CƠ SỞ VĂN HÓA CÁC VÙNG MIỀN Giảng viên Tạ Lan Khanh ĐỀ TÀI 1 VÙNG TÂY BẮC VIỆT NAM LỊCH SỬ Vùng Tây Bắc hình thành cách đây khoản 500 triệu năm Thuở ấy cư dân Tây Bắc vẫn là một bộ phận của nền văn minh đồng thau Đông Sơn với trống đồng và công cụ bằng đồng Lúc đầu vùng này chỉ là biển và chỉ có một số đỉnh ở dãy Hoàng Liên Sơn và dãy Sông Mã là nổi trên mặt biển Sau bao nhiêu lần biển liên tục rút ra xa và lấn vào suốt hàng trăm triệu năm thì trong quá trình đó có sự lún mạnh tạo thành các ph.
Trang 1CƠ SỞ VĂN HÓA CÁC VÙNG MIỀN
Giảng viên: Tạ Lan Khanh
Cách đây khoảng 150 triệu năm chu trình tạo núi Indochina làm cho hai bờ địamáng từ từ tiến lại gần nhau, khiến cho trầm tích trong địa máng uốn lên thành nếpuốn khổng lồ, đồng thời làm cho tầng đá vôi có tuổi cổ hơn lại trồi lên tầng đáphiến, tạo thành cao nguyên với ngày nay Trong quá trình tạo núi, còn có sự xâmnhập của Macma Kết quả là vùng Tây Bắc được năng lên với một biên độ đến1000m và cuối cùng hình thành vùng Tây Bắc cho đến ngày nay
VỊ TRÍ ĐỊA LÍ:
Tây Bắc là một vùng miền núi phía Tây của miền bắc VN, là một trong ba tiểuvùng của Bắc Bộ Việt Nam bao gồm các tỉnh như : Mường Lay, Lai Châu, LàoCai, Điện Biên, Sơn La, Yên Bái và có chung đường biên giới với Lào và TrungQuốc (có những khó khăn và thuận lợi nhất định : thuận lợi giúp chúng ta giao lưuvăn hóa, văn nghệ, trao đổi mua bán giữa nước bạn và ta; khó khăn phải luônkhẳng trương cảnh giác bảo vệ, lãnh thổ chủ quyền của quốc gia) Vùng Tây Bắcđược giới hạn ở phía đông là dãy Hoàng Liên Sơn và phía Tây là dòng sông Mã.Thực chất, Vị trí địa lí của vùng Tây Bắc vẫn chưa được nhất trí, có ý kiến chorằng đây là vùng nằm ở hữu ngạn sông Hồng (phía nam), nhưng có một số ý kiếncho rằng đây là vùng phía nam của dãy núi Hoàng Liên Sơn
Địa hình Tây Bắc có núi cao hiểm trở, có nhiều khối núi và dãy núi chạy theohướng Tây Bắc-đông nam trong đó có dẫy Hoàng Liên Sơn dài 180km, rộng 30km,được người Thái nơi đây gọi là “sừng trời” (Khau Phạ), đây chính là bức tường
Trang 2thành phía đông và vùng Tây Bắc Bên cạnh đó, ở Tây Bắc còn có một số ngọn núicao như Phanxiphang 3143m, Yam Phinh 3096m, Pu Luông 2983m
Vùng Tây Bắc có hai con sông lớn là sông Đà (người thái gọi là Nặm Tẻ) và sôngThao (tức sông Hồng), thượng nguồn của sông Mã cũng nằm trên vùng đất TâyBắc, phía tây của tỉnh Sơn La Các con sông này không chỉ là cơ sở cho sự định cưcủa các dân tộc nơi đây cũng như vùng nông nghiệp trong vùng mà còn là nguồncảm hứng cho cho những tác phẩm truyện, câu hát, truyền thuyết của các dân tộcnơi đây như Thái, Mường,….vùng Tây Bắc có các dãy cao nguyên đá voi từ phongthổ đến thanh hóa chia nhỏ thành các cao nguyên như Tà Phình, Mộc Châu, Nàsản,…mặc khác do địa hình chia cắt bởi các dãy núi, các long sông, khe suối, tạonên các thung lũng, có nơi lớn thành lòng chảo như vùng Nghĩa Lộ, Điện Biên,…khí hậu vùng Tây Bắc ngả sang á nhiệt đới và nhiều nơi cao như Sìn Hổ thì có khíhậu ôn đới nên vùng Tây Bắc có khí hậu vô cùng độc đáo chẳng hạn vào giũa mùađông, ở thung lũng Mường La, người ta mặc áo tay ngắn còn ở Mọc Châu người talại mặc áo ấm nhưng cũng không tránh khỏi cái lạnh Do vậy mà thiên nhiên TâyBắc rất đa dạng tạo nên các nét đẹp văn hóa của các dân tộc của vùng Tây Bắc
ĐẶC ĐIỂM DÂN CƯ
Về mặt hành chính, vùng Tây Bắc hiện nay gồm 6 tỉnh với diện tích trên 5,645triệu ha với 4.713.048 dân , bình quân khoảng 88 người/km2
Mường là dân tộc có dân số lớn nhất vùng (Mộc châu,thái nguyên, Điện Biên, Sơn
la, Yên Bái) Ngoài ra, còn khoảng 20 dân tộc khác như Mông, Dao, Tày, Kinh,Nùng,
Tây Bắc là vùng có sự phân bố dân cư theo độ cao rất rõ rệt:
Vùng rẻo cao (đỉnh núi) là nơi cư trú của các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Mông Dao, Tạng Miến,với phương thức lao động sản xuất chủ yếu là phát nương làm rẫy,phụ thuộc rất nhiều vào thiên nhiên;
-Vùng rẻo giữa (sườn núi) là nơi cư trú của các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Môn
- Khmer, phương thức lao động sản xuất chính là trồng lúa cạn, chăn nuôi gia súc
và một số nghề thủ công;
Còn ở vùng thung lũng, chân núi là nơi sinh sống của các dân tộc thuộc nhóm ngônngữ Việt - Mường, Thái - Kadai, điều kiện tự nhiên thuận lợi hơn để phát triểnnông nghiệp và các ngành nghề khác
Trang 3Địa hình Tây Bắc chủ yếu là đồi núi, địa hình chia cắt, khí hậu khắc nghiệt,thường xuyên xảy ra thiên tai (lũ ống, lũ quét, sạt lở đất đá, cháy rừng…), do vậynông nghiệp không phải là thế mạnh, nhưng nó lại góp phần quan trọng cho việchình thành những nét văn hóa truyền thống của khu vực.
Sự khác biệt về điều kiện sinh sống và phương thức lao động sản xuất cũnggây ra sự khác biệt văn hóa rất lớn mặc dù văn hóa chủ thể và đặc trưng là văn hóadân tộc Mường
VĂN HÓA SẢN XUẤT
Văn hóa nông nghiệp có thể được xem là một yếu tố làm nên nét độc đáo của vùngTây Bắc
- Văn hóa nông nghiệp thung lũng Thái nổi tiếng vì hệ thống tưới tiêu, được góigọn trong 4 từ văn vần “Mương – Phai – Lái – Lịn”
• “Phai”: Lợi dụng độ dốc của dòng chảy, người ta lấy đá ngăn suối làm dốc lêncao
• “Mương”: Phía trên “phai” xẻ một đường chảy lên dẫn vào cánh đồng
• “Lái”: Từ “mương” xẻ những rãnh chảy vào ruộng
• “Lịn”: Cách lấy nước từ nguồn trên núi cao, dẫn về ruộng, về nhà, bằng các câytre đục rỗng mấu, nối tiếp nhau, có khi dài hàng cây số
- Nuôi cá ngay trong mực nước của ruộng (do chủ động tưới tiêu nên người Tháinuôi cá ngay trong mực nước của ruộng, gặt lúa xong là tháo nước bắt cá, cá nuôitrong ruộng vừa ăn sâu bọ cỏ dại, vừa sục bùn cho tốt lúa
Do đó, món dâng cúng trong lễ cơm mới bao giờ cũng có xôi và cá nướng Món cábiểu hiện cho lòng hiếu khách:
“Đi ăn cá, về nhà uống rượu
Ở thì ngủ đệm, đắp chăn ấm”
Nương rẫy là một bộ phận bổ sung không thể thiếu Với nương, đồng bào có lúa,rau quả như bầu bí, rau cải, đậu, vừng, ớt,…Bông và tràm cũng được trồng trênnương
Ruộng bậc thang cũng là yếu tố làm nên vẻ đẹp của vùng núi Tây Bắc như Tạp chí
Mỹ Travel & Leisure đã so sánh những thửa ruộng tại SaPa như là “Những bậcthang dẫn lên trời” (Ladder to the sky)
Trang 4 VĂN HÓA ẨM THỰC
Đó là toàn bộ môi trường văn hóa dinh dưỡng của con người như cách trang trí vàcách thức ăn uống, nghi thức và nghi lễ, thực phẩm như biểu tượng của sự tinhkhiết hoặc đặc sản của một khu vực
Do sự ảnh hưởng của những điều kiện về địa lý, tự nhiên, lịch sử và đặc biệt là sựhòa hợp của nhiều dân tộc trong văn hóa đã khiến cho ẩm thực Tây Bắc đa dạng,phong phú và nhiều nét đặc trưng riêng không nơi nào có được
Đặc điểm chung nhất mà chúng ta có thể thấy trong thức ăn của các dân tộc vùngTây Bắc đó là tất cả món ăn đều được chế biến từ các nguyên liệu hoàn toàn tựnhiên như gạo nếp, gạo tẻ; các loại thịt như thịt trâu, thịt bò, cá, gà và một nguyênliệu đặc biệt không nơi nào có là hoa ban
Hoa ban là một đặc trưng trong văn hóa ẩm thực của các dân tộc Tây Bắc Hoa ban
có rất nhiều loại nhưng nhiều nhất vẫn là ban trắng Hoa ban có vị hơi chát, hơingọt và bùi chứa nhiều vitamin, chất sơ và một số chất có ích cho cơ thể Vì vậy,người dân nơi đây đã sử dụng hoa, lá non và hạt ban để chế biến các món ăn hằngngày trong gia đình
Tây Bắc là nơi có rất nhiều dân tộc thiểu số sinh sống, mỗi dân tộc đều cónhững món ăn truyền thống riêng, mang đậm sắc thái dân tộc mình NgườiH’Mông có món mèn mén, người Tày nổi tiếng với thắng cố, người Thái được biếtđến nhiều qua các món nướng như: cá, gà, thịt lợn
Mắc khén – đệ nhất gia vị vùng núi Tây Bắc Mắc khén là một trong những loại gia
vị độc đáo mà núi rừng ban tặng cho người dân nơi đây Đa phần các món ăn đặctrưng ở đây đều không thể thiểu sự góp mặt của mắc khén Khiến ai một lầnthưởng thức qua đều không thể nào quên được
Ngoài mắc khén, hạt dổi cũng là một gia vị đặc trưng của Tây Bắc Người tathường dùng hạt dổi để tẩm ướp các món nướng như gà, thịt, sườn Ngoài ra,chúng còn được giã nhỏ với muối, chanh, ớt thứ nước chấm thanh thanh chua chuadùng để chấm thịt gà, thịt luộc thì không một thứ nước chấm nào có thể sánh được.Hay đơn giản nhất chấm xôi trắng với muối rang hạt dổi cũng đã đủ thơm ngon Nhắc đến Tây Bắc thì không thể không nhắc đến đỉnh núi Phanxipang – nóc nhàĐông Dương Ở đây nổi tiếng với món cơm lam SaPa, một món ăn phổ biến và rấtđược yêu thích bởi hương vị của gạo nếp Tây Bắc, nước suối và hương thơm nhẹnhàng của tre Đây là món ăn đơn giản nhưng cách chế biến độc đáo đã mang đến
ấn tượng khó phai với những ai đã từng thưởng thức
Trang 5Ở vùng núi Tây Bắc vào ngày Tết hoặc các ngày lễ lớn, xôi ngũ sắc là món ănkhông thể thiếu Xôi ngũ sắc gồm màu trắng, vàng, đỏ, xanh lá, tím và hồng Tất cảđều được chế biến từ những nguyên liệu tự nhiên của cây lá vùng núi Người dânvùng cao tin rằng, vào các ngày trọng đại, ăn món xôi này sẽ mang lại may mắn vàhạnh phúc cho cả năm
Ẩm thực Tây Bắc là thiên đường món ăn trong đó phải kể đến thịt trâu gác bếp.Đây là món ăn đặc trưng của dân tộc thiểu số Thịt trâu gác bếp có vị ngọt đậm đàhòa với các gia vị khác tạo nên sức hấp dẫn cho đặc sản vùng cao Ngoài thịt trâu,người dân cũng có thể dùng thịt bò hoặc thịt lợn để chế biến món thịt gác bếp này.Trên đây là những nét đặc trưng tiêu biểu của ẩm thực Tây Bắc, có thể thấy Ẩmthực của vùng Tây Bắc vô cùng phong phú và đặc sắc, là nơi hội tụ của các dân tộcthiểu số mang nét đặc trưng riêng của văn hóa núi rừng nơi đây
VĂN HÓA CƯ TRÚ:
Trước hết xin bắt đầu từ văn hóa “đời thường” Mỗi dân tộc khác nhau thường xâydựng nhà ở với lối kiến trúc khác nhau nên tạo nên một Tây Bắc rất riêng biệt.Còn với người Dao họ lại tạo nên những công trình nửa trệt, nửa sàn phong phú.Những thiết kế ba gian, chắp thép lại với nhau bằng những nguyên liệu rời rạc.Người Mông thường xây dựng nhà trệt không gác Nhà ở gồm ba gian với kết cấuchắc chắn được làm bằng gỗ, gian chính được người dân sử dụng làm bàn thờ tổtiên, gian ngoài dành cho nam sinh hoạt, gian trong dùng cho việc bếp núc
Dù xây dựng theo lối kiến trúc nào đi chăng nữa, mỗi kiến trúc đều thể hiện rõràng văn hóa Tây Bắc Hẳn là những nét phác họa ở đây cũng chỉ là gợi mở về mộtvùng văn hóa đa dạng và độc đáo
LÀNG XÃ
Về phương diện VHXH hay cụ thể hơn là VH làng xã, Có thể thấy, nét đặc trưngkhi nhắc về Tây Bắc không chỉ là sự độc đáo đến từ những ngôi nhà sàn mà còn lànhững bản làng mang những nét đẹp truyền thống của các dân tộc đang sinh sốngtại đây
Chúng ta có thể hiểu Bản làng là xóm làng ở vùng dân tộc thiểu số hoặc ở vùnghẻo lánh miền Bắc Việt Nam Và Người đứng đầu ở các bản làng thường được gọi
là “già làng, trưởng bản” tuy vậy, họ cũng có những điểm khác biệt như sau
Già làng Trưởng bản (thôn)
Trang 6Người đại diện cho một dòng họ của một tộc người nào đó được mọi người tựnguyện tin, theo Hay nói cách khác già làng là được dân làng bầu vào chức vụ này
Nhờ vào sự quản lý của các già làng, trưởng bản mà những bản làng ở vùngTây Bắc vẫn còn giữ được những nét truyền thống như Bản Tả Phìn của đồng bàongười Dao và H’Mông; Lao Chải – Tả Van của người H’Mông và Giáy hay là Bản
Ý Linh Hồ của người Dao… Tiêu biểu là bản Giang Mỗ và Bản Cát Cát
Bản Cát Cát của dân tộc H’Mong, nằm ngay dưới chân dãy Hoàng Liên Sơn.Những ngôi nhà của người Mông ở bản Cát Cát dựa lưng vào sườn núi, mỗi ngôinhà chỉ cách nhau vài mét Ngoài nơi ở còn có nơi sản xuất: họ trồng lúa trênruộng bậc thang, trồng ngô trên núi theo phương pháp canh tác thủ công, sản lượngthấp Phần lớn nhà cửa đều đơn giản, chỉ có một cái bàn, cái giường và bếp lửa nấunướng Kiến trúc nhà cửa người Mông bản Cát Cát vẫn còn nhiều nét cổ
Hay chúng ta còn có thể biết đến bản Giang Mỗ Đây là nơi sinh sống củangười Mường, cả bản có tất thảy 117 ngôi nhà sàn với 460 nhân khẩu Cuộc sốngcủa người dân nơi đây gắn với trồng trọt và chăn nuôi Ngoài ra, kiến trúc độc đáocủa những ngôi nhà “rùa” là nét đặc trưng riêng có nhất tại nơi đây Nhà sàn củangười Mường thường được xây dựng ở nơi có địa thế cao, từ đó có thể đón luồnggió mát lành tự nhiên của đất trời
ĐI LẠI
Địa hình vùng Tây Bắc có thể tạo ra nhưng nét đặc trưng về văn hóa từ nhà ở đếncác bản làng Nhưng cũng và vấn đề khó khăn khiến mạng lưới giao thông của TâyBắc chưa phát triển, nhiều nơi vẫn chưa có tuyến đường đi đến trung tâm
Chủ yếu di chuyển bằng sức người hoặc phương tiện thô sơ trên đường sông nước.Tây Bắc có tuyến đường sắt dài 700km đường hàng không chỉ có hai sân baynhưng vẫn còn hạn hẹp và chưa phát triển, một trong hai bị đóng cửa Những định
Trang 7hướng về đầu tư giao thông vận tải và cơ sở hạ tầng là nhiệm vụ được quan tâmhàng đầu ở Tây Bắc.
