- Để đạt được mục đích trên, những nhiệm vụ nghiên cứu được đặt ra như sau: + Nghiên cứu các vấn đề lý luận về biện pháp ngăn chặn nói chung, biện pháp ngăn chặn tạm giam nói riêng; + Ph
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
Lấ THỊ HUYỀN NGA
BIệN PHáP NGĂN CHặN TạM GIAM TRONG Tố TụNG HìNH Sự VIệT NAM
(trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Lắk)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2022
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
Lấ THỊ HUYỀN NGA
BIệN PHáP NGĂN CHặN TạM GIAM TRONG Tố TụNG HìNH Sự VIệT NAM
(trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Lắk)
Chuyờn ngành: Luật Hỡnh sự và Tố tụng hỡnh sự
Mó số: 8380101.03
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS TRẦN VĂN ĐỘ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ
tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Lê Thị Huyền Nga
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TẠM GIAM TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 7
1.1 Khái niệm, đặc điểm biện pháp ngăn chặn tạm giam trong tố tụng hình sự 7
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự 7
1.1.2 Khái niệm tạm giam 12
1.1.3 Đặc điểm biện pháp ngăn chặn tạm giam 14
1.1.4 Mục đích và ý nghĩa của việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam 16
1.2 Các nguyên tắc quy định và áp dụng, thay thế, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn tạm giam 20
1.2.1 Nguyên tắc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam nhằm đấu tranh, phòng chống tội phạm có hiệu quả 21
1.2.2 Nguyên tắc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa 22
1.2.3 Nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa, tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ quyền con người 23
Tiểu kết Chương 1 26
Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ 2015 VỀ TẠM GIAM 27
2.1 Quy định về đối tượng tạm giam 27
2.2 Quy định về căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam 30
Trang 52.3 Quy định về thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam 32
2.4 Quy định về thủ tục tạm giam 33
2.5 Quy định về thời hạn tạm giam 34
2.5.1 Quy định về thời hạn tạm giam trong giai đoạn điều tra 35
2.5.2 Quy định về thời hạn tạm giam trong giai đoạn truy tố 38
2.5.3 Quy định về thời hạn tạm giam trong giai đoạn xét xử 39
2.5.4 Thời hạn tạm giam trong trường hợp đặc biệt 41
2.5.5 Cách tính thời hạn tạm giam 42
Tiểu kết Chương 2 46
Chương 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN TẠM GIAM TRONG VIỆC XÉT XỬ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐẮK LẮK VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG 47
3.1 Đặc điểm của tỉnh Đắk Lắk có ảnh hưởng đến việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam trong hoạt động giải quyết các vụ án hình sự trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk 47
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội 47
3.1.2 Những tác động của điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội đến hoạt động áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk 47
3.2 Thực tiễn áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam trong xét xử trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk (2016-2020) 49
3.2.1 Tình hình áp dụng biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn xét xử trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk (2016-2020) 49
3.2.2 Những thiếu sót, vi phạm trong áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam 54
3.2.3 Nguyên nhân của những thiếu sót, vi phạm 58
3.3 Hoàn thiện pháp luật và các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam 62
Trang 63.3.1 Sự cần thiết và định hướng hoàn thiện pháp luật và nâng cao
hiệu quả áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam 62
3.3.2 Các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam 64
Tiểu kết Chương 3 72
KẾT LUẬN 73
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLTTHS: Bộ luật tố tụng hình sự BPNC: Biện pháp ngăn chặn CQĐT: Cơ quan điều tra CQTHTT: Cơ quan tiến hành tố tụng TANDTC: Tòa án nhân dân tối cao TTHS: Tố tụng hình sự
VKS: Viện kiểm sát VKSND: Viện kiểm sát nhân dân VKSNDTC: Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Tổng số các vụ án hình sự tòa án tỉnh Đắk Lắk thụ lý
Bảng 3.2 Tổng số bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm
giam trong xét xử sơ thẩm, phúc thẩm (2016-2020) 53
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế ở nước ta hiện nay, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, sự phát triển của hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật tố tụng hình sự nói riêng có nhiều thành tựu đáng ghi nhận Đảng và Nhà nước ta đang từng bước cải cách, đổi mới hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển xã hội một cách toàn diện, bảo vệ quyền con người, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội; bảo đảm để các quy định của pháp luật đi vào thực tiễn một cách triệt để và được thực thi một cách nghiêm túc Trong đó, việc hoàn thiện các quy định trong tố tụng hình sự luôn được chú trọng, từng bước khắc phục những bất cập, yếu kém trong các quy định pháp luật trước đó, nâng cao và hoàn thiện dần những quy định trong pháp luật tố tụng hình sự đảm bảo phù hợp với thực tiễn
Pháp luật tố tụng hình sự quy định trình tự, thủ tục khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử để đấu tranh, phòng chống tội phạm nhằm bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân Để đạt được điều đó, Luật tố tụng hình sự quy định nhiều biện pháp mang tính cưỡng chế, trong đó có những biện pháp ngăn chặn để đảm bảo việc thực thi pháp luật được thực hiện theo khuôn khổ nhất định
Trong hệ thống các biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự, các biện pháp ngăn chặn, đặt biệt là biện pháp ngăn chặn tạm giam, chiếm vị trí đặc biệt quan trọng Việc sử dụng các biện pháp ngăn chặn tạm giam trong quá trình
tố tụng hình sự là điều cần thiết, có ảnh hưởng lớn đến quá trình giải quyết vụ
án hình sự và hiệu quả của cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm Tuy nhiên, việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn tạm giam luôn luôn gắn liền với những
Trang 10hạn chế quyền con người được ghi nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm trong
Hiến pháp Với quy định: “Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Tòa
án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang Việc bắt, giam, giữ người do luật định” (Điều
20), Hiến pháp năm 2013 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đảm bảo mọi công dân không bị áp dụng biện pháp ngăn chặn một cách tuỳ tiện, trái pháp luật, đặc biệt là biện pháp ngăn chặn tạm giam
Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định về các biện pháp ngăn chặn
về cơ bản đã khắc phục được những hạn chế của BLTTHS 2003, nhưng trong quá trình thực hiện vẫn còn những khó khăn vướng mắc nhất định, đòi hỏi phải tiếp tục nghiên cứu để có quy định phù hợp thực tế, đảm bảo cho công tác điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự đạt hiệu quả
Thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm trong thời gian qua trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk cho thấy, tình hình tội phạm diễn ra ngày càng phổ biến phức tạp, đòi hỏi phải đặt ra những yêu cầu mới cho công tác đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung và việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam trong quá trình giải quyết vụ án hình sự Thực tiễn áp dụng các biện pháp ngăn tạm giam đối với bị can, bị cáo hiện nay vẫn còn tuỳ tiện, không đúng pháp luật Nguyên nhân của tình hình trên có nhiều yếu tố khác nhau, nhưng chủ yếu là do những quy định của pháp luật tố tụng hình sự còn những hạn chế, ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả điều tra, truy tố, xét xử tội phạm; xâm phạm các quyền con người, gây dư luận xấu trong nhân dân ảnh hưởng đến
