THÁI THANH QUÝVAI TRÒ CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP TỈNH ĐỐI VỚI GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG VÙNG MIỀN NÚI TỈNH NGHỆ AN Chuyên ngành: Kinh tế chính trị Mã số: 9310102 LUẬN ÁN TIẾN SĨ Người hướng dẫn khoa
Trang 1THÁI THANH QUÝ
VAI TRÒ CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP TỈNH ĐỐI VỚI GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG VÙNG MIỀN NÚI TỈNH NGHỆ AN
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÀNH KINH TẾ CHÍNH TRỊ
HÀNỘI - 2019
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
Trang 2THÁI THANH QUÝ
VAI TRÒ CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP TỈNH ĐỐI VỚI GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG VÙNG MIỀN NÚI TỈNH NGHỆ AN
Chuyên ngành: Kinh tế chính trị
Mã số: 9310102 LUẬN ÁN TIẾN SĨ
Người hướng dẫn khoa học:
1 PGS.TS Trần Việt Tiến
2 TS Hồ Đức Phớc
HÀ NỘI - 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi đã đọc và hiểu về các hành vi vi phạm sự trung thực trong học thuật Tôicam kết bằng danh dự cá nhân rằng nghiên cứu này do tôi tự thực hiện và không viphạm yêu cầu về sự trung thực trong học thuật
Nghiên cứu sinh
Thái Thanh Quý
iii
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG, BIỂU, HÌNH, SƠ ĐỒ vi
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 11
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến nghèo, giảm nghèo và giảm
nghèo bền vững 11
1.1.1 Nghiên cứu của các tác giả và tổ chức quốc tế 11
1.1.2 Nghiên cứu của các tác giả và tổ chức trong nước 14
1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến vai trò của Nhà nước và
chính quyền cấp tỉnh đối với giảm nghèo, giảm nghèo bền vững 23
1.3 Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu về vai trò của chính quyền các cấp đối với giảm nghèo bền vững vùng miền núi 25
Chương 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM VỀ VAI TRÒ CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP TỈNH ĐỐI VỚI GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG VÙNG MIỀN NÚI 27
2.1 Một số vấn đề về nghèo và giảm nghèo bền vững vùng miền núi 27
2.1.1 Một số vấn đề về nghèo vùng miền núi 27
2.1.2 Giảm nghèo bền vững vùng miền núi: quan niệm, tiêu chí và vai trò 33
2.2 Vai trò của chính quyền cấp tỉnh đối với giảm nghèo bền vững vùng miền núi 38
2.2.1 Quan niệm, đặc điểm và sự cần thiết vai trò của chính quyền cấp tỉnh đối với giảm nghèo bền vững vùng miền núi 38
2.2.2 Nội dung vai trò của chính quyền cấp tỉnh đối với giảm nghèo bền vững vùng miền núi 42
2.2.3.Những nhân tố ảnh hưởng đến vai trò của chính quyền cấp tỉnh đối với giảm nghèo bền vững vùng miền núi 56
Trang 52.3 Kinh nghiệm về vai trò của chính quyền cấp tỉnh về giảm nghèo bền vững vùng miền núi của một số địa phương và bài học rút ra cho tỉnh Nghệ An 60
2.3.1.Kinh nghiệm về vai trò của chính quyền cấp tỉnh về giảm nghèo bền vững
vùng miền núi của một số địa phương 60
2.3.2 Bài học cho tỉnh Nghệ An về vai trò của chính quyền cấp tỉnh đối với giảm nghèo bền vững vùng miền núi 67
Tiểu kết chương 2 69
Chương 3 THỰC TRẠNG VAI TRÒ CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP TỈNH ĐỐI VỚI GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG VÙNG MIỀN NÚI TỈNH NGHỆ AN 70
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và tình hình nghèo, giảm nghèo bền
vững vùng miền núi tỉnh Nghệ An 70
3.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội vùng miền núi tỉnh Nghệ An có ảnh
hưởng đến giảm nghèo bền vững 70
3.1.2 Tình hình nghèo vùng miền núi tỉnh Nghệ An 72
3.1.3 Tình hình giảm nghèo bền vững vùng miền núi tỉnh Nghệ An 75
3.2 Vai trò của chính quyền cấp tỉnh đối với giảm nghèo bền vững vùng miền núi
tỉnh Nghệ An giai đoạn 2014 - 2017 78
3.2.1 Xác định chiến lược và kế hoạch giảm nghèo bền vững 78
3.2.2 Các chính sách ban hành về giảm nghèo bền vững vùng miền núi trên địa bàn 82
3.2.3 Tổ chức thực hiện giảm nghèo bền vững vùng miền núi trên địa bàn 90
3.2.4 Thực hiện thanh tra, kiểm tra thực hiện giảm nghèo bền vững vùng miền núi trên
địa bàn 100
3.3 Đánh giá vai trò của chính quyền cấp tỉnh đối với giảm nghèo bền vững
vùng miền núi tỉnh Nghệ An 104
3.3.1 Những thành tựu 104
3.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân của hạn chế 107
Tiểu kết chương 3 112
Chương 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP TỈNH ĐỐI VỚI GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG VÙNG MIỀN NÚI TỈNH NGHỆ AN 113
Trang 64.1 Bối cảnh quốc tế, trong nước và địa phương có ảnh hưởng đến vai trò của chính quyền cấp tỉnh và định hướng giảm nghèo bền vững vùng miền núi tỉnh Nghệ An
thời gian tới 113
4.1.1 Bối cảnh quốc tế, trong nước và địa phương có ảnh hưởng đến vai trò của chính quyền cấp tỉnh đối với giảm nghèo bền vững vùng miền núi tỉnh Nghệ An thời gian tới 113
4.1.2 Định hướng giảm nghèo bền vững vùng miền núi tỉnh Nghệ An thời gian tới 119
4.2 Quan điểm nâng cao vai trò của chính quyền cấp tỉnh đối với giảm nghèo bền vững vùng miền núi tỉnh Nghệ An 121
4.3 Giải pháp nâng cao vai trò của chính quyền cấp tỉnh đối với giảm nghèo bền vững vùng miền núi tỉnh Nghệ An 123
4.3.1 Hoàn thiện về hoạch định chiến lược và kế hoạch giảm nghèo bền vững 123
4.3.2 Hoàn thiện các chính sách thực hiện giảm nghèo bền vững vùng miền núi 126
4.3.3 Tổ chức thực hiện tốt giảm nghèo bền vững 134
4.3.4 Tăng cường kiểm tra, giám sát thực hiện giảm nghèo bền vững 140
4.3.5 Nâng cao chất lượng của đội ngũ công chức trong bộ máy chính quyền cấp tỉnh
có liên quan đến giảm nghèo bền vững 142
4.3.6 Đẩy mạnh phát triển kinh tế của địa phương 143
4.3.7 Tăng cường cơ sở vật chất để thực hiện vai trò của chính quyền cấp tỉnh đối với
giảm nghèo bền vững 144
4.4 Một số kiến nghị 146
4.4.1 Kiến nghị với Quốc hội 146
4.4.2 Kiến nghị với Chính phủ 146
Tiểu kết chương 4 148
KẾT LUẬN 149
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ 151
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 152
Trang 7DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Trang 8DANH MỤC BẢNG, BIỂU, HÌNH, SƠ ĐỒ
Bảng 3.1: Tình hình dân số và thu nhập bình quân/ người khu vực miền núi 70
Bảng 3.2 Tình trạng nghèo của vùng miền núi tỉnh Nghệ An 72
Bảng 3 3 Thu nhập bình quân người nghèo vùng miền núi tỉnh Nghệ An năm 2017 73 Bảng 3.4 Tỷ lệ thiếu hụt các chỉ số nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều của vùng miền núi tỉnh Nghệ An năm 2017 75
Bảng 3.5 Kết quả giảm nghèo vùng miền núi tỉnh Nghệ An 76
Bảng 3.6 Tình hình tái nghèo vùng miền núi tỉnh Nghệ An 77
Bảng 3.7 Đánh giá xây dựng chiến lược giảm nghèo bền vững cho vùng miền núi tỉnh Nghệ An (đối tượng hỏi: cán bộ quản lý) 81
Bảng 3.8 Cơ sở hạ tầng vùng miền núi tỉnh Nghệ An 83
Bảng 3.9 Vốn thực hiện giảm nghèo vùng miền núi tỉnh Nghệ An 83
Bảng 3.10 Giáo dục và đào tạo nghề vùng miền núi tỉnh Nghệ An 85
Bảng 3.11: Kết quả giải quyết việc làm vùng miền núi tỉnh Nghệ An 86
Bảng 3.12 Kết quả cho hộ nghèo vay vốn từ NHCSXH tại vùng miền núi tỉnh Nghệ An 87
Bảng 3.13 Số người nghèo tham gia BHYT và số tiền chi BHYT cho người nghèo tại vùng miền núi tỉnh Nghệ An 89
Bảng 3.14 Hiệu quả của các chính sách giảm nghèo bền vững đã triển khai ở vùng miền núi tỉnh Nghệ An 98
Bảng 3.15 Nhận xét về sự phối hợp giữa các cấp chính quyền trong vấn đề giảm nghèo bền vững vùng miền núi tỉnh Nghệ An 100
Bảng 3.16: Tổng hợp các cuộc thanh tra, kiểm tra thực hiện giảm nghèo vùng miền núi Nghệ An 101
Bảng 3.17 Mức độ của hoạt động kiểm tra, giám sát, đánh giá thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững vùng miền núi tỉnh Nghệ An 102
Bảng 4.1 Dự báo về các tiêu chí vùng miền núi tỉnh Nghệ An 121
Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ nghèo của vùng miền núi và toàn tỉnh Nghệ An 73
Biểu đồ 3 2 Tỷ lệ giảm nghèo năm sau so với năm trước vùng miền núi và toàn tỉnh 76 Biểu đồ 3.3 Tỉ lệ tái nghèo vùng miền núi và toàn tỉnh Nghệ An 77
Hình 2.1 Cái vòng luẩn quẩn nghèo đói 28
Hình 2.2 Cấu tạo chỉ số nghèo đa chiều 29
Sơ đồ 3.1 Sơ đồ Ban Chỉ đạo giảm nghèo cấp tỉnh tỉnh Nghệ An 92
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nghèo là một trong những vấn đề KT-XH bức xúc mà nhiều quốc gia trên thếgiới đang phải đối mặt Nghèo không chỉ tồn tại ở nhiều nước Đối với những nướcđang phát triển thì nghèo không những là vấn đề xã hội, mà còn là thách thức lớn trongsuốt quá trình phát triển của xã hội Do vậy, trong những năm gần đây, các quốc gia,các tổ chức quốc tế đã nỗ lực tìm kiếm các giải pháp hữu hiệu để GN, thu hẹp dầnkhoảng cách giữa giàu và nghèo ở phạm vi quốc gia, khu vực và quốc tế
Ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước đã sớm ý thức được nguy cơ của nghèo và tầmquan trọng của GN, từ đó đã đầu tư nhiều công sức, tiền của để thực hiện chương trình
GN trong phạm vi cả nước
Tuy nhiên, kết quả GN ở Việt Nam thời gian qua chưa vững chắc và còn nhiềuthách thức Thực tế đó đòi hỏi nước ta cần phải nỗ lực cố gắng nhiều hơn nữa để tìm ragiải pháp hiệu quả nhằm giải quyết tốt đối với chương trình GN
Nghệ An là một trong những tỉnh nghèo Thời gian qua, chính quyền tỉnh Nghệ
An đã đạt được khá nhiều thành tựu trong lãnh đạo phát triển KT-XH trên địa bàn, đờisống của nhân dân được từng bước cải thiện Cơ cấu các ngành kinh tế, lĩnh vực kinh
tế dần chuyển dịch tích cực, thích ứng với cơ chế thị trường dưới sự điều tiết của Nhànước Để đạt được kết quả tích cực đó có công sức không nhỏ của toàn bộ hệ thốngchính trị, các sở, ban, ngành, các tổ chức, các doanh nghiệp và toàn bộ người dân trongtỉnh, trên hết vẫn cần nhấn mạnh tới sự quản lý hiệu quả của Đảng bộ, HĐND, UBNDtỉnh Nghệ An
Cùng với sự phát triển KT-XH đó, GN trên địa bàn tỉnh Nghệ An đã đạt được nhữngkết quả đáng ghi nhận Tuy nhiên, kết quả GN trên địa bàn tỉnh chưa bền vững, chưađựng nhiều nguy cơ, đặc biệt khả năng tái nghèo cao (khoảng 10%), tập trung ở vùngmiền núi tỉnh Nghệ An
Vùng miền núi tỉnh Nghệ An là địa bàn chiến lược đặc biệt quan trọng về kinh tế
-xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại của tỉnh và khu vực Bắc Trung bộ, bao gồm 10đơn vị hành chính cấp huyện, 1 thị xã và 220 đơn vị hành chính cấp xã (trong đó 195 xãmiền núi, có 27 xã nằm tiếp giáp với biên giới Việt - Lào) Dân số toàn vùng 1.067.000người chiếm 36,5% dân số toàn tỉnh, với 41 vạn đồng bào DTTS cùng sinh sống Vùngmiền núi tỉnh Nghệ An có địa hình hiểm trở, bị chia cắt bởi nhiều sông suối, thườngxuyên bị thiên tai, lũ lụt; xuất phát điểm về KT-XH thấp, thuần nông, trình độ canh tác
9
Trang 10lạc hậu Do điều kiện tự nhiên không thuận lợi, trình độ nền kinh tế còn thấp, tình trạngkém phát triển nên việc huy động nội lực cho phát triển KT-XH, thực hiện đảm bảocung cấp các dịch vụ công rất hạn chế, chưa thu hút đầu tư trong và ngoài nước; an ninhbiên giới, vùng dân tộc vẫn còn phức tạp, dễ gây mất ổn định, đời sống của nhân dân,nhất là đồng bào DTTS còn nhiều khó khăn, thu nhập tính trên đầu người đạt thấp,bằng 63,3% bình quân chung của cả tỉnh Các nhu cầu thiết yếu như nhà ở, đất ở, đấtsản xuất nông nghiệp, đất rừng, nước sinh hoạt chưa được giải quyết căn bản.