NGÔN NGỮ
Tây Bắc hiện có khoảng hơn 30 dân tộc anh em cùng chung sống tức tương đươnghơn 30 ngôn ngữ khác nhau nhưng phổ biến nhất vẫn là ngôn ngữ dân tộc Kinh dotiếng Việt là ngôn ngữ mang tính quốc gia nên người dân vùng này giao tiếp vớinhau chủ yếu bằng tiếng Việt
Tây Bắc là vùng có sự phân bố dân cư theo độ cao rất rõ rệt vùng đỉnh núi là nơi
cư trú của dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Mông, Dao Vùng sườn núi là nơi cư trúcủa thuộc nhóm ngôn ngữ dân tộc Môn- Khmer, vùng thung lũng, chân núi là nơisinh sống của các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Việt Mường, Thái-Kday
Văn hóa Thái đã tạo ra một sức hút một sức lan tỏa mạnh mẽ ở khu vực này Đaphần người Lào và người Khơ-Mú đều nghe, nói được tiếng Thái bên cạnh việc ditrì tiếng Lào, tiếng Khơ-Mú, tiếng Việt chủ yếu sử dụng trong trường học và hànhchính
Việc giáo dục ngôn ngữ văn hoá trong gia đình, người dân tộc thiểu số không đượcthực hiện ở Việt Nam nói chung và Tây Bắc nói riêng
Các dân tộc người thiểu số có nhu cầu sử dụng tiếng Việt là chính đáng, phục vụmục tiêu phát triển còn tiếng mẹ có giá trị như là một công cụ duy trì bản sắc củamột dân tộc, đảm bảo tính đa dạng của văn hoá quốc gia, dân tộc
VĂN HÓA TRANG PHỤC
+ Nét chung:
Đều có gam màu nóng: rất nhiều màu đỏ xen vào với vàng tươi, vàng đất, vàngrơm, rồi da cam, tím và nếu có xanh thì là xanh da trời tươi
Họa tiết, bố cục phối màu đều rất phong phú
+ Nét riêng biệt của từng dân tộc:
Những nét chung của cả vùng không làm mất đi tính riêng của văn hóa từng dântộc
Dân tộc Thái:
Trang 8-Trang phục nữ Thái thể hiện rõ nhất bản sắc văn hóa dân tộc Gồm: áo ngắn (xửacỏm), áo dài (xửa chái và xửa luổng), váy (xỉn), thắt lưng (xải cỏm), khăn (piêu),nón (cúp), xà cạp (pepăn khạ), các loại hoa tai, vòng cổ
-Hàng khuy bạc hay kim loại đã làm cho xửa cỏm (áo ngắn) thành chiếc áo đặctrưng của bộ nữa phục Thái
- Nói về trang phục nữ Thái không thể thiếu khăn piêu Chiếc khăn piêu được các
cô gái Thái thêu thùa rất cầu kì, nó thể hiện sự khéo léo của mỗi cô gái
-So với nữ thì nam phục Thái đơn giản hơn, ít chứa đựng sắc thái tộc người vàcũng biến đổi nhanh hơn Trang phục nam giới gồm: áo, quần, thắt lưng và các loạikhăn
Dân tộc Dao:
- So với các dân tộc khác thì dân tộc Dao được coi là còn giữ được nhiều nét bảnsắc của mình với chất liệu bằng vải bông nhuộm chàm, màu xanh, đỏ, đen, tímthan hoặc để trắng
- Tộc người Dao đỏ đội khăn đỏ, đeo những bông hoa đỏ trước ngực; Dao quầnchẹt mặc quần ống hẹp bó sát vào chân; Dao quần trắng nổi bật là yếm rất to chekín cả ngực và bụng, ngày cưới cô dâu mặc quần trắng; Dao làn tuyển mặc áo dài,đội mũ nhỏ
- Một bộ trang phục hoàn chỉnh của người Dao gồm: Áo, yếm, xà cạp, cùng đồtrang sức vàng bạc, khăn vấn đầu
- Duy nhất trong cộng đồng người Dao chỉ có người Dao Tiền là mặc váy (váy củangười Dao Tiền phía bắc dài hơn váy của người Dao Tiền phía nam) Áo của ngườiDao Tiền gồm hai thân trước, nẹp và một xỏ tà Thường trên đó họ dùng họa tiếthình gấu, chó
- Vào dịp lễ hội, người phụ nữ Dao còn giữ tục chải đầu bằng sáp ong cho mái tócnuột nà, uốn lượn
PHONG TỤC TẬP QUÁN
Phong tục tập quán là những hành vi ứng xử, thói quen sinh hoạt và cáchsống lâu ngày đã ăn sâu vào đời sống xã hội hay toàn bộ hoạt động sống của conngười hình thành trong tiến trình lịch sử, có tính ổn định, được lưu truyền từ thế hệnày sang thế hệ khác, được cộng đồng thừa nhận và tuân theo một cách tự giác.TẾT
Trang 9Cùng là đón Tết cổ truyền, nhưng ở vùng Tây Bắc lại có nhiều phong tục đón Tếtkhác nhau của các dân tộc khác nhau
Tục hát thi với gà trống của người Pu Péo
Đây là một phong tục người dân tộc Pu Péo ở tỉnh Hà Giang Trong đêm giao thừa,người Pu Péo sẽ thức để canh chừng chú gà trống nhà mình Khi chú gà vỗ cánhchuẩn bị cất tiếng gáy, họ sẽ đốt một quả pháo ném vào chuồng để khiến nhữngchú gà trong chuồng thi nhau nhảy lên và gáy vang và khi đó người Pu Péo cũnghát ca theo Theo quan điểm của họ, tiếng gà gáy là dấu hiệu để đánh thức mặt trời,khởi đầu một ngày mới tốt lành Do đó, ai hát to, hát khoẻ làm át được tiếng gáythiêng liêng đó thì năm mới ắt sẽ gặp nhiều điều may mắn, hạnh phúc
Tục thờ bát nước lã của người Pà Thẻn
Trên bàn thờ tổ tiên của người Pà Thẻn ở Hà Giang luôn có một bát nước lã
- Tượng trưng cho biển
- Chứa đựng hồn tổ tiên và các thành viên trong gia đình
- Không bao giờ được cạn vì nếu để cạn thì gia đình sẽ có người ốm đau, bệnh tậthoặc gặp điều không may
Bát nước này phải là nước sạch được lấy từ đầu nguồn của con suối trong nhất,sạch nhất của bản và phải được đậy kín cả năm và chủ nhà người Pà Thẻn khôngbao giờ được phép để nước trong bát cạn đi
Theo đó, vào đêm 30 Tết, các gia đình ở Pà Thẻn sẽ đóng cửa cài then, bịt kín mọi
lỗ thông khí trong nhà rồi nấu một nồi cháo gà để cả nhà cùng quây quần ăn tết Ăncháo xong, chủ nhà mới lấy bát nước lã để quanh năm trên ban thờ xuống để cọrửa, thay nước mới Công việc này phải được thực hiện kín đáo là vì người PàThẻn tin rằng nếu người ngoài à nhìn thấy bát nước linh thiêng đang được lau chùihay thay nước mới thì gia đình sẽ gặp nhiều xui xẻo trong năm mới
HÔN NHÂN
Tục kéo vợ của người Dao đỏ
Thường vào mùa xuân là lúc những chàng trai người Dao đỏ đi kéo vợ Tuynhiên không phải cứ thích ai thì mặc nhiên được kéo về nhà mà thường các đôi traigái đã tìm hiểu, phải lòng nhau Tục kéo vợ cũng chỉ là một hình thức để cho mọingười quanh bản biết, là cái cớ để người con gái chính thức bước chân về nhàchồng
Trang 10 Theo phong tục, khi được kéo, cô gái càng tỏ ra chống đối quyết liệt thì sau nàygia đình sẽ con cái đầy nhà, vợ chồng thuận hòa hạnh phúc Sau khi bị kéo về nhàchàng trai, cô gái được giữ ở lại trong nhà 3 ngày và vẫn sinh hoạt bình thường,được cha mẹ chàng trai xem như con cái trong nhà Hết thời hạn cô gái sẽ thôngbáo cho bố mẹ đến làm thủ tục cưới.
