa duy vật biện chứng dựa trên cơ sở lý luận phản ánh, khẳng định: "ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc con người một cách năng động, sáng tạo"

- Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào đầu óc con người:

+ Ý thức là cái phản ánh, còn vật chất là cái được phản ánh Cái được phản ánh tồn tại khách quan ở bên ngoài, độc lập với cái phản ánh

+ Cái phản ánh là hiện thực chủ quan, là hình ảnh c hủ quan (ảnh tinh thần) của

sự vật khách quan, lấy cái khách quan làm tiền đề, bị cái khách quan quy định, không

- Ý thức là một hiện tượng xã hội, mang bản chất xã hội Sự ra đời và tồn tại của ý thức gắn liền với hoạt động thực tiễn lịch sử, không chỉ chịu sự chi phối của các quy luật sinh học mà chủ yếu là quy luật xã hội, do nhu cầu giao tiếp xã hội và các điều kiện sinh hoạt hiện thực của con người quy định

Kết cấu của ý thức:

Trang 27

- Xét theo chiều ngang: tri thức, tình cảm, niềm tin, lý trí, ý chí Trong đó, tri

thức là yếu tố quan trọng nhất

- Xét theo chiều dọc: tự ý thức, tiềm thức, vô thức

4 Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức

a Quan điểm của chủ nghĩa duy tâm và duy vật siêu hình về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức

Chủ nghĩa duy tâm, đã trừu tượng hóa ý thức, tinh thần vốn có của con người

thành một lực lượng thần bí, tách khỏi con người hiện thực, là tính thứ nhất từ đó sinh

ra tất cả; còn thế giới vật chất chỉ là bản sao, biểu hiện khác của ý thức tinh thần, là tính thứ hai

Chủ nghĩa duy vật siêu hình, tuyệt đối hóa yếu tố vật chất, chỉ nhấn mạnh một

chiều vai trò của vật chất sinh ra ý thức, quyết định ý thức, phủ nhận tính độc lập tương đối của ý thức, không thấy được tính năng động, sáng tạo, vai trò to lớn của ý thức trong hoạt động thực tiễn cải tạo hiện thực khách quan

b Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức

Về nhận thức luận cơ bản, vật chất và ý thức là hai hiện tượng đối lập biện chứng V.I.Lênin cho rằng: “sự đối lập giữa vật chất và ý thức chỉ có ý nghĩa tuyệt đối trong những phạm vi hết sức hạn chế: trong trường hợp này chỉ giới hạn ở vấn đề nhận thức luận cơ bản cái gì có trước và c ái gì có sau Ngoài giới hạn đó thì không còn nghi ngờ gì nữa rằng sự đối lập đó là tương đối”

Khoa học tự nhiên hiện đại đã chứng minh được rằng, giới tự nhiên có trước con người; thế giới vật chất là cái có trước, còn con người và ý thức của con người là cái có sau , là sản phẩm của một quá trình tiến hóa lâu dài trong thế giới; vật chất là tính thứ nhất, còn ý thức là tính thức hai Vật chất tồn tại khách quan, độc lập với ý thức và là nguồn gốc sinh ra ý thức Hoạt động thực tiễn có tính xã hội- lịch sử của loài người là yếu tố quyết định nội dung mà ý thức phản ánh

Ý thức sau khi ra đời là một thực thể tinh thần, không tồn tại thụ động mà có

tính độc lập tương đối tác động trở lại đối với thế giới vật chất, thông qua hoạt động

thực tiễn của con người, chỉ đạo hoạt động cải tạo thế giới trong hiện thực theo nhu cầu của con người Ý thức phản ánh đúng đắn hiện thực khách quan, có tác dụng thúc đẩy hoạt động thực tiễn của con người Ý thức phản ánh không đúng hiện thực khách quan có thể kìm hãm hoạt động thực tiễn của con người trong hoạt động cải tạo hiện thực khách quan ở mức độ và giới hạn nhất định

Vai trò của ý thức còn thể hiện ở chỗ trang bị cho con người những tri thức về bản chất, quy luật khách quan của đối tượng, xác định đúng mục tiêu, phương hướng

và các biện pháp tổ chức hoạt động thực tiễn Cuối cùng, bằng nỗ lực và ý chí mạnh

mẽ của mình, con người có thể thực hiện được mục tiêu đề ra

Trang 28

Ý nghĩa phương pháp luận

Khẳng định thế giới quan duy vật biện chứng chống chủ nghĩa duy tâm và duy vật siêu hình trong việc giải quyết vấn đề cơ bản của triết học Trong hoạt động thực tiễn, con người biết vận dụng sáng tạo lý luận khoa học vào giải quyết mối quan hệ khách quan và chủ quan đem lại hiệu quả trong công việc

Khẳng định tính năng động, sáng tạo của ý thức, tinh thần, về thực chất là khẳng định vai trò to lớn của con người- chủ thể có ý thức đó

Khi nhận thức và hành động phải xuất phát từ bản thân sự vật, hiện tượng của hiện thực khách quan, không được xuất phát từ ý muốn chủ quan, không lấy ý muốn chủ quan của mình làm cơ sở định ra chính sách, không lấy ý chí áp đặt cho thực tiễn

III MỐI QUAN HỆ GIỮA KHÁCH QUAN VÀ CHỦ QUAN

1 Khái niệm “khách quan” và “chủ quan”

Phạm trù “khách quan” dùng để chỉ tất cả những gì tồn tại không phụ thộc vào

một chủ thể xác định, hợp thành một hoàn cảnh hiện thực, thường xuyên tác động đến việc xác định mục tiêu, nhiệm vụ và phương thức hoạt động của chủ thể