Chính quyền tỉnh Nghệ An luôn xác định vùng miền núi là một trong ba vùng kinh
tế đóng vai trò làm động lực tăng trưởng của tỉnh, và Nghệ An chưa thể giàu mạnh, ansinh xã hội chưa thể vững chắc, nếu chưa khai thác được tiềm năng, thế mạnh củavùng miền núi Nhận thức rõ vị trí quan trọng vùng miền núi của tỉnh, trong thời gianvừa qua cùng sự quan tâm của Đảng, Chính phủ, các bộ, ban, ngành của Trung ương
và với chỉ đạo quyết liệt của các cấp chính quyền tỉnh Nghệ An, GN vùng miền núicủa tỉnh Nghệ An đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận
Tuy nhiên, đến hết năm 2017, tỷ lệ hộ nghèo vùng miền núi tỉnh Nghệ An còn ởmức cao (17%) so với bình quân chung toàn tỉnh (12%) và cả nước (9%) Hộ nghèovùng miền núi vẫn chiếm tỷ lệ lớn, đặc biệt có 4 huyện có tỷ lệ hộ nghèo trên 30%,như huyện Kỳ Sơn (56.03%), Tương Dương (36.34 %), Quế Phong (39.45 %), QuỳChâu (37.49 %) (Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Nghệ An, 2018) Đây lànhững huyện thuộc diện huyện 30a Điều này cũng đặt ra cho chính quyền các cấpnhiều vấn đề trong việc GN thời gian tới
Một trong những nguyên chính đó là chính quyền cấp tỉnh tỉnh Nghệ An chưaphát huy hết vai trò của mình về GNBV vùng miền núi Điều này được thể hiện trongcông tác hoạch định chiến lược, kế hoạch GN; ban hành chính sách GN; tổ chức thựchiện GN; kiểm tra, giám sát GN trên địa bàn vùng miền núi của tỉnh
Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài“Vai trò của chính quyền cấp tỉnh đối với giảm
nghèo bền vững vùng miền núi tỉnh Nghệ An” sẽ góp phần làm rõ thêm những vấn đề
lý luận và thực tiễn về vai trò của chính quyền cấp tỉnh đối với GN bền vững vùngmiền núi tỉnh Nghệ An, từ đó đề xuất giải pháp nâng cao vai trò của chính quyền cấptỉnh đối với giảm nghèo bền vững vùng miền núi tỉnh Nghệ An thời gian tới
Trang 112 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu: Luận án nghiên cứu với mục đích là đề xuất các quan điểm và
giải pháp nhằm nâng cao vai trò của chính quyền cấp tỉnh đối với GNBV vùng miền núitỉnh Nghệ An thời gian tới
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt mục đích trên, luận án đặt ra những nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án, từ đótìm ra “khoảng trống” cần tiếp tục nghiên cứu;
- Làm rõ những vấn đề lý luận về vai trò của chính quyền cấp tỉnh đối với GNBV vùngmiền núi;
- Tổng quan kinh nghiệm của một số tỉnh trong nước về vai trò chính quyền cấp tỉnh đốivới GNBV vùng miền núi, từ đó rút ra các bài học cho tỉnh Nghệ An;
- Tiến hành khảo sát, điều tra, thu thập và tổng hợp thông tin để phục vụ cho việc phântích thực trạng vai trò của chính quyền cấp tỉnh đối với GNBV vùng miền núi tỉnhNghệ An;
- Nghiên cứu, phân tích vai trò của chính quyền cấp tỉnh đối với GNBV vùng miền núitỉnh Nghệ An từ năm 2014 - 2017 Từ đó chỉ ra những thành tựu, hạn chế và nguyênnhân của hạn chế về vai trò của chính quyền cấp tỉnh đối với GNBV vùng miền núitỉnh Nghệ An
- Trên cơ sở lý luận và phân tích, đánh giá thực trạng vai trò của chính quyền cấp tỉnh đốivới GNBV vùng miền núi tỉnh Nghệ An, luận án đề xuất các quan điểm, giải pháp nângcao vai trò của chính quyền cấp tỉnh đối với GNBV vùng miền núi tỉnh Nghệ An đếnnăm 2025, tầm nhìn đến 2030
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án: vai trò của chính quyền cấp tỉnh đối vớiGNBV vùng miền núi
3.2 Phạm vi nghiên cứu
3.2.1 Về nội dung
Luận án nghiên cứu theo hướng thực thi các chức năng của chính quyền cấp tỉnhđối với GNBV vùng miền núi dưới góc độ chuyên ngành Kinh tế chính trị Do đó, luận
Trang 12án tập trung nghiên cứu:
Một là, xác định chiến lược và kế hoạch GNBV vùng miền núi;
Hai là, ban hành các chính sách GNBV vùng miền núi;
Ba là, tổ chức thực hiện GNBV vùng miền núi Nội dung này luận án chỉ nghiên
cứu:
- Xây dựng bộ máy thực hiện GNBV;
- Thực hiện luật pháp, chính sách của Nhà nước Trung ương và các chính sách
do tỉnh ban hành về GNBV ;
- Phối hợp các tổ chức có liên quan về thực hiện GNBV
Bốn là, kiểm tra, giám sát thực hiện GNBV vùng miền núi.
3.2.2 Về không gian
Luận án nghiên cứu GNBV vùng miền núi tỉnh Nghệ An, bao gồm 11 huyện, thị
xã là: Thị xã Thái Hòa, huyện Anh Sơn, huyện Con Cuông, huyện Quỳ Châu, huyện
Kỳ Sơn, huyện Nghĩa Đàn, huyện Quế Phong, huyện Quỳ Hợp, huyện Tân Kỳ, huyệnThanh Chương, huyện Tương Dương
3.2.3 Về thời gian
Thứ nhất, luận án nghiên cứu vai trò chính quyền cấp tỉnh đối với GNBV vùng
miền núi tỉnh Nghệ An giai đoạn 2014 - 2017 Các số liệu thứ cấp luận án sử dụng đểnghiên cứu chủ yếu cũng trong giai đoạn này Riêng số liệu về người nghèo, hộ nghèo
và GN luận án chỉ sử dụng số liệu giai đoạn 2015 - 2017, bởi vì :
Một là, từ năm 2011 - 2015, tiêu chí nghèo ở Việt Nam chỉ xét trên góc độ thunhập Tháng 11 năm 2015, Việt Nam đưa ra tiêu chí và mức chuẩn nghèo mới theophương pháp tiếp cận đa chiều và tiêu chí mức thu nhập cũng tăng lên ( từ 400.000đồng/người lên 700.000 đồng/người đối với vùng nông thôn, miền núi)
Hai là, tuy 2016 mới thực hiện tiêu chí và chuẩn nghèo mới, nhưng cuối năm 2015tỉnh Nghệ An đã điều tra người nghèo, hộ nghèo theo tiêu chí và chuẩn nghèo mớinày Vì vậy, số liệu công bố về người nghèo, hộ nghèo đầu năm 2016 thực chất là sốliệu của năm 2015 theo tiêu chí và chuẩn nghèo mới Do đó, số người nghèo, hộ nghèonăm 2014 ít hơn năm 2015 và giảm nghèo năm 2014 nhiều hơn năm 2015 Dựa số liệunày sẽ phân tích không chính xác vai trò chính quyền cấp tỉnh đối với GNBV vùngmiền núi tỉnh Nghệ An
Trang 13Thứ hai, luận án đề xuất quan điểm và giải pháp nâng cao vai trò chính quyền
cấp tỉnh đối với GNBV vùng miền núi tỉnh Nghệ An đến năm 2025, tầm nhìn 2030
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Câu hỏi nghiên cứu
Luận án được thực hiện xuất phát từ những câu hỏi nghiên cứu sau:
- Thế nào là GNBV vùng miền núi?
- Vai trò chính quyền cấp tỉnh đối với GNBV vùng miền núi thể hiện ở những nộidung nào? Những nhân tố nào ảnh hưởng đến vai trò đó của chính quyền cấp tỉnh?
- Vai trò chính quyền cấp tỉnh đối với GNBV vùng miền núi tỉnh Nghệ An thời gian
2015 - 2017 có những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của hạn chế?
- Để nâng cao vai trò của chính quyền cấp tỉnh đối với GNBV vùng miền núi tỉnh Nghệ
An cần có những quan điểm và giải pháp nào?
4.2 Khung nghiên cứu và sơ đồ nghiên cứu của luận án
4.2.1 Khung nghiên cứu
Luận án đề xuất khung nghiên cứu theo hướng các chức năng vai trò chínhquyền cấp tỉnh đối với GNBV vùng miền núi dưới góc độ Kinh tế chính trị như sau:
Trang 14Tìm khoảng trống nghiên cứu và xây dựng phương pháp nghiên cứu
Nội dung vai trò CQCT đối với giảm Những nhân tố Kinhnghiệm
nghèobềnvững vùng miền núi
ảnh hưởng đến vai trò CQCT đối với giảm nghèo bền vững vùng miền núi vai trò CQCT đối với giảm nghèo bền vững vùng miền núi Bài học kinh nghiệm
Thực trạng vai trò CQCT đối với giảm nghèo bền vững vùng miền núi Nghệ An Đánh giá thực trạng vai trò CQCT đối với giảm nghèo bền vững vùng miền núi Nghệ An
Đề xuất quan điểm và giải pháp nâng cao vai trò CQCT đối với giảm nghèo bền vững vùng miền núi Nghệ An
Sự cần thiết của nghiên cứu
Nội dung vai trò của chính quyền cấp tỉnh đối với giảm nghèo bền vững vùng miền núi:
- Xây dựng chiến lược, kế hoạch ;
- Ban hành các chính sách
- Tổ chức thực hiện
- Kiểm tra, giám sát
Các nhân tố ảnh hưởng đến vai trò của chính quyền cấp tỉnh đối với giảm nghèo bền vững vùng miền núi:
- Chủ trương của NN và của địa phương;
- Hiệu lực của bộ máy
- Sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
- Tổ chức thực hiện giảm nghèo.
- Kiểm tra, giám sát
Giải pháp nâng cao vai trò của chính quyền cấp tỉnh đối với giảm nghèo bền vững vùng miền núi tỉnh Nghệ An:
- Hoàn thiện xây dựng quy hoạch, kế hoạch
- Hoàn thiện các chính sách
- Tổ chức thực hiện tốt giảm nghèo bền vững
- Tăng cường thanh tra, giám sát;
- Nâng cao chất lượng công chức trong bộ máy chính quyền về thực hiện giảm nghèo
- Tăng cường sự phối hợp của các cấp chính quyền
- Đẩy mạnh phát triển kinh tế của địa phương.