Tục "ngủ thăm" của người Mường
Ngủ thăm là một tục lệ lâu đời của các dân tộc thiểu số ở vùng cao Tây Bắc nhưThái, Dao, Mương, Mông Tuy nhiên, ngày nay, tập tục ngủ thăm này đã bị maimột và nhiều nơi không còn tồn tại Nhưng với người dân tộc Mường ở bản Mọc,
xã Đồng Nghê (Hòa Bình), tục cạy cửa ngủ thăm vẫn còn được lưu giữ
Tục lệ này bắt đầu ở nhữung chàng trai, cô gái đủ 14 tuổi Khi đêm xuống, cácchàng trai chưa vợ có thể cạy cửa nhà các thiếu nữ mới lớn để chui vào tán tỉnh
Họ chỉ được trò chuyện, tâm sự ở tư thế chung chăn, chung gối mà không đượcchạm vào người nhau Người Mường xưa cho rằng, tình cảm không chỉ là chuyệnriêng tư của đôi trai gái mà còn là mối quan tâm chung của thổ thần (thần đất, quánxuyến công việc của mỗi nhà), tổ tiên và gia đình Do đó người con trai (từ 15 tuổitrở lên) phải cạy cửa vào tận giường tâm tình cùng người con gái trước sự chứngkiến của ba bề, bốn bên
Hành động cạy cửa cũng chính là dịp để thử tài khéo léo, giỏi giang của chàng trai.Việc “vào tận nhà, xà tận giường” đối tượng cũng chính là dịp để người con traitìm hiểu gia cảnh của người con gái mà mình có thể lấy làm vợ Sau vài đêm đêmtìm hiểu như thế, cô gái sẽ có quyền quyết định cho chàng trai “ngủ thật” haykhông Sau vài đêm ngủ thăm tìm hiểu, nếu cô gái đồng ý, chàng trai sẽ mang bạctrắng, lợn béo sang nhà cô gái thưa chuyện
TANG LỄ
Theo tục lệ người Mông (Hà Giang), đám ma phải tổ chức linh đình, mổ bò mờidân bản đến ăn Nhà nào có tiền mở tiệc đãi cả bản sẽ được tổ chức đám ma “tươi”,còn không có thì sẽ gia hạn khoảng 3 tháng sau phải mổ bò khao cả bản coi như trả
nợ và đó là đám ma “khô” Nếu đến ngày đó mà gia đình chưa có điều kiện thì sẽphải hứa lại, nếu không làm sẽ bị ma quấy rối không cho làm ăn, làm mặc tốt đẹp.Theo phong tục của người Mông tại Mèo Vạc, Hà Giang, lễ Ma khô là tục lệ tiễnlinh hồn người chết về quê cha đất tổ của người Mông Vì yêu quý, thương tiếcngười thân đã mất, cộng với tâm lý sùng bái tín ngưỡng, tôn trọng phong tục của tổtiên để lại, người Mông từ bao đời nay vẫn quan niệm khi gia đình có người chết,
Trang 11làm đám ma càng lâu, mổ càng nhiều lợn dê bò, người chết sẽ có thêm nhiều củacải để khi về thế giới bên kia sẽ có cuộc sống sung túc, no đủ hơn, có nhiều bò đểlàm nương, không phải chịu cảnh nghèo đói cơ hàn như khi còn sống
LỄ HỘI
Lễ hội là một sự kiện văn hóa được tổ chức mang tính cộng đồng "Lễ" là hệ thốngnhững hành vi, động tác nhằm biểu hiện sự tôn kính của con người với thần linh,phản ánh những ước mơ chính đáng của con người trước cuộc sống mà bản thân họchưa có khả năng thực hiện "Hội" là sinh hoạt văn hóa, tôn giáo, nghệ thuật củacộng đồng, xuất phát từ nhu cầu cuộc sống
Lễ hội hoa ban
Lễ hội Hoa Ban là lễ hội của người Thái ở Tây Bắc, được tổ chức vào tháng 2 âmlịch hằng năm- khi hoa ban nở rộ trắng xóa ở cả vùng Tây Bắc Lễ hội nhằm thểhiện tấm lòng tôn trọng, nhớ ơn của nhân dân nhằm mục đích tưởng nhớ các cônglao lớn lao của các vị nhân thần tiền bối và cầu mong cho quốc thái, dân an, bảnmường no ẩm, mưa thuận gió hòa quanh năm, mùa màng bội thu, gia đình hạnhphúc
Đối với đồng bào Thái, Lễ hội Hoa Ban còn thể hiện nét văn hóa tâm linh trong đờisống gắn với truyền thuyết về nàng Ban hay “sự tích hoa ban trắng” Chuyện kểrằng: Xưa kia xứ Mường Trời có người con gái tên Ban xinh đẹp, nết na và rất mựcthủy chung trong tình yêu đôi lứa Sau khi trải qua nhiều trắc trở, sóng gió, nàng đãchết trên sườn đồi và hóa thành cây hoa ban trắng tỏa hương thơm ngọt ngào, dịunhẹ… vậy nên hoa Ban cũng là biểu trưng nhằm tôn vinh, minh chứng cho tìnhyêu bất diệt, thể hiện ước vọng ngàn đời của cộng đồng các dân tộc về hạnh phúc,vượt qua mọi lễ giáo, rào cản, định kiến xã hội và những khó khăn của cuộc sống Ngày nay, Lễ hội Hoa Ban được nâng tầm lên thành sự kiện văn hóa, du lịch Nókhông chỉ là ngày hội của riêng dân tộc Thái mà đã trở thành ngày hội của cộngđồng các dân tộc là sản phẩm du lịch hấp dẫn với nhiều hoạt động văn hóa, thểthao phong phú, đa dạng và thu hút sự quan tâm của đông đảo người dân và khách
du lịch Lễ hội Hoa Ban càng có ý nghĩa khi khai mạc đúng vào ngày 13/3, thờikhắc mà cách đây 68 năm, 13/03/1954, Quân đội Nhân dân Việt Nam đã nổ phátsúng đầu tiên mở màn chiến dịch Điện Biên Phủ, làm nên chiến thắng “lừng lẫynăm châu, chấn động địa cầu”
Hội xuân hát giao duyên của người dao đỏ tả phìn
Trang 12Mỗi độ xuân về, bà con dân tộc Dao Đỏ lại tưng bừng mở hội hát giao duyêntruyền thống Đây là một trong những lễ hội dân gian độc đáo nhất của đồng bàocác dân tộc ít người ở huyện Sa Pa và cả tỉnh Lào Cai Từ xa xưa, người dân tộcDao đỏ sinh sống ở Sa Pa đã có phong tục hát giao duyên giữa nam và nữ chưa cógia đình để tìm bạn trăm năm, hát giữa người làng này với người bản kia để kếtbạn mới Đầu xuân năm mới hát giao duyên còn có ý nghĩa cầu cho mưa thuận gióhòa, mùa màng bội thu, gia đình mạnh khỏe, hạnh phúc Đây cũng là dịp để nhữngngười bạn lâu ngày gặp lại nhau giãi bày tình cảm riêng tư qua lời ca, điệu múa Ởđây, mọi người được hòa mình trong không khí tưng bừng của các hoạt động vănhóa, văn nghệ, thể thao mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc như: Màn tái hiện Tếtnhảy, lễ rước dâu của người Dao đỏ với nghi lễ theo phong tục truyền thống vàtham gia vào các trò chơi dân gian như: Thi bắn nó, leo núi cắm cờ, bịt mắt bắt dê,kéo co, đi cầu khỉ, ném còn
TÍN NGƯỠNG
VỀ THẦN NƯỚC
Lễ hội cầu mưa của người Khơ Mú
• Vì họ dựng bản làng trên các đồi núi xa sông suối, đời sống của người Khơ Múdựa chủ yếu vào nương rẫy Họ chỉ có 1 vụ gieo trồng và phụ thuộc vào vụ đó Đờisống phụ thuộc vào tự nhiên của họ cũng giống như cây lúa, cây ngô phụ thuộc vàomùa mưa năm ấy mưa thuận, gió hòa, hay hạn hán, lũ lụt nên tâm lý sùng bái và sợhãi trước sức mạnh của đấng vô hình, đã tạo nên hình tượng thần mưa trong tínngưỡng dân gian của các cộng đồng Khơ Mú Đây là lý do vì sao họ tổ chức lễ hộicầu mưa trước mùa tra hạt hàng năm và cũng là một nghi lễ nông nghiệp, đặc trưngtiêu biểu trong đời sống kinh tế cũng như văn hóa tinh thần của đồng bào dân tộcKhơ Mú
• Người thực hiện: thầy cúng: Lễ vật được thầy cúng tự tay bàN trên bàn thờ, gồm
có gà, hai bộ quần áo phụ nữ, vòng tay vòng cổ… quả bầu đựng nước, đặc biệtphải có 4 bông lúa để xin cho mùa màng tốt tươi Cạnh bàn thờ bao giờ cũng cócây chuối đủ cả gốc và ngọn
Lễ hội Kin Pang Then của người Thái trắng
• Lễ hội Then Kin Pang mang đậm nét văn hóa dân gian truyền của dân tộc Tháitrắng diễn ra khi cơn mưa đầu hạ về, lúa trên đồng đang trổ bông
Trang 13• Người dân nô nức đi lễ hội với mong muốn cầu Then (cầu trời) cho mưa thuậngió hòa, mùa màng bội thu, người người ấm no, nhà nhà hạnh phúc, bản làng yênvui.
• Phần lễ được tổ chức tại nhà Then (nhà văn hóa cộng đồng), người đủ tiêu chuẩnđược dân bản bầu ra, mặc trang phục của Then, hát diễn xướng, truyền đạt mongmuốn của người dân đến các đấng thần linh tối cao trên trời, cầu cho mọi ngườiyên vui, sức khỏe phi thường, bản mường ấm no…
• Trước bàn thờ Then là mâm đồ lễ, gồm: đồng bạc trắng, khăn xòe, lá trầu không,trứng gà sống, gạo, bát tô sứ, hương, chùm chuông tượng trưng cho chuông ngựa,hoa trung quân, cây nến nhỏ, đĩa, chén, gói gạo, gói muối, rượu, bát nước, điếu cày,đĩa trầu, cuộn vải dệt trắng lớn
VỀ TỔ TIÊN
Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người H’Mông
Trong thế giới tâm linh của người H’Mông, thờ cúng tổ tiêN có một ý nghĩa hếtsức quan trọng, không chỉ thể hiện niềm tin, mà còn là những hoạt động tín ngưỡngtôn giáo thiêng liêng Tín ngưỡng này có vai trò to lớn để người H’Mông nhớ đếncội nguồn và văn hóa dân tộc Người H’Mông quan niệm rằng, tổ tiên là nhữngngười đã chết trong 3 đời trở lại (cha, ông, cụ) Người H’Mông bao giờ cũng phảilàm 3 chiếc bánh dày tượng trưng cho 3 thế hệ những người đã khuất (ông bà, bố
mẹ và những người bằng vai đã qua đời) Nếu không có 3 chiếc bánh dày đó, ông
bà tổ tiên sẽ không về vui Tết cùng con cháu
Theo các cụ già người H’Mông cho biết, trong truyền thống người H’Mông không
có bàn thờ, chỗ cắm hương là ống tre gài lên tường và khi cúng thì kê một cái bàn
ở phía dưới và đặt đồ cúng lên Lễ vật cúng tổ tiên là con gà trống có lông cổ màu
đỏ Theo quan niệm của người H’mông, lông của gà trống được dán trên bàn thờ tổtiên với ý nghĩa như sự hiện diện của linh hồn gà trống để giữ cửa cho gia đình,bảo vệ cả gia đình 12 tháng trong năm
Đối với người H’Mông, nơi đặt bàn thờ rất linh thiêng, chỉ có chủ gia đình mớiđược làm chủ lễ cúng mời tổ tiên, và chỉ có đàn ông mới được đến gần bàn thờ
Trang 14mường, ý thức cố kết cộng đồng, dòng tộc, tiếp biến văn hóa trong không giantương đối tĩnh Và trong trường lịch sử của xã hội Tây Bắc thời trung đại, khi đạoPhật luôn ngự trị, có thời kỳ trở thành quốc giáo của Đại Việt và mặc dù giáp vớiLào và phía Nam Trung Quốc cũng như khu vực đồng bằng trung du Bắc bộ nơiđạo Phật phát triển nhưng người Thái và người Mông vẫn không theo tôn giáo này.
Hiện nay, ở khu vực Tây Bắc có sự hiện diện của các tôn giáo lớn, như: Phậtgiáo, Công giáo, Tin lành và khoảng 20 hiện tượng tôn giáo mới Sự du nhập vàphát triển của các tôn giáo, đặc biệt là đạo Tin lành vào vùng đồng bào dân tộcthiểu số đã kéo theo nhiều biến đổi trong quan hệ dân tộc, tôn giáo ở khu vực này.Nhưng nổi bật hiện tại chính là Công giáo và Tin lành
Yếu tố cơ bản để nhận diện các cộng đồng dân tộc - tôn giáo hiện nay làniềm tin tôn giáo và thực hành tôn giáo trong các cộng đồng có cùng đức tin Cônggiáo ở Lào Cai Yên bái chủ yếu là của cộng đồng người Mông, nhưng hiện tại vớihơn 36 000 tín đồ cho thấy nơi đây đã hình thành một liên kết chặt chẽ, thống nhấtđiều hành các sinh hoạt theo cơ cấu giáo phận – giáo hạt – giáo sứ - giáo họ
Đạo Tin lành du nhập và phát triển vào khu vực này từ những năm 80 của
TK XX, cũng đã hình thành một thiết chế tôn giáo tộc người, hiện đang nằm trongcộng đồng người Mông – Dao Các tổ chức Tin lành không có sự liên kết chặt chẽvới nhau, không có sự quản lý thống nhất nên hiện nay, khoảng hơn 150 nghìnngười Mông và người Dao theo đạo ở khu vực quy tụ với nhau trong các sinh hoạtcủa những điểm, nhóm Tin lành và chịu sự quản lý theo từng hệ phái
Những năm gần đây Phật giáo cũng đang nỗ lực khôi phục lại sự hiện diệncủa mình trong đồng bào các dân tộc thiểu số ở khu vực Tây Bắc nhưng kết quảvẫn còn khá khiêm tốn Mặc dù, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã thành lập được tổchức giáo hội địa phương (Ban trị sự Phật giáo) ở cả 6 tỉnh của khu vực Tây Bắc
và ở một số tỉnh đã xây dựng được những ngôi chùa khá to, đẹp, nhưng sức hút củaPhật giáo đối với đồng bào dân tộc thiểu số còn hạn chế
NGHỆ THUẬT
Lĩnh vực văn hóa thể hiện cái nhìn thẩm mỹ của nhân dân Tây Bắc có nhiều nétđộc đáo và trở thành một trong những dấu hiệu làm nên đặc trưng văn hóa vùngnơi đây
Trong xã hội cổ truyền Tây Bắc, văn hóa chuyên nghiệp, bác học chưa xuất hiệnnhưng tác phẩm của họ vẫn lưu truyền chủ yếu bằng phương thức truyền miệng
Trang 15Mỗi dân tộc trong vùng đều có một kho sáng tác với vốn ngôn từ giàu có và đủ thểloại từ tục ngữ, thành ngữ, đồng dao, giao duyên, cho đến lời khấn, lời bùa chú, cácáng văn trong lễ tang, trong lễ hội, các bài văn vần dạy bảo đạo đức cho dâu rểtrong đám cưới, các thần thoại, đồng thoại, cổ tích, truyện cười v.v
Người Thái có cả truyện thơ lịch sử, kể lại quá trình thiên di của họ vào Tây Bắcnhư bản sử ca Dõi theo bước đường chinh chiến của ông cha (Táy pú Xớc) hayLịch sử bản mường (Quán tố mướng)
Do đã tách ra từ mấy thế kỉ và sống giữa những cộng đồng tộc người khác, nênngười Mường Tây Bắc còn có những áng văn hiếm thấy ở các vùng Mường như
"Vườn hoa - Núi cói"
Các truyền thuyết của từng dân tộc, một mặt là để khẳng định nguồn gốc của họvới những nhóm đồng tộc cư trú ở các vùng văn hóa khác ;mặt khác lại gắn bó vớivùng đất và trình diễn lịch sử của họ trên mỗi miền đất nơi họ sinh sống, và gópphần làm nên dấu hiệu đặc trưng của vùng văn hóa Tây Bắc
Có một sở thích âm nhạc chung cho hầu hết các dân tộc Tây Bắc, một sở thíchkhông thấy hoặc ít thấy ở các vùng khác Đó là hệ nhạc cụ hơi có lưỡi gà bằng tre,bằng đồng hay bằng bạc: Pí pặp, khèn bè Thái, sáo và khèn H'mông Ngoài ra, mỗidân tộc đều có bản sắc riêng như cây Tính Tẩu Thái, Ống ôi Mường, Hưn mạy(đao đao) Khơmú, đàn tròn và đàn ba dây Hà Nhì
Có thể nói xem nghệ thuật múa dân tộc là một nét đặc trưng của vùng Tây Bắc:
• Người Khơmú thì có điệu múa Vêr guông
• dân tộc Dao có điệu múa chuông
• Người Mường thì nổi tiếng là về múa sạp
Nghệ thuật “xoè“ “ Múa Xòe” ( đây đưọc xem là tinh hoa dân tộc)hay còn đượcgọi với cái tên khác là “Xe khăm khen” là một đặc sản nghệ thuật múa Thái và trởthành biểu tượng văn hóa Tây Bắc Theo như người Thái quan niệm "Không xòekhông tốt lúa; Không xòe thóc cạn bồ; Không xòe hoa sẽ tàn héo;Không xòe traigái không thành đôi” Vì thế nên điệu múa xoè là biểu tượng tượng trưng cho tìnhyêu của dân tộc Thái, từ tình yêu cuộc sống lao động cần cù đến tình yêu đôi lứa,người Thái thường tổ chức múa xòe trong hội xuân, hội mùa và hội cưới.NgườiThái có Xòe vòng quanh đốm lửa, quanh hũ rượu cần với sự tham gia đông đảocủa già, trẻ, gái trai trong làng điệu múa làm cho mọi người xích lại gần nhau hơntrong tiếng chiêng trống rộn ràng Ngoài ra còn có Xòe điệu của người Thái trắng
Trang 16ven sông Đà suốt từ Ngọc Chiến, Quỳnh Nhai lên đến Lai Châu, Phong Thổ.Tương truyền có đến 32 điệu xòe do các cô thanh nữ múa trong tiếng tính tang dịudàng của hai chàng trai Xoè vòng sôi nổi bao nhiêu thì xòe điệu nhẹ nhàng, tinh tếbấy nhiêu.
