1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

MARKETING QUOC TE

25 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 62,23 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐỀ TÀI ẢNH HƯỞNG CỦA VĂN HÓA ẤN ĐỘ ĐẾN CHÍNH SÁCH MARKETING CỦA MCDOLNALD’S MỤC LỤC CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ẤN ĐỘ Tên nước Cộng hòa Ấn Độ (India) Thủ đô New Delhi Diện tích 3 287 263 km² Địa hình thay đ[.]

Trang 2

Khí hậu: đa dạng với gió mùa ở phía Nam đến

khí hậu ôn đới ở phía Bắc

Dân số: 1.380.004.385 người (07/2020 theo DanSo.org)

Dân tộc chính: Ấn Độ

Vị trí địa lý: Ấn Độ, một quốc gia nằm ở Nam Á, là quốc gia lớn thứ bảy theo khu

vực địa lý Ấn Độ tiếp giáp với Ấn Độ Dương ở phía nam, biển Ả Rập về phía tây nam

và vịnh Bengal ở phía đông nam Ấn độ có chung biên giới đất liền với Pakistan vềphía tây; Bhutan, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Nepal về phía đông bắc; vàBangladesh và Myanmar ở phía đông

Sản phẩm Công nghiệp: Dệt may, hóa chất, chế biến thực phẩm, thép, thiết bị vận tải,

xi măng, khai thác mỏ, dầu khí, máy móc, phần mềm

Tiền tệ: Rúp Ấn Độ (INR)

GDP: 2.935,57 tỷ USD (2019 theo IMF)

Tôn giáo: Hindu 81,3%, Hồi giáo 12%, Thiên chúa giáo 2,3%, Sikh 1,9%, các nhóm

khác bao gồm Phật giáo, Jain, Parsi 2,5%

2

Trang 3

CHƯƠNG 2 MÔI TRƯỜNG VĂN HÓA TÁC ĐỘNG ĐẾN

MARKETING QUỐC TẾ

2.1 Giá trị và thái độ

2.1.1 Quan niệm thời gian và thời hạn

Văn hóa Ấn Độ nhận thức thời gian trong một đa nhịp cách thức (polychronicmanner) Thời gian có thể co giãn và thời gian họp rất linh hoạt ở Ấn Độ Trong mộtnền văn hóa đa nhịp như Ấn Độ, thời gian thường không được coi là kim chỉ nam mụctiêu cho việc lập kế hoạch và lên lịch cho các hoạt động kinh doanh của một người.Thay vào đó, đối với hầu hết người Ấn Độ, các kế hoạch và lịch trình liên quan đếnnhiều việc diễn ra đồng thời với sự tham gia của nhiều người, đây là lý do tại sao cáccuộc họp kinh doanh bị hủy hoặc thay đổi vào phút cuối là điều thường thấy Ngoài ra,những người kinh doanh trong nền văn hóa này luôn hướng tới việc thiết lập lòng tinvới những người liên hệ của họ Đây là lý do tại sao thực hiện một giao dịch trong mộtnền văn hóa đa điện tử đòi hỏi rất nhiều tương tác cá nhân và nhiều chuyến thăm,người Ấn Độ coi trọng sự tiếp xúc cá nhân Điều quan trọng cần ghi nhớ là mặc dùngười Ấn Độ có xu hướng đi họp muộn nhưng họ vẫn mong bạn đến đúng giờ

2.1.2 Quan niệm về đạo đức

Ấn Độ rất coi trọng đạo đức vì vậy trong lúc giao tiếp kinh doanh với người Ấn Độchúng ta phải coi trọng các lễ nghĩa, giao tiếp đúng mực, kính trên nhường dưới Việc

có thể hiểu tuân theo các quan niệm đạo đức khi kinh doanh với người Ấn độ là mộtlợi thế rất lớn

2.1.3 Quan niệm thẩm mỹ

Người Ấn độ rất thích sự truyền thống và màu sắc tươi mới Bạn có thể thấy những bộtrang phục Sari truyền thống với màu sắc tươi sáng, được trang trí bắt mắt, hấp dẫnqua những bộ phim truyền hình của Ấn Độ Sari là trang phục thể hiện nét văn hóa Ấn

Độ cũng giống như những chiếc áo dài truyền thống của Việt Nam, Sari được nhữngngười phụ nữ Ấn Độ coi là bộ trang phục đẹp và thiêng liêng nhất Khi mặc Sari,những người phụ nữ phải tuân thủ nguyên tắc là tuyệt đối không được lộ phần chân vìngười Ấn quan niệm chân thể hiện địa vị cao thấp Không chỉ thế, người mặc còn phảichọn những màu sắc phù hợp tùy theo hoàn cảnh của bản thân Sari có kiểu dángtương tự nhau nhưng tùy theo mức độ giàu có mà phụ nữ Ấn sẽ mặc những chất liệukhác nhau như tơ lụa dành cho người giàu có và vải bông sẽ dành cho những người cótầng lớp bình dân Vì vậy trong lúc kinh doanh của người Ấn độ việc mặt những trangphục truyền thống, màu sắc tươi sáng là điều cần thiết đồng thời trang phục phải phùhợp hoàn cảnh bản thân