Khách quan bao gồm: những điều kiện, khả năng và quy luật khách quan hợp thành một hoàn cảnh hiện thường xuyên tác động đến các hoạt động của một chủ thể

xác định Trong đó, quy luật khách quan luôn giữ vai trò quan trọng nhất Không phải mọi điều kiện, khả năng và quy luật khách quan bất kỳ, mà chỉ có những điều kiện,

khả năng và quy luật khách quan hợp thành hoàn cảnh hiện thực thường xuyên tác

động đến các hoạt động của một chủ thể xác định mới được coi là phạm trù khách quan đối với hoạt động của chủ thể ấy Phạm trù khách quan luôn được đặt trong mối quan hệ với phạm trù chủ quan

Phạm trù “chủ quan” dùng để chỉ tất cả những gì cấu thành phẩm chất và năng lực của một chủ thể nhất định, phản ánh vai trò của chủ thể ấy đối với những hoàn cảnh hiện thực khách quan trong hoạt động nhận thức và cải tạo khách thể

Chủ quan bao gồm tất cả những gì cấu thành và phản ánh trình độ phát triển về phẩm chất và năng lực của một chủ thể nhất định; là sức mạnh hiện thực bên trong của chủ thể Đến lượt nó, sức mạnh ấy lại luôn được biểu hiện ra ở năng lực tổ chức hoạt động (nhận thức và thực tiễn) của chủ thể mà tiêu thức cơ bản, quyết định để đánh giá năng lực ấy là sự phù hợp giữa hoạt động của chủ thể với điều kiện, khả năng và quy luật khách quan

2 Mối quan hệ biện chứng giữa khách quan và chủ quan

Vai trò quyết định của cái khách quan đối với cái chủ quan

Khách quan và chủ quan là hai mặt, hai yếu tố không thể tách rời trong mọi

hoạt động của chủ thể Trong mối quan hệ này, suy đến cùng, khách quan bao giờ

Trang 29

cũng là cơ sở, tiền đề và giữ vai trò quyết định chủ quan Bởi vì, các điều kiện, khả

năng và quy luật khách quan tồn tại độc lập không lệ thuộc vào chủ thể, luôn buộc chủ

thể phải tính đến trước tiên trong mọi hoạt động, và là cội nguồn nảy sinh mọi tri thức, tình cảm, ý chí và nguyện vọng của chủ thể

Do bản chất năng động vốn có của mình quy định nên con người luôn vươn tới

tự do trong mọi hoạt động Nhưng con người chỉ được tự do hành động trong chừng mực họ nhận thức được ngày càng sâu sắc hơn các điều kiện, khả năng và quy luật khách quan Ý chí, nguyện vọng của con người chỉ đúng khi nó phản ánh được sự vận động biến đổi của những điều kiện, khả năng và quy luật vốn có của thế giới hiện thực

Nói cách khác, khách quan quy định nội dung và sự vận động biến đổi của chủ quan

Giữ các chủ thể có sự khác nhau ở tính năng động chủ quan trong nhận thức và

hành động Song giới hạn của tính năng động ấy cũng do khách quan quy định Mọi

hoạt động của con người chỉ là sự phản ánh và hiện thực hóa những nhu cầu đã chín muồi của đời sống xã hội Những nhiệm vụ mà con người phải giải quyết là những nhiệm vụ do lịch sử đề ra và quy định nội dung, biện pháp giải quyết Chúng ta đạt được những thành công trong việc cải tạo hiện thực là do sự phản ánh đúng đắn và hành động theo những quan hệ tất yếu của hiện thực chứ không phải do ảo tưởng chủ quan của mình

Sự tác động trở lại của cái chủ quan tới cái khách quan

Nói đến vai trò của nhân tố chủ quan là nói đến vai trò của con người trong hoạt động (nhận thức và thực tiễn) để cải biến và thống trị thế giới của họ Con người luôn

có nhu c ầu và khả năng tổ chức các hoạt động khám phá thế giới khách quan Trên cơ

sở đó, con người nâng cao tri thức, phát triển ý chí, tình cảm của mình theo hướng ngày càng phù hợp hơn với điều kiện, khả năng và quy luật khách quan của hiện thực

Vì vậy, chủ trương, đường lối, mục tiêu, nhiệm vụ và biện pháp thực hiện mà con người vạch ra ngày càng đúng đắn hơn, ít mang tính chủ quan duy ý chí hơn Cũng có nghĩa là con người ngày càng trở thành chủ thể thực sự của thế giới khách quan, hay

thế giới khách quan ngày càng bị chủ quan hóa bởi hoạt động cải biến của con người

Vai trò đặc biệt trên đây của nhân tố chủ quan được thể hiện tập trung ở phương

thức nó biến các điều kiện, khả năng và quy luật khách quan vốn tồn tại và vận động dưới dạng các “xu hướng có thể” thành hiện thực theo hướng thỏa mãn tốt nhất nhu

cầu, lợi ích của chủ thể

Mặc dù mọi ho ạt động c ủa con người đều phải dựa vào những điều kiện khách quan nhất định, nhưng con người không thụ động chờ đợi sự chín muồi của điều kiện

khách quan, mà trái lại, bằng năng lực chủ quan của mình, con người có thể thúc đẩy nhanh hơn tiến trình biến khả năng thành hiện thực Tương tự, trong một phạm vi, một

hiện tượng cụ thể, tiến trình khách quan có thể có nhiều con đường, nhiều khả năng phát triển Ở đây, vai trò của con người với năng lực vốn có c ủa mình để lựa chọn, tác