- Tăng cường cơ sở vật chất
4.2.2 Sơ đồ nghiên cứu:
Nguồn : Tác giả
Trang 154.3 Phương pháp luận
Luận án nghiên cứu về vai trò chính quyền cấp tỉnh đối với GNBV vùng miềnnúi tỉnh Nghệ An tiếp cận dưới góc độ chuyên ngành Kinh tế chính trị Do đó, luận ánlấy quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử làm phương pháp luận
4.4 Phương pháp nghiên cứu cụ thể và phương pháp thu nhập thông tin
Thứ nhất, luận án sử dụng các phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp
lịch sử và lôgíc, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê mô tả làm phương pháp
cụ thể để nghiên cứu, luận giải vai trò của chính quyền cấp tỉnh đối với GNBV vùngmiền núi tỉnh Nghệ An dưới góc độ chuyên ngành Kinh tế chính trị
Luận án có kế thừa những kết quả nghiên cứu trước đã có, bên cạnh đó, bổ sung vàphát triển các luận cứ và thực tiễn mới
Thứ hai, phương pháp thu nhập thông tin.
Một là, các thông tin thứ cấp thu thập được từ hệ thống cơ sở dữ liệu của CụcThống kê, Sở LĐ-TBXH , Sở Kế hoạch - Đầu tư, Bảo hiểm xã hội tỉnh Nghệ An,Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh Nghệ An
Hai là, các thông tin sơ cấp thu thập được thông qua:
- Điều tra, khảo sát bằng bảng hỏi
Mục đích chính của điều tra khảo bằng bảng hỏi là thu thập thông tin sơ cấp cầnthiết để phân tích, đánh giá vai trò của chính quyền cấp tỉnh đối với GNBV vùng miềnnúi tỉnh Nghệ An Mẫu phiếu điều tra được xây dựng dựa trên bảng hỏi Các phiếuđiều tra dành cho đối tượng là người nghèo được thực hiện trên phạm vi toàn vùngmiền núi tỉnh Nghệ An là 110 phiếu Mỗi huyện, thị phát 10 phiếu ở 2 xã nghèo Ở mỗi
xã đó phiếu điều tra được phát cho 5 hộ nghèo (mẫu phiếu số 01) Luận án chọn mẫu hộnghèo để phát phiếu điều tra là : 1 hộ nghèo do nguyên nhân khách quan, 1 hộ nghèo donguyên nhân chủ quan, 1 hộ cận thoát nghèo, 1 hộ nghèo, 1 hộ rất nghèo (Những hộ nàyđều do giới thiệu của chính quyền địa phương sở tại) Luận án chọn mẫu như vậy sẽkhái quát được tình hình nghèo của địa phương Số phiếu thu về là 105 phiếu
Để kết quả nghiên cứu của luận án được khách quan, khoa học và hợp lý, ngoàiviệc điều tra khảo sát đối với hộ nghèo, luận án còn xây dựng bảng hỏi dành cho 2 đốitượng :
(i) Đối tượng thứ nhất là cán bộ, công chức cấp tỉnh, những người có trách nhiệmđối với công tác GN vùng miền núi (mẫu phiếu số 02, tổng số 100 phiếu, mỗi đơn vị
Trang 16phát phiếu cho cán bộ, công chức tại Ban Chỉ đạo, Sở Nông nghiệp và Phát triển nôngthôn, Sở LĐ-TBXH, Sở Tài chính, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Ngân hàng Chính sách xãhội, Bảo hiểm xã hội) Số phiếu thu về là 100% Luận án chọn mẫu phát phiếu gồmcán bộ, công chức tham mưu và cán bộ công chức trực tiếp thực hiện.
(ii)Đối tượng thứ hai là cán bộ, công chức giữ chức vụ lãnh đạo quản lý có liênquan đến GN ở tỉnh (mẫu phiếu 03 tổng số 60 phiếu, mỗi đơn vị phát 10phiếu bao gồm lãnh đạo các sở và phòng liên quan, 10 phiếu phát ngẫu nhiên
ở cán bộ lãnh đạo cấp tỉnh Số phiếu thu về là 100%
Phiếu trả lời sẽ được thu thập và sử dụng công cụ exell và phương pháp thống kê,
mô tả để so sánh, phân tích đánh giá vai trò của chính quyền cấp tỉnh đối với GNBVvùng miền núi tỉnh Nghệ An
- Phỏng vấn : Để hiểu rõ hơn tình hình nghèo vùng miền núi tỉnh Nghệ An,luận án đã phỏng vấn các chuyên gia và các nhà quản lý về GN ở tỉnh Nghệ An Luận
án đã chọn mẫu để phỏng vấn
Trước hết, luận án phỏng vấn cán bộ quản lý chung về nghèo thuộc Sở TBXH Sở dĩ luận án chọn đối tượng này để phỏng vấn là nhằm thấy được tổng thể về
LĐ-hộ nghèo vùng miền núi Nghệ An
Tiếp theo phỏng vấn cán bộ quản lý về lĩnh vực này ở các huyện vùng miền núi.Luận án chọn mẫu đại diện cho các huyện Đó là, chọn 1 huyện phát triển đại diện chocác huyện phát triển, 1 huyện phát triển trung bình đại diện cho các huyện phát triểntrung bình, 1 huyện kém phát triển đại diện cho các huyện kém phát triển Qua đó sẽthấy được tổng thể về nội dung cần phỏng vấn Cụ thể, luận án lấy huyện Anh Sơn - làmột trong những huyện phát triển nhất, huyện Quỳ Hợp là huyện phát triển trung bình
và huyện Kỳ Sơn - huyện kém phát triển nhất
5 Đóng góp của luận án
Những đóng góp mới về mặt học thuật, lý luận
Thứ nhất, luận án xây dựng được quan niệm GNBV vùng miền núi, xác địnhnhững tiêu chí cơ bản để đánh giá GNBV và đã làm rõ mối quan hệ giữa GN, GN đachiều và GNBV
Thứ hai, luận án đã phát triển lý luận về vai trò của chính quyền cấp tỉnh đối vớiGNBV phù hợp với đặc thù vùng miền núi Cụ thể :
- Luận án đưa ra quan niệm về vai trò của chính quyền cấp tỉnh đối với giảm nghèobền vững vùng miền núi Luận án cho rằng, vai trò của chính quyền cấp tỉnh đối với
Trang 17giảm nghèo bền vững vùng miền núi là chính quyền cấp tỉnh sử dụng các biện pháphành chính và kinh tế để tác động tới điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, các tổ chứckinh tế, xã hội và chính bản thân người nghèo để thực hiện mục đích giảm nghèo bềnvững và góp phần giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội ở vùng miền núi.
- Luận án đã phát triển nội dung vai trò của chính quyền cấp tỉnh đối với giảmnghèo bền vững vùng miền núi Đó là, luận án làm rõ việc xác định chiến lược, banhành chính sách, tổ chức thực hiện giảm nghèo bền vững phải căn cứ vào đặc điểm tựnhiên, kinh tế, xã hội và trình độ dân trí thấp vùng miền núi Luận án cũng đã tìm ranhững nhân tố mới ảnh hưởng đến vai trò của chính quyền cấp tỉnh đối với giảm nghèobền vững vùng miền núi Đó là: sự phối hợp giữa các đơn vị liên quan đến giảmnghèo bền vững vùng miền núi và cơ sở vật chất để thực hiện giảm nghèo nghèo bềnvững vùng miền núi
Những phát hiện, đề xuất mới rút ra được từ kết quả nghiên cứu, khảo sát của luận án
- Luận án đã tìm ra những hạn chế và nguyên nhân của hạn chế về vai trò củachính quyền cấp tỉnh đối với GNBV vùng miền núi Nghệ An giai đoạn 2014 - 2017
- Để khắc phục những hạn chế đó, luận án đã đề xuất hệ thống giải pháp nângcao vai trò của chính quyền cấp tỉnh đối với GNBV phù hợp với đặc thù vùng miềnnúi tỉnh Nghệ An Trong mỗi giải pháp luận án đều có đề xuất mới Chẳng hạn, vềchính sách hỗ trợ vốn, Luận án cho rằng, nên chia người nghèo thành : nghèo donguyên nhân khách quan và nghèo do nguyên nhân chủ quan Đối với người nghèo donguyên nhân khách quan, bản thân họ có thể vượt nghèo nên tài trợ cho họ các nguồnlực để họ vượt nghèo; đối với người nghèo do chủ quan, bản thân họ không thể vượtnghèo nên không nên tài trợ cho họ cả về vật chất ( tài trợ vật chất họ sẽ ỷ lại, khôngchịu làm việc) và các nguồn lực Để GN những đối tượng này, chính quyền địaphương phải tạo việc làm cho họ, bằng cách tài trợ cho các hộ khá giả, biết làm ăn ởđịa phương và quy định để nhận được tài trợ đó phải nhận những người nghèo vào làmviệc theo giới thiệu của chính quyền địa phương
Luận án đã kiến nghị với Quốc hội là tăng cường sự giám sát theo đúng tinhthần Nghị quyết số 76/2014/QH13 về đẩy mạnh thực hiện mục tiêu GNBV đến năm2020; đối với Chính phủ là giảm những chính sách hỗ trợ vật chất, tăng các chính sách
hỗ trợ có điều kiện và các chính sách phát triển vùng miền núi
Trang 186 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, mục lục, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phần phụlục, luận án được kết cấu thành 4 chương:
Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
Chương 2 Những vấn đề lý luận và kinh nghiệm về vai trò của chính quyền
cấp tỉnh đối với GNBV vùng miền núiChương 3 Thực trạng vai trò của chính quyền cấp tỉnh đối với GNBV vùng
miền núi tỉnh Nghệ AnChương 4 Quan điểm và giải pháp nâng cao vai trò của chính quyền cấp tỉnh
đối với GNBV vùng miền núi tỉnh Nghệ An
Trang 191.1.1 Nghiên cứu của các tác giả và tổ chức quốc tế
Đói nghèo được đề cập ở nhiều tác phẩm như lý thuyết “Vòng luẩn quẩn và cú
huých từ bên ngoài’ dành cho các nước đang phát triển của P.A Samuelson và lý
thuyết “cải cách” của W.Rostow Kinh tế học của P.A.Samuelson đã đề cập tới mối
quan hệ giữa thu nhập và mức sống thể hiện qua sơ đồ đường cong Lorens Hay những
đề cập đến kinh tế học phúc lợi trong kinh tế học của Davit Begg hay kinh tế học côngcộng của JorephE Stiglits v.v
Đến những năm 80-90 của thế kỷ XX, các nghiên cứu về đầu tư phát triển củacác tổ chức, của Ngân hàng thế giới (WB), Viện nghiên cứu phát triển xã hội(UNRID), cơ quan phát triển lương thực (FAO) của Liên hiệp quốc, Ủy ban GN củaHiệp hội hợp tác khu vực Nam Á (SAARC), Viện nghiên cứu của Chính phủIndonesia (IBIRD), Ủy ban Kế hoạch của Trung Quốc và Ấn Độ, Hiệp hội phát triểndân số và cộng đồng của Thái Lan (CDA) … đã thực hiện rất nhiều công trình nghiêncứu về GN
Tại Hội nghị về chống đói nghèo do Uỷ ban KT-XH khu vực châu Á - TháiBình Dương (ESCAP) diến ra tại Băng Cốc Thái Lan ( từ ngày 15-17 tháng 9-1993) đãđưa ra các định nghĩa, xây dựng hệ thống tiêu chí nhằm đánh giá đói nghèo và đề xuất
hệ thống các giải pháp giúp GN tại khu vực Châu Á - Thái Bình Dương
Trong cuốn “Vấn đề nghèo ở Việt Nam” (1995) của Cơ quan Hợp tác phát triển
quốc tế Thụy Điển (SIDA) đã đi sâu phân tích thực trạng, đánh giá tác động của pháttriển KT-XH đến nghèo đói ở Việt Nam, từ đó đưa ra một số vấn đề có ý nghĩa quantrọng trong xây dựng chiến lược GN ở Việt Nam
Trong cuốn “Kinh tế học của các nước phát triển”, do Nhà xuất bản Thống kê
xuất bản năm 1998, E.Wayne Nafziger đã phân tích các nhóm nguyên nhân nghèo đói
ở khu vực nông thôn, cũng như đã xác định tình hình nghèo đói theo giới Tương tự,
Torado trong cuốn “Kinh tế học của thế giới thứ ba” (sách dịch), NXB Thống kê, Hà
Trang 20Nội cũng đã phân tích bản chất, nguyên nhân và các chính sách, biện pháp XĐGN ởcác nước thuộc thế giới thứ ba.
