– Nhiều tác phẩm văn học dân gian đã trở thành những mẫu mực về nghệ thuật của thời đại đã qua mà các nhà văn cần học tập để sáng tạo nên những tác phẩm có giá trị.. Để hiểu đúng, văn
Trang 1CHỦ ĐỀ VĂN HỌC DÂN GIAN
PHẦN 1/ Giá trị nội dung và nghệ thuật của văn học dân gian
Nội dung:
I Giá trị cơ bản của văn học dân gian.
o 1 Giá trị nội dung.
o 2 Giá trị nghệ thuật.
II Vai trò của văn học dân gian.
o 1 Vai trò và tác dụng trong đời sống tinh thần của xã hội.
o 2 Vai trò, tác dụng trong nền văn học dân tộc.
III Một số lưu ý về phương pháp đọc – hiểu văn học dân gian.
IV Ảnh hưởng của Văn học dân gian đối với văn học viết Việt Nam.
Giá trị nội dung và nghệ thuật của Văn học dân gian Việt
Nam.
I Giá trị cơ bản của văn học dân gian.
1 Giá trị nội dung.
Phản ánh chân thực cuộc sống lao động, chiến đấu để dựng nước và giữ nước của dân tộc
Thể hiện truyền thống dân chủ và tinh thần nhân văn của nhân dân
Bộc lộ đời sống tâm hồn phong phú, tinh tế và sâu sắc của nhân dân (yêu đời, lạc quan, yêucái thiện, cái đẹp trong cuộc sống, căm ghét cái xấu, sự độc ác, sống tình nghĩa, thuỷ chung,
II. Vai trò của văn học dân gian.
1 Vai trò và tác dụng trong đời sống tinh thần của xã hội.
– Văn học dân gian nêu cao những bài học về phẩm chất tinh thần, đạo đức, truyền thống tốt đẹpcủa dân tộc: tinh thần nhân đạo, lòng lạc quan, ý chí đấu tranh bền bỉ để giải phóng con người khỏibất công, ý chí độc lập, tự cường, niềm tin bất diệt vào cái thiện,…
Trang 2– Văn học dân gian góp phần quan trọng bồi dưỡng cho con người những tình cảm tốt đẹp, cáchnghĩ, lối sống tích cực và lành mạnh.
2 Vai trò, tác dụng trong nền văn học dân tộc.
– Nhiều tác phẩm văn học dân gian đã trở thành những mẫu mực về nghệ thuật của thời đại đã qua
mà các nhà văn cần học tập để sáng tạo nên những tác phẩm có giá trị
– Văn học dân gian mãi mãi là ngọn nguồn nuôi dưỡng, là cơ sở của văn học viết về các phươngdiện đề tài, thể loại, văn liệu,…
III Một số lưu ý về phương pháp đọc – hiểu văn học dân gian.
Để hiểu đúng, văn bản văn học dân gian, chúng ta cần chú ý một số vấn đề sau :
– Nắm vững đặc trưng của thể loại, bởi lẽ không một nét độc đáo nào của một tác phẩm văn họcdân gian cụ thể lại vượt ra khỏi những đặc trưng cơ bản của thể loại Cần lấy những đặc trưngchung Về thể loại làm căn cứ để đọc hiểu những tác phẩm cụ thể
– Muốn đọc hiểu chính xác một tác phẩm văn học dân gian, cần đặt nó vào trong hệ thống nhữngvăn bản tương quan, thích ứng (về đề tài, thể loại, cách diễn đạt)
– Trong quá trình hình thành, biến đổi, lưu truyền, tác phẩm văn học dân gian luôn gắn bó mật thiết
và phục vụ trực tiếp cho các hình thức sinh hoạt cộng đồng khác nhau (gia đình, xã hội, tôn giáo, tínngưỡng, phong tục, tập quán, lao động, vui chơi, ca hát, lễ hội,…) của nhân dân Bởi thế, để đọchiểu chính xác và sâu sắc ý nghĩa tác phẩm, cần đặt nó trong mối quan hệ với các hình thức sinhhoạt cộng đồng
IV Ảnh hưởng của Văn học dân gian đối với văn học viết Việt Nam.