Trang 30

động sao cho chỉ một con đường, một khả năng khách quan nào đó phù hợp với tiến trình lịch sử cụ thể và nhu c ầu của mình phát triển thành hiện thực Bằng cách đó, thực

tế lịch sử cho thấy, con người có thể đẩy nhanh, rút ngắn tiến trình phát triển của sự vật mà vẫn bảo đảm tính lịch sử tự nhiên Cuối cùng, vai trò của nhân tố chủ quan còn

thể hiện ở chỗ, mặc dù không xóa bỏ hay sáng tạo ra bất cứ quy luật khách quan nào,

nhưng bằng năng lực chủ quan của mình, con người có thể điều chỉnh hình thức tác động của quy luật khách quan và kết hợp một cách khéo léo sự tác động tổng hợp của nhiều quy luật theo hướng phục vụ tốt nhất mục đích của mình

Tóm lại, “thế giới không thỏa mãn con người, và con người quyết định biến đổi

thế giới bằng hành động của mình” Nhưng hành động biến đổi thế giới của con người chỉ có hiệu quả khi nó được thực hiện bởi những công c ụ, phương tiện vật chất phù hợp với quy luật vốn có c ủa thế giới vật chất, nghĩa là hành động ấy luôn là một thể thống nhất giữa nhận thức và thực tiễn (thực tiễn- nhận thức- thực tiễn) Đó chính là quá trình biện chứng “khách quan hóa chủ quan và chủ quan hóa khách quan”, chống

“khách quan chủ nghĩa” và chống “chủ quan duy ý chí”

3 Ý nghĩa phương pháp luận đối với sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam

Tôn trọng khách quan

Tôn trọng khách quan là tôn trọng vai trò quyết định của vật chất Điều này đòi hỏi trong nhận thức và hành động c ủa con người phải xuất phát từ thực tế khách quan, lấy khách quan làm cơ sở, phương tiện cho hành động của mình

Một số biểu hiện cụ thể của tôn trọng khách quan:

- Mục đích, đường lối, chủ trương con người đặt ra không được xuất phát từ ý muốn chủ quan mà phải xuất phát từ hiện thực, phản ánh nhu cầu chín muồi và tính tất yếu của đời sống vật chất trong từng giai đoạn cụ thể Tổng kết quá trình lãnh đạo

cách mạng, Đảng ta đã rút ra kết luận mang tính định hướng: “Mọi đường lối, chủ

trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng quy luật khách quan”

- Khi có mục đích, đường lối, chủ trương đúng, phải tổ chức lực lượng vật chất

để thực hiện nó Đại hội lần thứ IX, Đảng ta chỉ rõ: “Động lực chủ yếu để phát triển

đất nước là đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh giữa giai cấp công nhân với nông dân và trí thức do Đảng lãnh đạo, kết hợp hài hòa các lợi ích cá nhân, t ập thể và

xã hội phát huy mọi tiềm năng và mọi nguồn lực của các thành phần kinh tế và của toàn xã hội” cũng chính là lực lượng vật chất để thực hiện nhiệm vụ cách mạng trong

giai đoạn mới

Phát huy tính năng động chủ quan

Phát huy tính năng động chủ quan là phát huy tính tích cực, năng động, sáng tạo của ý thức và phát huy vai trò nhân tố con người trong việc vật chất hóa những tính chất ấy Phát huy tính năng động chủ quan thể hiện rất phong phú, da dạng, trong đó một số biểu hiện cơ bản của nó là:

Trang 31

- Phải tôn trong tri thức khoa học, Đại hội lần thứ IX, Đảng ta chỉ rõ: “giáo dục

và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu”

- Phải làm chủ tri thức khoa học và truyền bá tri thức khoa học vào quần chúng

để nó trở thành tri thức, niềm tin định hướng cho quần chúng hành động Đại hội VIII,

Đảng ta chỉ rõ: “khơi dậy trong nhân dân lòng yêu nước, ý chí quật cường, phát huy tài

chí của người Việt Nam, quyết tâm đưa nước ta ra khỏi nghèo nàn và lạc hậu”

Tóm lại, tôn trọng khách quan, phát huy tính năng động chủ quan vừa là ý nghĩa

phương pháp luận cơ bản, vừa là những yêu cầu có tính nguyên tắc trong hoạt động thực tiễn Những yêu cầu này khác nhau nhưng thống nhất và quan hệ hữu cơ với nhau nên ho ạt động của con người chỉ đạt hiệu quả tối ưu khi thực hiện chúng đồng bộ và chống lại những quan điểm, những biểu hiện đối lập với chúng

CHƯƠNG III

PHÉP BIỆN CHỨNG

I KHÁI NIỆM “BIỆN CHỨNG” VÀ KHÁI QUÁT LỊCH SỬ PHÉP BIỆN CHỨNG

1 Khái niệm “siêu hình” và khái niệm “biện chứng”

a Siêu hình

Thuật ngữ “siêu hình” có gốc từ tiếng Hy Lạp là metaphysica, với nghĩa là

“những gì sau vật lý học” Theo Arixtốt (384 – 322 tr.cn), “những gì sau vật lý học” là những hiện tượng “siêu vật lý” thuộc về tinh thần, ý thức, là bản chất của sự vật, hiện tượng mà Arixtốt gọi là “vô hình” hay “siêu hình” Về sau, tài liệu triết học th ường dùng theo ý này và gọi là “siêu hình học”