uy tín của Đảng, Nhà nước
Vì vậy, việc nghiên cứu một cách đầy đủ, hệ thống lý luận về tạm giam, đánh giá một cách toàn diện, chính xác khách quan thực tiễn áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam trong giai đoạn hiện nay là rất cần thiết Với mong muốn đóng góp một phần nhỏ bé của mình vào việc hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về biện pháp ngăn chặn tạm giam trong giai đoạn xét
Trang 11xử sơ thẩm, bản thân chọn đề tài "Biện pháp ngăn chặn tạm giam trong tố
tụng hình sự Việt Nam (trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Lắk)”, làm
luận văn thạc sĩ của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Trong thời gian qua có một số công trình khoa học đã nghiên cứu việc
áp dụng biện pháp ngăn chặn Nhìn chung, các công trình khoa học trên chủ yếu tập trung phân tích phương diện lý luận quy định của pháp luật về biện pháp ngăn chặn và những vướng mắc trong thực tế
Qua quá trình tìm hiểu và sưu tầm tài liệu cho thấy, đã có một số công trình nghiên cứu khoa học về vấn đề biện pháp ngăn chặn Có thể kể tên những công trình được thực hiện đã trực tiếp hoặc gián tiếp đề cập đến như:
Về tài liệu nghiên cứu là sách giáo trình, sách chuyên khảo và các bài viết đăng trên tạp chí
- Tác giả Hoàng Thị Minh Sơn (chủ biên), “Giáo trình Luật tố tụng
hình sự Việt Nam”, NXB Công an nhân dân, năm 2018;
- Tác giả Nguyễn Tất Viễn,“Bảo đảm quyền con người trong hoạt
động tư pháp”, NXB Tư pháp, năm 2020;
- Hoàng Tám Phi, “Một số kiến nghị hoàn thiện quy định về thời hạn tạm
giam trong Bộ luật TTHS năm 2015”, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 03/2019;
- Vũ Minh Phương, “Tiếp tục hoàn thiện quy định của Bộ luật Tố tụng
hình sự năm 2015 về biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp”, Tạp
chí An ninh nhân dân, số 98 (7/2020);
- Nguyễn Ngọc Kiện – Phạm Xuân Minh, “Bảo đảm quyền của người
bị tạm giam theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015”, Tạp chí
Nghiên cứu Lập pháp số 14, tháng 7/2020
- Nguyễn Phương Thảo, Tăng Trần Quỳnh Phương, “Pháp luật tố
tụng hình sự Đức về biện pháp tạm giam và kinh nghiệm cho Việt Nam, Tạp
chí Nghiên cứu Lập pháp số 02, tháng 1/2021
Trang 12Tài liệu nghiên cứu là luận văn, luận án tiến sĩ luật học
Triệu Văn Mẫn “Biện pháp tạm giam trong tố tụng hình sự Việt Nam (Trên
cơ sở nghiên cứu thực tiễn tại tỉnh Bắc Kạn)”, Luận văn thạc sĩ luật học, 2015;
Nguyễn Thị Thu Hoài “Biện pháp ngăn chặn đối với người chưa thành
niên phạm tội”, Luận văn thạc sỹ luật học, 2015
Trần Mạnh Hà “Áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự từ
thực tiễn huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương - Luận văn thạc sĩ luật học, 2021;
Trong các công trình nghiên cứu của các tác giả nói trên chỉ mới đề cập đến những vấn đề lý luận chung về biện pháp ngăn chặn hoặc phân tích các quy định của pháp luật thực định về các biện pháp đó Một số luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ gần đây cũng đã nghiên cứu các vấn đề liên quan đến biện pháp ngăn chặn Trong đó có luận án tiến sĩ nghiên cứu chung về việc áp dụng biện pháp ngăn chặn trong điều tra vụ án hình sự của lực lượng Cảnh sát nhân dân Một số luận văn thạc sĩ khác nghiên cứu về tình hình áp dụng biện pháp ngăn chặn ở một số địa phương đối với đối tượng là người chưa thành niên hoặc luận văn áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với các đối tượng đặc biệt … Cho đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu về thực tiễn áp dụng biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn xét xử sơ thẩm ở các địa phương nói chung và tỉnh Đắk Lắk nói riêng Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận, các quy định của pháp luật về biện pháp ngăn chặn cũng như thực tiễn
áp dụng các biện pháp này trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự tại Toà
án, bản thân mong muốn đưa ra những đề xuất nhằm hoàn thiện các quy định
của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về “Biện pháp ngăn chặn tạm giam
theo luật tố tụng hình sự Việt Nam và thực tiễn áp dụng tại tỉnh Đắk Lắk”
là mang tính cấp thiết và phù hợp với yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm của địa phương trong tình hình hiện nay
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu của đề tài là trên cơ sở nghiên cứu lý luận và
Trang 13thực tiễn áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam trong các giai đoạn tố tụng hình sự tại tỉnh Đắc Lắc, đưa ra những giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả
áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam
- Để đạt được mục đích trên, những nhiệm vụ nghiên cứu được đặt ra như sau:
+ Nghiên cứu các vấn đề lý luận về biện pháp ngăn chặn nói chung, biện pháp ngăn chặn tạm giam nói riêng;
+ Phân tích các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về biện pháp ngăn chặn tạm giam;
+ Đánh giá thực tiễn áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam đối với các bị cáo trong giai đoạn xét xử ở tỉnh Đắk Lắk trong 5 năm (từ năm 2016 đến năm 2020) nhằm tìm ra những kinh nghiệm hay, những khó khăn vướng mắc, những điều bất hợp lý khi áp dụng trên thực tế các biện pháp ngăn chặn tạm giam đối với các bị cáo trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, những nguyên nhân, điều kiện dẫn đến những vấn đề còn tồn tại đó
+ Đưa ra các dự báo về tình hình tội phạm, những yếu tố tác động đến việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam và các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các biện pháp ngăn chặn tạm giam trong giai đoạn xét xử
vụ án hình sự
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là lý luận, quy định của pháp luật
về biện pháp ngăn chặn tạm giam theo luật tố tụng hình sự Việt Nam và thực tiễn áp dụng trong xét xử tại tỉnh Đắk Lắk
- Phạm vi nghiên cứu: Bản thân công tác tại Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk và do phạm vi áp dụng biện pháp ngăn chặn rộng, cho nên nghiên cứu biện pháp ngăn chặn trong Đề tài này chỉ được giới hạn trong giai đoạn xét xử
sơ thẩm đối với địa phương tỉnh Đắk Lắk từ năm 2016 đến năm 2020 để đưa
Trang 14ra những giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự về biện pháp ngăn chặn tạm giam trong giai đoạn xét xử
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử; Tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về Nhà nước pháp quyền
Đồng thời, việc nghiên cứu sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể: như phương pháp lịch sử, phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh, đánh giá và tổng kết kinh nghiệm thực tiễn, suy diễn logic để thực hiện đề tài
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Đề tài được nghiên cứu sẽ góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận
về biện pháp ngăn chặn tạm giam được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự được áp dụng trong giai đoạn xét xử sơ thẩm mà còn nhằm tổng kết thực tiễn, nghiên cứu những vướng mắc, bất cập từ đó đề xuất những giải pháp có giá trị nhằm hoàn thiện chế định về các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự, nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn, bảo vệ kịp thời quyền và lợi ích hợp pháp của các bị can, bị cáo trong việc giải quyết các vụ án hình sự
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 03 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về tạm giam trong tố tụng hình sự