Nhận xét về ảnh hưởng to lớn của văn học dân gian đối với văn học thành văn Việt Nam, giáo trìnhVăn học dân gian nhận định: “Văn học dân gian là cội nguồn, là bầu sữa mẹ nuôi dưỡng nền vănhọc dân tộc Việt Nam Nhiều thể loại văn học viết được xây dựng và phát triển dựa trên sự kế thừacác thể loại văn học dân gian Nhiều tác phẩm , nhiều hình tượng do văn học dân gian tạo nên lànguồn cảm hứng, là thi liệu, văn liệu của văn học viết Nhiều nhà thơ , nhà văn lớn của dân tộc(Nguyễn Trãi , Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du , Hồ Xuân Hương , Phan Bội Châu , Nguyễn Bính,
Hồ Chí Minh, Nguyễn Duy….) đã tiếp thu có kết quả văn học dân gian để sáng tạo nên những tácphẩm văn chương ưu tú”
Đó là một nhận định xác đáng thể hiện rõ mối quan hệ máu thịt gắn bó giữa văn học dân gian vàvăn học thành văn trong suốt tiến trình phát triển của văn học dân tộc Văn học dân gian chính lànền tảng của văn học viết và có tác động lớn đến sự hình thành và phát triển của văn học viết, lànguồn cảm hứng dồi dào, tiếp thêm chất liệu và cảm hứng sáng tạo cho văn học viết
– Về phương diện nội dung: Văn học dân gian cung cấp cho các nhà văn của mọi thời đại nhữngquan niệm xã hội, đạo đức của nhân dân lao động, của các dân tộc Ngoài ra, nó còn cung cấpnhững tri thức hữu ích về tự nhiên xã hội, góp phần quan trọng về sự hình thành nhân cách conngười Nó bảo tồn, phát huy những truyền thống tốt đẹp của dân tộc như: truyền thống yêu nước,tinh thần hướng thiện, trọng nhân nghĩa, giàu tình thương,… Biểu hiện rõ nhất là ở đề tài, nguồn
Trang 3cảm hứng, tư tưởng nhân ái, tình cảm lạc quan, yêu đời, tình yêu thiên nhiên, đất nước, tình yêucon người,…
+ Đề tài tiêu biểu trong văn học dân gian: Số phận người phụ nữ, thân phận người lao động nóichung, tình yêu đôi lứa, những kinh nghiệm sống quý báu, đặc biệt ngợi ca tình cảm gắn bó với quêhương, đất nước,…
+ Nguồn cảm hứng : Văn học dân gian thường lấy nguồn cảm hứng từ thiên nhiên, cuộc sống xãhội, lao động sản xuất,… Đặc biệt, ca dao Việt Nam đã đưa ra những tiêu chí về vẻ đẹp người congái truyền thống
+ Tư tưởng nhân ái : Văn học dân gian đề cao tình cảm yêu thương con người nhất là thân phậnngười phụ nữ, người lao động cùng khổ,…
– Về phương diện nghệ thuật: Văn học dân gian cung cấp cho các nhà văn một kho tàng các truyềnthống nghệ thuật dân tộc, từ ngôn ngữ đến các hình thức thơ ca, các phương pháp xây dựng nhânvật, hình ảnh, cách nói, các biện pháp tu từ, thể loại, chất liệu dân gian,…
+ Ngôn ngữ : ngôn ngữ văn học dân gian mang đậm tính triết lí, giàu chất thơ song hình thức biểuđạt lại gần gũi, dễ hiểu Người dân lao động thường dùng những cách nói trong giao tiếp hàng ngày
để diễn đạt tư tưởng, tình cảm cũng như đúc kết kinh nghiệm sống
VD : Truyền thống lấy lá trầu để làm ngôn ngữ bày tỏ tình cảm :
Anh thương em trầu hết lá lươn
Bắc thang lên hái ngọn trầu vàng
Trầu em cao số muộn màng anh thương
Bây giờ em mới hỏi anh
Trầu vàng nhá với cau xanh thế nào?
