1 BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI BÀI TẬP HỌC KỲ MÔN TỐ TỤNG HÌNH SỰ ĐỀ BÀI 05 NGUYÊN TẮC SUY ĐOÁN VÔ TỘI Hà Nội, 2020 HỌ VÀ TÊN PHAN THÙY LINH MSSV 443202 LỚP N – TL3 2 MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1 NỘI DUNG 2 I Nguyên tắc suy đoán vô tội – Nguyên tắc cơ bản của TTHS Việt Nam 2 1 Khái niệm, nguồn gốc nguyên tắc suy đoán vô tội của TTHS 2 2 Nội dung nguyên tắc suy đoán vô tội trong Điều 13 BLTTHS năm 2015 4 3 Ý nghĩa nguyên tắc suy đoán vô tội trong TTHS 5 II Thực tiễn thực hiện nguyên tắc suy đoán vô.
Trang 1BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
BÀI TẬP HỌC KỲ
MÔN: TỐ TỤNG HÌNH SỰ
ĐỀ BÀI: 05 NGUYÊN TẮC SUY ĐOÁN VÔ TỘI
Hà Nội, 2020
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 2
I Nguyên tắc suy đoán vô tội – Nguyên tắc cơ bản của TTHS Việt Nam 2
1 Khái niệm, nguồn gốc nguyên tắc suy đoán vô tội của TTHS 2
2 Nội dung nguyên tắc suy đoán vô tội trong Điều 13 BLTTHS năm 2015. 4
3 Ý nghĩa nguyên tắc suy đoán vô tội trong TTHS 5
II Thực tiễn thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội trong TTHS Việt Nam 7
III Đảm bảo việc thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội .11
KẾT LUẬN 14
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 14
Trang 3MỞ ĐẦU
Việt Nam đang trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền Một trong những yêu cầu của nhà nước pháp quyền là phải xây dựng cho được hệ thông pháp luật thống nhất, chặt chẽ và đồng bộ bảo vệ quyền con người Pháp luật tố tụng hình sự cũng cần đáp ứng yêu cầu đó Bởi lẽ, TTHS là lĩnh vực hoạt động đặc biệt của nhà nước, ở đó, xuất hiện quan hệ bất bình đẳng giữa một bên là các cơ quan tiến hành tố tụng vơi sự hậu thuẫn của quyền lực và bên kia yếu thế hơn là những người bị buộc tội Cũng từ đó, nguy cơ xâm phạm đến quyền con người trong TTHS cũng là yêu cầu bức thiết nhất
Pháp luật tố tụng hình sự đáp ứng các đòi hỏi của nhà nước pháp quyền, trước hết thể hiện ở chỗ hệ thống nguyên tắc của nó với tư cách là những quan điểm chỉ đạo làm nền tảng và xuyên suốt các quy phạm pháp luật tố tụng hình sự, hoạt động tố tụng hình sự cần được thể hiện đầy đủ, toàn diện và đồng bộ Các nguyên tắc đó một mặt cần ghi nhận những giá trị chung của nhân loại mặt khác cần có sự cụ thể hóa trong kiện hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam Trong hệ thống các nguyên tắc của TTHS , nguyên tắc suy đoán vô tội đóng vai trò hết sức quan trọng và đây được thừa nhận là một trong những nguyên tắc cơ bản và là trụ cột chính kiến tạo nên hệ thống pháp luật TTHS của các nhà nước văn minh Suy đoán
vô tội cũng là một trong những nội dung của nguyên tắc (quyền) xét xử công bằng (right to a fair trial) theo tiêu chuẩn quốc tế TTHS Việt Nam cũng đã ghi nhận và
thể hiện nguyên tắc này Vì thế, tôi quyết định chọn đề số 05 về “Nguyên tắc “suy đoán vô tội” trong tố tụng hình sự Việt Nam và điều kiện bảo đảm thực hiện”
để nghiên cứu rõ hơn về nguyên tắc này
Trang 4NỘI DUNG
I Nguyên tắc suy đoán vô tội – Nguyên tắc cơ bản của TTHS Việt Nam
1 Khái niệm, nguồn gốc nguyên tắc suy đoán vô tội của TTHS
Từ “presume” trong Tiếng Anh được dịch sang tiếng Việt mang hai nghĩa
khác nhau: 1) Suy đoán (dự đoán) và 2) Giả định Vì vậy, trong khoa học Luật
TTHS, nguyên tắc “presumption of innocence” có hai tên gọi khác nhau: Nguyên tắc “suy đoán vô tội” và nguyên tắc “giả định vô tội”1 Trong bài tiểu luận này,
