Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài Đề tài được nghiên cứu sẽ góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận vềbiện pháp ngăn chặn tạm giam được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự đượ
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bổ trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chỉnh theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Tôi xin chăn thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Lê Thị Huyền Nga MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Trang 3Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TẠM GIAM TRONG TÓ TỤNG HÌNH sụ VIỆT NAM 7
1.1 Khái niệm, đặc điểm biện pháp ngăn chặn tạm giam trong tố tụng hình sự 7
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự 7
1.1.2 Khái niệm tạm giam 12
1.1.3 Đặc điểm biện pháp ngăn chặn tạm giam 14
1.1.4 Mục đích và ý nghĩa của việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam 16
1.2 Các nguyên tắc quy định và áp dụng, thay thế, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn tạm giam 20
1.2.1 Nguyên tắc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam nhằm đấu tranh, phòng chống tội phạm có hiệu quả 21
1.2.2 Nguyên tắc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa 22
1.2.3 Nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa, tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ quyền con người 23
Tiểu kết Chương 1 26 Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA Bộ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH sự 2015
Trang 4VỀ TẠM GIAM 27
2.1 Quy định về đối tượng tạm giam 27
2.2 Quy định về căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam 30 2.3 Quỵ định về thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam 32 2.4 Quy định về thủ tục tạm giam 33
2.5 Quy định về thời hạn tạm giam 34
2.5.1 Quy định về thời hạn tạm giam trong giai đoạn điều tra 35
2.5.2 Quy định về thời hạn tạm giam trong giai đoạn truy tố 38
2.5.3 Quy định về thời hạn tạm giam trong giai đoạn xét xử 39
2.5.4 Thời hạn tạm giam trong trường hợp đặc biệt 41
2.5.5 Cách tính thời hạn tạm giam 42
Tiểu kết Chương 2 46
Chương 3: THựC TIỄN ÁP DỤNG BIỆN PHÁP NGĂN CHẬN TẠM GIAM TRONG VIỆC XÉT xử TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐẮK LẮK VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG 47
3.1 Đặc điểm của tỉnh Đắk Lắk có ảnh hưởng đến việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam trong hoạt động giải quyết các vụ án hình sự trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk 47
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội 47
Trang 53.1.2 Những tác động của điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội
đến hoạt động áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam trên địa bàn tỉnh
Đắk Lắk 47
3.2 Thực tiễn áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam trong xét xử trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk (2016-2020) 49
3.2.1 Tình hình áp dụng biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn xét xử trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk (2016-2020) 49
3.2.2 Những thiếu sót, vi phạm trong áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam 54
3.2.3 Nguyên nhân của những thiếu sót, vi phạm 58
3.3 Hoàn thiện pháp luật và các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam 62
3.3.1 Sự cân thiêt và định hướng hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam 62
3.3.2 Các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam 64
Tiểu kết Chương 3 72
KẾT LUẬN 73
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLTTHS: Bộ luật tố tụng hình sự
CQTHTT: Cơ quan tiến hành tố tụng
TANDTC: Tòa án nhân dân tối cao
•VKSND: Viên kiểm sát nhân dân
•VKSNDTC: Viên kiểm sát nhân dân tối cao
•
Trang 71 Tính câp thiêt của đê tài
Trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hộinhập quốc tế ở nước ta hiện nay, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, sự pháttriển của hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật tố tụng hình sự nói riêng cónhiều thành tựu đáng ghi nhận Đảng và Nhà nước ta đang từng bước cải cách, đổimới hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển xã hội mộtcách toàn diện, bảo vệ quyền con người, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội; bảo đảm
để các quy định của pháp luật đi vào thực tiễn một cách triệt để và được thực thimột cách nghiêm túc Trong đó, việc hoàn thiện các quy định trong tố tụng hình sựluôn được chú trọng, từng bước khắc phục những bất cập, yếu kém trong các quy
Trang 8định pháp luật trước đó, nâng cao và hoàn thiện dần những quy định trong phápluật tố tụng hình sự đảm bảo phù hợp với thực tiễn.
Pháp luật tố tụng hình sự quy định trình tự, thủ tục khởi tố, điều tra, truy tố,xét xử để đấu tranh, phòng chống tội phạm nhằm bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa,bảo vệ độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
tổ chức, cá nhân Để đạt được điều đó, Luật tố tụng hình sự quy định nhiều biệnpháp mang tính cưỡng chế, trong đó có những biện pháp ngăn chặn để đảm bảoviệc thực thi pháp luật được thực hiện theo khuôn khổ nhất định
Trong hệ thống các biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự, các biện phápngăn chặn, đặt biệt là biện pháp ngăn chặn tạm giam, chiếm vị trí đặc biệt quantrọng Việc sử dụng các biện pháp ngăn chặn tạm giam trong quá trình tố tụng hình
sự là điều cần thiết, có ảnh hưởng lớn đến quá trình giải quyết vụ án hình sự vàhiệu quả của cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm Tuy nhiên, việc áp dụng cácbiện pháp ngăn chặn tạm giam luôn luôn gắn liền với những
Trang 9hạn chê quyên con người được ghi nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm trong Hiến
pháp Với quy định: “Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiếm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang Việc bẳt, giam, giữ người do luật định ” (Điều 20), Hiến pháp năm
2013 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đảm bảo mọi công dân không
bị áp dụng biện pháp ngăn chặn một cách tuỳ tiện, trái pháp luật, đặc biệt là biệnpháp ngăn chặn tạm giam
Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định về các biện pháp ngăn chặn về
cơ bản đã khắc phục được những hạn chế của BLTTHS 2003, nhưng trong quátrình thực hiện vẫn còn những khó khăn vướng mắc nhất định, đòi hỏi phải tiếp tụcnghiên cứu để có quy định phù hợp thực tế, đảm bảo cho công tác điều tra, truy tố,xét xử các vụ án hình sự đạt hiệu quả
Thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm trong thời gian qua trên địa bàntỉnh Đấk Lắk cho thấy, tình hình tội phạm diễn ra ngày càng phố biến phức tạp, đòihỏi phải đặt ra những yêu cầu mới cho công tác đấu tranh phòng chống tội phạmnói chung và việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam trong quá trình giảiquyết vụ án hình sự Thực tiễn áp dụng các biện pháp ngăn tạm giam đối với bịcan, bị cáo hiện nay vẫn còn tuỳ tiện, không đúng pháp luật Nguyên nhân của tìnhhình trên có nhiều yếu tố khác nhau, nhưng chủ yếu là do những quy định của pháp
Trang 10luật tố tụng hình sự còn những hạn chế, ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả điều tra,truy tố, xét xử tội phạm; xâm phạm các quyền con người, gây dư luận xấu trongnhân dân ảnh hưởng đến uy tín của Đảng, Nhà nước.