Năm 1999 nhà xã hội học Max Weber có tác phẩm “Phân hoá giàu nghèo
trong nền kinh tế thị trường Nhật Bản từ 1945 đến nay”, Nhà xuất bản Chính trị Quốc
gia, đã phân tích tình hình nghèo đói và nguyên nhân phân hóa giàu nghèo giữa cácnhóm xã hội trên cơ sở tín nhiệm Các nhóm xã hội này được xác nhận không phải bởi
vị trí của họ trong sản xuất mà chính là lối sống của họ Theo Max Weber, bản thânngười có tư liệu sản xuất chưa hẳn có quyền lực và uy tín, mà có thể do nhiều yếu tốkhác, chẳng hạn như giáo dục, trình độ văn hoá Trong lý luận của mình, Max Webercũng nhấn mạnh đến khả năng thị trường, coi đó là nguyên nhân đầu tiên của phân hóagiàu nghèo và bất bình đẳng xã hội hơn là yếu tố tài sản
Tác giả Khan, Mahmood Hasan, Washington, DC: International monetary fund,
(2001) có cuốn “Rural poverty in developing countries: Implication for public policy”
thì lại đi sâu phân tích về sự nghèo đói ở vùng nông thôn tại các quốc gia đang pháttriển Tác giả đã phân tích thực trạng về các dạng người nghèo, các vấn đề liên quan đếntài sản của người nghèo, đã tìm nguyên nhân của nghèo đói, từ đó đề xuất xây dựng cácchính sách giúp XĐGN cũng như đề xuất các yếu tố cần thiết trong chính sách XĐGN
Dollar, D và Kraay, A (2002), trong cuốn “Growth is Good for the Poor” lại
nghiên cứu trên 92 quốc gia qua bốn thập kỷ về thu nhập bình quân của nhóm nghèonhất tăng tương ứng với thu nhập trung bình và nhấn mạnh tầm quan trọng của tăngtrưởng kinh tế với xoá đói GN để cho thấy thu nhập bình quân của nhóm nghèo nhấttăng tương ứng với thu nhập trung bình ở các quốc gia này được giữ trên khu vực, thờigian, mức thu nhập, và tỷ lệ tăng trưởng Tuy các tác giả đã xem xét một số yếu tốthường không cân đối lợi ích người nghèo nhất trong xã hội, nhưng lại thấy rất ít bằngchứng tác dụng của chúng
Trong bài viết “Phân tích các tác động của tài chính vi mô đối với xóa đói giảm
nghèo” (Morduch and Haley, 2002), các tác giả chỉ ra việc GN và nghèo đói đã trở
thành đề tài nóng bỏng, gây chú ý trong Hội nghị thượng đỉnh quốc tế 1990, được camkết trong các mục tiêu phát triển quốc tế của OECD, mục tiêu Thiên niên kỷ Đặc biệt,tài chính vi mô đã được chứng minh là một công cụ hiệu quả mạnh mẽ để XĐGN, tuynhiên lại rất khó thâm nhập vào tầng lớp nghèo trong xã hội Thông qua nhiều công cụgiám sát như CGAP, CASHPOR, WEALTH RANKING, các tác giả nhận thấy rằngtài chính vi mô có tác động tích cực tới GN do nó có liên quan tới 6 trong 7 mục tiêuThiên niên kỷ, đặc biệt là tác động tăng thu nhập
Trang 21Năm 2004, Chen, Martha Alter và các cộng sự với cuốn sách “Lồng ghép việc
làm chính thức và giới tính trong XĐGN: Sổ tay về chính sách - các nhà sản xuất và các bên liên quan khác" (“Mainstreaming informal employment and gender in poverty
reduction: A handbook for policy - makers and other stakeholders”) đã đề cập đếnchiến lược XĐGN ở khía cạnh công việc, nghề nghiệp của các thành phần lao động tự
do, chủ yếu là những người nghèo Tác động của sự thay đổi bối cảnh kinh tế đối vớicác thành phần lao động tự do Sự liên quan giữa nghề nghiệp của nghèo đói & giớitính đối với vấn đề phát triển kinh tế toàn cầu
Năm 2006, Tara Bedi, Aline Coudouel, Marcus Cox với nghiên cứu “Ngoài
những con số: Tìm hiểu về các Tổ chức Giám sát chiến lược giảm nghèo”, NXB
Washington, DC: The World Bank, đã phân tích thực tiễn chính sách ở một số nướcAnbani, Bolivia, Guyana và Honduras , từ đó nghiên cứu xây dựng hệ thống phântích và hướng dẫn chi tiết trong chiến lược GN, xác định hệ thống các chính sách vàthực hiện đánh giá ảnh hưởng của nó đến nghèo đói ở các nước nghèo
Với cuốn “Việt Nam và châu Phi: so sánh các bài học và cơ hội lẫn nhau”
(Vietnam and Africa: Comparative lessons and mutual opportunities/Do Hoai Nam,Greg Mills, Dianna Games ; B.s.: Do Duc Dinh, Greg Mills, NXB Khoa học xã hội,2007) đã nghiên cứu về phát triển nông nghiệp và an ninh lương thực ở Việt Nam vàchâu Phi Các tác giả đã phân tích vai trò của tăng trưởng, phát triển kinh tế gắn với sửdụng nguồn vốn viện trợ trong XĐGN
Báo cáo kinh tế châu Phi năm 2008: Đồng thuận châu Phi và các Monterrey:Theo dõi Hiệu suất và tiến bộ lục địa của Uỷ ban kinh tế cho châu Phi (Rapportéconomique sur l'Afrique 2008: L'Afrique et le Consensus de Monterrey: Performance
et progrès du continent/Commission économique pour l'Afrique) đã đi sâu phân tích
sự phát triển kinh tế châu Phi trong năm 2007 để chỉ ra: mặc dù có sự tiến bộ về kinh
tế nhưng sự phát triển về xã hội và con người ở châu Phi vẫn còn rất khiêm tốn, thúcđẩy phải có các chiến lược đổi mới kinh tế, để thiết lập một sự phát triển đều khắp,phát huy đối đa những tác động về XĐGN Đây cũng là khuyến nghị cho các cuộcđàm phán hiện hành giữa các chính phủ châu Phi và cộng đồng quốc tế, nhằm đẩynhanh tốc độ XĐGN trên toàn lục địa được thực hiện theo Cam kết Monterrey
Còn Dillinger, William trình bày trong “Báo cáo của WB về phát triển kinh tế
vùng, XĐGN” (“Poverty and regional development in Eastern Europe and central
Asia”, Washington, D.c: The World Bank, 2008, World Bank Working Paper; số 118)các nghiên cứu thực tế XĐGN thúc đẩy kinh tế nông thôn phát triển, tăng trưởng kinh
tế, giảm tỷ lệ di dân Phát triển kinh tế vùng khó khăn của các vùng kinh tế mới nổi
Trang 22Phân tích những yếu tố cân bằng khác nhau giữa mục tiêu môi trường và xã hội trongphát triển vùng ở các nước Đông Âu và Trung Á.
Trong bài viết “Tầm quan trọng về mặt kinh tế của nông nghiệp đối với XĐGN”
(Cervantes - Godoy and Dewbre, 2015), các tác giả đã cho thấy rằng, khi tuyên bố thiênniên kỷ được đưa ra vào năm 2015 đã thiết lập mục tiêu giảm một nửa số người sốngtrong nghèo đói cùng cực Những tiến bộ đặc biệt ở các quốc gia đang phát triển chothấy khả năng đạt được mục tiêu này là có thể thực hiện được Tuy nhiên, một số quốcgia, và với khoảng 1 tỷ người vẫn có thể phải sống trong nghèo khổ cùng cực tại thờiđiểm tới hạn của mục tiêu này Các tác giả đã chỉ ra lý do tại sao một số nước lại làm tốthơn những nước khác bằng cách tìm kiếm đặc điểm chung của 25 nước đang phát triểnđạt được thành công đáng kể trong việc GN đói cùng cực trong 20 - 25 năm qua Thôngqua việc so sánh các chỉ số kinh tế vĩ mô, các tác giả đã cho thấy tăng trưởng kinh tế nóichung và tốc độ tăng trưởng thu nhập trong lĩnh vực nông nghiệp có đóng góp rất quantrọng trong việc GN ở các quốc gia này
1.1.2 Nghiên cứu của các tác giả và tổ chức trong nước
Trong bài báo “Xóa đói, giảm nghèo ở nước ta - thành tựu, thách thức và giải
pháp”, cho thấy đói nghèo ở Việt Nam là một vấn đề KT-XH bức xúc Việc đặt ra GN
toàn diện, bền vững là một trong những nhiệm vụ cấp thiết, góp phần phát triển đấtnước theo con đường XHCN đã lựa chọn Nhờ những thành tựu của công cuộc đổimới kinh tế, công cuộc XĐGN đã đạt được những thành tựu đáng kể, giúp nâng caomức sống cơ bản của các đối tượng nghèo trong xã hội Tuy nhiên, việc thực thi cácchính sách XĐGN trên thực tế vẫn còn gặp nhiều khó khăn do các nguyên nhân vềnhận thức, về tính thực tế của chuẩn nghèo, về nguồn lực huy động còn hạn chế, hay
do cơ chế thực hiện, hoặc các hệ thống chính sách hỗ trợ XĐGN còn yếu và thiếu, việc
tổ chức thực hiện còn nhiều bất cập, không đồng đều ở các địa phương… Điều nàydẫn tới tốc độ GN không đều giữa các vùng và có xu hướng giảm lại, kết quả GNkhông bền vững, nhất là ở các khu vực miền núi Để tiếp tục thực hiện mục tiêu giảm
tỷ lệ nghèo đói quốc gia theo chuẩn mới, cải thiện đời sống người nghèo, tác giảkhuyến nghị cần thực hiện các nhiệm vụ cơ bản như:
(i) Để nâng cao chất lượng cuộc sống cho người nghèo thì cần dựa trên nền tảng của tăng trưởng kinh tế, từ đó tạo việc làm;
(ii)Tập trung xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, phát triển các loại hình dịch vụ phục
vụ xã hội và bảo vệ môi trường;
Trang 23(iv) “Đổi mới công tác tổ chức, đảm bảo tính công khai, minh bạch, làm rõ tráchnhiệm trong việc lập kế hoạch, tạo điều kiện để chính quyền địa phương chủ động,người dân bàn bạc, thảo luận, nhằm tạo ra sự đồng thuận và hợp tác, quyết tâm vượtnghèo, vươn lên làm giàu của các xã nghèo, vùng nghèo và chính bản thân ngườinghèo” trong quá trình triển khai chương trình XĐGN (Phạm Gia Khiêm, 2006, tr.22-39).