Trong triết học Mác, thuật ngữ siêu hình được dùng theo nghĩa là phương pháp xem xét sự tồn tại của sự vật, hiện tượng và sự phản ánh chúng vào tư duy con người trong trạng thái biệt lập, nằm ngoài mối liên hệ với các sự vật, hiện t ượng khác và trong trạng thái không vận động, phát triển, nếu có vận động, phát triển thì cũng chỉ thay đổi về lượng chứ không thay đổi về chất Ph.Ăngghen khẳng định, phương pháp

siêu hình “chỉ nhìn thấy những sự vật riêng biệt mà không nhìn thấy mối liên hệ qua lại giữa những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy sự tồn tại của những sự vật ấy mà không nhìn thấy sự phát sinh và sự tiêu vong của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy trạng thái tĩnh của

những sự vật ấy mà quên mất sự vận động của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy cây mà không thấy rừng”

b Biện chứng

Thuật ngữ “biện chứng” có gốc từ tiếng Hy Lạp là dialektica (nghệ thuật đàm

thoại, tranh luận) Theo nghĩa này, biện chứng là nghệ thuật tranh luận nhằm tìm ra chân lý bằng cách phát hiện các mâu thuẫn trong lập luận của đối phương và nghệ

Trang 32

Trong triết học Mác, thuật ngữ “biện chứng” được dùng đối lập với “siêu hình”

Đó là lý luận, đồng thời là phương pháp xem xét sự vật trong trạng thái liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau, ràng buộc lẫn nhau và trong quá trình vận động, phát triển

không ngừng Phương pháp đó không chỉ thấy những sự vật cá biệt, mà còn thấy mối

quan hệ lẫn nhau giữa chúng; không chỉ thấy sự tồn tại của sự vật, mà còn thấy cả sự sinh thành và tiêu vong của sự vật; không chỉ thấy trạng thái tĩnh, mà còn thấy cả trạng thái động của sự vật; không chỉ thấy “cây” mà còn thấy cả “rừng” Theo Ph.Ăngghe n,

phương pháp biện chứng “xem xét những sự vật và những phản ánh của chúng trong

tư tưởng, trong mối liên hệ qua lại lẫn nhau của chúng, trong sự ràng buộc, sự vận động, sự phát sinh và sự tiêu vong của chúng” Phương pháp đó mềm dẻo, linh hoạt,

thừa nhận trong những trường hợp nhất định, bên cạnh cái “hoặc là… hoặc là”, còn có

“cả cái này lẫn cái kia” nữa

2 Khái quát lịch sử phép biện chứng

Phép biện chứng xuất hiện từ thời cổ đại và từ đó đến nay, lịch sử phát triển của

nó đã trải qua nhiều giai đoạn, gắn liền với sự phát triển của khoa học và thực tiễn

a Phép biện chứng trong triết học cổ đại

Ở phương Đông, Phật giáo quan niệm về nhân duyên, vô ngã, vô thường … đã

chứa đựng những tư tưởng biện chứng khá sâu sắc.Thuyết Âm– Dương, Âm và Dương tồn tại trong mối liên hệ quy định lẫn nhau tạo ra sự thống nhất với cái số nhiều, đa dạng, phong phú Trong thuyết Ngũ hành, năm yếu tố Kim– Mộc- Thủy– Hỏa– Thổ tồn tại trong mối liên hệ tương sinh, tương khắc với nhau Các yếu tố đó tác động, chuyển hóa lẫn nhau, ràng buộc, quy định lẫn nhau, tạo ra sự biến đổi trong vạn vật

Các nhà “biện chứng bẩm sinh” tiêu biểu của Hy Lạp cổ đại là Hêraclít, Xôcrát, Platôn, Arixtốt, v.v… Theo Hêraclít, thế giới vật chất tồn tại trong sự hình

thành, vận động vĩnh viễn của sự thống nhất giữa các mặt đối lập Ông coi sự vận động, biến đổi của thế giới cũng giống như sự chuyển động, đều trôi đi, chảy đi của

một con sông mà ông đã xây dựng trong Học thuyết về dòng chảy Với quan niệm như

vậy, Hêraclít đã xây dựng được một số phạm trù của phép biện chứng như lôgôs (gồm lôgôs chủ quan và lôgôs khách quan) để luận bàn về những quy luật khách quan của thế giới vật chất và coi đó là nội dung cơ bản của phép biện chứng

Xôcrát, người đầu tiên sử dụng thuật ngữ biện chứng theo nghĩa là nghệ thuật tranh luận, hướng các bên cùng quan tâm tới vấn đề đang tranh luận với mục đích đạt được chân lý bằng con đường đối lập các ý kiến của họ qua hình thức hỏi– đáp Tư tưởng này đã được phát triển hơn trong quan niệm biện chứng của Platôn Ông cho rằng, phép biện chứng là nghệ thuật tìm ra các khái niệm đúng, là thao tác lôgíc phân chia và gắn kết các khái niệm bằng công cụ hỏi– đáp để xác định đúng các khái niệm

đó Arixtốt đưa ra nhiều tư tưởng về phạm trù, quy luật và xây dựng các hình thức cơ bản của tư duy