Vì vậy, việc nghiên cứu một cách đầy đủ, hệ thống lý luận về tạm giam,đánh giá một cách toàn diện, chính xác khách quan thực tiễn áp dụng biện phápngăn chặn tạm giam trong giai đoạn hiện nay là rất cần thiết Với mong muốn đónggóp một phần nhỏ bé của mình vào việc hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự ViệtNam về biện pháp ngăn chặn tạm giam trong giai đoạn xét xử sơ thâm, bản thân
chọn đê tài " Biện pháp ngăn chặn tạm giam trong tô tụng hình sự Việt Nam (trên
cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Lak)”, làm luận văn thạc sĩ của mình.
2 Tình hình nghiên cứu
Trong thời gian qua có một số công trình khoa học đã nghiên cứu việc áp dụng biện pháp ngăn chặn Nhìn chung, các công trình khoa học trên chủ yếu tập trung phân tích phương diện lý luận quy định của pháp luật về biện pháp ngăn
chặn và những vướng mắc trong thực tế
Qua quá trình tìm hiểu và sưu tầm tài liệu cho thấy, đã có một số công trìnhnghiên cứu khoa học về vấn đề biện pháp ngăn chặn Có thể kể tên những côngtrình được thực hiện đã trực tiếp hoặc gián tiếp đề cập đến như:
về tài liệu nghiên cứu là sách giáo trình, sách chuyên khảo và các bài viết
Trang 11đăng trên tạp chí
- Tác giả Hoàng Thị Minh Sơn (chủ biên), “Giáo trình Luật tố tụng hình
sự Việt Nam”, NXB Công an nhân dân, năm 2018;
- Tác giả Nguyễn Tất Viễn, “Bảo đảm quyền con người trong hoạt động tư pháp”, NXB Tư pháp, năm 2020;
- Hoàng Tám Phi, “Một số kiến nghị hoàn thiện quy định về thời hạn tạm giam trong Bộ luật TTHS năm 2015”, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 03/2019;
- Vũ Minh Phương, “Tiếp tục hoàn thiện quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về biện pháp giữ người trong trường hợp khàn cấp”, Tạp chí An
ninh nhân dân, số 98 (7/2020);
- Nguyễn Ngọc Kiện - Phạm Xuân Minh, “Bảo đảm quyền của người bị tạm giam theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015”, Tạp chí Nghiên
Triệu Văn Mần “Biện pháp tạm giam trong tổ tụng hình sự Việt Nam (Tìrên
cơ sở nghiên cứu thực tiền tại tỉnh Bắc Kạn) ”, Luận văn thạc sĩ luật học, 2015;
Trang 12Nguyễn Thị Thu Hoài “Biện pháp ngăn chặn đối với người chưa thành niên phạm tội”, Luận văn thạc sỹ luật học, 2015.
Trần Mạnh Hà “Áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự từ thực tiễn huyện cấm Giàng, tỉnh Hải Dương - Luận văn thạc sĩ luật học, 2021;
Trong các công trình nghiên cứu của các tác giả nói trên chỉ mới đề cập đếnnhững vấn đề lý luận chung về biện pháp ngăn chặn hoặc phân tích các quy địnhcủa pháp luật thực định về các biện pháp đó Một số luận án tiến sĩ, luận văn thạc
sĩ gần đây cũng đã nghiên cứu các vấn đề liên quan đến biện pháp ngăn chặn.Trong đó có luận án tiến sĩ nghiên cứu chung về việc áp dụng biện pháp ngăn chặntrong điều tra vụ án hình sự của lực lượng Cảnh sát nhân dân Một số luận văn thạc
sĩ khác nghiên cứu về tình hình áp dụng biện pháp ngăn chặn ở một số địa phươngđối với đối tượng là người chưa thành niên hoặc luận văn áp dụng biện pháp ngănchặn đối với các đối tượng đặc biệt Cho đến nay vẫn chưa có công trình nàonghiên cứu về thực tiễn áp dụng biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn xét xử sơthấm ở các địa phương nói chung và tỉnh Đắk Lắk nói riêng Trên cơ sở nghiêncứu những vấn đề lý luận, các quy định của pháp luật về biện pháp ngăn chặn cũngnhư thực tiễn áp dụng các biện pháp này trong quá trình giải quyết các vụ án hình
sự tại Toà án, bản thân mong muốn đưa ra những đề xuất nhằm hoàn thiện các quy
định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về “Biện pháp ngăn chặn tạm giam
Trang 13theo luật tố tụng hình sự Việt Nam và thực tiễn áp dụng tại tỉnh Đẳk Lak” là
mang tính cấp thiết và phù hợp với yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm củađịa phương trong tình hình hiện nay
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 14+ Đưa ra các dự báo về tình hình tội phạm, những yếu tố tác động đến việc
áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam và các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụngcác biện pháp ngăn chặn tạm giam trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là lý luận, quy định của pháp luật vềbiện pháp ngăn chặn tạm giam theo luật tố tụng hình sự Việt Nam và thực tiễn ápdụng trong xét xử tại tỉnh Đắk Lắk
- Phạm vi nghiên cứu: Bản thân công tác tại Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk
và do phạm vi áp dụng biện pháp ngăn chặn rộng, cho nên nghiên cứu biện phápngăn chặn trong Đe tài này chỉ được giới hạn trong giai đoạn xét xử sơ thẩm đốivới địa phương tỉnh Đắk Lắk từ năm 2016 đến năm 2020 để đưa ra những giảipháp hoàn thiện pháp luật tô tụng hình sự vê biện pháp ngăn chặn tạm giam tronggiai đoạn xét xử
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Đe tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa duy vậtbiện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử; Tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủtrương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về Nhà nước pháp quyền
Đồng thời, việc nghiên cứu sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học
cụ thể: như phương pháp lịch sử, phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp,
Trang 15phương pháp so sánh, đánh giá và tổng kết kinh nghiệm thực tiễn, suy diễn logic
để thực hiện đề tài
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Đề tài được nghiên cứu sẽ góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận vềbiện pháp ngăn chặn tạm giam được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự được
áp dụng trong giai đoạn xét xử sơ thẩm mà còn nhằm tổng kết thực tiễn, nghiêncứu những vướng mắc, bất cập từ đó đề xuất những giải pháp có giá trị nhằm hoànthiện chế định về các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự, nâng cao hiệu quả
áp dụng trong thực tiễn, bảo vệ kịp thời quyền và lợi ích hợp pháp của các bị can,
bị cáo trong việc giải quyết các vụ án hình sự
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung củaluận văn gồm 03 chương:
Chương ỉ: Một số vấn đề lý luận về tạm giam trong tố tụng hình sự Việt
Nam
Chương 2' Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2015 về tạm giam.