Trong cuốn sách “Nhìn lại quá khứ đối mặt thách thức mới - Đánh giá giữa kỳ
chương trình Mục tiêu quốc gia giảm nghèo và Chương trình 135-II giai đoạn 2006 – 2008” do Bộ Lao động -Thương binh và Xã hội, Ủy ban Dân tộc, Cơ quan Liên Hợp
Quốc tại Việt Nam tiến hành (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cùng các cơ quanliên quan, 2009), đã nhận định:
(i) Thiết kế của Chương trình là phù hợp, thể hiện tính liên kết chặt chẽ với những ưu tiên
về GN của quốc gia, các hợp phần của chương trình đã giải quyết các vấn đề liênquan đến nghèo đói Tuy nhiên, chương trình không có sự lồng ghép giữa các chínhsách, dự án, các chương trình khác nhau không được khai thác hiệu quả, vì lý do kháchquan, vì vậy, hiệu quả mang lại chưa phải là cao nhất;
(ii) Đánh giá hiệu quả của Chương trình là vấn đề khó khăn, tuy nhiên, nếu dựatheo chỉ tiêu thu nhập thì cũng có những đối tượng hưởng lợi từ Chương trình khôngphải là người nghèo (khoảng 10%), tỷ lệ rò rỉ chấp nhận được của chương trìnhkhoảng 10%;
(iii) Các chỉ tiêu chung của Chương trình đã đạt được, tuy nhiên mức giải ngânđạt thấp (dưới 33% - thấp hơn kế hoạch là 60%), số lượng lớn người hưởng lợi với tỷ
lệ bao phủ tăng lên đáng kể trong những năm qua;
phân bổ ngân sách và thực hiện chương trình thông qua Thông tư Liên tịch số102/TTLT/Bộ TC-LĐTTBXH ngày 20/08/07 “Theo lý thuyết, thông tư này đã đưa
ra một hành lang pháp lý chung và thông qua đó thực hiện chương trình MTQG GN.Tuy nhiên, các chính sách hỗ trợ tín dụng, y tế, giáo dục được quản lý nằm ngoàikhung chung này, dẫn đến việc lập ngân sách tổng thể, đánh giá chương trình và việcquản lý theo kết quả trở nên cực kỳ khó khăn Bản chất lập kế hoạch thực hiện, kếhoạch ngân sách và thực hiện hiện từ trên xuống và sự bó hẹp các hợp phần củachương trình ngành dọc đã làm gia tăng khoảng cách giữa việc xây dựng các chỉ tiêuvới việc phân bổ ngân sách Trên thực tế, mỗi chính sách và dự án đều không cóđịnh mức phân bổ ngân sách rõ ràng và không có sự liên kết với các kết quả mongđợi, hay nhu cầu của người dân Không có các tiêu chí rõ ràng, minh bạch dựa
Trang 24theo nhu cầu để thông qua đó phân bổ nguồn lực giữa các tỉnh, huyện và xã Do
đó, nguồn lực của chương trình MTQG GN đã không được phân bổ đến những nơicần thiết nhất” (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cùng các cơ quan liênquan, 2009; tr.22);
(v)Trong nhận thức của đối tượng hưởng lợi, thông qua kết quả điều tra cho thấy, các chínhsách/dự án thuộc Chương trình MTQG GN đã được người nghèo tiếp cận một cách dễdàng; nhận thức của những đối tượng được hưởng lợi từ ảnh hưởng và tác động củacác chương trình/dự án thuộc Chương trình là có “tác động tích cực” đối với việc làm,thu nhập; người dân cảm thấy hài lòng hoặc rất hài lòng với các dịch vụ được cung cấp(gồm kết cấu hạ tầng và các hợp phần của chương trình 135 giai đoạn II)
Ngoài ra, báo cáo cũng đưa ra nhiều khuyến nghị ngắn hạn và đề xuất trung hạnnhằm thực hiện tốt hơn chương trình ở giai đoạn tiếp theo
Trong nghiên cứu “Các nhân tố hỗ trợ và cản trở hộ nghèo tiếp cận các nguồn
vốn sinh kế để GNBV” (Bộ môn Nghiên cứu Chiến lược và Chính sách, 2009), trong
khuôn khổ thực hiện các dự án nâng cao năng lực phát triển cộng động của Chươngtrình chia sẻ - SIDA, nhóm tiến hành nghiên cứu trên địa bàn các tỉnh Yên Bái, HàGiang, Quảng Trị, từ đó chỉ ra:
(i) Đối với nguồn vốn con người, những nhân tố thúc đẩy gồm: lực lượng lao động tươngđối đông, lao động trẻ sự hỗ trợ của dự án Chia sẻ cũng như của Nhà nước và các tổchức trong nước, quốc tế ở nhiều mặt; những nhân tố cản trở gồm: công nghiệp, tiểu thủcông nghiệp không phát triển, sản xuất thuần nông, trình độ văn hóa chuyên môncòn hạn chế, trẻ em gặp khó khăn trong tiếp cận giáo dục, khoảng cách địa lýkhiến việc tiếp cận y tế gặp khó khăn;
(ii) Đối với nguồn vốn vật chất, những nhân tố thúc đẩy gồm: sự quan tâm củaĐảng và Nhà nước, và hỗ trợ của các chương trình, dự án trong đầu tư kết cấu hạtầng, sự hỗ trợ của dự án Chia sẻ, sự tham gia tích cực của người dân vào phát triểnkết cấu hạ tầng, người dân có ý thức cao trong việc phát triển sản xuất, sự côngbằng trong tiếp cận nguồn vốn kết cấu hạ tầng; nhân tố cản trở gồm: kết cấu hạ tầngyếu kém là cản trở lớn nhất;
(iii) Đối với nguồn vốn tài chính, những nhân tố thúc đẩy gồm: sự đa dạng về nguồnvốn tín dụng, đóng góp của Ngân hàng Chính sách xã hội trong cho vay ưu đãi, sự hỗtrợ của các đoàn thể chính trị - xã hội trong bảo lãnh cho vay tín chấp, các hộ được tậphuấn sử dụng vốn có hiệu quả; các nhân tố cản trở gồm: các hộ nông dân thiếu vốn sản
Trang 25xuất và tiêu dùng, trình độ học vấn gây ra hạn chế trong tiếp cận vốn vay;
(iv) Đối với nguồn vốn xã hội, các nhân tố thúc đẩy gồm vai trò tích cực của trưởngthôn và cán bộ địa phương trong truyền tải thông tin đến người dân, mạng lưới quan hệgia đình, dòng họ của người dân địa phương khá mạnh, quan hệ của người dân trongcộng đồng từ khi có dự án ngày càng tốt hơn, người dân tham gia đông vào các tổ chứcđịa phương, giảm thiểu các phong tục tập quán lạc hậu; các nhân tố cản trở gồm: thiếuthông tin thị trường, mất cân bằng về giới, hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hộikhông rõ ràng, hoạt động chồng chéo kém hiệu quả và khiến người dân lúng túng khicần được cung cấp thông tin, sự hòa nhập của người dân vào cộng đồng còn hạn chế;(v)Đối với nguồn vốn tự nhiên, những nhân tố thúc đẩy gồm: diện tích đất có khả năngkhai hoang, phục hóa còn nhiều cùng với sự dồi dào và đa dạng của các nguồn tàinguyên thiên nhiên khác, dự án Chia sẻ trong quá trình triển khai đã quan tâm khánhiều đến phát triển bền vững; những nhân tố cản trở gồm: vị trí địa lý không thuậnlợi, khí hậu khắc nghiệt cùng với những khó khăn do thiếu tài nguyên, thị trường đấtđai kém phát triển, tập quán canh tác lạc hậu
Trong bài viết “Bước ngoặt mới trong nỗ lực xóa đói, giảm nghèo”, tác giả (Nguyễn
Thị Kim Ngân, 2011) nhận định năm 2010 là năm bước ngoặt trong XĐGN ở nước ta,được ghi nhận khi độ sâu nghèo đói đã giảm xuống Thành tựu GN của Việt Namđược cộng đồng quốc tế công nhận là một trong những câu chuyện thành công nhấttrong phát triển kinh tế Tuy vậy, tác giả cũng thẳng thắn nhìn nhận tỷ lệ hộ nghèo cógiảm nhanh nhưng GN của Việt Nam chưa bền vững, “số hộ đã thoát nghèo nhưngmức thu nhập nằm sát chuẩn nghèo rất lớn (70% - 80%), tỷ lệ hộ tái nghèo hằng năm
so với tổng số hộ thoát nghèo còn cao (7% - 10%); chênh lệch giàu - nghèo giữa cácvùng, nhóm dân cư chưa được thu hẹp, đặc biệt là ở những huyện, xã có tỷ lệ hộ nghèocao” Vì thế, để đẩy mạnh công tác GN và thực hiện GNBV, định hướng GN thời kỳ
2011 - 2020 bao gồm:
“Thứ nhất, các chính sách GN thường xuyên sẽ được hệ thống lại, trên cơ sở rà soát,đánh giá lại toàn bộ các chính sách hiện hành do các bộ, ngành được giao trách nhiệmchủ trì tổ chức thực hiện, hướng vào đối tượng người nghèo, hộ nghèo Trên cơ sở đó,Chính phủ sẽ ban hành nghị quyết về định hướng GNBV thời kỳ 2011 - 2020, trong
đó, bao gồm các chính sách hỗ trợ trực tiếp đối với hộ nghèo, người nghèo; chính sáchđặc thù cho địa bàn khó khăn nhất
Thứ hai, tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia GNBV giai đoạn 2011
-2015, Chính phủ sẽ tập trung ưu tiên nguồn lực đầu tư từ ngân sách trung ương để đẩy
Trang 26nhanh tốc độ GN ở các địa bàn đặc biệt khó khăn, trong đó tập trung vào các nội dung:tăng cường đầu tư kết cấu hạ tầng ở các địa bàn đặc biệt khó khăn; hỗ trợ sản xuất,tăng thu nhập cho người nghèo, đồng bào DTTS; xây dựng và nhân rộng mô hìnhGNBV; nâng cao năng lực GN và truyền thông; tăng cường hoạt động giám sát, đánhgiá các chính sách GN tác động đến đối tượng thụ hưởng Trên cơ sở đó, các địaphương căn cứ cơ chế, chính sách GN để huy động nguồn lực và bố trí ngân sách tạichỗ để đầu tư.
Thứ ba, thực hiện cơ chế phân cấp, trao quyền, hỗ trợ trọn gói có mục tiêu cho địaphương, đi đôi với nâng cao năng lực và tăng cường sự tham gia của người dân
Thứ tư, phấn đấu giảm tỷ lệ hộ nghèo bình quân 2%/năm theo chuẩn mới, riêng 62huyện nghèo, các xã đặc biệt khó khăn giảm bình quân 4%/năm; tạo việc làm ổn định
và đa dạng hoạt động thu nhập cho lao động nghèo; tăng thu nhập bình quân đầu ngườicủa các hộ nghèo lên 3,5 lần và thu nhập bình quân đầu người của các huyện nghèonhất tăng ít nhất 3 lần so với năm 2010; bảo đảm các điều kiện thiết yếu về nhà ở,nước sinh hoạt, tiếp cận các dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe, giáo dục, dạy nghề, đờisống văn hóa, tinh thần, tiếp cận dịch vụ trợ giúp pháp lý miễn phí cho các hộ nghèo,đặc biệt hộ nghèo là đồng bào DTTS ở các huyện nghèo, xã, thôn, bản đặc biệt khókhăn; kết cấu hạ tầng thiết yếu phục vụ sản xuất và dân sinh ở các huyện nghèo, xã,thôn, bản đặc biệt khó khăn đạt chuẩn theo tiêu chí nông thôn mới”
Trong báo cáo “Giảm nghèo ở Việt Nam: Thành tựu và thách thức” của nhóm
nghiên cứu thuộc Viện Khoa học xã hội Việt Nam thực hiện năm 2011 cho thấy tronghơn 2 thập kỷ qua, Việt Nam đã đạt được những thành tựu ấn tượng trong GN, điềunày có thể thấy một phần nhờ vào kết quả tăng trưởng kinh tế trên diện rộng đã giúpcải thiện đáng kể cuộc sống của người dân Ngay cả chất lượng cuộc sống của những
hộ nghèo cũng được cải thiện đáng kể
Tuy nhiên, xã hội Việt Nam đã trở nên đa dạng hơn nhiều so với thời kỳ bắt đầuđổi mới do sự phân hóa xã hội trở nên mạnh mẽ hơn, điều này khiến cho cái bẫy nghèođói vẫn vây lấy nhiều hộ dân ở Việt Nam mặc dù đất nước đã thoát khỏi danh sáchnhững nước nghèo nhất Qua phân tích, nhóm tác giả đặt ra vấn đề cho việc nghiêncứu các chính sách khác nhau để hỗ trợ hai nhóm nghèo: nghèo kinh niên - nghèo ởtrạng thái tĩnh và nghèo nhất thời - nghèo ở trạng thái động để công tác GN đi vàothực chất, có hiệu quả cao nhất, giảm thiểu khả năng bị tổn thương và khả năng thíchứng tốt hơn của các đối tượng này, đặc biệt là trong bối cảnh kinh tế mới của giai đoạnsau khi Việt Nam gia nhập WTO (Nguyễn Thắng và Cộng sự, 2011)
Trang 27Đề tài “Tổng kết và đánh giá thực tiễn thực hiện chính sách xóa đói giảm ở nước
ta giai đoạn 2001-2010, xây dựng cơ chế chính sách và giải pháp XĐGN phục vụ cho công tác quản lý và điều hành của đảng trong giai đoạn 2011-2020”, của Học viện
Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh do PGS.TS Lê Quốc Lý chủ biên đãtổng kết 10 năm thực hiện công tác XĐGN Trong báo cáo này, tác giả đã đi sâu phântích những thành tựu, hạn chế và những nhân tố tác động, nguyên nhân hạn chế củaquá trình thực tiễn thực hiện chính sách XĐGN giai đoạn 2001-2010 đồng thời đềxuất, kiến nghị với các cấp về các vấn đề cần đề cập đến trong xây dựng cơ chế, chínhsách và giải pháp XĐGN cho giai đoạn 10 năm tới
Trong báo cáo “Thực trạng tình hình và nhiệm vụ, giải pháp GNBV đến năm 2015,
định hướng đến năm 2020”, (Sở LĐ-TBXH tỉnh Quảng Ninh, 2012) đã phân tích thực
trạng GN trên địa bàn, đồng thời đưa ra một số giải pháp GNBV bao gồm: (i) Nângchuẩn nghèo của tỉnh cao hơn chuẩn nghèo Quốc gia; (ii) Bổ sung ban hành một sốchính sách mới của tỉnh; (iii) Tiếp tục triển khai các chính sách hỗ trợ về y tế, chăm sócsức khỏe, hỗ trợ về giáo dục, dạy nghề, vay vốn ưu đãi, hỗ trợ nhà ở ; (iv) Thực hiện xãhội hóa công tác GN
Trong báo cáo “Nghiên cứu các mô hình GN của các đối tác quốc tế ở Việt Nam”
(Nguyễn Đức Nhật và Cộng sự, 2013), nhóm nghiên cứu đã tiến hành đánh giá 3 môhình GN từ đó nhóm tác giả đã đưa ra các kết luận, khuyến nghị đối với Việt Nam.Qua phân tích, báo cáo đã chỉ ra những điểm hạn chế khi áp dụng các mô hình nàytại Việt Nam, đó là mâu thuẫn về giao NSĐP (về thời hạn dự toán với triển khai ngânsách, cơ chế giám sát theo dõi thiếu sự tham gia tích cực từ người dân) Để lựa chọnđược mô hình GN phù hợp, khả thi đối với điều kiện tại Việt Nam, Chính phủ và các
cơ quan, các tổ chức cần phối hợp chặt chẽ nhằm rà soát tổng thể các mô hình GN,phát triển KT-XH, phân tích thực trạng nghèo đói, trên cơ sở đó phân tích một cách cụthể hệ thống chính sách thuộc Chương trình GN Quốc gia Cần duy trì sự điều phốichung của Chính phủ với các cơ quan của Chính phủ, các bộ, ban, ngành và đặc biệtvới UBND các tỉnh nhằm chia sẻ thông tin, quản lý chương trình tốt và hiệu quả hơn.Báo cáo cũng khuyến nghị 2 cách tiếp cận với các chương trình GN trong thời giantới là, (i) tiến hành theo phương pháp hành chính, giải quyết từ trên xuống, đại trà,Chính phủ cần xây dựng, kết nối hệ thống giám sát và đánh giá nhiều chiều; (ii) BộLao động - Thương binh và Xã hội cần phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tàichính chủ trì quá trình xây dựng hệ thống các văn bản nhằm hướng dẫn thực hiện đốivới quy trình lập dự án, cũng như là triển khai thực hiện các dự án bằng cách giaocho địa phương làm chủ Địa phương có thể chủ động thực hiện trong tất cả các khâu
Trang 28từ xây dựng kế hoạch, điều phối hoạt động các dự án Trong đó, Chính phủ và các cơquan bộ, ban, ngành chỉ thực hiện giám sát và đánh giá kết quả.