Cau xanh nhá với trầu vàng
,Tình anh sánh với duyên nàng đẹp đôi.”
→ Tiếp nối truyền thống ấy, Hồ Xuân Hương cũng sử dụng ngôn ngữ trầu cau để bày tỏ khát vọnghạnh phúc của người phụ nữ trong xã hội phong kiến :
“Quả cau nho nhỏ, miếng trầu hôi” (Mời trầu)
Hình ảnh : Trong văn học dân gian phần lớn là cảnh thiên nhiên hay sinh hoạt rất quen thuộc vớingười bình dân Trong cuộc sống hàng ngày, người dân lao động rất thân thuộc với mái đình, cây
đa, bến nước,… vì vậy, trong tình yêu đôi lứa, trong nỗi nhớ quê hương,… người lao động đã táihiện lại những không gian thân thuộc ấy trong lời ca của mình :
“Anh đi anh nhớ quê nhà/ Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương Nhớ ai dãi nắng dầm sương// Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao”.
Trang 4(Ca dao)
→ Rau muống, con thuyền,… cũng là những hình ảnh không thể thiếu trong thơ Nguyễn Trãi
“…Ao cạn vớt bèo cấy muống
Đìa thanh phát cỏ ương sen
Kho thu phong nguyệt đầy qua nóc,
Thuyền chở yên hà nặng vạy then…”
(Thuật hứng 24 – Nguyễn Trãi)
+ Cách nói : Các hình thức lặp lại là đặc trưng nghệ thuật tiêu biểu trong ca dao: lặp lại kết cấu, hìnhảnh, lặp lại dòng thơ mở đầu hoặc một từ, một cụm từ,…
Ví dụ :
Vì thuyền, vì bến, vì sông
Vì hoa nên bận cánh ong đi về
Còn non còn nước còn trời
Còn cô bán rượu còn người say sưa
Yêu nhau mấy núi cũng trèo
Mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua
(Ca dao)
Trong “Truyện Kiều” (Nguyễn Du) cũng có những câu thơ có kiểu dùng từ tương ứng:
“Vì hoa nên phải đánh đường tìm hoa”
“Còn non, còn nước, còn dài
Còn về còn nhớ đến người hôm nay”.
Các biện pháp tu từ : Văn học dân gian thường sử dụng các biện pháp tu từ như: so sánh, ẩn dụ,nhân hoá,… để giúp hình dung một cách cụ thể thông qua những hình ảnh quen thuộc như : hạtmưa, tấm lụa đào, cái giếng, cây đa, bến nước, con thuyền, con đò,…
Trong ca dao :
“Thuyền về có nhớ bến chăng ?
Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền”.
“Trúc dặn dò mai, bến dặn dò thuyền
Trang 5Nghe ai quyến rũ bỏ lời nguyền của anh
Bến dặn dò thuyền, trúc dặn dò mai
Nghe ai quyến rũ, không vãng lai chốn này”.
“Lênh đênh một chiếc thuyền tình
Mười hai bến nước biết gửi mình vào đâu”.
→ “Thuyền – bến” còn là nguồn cảm hứng của các nhà thơ giúp họ sáng tác nên những tác phẩmmang đậm tính truyền thống như trong thơ Xuân Diệu :
“Tình giai nhân: bến đợi dưới cây già
Tình du khách: thuyền qua không buộc chặt”.
Và thơ Hàn Mặc Tử :
“Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay ?”.
Hay với sự cách tân của Chế Lan Viên “thuyền – bến” lại là :
“Buổi sáng em xa chi
Cho chiều, mùa thu đến
Để lòng anh ghé bến
Nghe thuyền em ra đi”.