Trang 15Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TẠM GIAM TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1 Khái niệm, đặc điểm biện pháp ngăn chặn tạm giam trong tố tụng hình sự
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự
Trong hệ thống pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, biện pháp ngăn chặn được quy định cụ thể tại mục 1, chương VII Bộ luật tố tụng hình sự năm
2015 Tuy nhiên Bộ luật Tố tụng hình sự không đưa ra khái niệm cụ thể về biện pháp ngăn chặn Bộ luật chỉ đưa ra mục đích của việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn Theo đó, biện pháp ngăn chặn được áp dụng nhằm để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ người bị buộc tội sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội hoặc để bảo đảm thi hành án, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong phạm vi thẩm quyền của mình có thể áp dụng biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh [18]
Bàn về khái niệm biện pháp ngăn chặn, trong khoa học luật TTHS đã
có nhiều tài liệu nghiên cứu đưa ra các khái niệm khác nhau về biện pháp ngăn chặn
Trong từ điển Luật học, biện pháp ngăn chặn được giải thích như sau: Biện pháp ngăn chặn là biện pháp cưỡng chế về mặt tố tụng hình sự
áp dụng khi có đủ căn cứ đối với bị can, bị cáo hoặc người chưa bị khởi tố trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang để ngăn chặn hành vi nguy hiểm cho xã hội của họ, ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội, trốn tránh pháp luật hoặc có hành động gây cản trở cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án [35, tr 69]
Trang 16Tiến sĩ Nguyễn Văn Điệp cho rằng:
Biện pháp ngăn chặn là những biện pháp cưỡng chế cần thiết về mặt tố tụng hình sự, do các cơ quan và những người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật áp dụng đối với bị can, bị cáo hoặc người chưa bị khởi tố khi có căn cứ do Bộ luật tố tụng hình sự quy định nhằm ngăn chặn tội phạm, bảo đảm cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án Các biện pháp ngăn chặn bao gồm: bắt người, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm [3, tr 26]
Thạc sĩ Đào Minh Dũng cho rằng:
Biện pháp ngăn chặn là những biện pháp cưỡng chế TTHS được quy định trong BLTTHS do người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật TTHS áp dụng đối với bị can, bị cáo hoặc đối với người phạm tội quả tang hoặc người bị nghi là phạm tội khi có căn cứ do pháp luật quy định nhằm ngăn chặn họ tiếp tục phạm tội, bỏ trốn hoặc gây khó khăn cho quá trình điều tra, truy tố, xét xử và thi hành
Trang 17Theo đó, các tác giả đã chia các biện pháp ngăn chặn thành ba nhóm đối tượng:
- Nhóm 1 gồm những biện pháp nhằm ngăn chặn tội phạm, ngăn ngừa người có hành vi phạm tội bỏ trốn hoặc có hành vi gây khó khăn cho quá trình giải quyết vụ án như giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh
- Nhóm 2 gồm những biện pháp bảo đảm cho việc thu thập chứng cứ như khám xét, khám nghiệm hiện trường, xem xét dấu vết trên thân thể …
- Nhóm 3 gồm những biện pháp bảo đảm thuận lợi cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án như kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản, tạm đình chỉ có thời hạn hoạt động của pháp nhân có liên quan đến hành vi phạm tội của pháp nhân, buộc pháp nhân nộp một khoản tiền để bảo đảm thi hành
án, áp giải bị can, bị cáo, người bị kết án, dẫn giải người làm chứng, những biện pháp xử lý do chủ tọa phiên tòa áp dụng đối với người có hành vi vi phạm nội quy phiên tòa
Có thể nói, các tác giả đã đưa ra nhiều khái niệm về biện pháp ngăn chặn ở những góc độ khác nhau, nhưng nhìn chung đều có những điểm chung Theo các định nghĩa trên thì biện pháp ngăn chặn trong TTHS có những yếu
tố nội hàm sau:
Thứ nhất, biện pháp ngăn chặn trong TTHS là một trong các biện pháp
cưỡng chế của TTHS Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, các cơ quan tiến hành tố tụng được áp dụng nhiều biện pháp cưỡng chế trong đó có biện pháp ngăn chặn Tuy nhiên, biện pháp ngăn chặn có mục đích, căn cứ, thẩm quyền và thủ tục khác với các biện pháp cưỡng chế khác Nếu như biện pháp điều tra, có mục đích thu thập chứng cứ để chứng minh làm rõ các tình tiết
Trang 18của vụ án thì biện pháp ngăn chặn lại có mục đích ngăn chặn không cho tội phạm xảy ra và tạo điều kiện để các Cơ quan tiến hành tố tụng tiến hành giải quyết vụ án Vì vậy, căn cứ áp dụng, thẩm quyền và thủ tục tiến hành cũng khác nhau Mặc dù khác nhau nhưng tất cả các biện pháp cưỡng chế là một thể thống nhất, có mối liên hệ với nhau và cùng các chế định khác của TTHS hướng tới thực hiện có hiệu quả mục đích của tố tụng hình sự
Thứ hai, các biện pháp ngăn chặn được áp dụng với mục đích ngăn
chặn không cho tội phạm tiếp tục xảy ra gây thiệt hại cho xã hội, không để người phạm tội tiếp tục thực hiện tội phạm hoặc cản trở điều tra, truy tố, xét
xử, thi hành án trốn tránh sự trừng phạt của pháp luật Đồng thời, việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn còn nhằm mục đích tạo điều kiện thuận lợi để các cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết vụ án như không để người phạm tội
có thể xóa bỏ dấu vết phạm tội, tiêu huỷ chứng cứ, làm giả chứng cứ, thông cung giữa những người phạm tội hoặc với người làm chứng, đảm bảo sự có mặt của bị can, bị cáo, bị án khi có yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng Với mục đích như vậy, biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự khác với biện pháp cưỡng chế khác và với hình phạt trong Luật hình sự
Thứ ba, biện pháp cưỡng chế của Luật TTHS là những biện pháp đảm
bảo cho công tác điều tra, truy tố, xét xử và thi hành bản án hình sự nhanh chóng, khách quan theo quy định của pháp Luật tố tụng hình sự Biện pháp cưỡng chế mà Luật TTHS quy định bao gồm: Các biện pháp ngăn chặn; Các biện pháp thu thập chứng cứ như: khám xét nhà, đồ vật, thư tín; xét hỏi bị can; lấy lời khai người làm chứng; nhận dạng, đối chất những biện pháp đảm bảo cho các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án như: Kê biên tài sản, áp giải bị can Như vậy, biện pháp cưỡng chế trong TTHS có nội dung và phạm vi rộng hơn so với biện pháp ngăn chặn và không chỉ nhằm
Trang 19mục đích ngăn chặn tội phạm, tạo điều kiện thuận lợi cho việc giải quyết vụ
án của các cơ quan tiến hành tố tụng mà còn nhằm mục đích răn đe
Thứ tư, đối tượng bị áp dụng các biện pháp ngăn chặn là bị can, bị cáo,
người phạm tội quả tang hoặc người mà cơ quan tiến hành tố tụng có tài liệu, chứng cứ nghi là họ phạm tội Khi áp dụng biện pháp ngăn chặn các cơ quan
có thẩm quyền chỉ được tiến hành trong phạm vi, giới hạn cũng như thủ tục
mà Luật tố tụng hình sự quy định Ngoài các đối tượng kể trên, không ai có thể bị áp dụng các biện pháp ngăn chặn, mọi hành vi áp dụng biện pháp ngăn chặn không đúng đối tượng, thẩm quyền, căn cứ cũng như thủ tục đều bị coi
là vi phạm pháp luật, người có hành vi vi phạm tùy theo tính chất và mức độ
có thể bị xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự
Thứ năm, thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn là những người
tiến hành tố tụng có thẩm quyền của các cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc những người có thẩm quyền trong các cơ quan khác được giao thực hiện một số hoạt động tố tụng, công dân tham gia vào việc bắt người phạm tội quả tang, bắt người theo lệnh truy nã Tùy theo tính chất, đặc điểm của từng giai đoạn tố tụng, chức năng nhiệm vụ của các cơ quan, Luật tố tụng hình sự quy định cho cơ quan đó được áp dụng tất cả hay một số các biện pháp ngăn chặn và trong phạm vi, giới hạn cũng như theo thủ tục của luật tố tụng hình sự