3

Trang 4

2.2 Tôn giáo

Ấn Độ được xem là cái nôi văn hóa của nhân loại Tôn giáo là nét đặc trưng của đấtnước này và là nơi hình thành nên nhiều tôn giáo trên thế giới Có 5 tôn giáo chính vàmột số tôn giáo phụ, cụ thể là:

2.2.1 Ấn Độ giáo (Hindu)

− Không có một người nào được xem là người sáng lập ra nó Phần lớn nó là một sự phatrộn các niềm tin của những người mà họ chuyển đến sống ở trong vùng đó Nhữngphong tục và tôn giáo của họ bị pha tạp với phong cách địa phương và nền văn hóaphát sinh ra đã trở thành "Ấn độ giáo cổ điển" Các giáo lý cơ bản trong Ấn Độ giáonói về Atman - là một phần của Brahman gọi là Tiểu Ngã Đó là linh hồn của cá thể,

là một mảnh, một biểu hiện của Brahman, tồn tại trong mỗi sinh vật, hiện tượng cụthể và đơn nhất

− Karma – Samsara: Linh hồn trong thể xác con người ở đời sống trần tục nên ý thứccòn cạn cợt, lầm lạc, ham muốn dục vọng từ đó có những hành động nhằm thỏa mãnnhững ham muốn trong đời sống trần gian đã gây ra những hậu quả, gieo đau khổ chokiếp này và cả kiếp sau gọi là nghiệp báo Karma.Con bò được coi là một con vật linhthiêng và được tôn thờ trong tôn giáo Hindu, nên các thức ăn có thịt bò bị cấm tạiquốc gia này

− Theo Weber, các giá trị Ấn Độ giáo truyền thống nhấn mạnh rằng các cá nhân nênđược phán xét không phải bởi những thành tích vật chất mà bởi những thành tựu vềtinh thần của họ Người Ấn Độ giáo coi việc theo đuổi sự đầy đủ về vật chất khiếnviệc đạt tới cõi Niết bàn trở nên khó khăn Dựa vào sự coi trọng lối sống khổ hạnh,Weber cho rằng người Ấn Độ giáo sùng đạo sẽ ít khả năng tham gia hoạt động kinhdoanh như những người Tin lành mộ đạo

2.2.2 Hồi giáo

− Hồi giáo do giáo chủ Mohamet sáng lập Tôn giáo này có các giáo lý về Allah là đấngtối cao sinh ra trời đất Tín đồ Hồi giáo phải luôn có thái độ đúng: trong cộng đồng(Hồi giáo) thì phải kiên nhẫn chịu đựng, phục tùng Allah, đối với người ngoài thìphải kiên quyết bảo vệ mọi lợi ích của Hồi giáo và phải có tinh thần thánh chiến,khuyên bảo con người phải giữ gìn sức khỏe, sống nhân từ độ lượng, trungthực,thưởng phạt công minh, trừng phạt chủ yếu đối với kẻ thù,thánh chiến là thiêngliêng và bắt buộc, kiên định và nhẫn nại trong mọi thử thách, tin vào định mệnh và sựcông minh của Allah, cấm một số thức ăn: thịt heo, rượu bia và các chất có men.(Heo là con vật gắn với khởi nguyên: phát triển là nhờ chăn nuôi), không tham củatrộm cắp, làm lễ và tuân thủ các nghi lễ Hồi giáo."Chính danh" - nhận thức hànhđộng theo đúng mực; "Văn trị - Lễ trị - Nhân trị - Đức trị": cai trị bằng trí thức;

"Không lo thiếu mà lo không đều, Không lo nghèo mà lo dân không yên"

4

Trang 5

− Tôn giáo này mang lại các hệ quả về kinh tế như sau: Sự bảo hộ và quyền tư hữu đượcnhắc đến trong đạo hồi dù đạo hồi khẳng định rằng tài sản là sự ưu ái từ Thánh Allahngười đã tạo ra và do đó sở hữu vạn vật Những ai nắm giữ tài sản được coi là ngườinhận ủy thác chứ không hẳn là người sở hữu như cách hiểu của phương Tây Làngười ủy thác, họ được quyền thu lợi nhuận từ tài sản nhưng phải sử dụng nó mộtcách chính đáng có lợi cho xã hội và thận trọng Điều này phản ánh mối quan tâmcủa Đạo Hồi tới công bằng xã hội Ấn Độ là nước có dân số theo đạo Hồi giáo chỉchấp nhận các doanh nghiệp quốc tế mà cư xử theo thiên hướng phù hợp với đạo đứcHồi Giáo (kiếm lời một cách chính đáng, không dựa trên việc lợi dụng người khác đểlàm lợi cho bản thân, tuân thủ nghĩa vụ trên hợp đồng…) Nguyên lý kinh tế của đạoHồi cấm việc chi trả hay nhận lãi suất, thứ bị coi là cho vay nặng lãi Đây không chỉ

là một vấn đề thần học mà ở một số nhà nước Hồi giáo nó còn là vấn đề luật pháp.Kinh Koran lên án lãi suất, nó được coi là động thái lợi dụng và không chính đáng