- Người H’mông nổi tiếng về các điệu múa khèn, đá châm hùng dũng của nam giớiMúa khèn (Tang quây) của đồng bào dân tộc Mông ở tỉnh Bắc Kạn thuộc loại hìnhnghệ thuật trình diễn dân gian, đã có từ lâu đời và được lưu truyền qua nhiều thế
hệ Đối với người Mông, khi múa khèn không thể thiếu được loại nhạc cụ do chính
họ làm ra, đó là khèn Mông Với cây khèn độc đáo này, người chơi có thể thổi hơi
ra, có thể hít hơi vào Khèn cũng là đạo cụ múa có cấu tạo phù hợp với dáng khumngười và các thế quay, nhảy Nghệ nhân múa khèn với những bước nhún, bướcđảo, bước quay hoặc vừa ôm khèn, vừa lăn mình trên đất tạo nên vũ đạo rất đẹp.Tiếng khèn dường như đã trở thành một phương thức để người Mông chuyển tải,thổ lộ những tâm tư nguyện vọng của mình Động tác múa khèn rất đa dạng, phongphú với những động tác cơ bản là khom lưng, quay hất gót tại chỗ và quay hất gót
di động trên vòng quay lớn rồi thu hẹp dần theo hình xoắn ốc…, với tốc độ càngnhanh càng điêu luyện Đối với các bài khèn vui chơi thì động tác nhảy, múa mãnhliệt, phóng khoáng và khó hơn, tiếng vỗ phải kêu, mà tiếng khèn vẫn không dứ.tiếng khèn d ường như là biểu tượng cho sức mạnh, nghị lưc của nguời mông đểchống chọi lại với thiên nhiên khắc nghiệt hiểm trở nơi núi rừng Tây Bắc Tiếngkhèn ngấm vào máu thịt, như là phần hồn của người Mông Đối với đồng bào dântộc Mông, trong những dịp lễ hội, Tết đến xuân về không thể thiếu tiếng khèn,cùng với những trò chơi dân gian Đây được coi như là linh hồn của người Mônggửi gắm và thể hiện tiếng lòng của mình với bạn bè, với cộng đồng, với thiênnhiên, núi rừng và thể hiện giá trị văn hóa, làm nên bản sắc độc đáo riêng củangười Mông Các bài biểu diễn múa khèn bao giờ cũng có nội dung vui nhộn,mang ý nghĩa chúc tụng và mời bạn bè cùng tụ họp, vui chơi Tiếng khèn làm quên
đi những khó khăn, vất vả sau một năm chăm chỉ lao động mệt nhọc, góp phần gắnkết tình bạn, tình yêu, tình làng xóm với nhau
Trang 17Thời tự chủ, cư dân Việt Bắc có vai trò rất quan trọng trong những cuộc khángchiến chống quân xâm lược như Tống, Nguyên- Mông, Thanh
Đặc biệt Việt Bắc trở thành khu căn cứ địa vững chắc cho các cuộc cách mạngtrong những năm kháng chiến chống Mỹ, pháp
Do đos khi nhắc đến VB, người ta thường nói đến quê hương cách mạng, là chiếnkhu, là nơi ghi dấu bao chiến công của nhân dân ta qua nhiều năm dựng nước vàgiữ nước
b)Địa lý
Khu Việt Bắc nằm ở vị trí có vĩ độ cao nhất cả nước Phía bắc là các dãy nuí caobiên giới, phí đông là chân núi sườn tây của cánh cung sông Gâm, phía nam là dãynúi thấp bắc Tam Đảo, phía tây là đứt gãy sông Hồng-ranh giới của miền TB &BTB
-TỌA ĐỘ ĐỊA LÝ: vùng Việt Bắc này nằm ở những vĩ độ cao nhất, trong các vĩtuyến từ 21 độ đến 23 độ vĩ bắc
cĐịa hình
Chủ yếu là núi trung bình và núi cao, cao nguyên Nổi bật với các khối núi và dãynúi cao biên giới phía bắc và thấp dần về phía nam phù hợp với sông ngòi - Khuvực cao trên 1000m là gồm sơn nguyên Bắc Hà, núi vòm sông Chảy, dãy Pu Tha
Ca, núi Phia Biooc o Trong đó khối granit dạng vòm ở thượng nguồn sông Chảy làmột khối nâng hung vĩ có độ cao và chia cắt lớn, địa hình hiểm trở Ngoài các đỉnhnúi trên 2000m, còn có các bậc địa hình là các bề mặt san bằng cổ ở độ cao 500-
600, 700-900, 1100-1300, 1800-2000m - Các cao nguyên đá vôi ở cực bắc baogồm các dãy núi đá vôi Quảng Bạ, Đồng Văn, Mèo Vạc…là các cao nguyên vớiđịa hình hiểm trở, đi lại khó khăn, thiếu nước - Ở trung tâm khu là cánh cungsông Gâm và nối tiếp là các đỉnh núi cao từ 1500-2000m như Phia Booc, Phia Ya -Tiếp nối với khu vực núi cao là vùng đồi núi thấp
TOÀN VÙNG CÓ 5 HỆ THỐNG SÔNG CHÍNH: Sông Thao, sông Lô, hệ thốngcác sông Cầu, sông Thương, Lục Nam; hệ thống các sông này chảy vào Tây Giang
và các sông ở miền duyên hải
d) Đặc điểm dân cư
-Việt Bắc nói tới địa bàn của sáu tỉnh “Cao Bằng, Bắc Cạn, Thái Nguyên, LạngSơn, Tuyên Quang, Hà Giang”
Trang 18Tuy nhiên, ranh giới vùng văn hóa Việt Bắc sẽ rộng hơn địa bàn này Nó baogồm thêm cả phần đồi núi của các tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Bắc Giang và tỉnhQuảng Ninh
CƯ DÂN: Chủ yếu ở vùng Việt Bắc sống là Tày và Nùng
- Ngoài ra còn có một số dân tộc ít người sống là Dao, H’ mông, Lô Lô, Sán ChayKHÍ HẬU VÙNG VIỆT BẮC: Đây là vùng có môi trường tự nhiên với dấu hiệuchuyển tiếp từ tự nhiên nhiệt đới sang cận nhiệt đới Do nằm ở vị trí địa đầu đấtnước về phía Đông Bắc nên Việt Bắc là vùng đón nhận đầu tiên gió mùa đông bắc
và chịu ảnh hưởng sâu sắc nhất, còn về mùa hè vùng Việt Bắc nắng nóng oi bức
+ hoạt động chăn nuôi: nuôi gia súc lớn: trâu bò ; gia cầm: gà vịt
=> do địa hình chủ yếu là đồi núi nên cuộc sống của người dân là tự cung tự cấp ,gắn liền với thiên nhiên
+ người dân còn dệt vải thổ cẩm để phục vụ nhu cầu của người dân trong vùng vàbuôn bán
+ hoạt động buôn bán: với cấu trúc địa hình đặc biệt nên cũng có những hình thứcbuôn bán đặc biệt, mỗi tháng sẽ có các cuộc hợp chợ được gọi là chợ phiên sẽ được
tổ chức vào những ngày cố định để người mua và người bán cùng đến 1 lúc màtrao đổi mua bán
- Cư trú:
Trang 19+ Nhà sàn thường được làm tựa lưng vào đồi núi và mặt hướng ra không gianthoáng đãng, tránh núi non sông ngòi, vì người dân quan niệm rằng khi hướng núisông hướng vào nhà sẽ mang tai hoạ, việc không mai đến cho gia chủ
+ Người Tày – Nùng có hai loại nhà chính : nhà sàn và nhà đất Nhà sàn là dạngnhà phổ biến, có hai loại nhà sàn, sàn hai mái và sàn bốn mái Nêú là nhà sàn bốnmái, hai mái đầu hồi bao giờ cũng thấp hơn hai mái chính Cửa có thể mở ở mặttrước hoặc đầu hồi, cầu thang lên xuống bằng tre, gỗ, nhưng số bực bao giờ cũng
lẻ, không dùng bậc chẵn Nhà đất là loại nhà xuất hiện ngày càng nhiều, nhưngcũng có rất nhiều thay đổi so với ngôi nhà sàn về quy mô, kết cấu, bố cục bêntrong, nhà đất có điều đặc biệt là mùa nóng thì mát, mùa lạnh lại ấm tạo cảm giác
ấm áp trong gia đình Ở một số vùng còn có loại nhà nửa sàn nửa đất, đây là mộtloại nhà đặc biệt, vừa mang tính chất nhà đất vừa mang tính chất nhà sàn
+ Nhà sàn: Dạng nhà phổ biến, gồm 2 loại là: Sàn 2 mái và sàn 4 mái Nếu là nhàsàn 4 mái thì 2 mái đầu hồi bao giờ cũng thấp hơn 2 mái chính
- Thời gian:
- Đi lại: do địa hình chủ yếu là đồi núi nên người dân duy chuyển chủ yếu bằngđường bộ và có những chiếc xe chuyên leo núi,
***Thêm vô khi nói:
*hiện tại là hai dân tộc, nhưng người Tày và người Nùng lại có những nét gần gũi,
sự gần gũi giữa họ là tương đối Trong quan hệ với văn hóa Hán, người Nùng chịunhiều ảnh hưởng của Hán tộc nhiều hơn người Tày, người Tày chịu ảnh hưởng củavăn hóa Việt nhiều hơn Về phương diện tổ chức xã hội, cư dân Tày – Nùng chủyếu sống trong các bản ven đường, cạnh sông suối hay thung lũng Bản là đơn vị
cơ sở nhỏ nhất Các gia đình trong bản và các thành viên hợp lại thành một cộngđồng dân cư và có tổ chức
+ Đơn vị xã hội nhỏ nhất của người Tày – Nùng là gia đình, lại là gia đình phụ hệ,chủ gia đình vẫn thường là người cha hay người chồng, làm chủ toàn bộ tài sản vàquyết định mọi công việc trong nhà, ngoài làng Do vậy, ý thức trọng nam khinh nữkhá đậm trong cộng đồng, sự phân biệt đối xử còn thấy rõ trong việc phân chia mặtbằng sinh hoạt trong nhà Nhà ngoài bao giờ cũng dành riêng cho đàn ông Trừ các
bà già, phụ nữ không bao giờ được ở nhà ngoài
3.Văn hóa tinh thần:
Phong tục tập quán:
Trang 20Phong tục, tập quán được xem là lĩnh vực rộng lớn nhất của văn hóa Ở đâu có conngười ở đó có phong tục, tập quán Phong tục, tập quán tạo nét khác biệt, độc đáotrong các nền văn hóa của các dân tộc khác nhau, của các di sản văn hóa, cácnguồn tài nguyên du lịch văn hóa và của các sản phẩm du lịch văn hóa của cácquốc gia khác
nhau Có rất nhiều quan niệm khác nhau về phong tục, tập quán Chúng ta có thểlựa
chọn cho mình những quan niệm phù hợp để nhận thức đối tượng
Theo từ điển tiếng việt giải thích rằng “Phong tục là thói quen đã ăn sâu vào đờisống xã hội, được mọi người công nhận và làm theo”; “Tập quán là thói quen đãthành nếp trong đời sống xã hội, trong sản xuất và sinh hoạt hàng ngày, được mọingười công nhận và làm theo.”
Phong tục, tập quán luôn mang tính lịch sử, tính dân tộc, tính vùng miền và tínhgiai cấp Thời đại nào thì phong tục, tập quán ấy Không có phong tục, tập quánchung
cho mọi thời đại Đây là thước đo văn hóa mang tính lịch sử Chuẩn mực văn hóađược
thể hiện rõ trong phong tục, tập quán được thấy trên tất cả các mặt của đời sốngcon
người Chỉ xét riêng văn hóa ăn, mặc, ở con người trong các thời đại khác nhaulà
hoàn toàn khác nhau Dân tộc nào thì phong tục, tập quán ấy Đó là sự khác biệtgiữa
các văn hóa dân tộc, bởi mỗi dân tộc có điều kiện sống riêng, có đặc điểm chủngtộc
riêng, nên thái độ ứng xử văn hóa rất khác nhau
Hay nói cách khác, điều kiện tự nhiên
đã chi phối mạnh mẽ những thói quen văn hóa của con người, cho nên chúng tathấy
Trang 21phong tục, tập quán của người miền xuôi khác với miền núi hay miền biển, ngườivùng
nhiệt đới khác với người ở xứ ôn đới, hàn đới
* Một số phong tục tập quán tiêu biểu của đồng bào các dân tộc Lạng Sơn
Lạng Sơn, với 7 dân tộc cùng sinh sống đan xen ( trong đó đồng bào Tày, Nùng
và Dao là những cư dân chiếm số đông), trải qua hàng nghìn năm lịch sử, quanhiều thế
hệ, họ đã cùng vun đắp nên nhiều giá trị văn hóa tốt đẹp, trong đó phải kể đến cácphong tục, tập quán như:
- Tập quán sinh đẻ và nuôi dạy con cái
- Tập quán đặt tên con, tập quán cấp sắc
- Tục lệ cưới xin; ma chay
- Tục mừng sinh nhật
- Tục lệ vào nhà mới
- Tục lệ kết bạn tồng; nhận họ, kết thân, nhận con nuôi
- Tục hát giao duyên
- Tập quán tổ chức bữa ăn, tổ chức gia đình, dòng họ
- Tập quán ứng xử trong dòng họ và ngoài xã hội…
Tín ngưỡng tôn giáo:
Đời sống văn hóa tinh thần của cư dân Việt Bắc có những nét cơ bản giống với cáckhu vực khác Về tín ngưỡng tôn giáo, tín ngưỡng dân gian của cư dân Tày – Nùnghướng niềm tin của con người tới thần bản mệnh, trời – đất, tổ tiên Các thần linhcủa họ rất đa dạng, có khác là nhiều thần như thần núi, thần sông, thần đất Ngoài
ra lại có các vua, có Giàng Then, ý thức cộng đồng được củng cố thông qua việcthờ thần bản mệnh của mường hay của bản ý thức về gia đình, dòng họ được, củng
cố thông qua việc thờ phụng tổ tiên Mỗi gia đình có một bàn thờ tổ tiên đặt ở vị trítrạng trọng nhất trong nhà Ngoài ra, trong nhà họ còn thờ vua bếp Diện mạo tôngiáo Việt bắc cũng có những nét khác biệt Các tôn giáo như Khổng giáo, Phậtgiáo, Đạo giáo đều có ảnh hưởng đến đời sống tâm linh của người dân ở Việt Bắc,
Trang 22chùa thờ Phật ít hơn dưới đồng bằng, nhưng cũng có những chùa đáng lưu ý, nhưchùa Hang, chùa úc Kỳ ở Bắc Thái, chùa Diên Khánh, chùa Vinh Quang, chùa NhịThanh, chùa Tam Thanh ở Lạng Sơn Tam giáo được cư dân Tày tiếp thu gần giốngvới người Việt, nhưng ở mức độ thấp, trong sự kết hợp với các tín ngưỡng vật linhvốn có từ lâu đời trong dân gian.