Trên cơ sở những quy định của BLTTHS về các BPNC và những khái niệm nghiên cứu nêu trên, tác giả đưa ra khái niệm về BPNC như sau:
Biện pháp ngăn chặn là một trong những biện pháp cưỡng chế Nhà nước được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự, do cơ quan hoặc người có thẩm quyền theo qui định của pháp luật áp dụng đối với bị can, bị cáo, người
bị truy nã hoặc có thể đối với người chưa bị khởi tố khi có căn cứ do pháp luật quy định nhằm ngăn chặn tội phạm hoặc các hành vi khác gây nguy hiểm
Trang 20khác cho xã hội, gây khó khăn cho công tác điều tra, truy tố, xét xử và bảo đảm thi hành án
Quy định về các biện pháp ngăn chặn được xem là một trong những công cụ nhằm đảm bảo hoạt động tư pháp được thực hiện thuận lợi, đảm bảo kết quả trong toàn bộ quá trình tố tụng, góp phần nâng cao hiệu quả trong công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm Đảm bảo việc thực thi pháp luật một cách toàn diện, các quyền, lợi ích hợp pháp của của công dân được đảm bảo và các quan hệ xã hội được Nhà nước bảo vệ tối ưu nhất
1.1.2 Khái niệm tạm giam
Tạm giam được hiểu là biện pháp cách ly bị can, bị cáo với xã hội trong một thời gian nhất định nhằm ngăn chặn hành vi trốn tránh pháp luật, cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội của bị can, bị cáo, bảo đảm cho việc điều tra, truy tố, xét xử được diễn ra thuận lợi
Trong giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, tác giả đã đưa ra khái niệm tạm giam như sau: Tạm giam là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình
sự do cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội rất nghiêm trọng hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng hay bị can, bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng theo quy định của pháp luật [34, tr 253]
Đây là biện pháp ngăn chặn mang tính chất cưỡng chế nghiêm khắc nhất trong số các biện pháp ngăn chặn được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự, nhằm tước bỏ quyền tự do thân thể của một người và hạn chế một số quyền, lợi ích hợp pháp của họ Nếu như các biện pháp ngăn chặn khác như: Cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm, việc giám sát đối với người chưa thành niên phạm tội chỉ hạn chế một số quyền của người bị áp dụng biện pháp thì đối với biện pháp ngăn chặn tạm giam, hình thức này hạn chế quyền của người bị áp dụng ở mức cao hơn Việc
áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam nhất thiết phải tuân thủ các căn cứ,
Trang 21trình tự, thủ tục theo pháp luật, do người có thẩm quyền quyết định và thuộc các trường hợp do pháp luật quy định Do vậy, việc áp dụng BPNC tạm giam trong pháp luật tố tụng hình sự của Nhà nước ta từ trước cho đến nay luôn luôn được xây dựng theo hướng kế thừa có chọn lọc và từng bước hoàn thiện
Theo Điều 119 của BLTTHS năm 2015 những đối tượng có thể bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam gồm:
- Bị can, bị cáo là về tội đặc biệt nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng;
- Bị can, bị cáo về tội nghiêm trọng, tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù trên 02 năm khi có căn cứ xác định người đó thuộc một trong các trường hợp: Đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác nhưng vi phạm;Không có nơi cư trú rõ ràng hoặc không xác định được lý lịch của bị can;Bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã hoặc có dấu hiệu bỏ trốn;Tiếp tục phạm tội hoặc có dấu hiệu tiếp tục phạm tội;Có hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai
sự thật; tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân thích của những người này
- Bị can, bị cáo về tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù đến 02 năm nếu họ tiếp tục phạm tội hoặc bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã
Như vậy, trong những trường hợp trên, bị can, bị cáo có thể bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam Tuy nhiên, pháp luật loại trừ một số đối tượng mặc dù có đủ điều kiện để áp dụng nhưng không được áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam đối với họ Đó là những bị can, bị cáo là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, là người già yếu, người bị bệnh nặng
mà có nơi cư trú và lý lịch rõ ràng Pháp luật dành cho những đối tượng trên
sự ưu tiên, tuy nhiên, trong một số trường hợp do pháp luật quy định thì họ vẫn bị áp dụng BPNC tạm giam theo quy định của pháp luật
Trang 22Như vậy, biện pháp ngăn chặn tạm giam có thể được định nghĩa như sau:
Biện pháp ngăn chặn tạm giam là một trong những biện pháp ngăn chặn cách ly người được áp dụng trong thời hạn nhất định được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự, do người có thẩm quyền áp dụng đối với bị can, bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng hoặc phạm tội nghiêm trọng, ít nghiêm trọng những thuộc một trong các trường hợp được quy định trong luật tố tụng hình sự, nhằm ngăn chặn họ tiếp tục phạm tội, trốn tránh pháp luật hoặc cản trở điều tra, truy tố, xét xử và bảo đảm thi hành án
1.1.3 Đặc điểm biện pháp ngăn chặn tạm giam
1.1.3.1 Tạm giam là biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc nhất
Tạm giam là một trong các biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc nhất được quy định trong BLTTHS Người bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam bị hạn chế quyền tự do trong một thời hạn chất định nhằm mục đích ngăn chặn tội phạm, không để người bị áp dụng phạm tội mới hoặc cản trở điều tra, truy tố, xét xử hoặc bảo đảm để bản án, quyết định có hiệu lực của Toà án được thi hành nghiêm chỉnh
Cùng với việc hạn chế quyền tự do, người bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam cũng bị những hạn chế nhất định trong việc thực hiện các quyền tố tụng của mình như quyền bào chữa; các quyền con người khác phái sinh từ quyền tự do như quyền được thăm nuôi, quyền gặp gỡ người thân Thực tế, chế độ giam giữ của người bị tạm giam nghiêm khắc hơn nhiều so với chế độ chấp hành hình phạt tù
1.1.3.2 Tạm giam có căn cứ, thời hạn áp dụng chặt chẽ
Do là biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc nhất, BLTTHS quy định căn
cứ, thời hạn áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam rất chặt chẽ để một mặt bảo đảm cho hoạt động tố tụng hình sự không bị cản trở; mặt khác không dẫn đến vi phạm quyền con người của người bị áp dụng
Trang 23Tạm giam chỉ có thể được áp dụng khi có các căn cứ thực tế rằng người bị áp dụng sẽ tiếp tục phạm tội hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét
xử hoặc thi hành án Theo nguyên tắc suy đoán vô tội, người bị tạm giam chưa phải là người phạm tội, nên về nguyên tắc không nên lấy tình nghiêm trọng của tội phạm được thực hiện để làm căn cứ tạm giam nên chăng, người áp dụng cần căn cứ tính nghiêm trọng của tội phạm để đánh giá khả năng phạm tội tiếp, khả năng cản trở tố tụng như là căn cứ để áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam
Tạm giam tước quyền tự do - một quyền con người cơ bản rất quan trọng của người bị áp dụng Vì vậy, thông thường pháp luật tố tụng quy định chặt chẽ thời hạn áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam; theo đó, trong tố tụng hình sự, tạm giam chỉ được áp dụng với thời hạn ngắn nhất có thể, cần và đủ để giải quyết vụ án hình sự
1.1.3.3 Đối tượng, thẩm quyền, thủ tục áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam được thu hẹp
Cũng do là biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc nhất trong tố tụng hình
sự, tạm giam chỉ áp dụng đối với các đối tượng trong phạm vi hẹp Tạm giam chỉ áp dụng đối với người đã chính thức bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc
bị kết án là bị can, bị cáo và người bị kết án trong những trường hợp luật định Những người khác chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự như người vị giữ khẩn cấp, người bị tạm giữ, người tuy đã bị khởi tố nhưng không cản trở hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án thì không bị tạm giam
Đồng thời, để bảo đảm thận trọng và kiểm soát chặt chẽ biện pháp ngăn chặn tạm giam, pháp luật tố tụng thu hẹp phạm vi người có thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam Đó là Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Chánh án, Phó Chánh án Toà án các cấp và Hội đồng xét xử các vụ án (Ở nhiều quốc gia, chỉ
Trang 24có Toà án là cơ quan duy nhất có thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam) Thậm chí, Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra không có thẩm quyền đầy đủ áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam; quyết định của họ phải được Viện kiểm sát phê chuẩn
1.1.4 Mục đích và ý nghĩa của việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam
1.1.4.1 Mục đích của việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam
Biện pháp ngăn chặn tạm giam có thể được áp dụng trong suốt quá trình TTHS và do người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật (Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự các cấp, Chánh án, Phó Chánh án Tòa án nhân dân và Chánh án, Phó Chánh án Tòa án quân sự các cấp …) áp dụng khi thỏa mãn các căn cứ, điều kiện do pháp luật quy định Khi áp dụng các biện pháp ngăn chặn, cái mà người áp dụng mong muốn đạt được trong công tác đấu tranh, ngăn ngừa và phòng chống tội phạm, bảo đảm các quyền tự do dân chủ của công dân không
bị xâm hại chính là mục đích cần hướng đến của việc áp dụng BPNC tạm giam Bộ Luật tố tụng hình sự quy định áp dụng các biện pháp ngăn chặn tạm giam nhằm mục đích sau:
Thứ nhất, để kịp thời ngăn chặn tội phạm
Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự
Trang 25pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự [20, Điều 8]
Xuất phát từ tính chất mức độ nguy hiểm của tội phạm nên để bảo vệ các quan hệ xã hội có nguy cơ bị tội phạm xâm phạm, biện pháp ngăn chặn tạm giam được áp dụng khi có hành vi chuẩn bị phạm tội hoặc đang xảy ra xâm hại đến những quan hệ xã hội được Luật hình sự bảo vệ là thực sự cần thiết Các cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm đấu tranh không cho tội phạm tiếp tục xảy ra, hạn chế thiệt hại về vật chất, tinh thần gây ảnh hưởng xấu về an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội Vì vậy, Luật tố tụng hình sự quy định áp dụng các biện pháp ngăn chặn tạm giam để kịp thời ngăn chặn hành vi phạm tội có thể xảy ra hoặc đang thực hiện xâm hại đến các quan hệ
xã hội được Luật hình sự bảo vệ Việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam không những nhằm ngăn chặn không để bị can, bị cáo có điều kiện tiếp tục phạm tội mà còn tạo tiền đề góp phần mang lại hiệu quả cho các hoạt động tố tụng sau này
Thứ hai, đảm bảo để người bị áp dụng không cản trở điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án
Việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam trong suốt quá trình tố tụng góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan chức năng thực hiện tốt vai trò, nhiệm vụ của mình Trong giai đoạn điều tra, tạm giam bị can, giúp cho
cơ quan điều tra thuận lợi trong quá trình lấy lời khai, hỏi cung, tống đạt các văn bản tố tụng cho bị can kịp thời và thực hiện các hoạt động phục vụ công tác điều tra được đảm bảo đúng quy định của pháp luật Trong giai đoạn xét
xử, việc tạm giam bị cáo đảm bảo bị cáo được trích xuất đến phiên tòa đúng thời điểm, việc tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án đúng theo quy định của pháp luật, giúp tòa án hoàn thành việc xét xử đối với bị cáo Tóm lại, việc
Trang 26áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam trong các giai đoạn tố tụng góp phần đảm bảo cho hoạt động tố tụng được diễn ra xuyên suốt, không bị gián đoạn
và đạt hiệu quả cao
Thứ ba, để đảm bảo công tác thi hành án
Thi hành án là giai đoạn cuối cùng của Tố tụng hình sự, nhằm làm phát huy hiệu lực của bản án trong thực tế, vì thế việc tạo điều kiện thuận lợi để đảm bảo cho hoạt động thi hành án có kết quả là cần thiết Để đảm bảo thi hành án, căn cứ vào đặc điểm nhân thân của từng bị cáo, vào tính chất của từng vụ án, Toà án có thể lựa chọn biện pháp ngăn chặn tạm giam để đảm bảo công tác thi hành án Thông thường sau khi tuyên án, đối với những bị cáo bị xử phạt tù có thời hạn thường để bảo đảm công tác thi hành án sau nay, Hội đồng xét xử phải quyết định tiếp tục tạm giam bị cáo Việc này vừa đảm bảo bị cáo không trốn, thuận tiện trong công tác quản lý và đưa bị cáo đến cơ sở chấp hành hình phạt Bên cạnh đó, việc tạm giam bị cáo, bị can còn đảm bảo các bị can, bị cáo không thực hiện các hoạt động nhằm tẩu tán tài sản, gây khó khăn cho công tác thi hành án dân sự sau khi bản án có hiệu lực pháp luật
1.1.4.2 Ý nghĩa của việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam
Việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam không những để đạt được những mục đích trên mà còn mang lại ý nghĩa hết sức to lớn, cụ thể:
Một là, việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam sẽ đảm bảo cho
trật tự xã hội được ổn định, kỷ cương pháp luật được giữ vững, các quyền
và lợi ích hợp pháp của công dân được bảo vệ triệt để Từ đó góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, củng cố tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, thể hiện sự kiên quyết của Nhà nước trong việc đấu tranh phòng chống tội phạm
Hai là, đảm bảo công tác điều tra, truy tố, xét xử mang lại hiệu quả cao
Trang 27Trong thực tế nhiều vụ án xảy ra nếu không áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam đối với bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn rất lớn cho công tác điều tra, truy
tố và xét xử, cụ thể như người phạm tội có thể bỏ trốn khỏi nơi cư trú sau khi gây án nhằm mục đích trốn tránh sự trừng phạt của pháp luật; người phạm tội sau khi gây án có thể có những hành động gây cản trở hoạt động điều tra của các cơ quan tiến hành tố tụng, dẫn đến hoạt động điều tra gặp nhiều khó khăn hơn; nhiều bị can, bị cáo lại không có nơi cư trú rõ ràng, hoặc luôn thay đổi chỗ ở, trong trường hợp này nếu không tạm giam bị can, bị cáo sẽ
bỏ trốn gây khó khăn cho quá trình điều tra, truy tố, xét xử, mặc dù phạm tội
ít nghiêm trọng; người phạm tội sau khi gây án có thể tẩu tán tài sản, tang vật do phạm tội mà có gây khó khăn cho công tác thu hồi lại tài sản phạm tội, cũng như có những hành động nhằm che dấu tội phạm, nếu không tạm giam đối tượng phạm tội sẽ gây nguy hiểm cho xã hội do đó cho thấy vị trí quan trọng, sự cần thiết phải áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam trong tố tụng hình sự, điều đó đảm bảo cho công tác điều tra, truy tố và xét xử được thực hiện hiệu quả hơn
Ba là, việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam góp phần bảo đảm
quyền và lợi ích của mọi công dân, bảo đảm quyền lợi của công dân luôn được bảo vệ trước những tác động tiêu cực do tội phạm mang lại Xuất phát
từ tính nguy hiểm của tội phạm, việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam đối với những người phạm tội có khả năng gây nguy hiểm cho xã hội, giúp cho cuộc sống của mọi công dân được đảm bảo diễn ra bình thường, an toàn