Chương 3: Thực tiễn áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam trong việc xét
xử tại địa bàn tỉnh Đắk Lắk và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng
Chương 1
Trang 161.1.1 Khái niệm, đặc điểm biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự
Trong hệ thống pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, biện pháp ngăn chặnđược quy định cụ thể tại mục 1, chương VII Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 Tuynhiên Bộ luật Tố tụng hình sự không đưa ra khái niệm cụ thể về biện pháp ngănchặn Bộ luật chỉ đưa ra mục đích của việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn Theo
đó, biện pháp ngăn chặn được áp dụng nhằm để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặckhi có căn cứ chứng tỏ người bị buộc tội sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố,xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội hoặc để bảo đảm thi hành án, cơ quan, người cóthẩm quyền tiến hành tố tụng trong phạm vi thẩm quyền của mình có thể áp dụngbiện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bất, tạm giữ, tạm giam, bảo lĩnh,đặt tiền để bảo đảm, cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh [18],
Bàn về khái niệm biện pháp ngăn chặn, trong khoa học luật TTHS đã cónhiều tài liệu nghiên cứu đưa ra các khái niệm khác nhau về biện pháp ngăn chặn
Trong từ điển Luật học, biện pháp ngăn chặn được giải thích như sau:
Trang 17Biện pháp ngăn chặn là biện pháp cưỡng chế về mặt tố tụng hình sự áp dụng khi có đủ căn cứ đối với bị can, bị cáo hoặc người chưa bị khởi tố trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang để ngăn chặn hành vinguy hiểm cho xã hội của họ, ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội, trốn tránhpháp luật hoặc có hành động gây cản trở cho việc điều tra, truy tố, xét
xử và thi hành án [35, tr 69]
Tiến sĩ Nguyễn Văn Điệp cho rằng:
Biện pháp ngăn chặn là những biện pháp cưỡng chế cần thiết về mặt tốtụng hình sự, do các cơ quan và những người có thẩm quyền theo quyđịnh của pháp luật áp dụng đối với bị can, bị cáo hoặc người chưa bịkhởi tố khi có căn cứ do Bộ luật tố tụng hình sự quy định nhằm ngănchặn tội phạm, bảo đảm cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án.Các biện pháp ngăn chặn bao gồm: bắt người, tạm giữ, tạm giam, cấm đikhỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm [3,
tr 26],Thạc sĩ Đào Minh Dũng cho rằng:
Biện pháp ngăn chặn là những biện pháp cưỡng chế TTHS được quyđịnh trong BLTTHS do người có thẩm quyền theo quy định của pháp
Trang 18luật TTHS áp dụng đối với bị can, bị cáo hoặc đối với người phạm tộiquả tang hoặc người bị nghi là phạm tội khi có căn cứ do pháp luật quyđịnh nhằm ngăn chặn họ tiếp tục phạm tội, bỏ trốn hoặc gây khó khăncho quá trình điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự [4, tr 12].
Trong giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam của Trường Đại học luật HàNội đã đưa ra khái niệm biện pháp ngăn chặn như sau:
Biện pháp ngăn chặn là biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự được
áp dụng đối với bị can, bị cáo người bị truy nã hoặc đối với những ngườichưa bị khởi tố (trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang),nhằm ngăn chặn những hành vi nguy hiểm cho xã hội của họ, ngăn ngừa
họ tiếp tục phạm tội, trốn tránh pháp luật hoặc có hành động cản trở choviệc điều tra, truy tố xét xử và thi hành án hình sự [34, tr 227],
Theo đó, các tác giả đã chia các biện pháp ngăn chặn thành ba nhóm đốitượng:
- Nhóm 1 gồm những biện pháp nhằm ngăn chặn tội phạm, ngăn ngừangười có hành vi phạm tội bở trốn hoặc có hành vi gây khó khăn cho quá trình giảiquyết vụ án như giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam, bảolĩnh, đặt tiền để bảo đảm, cấm đi khởi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh
Trang 19- Nhóm 2 gồm những biện pháp bảo đảm cho việc thu thập chứng cứ nhưkhám xét, khám nghiệm hiện trường, xem xét dấu vết trên thân thể
- Nhóm 3 gồm những biện pháp bảo đảm thuận lợi cho hoạt động điều tra,truy tố, xét xử và thi hành án như kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản, tạm đình chỉ
có thời hạn hoạt động của pháp nhân có liên quan đến hành vi phạm tội của phápnhân, buộc pháp nhân nộp một khoản tiền đế bảo đảm thi hành án, áp giải bị can,
bị cáo, người bị kết án, dẫn giải người làm chứng, những biện pháp xử lý do chủtọa phiên tòa áp dụng đối với người có hành vi vi phạm nội quy phiên tòa
Có thể nói, các tác giả đã đưa ra nhiều khái niệm về biện pháp ngăn chặn ởnhững góc độ khác nhau, nhưng nhìn chung đều có những điếm chung Theo cácđịnh nghĩa trên thì biện pháp ngăn chặn trong TTHS có những yếu tố nội hàm sau:
Thứ nhất, biện pháp ngăn chặn trong TTHS là một trong các biện pháp
cưỡng chế của TTHS Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, các cơ quan tiếnhành tố tụng được áp dụng nhiều biện pháp cưỡng chế trong đó có biện pháp ngănchặn Tuy nhiên, biện pháp ngăn chặn có mục đích, căn cứ, thẩm quyền và thủ tụckhác với các biện pháp cưỡng chế khác Nếu như biện pháp điều tra, có mục đíchthu thập chứng cứ để chứng minh làm rõ các tình tiết của vụ án thì biện pháp ngănchặn lại có mục đích ngăn chặn không cho tội phạm xảy ra và tạo điều kiện để các
Trang 20Co quan tiến hành tố tụng tiến hành giải quyết vụ án Vì vậy, căn cứ áp dụng, thấmquyền và thủ tục tiến hành cũng khác nhau Mặc dù khác nhau nhưng tất cả cácbiện pháp cưỡng chế là một thể thống nhất, có mối liên hệ với nhau và cùng cácchế định khác của TTHS hướng tới thực hiện có hiệu quả mục đích của tố tụnghình sự.