+ Thể loại : Hơn 90% số bài ca dao sử dụng thể thơ lục bát hoặc lục bát biến thể Trong ca dao còncó thể thơ khác, như : song thất lục bát, vãn bốn, vãn năm Nguyễn Du đã rất thành công trong việc
sử dụng thể thơ lục bát của dân tộc với tác phẩm “Truyện Kiều” Ngoài, còn có một số tác phẩm vănhọc viết cũng được sử dụng thể thơ dân tộc này : “Lục Vân Tiên” (Nguyễn Đình Chiểu), “Lỡ bướcsang ngang” (Nguyễn Bính),…
+ Chất liệu dân gian : Các nhà thơ đã sử dụng rất linh hoạt chất liệu dân gian vào tác phẩm củamình :
VD: Câu thơ :
“Tay ai thì lại làm nuôi miệng
Trang 6Làm biếng ngồi ăn lở núi non.”
(Nguyễn Trãi)
→ Gợi liên tưởng tới 2 câu tục ngữ : “Tay làm hàm nhai, tay quai miệng trễ”, “Miệng ăn núi lở”.Câu thơ :
“Gần son thì đỏ, mực thì đen
Sáng, biết nhờ ơn thuở bóng đèn”
(Nguyễn Bỉnh Khiêm)
→ làm chúng ta nhớ đến câu tục ngữ “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”
Như vậy, trong quá trình phát triển, hai bộ phận văn học dân gian và văn học viết luôn có mối quan
hệ biện chứng, tác động, bổ sung, hỗ trợ lẫn nhau để cùng phát triển Văn học dân gian là nền tảngcho văn học viết tiếp thu Trái lại, văn học viết có tác động trở lại làm văn học dân gian thêm phongphú, đa dạng
Vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam trong ca dao
a Nết na, thùy mị:
b Lòng hiếu hạnh đối với cha mẹ:
c Tình cảm đối với đàn em:
d Tình yêu nam nữ:
B Khi đã lập gia đình.
o 1 Bổn phận đối với gia đình nhà chồng.
o 2 Bổn phận đối với con, thiên chức làm me
o 3 Bổn phận đối với chồng, thiên chức làm vợ.
a Nếu chồng nàng là con nhà nông, nàng vui vẻ cùng chàng chia phần công tác,từ chuyện đồng áng:
b Nếu chồng nàng là học trò.
Vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam trong ca dao
Hình ảnh người phụ nữ Việt Nam trong ca dao có vẻ đẹp thanh tao, duyên dáng, một nét đẹp chânthực và hết sức gần gũi Vẻ đẹp đó được thể hiện rõ trên nhiều phương diện:
A Khi còn con gái.
1 Vẻ đẹp ở hình thức.
Trang 7a Vẻ đẹp nhan sắc:
Khi còn con gái, người thiếu nữ Việt Nam sống êm đềm dưới gối cha mẹ để chờ ngày xuất giá vuqui Đây là thời (gian) kỳ thơ mộng nhất, nàng được cha mẹ yêu thương rất mực và dạy bảo,khuyên răn đủ điều về nữ công, nữ hạnh để trở thành một người thiếu nữ hoàn toàn: Phận gái tứ đức vẹn tuyền / Công dung ngôn hạnh là tiên phàm trần! Lại nhờ có nhan sắc, nàng được
nhiều chàng thanh niên để ý săn đón, yêu thương :
Vì cam cho quít đèo bồng/Vì em nhan sắc cho lòng nhớ thương
Hay tiến xa hơn nữa :
Vào vườn hái quả cau non/Anh thấy em giòn muốn kết nhân duyên.
Mỗi người thiếu nữ đều có một cái duyên, một sự hấp dẫn riêng để làm say đắm lòng người khácpháị Nhưng tựu trung, nhan sắc của các nàng cũng không ngoài những điều vừa được ca daotruyền tụng: Có nàng đẹp nhờ mái tóc rậm dài bồng bềnh, và đôi chân mày cong vòng như viềntrăng non:
Chân mày vòng nguyệt có duyên
Tóc mây gợn sóng đẹp duyên tơ hồng.