chúng tôi sẽ làm rõ khái niệm “nguyên tắc suy đoán vô tội” và làm rõ quy định
pháp luật về nguyên tắc này
Giá trị của suy đoán vô tội được xem xét ở hai phương diện: phương diện chứng minh và phương diện đối xử Ở phương diện chứng minh cần bắt đầu từ vấn
đề cơ bản nhất là bản chất của TTHS đó là quá trình nhận thức về sự thật của vụ
án Lý thuyết về chứng minh chỉ ra nhiều phương pháp chứng minh Bên cạnh phương pháp chứng minh trực tiếp, người ta có thể chứng minh bằng phương pháp phản chứng (reductio ad absurdum) – tiếng La tinh có nghĩa là “thu giảm đến sự vô lý” Theo đó, người ta sẽ chứng minh nếu một phát biểu nào đó xảy ra, thì dẫn đến mâu thuẫn về lôgic, vì vậy phát biểu đó không được xảy ra2 Ví dụ: Nguời ta tìm thấy một chiếc áo dính máu nạn nhân bị sát hại trong nhà ông A Rõ ràng ở đây có dấu hiệu tội phạm và người phạm tội Câu hỏi ông A có phạm tội hay không là một mệnh đề cần phải chứng minh Thay vì chứng minh trực tiếp ông A phạm tội, nhân viên cảnh sát đặt ra giả thiết ông A không phạm tội Trong quá trình chứng minh chừng nào chưa tìm ra được những chứng cứ loại trừ giả thiết chứng minh ban đầu
có nghĩa là ông A luôn không phạm tội Tuy nhiên, chứng minh trong TTHS khác với chứng minh trong toán học ở chỗ, một bài toán có thể có một nghiệm, vô số nghiệm hoặc vô nghiệm Trong TTHS chỉ có hai kết quả hoặc có tội hoặc không có
1 Bùi Tiến Đạt (2015) “Vì sao “suy đoán có tội” phổ biến?”, https://vietnamnet.vn , ngày 19/04/2021
2 Nguyễn Thái Phúc- Nguyên tắc suy đoán vô tội- Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Số 11/2006, trang 72
Trang 5tội mà không thể có kết quả thứ ba là vừa có tội vừa không có tội Nói cách khác trong TTHS không chứng được “có” thì phải khẳng định là “không”
Trong lịch sử tư pháp hình sự, nguyên tắc suy đoán vô tội ra đời rất sớm và được coi là bước tiến quan trọng trong nhận thức của con người đối với vấn đề tôn trọng, bảo vệ quyền và phẩm giá của chính mình Nguyên tắc suy đoán vô tội lần đầu tiên được thừa nhận và tuyên bố như quyền cơ bản của con người tại Điều 9 Tuyên ngôn Nhân quyền và dân quyền của Cộng hòa Pháp năm 1789 Nguyên tắc suy đoán vô tội cũng sớm được cộng đồng quốc tế thừa nhận Ví dụ như nguyên tắc này được quy định tại Điều 11 Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948 của Liên Hợp Quốc, hay Khoản 1 Điều 14 Công ước quốc tế của Liên hợp quốc về quyền dân sự và chính trị năm 1966 Tại Việt Nam, một số nội dung của nguyên tắc suy đoán vô tội đã được xuất hiện rất sớm trong các quy định về hoạt động xét
xử của tòa án Thông tư của Bộ Tư pháp số 2225-HCTP ngày 24/10/1956 hướng
dẫn:“Trong quá trình điều tra cũng như xét xử, tuyệt đối không được mớm cung,
bức cung hay trấn áp bị can bất cứ bằng hình thức bào hoặc dùng lời lẽ dụ dỗ, hứa hẹn để bị can nhận tội Lời thú tội của bị can không kết thức cuộc thẩm cứu mà còn phải có bằng chứng xác minh mới được dùng làm cơ sở để kết tội Tòa án chỉ dựa trên những sự việc đã xác minh rõ rệt ở phiên tòa mà kết luận
Không nên có định kiến hễ người bị truy tố là nhất định có tội mà đối xử như với người có tội; bị can trước khi tuyên án được coi như không có tội để tòa án có thái độ hoàn toàn khách quan” 3
Khoản 1 Điều 31 Hiến pháp năm 2013 quy định rõ hơn về nguyên tắc suy
đoán vô tội: “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng
minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” Trên cơ sở Hiến pháp, Bộ luật TTHS năm 2015 là bộ luật đầu tiên của Việt
