1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

TTHS biện pháp ngăn chặn “ tạm giam

18 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 207,61 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

btl tố tụng MỞ ĐẦU Trong công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, pháp luật tố tụng hình sự luôn là một trong những công cụ sắc bén và hữu hiệu của Đảng và Nhà nước ta, góp phần chống lại mọi hành vi phạm tội, giáo dục mọi người ý thức chấp hành và tuân theo pháp luật Việc đấu tranh phòng chống tội phạm luôn đòi hỏi các cơ quan tiến hành tố tụng phải tiến hành các hoạt động một cách nhanh chóng, chính xác nhất, đảm bảo tính trung thực, minh bạch, đúng người đúng tội, không gây oan cho người vô.

Trang 1

MỞ ĐẦU

Trong công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, pháp luật tố tụng hình

sự luôn là một trong những công cụ sắc bén và hữu hiệu của Đảng và Nhà nước

ta, góp phần chống lại mọi hành vi phạm tội, giáo dục mọi người ý thức chấp hành và tuân theo pháp luật Việc đấu tranh phòng chống tội phạm luôn đòi hỏi các cơ quan tiến hành tố tụng phải tiến hành các hoạt động một cách nhanh chóng, chính xác nhất, đảm bảo tính trung thực, minh bạch, đúng người đúng tội, không gây oan cho người vô tội đồng thời không bỏ xót kẻ phạm tội Nhằm phục vụ cho công tác điều tra, truy tố, xét xử của cơ quan điều tra diễn ra hiệu quả, thuận lợi Luật tố tụng hình sự đã quy định một số biện pháp ngăn chặn, trong đó có biện pháp ngăn chặn tạm giam, biện pháp ngăn chặn có tính chất nghiêm khắc nhất Nhằm mục đích tìm hiểu rõ hơn về biện pháp ngăn chặn tạm

giam trên, em đã lựa chọn đề bài số 18: “ biện pháp ngăn chặn “ tạm giam ” theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự ” làm bài tập học kỳ của mình.

NỘI DUNG

I NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN TẠM GIAM

1 biện pháp ngăn chặn

Theo giáo trình Luật tố tụng hình sự của Trường Đại học Luật Hà Nội thì:

“Biện pháp ngăn chặn được hiểu là các biện pháp mang tính chất cưỡng chế về mặt tố tụng áp dụng khi có đủ căn cứ đối với bị can, bị cáo hoặc người chưa bị khởi tố trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang, để ngăn chặn những hành vi nguy hiểm của họ trong xã hội, ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội, trốn tránh pháp luật hoặc có hành động gây cản trở cho việc điều tra, truy tố, xét xử

và thi hành án hình sự ”

Trang 2

Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) hiện hành quy định những biện pháp ngăn chặn ( BPNC ) gồm: giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam, bảo lĩnh, đặt tiền để đảm bảo, cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh Trong các BPNC trên, BPNC tạm giam là BPNC mang tính chất nghiêm khắc nhất Các biện pháp khác như cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền để đảm bảo chỉ ảnh hưởng đến quyền tự do đi lại hoặc quyền và lợi ích về tài sản

mà không ảnh hưởng đến các quyền tự do khác của công dân như quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền tự do giao tiếp quyền hội họp Còn các biện pháp bắt, tạm giữ cũng là BPNC nghiêm khắc, cũng hạn chế quyền tự do của công dân nhưng thời gian hạn chế quyền tự do trong biện pháp bắt, tạm giữ ngắn hơn nhiều so với tạm giam

2 Khái niệm tạm giam

Theo giáo trình Luật tố tụng hình sự của Trường Đại học Luật Hà Nội thì

“tạm giam là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự ( TTHS ) do cơ quan điều tra, viện kiểm sát, toà án áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội rất nghiêm trọng hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng hay bị can, bị cáo về tội nghiêm trọng, tội ít nghiêm trọng theo quy định của pháp luật”

Từ sự phân tích trên và theo điều 119 BLTTHS có thể định nghĩa về tạm giam như sau:

“ Tạm giam là biện pháp ngăn chặn trong TTHS do người có thẩm quyền ở Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án áp dụng đối với bị can, bị cáo phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, phạm tội rất nghiêm trọng hoặc bị can,

bị cáo phạm tội nghiêm trọng, phạm tội ít nghiêm trọng mà luật hình auwj quy định hình phạt tù trên 2 năm và có căn cứ cho rằng người đó có thể trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội ”

II NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỀ TẠM GIAM

1 Mục đích tạm giam.

Trang 3

Tạm giam được áp dụng đối với bị can, bị cáo trong các giai đoạn khác nhau của tố tụng hình sự

mục đích chung: là ngăn chặn không để bị can, bị cáo có điều kiện tiếp tục phạm tội hoặc có hành vi gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án

mục đích riêng: nhằm đảm bảo thực hiện tốt chức năng tố tụng của cơ quan áp dụng

Chẳng hạn việc tạm giam đối với bị can trong giai đoạn điều tra tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan điều tra có thể tiến hành hoạt động thu thập chứng cứ từ lời khai của bị can vào bất cứ khi nào nếu thấy cần thiết mà không cần phải mất thời gian triệu tập nhiều lần, đồng thời cũng giúp cho việc quản lý, giám sát bị can được chặt chẽ, việc tạm giam bị cáo sau khi tuyên án nhằm đảm bảo cho việc thi hành án sau khi bản án có hiệu lực pháp luật được thuận lợi

2 Đối tượng áp dụng

Theo điều 119 BLTTHS thì đối tượng áp dụng biện pháp tạm giam là bị can,

bị cáo tức là những người đã bị khởi tố về hình sự hoặc đã bị toà án quyết định đưa ra xét xử và không phải tất cả bị can, bị cáo đều bị tạm giam mà chỉ áp dụng với bị can, bị cáo rơi vào những trường hợp sau:

Trường hợp thứ nhất: bị can, bị cáo về tội đặc biệt nghiêm trọng, tội rất nghiêm

trọng việc áp dụng biện pháp tạm giam trong trường hợp này cần hai điều kiện + người bị áp dụng phải là bị can hoặc bị cáo;

+ bị can, bị cáo về tội đặc biệt nghiêm trọng hoặc tội rất nghiêm trọng

Trường hợp thứ hai: bị can, bị cáo về tội nghiêm trọng hoặc tội ít nghiêm trọng

mà bộ luật hình sự (BLHS) quy định hình phạt tù trên 02 năm khi có căn cứ xác định người đó thuộc một trong các trường hợp sau:(khoản 2 điều 119 BLTTHS) + Đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác nhưng vi phạm

+ Không có nơi cư trú rõ ràng hoặc không xác định được lý lịch của bị can,

bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã hoặc có dấu hiệu bỏ trốn, tiếp tục phạm tội hoặc có dấu hiệu tiếp tục phạm tội

+ Có hành vi mua chuộc người thân thích của những người này

Trang 4

Ngoài ra tạm giam có thể áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội ít nghiêm trọng mà BLHS quy định hình phạt tù đến 02 năm nếu họ tiếp tục phạm tội hoặc

bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã

Khi phạm tội thuộc những trường hợp trên, bị can, bị cáo bị áp dụng BPTG Đối với bị can, bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng mà BLHS phạt tù dưới 2 năm hoặc hình phạt khác không phải hình phạt tù thì không áp dụng BPTG

Nếu cần thiết, cơ quan tiến hành tố tụng có thể áp dụng các biện pháp ngăn chặn khắc như cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh

Nhằm thể hiện tính nhân đạo xã hội chủ nghĩa, BLTTHS 2015 quy định những trường hợp không được áp dụng BPTG gồm:

“ bị can, bị cáo là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, là người già yếu, người bị bệnh nặng mà có nơi cư trú và lý lịch rõ ràng thì không tạm giam mà áp dụng biện pháp ngăn chặn khác ”

Tuy nhiên những đối tượng này có thể bị áp dụng BPNC tạm giam trong những trường hợp đặc biệt đó là ( khoản 4 điều 119 )

+ Bị can, bị cáo bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã;

+ Bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội thân thích của những người này;

+ Bị can, bị cáo về tội xâm phạm an ninh quốc gia và có đủ căn cứ xác định nếu không tạm giam đối với họ thì sẽ gây nguy hại đến an ninh quốc gia Việc quy định này của BLTTHS của nước ta thể hiện rõ nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa, tôn trọng quyền con người