Lễ hội:
Lễ hội của cư dân Tày – Nùng rất phong phú Ngày hội của toàn cộng đồng là hộiLồng tồng (hội xuống đồng), diễn ra gồm hai phần : Lễ và hội Nghi lễ chính làrước thần đình và thần nông ra nơi mở hội ở ngoài đồng Một bữa ăn được tổ chứcngay tại đây Phần hội căn bản là các trò chơi như đánh quay, đánh yến, tung còn,
ảo thuật… Như vậy, về bản chất, hội lồng tồng là một sinh hoạt văn hóa Nói đếnsinh hoạt văn hóa của cư dân vùng Việt Bắc, không thể không nói đến sinh hoạt hộichợ ở đây là nơi để trao đổi hàng hóa, nhưng lại cũng là nơi để nam nữ thanh niêntrao duyên, tỏ tình Người ta đã từng nói đến một loại sinh hoạt văn hóa hội chợ ởvùng này, và có thể coi như một sinh hoạt vãn hóa đặc thù của vùng Việt Bắc Tộcngười chủ thể : Tày-Nùng với lịch sử và văn hóa của họ tạo ra nét đặc thù này.Nghệ thuật :
Hát Then đàn tính là hình thức nghệ thuật tín ngưỡng được các dân tộc Tày Nùng trong tình yêu yêu thích Hát Then - đàn tính ngoài nghệ thuật diễn xướngđặc sắc còn là loại hìn dân ca tín ngưỡng gắn với tâm linh của đồng bào dân tộcTày Nùng » ngoài yếu tố tâm linh , hát Then còn có ý nghĩa vui chơi khi tết đếnxuân về , giãi bày nỗi lòng , thể hiện tình yêu trai gái gợi ca quê hương bản làng -Ngôn ngữ :
Về chữ viết, vùng Việt Bắc với người Tày – Nùng, chữ viết trải qua các giai đoạn :giai đoạn cổ đại không có chữ viết, giai đoạn cận đại có chữ Nôm, giai đoạn hiệnđại, vừa có chữ Nôm, vừa có chữ Latinh Năm 1960, Đảng và Nhà nước ta đã giúpngười Tày – Nùng xây dựng hệ thống chữ viết theo lối chữ Quốc ngữ, bằng chữ cáiLatinh Cũng chính vì vậy, nét đáng chú ý là cư dân Tày – Nùng ở Việt Bắc đã cónhững nhà văn viết văn bằng chữ viết dân tộc Đáng kể là các tác giả như HoàngĐức Hậu, Nông Quốc Chấn, Bàn Tài Đoàn v.v…
4 Văn hóa xã hội
Văn hóa làng xã: Làng xã là nơi sinh hoạt, sinh sống của những người nông dân, từthời xa xưa thì nơi ghi dấu bao chiến công anh hùng của quân dân ta, có truyềnthống đoàn kết và đấu tranh chống giặc ngoại xâm rất mạnh mẽ Có rất nhiều sinh
Trang 23hoạt văn hóa tập thể của làng xã Việt Bắc, đặc biệt là các sinh hoạt hội chợ Đó lànơi để trao đổi hàng hóa và cũng là nơi để nam nữ thanh niên trao duyên, tỏ tình.
Đó cũng có thể coi là một sinh hoạt văn hóa đặc thù ở vùng Việt Bắc
Văn hóa đô thị: Văn hóa đô thị, hay còn gọi là văn hóa thành thị hoặc văn hóa thịdân, là văn hóa của các thị trấn và thành phố
3 ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ
I.VĂN HÓA TỰ NHIÊN
1 Lịch sử hình thành và phát triển, vị trí địa lí, địa hình và khí hậu dân cư
Đồng bằng Bắc Bộ được coi là cái nôi của văn hóa Việt Nam, có lịch sử phát triển
vô cùng lâu đời, đây là nơi thành lập ra nhà nước Văn Lang đàu tiên của cả nước
ta, đây còn là nơi chứng kiến những trận thư hùng của cha ông ta từ thời kì khaimang bờ cỏi như Triệu, Đinh, Lý, Trần, đến giai đoạn cận đại như kháng chiếnchống Pháp, kháng chiến chống mỹ đồng bằng Bắc Bộ cũng chính là trung tâmphát triển kinh tế, văn hóa, xã hội nhất cả nước xuyên suốt các thời kì triều đại Đó
là lý do tại sao khi nhắc đến nơi có nền văn hóa phát triển bậc nhất Việt Nam thìđịa điểm mà người người nghĩ ngay đến là Đồng bằng Bắc Bộ Như PGS.TS NgôĐức Thịnh đã từng nhận xét ” Trong các sắc thái phong phú và đa dạng của vănhóa Việt Nam, đồng bằng Bắc Bộ là một vùng văn hóa độc đáo và đặc sắc
Đồng bằng Bắc Bộ được hình thành và phát triển nhờ sự bồi đắp của 2 con sôngchính đó là con sông Hồng và sông Thái Bình, gồm có 10 tỉnh thành phố đây là 1vùng đồng bằng tương đối bằng phẳng và đất đai tương đối màu mỡ đồng bằngbắc bộ có một điểm đặc biệt so với các đồng bắng là nó có hệ thống đê điều tươngđối kiên cố bao quanh nếu như các bạn có tìm hiểu thì chính là đồng bằng có diệntích lớn thứ 2 nước ta, chỉ đứng sau đồng bằng sông Cửu Long Phía Tây Bắc tiếpgiáp với vùng Tây Bắc còn phía Đông thì tiếp giáp với vùng Đông Bắc, gọi chung
2 vùng là trung du miền núi bắc bộ
Khí hậu ở đồng bằng Bắc Bộ vô cùng độc đáo, khác hẳn với những đồng bằngkhác, đây là vùng đồng bằng duy nhất tại Việt Nam có sự khác biệt giữ bốn mùaxuân hạ thu đông và có 1 mùa đông thực sự kéo dài gần 3 tháng với nhiệt độ trungbình dưới 18 độ C tuy nhiên, khi hậu ở đây đôi khi cũng khá thất thường, giá mùaĐông Bắc vừa lạnh vừa ẩm vô cùng khó chịu
Với những đặc điểm về lịch sử, địa lý, đất đai, khí hậu như trên thì dân cư ở đây cónhững đặc điểm vô cùng khác biệt so với phần còn lại của dân cư cả nước vì cólịch sử phát triển lâu dài nên nơi đây dân cư ở khá sớm, hiện nay thì đồng bằng bắc
Trang 24bộ là nơi có mật độ dân cư cao nhất cả nước, theo thống kê của tổng cục thống kêthì tính đến năm 2019, mật độ dân số nơi đây là hơn 1060 km2/ người, điều này đãtạo cho đồng bằng bắc bộ rất nhiều điều thuận lợi cả về kinh tế lẫn văn hóa, nhưngbên cạnh đó nó cũng đem lại cho nơi này không ít khó khăn trong số đó chủ yếu làngười dân tộc kinh và một vài dân tộc thiểu số khác Người dân chủ yếu sống quâyquần thành các làng Đây là đơn vị cơ sở của nông thôn đồng bằng bắc bộ vớinhững đặc điểm tự nhiên và xã hội như trên thì không quá khó hiểu khi nơi đâychính là khởi điểm của nền văn hóa lúa nước trứ danh Bên cạnh những thời giannông nhàn người dân nơi đây còn làm 1 vài nghề khác như đánh bắt hải sản, làmcác nghề thủ công.
II VĂN HÓA VẬT CHẤT
Có thể nói, khí hậu của các miền cũng ảnh hưởng nhiều tới việc nêm nếm trongmón ăn: Miền Bắc lạnh nên ăn nhiều mỡ hơn, chế biến món ăn bằng cách xào nấuhơn; miền Nam nóng quanh năm nên ăn rau nhiều hơn, cách chế biến thường là ănsống, luộc, hoặc nấu lẩu Miền Bắc lạnh hơn nên thích ăn mặn (vị mặn hợp vớihành thuỷ – âm), và chống nóng bằng đồ chua là đủ rồi Miền Nam nóng hơn nênthích ăn ngọt (vị ngọt hợp với hành thổ – trung hoà) và phải dùng tới thứ cực âm là
đồ đắng (canh khổ qua) mới đủ chống nóng
HÀ NỘI -Khi nói đến miền Bắc, điển hình là thủ đô Việt Nam – Hà Nội lại khôngthể không nhắc đến món ăn làm say lòng biết bao nhiêu người khi dừng chân nơiđây đó chính là Phở Hà Nội Phở không chỉ đơn thuần là một món ăn, hơn cả thếphở chính là món ăn đại diện cho cả một nền văn hóa từ lâu đời của nước Việt Phởđược biết đến là một món ăn sáng đầy đủ dinh dưỡng với giá thành hợp lý đối vớingười dân, phổ biến là phở bò và phở gà
Trang 25Sự đặc biệt của phở chính là nước dùng Xương bò hoặc xương lợn cùng sá sùng
và nhiều gia vị khác như quế, gừng, thảo quả, được ninh với lửa liu riu trongnhiều tiếng để nấu thành nước phở ngọt xương và có vị thanh hòa quyện với cácthứ rau mùi đi kèm, tạo nên hương vị khó quên
Ẩm thực miền Bắc còn nổi tiếng với các món ăn ngon trứ danh như bún chả, bún
ốc, bún thang, bún đậu,…
HẢI DƯƠNG- Bánh đậu xanh Hải Dương có vị thơm, bùi của đậu, chút ngầy ngậy
mà không ngán của mỡ lợn, chút ngọt của đường kết tinh và mùi tinh dầu man mátcủa hoa bưởi.Cái độc đáo, hấp dẫn của bánh nằm ở những công đoạn vô cùng tỉ mỉ,đòi hỏi sự khéo léo và tinh tế của người chế biến Bánh được cắt thành từng khốivuông nhỏ, được gói cẩn thận vào giấy bạc thành hộp nhỏ Món này thường đượcdùng khi uống trà tàu hay chè xanh Trải qua cả trăm năm, hương vị bánh đậu xanhvẫn không bị thay đổi nhiều, đây đã trở thành nét văn hóa ẩm thực của người dânHải Dương
Ẩm thực đồng bằng bắc bộ nói riêng và đất nước ta Việt Nam nói chung luôn mangđến cho ta những điều mới lạ và bất ngờ riêng, nếu làm ra được một món ăn ngon
sẽ làm cho người thưởng thức không chỉ mê đắm món ăn mà còn mê đắm cả mộtvùng đất nơi đấy Một điều không thể thiếu là tình cảm và nguyện vọng của ngườilàm ra nó được gửi vào mỗi món ăn Và điều đặc biệt là người làm nên những món
ăn ngon đó sẽ tạo nên giá trị và bản sắc riêng, đặc sắc, thuần túy và thấm đẫm tinhhoa cũng như nền văn hóa mang đến cho mỗi vùng mỗi đất nước một dấu son nổibật cho nền ẩm thực nước nhà
2 Văn hóa trang phục
PGS.TS ngô đức thịnh nhận xét: “ trong các sắc thái phong phú và đa dạng của vănhóa Việt Nam, đồng bằng bắc bộ như là một vùng văn hóa độc đáo và đặc sắc và 1trong những đặc sắc này không thể không nhắc đến văn hóa trang phục nơi đây, đãgóp phần làm nên một bản sắc rất riêng mang đậm chất bắc bộ
Để ứng phó với môi trường tự nhiên nếu người phương nam sở trường ở việc tậndụng các chất liệu có nguồn gốc từ thực vật là sản phẩm của nghề trồng trọt, cũng
là những chất liệu may mặc mỏng nhẹ thoáng thì ở miền bắc cũng như thế, Cách
ăn mặc của người dân Bắc Bộ cũng là một sự lựa chọn, thích ứng với thiên nhiênvùng ĐB Bắc Bộ và màu họ thường sử dụng là màu nâu gụ màu của đất một trongnhững trang phục làm nên cái hồn cho bắc bộ đó là áo tứ thân, khăn mỏ quạ , nónquai thao cho nữ và áo the, khăn xếp cho nam
Trang 26Nào đâu cái yếm lụa sồi?
Cái dây lưng đũi nhuộm hồi sang xuân?
Nào đâu cái áo tứ thân?
Cái khăn mỏ quạ, cái quần nái đen?