3 Thông tư của Bộ tư pháp số 2225-HCTP ngày 24/10/1956 về chấn chỉnh việc thực hiện quyền bào chữa của bị cáo,
trong “Tập hệ thống hóa luật kệ về TTHS”, Tòa án nhân dân tối cao, Hà Nội, 1976, tr.71
Trang 6Nam chính thức quy định: “Nguyên tắc suy đoán vô tội” Điều 13 Bộ luật TTHS
năm 2015 quy định rõ: “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi
được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật Khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không
có tội”.4
2 Nội dung nguyên tắc suy đoán vô tội trong Điều 13 BLTTHS năm
2015
Nguyên tắc suy đoán vô tội trong Đuêỳ 13 BLTTHS năm 2015 chứa đựng hai nội dung cơ bản sau đây:
2.1 Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do BLTTHS quy định và có bản án kết tội của Tòa
án đã có hiệu lực pháp luật
Người bị buộc tội theo quy định tại Điều 4 BLTTHS là người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo, tức là những người bước đầu bị các cơ quan tiến hành tố tụng (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án) xác định là đã thực hiện tội phạm, họ có thể chưa bị khởi tố về hình sự hoặc đã bị khởi tố về hình sự Tuy nhiên, những người này phải được luật pháp, những cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành
tố tụng coi là không cso tội cho đến khi tội của họ được chứng minh theo thủ tục, trình tự so BLTTHS quy định và có bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực Việc chứng minh tội phạm theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam do các
cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng thực hiện, có trách nhiệm tiến hành các hoạt động tố tụng điều tra, truy tố, xét xử để thu thập chứng cứ chứng minh tội phạm, người phạm tội
4 Hoàng Hùng Hải (2018), “Suy đoán vô tội và kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật về nguyên tắc suy đoán
vô tội”, https://lapphap.vn , truy cập ngày 19/04/2021
Trang 72.2 Khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do Bộ luật TTHS quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội
Quá trình đi tìm sự thật, chứng cứ để giải quyết vụ án không tránh khỏi khó khăn, vướng mắc khi có những trường hợp không thể thu thập được dầy đủ chứng
cứ chứng minh tội phạm hoặc hành vi phạm tội của người bị buộc tội mặc dù cơ quan điều tra, viện kiểm sát hoặc Tòa án đã áp dụng hết những biện pháp hợp pháp theo quy định của BLTTHS để chứng minh Trong trường hơp đó, các cơ quan tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội Điều đó có nghĩa là những cơ quan tiến hành tố tụng phải sử dụng những quy định pháp luật, những chứng cứ theo hướng có lợi (gỡ tội) để áp dụng, dồn về cho người bị buộc tội để họ được hưởng những lợi ích nhằm gỡ tội, chứng minh sự vô tội của họ
3 Ý nghĩa nguyên tắc suy đoán vô tội trong TTHS
3.1 Nguyên tắc suy đoán vô tội là nguyên tắc đóng vai trò hết sức quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án nói chung và quá trình chứng minh nói riêng
Nguyên tắc suy đoán vô tội giúp hoạt động chứng minh được thực hiện đúng quy định pháp luật, theo trình tự thủ tục nhất định và loại trừ những yếu tố, vấn đề còn nghi ngờ về hành vi phạm tội Các quy định liên quan đến nguyên tắc suy đoán
vô tội được thể hiện trong các giai đoạn TTHS, tạo thành hệ thống các quy phạm ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ quyền con người của người bị buộc tội, bởi lẽ: việc ghi nhận quyền chứng minh của người bị buộc tội sẽ đảm bảo sự cân bằng trong hoạt động TTHS giữa một bên là nhà nước với bộ máy điều tra, truy tố xét