và luôn được bảo vệ khỏi những tác nhân gây hại trong xã hội Tạo môi trường để mọi người phát huy quyền của mình, không bị ảnh hưởng, chi phối bởi những hành vi phạm tội Trong nhiều trường hợp, vì tâm lý sợ bị liên lụy, ảnh hưởng hoặc bị đe dọa bởi tội phạm mà nhiều người không thực hiện được quyền lợi của mình, không dám đấu tranh chống lại hành vi phạm
Trang 28tội làm cho công tác đấu tranh phòng chống tội phạm gặp không ít khó khăn
Do vậy việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho mọi công dân ngoài xã hội được thực hiện quyền của mình, tự
do đi lại, học tập, làm việc và tham gia tích cực vào công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm
Bốn là, việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam thể hiện sự phân
hóa tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi tội phạm Biện pháp tạm giam được xem là biện pháp ngăn chặn mang tính nghiêm khắc nhất Nó được áp dụng đối với những đối tượng có mức độ nguy hiểm hơn Nếu như các trường hợp phạm tội ít nguy hiểm hơn như phạm tội ít nghiêm trọng, người phạm tội là người chưa thành niên phạm tội nghiêm trọng, ít nghiêm trọng … thì biện pháp ngăn chặn tạm giam hầu như không được áp dụng, thay vào đó sẽ
áp dụng các biện pháp ngăn chặn khác, chẳng hạn như: Cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm … cũng đủ để đảm bảo người phạm tội không thực hiện hành vi phạm tội khác cũng như đạt được mục đích của biện pháp ngăn chặn đó Đối với trường hợp phạm tội ở mức độ nguy hiểm hơn, biện pháp ngăn chặn tạm giam có thể được áp dụng Như vậy, có nói tùy theo tính nguy hiểm của hành vi phạm tội mà có thể áp dụng biện pháp ngăn chặn phù hợp Biện pháp ngăn chặn tạm giam được áp dụng đối với những người thực hiện Biện pháp ngăn chặn tạm giam được áp dụng đối với những tội phạm mức độ nguy hiểm hơn so với các biện pháp ngăn chặn khác
Từ đó, thể hiện sự răn đe đối với những hành vi vi phạm pháp luật
1.2 Các nguyên tắc quy định và áp dụng, thay thế, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn tạm giam
Để đạt được những mục đích của biện pháp ngăn chặn tạm giam, việc
áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam đòi hỏi phải được thực hiện theo những nguyên tắc nhất định, nhằm đảm bảo hoạt động điều tra, truy tố, xét xử
Trang 29mang lại hiệu quả cao, bảo đảm quyền và lợi ích của công dân được quy định trong Hiến pháp Bên cạnh những nguyên tắc chung được quy định trong BLTTHS năm 2015, việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam mang nét đặc thù riêng nên cần tuân thủ một số nguyên tắc sau
1.2.1 Nguyên tắc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam nhằm đấu tranh, phòng chống tội phạm có hiệu quả
Xuất phát từ nhiệm vụ đấu tranh, phòng chống tội phạm được Đảng và Nhà nước đề ra, Luật hình sự cũng như Luật tố tụng hình sự đóng vai trò vô cùng quan trọng trong công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm Luật tố tụng hình sự được xem là một phương tiện để thực hiện những nhiệm vụ trên một cách hiệu quả Trong đó, biện pháp ngăn chặn tạm giam là một trong những công cụ hữu hiệu mà luật tố tụng hình sự đưa ra để phục vụ nhiệm vụ trên
Tại Điều 5 của BLTTHS cũng đã xác định rõ trách nhiệm của cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm Theo đó, các cơ quan nhà nước phải thường xuyên kiểm tra, thanh tra việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao; phát hiện kịp thời hành vi vi phạm pháp luật để xử lý và thông báo ngay cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát mọi hành vi phạm tội xảy ra trong cơ quan và trong lĩnh vực quản lý của mình; kiến nghị và gửi tài liệu có liên quan cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát xem xét, khởi tố đối với người thực hiện hành vi phạm tội Do đó, sử dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam để đấu tranh, phòng chống tội phạm được coi là nguyên tắc cơ bản, xuyên suốt trong quá trình thực hiện cũng như trách nhiệm của cơ quan Nhà nước, tổ chức, cá nhân trong công tác đấu tranh chống, phòng ngừa tội phạm Nguyên tắc này vừa thể hiện tính chuyên chính của Nhà nước, vừa thể hiện tính chất xã hội, trách nhiệm của Nhà nước đối với xã hội và mỗi công dân
Trang 301.2.2 Nguyên tắc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa
Pháp chế xã hội chủ nghĩa được hiểu là việc thường xuyên, nhất quán tuân thủ và chấp hành những quy định của Hiến pháp, các đạo luật và các văn bản quy phạm pháp luật khác phù hợp với Hiến pháp, các đạo luật từ phía cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, mọi công dân [10, tr 54]
Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa là một trong những nguyên tắc
cơ bản trong hệ thống pháp luật Việt Nam Đây là nguyên tắc được quy định
rõ tại Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Do đó, tất cả mọi hoạt động quản lý Nhà nước nói chung cũng những những hoạt động được thực hiện trong tố tụng hình sự nói riêng đều phải tuân theo nguyên tắc này
Trong quy phạm pháp luật tố tụng hình sự, nguyên tắc pháp chế xã hội
chủ nghĩa được thể hiện tại Điều 7 của BLTTHS năm 2015 như sau: “Mọi
hoạt động tố tụng hình sự phải được thực hiện theo quy định của Bộ luật này Không được giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy
tố, xét xử ngoài những căn cứ và trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định”
Chính vì nguyên tắc đó, biện pháp ngăn chặn tạm giam trong tố tụng hình
sự cũng phải tuân thủ nguyên tắc trên Nguyên tắc này được thể hiện qua những nội dung sau:
Thứ nhất, việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam phải bảo đảm
đúng căn cứ, mục đích Pháp luật tố tụng hình sự quy định cụ thể những căn
cứ cụ thể được áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam Khi có những căn cứ được quy định, người có thẩm quyền mới có thể được quyền áp dụng Việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam không đúng quy định có thể dẫn đến nhiều chế tài khác nhau Trong trường hợp nghiêm trọng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự Do vậy, khi áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam cần phải đảm bảo đúng, đủ các điều kiện, căn cứ mà pháp luật quy định Khi không còn căn cứ, tạm giam phải được huỷ bỏ, thay đổi
Trang 31Thứ hai, người áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam phải là người
có thẩm quyền áp dụng được quy định trong BLTTHS Xuất phát từ tính chất, mức độ nghiêm trọng của biện pháp ngăn chặn tạm giam nên pháp luật hình sự quy định chỉ một số cá nhân mới có thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn này Chỉ những người được BLTTHS quy định cho phép được quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam mới có thẩm quyền áp dụng Việc tuân thủ nguyên tắc này giúp tránh được tình trạng việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam không đúng
Thứ ba, việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam phải được thực
hiện theo đúng trình tự thủ tục được quy định tại BLTTHS Tuân thủ nguyên tắc này đảm bảo biện pháp ngăn chặn tạm giam không còn bị áp dụng tùy tiện, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của bị can, bị cáo
Tóm lại, việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam phải tuân thủ nghiêm, các bước được thực hiện theo một quy trình nhất định, được quy định trong BLTTHS Đảm bảo việc áp dụng luôn được thực hiện đúng, không xâm phạm đến quyền và lợi ích của bất kỳ cá nhân, cơ quan, tổ chức nào, nâng cao tính thượng tôn pháp luật trong xã hội
1.2.3 Nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa, tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ quyền con người