Trang 33

Đặc trưng cơ bản chung của phép biện chứng cổ đại là tính tự phát, ngây thơ Các nhà triết học cổ đại nghiên cứu sự vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng trong bức tranh chung, chỉnh thể về thế giới Do trình độ còn thấp kém về khoa học, nên phép biện chứng cổ đại mới chỉ là những quan điểm biện chứng mộc mạc, mang tính suy luận, phỏng đoán trên cơ sở những kinh nghiệm trực giác mà chưa được minh chứng bằng các tri thức khoa học Song “triết học hiện đại chỉ tiếp tục cái công việc

do Hêraclít và Arixtốt đã mở đầu mà thôi”

b Phép biện chứng duy tâm trong triết học cổ điển Đức

Phép biện chứng này được khởi đầu từ Cantơ, qua Phíchtơ, Sêlinh và phát triển đến đỉnh cao trong phép biện chứng duy tâm của Hêghen Ph.Ăngghen khẳng định:

“hình thức thứ hai của phép biện chứng, hình thức quen thuộc nhất với các nhà khoa

học tự nhiên Đức, là triết học cổ điển Đức từ Cantơ đến Hêghen”

Trong triết học Cantơ, tư tưởng biện chứng cơ bản là tư tưởng về sự thống nhất giữa các mặt đối lập, theo đó, sự thống nhất và thâm nhập lẫn nhau giữa các mặt đối lập là động lực của sự vận động và phát triển Động lực đó có trước vật chất và vận động tách rời vật chất Trong triết học Phíchtơ, tư tưởng biện chứng cơ bản là tư tưởng

về mâu thuẫn là nguồn gốc của sự phát triển Mâu thuẫn và phát triển chỉ tồn tại trong

ý thức, thể hiện trong sự vận động tiến bộ của tư duy trong quá trình nhận thức Trong triết học Sêlinh, tư tưởng biện chứng cơ bản là tư tưởng về mối liên hệ phổ biến; sự thống nhất và sự phát triển; tư tưởng về sự thống nhất biện chứng của tự nhiên, về sự đấu tranh giữa các mặt đối lập trong tự nhiên

Trong triết học Hêghen, phép biện chứng duy tâm được phát triển đến đỉnh cao với hình thức và nội dung phong phú:

Về hình thức, phép biện chứng duy tâm của Hêghen đã bao quát cả ba lĩnh vực,

bắt đầu từ các phạm trù lôgíc thuần túy đến lĩnh vực tự nhiên và kết thúc bằng biện chứng của toàn bộ quá trình lịch sử

Về nội dung, Hêghen chia phép biện chứng thành tồn tại, bản chất và khái niệm Tồn tại là cái vỏ bên ngoài, trực tiếp, nông nhất mà con người có thể cảm giác

và được cụ thể hóa trong các phạm trù chất, l ượng và độ Bản chất là tầng gián tiếp

của thế giới, không thể nhận biết được bằng cảm giác, tồn tại trong mâu thuẫn đối lập với chính mình và được thể hiện trong các phạm trù “hiện tượng– bản chất”, “hình

thức– nội dung”, “ngẫu nhiên– tất yếu”, “khả năng– hiện thực” v.v… Còn khái niệm

(hiện thân của nó là giới hữu cơ, sự sống) là sự thống nhất giữa tồn tại với bản chất, là cái vừa trực tiếp (có thể cảm giác được), vừa gián tiếp (không thể cảm giác được), được thể hiện trong các phạm trù “cái phổ biến”, “cái đặc thù”, “cái đơn nhất” Phép biện chứng trong giai đoạn này là “sự phát triển”, nghĩa là sự chuyển hóa từ cái trừu tượng đến cái cụ thể; t ừ chất này sang chất khác được thực hiện nhờ giải quyết mâu thuẫn Phát triển được coi là sự tự phát triển tịnh tiến của “ý niệm tuyệt đối”, từ tồn tại

Trang 34

khách thể, đồng thời là “ý niệm tuyệt đối” Hêghen coi phát triển là nguyên lý cơ bản nhất của phép biện chứng với phạm trù trung tâm là “tha hóa” và khẳng định “tha hóa” được diễn ra ở mọi nơi, mọi lúc trong cả tự nhiên, xã hội và tinh thần

C.Mác và Ph.Ăngghen đã kế thừa và phát triển sáng tạo những “hạt nhân hợp lý” trong lịch sử tư tưởng triết học nhân loại mà trực tiếp là phép biện chứng duy tâm của Hêghen và đặt nó trên tảng duy vật

Phép biện chứng duy vật là sự thống nhất hữu cơ giữa thế giới quan duy vật với phương pháp biện chứng Sự ra đời của phép biện chứng duy vật là cuộc cách mạng trong phương pháp tư duy triết học; là phương pháp tư duy khác về chất so với các phương pháp tư duy trước đó; là “phương pháp mà điều căn bản là nó xem xét những

sự vật và những phản ánh của chúng trong tư tưởng, trong mối liên hệ qua lại lẫn nhau của chúng, trong sự ràng buộc, sự vận động, sự phát sinh và sự tiêu vong của chúng”

II NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT

1 Hai nguyên lý cơ bản của phép biện chúng duy vật

a Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến

- Khái niệm liên hệ, mối liên hệ phổ biến

Mối liên hệ là một phạm trù triết học dùng để chỉ sự quy định, sự tác động qua

lại, sự chuyển hoá lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng hay giữa các mặt, các yếu tố

của mỗi sự vật, hiện tượng trong thế giới Mối liên hệ phổ biến: chỉ tính phổ biến của

các mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng của thế giới, đồng thời cũng dùng để chỉ các mối liên hệ tồn tại ở nhiều sự vật, hiện tượng của thế giới

