1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đề cương ôn tập triết học

29 232 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 352 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Câu 6: Hình thái kinh tế xã hội là gì? Nội dung hình thái kinh tế xã hội?Câu 2: Đặc điểm Triết học trung Hoa cổ đại? Nội dung Triết học Nho giáo của Khổng Tử? Rút ra ý nghĩa và vận dụng vào hoạt động chuyên môn và đời sốngCâu 7: Phân tích quan điểm của chủ nghĩa Mac -Lênin về con người, bản chất con người. Vấn đề phát triển con người toàn diện trong giai đoạn hiện nay (gđ CNH, HĐH).

Trang 1

LỊCH SỬ TRIẾT HỌC Câu 1: Đặc điểm nổi bật của Triết học Ấn Độ cổ đại?

Nội dung Triết học Phật giáo Ấn Độ cổ đại?

Ý nghĩa, liên hệ thực tiễn hoạt động nghề nghiệp?

Trả lời:

1 Đặc điểm nổi bật của Triết học Ấn Độ cổ đại:

a Hoàn cảnh kinh tế - xã hội:

- Nền triết học Ấn Độ cổ đại hình thành rất sớm, vào khoảng giữa thiên niên kỷ thứ

3 TCN, qua 3 thời kỳ: nền văn minh sông Ấn (TK XXV-XV TCN), nền văn minh Veda (TK XV-VII TCN), triết học tôn giáo (TK VI-I TCN)

- Điều kiện tự nhiên: thiên nhiên có những vùng phì nhiêu màu mỡ, lại cũng có những vùng rất khắc nghiệt

- Điều kiện lịch sử xã hội: xã hội hình thành các đẳng cấp chính: Tăng lữ, quý tộc, bình dân tự do, tiện nô Con người bị đè ép dưới 2 áp lực (nhân quyền và thần quyền) Từ đó đặt ra vấn đề giải thoát con người, giải thoát trong đời sống tâm linh

* Triết học Ấn Độ cổ đại hình thành 2 trào lưu lớn (hay 2 hệ thống):

+ Hệ thống chính thống (Atstika) thừa nhận tính đúng đắn của Kinh Veda Gồm có trừơng phái: Samkhya, Mimansa, Vaisesika, Ngaya, Yoga, Vedanta

+ Hệ thống không chính thống (tà giáo, gọi là Natstika): không thừa nhận tính đúng đắn của Kinh Veda Gồm có cá trừơng phái Lokayata (triệt để theo CNDV), Jaina, Buddha (Phật giáo)

b Đặc điểm của triết học Ấn Độ cổ đại: (theo bài cô giảng trên lớp) 7 đặc điểm:

- Triết học chịu ảnh hưởng lớn của những tư tưởng tôn giáo và rất khó tách biệt với tư tưởng tôn giáo Trong các quan niệm triết học, kể cả quan niệm duy vật đều ẩn sau các lễ nghi tôn giáo huyền bí, và các nhà triết học cũng là những người làm công việc tôn giáo

- Triết học Ấn Độ phong phú, đa dạng nhưng biến đổi chậm chạp

Trang 2

- Triết học Ấn Độ ít có những cuộc cách mạng lớn, chủ yếu có tính cải cách Các trường phái đi sau thường kế thừa, bảo vệ, làm rõ quan điểm của trường phái đi trước

- Mỗi trường phái có một tác phẩm gốc

- Trong khi giải quyết những vấn đề bản thể luận, nhận thức luận và nhân sinh quan, triết học Ấn Độ cổ đại đã thể hiện trình độ biện chứng và tầm khái quát sâu sắc, đưa lại nhiều đóng góp cho kho tàng triết học nhân loại

- Học thuyết triết học Ấn Độ quan niệm đời sống con người phải giải thoát

- Triết học và tôn giáo, duy vật và duy tâm, biện chứng và siêu hình đan xen nhau, tạo nên nét đặc sắc riêng biệt

2 Nội dung Triết học Phật giáo:

Phật giáo ra đời cuối TK XVI TCN, do Thái tử Suddarta sáng lập, sau khi đắc đạo ông được gọi là Buddha (Phật) hay Thích Ca Mâu Ni

Tư tưởng triết học Phật giáo được trình bày trong kinh Tam tạng, bao gồm Tạng kinh, Tạng luận, và Tạng luật

a Bản thể luận (Thế giới quan): thể hiện ở nội dung của các phạm trù: vô tạo giả,

vô ngã, vô thường, và nhân duyên

- Vô tạo giả (không có đấng sáng tạo): Phật giáo bác bỏ Brahman và cho rằng thế giới không do vị thần nào sáng tạo ra Theo Phật giáo, mọi vật đều có nguyên nhân nhưng ko có nguyên nhân đầu tiên, do đó cũng ko có người sáng tạo đầu tiên