Trong bài viết “Phát triển mô hình cải thiện sinh kế bền vững cho cộng đồng dựa
trên tiềm năng tri thức bản địa của các dân tộc thiểu số”, tác giả (Ngô Quang Sơn,
2014, tr.54-60), thông qua nghiên cứu thực tế tại Lai Châu và Đắc Lắk là hai tỉnh miềnnúi vùng vao đặc thù nằm trong 2 khu vực đặc thù của Việt Nam, tác giả rút ra đượcnhững đặc điểm vốn sinh kế bền vững cho đồng bào ở đây bao gồm: vật chất, tàichính, con người, xã hội và tự nhiên, đang từng bước được cải thiện về chất lượng và
số lượng Tuy nhiên, so với nhu cầu thực tế của các địa phương, các nguồn lực GNBVtrên diện rộng vẫn bị hạn chế nhiều
Các hoạt động như sản xuất nông nghiệp, ngành nghề truyền thống, sinh kế sănbắt, hái lượm từ rừng… vẫn là những hoạt động sinh kế chủ yếu và phổ biến trong đósản xuất nông nghiệp và khai thác nguồn lợi tự nhiên là 2 hoạt động sinh kế quan trọngnhất của đồng bào DTTS ở đây Tuy nhiên, những hoạt động này chủ yếu còn mangnặng tính tự cung tự cấp, chưa áp dụng khoa học kỹ thuật vào thâm canh, tăng năngsuất Việc sản xuất còn dựa chủ yếu vào tự nhiên và những kinh nghiệm, tri thức bảnđịa Do vậy, những tri thức bản địa hầu hết đang có ảnh hưởng tiêu cực tới sự pháttriển sinh kế như các tập quán đời sống lạc hậu (tảo hôn, hôn nhân cận huyết); thiếukiến thức xây dựng kế hoạch sản xuất của gia đình và các hoạt động sản xuất lạc hậu,thói quen khai thác các nguồn lợi tự nhiên mà không chú ý đến hậu quả… Để cải thiệnsinh kế dựa trên tiềm năng tri thức bản địa phong phú của các DTTS, tác giả đề xuấtnhững biện pháp sau:
(i) Tăng cường vận động, tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức của người dân bảnđịa, đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị có liên quan tới công tác xóa đói GNBVcho đồng bào DTTS;
(ii)Xây dựng chính sách cải thiện sinh kế phù hợp với văn hóa, tri thức bản địa bên cạnhviệc thể chế hóa quy trình xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách dành cho cácđối tượng trên địa bàn một cách đồng nhất;
(iii) Chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật phù hợp với văn hóa, tri thức bản địa,cần lồng ghép kiến thức khoa học - kỹ thuật hiện đại vào tri thức bản địa của từng dântộc, có sự nghiên cứu sâu, đánh giá đúng những giá trị khoa học, phát hiện những khíacạnh, khuyết điểm, hạn chế hoặc không phù hợp để có cơ sở thay thế bằng tiến bộkhoa học kỹ thuật phù hợp;
Trang 29vận động, dẫn dắt tổ chức cho người dân, cộng đồng làm theo;
(v) Xây dựng mô hình phát triển sinh kế bền vững dựa trên tiềm năng các tri thức bản địanhư mô hình trọn gói, mô hình lễ hội truyền thống và các giá trị tín ngưỡng củatừng dân tộc, mô hình tuyên truyền tại cơ sở, mô hình tích hợp giữa tri thức bản địavới tri thức khoa học, kỹ thuật hiện đại, mô hình thay đổi tập quán, thói quen lạc hậu;
kiện quyết định tới hiệu quả GNBV các dân tộc ở miền núi
Trong bài viết “Một số vấn đề về định hướng tiếp cận giải quyết nghèo đói ở Việt
Nam” (Trung tâm Thông tin tư liệu CIEM, 2014), cho thấy trong những năm vừa qua,
thế giới đã đặc biệt chú ý đến thành tựu trong quá trình XĐGN và nâng cao mức sốngcủa người dân ở Việt Nam Tuy vậy, bài viết cũng cho rằng, công tác GN vẫn còn một
số bất cập, làm ảnh hưởng không nhỏ tới mục tiêu công bằng xã hội trong tiến trình pháttriển bền vững của Việt Nam Sở dĩ có những tồn tại đó là do (i) nguồn kinh phí dotrung ương bố trí còn rất hạn chế, chưa đáp ứng được mục tiêu đề ra; (ii) một số chínhsách hỗ trợ chưa thật sự phù hợp với người nghèo, gây ảnh hưởng đến hiệu quả của cácchương trình; (iii) hệ thống theo dõi, đánh giá chương trình chưa được tổ chức một cách
có hệ thống và đồng bộ; (iv) thiếu đội ngũ cán bộ xóa đói, GN có đủ năng lực để thựchiện chương trình Để tăng cường hiệu quả GN trong thời gian tới, cần tiếp cận vấn đềnghèo đói và XĐGN theo hướng mới, cần có “sự nhận thức đúng ý nghĩa và tầm quantrọng của công tác xoá đói, GN” Việc giải quyết vấn đề nghèo đói “không chỉ dựa vàokinh nghiệm trong nước mà đòi hỏi phải có phương pháp tiếp cận giải quyết một cáchkhoa học - đó là gắn kết tăng trưởng với GN, giảm nghèo đói phải bảo đảm tính toàndiện, công bằng, bền vững và hội nhập” Muốn vậy, trước khi đề ra các giải pháp cầnphải phân tích một cách khách quan và khoa học nguyên nhân của nghèo đói để từ đó cónhững giải pháp hữu hiệu xoá đói, GN Ngoài ra, “xóa đói, GN cần phải thu hút được sựtham gia đông đảo của các tầng lớp dân cư bởi vì xóa đói, GN không phải là vấn đềriêng của người nghèo, hay của Chính phủ, mà là vấn đề chung của cả nước, của toàn xãhội”
Trong bài viết “Bài học kinh nghiệm mô hình “Giảm nghèo bền vững” tại tỉnh Nghệ
An”, (Nguyễn Thanh Thủy, 2015) đã chỉ ra những kinh nghiệm mà tỉnh Hòa Bình có
thể học hỏi từ các mô hình GN được áp dụng tại Nghệ An trong thời gian qua gồm: (i)trước khi triển khai các mô hình cần tiến hành điều tra, khảo sát nhằm lấy ý kiến củangười dân trong vùng, trong khu vực đối với quy trình sản xuất nông nghiệp, nhất làviệc tìm hiểu để quyết định chọn giống cây trồng phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng
Trang 30khí hậu của vùng đó, và đặc biệt phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của các hộ nghèotrong vùng;( ii) cần thận trọng trong quá trình phân tích, tính toán để quyết định hộnghèo tham gia thí điểm cũng như triển khai dự án Những hộ nghèo này phải có cácđiều kiện tương ứng phù hợp với dự án về lao động, về đất đai và về kinh tế; (iii) trongquá trình tiến hành tổ chức, thu thập thông tin, tìm kiếm các cơ sở để xây dựng môhình, thì việc giám sát địa bàn cần được thực hiện thường xuyên, chặt chẽ và kịp thờinhằm nắm bắt thông tin, sẵn sang trợ giúp cũng như giải quyết đầy đủ và hiệu quả đốivới các vấn đề đặt ra từ phía người dân; (iv) cuối cùng, sự phối hợp giữa chính quyềnđịa phương và các hộ, người dân tham gia dự án cần thực hiện và chấp hành theo quychế trách nhiệm.
Ngoài ra còn rất nhiều các nghiên cứu XĐGN theo vùng, theo các lĩnh vực mà cáctác giả đã nghiên cứu từ trước đến nay Cụ thể như:
- Các nghiên cứu đánh giá tác động của các chính sách về y tế đối với người
nghèo, như: “Tác động của quỹ khám chữa bệnh cho người nghèo đối với hộ gia đình
tại hai tỉnh Hải Dương và Bắc Giang”, năm 2005 của Đàm Viết Cường và các cộng
sự; “Đánh giá việc thực hiện chính sách khám chữa bệnh khám chữa bệnh cho người
nghèo ở miền núi phía Bắc” năm 2006 của Nguyễn Thành Trung và các cộng sự
- Các nghiên cứu về chi phí khám chữa bệnh cho người dân, đánh giá các chính sách y tếphục vụ người nghèo nhằm khuyến nghị giảm chi phí khám chữa bệnh cho người nghèo,
như: “Đánh giá tiếp cận của người dân với quỹ 139 tại ba tỉnh Yên Bái, Ninh Thuận và
Đồng Tháp” năm 2005 của Trần Tuấn và các cộng sự và “Phân tích thực trạng chi phí trong điều trị nội trú của bệnh nhân nghèo 139 tại ba bệnh viện U Bướu, Nhi, Phụ sản Trung ương”.
- Các nghiên cứu về nghèo đói và XĐGN của các địa phương, các khu vực đồngbào DTTS, như:
+ “Đô thị hoá và vấn đề giảm nghèo ở thành phố Hồ Chí Minh: Lý luận và thực tiễn” của Craig Cahoun, Mary Byrne Mc Donnell, Nguyễn Thế Nghĩa và các cộng sự
năm … đã nêu lên những vấn đề tổng quát và phương pháp nghiên cứu các động thái
về di dân và đô thị hóa, đưa ra cơ hội thăng tiến KT-XH cho người nghèo và các tầnglớp cư dân khác cũng như vai trò của các chính sách xã hội, các tổ chức Nhà nướctrong việc GN ở Thành phố Hồ Chí Minh
+ Nghiên cứu của Trần Đình Đàn về “Những giải pháp KT-XH chủ yếu nhằm
xoá đói, giảm nghèo ở Hà Tĩnh” (luận án tiến sĩ Kinh tế, Học viện Chính trị Quốc gia
Hồ Chí Minh, 2001) đánh giá thực tiễn về nghèo đói và XĐGN ở Hà Tĩnh đồng thời
Trang 31đề ra phương hướng xây dựng chiến lược và các giải pháp KT-XH chủ yếu, thiết thực,phù hợp nhằm XĐGN cho dân cư ở khu vực nông thôn tỉnh Hà Tĩnh đến năm 2010.