Hay có cặp lông mày thanh mướt như lá liễu và khuôn mắt thuôn dài như dáng lá rau răm :
Những người con mắt lá răm
Đôi mày lá liễu đáng trăm quan tiền.
Có nàng đẹp nhờ hai con mắt to tròn đen láy, trông hiền lành, ngây thơ như mắt chim bồ câu:
Cổ tay em trắng như thể gương tàu
Đôi mắt bồ câu làm cho phải khổ.
Hay sáng ngời, lấp lánh như ánh sao khuya :
Nhấp nhánh là nhấp nhánh ơi
Mắt người lấp lánh như sao trên trời.
Có nàng lại đẹp nhờ hai má có hai lúm đồng tiền, mỗi khi nói nói, cười cười tạo nên một cái duyênhấp dẫn là thường :
Hai má có hai đồng tiền
Trang 8Càng nom càng đẹp, càng nhìn càng.
Hay vì có nước da trắng nõn, đôi gò má đỏ au, đôi môi hồng đào, khiến nét mặt trở nên tươi thắm
vô ngần, nhiều cậu vừa thoáng thấy vừa phải chú ý rồi đem lòng trộm dấu, thầm yêu:
Ai xui má đỏ ,môi hồng
Để anh nhác thấy đem lòng thương yêụ.
và :
Nước trong ai chẳng rửa chân
Cái má trắng ngần ai chẳng muốn hôn.
Tuy nhiên nụ cười vẫn là vẻ đẹp quyến rũ nhất của người thiếu nữ, một nụ cười tươi gây nên baonỗi nhớ, niềm thương :
Mình về mình nhớ ta chăng
Ta về ta nhớ hàm răng mình cười
,
Trăm quan mua lấy miệng cười
Nghìn quan chẳng tiếc, tiếc người răng đen.
Sau hết phải kể tới vóc dáng Người con gái đẹp là người có thân hình thỏn thả, thanh tú:
Người thanh tiếng nói cũng thanh
Chuông kêu khẽ đánh bên thành cũng kêụ.
Người thanh tất nhiên không phải là người béo, cũng không phải là người gầy, vì người đẹp phải làngười có da, có thịt, cổ tay phải tròn lẳn, mềm mại kia:
Gối chăn gối chiếc không êm
Gối lụa không mềm bằng gối tay em.
Đã thế, người đẹp còn phải có eo thon, tạo nên sự cân đối và làm nổi bật được những đường nétyêu kiều cho vóc dáng:
Trang 9Những người thắt đáy lưng on
Vừa khéo chiều chồng, lại khéo nuôi con.
Tóm lại, người thiếu nữ Việt Nam xưa được kể là đẹp phải thuộc vào hạng những người có nước
da trắng trẻo hồng hào, mái tóc rậm dài tha thướt, nét mặt tươi thắm hồn nhiên, dáng vóc thanh túcân đối mềm mạị Người đẹp như thế thì đứng đâu cũng đẹp :
Trúc xinh trúc mọc đầu đình
Em xinh em đứng một mình cũng xinh.
Đã vậy, theo bản tính tự nhiên, người thiếu nữ Việt Nam xưa cũng biết cách làm tăng thêm vẻ đẹpsẵn có của mình Nàng được bác mẹ dạy “cái răng cái tóc, một góc con người” nên hằng cố gắngtrau chuốt Nàng còn biết “Đàn bà tốt tóc thì sang”, mà muốn :
Tốt tóc thì cỏ mần trầu
Sạch ghét sạch gầu bồ kết với chanh.
Nàng cũng biết giắt hoa trên đầu để ướp hương cho tóc và làm cho suối tóc thêm vẻ mỹ miều:
Tóc em dài em cài bông hoa lý
Miệng em cười có ý anh thương.