- Vô ngã (không có cái tôi): Thế giới, nhất là thế giới hữu tính – con người được cấu tạo do sự nhóm họp của các yếu tố vật chất (Sắc), và tinh thần (Danh) Danh và Sắc chỉ hội tụ với nhau theo một nhân duyên nào đó trong một thời gian ngắn rồi chuyển sang trạng thái khác, do vậy ko có cái tôi trường tồn, bất biến

- Vô thường: Bản chất của sự tồn tại Thế giới là một dòng biến chuyển liên tục, do đó không có cái gì là vĩnh hằng Vũ trụ là một hệ thống các quan hệ Thế giới sự vật hiện tượng luôn biến hiện theo chu trình: sinh-trụ-dị-diệt; thành-trụ-hoại-không

- Nhân duyên: Phật giáo cho rằng mọi sự vật, hiện tượng đều nằm trong quá trình vận động chịu sự chi phối của luật nhân duyên quả Nhân là nguyên nhân, quả là kết quả, duyên là điều kiện để nhân mau biến thành quả Trong quá trình

Trang 3

nhân quả tương tục, duyên vừa là kết quả của quá trình cũ, vừa là nguyên nhân của quá trình mới Có nhân, có duyên thì mới có quả, nhân nào quả nấy

Thế giới không tốt cũng không xấu, không hoàn thiện cũng không khiếm khuyết, không thiện cũng không ác Con đường phát triển của Thế giới được tiền định bởi nghiệp của con người Con người luôn bị ràng buộc bởi các quy luật tự nhiên Sự vận động của Thế giới do những nguyên nhân bên trong gây ra chứ ko

do tác động bên ngoài, bởi vì nó chính là quy luật, nguyên nhân hoặc tính tât yếu

b Nhân sinh quan: Là quan điểm về cuộc sống Phật giáo quan niệm bản thân con người được tạo thành do sự nhóm họp của Ngũ uẩn (sắc, thụ, tưởng, hành, thức) theo luật nhân-duyên-quả

- Thuyết luân hồi:

+ Luân hồi nghĩa là bánh xe quay tròn

+ Nghiệp báo: Do hành động của mình gây ra, phải chịu trách nhiệm từ kiếp này đến kiếp sau Sự xuất hiện của con người còn phụ thuộc vào nghiệp của kiếp trước Được trở lại làm người là do kiếp trước chưa tu thân triệt để, cuộc đời vẫn chưa thoát khỏi bể khổ Phật giáo ra đời để cứu khổ, cứu nạn,

để giải thoát con người khỏi vòng luân hồi khổ ải bất tận đó

+ Con đường giải thoát: chỉ có 1 cách là con người phải thành tâm, làm điều thiện, tu tâm, dưỡng tính

- Quan niệm về đời người: đời là bể khổ, nước mắt của chúng sinh nhiều hơn nước của 4 biển

Để giải thoát, giáo lý Phật giáo đưa ra quan điểm “Tứ Diệu đế”:

+ Khổ đế: Đời là bể khổ Cái khổ của cuộc đời gồm có Bát khổ: Sinh, lão, bệnh, tử, sở cầu bất đắc (muốn mà ko được), hu biệt ly (yêu mà phải xa), oán tăng hội (ghét mà phải gặp), ngũ uẩn (những khổ sở tiềm tàng trong người) +Nhân đế (Tập đế): Mọi cái khổ đều có nguyên nhân Phật giáo quan niệm

có 12 nguyên nhân gây ra khổ (thập nhị nhân duyên): Vô minh, duyên hành, duyên thức, duyên danh sắc, duyên lục nhập, duyên xúc, duyên thụ, duyên ái, duyên thủ, duyên hữu, duyên sinh, duyên lão tử Trong đó nguyên nhân gốc rễ

là vô minh (không sáng suốt) 12 nguyên nhân này khái quát bởi Tam độc là tham, sân, si

+ Diệt đế: Phật giáo khẳng định cái khổ có thể diệt được, có thể chấm dứt luân hồi để đến với Niết bàn, nơi bình an, hạnh phúc Mọi thứ phát sinh đều

Trang 4

tùy thuộc vào nguyên nhân và điều kiện, khi nguyên nhân bị loại bỏ thì kết quả ko còn tồn tại Muốn diệt khổ phải diệt tham, sân, si

+ Đạo đế: Phật giáo chỉ Tám con đường chính (Bát chính đạo) để giải thoát, diệt khổ, tức là tiêu diệt tham, sân, si là: chính kiến, chính tư duy, chính ngữ, chính nghiệp, chính mệnh, chính tinh tiến, chính niệm, chính định Bát chính đạo được thâu tóm vào Tam học là: Giới – giữ giới luật để diệt tham, Định – thực hành thiền định để diệt sân, Tuệ - khai thông trí tuệ để diệt si

3 Ý nghĩa:

Phật giáo là một tôn giáo lớn của thế giới Nhưng học thuyết Phật giáo có sự

kế thừa một cách chọn lọc truyền thống tư tưởng Ấn Độ Tư tưởng triết học Phật giáo mang tính duy vật chất phác và biện chứng sơ khai Tư tưởng vũ trụ của Phật giáo thể hiện lập trường triết học duy vật với cách nhìn biện chứng tổng thể của vũ trụ là một trong những tư tưởng tiến bộ khoa học của thời kỳ cổ đại, nó không những đã đặt nền móng cho sự phát triển của các xu hướng triết học duy vật ở Ấn độ mà nó còn góp phần thúc đẩy sự phát triển của các khoa học tự nhiên và của toàn bộ lịch sử triết học Phương Đông

Lý tưởng thiện chân trong học thuyết này thể hiện như là một đức tính tốt đẹp mà con người cần phải có, và có thể đạt được Mỗi con người muốn đạt được sự giải thoát phải thực sự nỗ lực trên cơ sở tự do lựa chọn của mình Để khẳng định phẩm chất đạo đức cá nhân, con người phải chiến thắng chính bản thân mình Trong khổ đau vả giải thoát ra khỏi nỗi đau đó, mọi người đều bình đẳng

Tuy nhiên, xu hướng xuất thế, lảng tránh cuộc sống thực tiễn trần thế là điểm yếu của Phật giáo Phật giáo khuyến khích con người tu luyện theo cách hướng nội, làm thay đổi tâm lý cá nhân chứ ko có mục đích cải tạo xã hội, cải tạo tự nhiên theo hướng tích cực

Trang 5

- Tiếp thu trên tinh thần tích cực, bài trừ mê tín dị đoan

b Trong hoạt động chuyên môn:

- Theo quan niệm Phật giáo, mọi nỗi khổ đều có nguyên nhân, bệnh tật cũng vậy Nguyên nhân gây ra nỗi khổ nằm trong chính bản thân con người Do vậy, để điều trị bệnh cần phải tim nguyên nhân và chữa lành nguyên nhân

đó Mặt khác, con người được cấu tạo từ vật chất và tinh thần (danh và sắc) nên chữa bệnh cho con người phải chú ý đến cả hai mặt thể xác và tinh thần

- Dựa vào thuyết “Tứ diệu đế”, y học đã đề ra những phương pháp chữa bệnh như Thiền (hành thiền duy trì sức khỏe vượt qua bệnh tật giúp giải trừ bệnh

để đi tới giải thoát Thiền mang lại an lạc, hạnh phúc, thiền có cái chánh niệm và để tự giác ngộ phải từ bỏ cái ngã), Khí công (giữ tâm bình, nghĩ và làm những điều thiện)

- Phật giáo đề cập nhiều đến đạo đức Làm trong ngành Y tế, chúng ta phải nỗ lực học tập và rèn luyện ko ngừng cả về chuyên môn và đạo đức

Câu 2: Đặc điểm Triết học trung Hoa cổ đại?

Nội dung Triết học Nho giáo của Khổng Tử?

Rút ra ý nghĩa và vận dụng vào hoạt động chuyên môn và đời sống? Trả lời:

1 Đặc điểm triết học Trung Hoa cổ đại:

a Hoàn cảnh kinh tế - xã hội:

Nền lịch sử Trung Hoa cổ đại chủ yếu xuất hiện vào thời Xuân thu-Chiến quốc kéo dài khoảng 500 năm bắt đầu từ TK VII, kết thúc ở TK II TCN Đây là thời kỳ chiếm hữu nô lệ ở phương Đông bắt đầu tan rã, xã hội Trung Hoa cổ đại trải qua nhiều biến động mạnh mẽ Thể chế thống nhất của nhà Chu phân hóa trong tình cảnh chiến tranh và bạo lực, đất nước bị chia cắt thành hàng trăm các quốc gia lớn nhỏ khác nhau Trong bối cảnh nói trên các nhà tư tưởng Trung Hoa với tinh thần ái quốc đã nghiên cứu, khởi thảo, phát triển các hệ thống lý luận, tìm hiểu phản ánh những nguyên nhân làm cho xã hội Trung Hoa biến động, phải tìm ra con đường đưa đất nước trở lại sự ổn định, thống nhất, thịnh trị

b Đặc điểm: 5 đặc điểm:

Trang 6

- Nền triết học Trung Quốc cổ đại mang màu sắc của những học thuyết chính trị xã hội, thể hiện tinh thần nhân bản và cách nhận thức con người và xã hội trên nền tảng của các giá trị cổ đại phương Đông Triết học Trung hoa cổ đại chú trọng đến lĩnh vực chính trị-đạo đức của xã hội, coi việc thực hành đạo đức là hoạt động thực tiễn căn bản nhất của một đời người, đặt lên vị trí thứ nhất của sinh hoạt xã hội

- Triết học Trung Quốc nhấn mạnh tinh thần nhân văn, lấy triết lý nhân sinh làm hạt nhân Còn triết học về tự nhiên thì mờ nhạt

- Triết học Trung Hoa cổ đại ít có những cuộc cách mạng lớn, chủ yếu là có tính cải cách Trường phái đi sau kế thừa và phát triển tư tưởng của các trường phái