+ Bùi Minh Đạo và Bùi Thị Lan với nghiên cứu “Thực trạng đói nghèo và một số
giải pháp xoá đói giảm nghèo đối với các DTTS tại chỗ Tây Nguyên”, (NXB Khoa học
xã hội, 2005) đã phân tích, đánh giá thực trạng đói nghèo và nguyên nhân đói nghèocủa đồng bào Tây Nguyên, từ đó đề xuất một số quan điểm và hệ thống các giải phápnhằm XĐGN ở vùng đồng bào DTTS Tây Nguyên
+ Phạm Ngọc Thắng ( 2010) với nghiên cứu “Phát triển du lịch gắn với xoá đói GN
ở Lào Cai” đã thực hiện xây dựng mô hình và đưa ra các giải pháp cụ thể để phát triển
du lịch gắn với XĐGN ở Lào Cai
+ Nghiên cứu của Nguyễn Thị Nhung với “Giải pháp xóa đói giảm nghèo nhằm phát
triển KT-XH các tỉnh Tây Bắc Việt Nam” (Luận án tiến sĩ tại Đại học Kinh tế quốc dân,
2012) đã làm rõ thực tiễn về XĐGN ở nước ta trong quá trình phát triển KT-XH; qua
đó đã khái quát những thành tựu, hạn chế về XĐGN ở Việt Nam hiện nay Tác giảcũng đã đánh giá phát triển KT-XH ở các tỉnh Tây Bắc qua kết quả điều tra, khảo sát
về XĐGN của tác giả, tác giả đã luận giả và phân tích những đặc điểm nghèo đói ởTây Bắc, những khó khăn hạn chế và nguyên nhân chủ yếu dẫn đến những hạn chếtrong việc XĐGN ở các tỉnh này và đề xuất quan điểm, phương hướng và một số giảipháp XĐGN nhằm phát triển KT-XH ở các tỉnh Tây Bắc trong những năm tới
1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến vai trò của Nhà nước và chính quyền cấp tỉnh đối với giảm nghèo, giảm nghèo bền vững
Trong tài liệu tập huấn chuyên đề “Hoạt động của HĐND, UBND trong công tác
xóa đói giảm nghèo và việc làm” (UBND tỉnh Nghệ An, 2011a), tài liệu đã giới thiệu
mục tiêu, nhiệm vụ, nội dung của chương trình quốc gia XĐGN và việc làm, ngoài racũng hướng dẫn những nhiệm vụ, quyền hạn chủ yếu của HĐND và UBND trong côngtác giảm nghèo ở địa phương Tài liệu cũng hướng dẫn các bước để tiến hành thựchiện chương trình XĐGN và tạo việc làm Quy trình đó bao gồm 8 bước:
(i) Tiến hành điều tra, khảo sát tình trạng hộ nghèo, tiến đến xây dựng danh sách, đồngthời tiến hành phân loại đối tượng nghèo và nguyên nhân nghèo cũng như tình trạngthiếu việc làm trên địa bàn xã;
(ii)Lập quy hoạch đối với xây dựng kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất cho xã;
(iii) Xây dựng chương trình XĐGN và các công việc nhằm giải quyết việc làm củaxã;
Trang 32(iv) Xây dựng kế hoạch XĐGN và xác định các nhiệm vụ trong giải quyết việc làmhàng năm;
Trong nghiên cứu “ Phân cấp quản lý và Chương trình XĐGN - Trường hợp
nghiên cứu tại tỉnh Hòa Bình” của Mai Lan Phương và cộng sự (2012), các tác giả cho
thấy, việc phân cấp ở Việt Nam hiện nay chủ yếu là phân cấp quản lý, do vậy mà cộngđồng, hoặc các cá nhân có thể tham giá tốt vào các hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội.Nhờ có sự phân cấp về mặt quản lý mà có thể giảm được nhiều thủ tục quan liêu, phứctạp cũng như giảm thời gian chờ trong quá trình ra quyết định, giúp cho các quyết địnhđược đưa ra một cách kịp thời, chính xác, phù hợp với nguyện vọng của phần lớn nhândân cũng như bắt kịp được với xu thế phát triển chung của toàn quốc gia, của cộngđồng quốc tế Tuy vậy, hiệu quả của việc phân cấp quản lý lại phụ thuộc phần lớn vàokhả năng của địa phương Năng lực quản lý và năng lực thể chế của những cán bộ cấp
cơ sở có thể là nguyên nhân chủ yếu gây ra những mất mát về mặt tài chính, giảm tínhhiệu quả của các hoạt động khác, giảm sự hợp tác giữa người dân và các tổ chức chínhtrính trị, xã hội trong quá trình phát triển ở khu vực nông thôn và GN
Trong phân cấp, CQCT với tư cách là đơn vị cấp hành chính có vị trí pháp lý quantrọng trong hệ thống chính quyền địa phương, có ảnh hưởng to lớn tới sự phát triển KT-
XH - chính trị trên địa bàn CQCT là cơ quan quan trọng trong thực hiện triển khai cácđường lối, chủ trương, chính sách và pháp luật của Trung ương CQCT còn là cấp có
đủ điều kiện để có thể tự xây dựng, tự thực hiện, đồng thời cũng là cấp tự chịu tráchnhiệm trong các công việc tổ chức, triển khai thực hiện các nhiệm vụ nhằm phát triểnKT-XH của địa phương Quá trình xác định thứ tự ưu tiên các chương trình, dự án diễn
ra đạt hiệu quả hơn khi có sự phân cấp và thực hiện mở rộng quyền chủ động củachính quyền các địa phương Đồng thời, việc phân cấp quản lý cũng làm gia tăng vaitrò, trách nhiệm và do đó là năng lực quản lý của chính quyền của các địa phương, từ
đó giúp cho các địa phương làm giảm rủi ro trong triển khai, thực hiện các chương
Trang 33trình, hiện dự án GN Từ đó, cũng giúp chính quyềnđịa phương xây dựng cơ chế nhằmhuy động cộng đồng dân cư tham gia, của các tổ chức khác trong xây dựng, tổ chứctriển khai thực hiện, theo dõi, giám sát và thực hiện đánh giá các chương trình, dự ánđầu tư một cách dân chủ, hiệu quả.
1.3 Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu về vai trò của chính quyền các cấp đối với giảm nghèo bền vững vùng miền núi
Luận án đã tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về nghèo, GN,GNBV và vai trò của Nhà nước và CQCT đối với GNBV Từ đó luận án cho rằng,mặc dù đã có nghiên cứu về vai trò của chính quyền các cấp đối với GN nhưng chưanhiều và việc nghiên cứu vai trò của CQCT đối với GNBV vùng miền núi nói chung
và vùng miền núi tỉnh Nghệ An nói riêng chưa được nghiên cứu dưới bất kỳ hình thứcnào Đây là “khoảng trống” để đề tài nghiên cứu Việc lựa chọn đề tài luận án là phùhợp với thực tiễn khách quan, giúp giải quyết và đưa ra các giải pháp thực tế chochính quyền tỉnh Nghệ An nhằm nâng cao vai trò CQCT đối với GNBV ở vùng miềnnúi tỉnh thời gian tới
Luận án nghiên vai trò của CQCT đối với GNBV vùng miền núi tỉnh Nghệ An dướigóc độ chuyên ngành Kinh tế chính trị Do đó, luận án nghiên cứu theo hướng luậngiải các chức năng của CQCT về GNBV vùng miền núi Bởi vậy, luận án tập trungnghiên cứu:
Thứ nhất, nội dung vai trò của CQCT đối với GNBV vùng miền núi trong các
vấn đề như hoạch định chiến lược và kế hoạch GNBV; ban hành chính sách về thựchiện GNBV phù hợp với thực tiễn của vùng miền núi; tổ chức thực hiện GNBV vùngmiền núi; kiểm tra, giám sát thực hiện GNBV vùng miền núi Từ đó, xây dựng khung
lý thuyết về vai trò của CQCT đối với GNBV vùng miền núi
Thứ hai, thông qua nghiên cứu thực trạng vai trò của CQCT đối với GNBV
vùng miền núi Nghệ An, qua đó đánh giá vai trò này của CQCT ở tỉnh Nghệ An, từ
đó đề xuất các giải pháp khả thi nhằm nâng cao vai trò của CQCT đối với GNBVvùng miền núi thời gian tới
Thứ ba, đưa ra những kiến nghị đối với Quốc hội, với Chính phủ nhằm nâng cao
vai trò của CQCT đối với GNBV vùng miền núi
Trang 34Tiểu kết chương 1
Trong chương 1, luận án tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan tới đề tàiluận án ở hai khía cạnh:
Thứ nhất, tình hình nghiên cứu liên quan tới nghèo, giảm nghèo và GNBV Qua
tìm hiểu, có khá nhiều nhà nghiên cứu đã đào sâu đề tài này Đây cũng được xác định
là một trong những nhiệm vụ chính trị trọng tâm của chính quyền, vì vậy, bên cạnhnhững nghiên cứu độc lập, cũng có nhiều cán bộ công chức tham gia tìm hiểu Cácnghiên cứu dưới nhiều góc độ đã cung cấp cái nhìn toàn diện với vấn đề giảm nghèo
và GNBV tại Việt Nam hiện nay
Thứ hai, tình hình nghiên cứu liên quan đến vai trò nhà nước và CQCT đối với
giảm nghèo và GNBV ở vùng miền núi Ở khía cạnh này, các nhà nghiên cứu tập trungvào các vấn đề về quản lý nhà nước nói chung, chưa có nghiên cứu nào tập trung sâuvào lĩnh vực vai trò của CQCT trong GNBV vùng miền núi Điều này đặt ra khoảngtrống nghiên cứu cho luận án thực hiện
Trên cơ sở đó, luận án rút ra những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu về vai trò củaCQCT đối với GNBV vùng miền núi, gồm những vấn đề sau đây:
Một là, cần làm rõ nội dung vai trò của CQCT trong giảm nghèo và GNBV vùng
miền núi
Hai là, thông qua nghiên cứu thực trạng vai trò của CQCT đối với GNBV vùng
miền núi Nghệ An, qua đó đánh giá vai trò này của CQCT ở tỉnh Nghệ An, từ đó đềxuất các giải pháp khả thi nhằm nâng cao vai trò của CQCT đối với GNBV vùngmiền núi thời gian tới
Trang 35Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM VỀ VAI TRÒ CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP TỈNH ĐỐI VỚI GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG VÙNG MIỀN NÚI 2.1 Một số vấn đề về nghèo và giảm nghèo bền vững vùng miền núi