- Tính chất của mối liên hệ

Tính khách quan: mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng (hoặc trong bản thân

chúng) là cái vốn có của nó, tồn tại độc lập không phụ thuộc vào ý chí của con người; con người chỉ có thể nhận thức và vận dụng các mối liên hệ đó trong hoạt động thực tiễn của mình

Tính phổ biến:

+ Thứ nhất: bất cứ sự vật nào cũng liên hệ với sự vật, hiện tượng khác

Trang 35

+ Thứ hai: mối liên hệ thể hiện ở những hình thức riêng biệt, cụ thể tuỳ theo điều kiện nhất định Song, dù dưới hình thức nào, chúng cũng chỉ là biểu hiện của mối liên hệ phổ biến nhất, chung nhất Những hình thức cụ thể được các nhà khoa học cụ thể nghiên cứu Phép biện chứng duy vật chỉ nghiên cứu những mối liên hệ chung nhất, bao quát nhất của thế giới

- Khái niệm phát triển

Phát triển là phạm trù triết học dùng để chỉ quá trình vận động tiến lên từ thấp

đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của sự vật

- Tính chất của sự phát triển

Tính khách quan: không phụ thuộc vào ý thức con người; nguồn gốc của sự

phát triển nằm ngay trong bản thân sự vật, hiện t ượng- đó là quá trình giải quyết liên tục những mâu thuẫn nảy sinh trong sự tồn tại của sự vật, hiện tượng

Tính phổ biến: nó diễn ra ở mọi lĩnh vực: tự nhiên, xã hội và tư duy; trong mọi

sự vật, hiện tượng và trong mọi quá trình, mọi giai đoạn phát triển của sự vật, hiện tượng đó

Tính đa dạng, phong phú:

+ Mỗi sự vật, hiện tượng khác nhau có quá trình phát triển khác nhau

+ Trong quá trình phát triển của mình, mỗi sự vật , hiện tượng còn chịu tác động của sự vật, hiện tượng khác, của điều kiện, hoàn cảnh

2 Các cặp phạm trù cơ bản của phép biện chứng duy vật

a Quan niệm biện chứng duy vật về phạm trù và sự hình thành phạm trù

Để suy nghĩ và trao đổi tư tưởng cho nhau, con người thường phải sử dụng các khái niệm nhất định, chẳng hạn “cái cây”, “ngôi nhà, „„thực vật”, “động vật” Những khái niệm đó là hình thức của tư duy phản ánh những mặt, những thuộc tính cơ bản của một lớp các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan

Phạm trù là những khái niệm rộng nhất phản ánh những mặt, những thuộc tính, những mối liên hệ chung, cơ bản nhất của các sự vật và hiện tượng thuộc một lĩnh vực nhất định

Trang 36

Phạm trù triết học là những khái niệm chung nhất, phản ánh những mặt, những thuộc tính, những mối liên hệ cơ bản và phổ biến nhất không phải chỉ của một lĩnh vực nhất định mà của toàn bộ thế giới hiện thực, bao gồm cả tự nhiên, xã hội và tư duy

a Cái chung và cái riêng

Phạm trù “Cái riêng” dùng để chỉ một sự vật, một hiện tượng, một quá trình

riêng lẻ nhất định

Phạm trù “Cái chung” dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính chung không

những có ở một kết cấu vật chất nhất định, mà còn được lặp lại trong nhiều sự vật, hiện tượng hay quá trình riêng lẻ khác

Phạm trù “Cái đơn nhất” dùng để chỉ những nét, những mặt, những thuộc

tính chỉ có ở một sự vật, một kết cấu vật chất nhất định mà không lặp lại ở sự vật, hiện tượng, kết cấu vật chất khác

Quan hệ biện chứng giữa cái riêng và cái chung

Thứ nhất: Cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng mà biểu

hiện sự tồn tại của mình Không có cái chung thuần tuý tồn tại bên ngoài cái riêng

Thứ hai: Cái riêng chỉ tồn tại trong mối quan hệ với cái chung Không có cái

riêng nào tuyệt đối độc lập, không liên hệ với cái chung

Thứ ba: Cái riêng là cái toàn bộ, phong phú hơn cái chung, cái chung là cái bộ

phận nhưng sâu sắc hơn cái riêng

Thứ tư: Cái đơn nhất và cái chung có thể chuyển hoá lẫn nhau trong quá trình

phát triển của sự vật

Ý nghĩa phương pháp luận

Chỉ có thể tìm cái chung trong cái riêng, xuất phát từ cái riêng, từ những sự vật, hiện tượng riêng lẻ

Trong quá trình hoạt động nhận thức phải tìm ra cái chung và trong hoạt động thực tiễn phải dựa vào cái chung để cải tạo cái riêng Mặt khác, khi áp dụng cái chung phải tuỳ theo điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của cái riêng để vận dụng cho phù hợp

Trong hoạt động thực tiễn có thể và cần phải tạo điều kiện thuận lợi để cái đơn nhất có lợi cho con người chuyển hoá thành cái chung và ngược lại, cái chung bất lợi thành cái đơn nhất

b Nguyên nhân, kết quả

Phạm trù “Nguyên nhân” dùng chỉ sự tác động lẫn nhau giữa các mặt trong một

sự vật, hiện tượng hoặc giữa các sự vật với nhau tạo ra sự biến đổi nhất định nào đó