đi trước (Giống với TH Ấn Độ cổ đại)

- Nền triết học Trung Quốc cổ đại không chú trọng nghiên cứu thế giới trong tính chỉnh thể thống nhất của nó, các nhà triết học ưu tiên nghiên cứu các vấn đề thuộc về xã hội và con người Triết học Trung Quốc cổ đại không đặt vấn đề nghiên cứu con người dưới dạng là một thực thể thống nhất giữa cái sinh học và cái xã hội Triết học Trung Quốc cổ đại không trực tiếp nêu lên hệ thống các khái niệm, nguyên lý của triết học với tư cách là công cụ của nhận thức triết học Các nhà triết học Trung Quốc cổ đại chỉ sử dụng hệ thống các khái niệm nói lên một cách gián tiếp nhằm thể hiện ý chí và mục đích chính trị xã hội của mình

- Phương thức duy vật và duy tâm đan xen vào nhau trong một trường phái triết học, không có sự phân biệt rạch ròi

2 Nội dung Triết học Nho giáo của Khổng Tử:

Nho giáo do khổng Tử sáng lập, có lịch sử lâu đời ở trung Quốc, ảnh hưởng lớn đến lịch sử nhà nước phong kiến Trung Quốc

Kinh điển của Nho giáo gồm có Tứ thư và Ngũ kinh

Nho giáo là một học thuyết với chủ trương giáo huấn đạo đức Học thuyết này lấy mục đích chính trị là thiết lập trật tự xã hội làm đầu và đạo đức làm phương tiện để thực hiện mục đích đó Vấn đề con người và đường lối trị nước là nội dung tư tưởng cơ bản nhất của Nho giáo

2.1 Vấn đề con người: Việc giải quyết vấn đề con người trong nho giáo cũng đồng thời là sự truy tìm điều cốt lõi của tưởng trị nước Học thuyết này chỉ chú trọng đến bản tính con người, các mối quan hệ người và giáo dục mà ko đề cập nhiều đến nguồn gốc con người

Theo quan điểm của Khổng Tử, bản tính con người là giống nhau, bởi lẽ

“người ta ai cũng ham thích giàu sang và chán ghét sự nghèo hèn” Tuy nhiên vì

Trang 7

nhu cầu đó và bị chi phối bởi tập tính và tập quán mà con người ngày càng xa nhau (Tính tương cận dã, tập tương viễn dã) Bản tính người là trời phú Không chỉ thế trời còn ban mệnh cho con người (Tư tưởng Thiên mệnh)

- Về các quan hệ người:

Đầu tiên phải kể đến quan hệ của con người với bản thân Nho giáo coi trọng

sự nghiêm khắc trong việc tu thân, tích đức Trước hết phải rèn luyện Ngũ thường (Nhân, lễ, nghĩa, trí, tín) Nam thì giữ Tam cương, Ngũ thường; nữ thì giữ Tam tòng (tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử), Tứ đức (công, dung, ngôn, hạnh)

Quan hệ của con người với người khác: Nho giáo lấy quan hệ gia đình làm xuất phát điểm Theo đó, Khổng Tử nêu ra Ngũ luân (5 quan hệ người có thứ bậc): quan hệ vua-tôi là nhân trung, quan hệ cha con là từ hiếu, quan hệ chồng

vợ là nghĩa tùy, quan hệ anh em là nhượng đễ, quan hệ bạn bè là tín Các mối quan hệ này dần quy về 3 mối quan hệ cơ bản nhất là Tam cương: vua-tôi, cha-con, chồng-vợ Tam cương chịu sự chi phối của học thuyết âm dương, ở đó vua, cha, chồng thuộc dương; tôi, con, vợ thuộc âm Âm phục tùng dương vô điều kiện (đây là những mối quan hệ một chiều): Quân xử thần tử, thần bất tử bất trung Phụ xử tử vong, tử bất vong bất hiếu Phu xướng, phụ tùy

- Về giáo dục con người: Nho giáo coi trọng giáo huấn đạo đức và hình thành nhân cách của mẫu người lý tưởng, giáo dục là biện pháp hữu hiệu nhất để thiết lập kỷ cương xã hội Chính Khổng Tử là người đầu tiên xây dựng nền giáo dục

tư thục ở Trung Quốc cổ đại với quan điểm “hữu giáo, vô loại”, nghĩa là không phân biệt giàu nghèo, vị thế xã hội, ai muốn học đều được học Theo ông, học cốt để nắm được đạo, tức là làm quan, trở thành người quân tử Nội dung giáo dục gồm Tứ giáo (văn, hạnh, trung, tín), nếu giải trí cần biết thêm lục nghệ (ngự,

xạ, thư, số, lễ, nhạc) Trước hết phải phân loại để dạy cho phù hợp Đối với hạng trung trí trở lên cần dạy cho những điều cao siêu thuộc hình nhi thượng; còn hàng trung trí trở xuống thì dạy những điều cần thiết để họ biết mà ứng xử trong cuộc sống được tốt hơn (Khổng tử chia con người ra làm 3 nhóm: Thánh nhân

là những người không cần học cũng biết; Quân tử là những người học cao hiểu rộng; Thảo dân là những người có học cũng không biết) Học phải đi đôi với tập, với suy tư, và phải biết đem những điều học được áp dụng trong cuộc sống