Thứ hai, các biện pháp ngăn chặn được áp dụng với mục đích ngăn chặn
không cho tội phạm tiếp tục xảy ra gây thiệt hại cho xã hội, không để người phạmtội tiếp tục thực hiện tội phạm hoặc cản trở điều tra, truy tố, xét xử, thi hành ántrốn tránh sự trừng phạt của pháp luật Đồng thời, việc áp dụng các biện pháp ngănchặn còn nhằm mục đích tạo điều kiện thuận lợi để các cơ quan tiến hành tố tụnggiải quyết vụ án như không để người phạm tội có thể xóa bỏ dấu vết phạm tội, tiêuhuỷ chứng cứ, làm giả chứng cứ, thông cung giữa những người phạm tội hoặc vớingười làm chứng, đảm bảo sự có mặt của bị can, bị cáo, bị án khi có yêu cầu của
cơ quan tiến hành tố tụng Với mục đích như vậy, biện pháp ngăn chặn trong tốtụng hình sự khác với biện pháp cưỡng chế khác và với hình phạt trong Luật hìnhsự
Thứ ba, biện pháp cưỡng chế của Luật TTHS là những biện pháp đảm bảo
cho công tác điều tra, truy tố, xét xử và thi hành bản án hình sự nhanh chóng,
Trang 21khách quan theo quy định của pháp Luật tố tụng hình sự Biện pháp cưỡng chế màLuật TTHS quy định bao gồm: Các biện pháp ngăn chặn; Các biện pháp thu thậpchứng cứ như: khám xét nhà, đồ vật, thư tín; xét hỏi bị can; lấy lời khai người làmchứng; nhận dạng, đối chất những biện pháp đảm bảo cho các hoạt động điềutra, truy tố, xét xử và thi hành án như: Kê biên tài sản, áp giải bị can Như vậy,biện pháp cưỡng chế trong TTHS có nội dung và phạm vi rộng hơn so với biệnpháp ngăn chặn và không chỉ nhằm mục đích ngăn chặn tội phạm, tạo điêu kiệnthuận lợi cho việc giải quyêt vụ án của các cơ quan tiến hành tố tụng mà còn nhằmmục đích răn đe
Thứ tư, đối tuợng bị áp dụng các biện pháp ngăn chặn là bị can, bị cáo,
người phạm tội quả tang hoặc người mà cơ quan tiến hành tố tụng có tài liệu,chứng cứ nghi là họ phạm tội Khi áp dụng biện pháp ngăn chặn các cơ quan cóthẩm quyền chỉ được tiến hành trong phạm vi, giới hạn cũng như thủ tục mà Luật
tố tụng hình sự quy định Ngoài các đối tượng kể trên, không ai có thể bị áp dụngcác biện pháp ngăn chặn, mọi hành vi áp dụng biện pháp ngăn chặn không đúngđối tượng, thẩm quyền, căn cứ cũng như thủ tục đều bị coi là vi phạm pháp luật,người có hành vi vi phạm tùy theo tính chất và mức độ có thể bị xử lý kỷ luật hoặctruy cứu trách nhiệm hình sự
Trang 22Thứ năm, thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn là những người tiến
hành tố tụng có thẩm quyền của các cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hoặcnhững người có thẩm quyền trong các cơ quan khác được giao thực hiện một sốhoạt động tố tụng, công dân tham gia vào việc bất người phạm tội quả tang, bắtngười theo lệnh truy nã Tùy theo tính chất, đặc điểm của từng giai đoạn tố tụng,chức năng nhiệm vụ của các cơ quan, Luật tố tụng hình sự quy định cho cơ quan
đó được áp dụng tất cả hay một số các biện pháp ngăn chặn và trong phạm vi, giớihạn cũng như theo thủ tục của luật tố tụng hình sự
Trên cơ sở những quy định của BLTTHS về các BPNC và những khái niệmnghiên cứu nêu trên, tác giá đưa ra khái niệm về BPNC như sau:
Biện pháp ngăn chặn là một trong những biện pháp cưỡng chế Nhà nước được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự, do cơ quan hoặc người có thâm quyền theo qui định của pháp luật áp dụng đối với bị can, bị cáo, người bị truy nã hoặc có thể đối với người chưa bị khởi tố khỉ có căn cứ do pháp luật quy định nhằm ngăn chặn tội phạm hoặc các hành vi khác gây nguy hiểm khác cho xã hội, gây khổ khăn cho công tác điêu tra, truy tô, xét xử và bảo đảm thi hành án.
Quy định về các biện pháp ngăn chặn được xem là một trong những công cụnhằm đảm bảo hoạt động tư pháp được thực hiện thuận lọi, đảm bảo kết quả trongtoàn bộ quá trình tố tụng, góp phần nâng cao hiệu quả trong công tác đấu tranh,
Trang 23phòng chống tội phạm Đảm bảo việc thực thi pháp luật một cách toàn diện, cácquyền, lọi ích hợp pháp của của công dân được đảm bảo và các quan hệ xã hộiđược Nhà nước bảo vệ tối ưu nhất.