Phạm trù “Kết quả” dùng để chỉ những biến đổi xuất hiện do tác động lẫn nhau

giữa các mặt trong một sự vật, hiện tượng hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau gây ra

Trang 37

Quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả

- Nguyên nhân là cái sinh ra kết quả, nên nguyên nhân l uôn luôn có trước kết quả, còn kết quả bao giờ cũng xuất hiện sau khi nguyên nhân đã xuất hiện

- Một nguyên nhân có thể sinh ra nhiều kết quả

- Nhiều nguyên nhân có thể sinh ra một kết quả

- Trong nhiều trường hợp để nguyên nhân dẫn đến kết quả cần phải có điều kiện nhất định

- Sự tác động trở lại của kết quả đối với nguyên nhân: có thể diễn ra theo hai hướng: tích cực (thúc đẩy sự hoạt động của nguyên nhân); tiêu cực (cản trở sự hoạt động của nguyên nhân)

- Nguyên nhân và kết quả có thể thay đổi vị trí cho nhau

Ý nghĩa phương pháp luận

Muốn tìm nguyên nhân phải tìm trong thế giới hiện thực, trong bản thân sự vật, hiện tượng tồn tại trong thế giới vật chất

Muốn tìm nguyên nhân của một hiện t ượng nào đó cần tìm trong những sự kiện, những mối liên hệ xảy ra trước khi hiện tượng đó xuất hiện

Trong hoạt động thực tiễn chúng ta cần phân loại nguyên nhân, đồng thời phải nắm được chiều hướng tác động của nguyên nhân để có biện pháp thích hợp tạo điều kiện hoặc hạn chế sự hoạt động của nguyên nhân

Trong hoạt động thực tiễn, chúng ta cần phải khai thác, tận dụng kết quả đã đạt được để tạo điều kiện thúc đẩy nguyên nhân phát huy tác dụng, nhằm đạt mục đích

c.Tất nhiên và ngẫu nhiên

Phạm trù“Tất nhiên” dùng để chỉ cái do những nguyên nhân cơ bản, bên trong

của kết cấu vật chất quyết định và trong những điều kiện nhất định nó phải xảy ra như thế chứ không thể khác được

Phạm trù “Ngẫu nhiên” dùng để chỉ cái do các nguyên nhân bên ngoài Do sự

ngẫu hợp của nhiều hoàn cảnh bên ngoài quyết định Do đó nó có thể xuất hiện, có thể không xuất hiện, có thể xuất hiện như thế này, hoặc có thể xuất hiện như thế khác

Quan hệ biện chứng giữa tất nhiên và ngẫu nhiên

- Tất nhiên và ngẫu nhiên đều tồn tại khách quan, độc lập với ý thức của con người và đều có vị trí nhất định đối với sự vận động, phát triển của sự vật, hiện t ượng (trong đó cái tất nhiên đóng vai trò quyết định):

+ Cái tất nhiên chi phối sự phát triển của sự vật

+ Cái ngẫu nhiên làm cho sự phát triển của sự vật diễn ra nhanh hay chậm

- Tất nhiên và ngẫu nhiên đều tồn tại, nhưng chúng không tồn tại biệt lập dưới

Trang 38

- Tất nhiên và ngẫu nhiên không tồn tại vĩnh viễn ở trạng thái cũ mà th ường xuyên thay đổi, phát triển Trong những điều kiện nhất định chúng có thể chuyển hóa

cho nhau

Ý nghĩa phương pháp luận

Trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn chúng ta phải dựa vào cái tất nhiên chứ không dựa vào cái ngẫu nhiên

Muốn nhận thức được cái tất nhiên phải thông qua việc nghiên cứu, phân tích

và so sánh rất nhiều cái ngẫu nhiên

Trong nhận thức cũng như hoạt động thực tiễn, chúng ta không được xem nhẹ,

bỏ qua cái ngẫu nhiên

Trong hoạt động thực tiễn, cần tạo ra những điều kiện nhất định để cản trở hoặc thúc đẩy sự chuyển hóa của tất nhiên và ngẫu nhiên theo mục đích nhất định

d Nội dung và hình thức

Phạm trù “Nội dung” dùng để chỉ sự tổng hợp tất cả những mặt, những yếu tố,

những quá trình tạo nên sự vật, hiện tượng

Phạm trù “Hình thức” dùng để chỉ phương thức tồn tại và phát triển của sự vật,

là hệ thống các mối liên hệ tương đối bền vững giữa các yếu tố của sự vật đó

Quan hệ biện chứng giữa nội dung và hình thức

- Nội dung và hình thức gắn bó chặt chẽ, thống nhất biện chứng với nhau

- Nội dung giữ vai trò quyết định đối với hình thức trong quá trình vận động phát triển của sự vật, hiện tượng Nội dung thay đổi bắt buộc hình thức phải thay đổi

theo cho phù hợp

- Sự tác động trở lại của hình thức đối với nội dung

+ Nếu phù hợp với nội dung thì hình thức sẽ tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy nội dung phát triển

+ Nếu không phù hợp với nội dung thì hình thức sẽ ngăn cản, kìm hãm sự phát triển của nội dung

Ý nghĩa phương pháp luận

Trong hoạt động nhận thức và trong hoạt động thực tiễn, không được tách rời giữa nội dung và hình thức hoặc tuyệt đối hóa một trong hai mặt

Chống chủ nghĩa hình thức, mặt khác cũng cần phải biết sử dụng nhiều hình thức khác nhau trong hoạt động thực tiễn cải tạo xã hội