- Ngoài học tập, Khổng Tử còn kêu gọi từ Thiên tử chí thường dân, phải lấy

tu thân làm gốc, bởi lẽ có tu thân mới tề được gia, sau đó đến trị quốc và bình thiên hạ

Trang 8

2.2 Đường lối trị nước: Tư tưởng đức trị Nho giáo đề ra chủ trương trị nước bằng đạo đức, nghĩa là lấy đao đức để cảm hóa con người, cốt để con người biết

tự trọng, xấu hổ mà ko vi phạm pháp luật Người cầm quyền không chỉ lấy đức

để trị nước cho thiên hạ theo về, mà còn phải nêu gương đạo đức cho thiên hạ học tập Đức của người cầm quyền được thể hiện qua 3 phạm trù cơ bản là Nhân, Lễ, và Chính danh

- Nhân là phạm trù đạo đức cao nhất và bao trùm nhất với nội dung là yêu thương con người Nhân là trung thứ, tức là suy ta ra người: những gì mình muốn thành đạt thì giúp người cùng đạt, những gì mình ko muốn thì đừng làm cho người Hiếu đễ là gốc của nhân, tuân thủ lễ để làm người có nhân

- Lễ bao gồm lễ nghi tế tự và nghi thức ứng xử Nho giáo chú trọng cả hai phương diện, song nghi thức ứng xử được các nhà sáng lập của nó đề cập nhiều hơn, bởi lẽ lễ là nguyên tắc ứng xử của con người Nhà vua lấy lễ để sai khiến bề tôi, còn bề tôi lấy trung mà thờ vua

- Chính danh là biện pháp chống lại sự tiếm quyền, vượt quyền Mỗi người đều có bổn phận của mình và hoạt động trong phạm vi bổn phận mang tính tiền định đó “Danh có chính thì ngôn mới thuận, ngôn có thuận thì việc mới thành, việc thành thì lễ nhạc mới cất lên được và dân đỡ lúng túng” Như vậy, Danh gắn liền với định phận (tiền định)

Ba phạm trù trên là điều kiện cần nhưng chưa đủ Khổng Tử còn yêu cầu người cầm quyền phải có Trí và Dũng Trí để phân biệt phải trái Dũng là có đủ can đảm

để làm việc nghĩa Ngoài ra, ông còn yêu cầu người cầm quyền phải “cung, khoan, tín, mẫn, huệ”

Trên cơ sở học thuyết đức trị của Khổng Tử, Mạnh Tử nêu tư tưởng trị nước Nhân chính và Thống nhất Nhân chính đề cao vị thế của dân: nhà cầm quyền phải chú trọng đến đời sống của dân, lo cho dân có của ăn của để, làm được điều đó mới mong đợi sự hằng tâm của dân Ông còn có tư tưởng dân chủ khi cho rằng, những

kẻ tàn ác mà cầm quyền thì sẽ bị trời và dân lật đổ Mạnh tử còn có chủ trương Thống nhất, chống chiến tranh và cát cứ Quan điểm này xuất phát từ thực trạng xh Trung Quốc cổ đại thời Chiến quốc loạn lạc, chiến tranh triền miên

Đến Đổng Trọng Thư, việc phục hồi vị thế Nho giáo Khổng-Mạnh được xem là tâm điểm trong học thuyết Hán Nho, đưa Nho giáo lên vị trí độc tôn, làm trụ đỡ cho hệ tư tưởng của nhà nước phong kiến trung ương tập quyền Thuyết Thiên mệnh của Nho giáo Khổng-Mạnh được luận giải, nhờ đó trời được nhân cách hóa

và trở thành thủy tổ của loài người Yếu tố thần quyền thực chất là thay thế cho

Trang 9

pháp trị hà khắc mà nhà Tần đã sử dụng để trị nước Nhờ sự kết hợp đức trị với thần quyền như vậy mà chế độ phong kiến tập quyền ở Trung Hoa duy trì sự tồn tại của nó hơn 1000 năm

Với chủ trương coi trọng đạo đức, Nho giáo đã góp phần tạo dựng cho con người lối sống có trách nhiệm với gia đình, đất nước, với cả chính mình, và đặc biệt là coi trọng trật tự, kỷ cương Nho giáo đã tạo ra một cộng đồng xã hội có tôn

ti, trật tự, hòa mục từ trong gia đình đến đất nước, thiên hạ

Nho giáo khuyến khích mọi người đi sâu tìm hiểu những quan hệ xã hội, những vấn đề của thực tiễn chính trị, pháp luật và đạo đức