Với điều kiện sinh hoạt như trong trại tạm giam thì không thể đầy đủ những nhu cầu tất yếu cho phụ nữ có thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi, người già yếu và người bị bệnh nặng Hơn nữa trong trường hợp này bị can, bị cáo có nơi

cư trú rõ ràng, nếu họ không thuộc các trường hợp đặc biệt kể trên thì các cơ quan tiến hành tố tụng ( THTT ) có thể áp dụng biện pháp ngăn chặn khác để đảm bảo sự có mặt của bị can, bị cáo theo giấy triệu tập của cơ quan tố tụng

3 Căn cứ áp dụng biện pháp tạm giam

Trang 5

Căn cứ áp dụng BPNC là những tiêu chí, điều kiện được quy định trong luật TTHS làm cơ sở pháp lý để cơ quan THTT, người THTT căn cứ vào đó để lựa chọn và áp dụng Không phải người có hành vi phạm tội nào cũng là đối tượng của việc áp dụng BPNC, mà chỉ khi hội đủ những căn cứ theo quy định pháp luật mới có thể áp dụng một trong những BPNC cụ thể, căn cứ tạm giam được quy định tại Điều 109 và Điều 119 của Bộ luật TTHS năm 2015

- Để kịp thời ngăn chặn tội phạm.

Căn cứ này được áp dụng trong trường hợp khi có căn cứ cho rằng một người hoặc một nhóm người nào đó đang chuẩn bị thực hiện một tội phạm rất nghiêm trọng Căn cứ thể hiện rõ trong trường hợp bắt người khẩn cấp, ngăn chặn kịp thời tội phạm làm giảm bớt hậu quả của tội phạm Căn cứ này thường được áp dụng đối với người chưa bị khởi tố bị can, nhưng đã có tài liệu, căn cứ xác đáng để cho rằng một người hoặc một nhóm người chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng hoặc đang thực hiện một tội phạm cụ thể

- Khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho hoạt động điều tra, truy tố và xét xử.

Thường được áp dụng khi đã có quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can,

- Căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ tiếp tục phạm tội;

Có thể được thể hiện qua các yếu tố phản ánh về thân nhân,về hành vi của các bị can, bị cáo như đe doạ trả thù người làm chứng, người bị hại và sự đe doạ

đó có khả năng trở thành hiện thực

- Để bảo đảm thi hành án.

Khi cần đảm bảo thi hành án, tuỳ theo tính chất cụ thể của từng vụ án, tuỳ theo thân nhân của người bị kết án Toà án có thể áp dụng BPNC thích hợp Toà

án có thể áp dụng BPNC bắt bị can, bị cáo để tạm giam, áp dụng BPNC tạm giam đối với bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án Còn nếu có đủ cơ sở cho rằng bị cáo sẽ không bỏ trốn, không gây cản trở khó khăn cho việc thi hành án

Trang 6

thì không cần áp dụng BPTG mà chỉ cần áp dụng những BPNC ít nghiêm khắc khác

4 Thẩm quyền ra lệnh tạm giam

Thẩm quyền áp dụng biện pháp tạm giam là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ của các cơ quan THTT, người THTT theo quy định của pháp luật, trong phạm vi quyền hạn, nhiệm vụ được giao để thực hiện các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng trong việc áp dụng, hủy bỏ, thay thế BPNC tạm giam

Xác định rõ và hợp lý thẩm quyền áp dụng sẽ bảo đảm cho các cơ quan THTT, người THTT áp dụng đúng pháp luật, bảo đảm quyền của người bị áp dụng

Theo khoản 1 điều 113 BLTTHS: Những người sau đây có quyền ra lệnh, quyết định bắt bị can, bị cáo để tạm giam:

a) Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp Trường hợp này, lệnh bắt phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành;

b) Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự các cấp;

c) Chánh án, Phó Chánh án Tòa án nhân dân và Chánh án, Phó Chánh án Tòa án quân sự các cấp; Hội đồng xét xử