Cũng giống như chiếc áo mơ ba mớ bảy thì áo tứ thân cho đến nay vẫn chưa ai biếtnguồn gốc thực sự của nó Một số di sản khảo cổ tìm thấy hình ảnh của chiếc áodài tứ thân với hai tà áo thướt tha bay trong gió trên các hình khắc mặt trống đồng(Ngọc Lũ) từ cách đây vài nghìn năm Theo truyền thuyết kể lại, trong cuộc khởinghĩa đánh đuổi quân Hán xâm lược, Hai Bà Trưng đã mặc một chiếc áo dài có 2 tàgiáp vàng Do tôn kính 2 Bà nên phụ nữ Việt tránh mặc áo dài 2 tà mà thay bằng áo
tứ thân Một cách lý giải khác là do kỹ thuật dệt ngày xưa còn khá thô sơ, chỉ dệt raloại vải có khổ hẹp nên muốn may thành một chiếc áo phải ghép 4 mảnh lại vớinhau Hay áo dài giao lãnh trước kia khi mặc thường để hai thân trước giao nhauchứ chứ không buộc lại Để thuận tiện cho công việc đồng áng, buôn bán … chiếc
áo dài giao lãnh dần biến thành chiếc áo tứ thân Tuy vậy, người xưa luôn tin rằngthứ trang phục đặc biệt này sinh ra chỉ để dành riêng cho những làn điệu quan họtruyền thống của miền kinh Bắc Là cái nôi của áo tứ thân nên để tìm một chiếc áo
tứ thân đúng chuẩn thì nàng không thể bỏ qua áo tứ thân miền Bắc
Chiếc áo tứ thân được cấu tạo bởi phần lưng áo gồm hai mảnh vải cùng gam màughép lại với nhau, phía trước có hai thân tách rời ra và được buộc lại với nhau, thảtrước bụng để tạo sự mềm mại và uyển chuyển khi mặc Phía trên phần ngựckhông gài hết mà để lộ chiếc yếm thắm ẩn ở bên trong Áo tứ thân dài gần chấmgót thường đi kèm với chiếc quần lĩnh đen và thắt lưng lụa màu Đi cùng với chiếc
áo tứ thân phải có chiếc yếm, khăn mỏ quạ, nón quai thao Hình ảnh đó được giữcho đến tận bây giờ ở những liền chị quan họ vùng Kinh Bắc Những chiếc áo tứthân như này thường có màu sắc tự nhiên, được may bằng nguyên liệu sẵn có dođược các bà, các mẹ khi đó sử dụng củ nâu, lá bàng giã nhỏ hay bùn dẻo dưới ao
để làm màu nhuộm Tất cả những điều đó đã tạo ra bộ trang phục đơn giản, tế nhị
và kín đáo, mang đậm sắc thái Á Đông
với văn hóa gốc nông nghiệp nên chất liệu vải mềm mại, thướt tha là phù hợp nhất.Phụ nữ mặc áo tứ thân sẽ cảm thấy rất mát mẻ và thoải mái Màu sắc chủ yếu làcác gam mầu trầm, có tông màu đất như nâu, đen, tím Áo khoác ngoài thì thỉnhthoảng có màu xanh lá mạ Thắt lưng thì có màu vàng để trông nổi bật hơn Quần
áo dài thì luôn có màu đen Vừa sạch sẽ mà lại làm nổi bật màu sắc của áo Tùy
Trang 27theo độ tuổi mà màu yếm mặc bên trong sẽ khác nhau Nếu là người chưa có giađình thì yếm sẽ thường có những màu sắc tươi tắn, trẻ trung như trắng, đỏ, cam,hồng phấn hay vàng Còn nếu đã có gia đình thì các gam màu như đen, nâu sẽ làmàu yếm Đối với áo dài tứ thân truyền thống thì hầu như không có họa tiết Điểmnổi bật của nó nằm ở cách phối màu các dải áo với nhau Đi cùng với áo là 1 chiếcQuần đĩnh đen thì được làm bằng lụa và khá rộng nên rất giống váy Phụ nữ Bắc
Bộ hầu như diện quần đĩnh hơn là váy xòe vì nó thuận tiện cho công việc đồngáng Áo tứ thân thường được sử dụng lớp vải màu nâu giúp người dân dễ dàng ẩn
đi các vết bẩn xuất hiện khi làm việc
Đối với trang phục này, phụ nữ bắc bộ không thể thiếu chiếc nón quai thao rộngvành đặc trưng Tuy nhiên nó chỉ được sử dụng trong các dịp lễ quan trọng nhưcưới sinh hay có hội hè Còn bình thường thì chị em sẽ mặc áo dài tứ thân với khăntrùm đầu mỏ quạ Để chít cho đẹp, cho vừa chiếc khăn này không hề đơn giản nhé.Khăn vuông mỏ quạ phải được chít cho vừa với tỉ lệ khuôn mặt của từng người.Một chiếc khăn mỏ quạ được chít đẹp là khi trông tổng thể gương mặt chị emgiống như hình chiếc búp sen Một loài hoa đẹp, đại diện cho sự thanh khiết củaphụ nữ Việt Kể từ khi hát Xoan, hát Quan họ, tục thờ Vua Hùng lần lượt trở thànhnhững Di sản của văn hóa thế giới thì chiếc khăn mỏ quạ lại chính là di sản vật thểduy nhất âm thầm kết nối cội nguồn và thần thái của cả ba di sản phi vật thể trên
Nó xứng đáng được nhìn nhận, tôn vinh như là biểu tượng cổ kính, cao quí, sâusắc, đẹp đẽ nhất của văn hóa cổ truyền Việt cũng như của người mẹ Việt, người đãbao đời nâng niu, gìn giữ, trao truyền các giá trị tạo thành bản sắc Việt Nam
Còn đối với trang phục cho nam giới ở vùng đồng bằng bắc bộ ta hay nghĩ ngayđến áo the nam kết hợp với khăn xếp
Áo the nam một nét văn hóa đặc sắc của người quan họ bắc ninh thời xưa với kiểudáng vô cùng độc đáo và ấn tượng Áo the nam được may giống kiểu áo dài nambao gồm một áo phía trong màu trắng hoặc màu xanh, cũng có khi sử dụng màu đỏnhưng rất ít, áo trong sử dụng chất lụa mềm, bền đẹp cúc cài lệch Áo ngoài làmbằng chất liệu màu vải von mềm mại với những sắc tối như màu đen, màu tímthan, hoặc màu xanh dương, kết hợp với áo là chiếc quần cạp chun màu trắng,được may bằng chất liệu vải phi bóng nhẹ nhàng tiện dụng Nói đến áo the nam takhông thể không nhắc đến chiếc khăn xếp được đặt ngay ngắn trên đầu, chiếc khănxếp trên đầu thể hiện địa vị thời xưa Về màu sắc diện của khăn, màu sắc được lựachọn cho khăn đóng và vấn phải tuân thủ quy tắc sẫm màu Màu đen là hợp nhấtvới màu da của người Việt, tôn cho nước da sáng lên Thêm nữa, màu trắng và màu
Trang 28đen là 2 màu tổ tiên chúng ta ưa dùng vì nó phổ thông, đại chúng, nhẹ nhàng,khiêm nhường, giản dị, kín đáo nhưng không kém phần cứng cáp, rắn rỏi.
Trải qua bao nhiêu thăng trầm lịch sử, trang phục vùng đồng bằng bắc bộ vẫn luôn
là một nét đẹp văn hóa trong đời sống người dân bắc bộ nói riêng và người Việt nóichung những bộ trang phục nơi đây mang trọn sự giản dị của người phụ nữ Việtxưa, mãi mãi là một phần linh hồn ngay chính nơi nó sinh ra
3 Văn hóa cư trú
Do những đặc điểm về địa lý và khí hậu, kiến trúc xây dựng nhà ở và cách sắp xếp,bài trí không gian sống trong ngôi nhà nông thôn Bắc Bộ có những nét độc đáo,phản ánh một phần kho tàng văn hóa và nghệ thuật kiến trúc của dân tộc và tài hoacủa những cư dân nơi đây Ngôi nhà từ xưa đến nay trong quan niệm của ngườiViệt không chỉ là nơi che nắng che mưa, mà còn là mái ấm gìn giữ văn hóa truyềnthống, nét đẹp của gia đình, nơi nuôi dưỡng tâm hồn Việt
- Kiến trúc:
Trong văn hóa cư trú, sự khác biệt giữa văn hóa cư trú Bắc Bộ và các vùng kháctrong cả nước chính được tạo ra từ sự thích nghi với thiên nhiên này Nhà ở của cưdân Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ có hình thức nhà vì kèo phát triển (Vì kèo là mộtthành phần kết cấu được sử dụng như một phần của kết cấu mái Thông thường, nóchạy từ sườn hoặc hông của mái đến bức tường bọc bên ngoài công trình Cácthanh kèo thường được đặt nối tiếp, cạnh nhau, tạo một nền tảng vững chắc để đỡsàn mái, tấm phủ mái…) PGS, PTS Nguyễn Khắc Tụng đã thống kê được 10 loạinhà vì kèo khác nhau, sử dụng vật liệu nhẹ là chủ yếu nhưng cũng tiếp thu kĩ thuật
và sử dụng các vật liệu bền như xi măng, sắt thép
Người nông dân Bắc Bộ thường muốn xây dựng ngôi nhà của mình theo kiểu bềnchắc, to đẹp, tuy nhiên vẫn hòa hợp với cảnh quan
Nhà ở của cư dân đồng bằng Bắc bộ thường được làm bằng khung xoan, mít haytre có kết cấu vững chắc với vì kèo ba bốn cột, liên kết bởi xà ở đầu và bậu ở châncột Xoan, mít hay tre sau khi được chọn lựa, để tránh bị tượng mối mọt và tăng độbền, trước khi dựng nhà người ta thường mang đi ngâm ở các ao, hồ khoảng 1-2năm Nhà thường được làm với kết cấu ba gian hai chái, đối với những nhà khá giảthì có thể nhiều hơn và nguyên vật liệu làm khung nhà được chọn có thể là nhữngcây gỗ tốt hơn
Mái của ngôi nhà được thiết kế có độ dốc lớn để thoát nước mưa và tránh dột Máiđưa ra xa chân tường vừa tạo nên bóng râm vừa tránh mưa hắt vào các chân cột gỗ
Trang 29và tường đất nện Chất liệu lợp mái tùy thuộc vào điều kiện kinh tế của từng giađình mà có thể là ngói hoặc tranh.
Để tạo không gian mát lành cho ngôi nhà, người Việt đã biết sử dụng tán cây, trồngnhững giàn cây leo quanh nhà như mướp, bầu bí… tạo thành các bức tường xanh
tự nhiên, vừa tránh nắng nóng cho người và gia súc, chống chói do phản xạ từ cácbức tường quét màu sáng quanh nhà, vừa lấy được nguồn rau xanh cung cấp chobữa ăn Xung quan nhà thường trồng các loại cây ăn quả để làm hàng rào, tạo bóngmát che nắng, gió và chắn tầm nhìn vào nhà
Kinh nghiệm dân gian cho thấy cái lý của người xưa khi ứng xử với khí hậu thờitiết: trồng cây lá rậm, lá to như cây chuối ở mặt nhà phía bắc để ngăn gió lạnh vàomùa đông, cản bức xạ mặt trời vào mùa hè (lúc này mặt trời ở hướng bắc); trồngcây có thân cao như cây cau ở phía nam của nhà để không ngăn cản gió mát mùa
hè cũng như không che ánh nắng chiếu vào nhà về mùa đông (mùa đông, mặt trời ởhướng nam) Vì vậy các cụ đã đúc kết khi chọn lựa trồng cây cạnh nhà “trước causau chuối”
Phần tường bao quanh nhà vừa bảo vệ, ngăn chia không gian, vừa cách nhiệt, để cónhững giải pháp trang trí kết hợp với cách nhiệt điều tiết khí hậu như các ô thông,cửa sổ, tường quét vôi màu trắng hoặc để nguyên màu tự nhiên của vật liệu, tườnggạch không tô trát mà chỉ miết mạch, tạo cảm giác khang trang mát mẻ trên nềncây cối xanh tươi, bớt đi cái oi bức của mái ngói, sân gạch Đối với tường bằng đấtnện thì được làm rất dày tạo sự ấm cúng về mùa đông, mát mẻ về mùa hè
Việc bố trí không gian nội thất trong nhà ở người Việt vùng Đồng bằng Bắc Bộ thểhiện khá rõ “tính cộng đồng cùng tồn tại với tính tôn ti đẳng cấp”, cùng với nhữngảnh hưởng bởi quan niệm về giới Không gian nhà chính thường chia theo số lẻ,với gian ở giữa là tâm điểm, chia không gian nhà thành các cặp đối xứng kể cả cấutrúc kiến trúc lẫn nội thất, thông qua một trục chính mang tính ước lệ Sự đăng đốichỉ mang tính tương đối, tạo cảm giác trang trọng, cân bằng và hài hòa cho khônggian sống
Không gian thờ cúng tổ tiên trong nhà luôn là không gian quan trọng nhất, được bốtrí sắp xếp trên dưới đăng đối nghiêm cẩn Ban thờ thường cũng được đặt ở giangiữa, có thể kết hợp làm nơi tiếp khách Các gian bên là chỗ ngồi chơi, tiếp khách,nơi nghỉ của đàn ông Hai gian đầu hồi được ngăn kín đáo bằng hệ vách cửa, là nơi
ở của phụ nữ, cũng là nơi cất giữ lương thực, những đồ có giá trị không dùng đếnhàng ngày
Trang 30Các không gian hở – không gian nửa kín nửa hở chuyển tiếp liên hoàn: Sân và hiênnhà phân chia cao độ bởi hệ bậc cấp, hiên ngăn cách với không gian trong nhà bởi
hệ cửa ngưỡng; không gian tâm linh ngăn chia với không gian bên ngoài bởi banthờ, hoành phi câu đối cửa võng,…
Về cách trang trí, không chỉ trong chốn cung đình hay nơi linh thiêng, ngay trongnhà ở dân gian, người Việt cũng sử dụng các motif trang trí trên kiến trúc hay đồnội thất, gửi gắm nhiều tầng bậc ý nghĩa về nhân sinh quan; trong tác phẩm Trangtrí trong mỹ thuật truyền thống của người Việt PGS TS Trần Lâm Biền đã viết vềnguồn gốc của cách trang trí của người Việt: “…Chúng được hình thành bởi tư duynông nghiệp, để phản ánh về một ý niệm truyền đời là cầu no đủ và mọi điều hạnhphúc…”, là sự kết tinh “muôn đời muôn thuở” của dân tộc
Tùy theo điều kiện kinh tế – lịch sử, vị thế xã hội của chủ nhà mà những trang tríđơn giản hay phức tạp, tập trung nhiều nhất ở khu vực thờ tự và tiếp khách Nhàthường dân chỉ sơn vẽ hình kỷ hà (Hình kỷ hà là những hình đơn giản như nétthẳng hay dạng hình học như hình vuông, hình chữ nhật, tròn, tam giác và các hìnhbiến thể hình thang, hình bán nguyệt, hình thoi,…), hình tượng biến hóa của tứlinh, hoa lá,… hoặc sáng tạo trang trí trên vật liệu tạo tác Nhà khá giả sang trọngcầu kỳ tinh tế hơn trong tạo hình, từ đề tài và các dạng đồ trang trí đến kỹ thuậtchạm khắc, cẩn khảm, sơn vẽ Các motif trang trí gia tăng thêm ý nghĩa ở các chitiết đường nét tạo hình, sự cách điệu hình thể, thể hiện ý tưởng thẩm mỹ của chủnhà, mang lại giá trị kết nối giữa con người, văn hóa và tín ngưỡng
Nội thất nhà ở truyền thống vùng đồng bằng Bắc Bộ thường sử dụng màu sắc tốigiản, hạn chế dùng các màu sắc nóng và rực rỡ, ưu tiên những gam màu trầm tối,trung tính, nhưng vẫn rất ấm cúng Đặc biệt, không gian nội thất truyền thống luôn
có đặc trưng bởi “màu thời gian”, thể hiện bằng những hoen ố xen lẫn những mảngmàu gốc bị biến đổi qua thời gian mưa nắng, lâu dần trở nên quen thuộc, gần gũi,tạo thành ký ức khó quên Không gian nhà ở truyền thống thường sử dụng ánh sáng
tự nhiên, chiếu sáng kín đáo, nhẹ nhàng; ưu tiên chiếu sáng không gian nhà phíatrước, nơi tiếp khách hoặc diễn ra các hoạt động đông người của gia đình
4 Văn hóa sản xuất
4.1 Nông nghiệp:
a Trồng trọt:
Dân tộc Kinh từ xa xưa đã quần tụ ở vùng đất cổ thuộc đồng bằng sông Hồng vàgắn bó với nghề trồng lúa nước Trải qua nhiều thời kỳ phát triển, nghề trồng lúa
Trang 31nước không chỉ làm ra nguồn lương thực nuôi sống con người, mà còn tạo rakhông gian văn hóa, bề dày lịch sử mang bản sắc riêng của người Kinh.