1 • • • •
1.1.2 Khái niệm tạm giam
Tạm giam được hiểu là biện pháp cách ly bị can, bị cáo với xã hội trong mộtthời gian nhất định nhằm ngăn chặn hành vi trốn tránh pháp luật, cản trở việc điềutra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội của bị can, bị cáo, bảo đảm choviệc điều tra, truy tố, xét xử được diễn ra thuận lợi
Trong giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, tác giả đã đưa ra khái niệmtạm giam như sau: Tạm giam là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự do cơquan điều tra, viện kiểm sát, tòa án áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội rất nghiêmtrọng hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng hay bị can, bị cáo phạm tội ít nghiêmtrọng theo quy định của pháp luật [34, tr 253]
Đây là biện pháp ngăn chặn mang tính chất cưỡng chế nghiêm khắc nhấttrong số các biện pháp ngăn chặn được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự,nhằm tước bỏ quyền tự do thân thể của một người và hạn chế một số quyền, lợi íchhợp pháp của họ Neu như các biện pháp ngăn chặn khác như: Cấm đi khỏi nơi cưtrú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm, việc giám sát đối với
Trang 24người chưa thành niên phạm tội chỉ hạn chế một số quyền của người bị áp dụngbiện pháp thì đối với biện pháp ngăn chặn tạm giam, hình thức này hạn chế quyềncủa người bị áp dụng ở mức cao hơn Việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giamnhất thiết phải tuân thủ các căn cứ, trình tự, thủ tục theo pháp luật, do người cóthâm quyên quyêt định và thuộc các trường hợp do pháp luật quy định Do vậy,việc áp dụng BPNC tạm giam trong pháp luật tố tụng hình sự của Nhà nước ta từtrước cho đến nay luôn luôn được xây dựng theo hướng kế thừa có chọn lọc vàtừng bước hoàn thiện.
Theo Điều 119 của BLTTHS năm 2015 những đối tượng có thể bị áp dụngbiện pháp ngăn chặn tạm giam gồm:
- Bị can, bị cáo là về tội đặc biệt nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng;
- Bị can, bị cáo về tội nghiêm trọng, tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sựquy định hình phạt tù trên 02 năm khi có căn cứ xác định người đó thuộc một trongcác trường hợp: Đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác nhưng vi phạm;Không cónơi cư trú rõ ràng hoặc không xác định được lý lịch của bị can;BỎ trốn và bị bắttheo quyết định truy nã hoặc có dấu hiệu bỏ trốn;Tiếp tục phạm tội hoặc có dấuhiệu tiếp tục phạm tội;Có hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khaibáo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồvật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; đe dọa, khống chế, trả thù người
Trang 25làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân thích của những ngườinày.
- Bị can, bị cáo về tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định hìnhphạt tù đến 02 năm nếu họ tiếp tục phạm tội hoặc bỏ trốn và bị bất theo quyết địnhtruy nã
Như vậy, trong những trường hợp trên, bị can, bị cáo có thể bị áp dụng biệnpháp ngăn chặn tạm giam Tuy nhiên, pháp luật loại trừ một số đối tượng mặc dù
có đủ điều kiện đế áp dụng nhưng không được áp dụng biện pháp ngăn chặn tạmgiam đối với họ Đó là những bị can, bị cáo là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi condưới 36 tháng tuổi, là người già yếu, người bị bệnh nặng mà có nơi cư trú và lýlịch rõ ràng Pháp luật dành cho những đối tượng trên sự ưu tiên, tuy nhiên, trongmột số trường hợp do pháp luật quy định thì họ vẫn bị áp dụng BPNC tạm giamtheo quy định của pháp luật
Như vậy, biện pháp ngăn chặn tạm giam có thê được định nghĩa như sau:
Biện pháp ngăn chặn tạm giam là một trong những biện pháp ngăn chặn cách ly người được áp dụng trong thời hạn nhất định được quy định trong Bộ luật
tổ tụng hình sự, do người có thẩm quyền áp dụng đổi với bị can, bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng hoặc phạm tội nghiêm trọng, ít nghiêm trọng những thuộc một trong các trường hợp được quy định trong luật tổ tụng
Trang 26hình sự, nhằm ngăn chặn họ tiếp tục phạm tội, tron tránh pháp luật hoặc cản trở điều tra, truy tổ, xét xử và bảo đảm thi hành án.
1.1.3 Đặc điếm biện pháp ngăn chặn tạm giam
1.1.3.1 Tạm giam là biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc nhất
Tạm giam là một trong các biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc nhất đượcquy định trong BLTTHS Người bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam bị hạnchế quyền tự do trong một thời hạn chất định nhằm mục đích ngăn chặn tội phạm,không để người bị áp dụng phạm tội mới hoặc cản trở điều tra, truy tố, xét xử hoặcbảo đảm để bản án, quyết định có hiệu lực của Toà án được thi hành nghiêm chỉnh
Cùng với việc hạn chế quyền tự do, người bị áp dụng biện pháp ngăn chặntạm giam cũng bị những hạn chế nhất định trong việc thực hiện các quyền tố tụngcủa mình như quyền bào chữa; các quyền con người khác phái sinh từ quyền tự donhư quyền được thăm nuôi, quyền gặp gỡ người thân Thực tế, chế độ giam giữcủa người bị tạm giam nghiêm khắc hon nhiều so với chế độ chấp hành hình phạttù
1.1.3.2 Tạm giam có căn cứ, thời hạn áp dụng chặt chẽ
Do là biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc nhất, BLTTHS quy định căn cứ,thời hạn áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam rất chặt chẽ để một mặt bảo đảmcho hoạt động tố tụng hình sự không bị cản trở; mặt khác không dẫn đến vi phạm
Trang 27quyền con người của người bị áp dụng.