5 thời hạn tạm giam

Thời hạn tạm giam, thời hạn gia hạn tạm giam đối với từng giai đoạn tố tụng

cụ thể lại có những thời hạn tạm giam khác nhau được quy định trong Bộ luật như: thời hạn tạm giam để điều tra, thời hạn tạm giam để truy tố, thời hạn tạm giam xét xử sơ thẩm, thời hạn tạm giam xét xử phúc thẩm, thời hạn tạm giam để đảm bảo thi hành án

III QUY ĐỊNH VỀ TẠM GIAM CỦA CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

Các quốc gia trên thế giới rất quan tâm đến việc tạm giam TTHS Pháp luật trong TTHS của nhiều quốc gia trên thế giới đều quy định cụ thể về biện pháp ngăn chặn tạm giam

Trang 7

1 Qui định về biện pháp tạm giam trong pháp luật Nhật Bản

Điều 58 Toà án có thể tạm giam bị cáo trong các trường hợp sau:

(1) Bị cáo không có nơi ở cố định;

(2) Bị cáo không tuân theo lệnh triệu tập mà không có lý do chính đáng, hoặc có nguy cơ không tuân thủ lệnh này

Đối tượng bị áp dụng biện pháp tạm giam: Trong pháp luật TTHS Nhật Bản

đối tượng bị áp dụng BPTG rất hẹp, chỉ là bị cáo Theo quy định này, thì bị cáo chỉ cần hội căn cứ trên là có thể bị áp dụng tạm giam mà không quan tâm đến việc họ phạm tội gì, tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi đó cho xã hội ra sao Đây là điểm hạn chế dễ dẫn đến việc lạm dụng trong việc áp dụng tạm giam, không đảm bảo quyền và lợi ích công dân

Thẩm quyền áp dụng: tạm giam được giao cho một cơ quan duy nhất là Tòa

án

Về thời hạn tạm giam: Bộ luật quy định như sau: Thời hạn tạm giam là hai

tháng kể từ ngày khởi tố Trường hợp thật cần thiết để tiếp tục thời hạn này, thì

có thể gia hạn mỗi tháng bằng quyết định nêu rõ lý do xác đáng: Với điều kiện

là việc gia hạn này chỉ được thực hiện một lần trừ các trường hợp đề cập tại Điều 89 khoản (1), (3), (4) hoặc (6)

2 Qui định về biện pháp tạm giam trong pháp luật Cộng hòa nhân dân Trung Hoa

Bộ luật TTHS của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa có quy định về biện pháp ngăn chặn tạm giam, nhưng không quy định rõ về căn cứ áp dụng Điều 69 Bộ luật TTHS Trung Quốc chỉ nêu: “nếu thấy cần phải bắt giam ”

Đối tượng áp dụng biện pháp tạm giam: là bị can, bị cáo.

Thẩm quyền áp dụng biện pháp tạm giam : được quy định là cơ quan Công

an đề nghị Viện kiểm sát nhân dân phê chuẩn

Về thời hạn áp dụng: luật không quy định rõ Nhưng tại Điều 74 Bộ Luật

TTHS Trung Quốc là trong trường hợp vụ án liên quan đến bị can, bị cáo bị tạm giam không thể kết thúc trong thời hạn quy định để tạm giam bị can, bị cáo

Trang 8

phục vụ điều tra, tiến hành thẩm tra trước khi truy tố, hoặc thủ tục sơ thẩm hoặc phúc thẩm và vì vậy cần điều tra, kiểm tra, xử lý thêm vẫn cần thiết Bị can, bị cáo có thể được phép có một người bảo lĩnh trong giai đoạn chờ xét xử hoặc bị giám sát nơi cư trú

IV THỰC TRẠNG ÁP DỤNG BIỆN PHÁP TẠM GIAM

1 thực tiễn tạm giam

Theo báo cáo của Viện trưởng viện kiểm sát thành phố Hà Nội về công tác bảo vệ pháp luật nhiệm kỳ 2011-2016 cho thấy,

Năm 2011: tổng số người bị áp dụng BPTG là 18.458 người, trong đó huỷ bỏ biện pháp tạm giam, thay đổi biện pháp ngăn chặn khác là 1.776 người, còn đang tạm giam 5.228 người