2.2.3 Phật giáo

− Phật giáo do Siddhartha Gautama - hoàng tử Ấn Độ sáng lập tại Ấn Độ Tôn giáo nàygiải thích các sự việc trong cuộc sống như đau khổ có nguồn gốc từ ham muốn lạcthú của con người Sự chấm dứt khổ đau có thể đạt được bằng cách đi theo conđường chuyển hóa Coi trọng việc nhìn, nghĩ, nói, hành động, sống nỗ lực, chínhniệm, và thiền theo phương thức đúng đắn Nhấn mạnh cuộc sống ở thế giới bên kia

và thành tựu về tâm linh hơn là việc tồn tại trên thế gian này

− Các ý nghĩa về mặt kinh tế học coi trọng việc tạo ra của cải bao hàm trong Đạo TinLành không có trong Đạo Phật Do vậy, trong các xã hội Phật giáo, ta không thấy bềdày lịch sử và văn hóa của việc coi trọng các hành vi kinh doanh mà Weber lập luận

là gắn liền với đạo Tin Lành phương Tây Nhưng không giống Ấn Độ giáo, việckhông ủng hộ hệ thống đẳng cấp và khổ hạnh thái quá cho thấy xã hội Phật giáo cóthể tạo ra mảnh đất màu mỡ hơn cho hoạt động kinh doanh so với văn hóa Ấn Độgiáo

2.2.4 Cơ đốc giáo (Kito giáo)

− Cơ đốc giáo (Kito giáo) do Đức Chúa Jésus Christ là người sáng lập tại Do Thái tôngiáo này đề cập đến sự lao động chăm chỉ, việc tạo ra của cải và sự tiết chế là tiền đềphát triển của chủ nghĩa tư bản Bằng cách làm việc chăm chỉ; tích lũy của cải vàkhông tiêu xài phung phí đã tạo ra một nguồn vốn lớn làm động lực thúc đẩy cho sựphát triển kinh tế ở Ấn Độ, việc trao cho các cá nhân nhiều quyền tự do hơn; coitrọng quyền tự do cá nhân hơn đã giúp cho chủ nghĩa cá nhân được đề cao từ đấy làmtiền đề phát triển thị trường kinh doanh tự do

− Đạo Sikh do Guru Nanak đã sáng lập ra đạo Sikh vào đầu thế kỷ 16 tại bang Punjabthuộc miền Bắc Ấn Độ.Đạo Sikh là một đơn thần giáo, nghĩa là chỉ thờ duy nhất một

5

Trang 6

vị thần, đó là Chúa Trời Cốt lõi của Chúa Trời là sự thật, Chúa Trời không hận thù,không sợ hãi, Chúa Trời đến với nhân loại trên toàn thế gian thông qua lời nói đượcphát ra bởi các Guru – người Thầy cả, được thể hiện dưới hình thức các shabads ĐạoSikh nhấn mạnh sự bình đẳng về xã hội và giới tính, nhấn mạnh tới việc làm điềuthiện hơn là thực hành các nghi lễ Các tín đồ đạo Sikh tin rằng, muốn đạt tới cuộcsống tốt đẹp thì cần phải luôn luôn giữ đức tin trong trái tim, khối óc, phải làm việcchăm chỉ và trung thực, phải đối xử bình đẳng với tất cả mọi người, phải có lòng hảotâm trước những người kém may mắn hơn và phải phục vụ mọi người, sống biết chia

sẻ với mọi người cũng là một trách nhiệm xã hội mà những người theo đạo Sikh cầnphải biết, mỗi một cá nhân cần nên giúp đỡ những người có nhu cầu thông qua côngviệc từ thiện.Điều cốt lõi nhất của đạo Sikh là trạng thái tôn giáo tại tâm của các cánhân Tín đồ đạo Sikh tránh các hành vi mê tín, không hành hương, không thờ tượng,

ít xây các điện thờ và thực hành các nghi lễ “mù quáng” Họ cho rằng, cần tu thânngay trong cuộc sống hiện tại và vượt lên những vất vả khó khăn trong cuộc sốnghàng ngày Họ không chấp nhận phương thức sống thụ động, thoát tục, trở thành tu sĩhoặc chọn lối sống ẩn dật để trốn tránh cuộc sống thực tại.Vì vậy, những người theotôn giáo này, họ hướng đến phát triển kinh tế tạo ra của cải vật chất và làm thiệnnguyện giúp đỡ những người khó khăn trong cuộc sống

− Ở Ấn Độ, coi trọng nam hơn nữ và xem nữ là gánh nặng của gia đình, một mối đầu tưkhông có lãi và khi kết hôn thì nhà gái không được đòi hỏi gì mà nhà gái phải choquà nhà trai