Tạm giam chỉ có thê được áp dụng khi có các căn cứ thực tê răng người bị
áp dụng sẽ tiếp tục phạm tội hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc thihành án Theo nguyên tắc suy đoán vô tội, người bị tạm giam chưa phải là ngườiphạm tội, nên về nguyên tắc không nên lấy tình nghiêm trọng của tội phạm đượcthực hiện để làm căn cứ tạm giam, nên chăng, người áp dụng cần căn cứ tínhnghiêm trọng của tội phạm để đánh giá khả năng phạm tội tiếp, khả năng cản trở tốtụng như là căn cứ để áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam
Tạm giam tước quyền tự do - một quyền con người cơ bản rất quan trọngcủa người bị áp dụng Vì vậy, thông thường pháp luật tố tụng quy định chặt chẽthời hạn áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam; theo đó, trong tố tụng hình sự,tạm giam chỉ được áp dụng với thời hạn ngắn nhất có thể, cần và đủ để giải quyết
bị can, bị cáo và người bị kết án trong những trường hợp luật định Những người
Trang 28khác chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự như người vị giữ khẩn cấp, người bị tạmgiữ, người tuy đã bị khởi tố nhưng không cản trở hoạt động điều tra, truy tố, xét
xử, thi hành án thì không bị tạm giam
Đồng thời, để bảo đảm thận trọng và kiểm soát chặt chẽ biện pháp ngănchặn tạm giam, pháp luật tố tụng thu hẹp phạm vi người có thẩm quyền áp dụngbiện pháp ngăn chặn tạm giam Đó là Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan điềutra, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Chánh án, Phó Chánh án Toà áncác cấp và Hội đồng xét xử các vụ án (Ở nhiều quốc gia, chỉ có Toà án là cơ quanduy nhât có thâm quyên áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam) Thậm chí, Thủtrưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra không có thẩm quyền đầy đủ áp dụngbiện pháp ngăn chặn tạm giam; quyết định của họ phải được Viện kiểm sát phêchuẩn
1.1.4 Mục đích và ý nghĩa của việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam
1.1.4.1 Mục đích của việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam
Biện pháp ngăn chặn tạm giam có thể được áp dụng trong suốt quá trìnhTTHS và do người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật (Thủ trưởng, PhóThủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sátnhân dân và Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiếm sát quân sự các cấp, Chánh
Trang 29án, Phó Chánh án Tòa án nhân dân và Chánh án, Phó Chánh án Tòa án quân sự cáccấp ) áp dụng khi thỏa mãn các căn cứ, điều kiện do pháp luật quy định Khi ápdụng các biện pháp ngăn chặn, cái mà người áp dụng mong muốn đạt được trongcông tác đấu tranh, ngăn ngừa và phòng chống tội phạm, bão đảm các quyền tự dodân chủ của công dân không bị xâm hại chính là mục đích cần hướng đến của việc
áp dụng BPNC tạm giam Bộ Luật tố tụng hình sự quy định áp dụng các biện phápngăn chặn tạm giam nhằm mục đích sau:
77/ứ nhất, đê kịp thời ngăn chặn tội phạm
Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luậtHình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mạithực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toànvẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa,quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức,xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạmnhững lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của
Bộ luật này phải bị xử lý hình sự [20, Điều 8],
Xuất phát từ tính chất mức độ nguy hiểm của tội phạm nên để bảo vệ cácquan hệ xã hội có nguy cơ bị tội phạm xâm phạm, biện pháp ngăn chặn tạm giamđược áp dụng khi có hành vi chuẩn bị phạm tội hoặc đang xảy ra xâm hại đến
Trang 30những quan hệ xã hội được Luật hình sự bảo vệ là thực sự cần
• 1 • • • • • ••• thiết Các cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm đấu tranhkhông cho tội phạm tiếp tục xảy ra, hạn chế thiệt hại về vật chất, tinh thần gây ảnhhưởng xấu về an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội Vì vậy, Luật tố tụng hình sựquy định áp dụng các biện pháp ngăn chặn tạm giam để kịp thời ngăn chặn hành viphạm tội có thể xảy ra hoặc đang thực hiện xâm hại đến các quan hệ xã hội đượcLuật hình sự bảo vệ Việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam không nhữngnhằm ngăn chặn không để bị can, bị cáo có điều kiện tiếp tục phạm tội mà còn tạotiền đề góp phần mang lại hiệu quả cho các hoạt động tố tụng sau này
Thứ hai, đảm bảo đê người bị áp dụng không cản trở điều tra, truy tố, xét
xử và thi hành án
Việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam trong suốt quá trình tố tụnggóp phần tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan chức năng thực hiện tốt vai trò,nhiệm vụ của mình Trong giai đoạn điều tra, tạm giam bị can, giúp cho cơ quanđiều tra thuận lợi trong quá trình lấy lời khai, hỏi cung, tống đạt các văn bản tốtụng cho bị can kịp thời và thực hiện các hoạt động phục vụ công tác điều tra đượcđảm bảo đúng quy định của pháp luật Trong giai đoạn xét xử, việc tạm giam bịcáo đảm bảo bị cáo được trích xuất đến phiên tòa đúng thời điểm, việc tống đạt các
Trang 31văn bản tố tụng của Tòa án đúng theo quy định của pháp luật, giúp tòa án hoànthành việc xét xử đối với bị cáo Tóm lại, việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạmgiam trong các giai đoạn tô tụng góp phân đảm bảo cho hoạt động tố tụng đượcdiễn ra xuyên suốt, không bị gián đoạn và đạt hiệu quả cao.