Còn đây là nụ cười, ai cũng biết nụ cười, khóe mắt la hai yếu tố tạo nên vẻ linh động, duyên dángnhất trên khuôn mặt người đàn bà Và nụ cười chính là lợi khí đầu tiên của người thiếu nữ để chinhphục tha nhân Thế nên, ngay khi vừa mới dậy thì, người thiếu nữ vừa sớm biết tạo cho mình mộtcái duyên bằng nụ cười :
Trăng rằm mười sáu trăng nghiêng
Thương ai chúm chím cười duyên một mình.
Và lạ chưa, vừa nhìn qua nụ cười, người ta vừa đoán ngay nàng là gái chưa chồng :
Răng đen nhưng nhức hạt dưa
Miệng cười tủm tỉm như chưa có chồng.
Vì ý thức được rằng, người chung quanh sẽ đánh giá sự giáo dục gia đình, và đoán biết được tình ýcủa mình qua nụ cười nên nàng rất giữ ý tứ Người con gái có ý tứ không được cười toét miệng hay
Trang 10cười thành tiếng, mà chỉ cười nụ, chúm chím đầu môi như nụ hoa ngâu nhỏ xíu, khum khum hàmtiếu :
Nụ cười như thể hoa ngâu
Cái khăn đội đầu như thể hoa sen.
Và cuối cùng là con mắt, người đông phương chúng ta không nên phải đọc sách Tây phương mớibiết “con mắt là cửa sổ của linh hồn” Chẳng thế, các cụ ta xưa vừa biết nhìn vào mắt nhau để đoánbiết tình ý Sau giây phút thăm dò “Mắt anh anh liếc, mắt nàng nàng đưa”, khi vừa chịu ai rồi thì từđấy người con trai mới bắt đầu mơ mộng, thôi thì thương ai từ cái tóc thương đi:
Bốn thương răng nhánh hạt huyền kém thua….
Chàng thương hơn nữa vì nàng còn sống độc thân, chàng mới được phép ước ao, hy vọng Nhưngcòn một điểm tối hậu, quyết định cả số mệnh cuộc tình của
b Vẻ đẹp ở cách ăn mặc:
Bên cạnh sắc đẹp về thể chất, y trang cũng giúp nàng thêm phần lộng lẫỵ Trong bộ y phục củangười phụ nữ Việt Nam xưa, cái yếm che ngực lại được để ý hơn cả Nó được để lộ ra sau lớp áocánh xẻ nách, có cổ thìa mổ trễ xuống gần lũng ngực và tấm áo dài không gài nút Cả hai đều màunhã, do đó, nàng thường cố tình chọn màu yếm cho thật nổi:Khi thì yếm trắng tinh :
Hỡi cô yếm trắng lòa lòa
Yếm nhiễu, yếm vóc hay là trúc bâu.
Nàng còn biết vấn khéo vành khăn, cố tình để lộ đuôi tóc dài như đuôi gà ,vắt vẻo trên đầu, lại phấtphơ, đong đưa theo bước đi, trông rất gợi cảm Lối bỏ tóc đuôi gà này cũng vừa tạo nên cái mốt mộtthời; “Một thương tóc bỏ đuôi gà” là vậy Trời lạnh, trên đầu nàng chít khăn, khăn chít khum khum,
ôm lấy khuôn mặt trẻ trung mơn mởn, khác nào như cánh hoa sen :
Miệng cười như thể hoa ngâu
Cái khăn đội đầu như thể hoa sen.
Ra đường, nàng đội thêm chiếc nón xứ Nghệ, có nơi còn gọi là nón ba tầm hay nón thượng quaithao, để làm duyên hơn là để che mưa nắng; chẳng thế mà khi đi xem hội ban đêm nàng cũng đội :
Chẻ tre đán nón – Kìa nón ba tầm
Anh cho em đội xem hội cái đêm hôm rằm,là rằm tháng giêng.