Năm 2012: tổng số người bị áp dụng BPTG là 12.395 người, trong đó huỷ

bỏ biện pháp tạm giam, thay đổi biện pháp ngăn chặn khác là 1.537 người, còn đang tạm giam 4.241 người

Năm 2013: tổng số người bị áp dụng BPTG là 11.391 người, trong đó huỷ bỏ biện pháp tạm giam, thay đổi biện pháp ngăn chặn khác là 1.143 người, còn đang tạm giam 4.766 người

Năm 2014: tổng số người bị áp dụng BPTG là 13.235 người, trong đó huỷ bỏ biện pháp tạm giam, thay đổi biện pháp ngăn chặn khác là 809 người, còn đang tạm giam 6.025 người

Năm 2015:tổng số người bị áp dụng BPTG là 12.586 người, trong đó huỷ bỏ biện pháp tạm giam, thay đổi biện pháp ngăn chặn khác là 842 người, còn đang tạm giam 4.801 người

2 Những vướng mắc và bất cập về biện pháp tạm giam.

Theo tình hình tạm giam trong cả nước, hầu hết các trường hợp áp dụng tạm giam đều tuân thủ theo đúng quy định pháp luật Cơ quan THTT, người THTT

đã quan tâm đến quyền, lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp tạm

Trang 9

giam Việc áp dụng biện pháp tạm giam hiện nay đã có những tiến bộ đáng kể, bảo đảm dân chủ, pháp chế, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân

Bên cạnh, những ưu điểm kết quả đã đạt, vẫn tồn tại một số hạn chế trong quá trình áp dụng biện pháp tạm giam, thể hiện:

a Về việc xác định căn cứ áp dụng biện pháp tạm giam

Qua nghiên cứu cho thấy nhiều trường hợp, căn cứ tạm giam chưa được thể hiện cụ thể, nhìn chung trong quá trình điều tra vụ án, khi đề nghị viện kiểm sát phê chuẩn quyết định tạm giam, đa số các trường hợp trong công văn yêu cầu ghi căn cứ chung chung như “ để đảm bảo cho công tác điều tra, xử lý”, “ thấy rằng cần thiết phải tạm giam bị can, không để bị can trốn thoát”, “ không để bị can tiếp tục phạm tội” mà ít đưa ra các căn cứ cụ thể, cũng không loại trừ trường hợp cơ quan điều tra sử dụng tạm giam như là biện pháp nghiệp vụ để buộc bị can nhận tội, hay nhiều trường hợp có quan điều tra ( CQĐT ) ra lệnh tạm giam, lệnh bắt tạm giam không có căn cứ nên không được viện kiểm sát phê chuẩn Tình trạng xác định về căn cứ áp dụng biện pháp tạm giam còn nhiều hạn chế, sơ suất Trong thực tế, còn tình trạng các cơ quan THTT ở các giai đoạn tố tụng trước đó đã tạm giam nên khi xét xử Tòa án rất ngại tuyên vô tội hoặc tuyên hình phạt không phải là hình phạt tù, dù có đủ căn cứ Số bị cáo bị tuyên phạt tù bằng hoặc ngắn hơn thời hạn tạm giam vẫn tồn tại Ở một số vụ

án, cơ quan THTT còn coi BPTG như một biện pháp nghiệp vụ điều tra, xâm phạm đến quyền tự do của công dân

b Quá hạn tạm giam

Tình hình tội phạm diễn biến phức tạp với số lượng ngày càng tăng, nhưng

số lượng cán bộ trong các cơ quan THTT luôn luôn thiếu, nên không đáp ứng được yêu cầu công tác Ngoài ra, do tâm lý nóng vội, mong muốn hoàn thành nhiệm vụ được giao, do ảnh hưởng bởi bệnh thành tích nên dẫn đến tình trạng vi phạm pháp luật TTHS về thời hạn tạm giam còn xảy ra tương đối nhiều ở các cơ quan THTT

Trang 10

Thực tế vẫn xảy ra việc quá hạn tạm giam Trong các vụ, hồ sơ bị can, bị cáo

bị tạm giam phải kéo dài thời hạn tạm giam do phải xin ý kiến chỉ đạo của các

cơ quan tiến hành tố tụng các cấp Việc quá giới hạn tạm giam đã xâm phạm trực tiếp đến quyền và lợi ích của người bị tạm giam…

c Lạm dụng biện pháp tạm giam.