Thứ ba, đê đảm báo công tác thi hành án
Thi hành án là giai đoạn cuối cùng của Tố tụng hình sự, nhằm làm phát huyhiệu lực của bản án trong thực tế, vì thế việc tạo điều kiện thuận lợi để
1.1.4.2 Ỷ nghĩa của việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam
Trang 32Việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam không những để đạt được những mục đích trên mà còn mang lại ý nghĩa hết sức to lớn, cụ thể:
Một là, việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam sẽ đảm bảo cho trật tự
xã hội được ổn định, kỷ cương pháp luật được giữ vững, các quyền và lợi ích hợppháp của công dân được bảo vệ triệt để Từ đó góp phần nâng cao hiệu lực, hiệuquả quản lý nhà nước, củng cố tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, thể hiện sựkiên quyết của Nhà nước trong việc đấu tranh phòng chống tội phạm
Hưí là, đảm bảo công tác điều tra, truy tố, xét xử mang lại hiệu quả cao
Trong thực tê nhiêu vụ án xảy ra nêu không áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam đối với bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn rất lớn cho công tác điều tra, truy tố và xét xử, cụ thế như người phạm tội có thể bỏ trốn khỏi nơi cư trú sau khi gây án nhằm mục đích trốn tránh sự trừng phạt của pháp luật;
người phạm tội sau khi gây án có thế có những hành động gây cản trở hoạt động điều tra của các cơ quan tiến hành tố tụng, dẫn đến hoạt động điều tra gặp nhiều khó khăn hơn; nhiều bị can, bị cáo lại không có nơi cư trú rõ
ràng, hoặc luôn thay đổi chỗ ở, trong trường hợp này nếu không tạm giam bịcan, bị cáo sẽ bỏ trốn gây khó khăn cho quá trình điều tra, truy tố, xét xử,
mặc dù phạm tội ít nghiêm trọng; người phạm tội sau khi gây án có thể tẩu tán tài sản, tang vật do phạm tội mà có gây khó khăn cho công tác thu hồi
Trang 33lại tài sản phạm tội, cũng như có những hành động nhằm che dấu tội phạm, nếu không tạm giam đối tượng phạm tội sẽ gây nguy hiểm cho xã hội do
đó cho thấy vị trí quan trọng, sự cần thiết phải áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam trong tố tụng hình sự, điều đó đảm bảo cho công tác điều tra, truy
tố và xét xử được thực hiện hiệu quả hơn
Ba là, việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam góp phần bảo đảm quyền
và lợi ích của mọi công dân, bảo đảm quyền lợi của công dân luôn được bảo vệtrước những tác động tiêu cực do tội phạm mang lại Xuất phát từ tính nguy hiểmcủa tội phạm, việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam đối với những ngườiphạm tội có khả năng gây nguy hiểm cho xã hội, giúp cho cuộc sống của mọi côngdân được đảm bảo diễn ra bình thường, an toàn và luôn được bảo vệ khỏi nhữngtác nhân gây hại trong xã hội Tạo môi trường để mọi người phát huy quyền củamình, không bị ảnh hưởng, chi phối bởi những hành vi phạm tội Trong nhiềutrường hợp, vì tâm lý sợ bị liên lụy, ảnh hưởng hoặc bị đe dọa bởi tội phạm mànhiều người không thực hiện được quyền lợi của mình, không dám đấu tranhchống lại hành vi phạm tội làm cho công tác đâu tranh phòng chông tội phạm gặpkhông ít khó khăn Do vậy việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam góp phầntạo điều kiện thuận lợi cho mọi công dân ngoài xã hội được thực hiện quyền củamình, tự do đi lại, học tập, làm việc và tham gia tích cực vào công cuộc đấu tranh
Trang 34phòng chống tội phạm.
Bổn là, việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam thể hiện sự phân hóa
tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi tội phạm Biện pháp tạm giam được xem
là biện pháp ngăn chặn mang tính nghiêm khắc nhất Nó được áp dụng đối vớinhững đối tượng có mức độ nguy hiểm hơn Neu như các trường hợp phạm tội ítnguy hiểm hơn như phạm tội ít nghiêm trọng, người phạm tội là người chưa thànhniên phạm tội nghiêm trọng, ít nghiêm trọng thì biện pháp ngăn chặn tạm giamhầu như không được áp dụng, thay vào đó sẽ áp dụng các biện pháp ngăn chặnkhác, chẳng hạn như: cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm cũng
đủ để đảm bảo người phạm tội không thực hiện hành vi phạm tội khác cũng nhưđạt được mục đích của biện pháp ngăn chặn đó Đối với trường hợp phạm tội ởmức độ nguy hiểm hơn, biện pháp ngăn chặn tạm giam có thể được áp dụng Nhưvậy, có nói tùy theo tính nguy hiểm của hành vi phạm tội mà có thể áp dụng biệnpháp ngăn chặn phù hợp Biện pháp ngăn chặn tạm giam được áp dụng đối vớinhững người thực hiện Biện pháp ngăn chặn tạm giam được áp dụng đối vớinhững tội phạm mức độ nguy hiểm hơn so với các biện pháp ngăn chặn khác Từ
đó, thể hiện sự răn đe đối với những hành vi vi phạm pháp luật
Trang 351.2 Các nguyên tắc quy định và áp dụng, thay thế, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn tạm giam
Để đạt được những mục đích của biện pháp ngăn chặn tạm giam, việc ápdụng biện pháp ngăn chặn tạm giam đòi hỏi phải được thực hiện theo nhữngnguyên tắc nhất định, nhằm đảm bảo hoạt động điều tra, truy tố, xét xử mang lạihiệu quả cao, bảo đảm quyên và lợi ích của công dân được quy định trong Hiếnpháp Bên cạnh những nguyên tắc chung được quy định trong BLTTHS năm 2015,việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam mang nét đặc thù riêng nên cần tuânthủ một số nguyên tắc sau
1.2.1 Nguyên tắc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam nhằm đẩu tranh, phòng chống tội phạm có hiệu quả
Xuất phát từ nhiệm vụ đấu tranh, phòng chống tội phạm được Đảng và Nhànước đề ra, Luật hình sự cũng như Luật tố tụng hình sự đóng vai trò vô cùng quantrọng trong công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm Luật tố tụng hình sự đượcxem là một phương tiện để thực hiện những nhiệm vụ trên một cách hiệu quả.Trong đó, biện pháp ngăn chặn tạm giam là một trong những công cụ hữu hiệu màluật tố tụng hình sự đưa ra để phục vụ nhiệm vụ trên
Tại Điều 5 của BLTTHS cũng đã xác định rõ trách nhiệm của cơ quan nhà
Trang 36nước, tổ chức, cá nhân trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm Theo đó,các cơ quan nhà nước phải thường xuyên kiểm tra, thanh tra việc thực hiện chứcnăng, nhiệm vụ được giao; phát hiện kịp thời hành vi vi phạm pháp luật để xử lý
và thông báo ngay cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát mọi hành vi phạm tội xảy
ra trong cơ quan và trong lĩnh vực quản lý của mình; kiến nghị và gửi tài liệu cóliên quan cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát xem xét, khởi tố đối với người thựchiện hành vi phạm tội Do đó, sử dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam để đấu tranh,phòng chống tội phạm được coi là nguyên tắc cơ bản, xuyên suốt trong quá trìnhthực hiện cũng như trách nhiệm của cơ quan Nhà nước, tổ chức, cá nhân trongcông tác đấu tranh chống, phòng ngừa tội phạm Nguyên tắc này vừa thể hiện tínhchuyên chính của Nhà nước, vừa the hiện tính chất xã hội, trách nhiệm của Nhànước đối với xã hội và mỗi công dân
1.2.2 Nguyên tăc bảo đảm pháp chê xã hội chủ nghĩa
Pháp chế xã hội chủ nghĩa được hiểu là việc thường xuyên, nhất quán tuânthủ và chấp hành những quy định của Hiến pháp, các đạo luật và các văn bản quyphạm pháp luật khác phù hợp với Hiến pháp, các đạo luật từ phía cơ quan Nhànước, tổ chức xã hội, mọi công dân [10, tr 54],
Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa là một trong những nguyên tắc cơ
Trang 37bản trong hệ thống pháp luật Việt Nam Đây là nguyên tắc được quy định rõ tạiHiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Do đó, tất cả mọi hoạt độngquản lý Nhà nước nói chung cũng những những hoạt động được thực hiện trong tốtụng hình sự nói riêng đều phải tuân theo nguyên tắc này.