2.3 Giáo dục

2.3.1 Quan niệm về giáo dục

Vào năm 2020, nhà nước Ấn Độ đã đề ra chính sách giáo dục mới thay thế cho chínhsách cũ là chính sách NEP 2020, chính sách này thực sự là một sự nỗ lực dân chủ vàmang tính khát vọng lớn và hướng đến hệ thống giáo dục tốt nhất vào năm 2040, vàmục tiêu của chương trình này với mong muốn đem giáo dục đến tất cả các tầng lớpkinh tế xã hội nào của Mục đích của NEP là cải cách hệ thống GD và thu hẹp khoảngcách giữa kết quả học tập hiện tại và kết quả mong muốn Nhận thức được nhu cầu bắtkịp với thế giới đang thay đổi nhanh chóng và trong bối cảnh tri thức hiện nay, NEP

2020 nêu rõ mục tiêu của hệ thống GD là phát triển những con người tốt có khả năngsuy nghĩ và hành động hợp lý, có lòng trắc ẩn và sự đồng cảm, lòng dũng cảm và khảnăng phục hồi, có tinh thần khoa học và trí tưởng tượng sáng tạo, kết hợp với các giátrị và quan điểm đạo đức lành mạnh Tất cả hướng tới mục tiêu tạo ra những công dângắn bó, làm việc hiệu quả và đóng góp cho việc xây dựng một xã hội công bằng nhưtrong hiến pháp đề ra Tính công bằng, chất lượng và mở rộng phạm vi của “GD chấtlượng” được chú trọng trong NEP rất đáng hoan nghênh Chính sách này đề xuất thay

6

Trang 7

đổi các chương trình giảng dạy nặng về nội dung để “tạo không gian cho tư duy phảnbiện, tổng thể hơn, dựa trên câu hỏi, dựa trên khám phá, dựa trên thảo luận và dựa trênphân tích” Mang lại tầm quan trọng ngang nhau cho các hoạt động ngoại khóa (nghệthuật, thể thao, kỹ năng nghề nghiệp), nó yêu cầu chuyển hướng sang GD đa ngànhvới trọng tâm mới là Kỹ năng của thế kỷ 21 Đây là một luồng gió mới được chào đón

vì hệ thống trước kia chủ yếu là học vẹt và các kỳ thi dựa trên nội dung lý thuyết, táchrời các ứng dụng thực tế trong cuộc sống NEP 2020 đầy tham vọng và tiến bộ, tạo cơhội lớn giúp dân số trẻ của Ấn Độ hình thành nên sức mạnh lớn nhất của đất nước Tuynhiên, để đạt được điều này, chính phủ phải hoàn toàn cam kết thực hiện chính sáchvới ý chí chính trị và sự cấp thiết mà nó xứng đáng được nhận

Quá trình dạy, học và đào tạo nguồn nhân lực trong các trường phổ thông và caođẳng Điều này cải thiện và nâng cao kiến thức và kết quả là phát triển kỹ năng, do đónâng cao chất lượng của nguồn nhân lực Chính phủ của Ấn Độ luôn đánh giá cao tầmquan trọng của giáo dục ở Ấn Độ và điều này được phản ánh trong các chính sách kinh

tế của chúng tôi Dẫu vậy, phần lớn các chính sách này được áp dụng cho những vùngkinh tế phát triển hơn là những khu vực nghèo Hiện chưa có một nghiên cứu cẩn thậnnào giữa chất lượng giáo dục của Ấn Độ ảnh hưởng đến kinh tế ra sao, nhưng rõ ràngchất lượng học sinh sẽ quyết định mức lương cũng như tác động đến tăng trưởng kinh

tế đất nước.Tuy vậy, các nguồn lực về mặt con người con thiếu về kỹ năng mềm, cácnghề đòi hỏi trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao Cho nên những vấn đề còn tồn đọng

về giáo dục như vậy nên làm ảnh hưởng đến công tác tuyển dụng nhân viên, quản lýđối tác do nguồn nhân lực không thể hiện rõ qua bảng điểm nên cần có các bài kiểmtra, đánh giá sát sao nhân viên trước khi vào làm việc để đảm bảo hiệu quả và hiệusuất công việc theo đúng tiến độ làm việc và cập nhật ứng dụng khoa học kỹ thuật môitrường làm việc để nhân viên có thể học hỏi và nâng cao tay nghề

2.3.2 Trình độ giáo dục

Ấn Độ là nước có nền giáo dục lớn thứ hai trên thế giới chỉ sau Mỹ Trường đại họcNalanda ở Ấn Độ đã thu hút sinh viên từ khắp nơi trên thế giới Tuy nhiên, thời kỳhoàng kim này đã trở thành dĩ vãng Các trường đại học Ấn đang phải đối mặt vớinhiều vấn đề nổi cộm như cơ sở vật chất thiếu thốn, chất lượng giáo dục yếu kém và cả

sự can thiệp ngày càng lớn của giới chính trị vào trường học Đó là những khủnghoảng khiến hệ thống giáo dục của nước này không đủ sức đáp ứng cho yêu cầu ngàycàng cao của người dân Số sinh viên tìm được việc sau khi ra trường là rất thấp Đặcbiệt, hầu hết các sinh viên tốt nghiệp trường công hay cao đẳng đều khó kiếm việc vìthiếu kỹ năng mềm Đây cũng là một thách thức lớn, hậu quả của cách dạy kém chấtlượng tại các trường đại học Có một sự khác biệt lớn giữa hệ thống giáo dục đại họccủa các nước phương Tây và Ấn Độ Tại Ấn Độ, số lượng tiến sĩ đào tạo được trong