2.1.1 Một số vấn đề về nghèo vùng miền núi
2.1.1.1 Quan niệm về nghèo vùng miền núi.
Nghèo được hiểu theo nhiều cách khác nhau, tùy thuộc vào góc nhìn và góctiếp cận của người nghiên cứu
Theo Ủy ban KT-XH khu vực châu Á - Thái Bình Dương, khái niệm nghèo đượcđưa ra trong Hội nghị về chống nghèo đói được tổ chức tại Bangkok, Thái Lan năm
1993 đã nhấn mạnh nghèo khổ là tình trạng không có khả năng để thỏa mãn được cácnhu cầu thiết yếu của con người Mà những nhu cầu cơ bản như ăn, mặc, ở, đi lại, y tế,giáo dục,… lại phụ thuộc vào trình độ phát triển của kinh tế cũng như phụ thuộc vàonhững phong tục, thói quen của từng vùng quy định
Dưới cách nhìn của Ngân hàng Thế giới (WB, 2000), nghèo là sự mất đi tình trạng
ấm no Và tình trạng ấm no của con người có thể có được bằng việc sở hữu của cánhân về thu nhập, sức khỏe, dinh dưỡng, giáo dục, tài sản, nhà ở và các quyền nhấtđịnh trong xã hội như quyền tự do ngôn luận Do vậy, nghèo còn được hiểu là tìnhtrạng mà các cá nhân trong xã hội thiếu đi cơ hội để tiếp cận, không có quyền lực và
dễ bị tổn thương trước tác động của môi trường kinh tế - chính trị - xã hội…
Ở các quốc gia đang phát triển nếu không giải quyết tốt vấn đề nghèo sẽ rơi vàovòng luẩn quẩn của nghèo (xem hình 2.1)
Trang 36Hình 2.1 Cái vòng luẩn quẩn nghèo đói
Nguồn: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, 2005
Cùng với sự phát triển của xã hội, khái niệm nghèo cũng được mở rộng, được tiếpcận từ nhiều chiều khác nhau Nghèo hiện nay không chỉ là tình trạng thiếu ăn thiếuuống hoặc không có đủ các điều kiện sống và sinh hoạt tối thiểu, mà nghèo còn là tìnhtrạng con người gặp phải nhiều rào cản về xã hội và các nguồn lực, thông tin, dịch vụ.Theo Tổ chức Liên hợp quốc: “Nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để tham gia hiệu quảvào các hoạt động xã hội Nghèo có nghĩa là không có đủ ăn, đủ mặc, không được đihọc, không được khám chữa bệnh, không có đất đai để trồng trọt hoặc không có nghềnghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tín dụng Nghèo cũng có nghĩa làkhông an toàn, không có quyền, và bị loại trừ, dễ bị bạo hành, phải sống trong các điềukiện rủi ro, không tiếp cận được nước sạch và công trình vệ sinh”(dẫn theo NguyễnThái Hòa, Phạm Ngọc Hoài, 2018)
Trang 37Hình 2.2 Cấu tạo chỉ số nghèo đa chiều
Nguồn: UNDP, Báo báo Phát triển con người thường niên năm 2010
Và để đánh giá được tình trạng và mức độ nghèo trong xã hội, nghèo được chiathành nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối :
(i) Nghèo tuyệt đối: là tình trạng không được hưởng đối với những nhu cầu tối thiểucho cuộc sống hằng ngày như ăn mặc, nhà ở, nước uống, vệ sinh, y tế, giáo dục, văn hóa
và sự tham gia vào các quyết định của cộng đồng của một bộ phận dân cư
(ii)Nghèo tương đối: là những hộ gia đình có mức thu nhập bình quân đầu người thấp hơnthu nhập binh quân trong cộng đồng, hay không có khả năng đạt tới mức sống tốithiểu tại một thời điểm nào đó
Trong những năm gần đây, quan điểm nhìn nhận vấn đề nghèo đã được tiếp cậntheo hướng đa chiều Theo đó, nghèo có thể được đo lường bằng hệ thống tiêu chí vềthu nhập và hệ thống các tiêu chí phi thu nhập Đặc biệt những nội dung được chútrọng hơn trong quan sát nghèo ở các quốc gia đã được bổ sung thêm như: các cơ hộitrở lên ít đi đối với người nghèo, suy dinh dưỡng thường xảy ra, giáo dục thì thiếu hụt,những bất hạnh trong cuộc sống cũng như tình trạng tuyệt vọng của con người ngàycàng đẩy lên cao Chính sự thiếu hụt này dẫn tới việc người nghèo thiếu đi năng lực đểtham gia và không có tiếng nói đối với các vấn đề KT-XH - chính trị của cộng đồng,địa phương, điều này đã loại trừ họ ra khỏi xã hội, không được hưởng lợi các lợi íchtrong quá trình phát triển KT-XH của địa phương, và do vậy, các quyền cơ bản củacon người cũng dễ bị tước bỏ (UN, 2012: 5)
Với quan niệm mới này về nghèo, chuẩn nghèo đa chiều không chỉ là một chỉ số,
mà bao gồm rất nhiều chỉ số Chỉ số nghèo đa chiều (Multidimensional Poverty Index)
Trang 38của quốc tế được tính toán dựa trên các khía cạnh là y tế, giáo dục, nhà ở, điều kiệnsống và khả năng tiếp cận thông tin Tức là bên cạnh tiêu chí thu nhập như cách đolường truyền thống, các quốc gia cần chú ý tới sự thiếu hụt của người nghèo trong việctiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản (Oxfarm và ActionAid, 2010: 11).
Theo tiêu chí ở Việt Nam, “khu vực nông thôn: là hộ đáp ứng một trong hai tiêuchí sau: có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống; có thunhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt từ
03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên
i) Các dịch vụ xã hội cơ bản (05 dịch vụ): y tế; giáo dục; nhà ở; nước sạch và vệ sinh;thông tin;
ii)Các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản (10 chỉ số): tiếpcận các dịch vụ y tế; bảo hiểm y tế; trình độ giáo dục của người lớn; tình trạng đi họccủa trẻ em; chất lượng nhà ở; diện tích nhà ở bình quân đầu người; nguồn nước sinhhoạt; hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh; sử dụng dịch vụ viễn thông; tài sản phục vụ tiếp cậnthông tin” (Thủ tướng Chính phủ, 2015)
Từ các quan niệm trên có thể rút ra, nghèo là tình trạng không có hoặc ít được
hưởng thụ đối với các nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu con người; những người trongtình trạng nghèo là những người có mức sống thấp hơn so với mức sống trung bìnhdân cư tại địa phương; thiếu hoặc không có cơ hội để người nghèo lựa chọn, tham giavào quá trình phát triển của xã hội
Nghèo ở vùng miền núi cũng ở trong tình trạng chung đó Đó là tình trạng một bộ
phận dân cư vùng miền núi có thu nhập thấp so với chuẩn nghèo được quy định và không có hoặc ít được hưởng thụ những các dịch vụ xã hội cơ bản ; thiếu hoặc không
có cơ hội lựa chọn để tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng xã hội vùng miền núi.
Ở vùng miền núi với đặc điểm tự nhiên bị chia cắt, KT-XH kém phát triển, cácdịch vụ về xã hội cơ bản thiếu, phong tục tập quán lạc hậu, trình độ dân trí thấp, thunhập thấp, do đó nghèo khá phổ biến và giải quyết nghèo rất khó khăn, phức tạp, đòihỏi sự nỗ lực của toàn xã hội trong thời gian dài
2.1.1.2 Đặc điểm nghèo ở vùng miền núi
Nghèo ở vùng miền núi cũng có những đặc điểm chung của nghèo Đó là:
Thứ nhất, nghèo chủ yếu rơi vào đối tượng có trình độ thấp, khó khăn trong
việc tiếp cận với nguồn lực sản xuất như vốn, công nghệ…; việc chuyển đổi nghề
Trang 39nghiệp, việc làm sang các ngành phi nông nghiệp không khả thi Thời gian lao độngthì nhiều nhưng thu nhập lại thấp so với thu nhập của xã hội do thiếu cơ hội để ngườinghèo tiếp cận với các nguồn lực và những thành quả do hệ thống các chính sáchmang lại;
Thứ hai, người nghèo thường thiếu nhiều nguồn lực (đất đai, vốn, kỹ thuật sản
xuất), họ không thể đầu tư nhằm nâng cao trình độ của họ, do đó khó có cơ hội để tiếpcận với những thông tin của thị trường, cuối cùng họ lại bị rơi vào vòng luẩn quẩngiữa đói nghèo và sự thiếu nguồn lực;
Thứ ba, nghèo chứa đựng những đặc điểm về vùng rất rõ rệt Các vùng núi cao,
vùng sâu, vùng xa, vùng có đồng bào dân tộc sinh sống, thường chiếm tỷ lệ nghèo khácao Ở các vùng này do địa hình cách biệt, nên các điều kiện phục vụ cuộc sống chongười dân, cơ hội tiếp cận, sử dụng các điều kiện cho sản xuất, kinh doanh còn rất hạnchế, cơ sở hạ tầng ít được đầu tư nên kém phát triển
Tuy nhiên, nghèo ở vùng miền núi cũng có những đặc điểm riêng Đó là:
Thứ nhất, do điều kiện tự nhiên, KT-XH khó khăn và trình độ dân trí thấp, nỗ lực
XĐGN của chính bản thân họ nhiều khi khó thực hiện hoặc không được như mongmuốn, nên họ nản lòng, buông xuôi, chờ trợ cấp của Nhà nước;
Thứ hai, người nghèo ở vùng miền núi không có hoặc rất hiếm có các cơ hội để họ
có thể tìm kiếm được việc làm ổn định với nguồn thu nhập ổn định và mức sống tốthơn hiện tại Mức thu nhập của họ rất thấp, hầu như chỉ đảm bảo cho nhu cầu cuộcsống tối thiểu và do vậy không thể có tích lũy để cải thiện cuộc sống hiện tại (nhà ởtạm bợ, dột nát, ăn uống không đảm bảo dịnh dưỡng, con cái thất học, sức khoẻ khôngđược chăm sóc…) Từ đó, làm cho việc thoát nghèo của họ trở nên khó khăn hơn;
Thứ ba, quy mô hộ gia đình người nghèo ở vùng miền núi thường đông con, tỷ lệ
sinh đẻ của các hộ nghèo thường rất cao Mặt khác, các hộ nghèo ở vùng miền núithường đối mặt với nhiều nguy cơ từ tự nhiên gây ra, họ dễ bị tổn thất do tác động củathiên tai và từ các rủi ro khác Do đó, tình trạng nghèo và tái nghèo vẫn còn cao
2.1.1.3 Nguyên nhân nghèo vùng miền núi
Thứ nhất, do nhận thức và ý thức tự vươn lên thoát nghèo của người nghèo vùng miền núi còn hạn chế.
Về nhận thức, người nghèo chưa ý thức được đầy đủ đối với quá trình thoátnghèo của bản thân và của gia đình Người nghèo chưa có kế hoạch trong quá trìnhsản xuất từ việc tiết kiệm, tích lũy, đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh Thậm chí ở
Trang 40nhiều nơi, người nghèo vẫn còn tư duy cho rằng việc GN là việc của Nhà nước, của chính quyền địa phương, của các cơ quan đoàn thể.
Thứ hai, do điều kiện tự nhiên và kinh tế không thuận lợi.
Vùng miền núi đất đai canh tác thì thường có ít, diện tích nhỏ, manh mún, độ màu
mỡ kém, khó canh tác, do đó cây trồng cho năng suất thấp Đây là khó khăn lớn nhấtđối với các hộ sản xuất phụ thuộc chính vào nông nghiệp, nhất là các hộ thuần nông
Do địa hình đồi núi không thuận tiện cho sản xuất, thường dốc cao, trong khi đó thìrừng bị tàn phá, diện tích đất bị bỏ hoang, dễ bị xói mòn nên đất bạc màu nhanh Để sửdụng đất có hiệu quả phải tăng đầu tư để cải tạo đất đai, do vậy hiệu quả đầu tư thấp.Bên cạnh đó, vùng miền núi có vị trí ở xa các trung tâm của huyện, của tỉnh nên điềukiện phát triển, giao lưu kinh tế bị hạn chế, địa hình phức tạp, dân cư thưa thớt, khó xâydựng đường sá nên giao thông đi lại của dân cư khó khăn, có thể nói họ tách biệt tươngđối với bên ngoài, do đó khó phát triển kinh tế và tiếp cận với các dịch vụ công của Nhànước
Thêm vào đó, vùng miền núi điều kiện thời tiết không thuận lợi sản xuất, khí hậuthì khắc nghiệt, nguồn nước tưới tiêu thiếu, nước sinh hoạt không đảm bảo yêu cầu về
vệ sinh, bão lũ nhiều, cây trông khó phát triển, dẫn đến mất mùa và năng suất thấp,trong khi đó thì nhà cửa dân sinh và kết cấu hạ tầng vật chất kỹ thuật phục vụ cho pháttriển sản xuất kinh doanh, cho đời sống thì thiếu và yếu Nhiều vùng đang trù phú thìchỉ sau một cơn bão, lũ thì hàng trăm hộ không nghèo trở thành hộ nghèo
Thứ ba, do thiếu kinh nghiệm làm ăn và thiếu vốn.
Trước hết, người nghèo ở vùng miền núi thường thiếu năng lực thị trường, khóthực hiện và xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh, khả năng hoạch toán yếu, thậmchí không có khả năng; không biết sản xuất theo quy luật của thị trường Đây lànguyên nhân quan trọng nhất quyết định khả năng có thể vượt qua cửa ải nghèo đóicủa cá nhân, cộng đồng Hầu hết họ có trình độ dân trí thấp, sự hiểu biết về thị trườngyếu, ít được tiếp xúc với thông tin tích cực từ thị trường, như là các tiến bộ kỹ thuật,công nghệ tiên tiến Do trình độ canh tác lạc hậu nên năng suất lao động thấp, tích lũykhông có, do đó sản xuất kinh doanh không phát triển và kém hiệu quả
Vốn là một yếu tố rất quan trọng, thiếu hoặc không có vốn sẽ trở ngại lớn đốivới người nghèo nói chung và người nghèo ở vùng miền núi nói riêng khi tham gia vàokinh tế thị trường Hiện nay, nhiều hộ nghèo ở vùng miền núi do thu nhập rất thấp nênthiếu vốn đầu tư cho sản xuất kinh doanh Thực tế nhu cầu vay vốn của hộ nghèothường lớn, lại có tính chất đột xuất và nhu cầu phi sản xuất không phù hợp với cơ chế