Ngoài ra, khí hậu vùng đồng bằng Bắc Bộ còn thích hợp gieo trồng một số loại rau
xứ lạnh như su hào, cải bắp, cải thảo, cải thìa, cải củ, súp lơ… nguồn rau xứ lạnhcải thiện đáng kể thu nhập của người dân Vụ đông đang trở thành vụ sản xuấtchính ở một số địa phương
b Chăn nuôi:
Ngành chăn nuôi lợn, bò và gia cầm cũng phát triển mạnh của vùng Đàn lợnchiếm tỉ trọng lớn nhất cả nước Chăn nuôi bò (đặc biệt là bò sữa), gia cầm và nuôitrồng thủy sản đang được phát triển
Bắc Bộ là một châu thổ có nhiều sông ngòi, mương máng, nên ngườidân chài trọng
về việc khai thác thủy sản Tận dụng ao, hồ đầm để khai thác thủy sản làmộtphương cách được người nông dân rất chú trọng
4.2 Các làng nghề thủ công:
Do đặc thù nền sản xuất nông nghiệp đồng bằng Bắc bộ đòi hỏi phải có nhiều laođộng tham gia, khiến cư dân sống quần tụ lại với nhau đông đúc và hình thành nênlàng xã Trong từng làng xã có cư dân sản xuất các mặt hàng thủ công, lâu dần tạonên những làng nghề, làng nghề truyền thống và truyền nghề từ thế hệ này sang thế
hệ khác Văn hoá làng nghề vùng đồng bằng Bắc bộ được hình thành và phát triểntrong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc với những đặc trưng riêng, hun đúc nêntâm hồn Việt và các giá trị đạo đức, nhân văn
Làng nghề truyền thống hiện nay vẫn chưa có một khái niệm thống nhất, nhưng cóthể hiểu đó là làng cổ truyền, làm nghề thủ công truyền thống Làng nghề truyềnthống là trung tâm sản xuất hàng thủ công, nơi quy tụ các nghệ nhân và nhiều hộgia đình chuyên làm nghề mang tính lâu đời, được truyền lại qua các thế hệ, có sựliên kết, hỗ trợ trong sản xuất, bán sản phẩm Đồng thời, tồn tại hệ thống doanhnghiệp vừa và nhỏ, thậm chí là bán lẻ Họ có cùng tổ nghề, các thành viên luôn có
ý thức tuân theo những hương ước, tập quán, văn hóa địa phương trong quá trìnhphát triển làng nghề ngay trên địa bàn cư trú
Sản phẩm không những có tính ứng dụng cao, mà còn là những sản phẩm độc đáo,
ấn tượng, tinh xảo Ngày nay trong quá trình phát triển của kinh tế xã hội, làngnghề truyền thống đã thực sự trở thành đơn vị kinh tế tiểu thủ công nghiệp, có vaitrò, tác dụng tích cực đối với đời sống nhân dân
Trang 32Người dân đồng bằng Bắc Bộ có rất nhiều các ngành nghề thủ công khác nhau.Một số ngành nghề tiêu biểu như làm gốm (Bát Tràng, Hà Nội), Làng dát vàng(Kiêu Kỵ, Hà Nội), dệt lụa (Vạn Phúc, Hà Tây), làm đồ gỗ (Đồng Kỵ, Bắc Ninh)hay làm chiếu cói (Kim Sơn, Ninh Bình)….
Làng nghề truyền thống đồng bằng Bắc bộ chính là di sản văn hóa mà cha ông ta
để lại, trao truyền từ thế hệ này đến thế hệ khác Mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn lịch sử,làng nghề truyền thống đều có những thăng trầm, nhưng luôn lưu giữ giá trị truyềnthống, tạo nên bản sắc văn hóa dân tộc của mỗi làng quê, gắn kết tình làng nghĩaxóm Giải quyết công ăn việc làm cho người lao động ở cộng đồng dân cư Nhữngsản phẩm độc đáo, tinh xảo, có chất lượng, thẩm mỹ cao - là sự kết tinh trí tuệ củanghệ nhân, của cộng đồng ở nhiều làng nghề truyền thống
Những nơi có nhiều ngành công nghiệp tập trung nhất là Hà Nội, Hải Phòng, HảiDương, Bắc Ninh
III VĂN HÓA TINH THẦN
1 Phong tục tập quán
Tập quán đi lại: giao thông vận tải
- Địa hình tương đối bằng phẳng với hệ thống sông ngòi dày đặc đã tạo điềukiệnthuận lợi để phát triển hệ thống giao thông thuỷ bộ và cơ sở hạ tầng củavùng.Cánh đồng lúa, đồng bằng sông Hồng - Hệ thống sông ngòi tương đối pháttriển Tuy nhiên về mùa mưa lưu lượngdòng chảy quá lớn có thể gây ra lũ lụt, nhất
là ở các vùng cửa sông khi nước lũ và triềulên gặp nhau gây ra hiện tượng dồn ứnước trên sông Về mùa khô (tháng 10 đến tháng4 năm sau), dòng nước trên sông
Trang 33chỉ còn 20-30% lượng nước cả năm gây ra hiện tượngthiếu nước Bởi vậy, để ổnđịnh việc phát triển sản xuất, đặc biệt trong nông nghiệp thìphải xây dựng hệ thốngthuỷ nông đảm bảo chủ động tưới tiêu và phải xây dựng hệ thống đê để chống lũ
và ngăn mặn
- Ăn trầu: Phong tục trầu cau có từ ngàn năm trước, đã đi vào đời sống vật chất vàtinh thần của cư dân Việt trở thành tính biểu tượng của tập quán dân tộc, của truyềnthống văn hóa, của tình nghĩa thủy chung son sắt giữa người với người từ bao đờinay của dân tộc ta
- Nhuộm răng: Đây là một nét đẹp văn hóa của người dân nơi đân thời kỳ trước,song trong giai đoạn hiện nay đã bị phai mờ chỉ còn tồn tại ở một số vùng và chỉ có
ở những người già cao tuổi miền quê
2 Lễ hội:
Lễ hội thường được tổ chức vào mùa xuân và mùa thu để cầu cho một năm mớimạnh khoẻ, mùa màng bội thu…Số lượng Lễ hội trong năm rất nhiều Trong lễ hội,người dân mặc các trang phục truyền thống, tổ chức tế lễ và các hoạt động vuichơi, giải trí
Hội Lim là lễ hội lớn đầu xuân vùng Kinh Bắc Hội Lim được mở đầu bằng lễrước Tham gia Lễ với các bộ y phục ngày xưa, sặc sỡ sắc màu và cầu kì, đẹp mắt
Có nhiều nghi lễ và tục trò dân gian nổi tiếng, trong đó có tục hát thờ hậu
Những lễ hội đó chính là tài sản vô giá trong kho tàng văn hóa dân gian Việt Nam
- Lễ hội chùa Hương:
Hội Chùa Hương diễn ra trên địa bàn xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, thành phố HàNội Lễ thực hiện rất đơn giản, có nghiêng về "thiền" Đền Cửa Võng là "chânlong linh từ" thờ bà chúa Thượng Ngàn Chùa Bắc Đài, chùa Tuyết Sơn, chùa Cả
và đình Quân thờ ngũ hổ và tín ngưỡng cá thần Phần hội : Nét thanh tịnh của miềnđất Phật đã tạo cho con người, cảnh vật hòa lẫn vào không gian khi vào hội Đườngvào chùa Hương tấp nập vào ra hàng trăm thuyền, cộng thú vui ngồi thuyền vãngcảnh lạc vào nơi tiên cõi Phật
3 Ngôn ngữ
Lãnh thổ nước ta trải dài từ Bắc tới Nam với 54 dân tộc anh em Mỗi dân tộc cómột nét bản sắc riêng, một tiếng nói riêng góp phần làm phong phú thêm truyềnthống văn hóa dân tộc Tìm hiểu về ngôn ngữ cũng chính là tìm hiểu về cọi nguồn,
về bản sắc của mỗi dân tộc và của toàn đất nước
Trang 34Phương ngữ Bắc Bộ thể hiện được các yếu tố văn hóa, phong tục tập quán, sinhhoạt xã hội của con người Bắc Bộ Phương ngữ Bắc Bộ khẳng định thêm tính độcđáo, phong phú và đa dạng của con người Bắc Bộ qua từng lời ăn tiếng nói củamình Cũng chính vì sự độc đáo, phong phú ấy đã làm nên nét đặc sắc của conngười ở vùng đồng bằng Bắc Bộ so với các vùng miền khác trên đất nước ViệtNam.
Phương ngữ Bắc Bộ được chia thành ba vùng nhỏ hơn:
- Phương ngữ vòng cung biên giới phía Bắc nước ta:
Phần lớn người Việt ở khu vực này đều đến từ các tỉnh đồng bằng có mật độ cao
Do quá trình cộng cư xảy ra gần đây nên ngôn ngữ vùng này phát triển theo hướngthống nhất với ngôn ngữ văn học, mang những nét khái quát chung của ngôn ngữBắc Bộ và không chia manh mún thành nhiều thổ ngữ làng xã như phương ngữBắc ở các vùng đồng bằng- cái nôi của người Việt cổ
- Phương ngữ vùng Hà Nội và các tỉnh xung quanh:
Đây là vùng mang những đặc trưng tiêu biểu của phương ngữ Bắc Bộ
- Phương ngữ vùng hạ lưu sông Hồng và ven biển:
Đặc biệt ở vùng này còn lưu giữ những cách phát âm phân biệt giữa d vs gi,r; s vs;
tr vs ch mà các phương ngữ Bắc khác không phân biệt nữa
Đặc điểm ngữ âm của phương ngữ Bắc Bộ
- Văn hóa dân gian
Là truyền thống của một nền văn hóa, cận-văn hóa hoặc nhóm Nó bao gồm lịch
sử truyền hết lại, giống truyền miệng, như huyền thoại, tục ngữ, thành ngữ, truyện
Trang 35kể, truyện viết, truyện tranh, truyện cổ tích, truyện cười; các truyền thống kiến trúchay các đồ chơi dân gian, thủ công; các phong tục, tập quán, các truyền thống lâuđời; các tác phẩm âm nhạc, nghệ thuật truyền thống.