7

Trang 8

nước ít hơn nhiều so với Mỹ và một số nước châu Á khác Nếu ở Mỹ, việc phong tiến

sĩ dựa trên những nghiên cứu và bài báo nổi trội thì số nghiên cứu trong ngành khoahọc kỹ thuật ở Ấn Độ lại rất hạn chế do chất lượng kém của việc giáo dục bậc đại họcdựa trên định hướng việc làm Từ đó, MCDONALD đưa ra các yêu cầu sát sao về việccác yêu cầu trong công việc để chọn được ứng viên phù hợp với công việc hiện đangtuyển của công ty, các yêu cầu về sử dụng rành rỏi các thiết bị máy móc khi chế biếnmón ăn

2.3.3 Khuynh hướng giáo dục ở Ấn Độ

Chính phủ Ấn Độ coi giáo dục là một lĩnh vực then chốt cần phải có sự tăng trưởng

và phát triển mạnh mẽ Vì vậy, nhiều triển vọng tương lai khác nhau đã được xem xét

và các chính sách được soạn thảo Tầm nhìn là đảm bảo rằng nền giáo dục ở Ấn Độ cóchất lượng cao nhất và dành cho toàn dân mà không bị phân biệt đối xử và đặt ra cácyêu cầu cho việc giáo dục ở đại học như giảng viên đại học ở Ấn Độ phải có bằng tiến

sĩ và phải tham gia các bài thi (NET) mới được chọn và yêu cầu tuyển sinh đại họcđược đánh giá qua các bài thi kiểm tra tập trung

2.3.4 Sự di chuyển chất xám

Vấn đề này xảy ra với nghề y- bác sĩ và phần mềm, kỹ thuật và điều kiện làm việc ởnước ngoài tốt hơn nên các sinh viên đại học chọn du học được xem như là tấm hộchiếu để định cư sinh sống và làm việc tại nước ngoài Làm cho nguồn nhân lực về cácngành trên thiếu trầm trọng tại các vùng hẻo lánh, nông thôn khó khăn

2.4 Cấu trúc xã hội

− Ấn Độ là đất nước của sự đa dạng về mọi mặt: văn hóa, tôn giáo, chủng tộc, ngônngữ… Hindu giáo với vị trí là tôn giáo lớn nhất ở Ấn Độ (hiện nay có 966 triệu ngườitin theo) và là tôn giáo lớn thứ ba thế giới (1,03 tỉ tín đồ) đóng vai trò then chốt trongviệc định hình nên cấu trúc xã hội của Ấn Độ

− Nhìn từ ngoài vào, xã hội Ấn chồng chéo lên nhau nào là đẳng cấp, tầng lớp, tôn giáo,ngôn ngữ, vùng miền… Nhưng nếu định vị hệ thống đẳng cấp là xương sống của cảcấu trúc xã hội Ấn Độ, mọi thứ sẽ trở nên có trật tự và rõ ràng

− Xã hội truyền thống Ấn Độ bị phân hóa thành bốn tầng lớp (varna) Bốn đẳng cấptrong varna là Brahmins (đẳng cấp tu sĩ, hay còn gọi đẳng cấp Bà La Môn), Kshatriyas(còn được gọi là Rajanya, là đẳng cấp của những vương công quý tộc, chiến binh),Vaishyas (thợ thủ công, thương nhân, nông dân) và Shudras (đẳng cấp nô lệ, nhữngngười làm công việc nặng nhọc)

− Vẫn còn một đẳng cấp thứ năm trong hệ thống varna vốn không được công nhận chínhthức trong các kinh sách, là đẳng cấp Dalit (tiện dân) Những người thuộc đẳng cấpnày bị coi là "nằm ngoài xã hội" và phải làm các công việc bị cho là hạ tiện như đổphân, nhặt rác…

8

Trang 9

− Ấn Độ là quốc gia cực kỳ xem trọng hệ thống đẳng cấp Xuất phát từ một cấu trúc xãhội có tính đẳng cấp, trong các doanh nghiệp tại Ấn Độ, mỗi người đều được phân một

vị trí riêng và họ sẽ không cố gắng thay đổi vị trí này Các công ty tại Ấn Độ có xuhướng được điều hành bởi một cá nhân (đặc biệt là trong các công ty gia đình tồn tạirất nhiều trên khắp Ấn Độ) Người này sẽ đưa ra các chỉ thị trực tiếp xuống các cấpbên dưới Những chỉ thị này sẽ được đưa ra một cách khá độc đoán và các cấp bêndưới phải tuân thủ mà không được phép thắc mắc