xử hùng mạnh được thực hiện bằng quyền lực nhà nước với một bên yếu thế hơn là người bị buộc tội Đảm bảo người bị buộc tội không bị phân biệt đối xử khi chưa
có bản án kết tội có hiệu lực pháp luật của Tòaán và là nhân tố phát triển tính đúng đắn của lĩnh vực TTHS
Trang 83.2 Nguyên tắc suy đoán vô tội mang ý nghĩa định hướng cho việc xây dựng và thực hiện pháp luật TTHS
Nguyên tắc này tạo ra một hành lang pháp lý trong việc điều chỉnh các quan
hệ giữa các chủ thể tố tụng, duy trì trật tự và tạo điều kiện cho việc phát huy, bảo đảm các quyền cá nhân, sự công bằng, khách quan Không chỉ là quyền của người
bị buộc tội và nghĩa vụ của bên buộc tội, suy đoán vô tội còn phù hợp với quy luật của nhận thức trong tố tụng hình sự: một người luôn vô tội khi nhà nước không chỉ
ra được những bằng chứng chống lại điều này và chứng minh được họ có tội Như
là một điều luật bảo vệ bên yếu thế, chống lại sự xâm hại quyền con người từ phía công quyền, nguyên tắc suy đoán vô tội bảo vệ chính sách nhân đạo của pháp luật hình sự và lợi ích của người bị truy cứu trách nhiệm hình sự, đặt ra yêu cầu cao hơn cho những người tiến hành tố tụng trong việc chứng minh tội phạm: cơ quan
tư pháp, điều tra có trách nhiệm phải tìm được bằng chứng chứng minh vô tội song song với việc tìm bằng chứng chứng minh có tội Đề cao trách nhiệm của các cơ quan THTT, người THTT trước số phận chính trị, danh dự, nhân phẩm và quyền lợi của công dân, nguyên tắc suy đoán vô tội là “lá chắn thép” bảo vệ quyền của người bị tình nghi, bị can, bị cáo, phòng chống oan sai – yếu tố căn bản, thể hiện rõ nhất việc tôn trọng và bảo vệ các giá trị cao quý của con người
3.3 Suy đoán vô tội có nội dung quan trọng và trọng tâm là bảo vệ
chính sách nhân đọa của pháp luật hình sự và lợi ích của người bị truy cứu trách nhiệm hình sự phản ánh bản chất nhân văn, nhân đạo của pháp luật dân chủ và pháp quyền nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, loại trừ việc buộc tội và kết án thiết căn cứ
Do vậy, trong quá trình tiến hành tố tụng các cơ quan tiến hành tố tụng cũng như người tiến hành tố tụng phải nghiêm túc tuân thủ, tôn trọng và chấp hành theo
Trang 9nguyên tắc này để tránh việc oan sai đối với những công dân vô tội5.Nguyên tắc
mở ra một định hướng tích cực hơn và được coi là nguyên tắc “vàng” trong
hoạt động điều tra, truy tố, xét xử hiện nay
Là nguyên tắc, tư tưởng pháp lý tiến bộ và văn minh – thành tựu lớn của khoa học pháp lý trong chứng minh và bảo vệ quyền con người trong TTHS; suy đoán vô tội là một nguyên tắc có ý nghĩa chính trị to lớn, vượt ra ngoài phạm vi và nội dung pháp lý của nó nhằm ghi nhận địa vị của con người, tự do và dân chủ, ghi nhận mối liên hệ giữa tự do và trách nhiệm, dân chủ và pháp luật trong xã hội Vì thế, việc ghi nhận cụ thể, đầy đủ nguyên tắc suy đoán vô tội như là nguyên tắc cơ bản là đòi hỏi cấp thiết của luật TTHS trong nhà nước pháp quyền Suy đoán vô tội được quốc tế thừa nhận như giá trị chung của văn minh nhân loại phải được nghiên cứu và ghi nhận về mặt lập pháp, đã và đang được nhiều quốc gia xác định là
nguyên tắc cơ bản của pháp luật TTHS
II Thực tiễn thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội trong TTHS Việt Nam