Văn hóa dân gian đồng bằng Bắc
Kho tàng văn học dân gian Bắc Bộ có thể coi như một loại mỏ với nhiều khoángsản quý hiếm Từ thần thoại đến truyền thuyết, từ ca dao đến tục ngữ, từ truyệncười đến truyện trạng,mỗi thể loại đều có một tầm dày dặn, mang nét riêng của Bắc
Bộ, chẳng hạn truyện trạng ở Bắc Bộ như truyện Trạng Quỳnh, Trạng Lợn v v sửdụng các hình thức câu đố, câu đối, nói lái, chơi chữ nhiều hơn truyện trạng ở cácvùng khá
Có những thể loại chỉ ở Bắc Bộ mới tồn tại, kiểu như thần thoại Ca dao xứ Bắctrau chuốt, tỉa gọt hơn ca dao Nam Bộ
-Văn hóa bác học
Chính sự phát triển của giáo dục ở đây tạo ra sự phát triển của văn hóa bác học, bởichủ thể sáng tạo nền văn hóa bác học này chính là đội ngũ trí thức được sinh ra từnền giáo dục ấy Đội ngũ này, tiếp nhận vốn văn hóa dân gian, vốn văn hóa bác họcTrung Quốc, Ấn Độ, phương Tây, tạo ra dòng văn hóa bác học Xin đơn cử, chữNôm, chữ Quốc ngữ chính là sản phẩm được tạo ra từ quá trình sáng tạo của tríthức, thể hiện rõ đặc điểm này nói đến văn hóa bác học, không thể không kể đếnvăn học nghệ thuật Những tác giả như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hươngv.v… đều trưởng thành và gắn bó với vùng văn hóa này
4.Tín ngưỡng, tôn giáo:
Tín ngưỡng là một phần không thể thiếu trong đời sống tinh thần của mỗingười Tính ngưỡng là một bộ phận quan trọng trong đời sống tinh thần Mỗi cánhân, mỗi vùng miền, dân tộc hay một quốc độ nào đó sẽ có cho riêng mình nhữngtín ngưỡng riêng biệt tạo nên nét đặc trưng văn hóa của vùng miền, dân tộc, quốc
độ đó
Đồng Bằng Bắc Bộ - cái nôi văn hóa của Việt Nam Nơi khởi nguồn văn hóa của
cả nước, vì thế cho nên nơi đây có những tín ngưỡng cổ của cư dân vùng văn hóaBắc bộ, song đó cũng là những tín ngưỡng sâu xa của người Việt Tín ngưỡng của
cư dân vùng này xuất hiện chủ yếu từ những nhu cầu cơ bản của con người Nhưmuốn phong điều vũ thuận, gió mưa đều đặn, từ đó tín ngưỡng Tứ pháp xuất hiện– thờ các vị thần mây mưa, sớm, chớp Bên cạnh đó còn có các tín ngưỡng đặctrưng như: thờ Tổ tiên, thờ Thành Hoàng, thờ Mẫu
Trang 364.1.Tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên:
Trong kho tàng ca dao Việt Nam có câu: “con người có Tổ có tông, như cây có cộinhư sông có nguồn” Phàm là người sống trong cõi đời này, trong những giây phúthiện tại chúng ta đã và đang mang ơn Tổ tiên dòng tộc của mình Không ai có thể
tự sinh ra, tự lớn lên mà không có cội nguồn gốc rễ Vì thế cho nên tục thờ Giatiên là một việc làm hết sức nhân văn và mang ý nghĩa sâu sắc Và đặc biệt ở vùngBắc Bộ ở Việt Nam ta, tục thờ ấy được nghi thức hóa, nghi lễ hóa trở nên trangnghiêm và mang một màu sắc rất đặc trưng của vùng (thờ cúng linh đình, nhangkhói nghi ngút, bàn thờ trang nghiêm ) Ở mỗi bàn thờ đều có cho riêng mình mộtgóc nhỏ tâm linh trịnh trọng, thường được để giữa gian nhà để thờ Gia tiên, vàhằng năm đều tổ chức cúng giỗ Thông qua việc thờ cúng đó muốn nhắc nhở concháu, đạo lý “uống nước nhớ nguồn” , sự biết ơn và tri ơn đối với Tiền nhân, Tiền
Tổ của dòng tộc mình
4.2.Tín ngưỡng Tứ pháp:
Tứ pháp bao gồm: Pháp Vân, pháp Vũ, pháp Lôi và pháp Điện (mây, mưa, sớm,chớp) – 4 hiện tượng trong tự nnhiê Sở dĩ có tục thờ này là vì, cư dân vùng đồngbằng Bắc Bộ có truyền thống làm nông nghiệp và đặc biệt là trồng lúa nước Mà đểnông nghiệp đuọc thuận lợi thì yếu tố khí hậu đóng vai trò quan trọng hàng đầu Vànước là yếu tố tiên quyết để canh tác nông nghiệp cụ thể là trồng lúa nước Màtrước đây, nguồn nước chủ yếu là do mưa, mà muốn mưa phải có mây, trước khimưa là có sớm và chớp Và từ đó tín ngưỡng Tứ phap ra đời Sau này, khi Phậtgiáo Đại thừa truyền bá vào Việt Nam, các nhà truyền giáo đã dung hòa triết lý củanhà Phật cùng với tín ngưỡng thờ các thần tự nhiên đó thành Tứ Pháp (“pháp” : từcủa Phật giáo, chỉ tất cả các sự vật, hiện tượng trong vũ trụ vạn hữu) Một nét thểhiện rõ tính Phật giáo trong Tứ pháp đó là sự liên hệ với Tứ vô lượng tâm – 4 móntâm lớn của nhà Phật ( từ - bi – hỷ - xả)
4.3 Tín ngưỡng Thờ Mẫu:
Xuất phát từ tục thờ Nữ thần của người Việt cổ Tín ngưỡng thờ mẫu tiêu biểu nơiđây là Thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ Là việc tôn thờ các nữ thần, người mẹ cai quảncác vùng miền (phủ) bao gồm Thiên phủ (vùng trời), thoải phủ (rừng núi), nhạcphủ (vùng sông nước) và địa phủ (vùng đất) Gắn liền với Thờ mẫu là việc hầuĐồng Thực hành tín ngưỡng thờ mẫu được UNESCO công nhận là di sản Văn hóaphi vật thể của nhân loại
4.4 Tín ngưỡng thờ Tổ nghề:
Trang 37Bên cạnh nghề trồng lúa thì nơi đây các ngành tiểu thủ công cũng phát triển rấtmạnh và hình thành nên các làng nghề Những người có công sáng tạo nên nghề đóđược người dân tôn thờ là vị Tổ nghề Có thể nói tín ngưỡng thờ cúng Tổ nghề thểhiện một tinh thần nhân văn sâu sắc – đạo lý tri ân những bậc tiền nhân, sư tổ đãtạo nên nghề của mình Những vị Tổ nghề có thể nhắc đến như: Thiền sư Lý MinhKhông tổ nghề đúc đồng, Lê Công Hành – ông tổ nghề thuê cổ truyền, v v
IV VĂN HÓA XÃ HỘI
1 Văn hóa làng xã
Văn hóa Việt Nam về bản chất là một nền văn hóa làng Văn hóa làng Việt đượchình thành đầu tiên ở nông thôn vùng đồng bằng Bắc Bộ Trong quá khứ, văn hóalàng là một điểm tựa giúp con người vững vàng trong quá trình chinh phục tựnhiên, tổ chức đời sống và chống quân xâm lược Nói đến văn hóa là nói đếnnhững “nét riêng biệt” có tính đặc trưng, tức là cái hồn, cái chất của một người,một vùng miền hay một dân tộc Văn hóa bộc lộ tư duy, tình cảm của con người vàbiểu hiện ở quan niệm sống, hành vi ứng xử của họ Với Việt Nam nói chung, đồngbằng Bắc bộ nói riêng, cái hồn này thể hiện trong văn hóa làng Bên cạnh nhữngnét đặt sắc về kiến trúc, văn hóa làng xã cũng là một nét đặc trưng trong văn hoá
cư trú của vùng nông thôn Đồng bằng Bắc bộ Nó nằm trong sự “thống nhất đadạng” của văn hóa Việt Nam
Văn hóa làng vùng đồng bằng Bắc Bộ là hệ thống những quan niệm, chuẩn mựcđạo đức, hành vi được hình thành trong quá trình tổ chức, giữ gìn cuộc sống củangười nông dân vùng đồng bằng Bắc Bộ, được bộc lộ trong lối sống, phong tục,tâm tính con người, trong kho tàng văn hóa dân gian, tín ngưỡng - tôn giáo, hươngước Nó thể hiện ra ở đình, chùa, miếu, lũy tre, cây đa, bến nước, Những yếu tốvật thể và phi vật thể trên không đứng đơn lập mà hòa quyện vào nhau, tích hợp lạithành bản chất, đặc trưng văn hóa làng, lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác,tạo ra những ảnh hưởng không chỉ trong xã hội truyền thống mà còn ở xã hội hiệnđại, không chỉ ở nơi thôn quê mà tràn ra cả đô thị
Văn hóa làng ở vùng đồng bằng Bắc Bộ khác biệt so với văn hóa làng các vùngkhác trong cả nước vì hai lý do sau: Thứ nhất, đây là vùng văn hóa hình thành đầutiên của cả nước Ngay từ thuở sơ khai, đây là vùng đất đai trù phú, từng là cái nôicủa Văn hóa Đông Sơn thời thượng cổ, Văn hóa Đại Việt thời trung cổ với nhữngthành tựu rất phong phú về mọi mặt Cùng với lịch sử mở cõi của dân tộc, nó cũng
là cội nguồn của văn hóa Việt ở Nam Trung Bộ và Nam Bộ sau này Thứ hai, vănhóa làng vùng đồng bằng Bắc Bộ là tế bào cơ bản, là tấm gương phản chiếu nền
Trang 38văn hóa dân tộc Văn hóa dân tộc chỉ là sự mở rộng và nâng cao của nền văn hóaxóm làng của vùng Điều kiện sinh thái và dân số là một lý do cơ bản làm cho làngđồng bằng Bắc Bộ chặt chẽ hơn những nơi khác Do đó, bản chất văn hóa làngđược hình thành, bộc lộ cũng đậm nét hơn các vùng còn lại của Việt Nam.
Từ bao đời nay, hình ảnh làng truyền thống đã in sâu vào tâm trí, gắn bó với tâmhồn nhiều thế hệ người dân nước Việt Cho dù ngày nay đã có nhiều đổi thay trongđời sống xã hội, nhưng nhiều làng quê vẫn giữ được nét đặc trưng tiêu biểu củalàng quê Bắc Bộ Đồng bằng Bắc Bộ chính là cái nôi hình thành văn hoá Việt Nam
và hiện nay vẫn là nơi mà văn hóa Việt Nam bảo lưu nhiều giá trị truyền thống.Văn hóa làng vùng đồng bằng Bắc Bộ có nhiều đặc trưng, nổi bật là tính cộngđồng, tính tự trị và tính dung hợp trong tư duy Nhờ vào những đặc trưng này màcho dù đất nước ta đã nhiều lần rời vào tay giặc ngoại xâm nhưng chúng ta vẫn cóthể gìn giữ được những giá trị truyền thống của văn hoá dân tộc
Do vậy, việc nghiên cứu về đặc trưng văn hóa làng vùng đồng bằng Bắc Bộ là cầnthiết, giúp chúng ta nhận thức sâu hơn về các giá trị cốt lõi, làm cơ sở cho việc xâydựng làng văn hóa ở nông thôn vùng đồng bằng Bắc Bộ ngày nay
4 ĐỒNG BẰNG DUYÊN HẢI MIỀN TRUNG
ĐỒNG BẰNG DUYÊN HẢI TRUNG BỘ
I.Lịch sử
Khác với Nam Bộ được khai phá muộn hơn , khác với Bắc Bộ là địa bàn tự cư
và khai thác lâu đời của người Việt vùng Trung Bộ là một thời kỳ dài thuộc các tiểuVương quốc Chăm pa Trung Bộ là vùng đất được người Việt khai phá theo kiểutiệm tiến Sự cộng cư với người Chăm Trung Bộ chứng kiến quá trình Nam tiếncủa người Việt diễn ra trên lãnh thổ từng thuộc Chăm Pa Các xung đột quân sự vàranh giới chia cắt Việt Nam trong một số thời kỳ lịch sử như Trịnh – Nguyễn phântranh và Chiến tranh Việt Nam cũng nằm trên Trung Bộ
Vùng đồng bằng duyên hải Trung Bộ được biết đến là vùng đất của Vươngquốc Chăm pa Dân tộc Chăm vốn sinh tụ ở duyên hải miền Trung Việt Nam từ rấtlâu đời, đã từng kiến tạo nên một nền văn hoá rực rỡ với ảnh hưởng sâu sắc củavăn hoá ấn Ðộ Ngay từ những thế kỉ thứ XVII, người Chăm đã từng xây dựng nênvương quốc Chăm pa Hiện tại cư dân gồm có hai bộ phận chính: Bộ phận cư trú ởNinh Thuận và Bình Thuận chủ yếu theo đạo Bà la môn (một bộ phận nhỏ ngườiChăm ở đây theo đạo Islam truyền thống gọi là người Chăm Bà ni)
Trang 39Với Đại Việt, từ 1059, vùng Quảng Bình thuộc về nhà Lý, năm 1336, Châu Ô,Châu Lý (tức vùng Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế ngày nay) thuộc về nhà Trần, năm
1470, vùng đất từ núi Thạch Bi( nay thuộc Phú Yên) trở ra thuộc nhà Lê Năm
1558, Nguyễn Hoàng vào trấn phủ xứ Thuận Hoá Từ đó, Nguyễn Hoàng bắt đầu
“kinh doanh dải đất” miền Trung Nói khác đi là sự nghiệp khai phá miền Trungđược đẩy lên một bước mới Rồi hai trăm năm chiến tranh giữa Đàng Trong vàĐàng Ngoài, miền Trung trở thành lãnh địa được chúa Nguyễn tạo ra với ý thứcđối kháng với Đàng Ngoài Kinh đô của vương triều này là vùng Phú Xuân
Phong trào nông dân khởi nghĩa thế kỉ XVIII làm lung lay chế độ phong kiến.Năm 1788, Nguyễn Huệ lên ngôi vua ở Phú Xuân, đất nước được thống nhất trên
cơ bản Năm 1802, dựa vào thế lực của phương Tây, Nguyễn Ánh chiến thắngvương triều Tây Sơn, cai quản một đất nước thống nhất Từ 1802 đến 1945, nhàNguyễn đặt kinh đô ở Huế Như vậy là miền Trung đã có một thời ít nhất với bavương triều: chúa Nguyễn nhà Tây Sơn, nhà Nguyễn, có xứ Huế, là thủ phủ của xứĐàng Trong, kinh đô của cả nước Trải qua tiến trình lịch sử, vùng Trung Bộ làtrạm trung chuyển, đất đứng chân để người Việt tiến về phía Nam mở cõi, lại làvùng biên viễn của Đại Việt, nơi diễn ra sự giao lưu trực tiếp giữa người Việt vàngười Chăm
Trang 40- Duyên hải Nam Trung Bộ là dải đất hẹp ngang hình cong, hướng ra biển, trải dàigần 6 vĩ độ từ 10033’B đến 160B (kéo dài từ Đà Nẵng đến Bình Thuận) Bao gồm
8 tỉnh và thành phố
- Phía Tây là Tây Nguyên, Lào; phía Đông là vùng biển rộng với quần đảo Hoàng
Sa, Trường Sa; phía Bắc giáp Bắc Trung Bộ, phía Nam giáp Đông Nam Bộ
- Với vị trí và hình dáng như trên duyên hải Nam Trung Bộ có ý nghĩa về chiếnlược giao lưu kinh tế và an ninh quốc phòng: vùng được coi là cửa ngõ của TâyNguyên, là cầu nối của Nam Bộ với các tỉnh phía Bắc, quan trọng hơn cả vùngđược coi là cơ sở hậu cần để khai thác kinh tế biển đảo và bảo vệ chủ quyền biểnĐông
- Lãnh thổ kéo dài, hẹp ngang
- Phía bắc giáp Bắc Trung Bộ, phía tây giáp Tây Nguyên, phía nam giáp ĐôngNam Bộ, phía đông giáp Biển Đông
- Có nhiều đảo, quần đảo lớn nhỏ, trong đó có quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
Ý nghĩa quan trọng về mặt kinh tế và an ninh quốc phòng:
+ Vị trí trung chuyển giữa hai miền Bắc – Nam, nối Tây Nguyên với các cảng biểnphía Đông -> thuận lợi cho lưu thông và trao đổi hàng hóa
+ Các đảo và quần đảo có tầm quan trọng về kinh tế và quốc phòng đối với cảnước
*Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên
có một số đặc sản biển có giá trị kinh tế cao: tổ chim yến, đồi mồi, tôm hùm Một
số đảo ven bờ từ Quảng Nam đến Khánh Hòa có thể khai thác tổ chim yến (yếnsào) đem lại giá trị kinh tế cao Khoáng sản: cát thủy tinh, titan, vàng => phát triểncông nghiệp khai khoáng
- + Tài nguyên du lịch: nhất là du lịch biển với các bãi tắm đẹp, các di tích lịch sử,văn hoá.DHMT có nhiều bãi tắm đẹp trải dài từ Quảng Trị tới Bình Thuận được