− Người Ấn sẽ không thắc mắc về vị trí của họ trong công ty, hoặc về sự đúng đắn củacác quyết định cấp trên đưa ra Người Ấn tôn trọng ông chủ của họ, và sẽ thực hiệnđúng các chỉ thị của cấp trên mà không đưa ra bất kỳ ý kiến nào, do đối với người Ấnđưa ra ý kiến đối với chỉ thị đồng nghĩa với việc thiếu tôn trọng cấp trên

− Do vậy, khi kinh doanh tại Ấn Độ, việc trao đổi thông tin, thỏa thuận nên thực hiện vớinhững người ở cấp càng cao càng tốt Không nên lãng phí tập trung thời gian với cácquản lý tầm trung vì những người này có rất ít ảnh hưởng đối với các quyết định cuốicùng Nếu phải làm việc với các quản lý tầm trung, cần cố gắng tập trung vào nhữngquản lý có ảnh hưởng nhất định lên người ra quyết định cuối cùng

− Đối với thương mại đã bị thách thức bởi tầng lớp trung lưu trong xã hội Ấn Độ đươngđại Làm giàu và tận hưởng cuộc sống tốt đẹp đã trở thành câu thần chú tồn tại xã hộimới của tầng lớp trung lưu Ấn Độ Với thu nhập cao hơn và sức mua nhiều hơn, tầnglớp trung lưu Ấn Độ có địa vị hiện đang tìm cách mua các sản phẩm tiêu dùng chấtlượng tốt và chi nhiều tiền hơn cho thực phẩm và giải trí Tại các thành phố đô thị, sựtiếp xúc rộng rãi của các phương tiện truyền thông nước ngoài và cuộc cách mạngInternet đã góp phần làm xuất hiện một thái độ xã hội mới chấp nhận các giá trị và vănhóa phương Tây Tại các thành phố đô thị của Ấn Độ, những người trẻ và giàu đã tiếpthu tinh thần của văn hóa Mỹ Nước Mỹ gắn liền với thành công, năng suất và mộtcuộc sống tốt đẹp Sự chấp nhận ngày càng tăng này tương ứng với tác động lớn củaảnh hưởng của Mỹ đối với hoạt động kinh doanh, giáo dục và giải trí của Ấn Độ Sựphổ biến ngày càng tăng của văn hóa đại chúng phương Tây, kênh MTV, phimHollywood và đồ ăn nhanh kiểu Mỹ là một phần của sự chấp nhận xã hội mới này đốivới tầng lớp giàu có và trung lưu Ấn Độ sống ở thành thị

− Việc kinh doanh ở Ấn Độ còn chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa tập thể Một giá trị theochủ nghĩa tập thể thú vị ở Ấn Độ, cũng như hầu hết châu Á, đó là "lòng hiếu thảo." Giátrị này liên quan đến sự vâng lời, tôn trọng và hỗ trợ tài chính của cha mẹ, và tôn kính

tổ tiên như một hệ thống giá trị tập thể Ở Ấn Độ, theo Sunil H Rathi, giám đốc củaRathi Dye Chem Ltd., "những người cao tuổi rất được kính trọng Chúng tôi tìm đến

họ để xin lời khuyên vì họ là những người từng trải trong cuộc sống và họ có nhiều trítuệ hơn 80 năm- Người già sẽ có trí tuệ lớn hơn vì anh ta đã sống một cuộc đời thực tế

9

Trang 10

và lâu dài Vì vậy, đối với họ, tôi chạm vào chân họ khi tôi chào họ, "(từ một cuộcphỏng vấn với Rathi).

− Lòng hiếu thảo trong nhiều ngành công nghiệp của Ấn Độ phần lớn được thể hiện trêntinh thần kinh doanh, bao gồm các công ty tốt nhất của Ấn Độ Trong khi các nhà đầu

tư bên ngoài thường được chào đón, các gia đình Ấn Độ vẫn giữ quyền kiểm soát tàichính và hành chính Ở Ấn Độ, xã hội xoay quanh toàn bộ gia đình hơn là những ưutiên cá nhân của một cá nhân Điều này chuyển sang thiết lập kinh doanh Các vị tríquản lý cao nhất được dành cho các thành viên trong gia đình, mặc dù điều này đangthay đổi phần nào, đặc biệt là trong các cấp quản lý cấp trung Tuy nhiên, gia đình nàyvẫn rất mạnh trong các chức năng kinh doanh và các lĩnh vực đầu tư