Trong quy phạm pháp luật tố tụng hình sự, nguyên tắc pháp chế xã hội chủ
nghĩa được thể hiện tại Điều 7 của BLTTHS năm 2015 như sau: “Mọi hoạt động
tố tụng hình sự phải được thực hiện theo quy định của Bộ luật này Không được giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tổ, điều tra, truy tố, xét xử ngoài những căn
cứ và trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định Chính vì nguyên tắc đó, biện pháp
ngăn chặn tạm giam trong tố tụng hình sự cũng phải tuân thủ nguyên tắc trên.Nguyên tắc này được thể hiện qua những nội dung sau:
Thứ nhất, việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam phải bảo đảm đúng
căn cứ, mục đích Pháp luật tố tụng hình sự quy định cụ thể những căn cứ cụ thểđược áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam Khi có những căn cứ được quy định,người có thẩm quyền mới có thể được quyền áp dụng Việc áp dụng biện phápngăn chặn tạm giam không đúng quy định có the dẫn đến nhiều chế tài khác nhau.Trong trường hợp nghiêm trọng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự Do vậy,khi áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam cần phải đảm bảo đúng, đủ các điềukiện, căn cứ mà pháp luật quy định Khi không còn căn cứ, tạm giam phải được
Trang 38huỷ bỏ, thay đổi.
Thứ hai, người áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam phải là người có
thẩm quyền áp dụng được quy định trong BLTTHS Xuất phát từ tính chất, mức độnghiêm trọng của biện pháp ngăn chặn tạm giam nên pháp luật hình sự quy địnhchỉ một số cá nhân mới có thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn này Chỉnhững người được BLTTHS quy định cho phép được quyền áp dụng biện phápngăn chặn tạm giam mới có thẩm quyền áp dụng Việc tuân thủ nguyên tắc nàygiúp tránh được tình trạng việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam khôngđúng
Thứ ba, việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam phải được thực hiện
theo đúng trình tự thủ tục được quy định tại BLTTHS Tuân thủ nguyên tắc nàyđảm bảo biện pháp ngăn chặn tạm giam không còn bị áp dụng tùy tiện, làm ảnhhưởng đến quyền và lợi ích của bị can, bị cáo
Tóm lại, việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam phải tuân thủ nghiêm,các bước được thực hiện theo một quy trình nhất định, được quy định trongBLTTHS Đảm bảo việc áp dụng luôn được thực hiện đúng, không xâm phạm đếnquyền và lợi ích của bất kỳ cá nhân, cơ quan, tổ chức nào, nâng cao tính thượngtôn pháp luật trong xã hội
1.2.3 Nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa, tôn trọng, bảo đảm và bảo
Trang 39vệ quyền con người
Nhà nước Việt Nam là nhà nước của dân, do dân và vì dân Từ khi lập Hiếnđến nay, trải qua nhiều lần sửa đổi bổ sung nhưng Hiến pháp nước ta luôn khẳngđịnh: Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ [17, Điều2], Nguyên tắc dân chủ luôn là nguyên tắc chỉ đạo, là kim chỉ nam trong mọi hoạtđộng quản lý nhà nước, xây dựng pháp luật Mọi hoạt động quản lý Nhà nước phảiđảm bảo quyền làm chủ của nhân dân
Nhân đạo là một truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc ta từ bao đời nay
và được khẳng định trong Hiến pháp nước ta: Nhà nước Cộng hỏa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyên xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân.Chính vì thế, Đảng và Nhà nước ta luôn vận dụng khéo léo
nguyên tắc nhân đạo trong tất cả hoạt động quản lý Nhà nước Việc xây dựng cácvăn bản quy phạm pháp luật luôn đảm bảo tính nhân văn, nhân đạo cao cả, tôntrọng, bảo đảm và bảo vệ quyền con người Do đó, nguyên tắc dân chủ và nhânđạo cũng được thể hiện trong hoạt động áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam.Nội dung của nguyên tắc này được thể hiện ở một số khía cạnh sau:
Thứ nhất, việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam phải đảm bảo không
xâm phạm đến quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp khác của công dân.Việc áp tạm giam phải đảm bảo đúng mục đích, đúng đối tượng, đúng thẩm quyền
Trang 40và được thực hiện đúng trình tự thủ tục quy định của pháp luật Không làm ảnhhưởng đến quyền lợi của bất kỳ cá nhân, cơ quan tổ chức nào khác Khi xét thấybiện pháp ngăn chặn tạm giam không cần thiết hoặc không còn căn cứ áp dụng thìphải được hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp ngăn chặn khác ít nghiêm khắc hơn.Pháp luật tố tụng hình sự cũng loại trừ một số đối tượng không bị cáo dụng tạmgiam như đối với bị can, bị cáo là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 thángtuổi, là người già yếu, người bị bệnh nặng Đây chính là nội dung thể hiện tínhnhân văn sâu sắc và rõ nét trong việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam.
Thứ hai, việc áp dụng biện pháp ngăn chặn không nhằm mục đích trừng trị
người phạm tội Đây là biện pháp tố tụng hình sự mang tính phòng ngừa tội phạm,bảo đảm hiệu quả của hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án Bảo đảmnhân đạo; không tra tấn, truy bức, dùng nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nàokhác xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giam; Bảo đảm chongười bị tạm giam thực hiện quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dânnếu không bị hạn chế bởi Luật này và luật khác có liên quan Ap dụng các biệnpháp quản lý giam giữ phải căn cứ vào tính chât, mức độ của hành vi phạm tội, độtuổi, giới tính, sức khỏe; bảo đảm bình đẳng giới, quyền, lợi ích chính đáng củaphụ nữ, trẻ em và các đặc điểm nhân thân khác của người bị tạm giam [19, Điều 4,Khoản 3, 4, 5],