Các quy định về nghi thức, lễ nghi và thuyết Chính danh của Khổng tử giúp cho

xã hội sắp xếp quy cũ, trật tự và luôn đề cao việc tuân thủ các đạo đức ứng xử trong gia đình và xã hội Điều này mang lại cho con người thói quen và hình thành nên truyền thống được lưu truyền qua nhiều thế hệ

4 Vận dụng: (Tham khảo)

Tiếp thu những ưu điểm và khắc phục những hạn chế từ triết học Nho giáo của Khổng Tử, chúng ta có thể vận dụng vào đời sống và hoạt động chuyên môn

- Trong đời sống:

Tu thân: Bản thân phải không ngừng học tập, tu dưỡng kiến thức và đạo đức

để xây dựng cuộc sống gia đình, và góp phần xây dựng xã hội

Nho giáo hướng con người vào con đường ham học hỏi Học đi đôi với thực hành để đạt hiệu quả cao

Nhân: Trong đối nhân xử thế, việc gì mình không thích thì không làm với người khác, có thái độ khiêm nhường, sống có nhân-lễ-nghĩa-trí-tín Cư xử đúng mực với mọi người

Sống có trật tự, kỷ cương

Có lòng yêu nước và trung thành với Tổ quốc

Coi trọng đạo hiếu: kính trên, nhường dưới, hiếu thảo với cha mẹ, thương yêu anh chị em

Trang 10

Không vi phạm pháp luật

- Trong hoạt động chuyên môn ngành y:

Trong ngành y, phải tìm nguyên nhân của bệnh để tìm ra cách điều trị chứ ko

đổ lỗi do trời Phải đứng trên lập trường khoa học để giải thích cho bệnh nhân hiểu, đi ngược lại tư tưởng “thiên mệnh”

Người thầy thuốc ngoài chuyên môn (trí) vững vàng còn phải có đạo đức nghề nghiệp: tận tụy, yêu thương bệnh nhân (nhân), có trách nhiệm với công việc (nghĩa), thực hiện đúng quy chế, chuẩn mực trong cư xử (lễ), nói đi đôi với làm (tín), và quyết tâm đến cùng vì mục đich đúng đắn (dũng)

Không ngừng học hỏi, rèn luyện, trau dồi kiến thức chuyên môn để phục vụ cho công việc

Đề cao y đức Thực hiện lời thề Hyppocrates Người thầy thuốc phải thông cảm với nỗi đau của bệnh nhân, xem bệnh nhân cũng như chính bản thân mình Tận tình thăm khám, cứu chữa, ko phân biệt giàu nghèo, sang hèn, không làm trái lương tâm nghề nghiệp, không vì bất cứ lý do gì mà làm điều bất nhân Luôn giữ lễ nghĩa và có lòng nhân ái với tất cả bệnh nhân và đồng nghiệp Coi trọng đạo đức nghề nghiệp

Bên cạnh điều trị bệnh đúng theo phác đồ, bác sỹ cũng cần quan tâm, ân cần, động viên người bệnh, để họ tin tưởng, hợp tác, không buông xuôi

Xem trọng nghĩa hơn danh lợi Coi trọng những việc đem lại lợi ích chung

Câu 3: Đặc điểm triết học Hy Lạp cổ đại?

Nội dung cốt lõi triết học Hy Lạp cổ đại?

Đánh giá những giá trị và hạn chế của Triết học Hy Lạp cổ đại?

Trả lời:

1 Đặc điểm triết học Hy Lạp cổ đại:

1.1 Điều kiện ra đời:

Hy Lạp cổ đại là quốc gia rộng lớn nằm ven biển Địa Trung Hải, có khí hậu

ôn hòa, có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho trồng trọt, phát triển hàng hải và giao thương với các nước Tiểu Á, Bắc Phi và các nước phương Đông Nhờ vậy, Hy Lạp

cổ đại sớm trở thành một quốc gia có một nền công thương nghiệp phát triển, một nền văn hóa tinh thần phong phú đa dạng

Thế kỷ XV-IX TCN: chế độ công xã nguyên thủy tan rã, chế độ chiếm hữu

nô lệ hình thành TK VIII – VI trước CN, nhân loại chuyển từ thời đại đồ đồng

Trang 11

sang đồ sắt, năng xuất lao động tăng nhanh, sản phẩm dồi dào, chế độ sở hữu tư nhân được cũng cố, kéo theo phân công lao động, thúc đẩy trao đổi, buôn bán, giao lưu với các vùng lân cận

Từ điều kiện kinh tế đã dẫn đến sự hình thành chính trị - xã hội, xã hội phân hóa ra làm hai giai cấp xung đột nhau là chủ nô và nô lệ Lao động bị phân hóa thành lao động chân tay và lao động trí óc Đất nước bị chia phân thành nhiều nước nhỏ

Thế kỷ II TCN, Hy Lạp bị đế quốc La Mã xâm chiếm và đô hộ Tuy nhiên,

La Mã lại bị Hy Lạp đồng hóa về văn hóa

Vì điều kiện kinh tế, nhu cầu buôn bán, trao đổi hàng hóa mà các chuyến vượt biển đến với các nước phương Đông trở nên thường xuyên Tất cả các lĩnh vực, những yếu tố của nước bạn đều được người Hy Lạp đón nhận