Trang 11Tóm lại,quan niệm về dung nhan người đẹp xưa qua những câu ca dao như vừa trình bày, chúng tathấy không khác ngày nay bao nhiêu.Tuy nhiên,thời đại này, người ta thích răng trắng và chuộngnhững nàng có vóc dáng cao lớn hơn Đặc biệt về trang phục, quả vừa có nhiều đổi thaỵ Nhưngtựu trung, thời (gian) nào người phụ nữ cũng KẾT điểm trang và có ý ăn mặc diêm dúa đôi chút chotôn thêm cái nhan sắc của mình.
2 Vẻ đẹp trong tâm hồn.
a Nết na, thùy mị:
Ngoài vẻ đẹp vật chất, người thiếu nữ xưa còn đẹp trong ngôn ngữ, cử chỉ, nết ăn ở… Điểm nàyphần lớn nhờ sự giáo dục mà có Với giọng nói thanh tao nhỏ nhẹ, nàng dễ gây cảm tình với ngườixung quanh :
Chim khôn kêu tiếng rảnh rang
Người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghẹ.
Hơn nữa, lời nói mặn mà đôn hậu mới thực sự thấm sâu vào tình cảm của đối phương, khiến lời nóiqua rồi mà âm hưởng vẫn còn dư vang mãi :
Điểu đậu vườn thi, thỏ lụy vườn trâm
Thương ai tiếng nói trăm năm vẫn còn.
Trong bài “Mười thương”, nếu chúng ta để ý, chúng ta sẽ nhận thấy có hai lần nhắc đến giá trị lời
ăn, cách nói của người đẹp :
Hai thương ăn nói mặn mà có duyên
Tám thương ăn nói lại càng thêm xinh
Và trong bất cứ trường hợp nào, người thiếu nữ cũng tỏ ra lễ độ ôn hòa, khiến dù bị từ chối, đốiphương cũng khó lòng mà giận :
Thưa rằng bác mẹ tui răn
Làm thân con gái chớ ăn trầu ngườị
b Lòng hiếu hạnh đối với cha mẹ:
Nàng không những là người thiếu nữ nết na thùy mị khi iếp xúc với tất cả người xung quanh, mànhất là đối với gia đình, nàng là người con rất mực hiếu thảo :
Mẹ cha trượng quá ngọc vàng
Trang 12Đền bồi sao xiết muôn vàn công ơn.
Nàng liên tưởng đến một ngày mai phải từ giã cha mẹ đi lấy chồng, ở nhà biết ai sớm hôm đỡ đầnhai thân :
Xiết bao bú mớm bù trì
Đến khi con lớn con đi lấy chồng
Có con đỡ gánh, đỡ gồng
Con đi lấy chồng vai gánh, tay mang.
Trong cảnh ấy, điều e sợ nhất của nàng là khi cha mẹ già yếu bệnh hoạn, lấy ai thay nàng chăm lo,săn sóc Thế nên bây giờ còn sống dưới gối cha mẹ, nàng hết lòng phụng dưỡng Nàng e sợ từngmiếng ăn thức uống :
Ba tiền một khứa cá buôi
Cũng mua cho đặng mà nuôi mẹ già.
Cả những công chuyện nhỏ nhặt nàng cũng cố ý làm vui lòng hai thân:
Cau non khéo bổ cũng dầy
Trầu têm cánh phượng để thầy ăn đêm.
Đôi khi nhà quá nghèo, không đủ ăn, nàng thường nhường cơm cho mẹ
Đói lòng ăn đọt chà là
Để cơm nuôi mẹ, mẹ già yếu răng.
c Tình cảm đối với đàn em:
Đối với đàn em, nàng là một người chị hiền hòa, đầy lòng thương yêu đùm bọc Nàng thay cha mẹchăm nom dạy dỗ các em:
Nàng ru em khi còn thơ dại:
Em tui khát sữa bú tay
Trang 13Ai cho bú thép ngày rày mang ơn.