Nếu luật TTHS Liên bang Xô – viết (Hệ thống pháp luật mà pháp luật Việt Nam nói chung và TTHS Việt Nam nói riêng chịu ảnh hưởng ở cả phương diện chính trị và học thuật) trong thời gian gian dài, không thừa nhận nguyên tắc suy đoán vô tội, thậm chí còn bị coi là sản phẩm của pháp luật tư sản6 thì ở Việt Nam, trước khi có BLTTHS 1989, tư tưởng của nguyên tắc này đã được đề cập trong một số văn bản quy phạm pháp luật, cụ thể tại Thông tư số 2252/HCTP ngày
29/10/1953 Thông tư số 16/TATC ngày 27/9/1974 của TANDTC đã đưa ra hướng
5 Thực chất, việc bảo đảm quyền con người trong TTHS được coi là trục xoay của toàn bộ hoạt động TTHS: vừa làm
thế nào để trên con đường đi tìm sự thật và công lý thì quyền của tất cả nhưng ai có liên quan đều phải được tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ Việc ghi nhận nguyên tắc này sẽ là cơ sở pháp lý vững chắc, nó sẽ có giá trị bắt buộc đối với các cơ quan THTT và có trách nhiệm hơn trong hoạt động chứng minh tội phạm, bên cạnh đó, khi có những vụ
án rơi vào trường hợp chứng cứ không đầy đủ, thiếu tính vững chắc thì người THTT sẽ dễ dàng hơn trong việc đưa
ra kết luận về kết quả của vụ án theo nguyên tắc “ suy đoán vô tội”
6 Hiến pháp Liên Xô 1977 lần đầu tiên chính thức ghi nhận nền tảng cơ bản của nguyên tắc này với diễn đạt
“Không ai có thể bị coi là có tội cũng như phải chịu hình phạt ngoài bản án và trình tự do luật định”
Trang 10dẫn có tính nguyên tắc trong hoạt động xét xử của toà án như sau: “Việc xét hỏi tại
phiên toà nhằm trực tiếp và công khai thẩm tra lại các chứng cứ của vụ án Do đó, Hội đồng xét xử phải xét hỏi một cách đầy đủ, khách quan, cần tránh tư tưởng quá tin vào hồ sơ mà coi nhẹ tác dụng của việc xét hỏi tại phiên toà, hoặc cho rằng xét hỏi chỉ nhằm buộc tội bị can phải nhận những lời mà họ đã khai ở cơ quan điều tra” Việc thừa nhận nguyên tắc suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự là phù hợp
quan điểm xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa mà Việt Nam đang theo đuổi thể hiện rõ nhất trong Hiến pháp 2013 Hiến pháp 2013 của Việt Nam đã quy định những điểm rất mới phù hợp với tiêu chuẩn của nhà nước pháp quyền như: khẳng định nhà nước pháp quyền phải ghi nhận đầy đủ và cam kết bảo vệ quyền con người trong đó có quyền con người trong TTHS; quy định Tòa án thực hiện quyền tư pháp có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người… Việc quy định nguyên tắc suy đoán vô tội là sự cụ thể hóa tính thần đó Hiến pháp 2013 trong lĩnh vực TTHS
Nguyên tắc suy đoán vô tội trong TTHS Việt Nam phù hợp với mô hình TTHS Việt Nam Trên thế giới trước đây và hiện nay tồn tại nhiều loại mô hình tố tụng khác nhau trong đó có hai mô hình tố tụng chủ yếu là tố tụng xét hỏi và tố tụng tranh tụng mà có người còn gọi là mô hình tố tụng kiểm soát tội phạm và tố tụng công bằng7 Mỗi mô hình tố tụng đều có những ưu điểm và nhược hạn chế nhất định Nếu mô hình tố tụng xét hỏi (kiểm soát tội phạm) lấy việc trấn áp tội phạm, hiệu quả của việc phát hiện, xử lý tội phạm là chức năng quan trọng của TTHS (bắt nhầm hơn bỏ sót) thì tố tụng tranh tụng (tố tụng công bằng) coi trọng sự cân bằng giữa việc phát hiện tội phạm và bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự với quan điểm nhiều khi thà bỏ sót hơn bắt nhầm… Không một mô hình tố tụng nào là hoàn hảo Do đó, luật TTHS Việt Nam đã đứng trước sự lựa chọn khó
7 P Reichel (1999), “Tư pháp hình sự so sánh”, Viện Nghiên cứu KHPL Bộ Tư pháp