Trong thời đại này Hy Lạp đã xây dựng được một nền văn minh vô cùng sáng lạng với những thành tựu rực rỡ thuộc các lĩnh vực khác nhau, từ văn học, nghệ thuật đến luật pháp, toán học, thiên văn, vật lý Và đặc biệt, người Hy Lạp

cổ đại đã để lại một di sản triết học vô cùng đồ sộ và sâu sắc

- Tính đa dạng muôn vẻ và sự phân cực quyết liệt: có những trường phái đối lập nhau ngay từ đầu, không có sự đan xen vào nhau như triết học phương Đông

Sự phân cực đó thể hiện ở hai quan điểm: duy vật, và duy tâm

- Tính biện chứng chất phác sơ khai Thể hiện trong sự khám phá các quy luật

tự nhiên, các quy luật nhận thức Các nhà triết học đã nhìn nhận các sự vật, hiện tượng và thế giới trong sự biến đổi nhưng đó chỉ là kết quả của cảm nhận trực quan, thiếu tính liên hệ sâu sắc, phổ biến, bản chất Các nhân tố cấu thành thế giới

mà các nhà triết học duy vật Hy Lạp cổ đại hướng tới thường là các yếu tố trực quan trong đời sống hàng ngày như đất, nước lửa, không khí…

- Nổi bật tính nhân văn sâu sắc, thể hiện qua sự kết hợp lý trí-đức hạnh, khôn ngoan-mực thước, khát vọng tự do-trách nhiệm công dân

Trang 12

Với tư cách là kho tàng tri thức tổng hợp, kết tinh từ những gì tinh túy nhất

mà nhân loại đã tích lũy được, triết học Hy lạp cổ đại đã dung chứa hầu hết các vấn

đề của thế giới quan và là tiền đề cho sự phát triển của toàn bộ triết học phương Tây về sau

2 Nội dung cốt lõi Triết học Hy Lạp cổ đại:

Đỉnh cao của nền văn minh cổ đại đó chính là triết học Hy Lạp cổ đại, và cũng là điểm xuất phát của lịch sử thế giới Về cơ bản các nhà triết học cổ đại Hy lạp kể cả các nhà triết học duy vật và các nhà triết học duy tâm đều cố gắng phát triển lý luận triết học dưới dạng một hệ thống bao gồm lý luận về học thuyết tồn tại phản ánh thế giới quan

- Quan điểm của chủ nghĩa duy vật:

Thales là nhà triết học đầu tiên Ông là người đầu tiên giải thích về vũ trụ: vạn vật không bắt nguồn từ thần linh mà bắt đầu từ nước

Democrit đưa ra thuyết nguyên tử luận: thế giới có cấu tạo từ nguyên tử, nguyên tử là đơn vị nhỏ nhất không thể phân chia được, các nguyên tử đồng nhất

về mặt chất lượng nhưng khác nhau về mặt số lượng và cấu trúc Về vận động nguyên tử được quy về vận động cơ học tức là sự dịch chuyển, thay đổi vị trí của nguyên tử và các vật thể ở trong không gian

Heraclit coi bản nguyên của thế giới là lửa Vũ trụ không phải do Thượng Đế hay một lực lượng siêu nhiên nào đó tạo ra, mà nó “đã” và “đang” sẽ mãi mãi là ngọn lửa vĩnh hằng không ngừng bùng cháy và lụi tàn theo quy luật nội tại của chính mình Ông xem thế giới “vừa tồn tại vừa không tồn tại”, “không ai tắm hai lần trong một dòng sông” Thế giới vật chất “vừa đa dạng vừa thống nhất, vừa mang tính hài hòa vừa xung đột” Ông đã thừa nhận sự thống nhất mâu thuẫn của 2 mặt vận động và đứng im, sinh thành và hiện hữu Heraclit cũng là người đầu tiên nêu ra mối quan hệ giữa nội dung khách quan của cái phản ánh với hình thức chủ quan của quá trình phản ánh chính là tư duy của con người có thể phản ánh phù hợp tương đối với đối tượng phản ánh đó là mối quan hệ biện chứng giữa nội dung

và hình thức Heraclit cũng là người đầu tiên đã trình bày khái niệm Logos Logos

là sự thống nhất giữa các yếu tố tạo nên sự vật nhưng nó không phải là sự thống nhất giữa các yếu tố rời rạc mà là sự thống nhất của những mối liên hệ tất yếu ở trong quá trình các yếu tố của sự vật thường xuyên liên hệ tác động qua lại và quy định lẫn nhau Heraclit khẳng định tư duy của con người là logos chủ quan, có thể phản ánh phù hợp tương đối với logos khách quan

Trang 13

Empedocles thừa nhận khởi nguyên của thế giới là bốn yếu tố : đất, nước, lửa và không khí