Nhà nước Việt Nam là nhà nước của dân, do dân và vì dân Từ khi lập Hiến đến nay, trải qua nhiều lần sửa đổi bổ sung nhưng Hiến pháp nước ta luôn khẳng định: Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ [17, Điều 2] Nguyên tắc dân chủ luôn là nguyên tắc chỉ đạo, là kim chỉ nam trong mọi hoạt động quản lý nhà nước, xây dựng pháp luật Mọi hoạt động quản lý Nhà nước phải đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân
Nhân đạo là một truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc ta từ bao đời
nay và được khẳng định trong Hiến pháp nước ta: Nhà nước Cộng hòa xã hội
Trang 32chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân,
do Nhân dân, vì Nhân dân.Chính vì thế, Đảng và Nhà nước ta luôn vận dụng
khéo léo nguyên tắc nhân đạo trong tất cả hoạt động quản lý Nhà nước Việc xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật luôn đảm bảo tính nhân văn, nhân đạo cao cả, tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ quyền con người Do đó, nguyên tắc dân chủ và nhân đạo cũng được thể hiện trong hoạt động áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam Nội dung của nguyên tắc này được thể hiện ở một số khía cạnh sau:
Thứ nhất, việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam phải đảm bảo
không xâm phạm đến quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp khác của công dân Việc áp tạm giam phải đảm bảo đúng mục đích, đúng đối tượng, đúng thẩm quyền và được thực hiện đúng trình tự thủ tục quy định của pháp luật Không làm ảnh hưởng đến quyền lợi của bất kỳ cá nhân, cơ quan tổ chức nào khác Khi xét thấy biện pháp ngăn chặn tạm giam không cần thiết hoặc không còn căn cứ áp dụng thì phải được hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp ngăn chặn khác ít nghiêm khắc hơn Pháp luật tố tụng hình sự cũng loại trừ một số đối tượng không bị cáo dụng tạm giam như đối với bị can, bị cáo là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, là người già yếu, người bị bệnh nặng Đây chính là nội dung thể hiện tính nhân văn sâu sắc và rõ nét trong việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam
Thứ hai, việc áp dụng biện pháp ngăn chặn không nhằm mục đích trừng
trị người phạm tội Đây là biện pháp tố tụng hình sự mang tính phòng ngừa tội phạm, bảo đảm hiệu quả của hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành
án Bảo đảm nhân đạo; không tra tấn, truy bức, dùng nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giam; Bảo đảm cho người bị tạm giam thực hiện quyền con người, quyền
và nghĩa vụ của công dân nếu không bị hạn chế bởi Luật này và luật khác có
Trang 33liên quan Áp dụng các biện pháp quản lý giam giữ phải căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, độ tuổi, giới tính, sức khỏe; bảo đảm bình đẳng giới, quyền, lợi ích chính đáng của phụ nữ, trẻ em và các đặc điểm nhân thân khác của người bị tạm giam [19, Điều 4, Khoản 3, 4, 5]
Theo nguyên tắc suy đoán vô tội, người bị buộc tội được coi là không
có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật [18, Điều 13]
Do đó, khi chưa có bản án có hiệu lực pháp luật kết tội người bị tạm giam thì
họ là người không có tội, nên trong suốt quá trình tố tụng, các cơ quan, người tiến hành tố tụng phải đảm bảo nguyên tắc dân chủ và nhân đạo xã hội chủ nghĩa trong việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam Có như vậy, các hoạt động tố tụng mới được thực hiện nghiêm minh, hiệu quả và đảm bảo quyền lợi của mọi công dân đã được quy định tại Hiến pháp
Trang 34Tiểu kết Chương 1
Tạm giam là biện pháp cưỡng chế tố tụng, biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước, thể hiện ở việc hạn chế quyền tự do và một số quyền khác của người bị áp dụng trong một thời hạn chất định
Do là biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc nhất, cho nên tạm giam có những đặc điểm về căn cứ, thời hạn, đối tượng, thẩm quyền và thủ tục áp dụng Đảm bảo những đặc điểm đó của tạm giam là bảo đảm hiệu quả của biện pháp này trong tố tụng áp dụng
Là biện pháp ngăn chặn đặc biệt nghiêm khắc nhất, việc quy định và áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam tuân thủ những nguyên tắc quan trọng, xuyên suốt như áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa và nguyên tắc nhân đạo, tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ quyền con người
Trang 35Chương 2 QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ 2015
VỀ TẠM GIAM
2.1 Quy định về đối tượng tạm giam
Như đã phân tích khi bàn về khái niệm biện pháp ngăn chặn tạm giam Tạm giam là biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc nhất so với các loại biện pháp ngăn chặn khác được quy định trong BLTTHS Do đó, pháp luật quy định một số chủ thể mới có thể bị áp dụng biện pháp ngăn chặn này và được quy định cụ thể tại Điều 119 của BLTTHS Cụ thể:
Thứ nhất, tạm giam chỉ có thể áp dụng đối với bị can, bị cáo là thể
nhân Là biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc nhất, tạm giam chỉ có thể áp dụng đối với người đã bị cơ quan có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm đã thực hiện Đó là người đã bị khởi tố bị can và quyết định khởi tố
đã được Viện kiểm sát phê chuẩn hoặc là người đã bị Viện kiểm sát truy tố ra trước Toà án và đã được Tòa án quyết định đưa ra xét xử Những người tuy bị nghi là đã thực hiện tội phạm, nhưng không phải là bị can, bị cáo thì không áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam Bị can, bị cáo là pháp nhân thương mại không thể áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam
Thứ hai, biện pháp ngăn chặn tạm giam có thể được áp dụng đối với bị
can, bị cáo về tội đặc biệt nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng Để áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam trong trường hợp này, đòi hỏi phải thỏa mãn hai điều kiện cần và đủ sau:
- Phải là bị can, bị cáo Bị can là người bị khởi tố về hình sự Còn bị cáo là người đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử [18, Điều 61]
- Những bị can, bị cáo đó thực hiện những hành vi phạm tội được quy định trong BLHS là tội đặc biệt nghiêm trọng (mức cao nhất của khung hình
Trang 36phạt là trên 15 năm tù, chung thân, tử hình) hoặc tội rất nghiêm trọng (mức cao nhất của khung hình phạt là trên 7 năm tù đến 15 năm tù)
Thỏa mãn hai điều kiện trên mới có thể áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam Xuất phát từ tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà pháp luật đưa ra hình thức ngăn chặn đối với người thực hiện hành vi đó
Thứ ba, biện pháp ngăn chặn tạm giam được áp dụng đối với bị can, bị
cáo về tội nghiêm trọng, tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù trên 02 năm và khi có căn cứ xác định người đó thuộc một trong các trường hợp sau:
- Đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác nhưng vi phạm Trong trường hợp bị can, bị cáo đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác như: Cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm … nhưng sau khi áp dụng một trong các biện pháp ngăn chặn trên, người bị áp dụng vẫn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội khác hoặc vi phạm các quy định theo biện pháp ngăn chặn mà họ đã được áp dụng Khi đó, mặc dù các bị cáo, bị can phạm tội nghiêm trọng, ít nghiêm trọng họ vẫn có thể bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam
- Không có nơi cư trú rõ ràng hoặc không xác định được lý lịch của bị can Nơi cư trú và lý lịch bị can được thể hiện trong lý lịch bị can Khi tiến hành xác minh, lập lý lịch bị can đối với những trường hợp lý lịch không xác định, bị cáo thường xuyên thay đổi chỗ ở, không có nơi ở ổn định Trong trường hợp này, để đảm bảo công tác điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án, việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam đối với những bị can bị cáo đó