Nghiên cứu ngẫu nhiên về 320 trường hợp bị tạm giam trong tổng số 472 vụ

án các loại tại tỉnh Lâm Đồng và thành phố Hồ Chí Minh, không tìm thấy trong

hồ sơ vụ án có bất cứ giấy tờ, tài liệu nào chứng minh về khả năng bỏ trốn, tiếp tục phạm tội hoặc có thể cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án của người bị áp dụng Trong các lệnh tạm giam của CQĐT, quyết định phê chuẩn lệnh tạm giam của viện kiểm sát chỉ nêu chung chung là căn cứ vào hành vi phạm tội, căn cứ vào các điều luật của BLTTHS và xét thấy cần thiết tạm giam

là tạm giam Nhiều trường hợp lẽ ra họ được tại ngoại để điều tra, truy tố, xét xử hoặc chờ thi hành án, nhưng các cơ quan tiến hành tố tụng vẫn áp dụng biện pháp tạm giam đối với họ; trong đó có nhiều trường hợp oan, sai

Việc lạm dụng biện pháp tạm giam trong giai đoạn tiền xét xử đã xâm hại nghiêm trọng đến một số quyền căn bản của con người, gây thiệt hại nghiêm trọng đến xã hội và giảm lòng tin của nhân dân vào hoạt động tư pháp hình sự

Về mặt xã hội, nó còn gây tốn kém về chi phí tố tụng và chi phí của Nhà nước khi phải xây dựng buồng giam và các chế độ quản lý không cần thiết

d quá tải trại tạm giam

Việc đảm bảo điện tích tối thiểu cho mỗi người giam, giữ ở các nhà tạm giữ, tạm giam, trại tạm giam trên cả nước đều đảm bảo đủ từ 2m vuông/ người trở lên tuy nhiên một số trại tạm giam xảy ra tình trạng vượt quá quy mô giam giữ,

do đó chỗ nằm tối thiểu của người tạm giam không được đảm bảo, việc cấp phát

đồ dùng sinh hoạt vẫn còn thiếu,khẩu phần ăn của người bị tạm giam không đảm bảo theo quy định của pháp luật, việc này chỉ xảy ra cá biệt ở một số trại giam Tuy nhiên tình trạng này cũng vẫn làm ảnh hưởng đến các quyền của người bị tạm giam, đồng thời làm giảm hiệu quả giáo dục, cải tạo phạm nhân

Ngày đăng: 24/04/2022, 20:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trường đại học Luật Hà Nội, giáo trình luật tố tụng hình sự Việt Nam, nxb CAND, Hà Nội - 2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: giáo trình luật tố tụng hình sự Việt Nam
Nhà XB: nxbCAND
2. Khoa luật, đại học quốc gia, giáo trình luật tố tụng hình sự Việt Nam, nxb đại học quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: giáo trình luật tố tụng hình sự Việt Nam
Nhà XB: nxb đạihọc quốc gia
8. Biện pháp ngăn chặn tạm giam đối với bị can trong tố tụng hình sự Việt Nam;luận văn thạc sĩ Luật học/ Đào Nguyễn Hồng Minh; TS Phan Thị Thanh Mai hướng dẫn. Hà Nội 2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biện pháp ngăn chặn tạm giam đối với bị can trong tố tụng hình sự Việt Nam
9. Biện pháp ngăn chặn tạm giam và thực tiễn thi hành tại thành phố Hà Nội;luận văn thạc sĩ luật học/ Nguyễn Ngọc Anh; TS Phan Thị Thanh Mai hướng dẫn. Hà Nội 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biện pháp ngăn chặn tạm giam và thực tiễn thi hành tại thành phố Hà Nội
3. Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, nxb lao động 4. Bộ luật hình sự năm 2015 Khác
6. Bộ luật tố tụng hình sự Cộng hòa nhân dân Trung Hoa Khác
7. Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2017 Khác
10. Báo cáo của Viện trưởng viện kiểm sát thành phố Hà Nội về công tác bảo vệ pháp luật nhiện kỳ 2011-2016 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w