Anaxagorax cho rằng cơ sở đầu tiên của tất cả mọi sự vật là “những hạt giống” Anaxagorax xem “ mọi cái được trộn lẫn trong mọi cái”

- Quan điểm của chủ nghĩa duy tâm:

Pitago là nhà triết học, toán học uyên bác Ông cho rằng “con số” là bản nguyên của thế giới, là bản chất của vạn vật Một vật tương ứng với một con số nhất định, con số có trước vạn vật Và tư tưởng Pitago cũng thừa nhận sự bất tử và luân hồi của linh hồn

Xénophane cho rằng mọi cái đều từ đất mà ra, và cuối cùng trở về đất Đất là

cơ sở của vạn vật Cùng với nước, đất tạo nên sự sống của muôn loài

Parménide cho rằng, “tồn tại” là bản chất chung thể hiện tính thống nhất của vạn vật trong thế giới, mang tính khái quát cao, và nhận thức bởi tư duy, lý tính

Zeno đưa ra những Aporic nghĩa là tình trạng không có lối thoát hay nghịch

lý Thông qua chúng, ông chứng minh rằng, “tồn tại là đồng nhất, duy nhất là bất biến” Còn tính phức tạp, đa dạng và vận động của thế giới là không thực

Platon là nhà triết họ duy tâm xuất sắc nhất Ông cho rằng thế giới bắt nguồn

từ ý niệm tuyệt đối

Socrate, khác với nhiều nhà bác học khác là không nghiên cứu về giới tự nhiên, ông dành phần lớn nghiên cứu về con người, đạo đức, về nhân sinh quan Triết học không gì khác hơn là sự nhận thức của con người về chính mình Ông cho rằng, “Hiểu biết là cơ sở của điều thiện, ngu dốt là cội nguồn của cái ác, và chỉ

có cái thiện phổ biến mới là cơ sở của đạo đức, mới là cơ sở của đức hạnh”

- Quan niệm của chủ nghĩa nhị nguyên:

Aristote là học trò xuất sắc của Platon, nhưng đặc biệt ông phê phán học thuyết “ý niệm” của Platon Ông cho rằng thuộc tính quan trọng của thế giới là

“vận động” Tự nhiên là toàn bộ của sự vật có một bản thể vật chất mãi mãi vận động và biến đổi Thông qua vận động mà giới tự nhiên được thể hiện Aristot là người khởi đầu xây dựng logic học với tư cách là logic nhận thức ông đã chỉ ra mối quan hệ phụ thuộc và kéo theo tạo ra sự phát triển của nhận thức như mối quan hệ giữa khái niệm và phán đoán, giữa phán đoán và suy luận chính là cơ sở hình thành

tư duy trừu tượng Aristot là người đầu tiên đưa ra lý thuyết về Tam đoạn luận (tư duy 3 đoạn)

Tuy nhiên, triết học của Aristote còn hạn chế, dao động giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm

Trang 14

3 Những giá trị và hạn chế của Triết học Hy Lạp cổ đại:

3.1 Giá trị:

- Triết học Hy Lạp cổ đại như hồi chuông thức tỉnh giấc mộng thần thánh muôn đời của người dân Hy Lạp, tách ly vai trò của thần thánh ra khỏi ý thức hệ của con người

- Vai trò của tự nhiên và con người được đề cập một cách khách quan Nhằm đi đến tìm hiểu con người và tự nhiên từ đâu mà có và đi về đâu Tư tưởng của các triết gia về vấn đề con người và xã hội phản ánh thực tiễn điều kiện, hoàn cảnh kinh tế, xã hội Hy Lạp giai đoạn này

- Đạo đức lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại được đề cập

- Triết học Hy Lạp cổ đại đã đánh dấu sự xuất hiện và cũng là cơ sở để phát triển những tư tưởng mới, tiến bộ, và là nền tảng cho các trường phái triết học sau này

- Khoa học Duy nghiệm và Duy lý manh nha hình thành

- Trả lời phần nào câu hỏi: Con người có khả năng nhận thức thế giới không? 3.2 Hạn chế:

- Triết học cổ Hy Lạp còn nằm trên tư duy trừu tượng là chủ yếu

- Quan điểm duy vật mới chỉ dừng lại ở tính mộc mạc, sơ khai

- Các vấn đề triết học còn chưa rõ ràng, còn rời rạc chưa hệ thống hóa một cách chặt chẽ

- Do hạn chế của sự khái quát thuộc về trình độ nhận thức đặc trưng của thời đại nên các nhà triết học đồng nhất vật chất với một hoặc một số dạng biểu hiện của vật chất, làm hạn chế vai trò phương pháp luận của triết học và không đáp ứng được sự phát triển của khoa học tự nhiên trong quan niệm về vật chất

- Tuy có đề cập đến vai trò của con người, nhưng chưa hoàn toàn tách khỏi yếu tố thần linh

Ngày đăng: 04/12/2018, 07:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w