Đố ai biết lúa mấy cây
Biết sông mấy khúc, biết mây mấy từng?
Đố ai quét sạch lá rừng
Để ta khuyên gió, gió đừng rung câỵ
Tình yêu dằng dặc như sông nước, cao rộng lớn như mây trời, mênh mông như đồng lúa và hằng
hà sa số như lá rừng rơi, thử hỏi giáo lý nào, quyền lực nào có thể hủy diệt được ? Đó chính là lý dodù sống dưới chế độ phụ quyền phong kiến, chịu ảnh hưởng nền giáo dục khe khắt của Nho giáo,người tình nữ trong ca dao Việt Nam vẫn không thôi mơ mộng Và tình yêu của các nàng tuy có e
ấp nhưng vẫn không giấu được vẻ nồng nàn tha thiết Quả thế, người phụ nữ Việt Nam với bản tính
đa cảm và lãng mạn nên trong những ngày còn con gái thơ mộng đó, bảo sao nàng không hằng mơước tới cảnh sống nên thơ :
Sáng trăng trải chiếu hai hàng
Bên anh đọc sách bên nàng quay tợ
Tuy vậy, tình cảm của nàng lúc này không sôi nổi bồng bột mà luôn luôn đắn đo cân nhắc Nàngnhớ lời cha mẹ thường dặn dò về chuyện chọn bạn trăm năm :
Dặn con con có nghe cho
Chọn người quân tử, đói no cũng đành.
Ngay cả những cô gái sống trong gia đình cùng kiệt hèn, tầm thường cũng ước ao lấy được ngườichồng có dăm ba chữ trong bụng, hơn là người giầu có vô học:
Chẳng tham vựa lúa anh đầy
Trang 14Tham dăm ba chữ cho tày thế gian.
Nhưng sống trong xã hội theo nho giáo phong kiến xưa, sự tự do luyến ái, tự do hôn nhân khôngđược chấp nhận, lại thêm bản tính của người con gái nhút nhát e thẹn nên dù trong lòng yêu ai:
Từ khi gặp mặt giữa đàng
Thiếp quyết yêu chàng, cha mẹ nào haỵ.
Nàng vẫn phải giữ mình trong lễ giáo, chờ đợi cha mẹ quyết định cuộc hôn phối của mình Thế nên,nàng chỉ biết chiều chiều trong những lúc thư nhàn, âm thầm nhớ ai, cùng ôn lại những kỷ niệmtrong ngày tao ngộ :
Chiều chiều lại nhớ chiều chiều
Nhớ người quân tử khăn điều vắt vaị
Trong khi làm việc, chợt nhớ đến chàng thì nàng không khỏi ngừng thôi mơ mộng: Đêm khuya dệt cửi tơ vàng. Và cũng vì sợ cha mẹ đoán biết tinh ý đôi bên nên chàng và nàng thỉnh thoảng
mới dám liếc nhau :
Yêu nhau con mắt liếc qua
Sợ chúng bạn biết, sợ cha mẹ ngờ.
Lúc chưa chọn được người yêu thì nàng băn khoăn, lo lắng; khi chọn được rồi thì tình yêu của nàngrất mực lãng mạn, tha thiết Nàng những ước mong được gặp ai luôn :
Ước gì sông hẹp một gang
Bắc cầu giải yếm cho chàng sang chơi
Trong những ngày tháng yêu đương thơ mộng đó, khi được dịp gần gũi bên người tình, nàng sănsóc chàng một cách rất tình tứ :
Thương anh tha thiết, thiết tha
Áo em hai vạt trải ra anh ngồi.
B Khi đã lập gia đình.
Khao khát là thế, chờ đợi là thế mà khi xuất giá vu qui, người thiếu nữ phải rời xa cha mẹ, rời xamái nhà thân yêu, vừa không khỏi ngậm ngùi lưu luyến :