1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

chuyen de nguyen du

94 849 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 422,57 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ lâu, ca dao đã đi vào lòng dân tộc và lạc vào rừng ca dao của kho tàng văn học, ta sẽ bắt gặp hình ảnh của người phụ nữ Việt Nam qua những đức tính cao quý của họ: Nói đến phụ nữ Việt

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TỈNH BÌNH DƯƠNGTRƯỜNG THPT CHUYÊN HÙNG VƯƠNG

_OOO _

CHUYÊN ĐỀ VĂN HỌC

Hình Ảnh Người Phụ

Nữ Trong Thơ

Nhắc đến Nguyễn Du-một đại thi hào của dân tộc, chúng ta luôn luôn khâm phục ôngbởi quan điểm lấy tình cảm, tình yêu thương làm chỗ dựa Nguyễn Du đã dựa trên quan điểm

đó để tái tạo, khắc họa cũng như làm tôn lên vẻ đẹp con người trong xã hội phong kiến, màđặc biệt là người phụ nữ Hình tượng người phụ nữ trong thơ ca Nguyễn Du đã để lại ấntượng khó phai trong lòng biết bao thế hệ Thông qua đó, ta cũng thấy được các giá trị nhân

Trang 2

văn sđu sắc góp phần tu bổ nhđn câch con người Nhưng có lẽ hình ảnh người phụ nữ chịunhiều bất hạnh trong xê hội đê khiến cho Nguyễn Du động lòng trắc ẩn, thốt lín những lờicảm thương nghe thật xót xa:

“Đau đớn thay phận đăn bă Lời rằng bạc mệnh cũng lă lời chung”

Những người phụ nữ trong xê hội ấy luôn phải chịu nhiều bất công Bởi lẽ, thời đại mẵng vă những người phụ nữ kia đang sống cũng đang diễn ra những biến cố lịch sử của giaiđoạn cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX, đất nước hỗn loạn, quan lại trong triều bao che chonhau ăn hối lộ, hă hiếp dđn lănh, đồng tiền lăm chủ số phận của con người Hơn nữa, những

phĩp tắc, lễ nghi hă khắc, đạo“tam tòng, tứ đức” đê đỉ nặng lín tấm thđn nhỏ bĩ của người

phụ nữ Tất cả đê khiến cho số phận của họ đầy sóng gió, dồn họ đến bước đường cùngkhông lối thoât, tước đoạt đi quyền sống, quyền tự do của một con người.Vă để minh chứngcho những số phận bất hạnh của người phụ nữ, Nguyễn Du đê tạo nín những tuyệt tâc phảnânh số phận đau thương của người phụ nữ Đồng thời tố câo bộ mặt thối nât, bất công, tănnhẫn của xê hội phong kiến đương thời Những tâc phẩm như Độc Tiểu Thanh Kí, Longthănh cầm giả ca,… vă đỉnh cao lă Truyện Kiều, một tuyệt tâc của nền văn học dđn tộc đê lấy

đi bao nhiíu giọt nước mắt của nhiều thế hệ trong suốt hăng mấy thế kỉ qua Vă hôm nay, đếnvới chuyín đề Nguyễn Du, chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu, cảm nhận về hình tượng ngườiphụ nữ xinh đẹp, tăi hoa nhưng bạc mệnh trong thơ ca của Nguyễn Du

Trang 4

Nguyễn Du ( 1765-1820) tự là Tố Như hiệu là Thanh Hiên, quê ở làng Tiên Điền, huyệnNghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh Ông sinh trưởng trong một gia đình đại quý tộc thời Lê - Trịnh Cha làNguyễn Nghiễm từng làm Tể tướng, anh là Nguyễn Khản đỗ Tiến sĩ, làm đại quan trong phủ Chúa,được Trịnh Sâm trọng vọng Nguyễn Du chỉ đỗ “Tam trường, nhưng văn chương lỗi lạc”.