2.5 Gia đình Ấn Độ - Tổ chức xã hội

2.5.1 Gia đình truyền thống của Ấn Độ

− Những đặc điểm nhân khẩu học, niềm tin tôn giáo xã hội và thực hành ảnh hưởng đếnbản chất hệ thống gia đình Ấn Độ Gia đình Ấn Độ có cấu trúc phụ hệ lớn Điều này

có nghĩa rằng, tất cả các thành viên nam, tức là chồng, cha, anh trai có quyền ra quyếtđịnh cho các thành viên còn lại trong gia đình, có nhiệm vụ bảo vệ thể chất và đạo đứccủa họ Cơ chế phụ hệ này đang dần thay đổi từ từ theo hướng tương tác bình đẳnggiữa các tầng lớp trung lưu có học, thành thị và một số nơi ở nông thôn Ngay cả trongcác nền văn hóa mẫu hệ, chế độ phụ hệ dường như vẫn phổ biến dưới hình thức quyềnlực do người cha, người anh,… nắm giữ chứ không phải phụ nữ

− Cấu trúc gia trưởng ¾ vai trò, trách nhiệm, quyền kiểm soát và phân phối các nguồnlực trong gia đình được xác định chặt chẽ theo độ tuổi, giới tính và thế hệ Việc thànhlập hệ thống gia đình được cho là chủ yếu để thực hiện các nghĩa vụ tôn giáo như thờcúng tổ tiên, sinh con trai và truyền các truyền thống tôn giáo xã hội cho thế hệ sau

− Gia đình phụ hệ có tục phụ hệ và dòng dõi dựa trên dòng họ của cha Dự luật Bộ luậtHindu năm 1954 – 1956 (Pylee, 1979) đã đưa ra một số thay đổi trong hệ thống nàybằng cách cho phép chia sẻ một số tài sản cho con gái, quyền kết hôn giữa các tôn giáo

và quyền hôn nhân, quyền bình đẳng đối với phụ nữ, …

− Một số vùng phía Nam của đất nước, quyền lực phụ nữ là Khasis of Meghalaya với hệthống gia đình mẫu hệ Quyền lực, sự giàu có và quyền thừa kế được trao cho phụ nữ.Tuy nhiên, theo thời gian, hệ thống mẫu hệ đã trải qua những thay đổi mạnh mẽ dogiáo dục, cộng nghệ và chính trị

2.5.2 Gia đình Ấn Độ đang thay đổi

Nền văn hóa xã hội Ấn Độ đang thay đổi một cách nhanh chóng dẫn đến nhữngthay đổi cơ bản trong cấu trúc gia đình Một dữ liệu điều tra dân số quốc gia và dữ liệucủa Điều tra Sức khỏe Gia đình Quốc gia (NFHS) cho thấy dần dần gia đình hạt nhân

10

Trang 11

đang trở thành hình thức tổ chức gia đình chủ yếu của Ấn Độ, ít nhất là ở các khu vựcthành thị Càng ngày phản ánh sự thay đổi trong cơ cấu quyền lực và sự gia tăng số hộgia đình do phụ nữ làm chủ hộ, cho thấy có sự thay đổi về vai trò giới truyền thống.Các hệ thống gia đình hiện nay đã trở thành những thực thể xã hội có tính phân biệtcao và không đồng nhất về cấu trúc, khuôn mẫu, mối quan hệ vai trò, nghĩa vụ và giátrị Các gia đình chung sống dưới một mái nhà (đại gia đình) nhưng có các phòng bếpriêng và có quyền tự chủ đáng kể và giảm bớt trách nhiệm đối với các thành viên lớn.Những người khác có thể ở trong các hộ gia đình riêng biệt nhưng tập trung xungquanh trong cùng một cộng đồng Sethi vào năm 1989 đã chỉ ra mạng lưới quan hệ họhàng bền chặt trong các “gia đình mở rộng” ở Ấn Độ, và nhận xét rằng ngay cả khi họhàng không thể thực sự sống gần nhau, họ thường duy trì mối quan hệ bền chặt và cốgắng giúp đỡ nhau về kinh tế và hỗ trợ tinh thần

2.6 Ngôn ngữ

2.6.1 Ngôn ngữ nói

− Chủ yếu có hai ngữ hệ chính: Ấn – Âu (có nhánh Indo-Aryan chiếm 75% dân số nói)

và Dravidian (khoảng 25%) Các ngôn ngữ khác được nói ở Ấn Độ chủ yếu đến từ ngữ

hệ Áo – Á và Tạng – Miến Có khoảng hơn 400 ngôn ngữ cho Ấn Độ; 24 ngôn ngữtrong số này được hơn một triệu người bản ngữ sử dụng và 114 ngôn ngữ của hơn10.000 người Hai ngôn ngữ tiếp xúc đã đóng một vai trò quan trọng trong lịch sử của

Ấn Độ: tiếng Ba Tư và tiếng Anh

− Ấn Độ có "Ngôn ngữ chính thức" ở cấp tiểu bang và cấp trung ương nhưng không có

"ngôn ngữ quốc gia" Tiếng Hindi là ngôn ngữ chính thức của chính quyền trung ương