Để nhận thức và cải tạo sự vật cần phải căn cứ vào nội dung, đồng thời phải thường xuyên đối chiếu nội dung với hình thức

đ Bản chất và hiện tượng

Trang 39

Phạm trù “Bản chất” dùng để chỉ sự tổng hợp tất cả những mặt, những mối

liên hệ tất nhiên, tương đối ổn định bên trong sự vật, hiện tượng quy định sự vận động

và phát triển của sự vật, hiện tượng

Phạm trù “Hiện tượng” dùng để chỉ sự biểu hiện ra bên ngoài của bản chất Quan hệ biện chứng giữa bản chất và hiện tượng

- Sự thống nhất giữa bản chất và hiện tượng:

+ Bản chất bao giờ cũng bộc lộ ra qua hiện tượng, còn hiện tượng bao giờ cũng

là biểu hiện của một bản chất nhất định

+ Khi bản chất thay đổi thì hiện tượng cũng thay đổi theo Khi bản chất mất đi thì hiện tượng cũng mất theo

- Sự đối lập giữa bản chất và hiện tượng:

+ Cùng một bản chất có thể thể hiện ra nhiều hiện tượng khác nhau tuỳ theo sự thay đổi của hoàn cảnh

+ Bản chất không được biểu lộ hoàn toàn ở một hiện t ượng, hiện tượng không biểu hiện hoàn toàn bản chất mà chỉ biểu hiện một khía cạnh của bản chất, biểu hiện bản chất dưới hình thức đã biến đổi

Ý nghĩa phương pháp luận

Phải phân tích, tổng hợp sự biến đổi của nhiều hiện tượng, nhất là những hiện tượng điển hình mới hiểu rõ được bản chất của sự vật

Trong hoạt động nhận thức không chỉ dừng lại ở hiện t ượng mà phải tiến đến nhận thức được bản chất của sự vật Trong hoạt động thực tiễn phải dựa vào bản chất của sự vật để xác định phương thức cải tạo nó

e Khả năng và hiện thực

Phạm trù“Hiện thực” dùng để chỉ những gì hiện có, hiện đang tồn tại thực sự Phạm trù “Khả năng” dùng để chỉ những gì hiện chưa có, nhưng sẽ có, sẽ tới

khi có các điều kiện tương ứng

Quan hệ biện chứng giữa khả năng và hiện thực

Khả năng và hiện thực tồn tại trong mối quan hệ chặt chẽ với nhau, không tách rời nhau, thường xuyên chuyển hóa lẫn nhau trong quá trình phát triển của sự vật, hiện tượng Cùng một sự vật, hiện t ượng có thể tồn tại nhiều khả năng chứ không phải chỉ một khả năng

Để khả năng biến thành hiện thực, thường cần không chỉ một điều kiện mà là một tập hợp nhiều điều kiện

Ý nghĩa phương pháp luận

Trang 40

Trong hoạt động thực tiễn cần dựa vào hiện thực, không được dựa vào khả năng

để định ra chủ trương, phương hướng hành động của mình

Không dựa vào khả năng nhưng cần tính đến các khả năng, đồng thời phải phân biệt được các loại khả năng để đề ra kế hoạch hành động sát hợp

Trong xã hội, chúng ta phải chú ý đến việc phát huy nguồn lực con người để biến khả năng thành hiện thực, thúc đẩy xã hội phát triển

3 Các quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật

a Quan niệm biện chứng duy vật về quy luật

Quy luật là những mối liên hệ khách quan, bản chất, tất nhiên, phổ biến và lặp lại giữa các mặt, các yếu tố, các thuộc tính bên trong mỗi sự vật, hay giữa các sự vật, hiện tượng với nhau

Căn cứ vào mức độ tính phổ biến quy luật phân loại thành: quy luật riêng, quy luật chung, quy luật phổ biến

Căn cứ vào lĩnh vực tác động, quy luật được phân thành: quy luật tự nhiên, quy luật xã hội, quy luật của tư duy

b Quy luật những thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất và ngược lại

Khái niệm chất

Khái niệm chất dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự vật, hiện

tượng; là sự thống nhất hữu cơ các thuộc tính cấu thành nó, phân biệt nó với cái khác

+ Mỗi sự vật có nhiều thuộc tính, mỗi thuộc tính lại biểu hiện một chất của sự vật Do vậy, mỗi sự vật có nhiều chất

+ Chất của sự vật không những được quy định bởi chất của những yếu tố cấu thành mà còn bởi cấu trúc và phương thức liên kết giữa chúng (kết cấu của sự vật) thông qua các mối liên hệ cụ thể

Khái niệm lượng

Khái niệm Lượng dùng để chỉ tính quy định vốn có của sự vật về mặt số lượng,

quy mô, trình độ, nhịp điệu của sự vận động và phát triển cũng như các thuộc tính của

sự vật

Có lượng được xác định bởi những đơn vị đo lường cụ thể, nhưng có lượng chỉ

có thể biểu thị dưới dạng trừu tượng và khái quát; có lượng biểu thị yếu tố quy định kết cấu bên trong của sự vật, nhưng có lượng vạch ra yếu tố quy định bên ngoài sự vật

Quan hệ biện chứng giữa chất và lượng

- Sự thay đổi về lượng và về chất của sự vật diễn ra cùng với sự vậ n động, phát triển của sự vật Sự thay đổi về lượng của sự vật có ảnh hưởng tới sự thay đổi về chất của nó và ngược lại:

Ngày đăng: 22/05/2021, 09:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w