là cần thiết
- Bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã hoặc có dấu hiệu bỏ trốn Đây là trường hợp mà bản thân bị can, bị cáo không có ý thức tuân thủ pháp luật, cố tính trốn tránh, có thái độ không hợp tác gây khó khăn trong công tác điều tra, truy tố cũng như xét xử
Trang 37- Đối với những bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội hoặc có dấu hiệu tiếp tục phạm tội Tương tự các trường hợp trên, trường hợp này bị can, bị cáo đã tiếp tục phạm tội hoặc có dấu hiệu tiếp tục phạm tội Điều này chứng tỏ biện pháp ngăn chặn đang áp dụng không có hiệu quả ngăn ngừa tội phạm đối với
họ Do vậy cần áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam đối với những trường hợp này để đảm bảo bị cáo không tiếp tục phạm tội hoặc ngăn chặn hành vi tiếp tục phạm tội của bị can, bị cáo
- Đối với những bị can, bị cáo có hành vi cản trở điều tra, truy tố, xét
xử như mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân thích của những người này
Như vậy, khi bị can, bị cáo về tội nghiêm trọng, tội ít nghiêm trọng mà
Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù trên 02 năm mà thuộc một trong bốn điều kiện trên, họ mới có thể bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam
Đồng thời, xuất phát từ tính nhân đạo, nguyên tắc bảo vệ quyền con người trong pháp luật tố tụng hình sự nói chung và biện pháp ngăn chặn tạm giam nói riêng, BLTTHS cũng quy định loại trừ một số trường hợp, theo đó biện pháp ngăn chặn tạm giam không được áp dụng với họ Đó là đối với bị can, bị cáo là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, là người già yếu, người bị bệnh nặng mà có nơi cư trú và lý lịch rõ ràng Mặc dù vậy, trong trường hợp nếu họ phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau thì vẫn
có thể áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam: a) Bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã; b) Tiếp tục phạm tội; c) Có hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án;
đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm
Trang 38hoặc người thân thích của những người này; d) Bị can, bị cáo về tội xâm phạm an ninh quốc gia và có đủ căn cứ xác định nếu không tạm giam đối với
họ thì sẽ gây nguy hại đến an ninh quốc gia
Tóm lại, khi thỏa mãn đầy đủ các điều kiện cụ thể, những đối tượng được liệt kê ở trên có thể bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam theo quy định của BLTTHS năm 2015
2.2 Quy định về căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam
Hiện nay, BLTTHS chưa có điều luật riêng quy định về căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam Do tạm giam là một trong những biện pháp ngăn chặn được quy định, cho nên căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam chỉ có thể được nhận thức bằng cách phân tích quy định về căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn nói chung Theo đó việc áp dụng biện pháp ngăn chặn dựa trên một trong bốn căn cứ được quy định tại Điều 109 của BLTTHS năm 2015 như sau:
Một là, để kịp thời ngăn chặn tội phạm
Khi có hành vi chuẩn bị phạm tội hoặc hành vi phạm tội đang xảy ra xâm hại đến những quan hệ xã hội được Luật hình sự bảo vệ thì các cơ quan
có thẩm quyền có trách nhiệm đấu tranh ngăn ngừa hành vi đó tiếp tục xảy ra, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác và để đảm bảo trật
tự xã hội Ở căn cứ này, một người có thể có hành vi chuẩn bị công cụ, phương tiện để thực hiện để phạm tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng thì có thể bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam để ngăn chặn hành vi phạm tội của họ Căn cứ này mang tính suy đoán, bởi lẽ hành vi phạm tội có thể chưa xảy ra trên thực tế Do vậy, việc áp dụng biện pháp ngăn chặn dựa trên căn cứ này phải hết sức thận trọng, tránh tình trạng lạm dụng căn cứ trên
để áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam một cách tùy tiện, ảnh hưởng đến quyền lợi của người bị áp dụng
Trang 39Hai là, khi có căn cứ chứng tỏ người bị buộc tội sẽ cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử
Đây là căn cứ chỉ áp dụng sau khi người bị buộc tội đã thực hiện xong hành vi phạm tội Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, người bị buộc tội có thể
bị áp dụng một trong nhiều biện pháp ngăn chặn, trong đó có biện pháp ngăn chặn tạm giam Theo chúng tôi, khác với các biện pháp ngăn chặn khác, khi người bị áp dụng chỉ ở mức độ gây khó khăn cho hoạt động điều tra, truy
tố, xét xử, thì căn cứ này được áp dụng để tạm giam khi người bị buộc tội
có những hành động cản trở công tác điều tra, truy tố, xét xử như: mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân thích của những người này (điểm
đ khoản 2 Điều 119 BLTTHS)
Ba là, khi có căn cứ chứng tỏ người bị buộc tội sẽ tiếp tục phạm tội
Căn cứ này được thực hiện khi và chỉ khi một người đã thực hiện xong một hành vi phạm tội giống như căn cứ thứ hai và có căn cứ chứng tỏ họ chuẩn bị thực hiện hành vi phạm tội mới Xuất phát từ mục đích của biện pháp ngăn chặn là để ngăn ngừa tội phạm, nên đây được xem là căn cứ để áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam nhằm ngăn cản người bị buộc tội thực hiện hành vi phạm tội mới Cũng như căn cứ đầu tiên, căn cứ này cũng mang tính suy đoán, trên thực tế người bị buộc tội chưa thực hiện hành vi phạm tội mới, nhưng có căn cứ chứng tỏ nếu không áp dụng biện pháp ngăn chặn này, người bị buộc tội sẽ thực hiện hành vi phạm tội khác nên việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam là cần thiết Tuy nhiên, căn cứ này khác với căn cứ đầu tiên ở chỗ: trong trường hợp này, người bị buộc tội đã thực hiện một số
Trang 40hành vi chuẩn bị phạm tội như chuẩn bị công cụ, phương tiện để phạm tội đặt biệt nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, nghiêm trọng hay ít nghiêm trọng đều có thể bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam
Bốn là, để bảo đảm thi hành án
Thi hành án là giai đoạn cuối cùng trong các hoạt động tố tụng hình sự Đây là giai đoạn thực hiện bản án của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, đưa bản án thi thi trên thực tế Do vậy, nhằm đảm bảo bản án được thực thi một các triệt để, căn vào nhân thân và thái độ chấp hành pháp luật của từng người
bị kết án, chẳng hạn có căn cứ chứng tỏ người bị kết án bỏ trốn, không có nơi
cư trú rõ ràng hoặc bị cáo có nhân thân xấu, có tiền án, là đối tượng côn đồ… thì sau khi tuyên án, người bị kết án có thể bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam được áp dụng nhằm đảm bảo công tác thi hành án
Ngoài ra, đối với người chưa đủ 18 tuổi, pháp luật tố tụng hình sự quy định riêng việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam như sau: Chỉ áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam đối với người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi khi có căn cứ cho rằng việc áp dụng biện pháp giám sát và các biện pháp ngăn chặn khác không hiệu quả [18, Điều 419] Như vậy, đối với người bị buộc tội
là người dưới 18 tuổi, ngoài các căn cứ nêu trên, nếu có căn cứ cho rằng đã áp dụng biện pháp giám sát và các biện pháp ngăn chặn khác không hiệu quả mới được áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam đối với họ
2.3 Quy định về thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam
Thẩm quyền tạm giam được quy định tại khoản 1 Điều 113 và khoản 5 Điều 119 BLTTHS năm 2015 Theo các quy định trên thì thẩm quyền bắt bị can,
bị cáo để tạm giam cũng như áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam như sau:
- Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp;
- Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự các cấp;