ở Ấn Độ, với tiếng Anh là ngôn ngữ phụ chính thức tạm thời Các cơ quan lập phápcủa từng bang có thể áp dụng bất kỳ ngôn ngữ khu vực làm ngôn ngữ chính thức củatiểu bang đó Hiến pháp của Ấn Độ hiện công nhận 23 ngôn ngữ, được sử dụng ở cácvùng khác nhau của đất nước Chúng bao gồm tiếng Anh cộng với 22 ngôn ngữ Ấn Độkhác: Gujarati, Hindi, Kannada, Kashmiri, Konkani, Maithili, Malayalam, Meitei, …

2.6.2 Ngôn ngữ không lời

− Ấn Độ là một nền văn hóa có bối cảnh cao vì vậy phụ thuộc nhiều vào các cử chỉ phingôn ngữ Mọi người chào nhau bằng từ Namaste và họ đặt hai lòng bàn tay vào nhautrước ngực và cúi đầu nhẹ Lời chào bình thường hoặc trang trọng này là một phongtục ở toàn bộ Ấn Độ Được sử dụng để bắt đầu và kết thúc bằng, Namaste nghĩa đen cónghĩa là "Tôi cúi đầu trước bạn" - lời chào hoặc lời chào của tôi Đàn ông sẽ bắt tay,nhưng với phụ nữ thì không

− Giống như các nền văn hóa châu Á khác, người Ấn Độ yêu cầu cởi bỏ giày dép trướckhi bước vào khu vực linh thiêng Người dân Ấn Độ có những cử chỉ khác nhau TheoCharlene Wu trên Cultural Gestures, người Ấn Độ sẽ “nắm lấy dái tai của họ để bày tỏ

11

Trang 12

sự hối lỗi hoặc thành thật” Họ sử dụng cả bàn tay hoặc cằm để ra hiệu cho điều gì đó.Bạn có thể đưa ra lời xin lỗi bằng cách chạm vào vai ai đó, sau đó chạm vào trán củachính mình.

− Người Ấn Độ không thích nói không vì mọi người không thích nghe không Họ chobạn biết những gì bạn muốn nghe, đó là một phần lý do họ sử dụng cái lắc đầu Người

Ấn Độ rõ ràng tin rằng hành động có ý nghĩa lớn hơn lời nói vì cử chỉ chung gắn kếtđất nước của họ

2.6.3 Ngôn ngữ trong kinh doanh

Tiếng anh được sử dụng trong các doanh nghiệp ở Ấn Độ, đa số các doanh nhân ởđây có kiến thức tiếng Anh tốt Email, quảng cáo về tiếng Anh và tiếng Hindi đượcngười Ấn Độ chấp nhận và thích nghi cao

Tuy nhiên, sắc thái của tiếng Anh Ấn Độ khá bản địa Ví dụ: Himalayan blunder(lối nghiêm trọng), godown (nhà kho), …sử dụng các thuật ngữ như cousinbrotherhoặc cousin-sister, lạm dụng quá mức các thuật ngữ như actually, obviously, simply,etc., trong câu nói của họ

Cách phát âm mỗi vùng khác nhau, điều này đôi khi khiến người nghe khó hiểu.Tuy nhiên, sẽ không bị coi là mất lịch sự nếu yêu cầu người nói lặp lại những gì họ đãnói một cách chậm rãi

Mọi người trao đổi danh thiếp khá thường xuyên ngay cả trong những tình huốngkhông phải công việc, và đây được cho là đều cần thiết

Trực tiếp đặt câu hỏi là không phù hợp vì vậy không nên mong đợi câu trả lờingay lập tức Thiếu tôn trọng khi luôn là người nói chuyện đầu tiên và chỉ nói vềnhững quan điểm của bạn Tạm dừng các cuộc trò chuyện được mong đợi, nó có thểđược sử dụng để nhấn mạnh hoặc thể hiện sự không đồng tình Im lặng không phải làhiếm, chỉ cần ngồi và tận hưởng sự bầu bạn của ai đó là điều bình thường

2.6.4 Ngôn ngữ quà tặng

Tặng quà là một phong tục ở Ấn Độ, đây được coi là một dấu hiện của tình bạn Nóthường không được mong đợi trong cuộc gặp đầu tiên Không nên tặng những mónquà đắt tiền, trừ khi bạn rất thân với người đó Vì người Ấn Độ cố gắng đáp lại mộtmón quà, nếu nó quá đắt, nó có thể gây ra sự bối rối cho người nhận

Thường sử dụng giấy gói màu đỏ, vàng, xanh lá cây hoặc xanh lam, màu trắng vàđen được coi là không tốt khi gói quà tặng Qùa tặng không không được mở ra trước

sự chứng kiến của người tặng Tuy nhiên, đôi khi người tặng Ấn Độ của bạn có thểnhấn mạnh vào việc bạn mở món quà và mong đợi sự đánh giá cao cho sự lựa chọncủa anh ấy / cô ấy Tặng hộp đồ ngọt khi đến thăm một người Ấn Độ trong một lễ hội.Món quà sẽ được đánh giá cao hơn những nó ở những mệnh giá 11, 51, 101, 501, v.v

vì được coi là điềm lành những con số Người Ấn Độ đánh giá cao một món quà là đại

12

Ngày đăng: 24/04/2022, 20:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w