Quê hương ông vẫn lưu truyền câu ca:

"Bao giờ Ngàn Hống hết cây,Sông Rum hết nước, họ này hết quan"

Nguyễn Du chỉ làm một chức quan nhỏ dưới thời Lê - Trịnh Dưới thời Tây Sơn, Nguyễn Dulúc thì dạt về quê vợ ở Quỳnh Hải, Thái Bình; lúc thì lặn lội về xứ Hồng Lĩnh quê nhà Ông trải qua

"mười năm gió bụi", có lúc ốm đau không có thuốc, mái tóc sớm bạc Ông tự xưng là "Hồng Sơnliệp hộ" (người đi săn ở núi Hồng), "Nam Hải điếu đổ" (Người câu cá ở biển Nam Hải):

"Hồng Sơn cao ngất mấy tầng,

Đò Cài mấy trượng là lòng bấy nhiêu!"

Năm 1802, Gia Long triệu Nguyễn Du ra làm quan Chỉ trong vòng hơn 10 năm, ông đã bướclên đỉnh cao danh vọng: làm Chánh sứ sang Trung Quốc (1813- 1814), giữ chức Hữu tham tri bộ

Lễ Năm 1820, lần thứ hai, ông lại được cử làm Chánh sứ sang Trung Quốc, nhưng chưa kịp đi thì

Nguyễn Du là đại thi hào dân tộc, niềm tự hào của nhân dân ta, đất nước ta:

"Nghìn năm sau nhớ Nguyễn Du,Tiếng thương như tiếng mẹ ru những ngày"

("Kính gửi Cụ Nguyễn Du" - Tố Hữu)

Trang 5

1.HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG VĂN CHƯƠNG VIỆT NAM TỪ XƯA ĐẾN NAY

Hình ảnh người phụ nữ từ lâu đã trở thành đề tài muôn thuở của thi ca, nhạc, hoạ Nét đẹp

đằm thắm, duyên dáng, đáng yêu của họ đã làm cho bao văn nhân, nghệ sĩ phải rung động trái tim yêu để rồi sáng tạo nên những áng thơ văn bất hủ ca ngợi vẻ đẹp của người phụ nữ dân tộc Từ khi nền văn học viết ra đời, thì bóng dáng người phụ nữ trở thành đề tài lớn được tập trung khắc họa ở nhiều khía cạnh, phương diện gắn liền với quá trình đi lên và phát triển của văn học.

Do ảnh hưởng của thời đại, đã có lúc, người phụ nữ phải chịu nhiều bi kịch cay đắng, xót xa với số kiếp bị lệ thuộc, không làm chủ được cuộc đời Nhưng rồi, họ đã vươn lên tự giải phóng bản thân, dành được quyền tự chủ, khẳng định vị thế là “một nửa thế giới” của mình Theo dòng chảy văn học Việt Nam, qua từng thời kì, giai đoạn, ta sẽ có cái nhìn khát quát, toàn diện và sâu sắc về người phụ nữ…

Văn học dân gian

Đề cập đến văn chương, chúng ta không thể nào bỏ qua nền thi ca bình dân mà ca dao là một trong những thể loại quen thuộc này Từ lâu, ca dao đã đi vào lòng dân tộc và lạc vào rừng ca dao của kho tàng văn học, ta sẽ bắt gặp hình ảnh của người phụ nữ Việt Nam qua những đức tính cao quý của họ:

Nói đến phụ nữ Việt Nam, trước hết phải nói đến lòng hiếu thảo đối với mẹ cha và tiết hạnh đối với bản thân Không phải chỉ có một nàng Kiều của cụ Nguyễn Du mới biết báo hiếu mà bất cứ người con gái Việt Nam nào cũng đều nhớ đến ơn sinh thành, công lao nuôi dưỡng bao

la của đấng song thân:

Công cha như núi Thái Sơn, Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.

Một lòng thờ mẹ, kính cha, Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.

Đó là đối với cha mẹ, còn đối với bản thân thì:

Trai thời trung hiếu làm đầu, Gái thời tiết hạnh làm câu trao mình

Những vần thơ của Nguyễn Đình Chiểu đã đưa người em gái Việt Nam vào giấc ngủ an bình

và từ ngày nầy qua ngày khác, tiếng ru lắng đọng, thẩm thấu vào tiềm thức của em bé nên saunày lớn lên thành chị, thành mẹ, thành bà lại hát để ru em, ru con, ru cháu theo nhip võng đưakẽo kẹt đều đều

Trang 6

Thấm thóat, em bé gái Việt Nam nho nhỏ ngày nào nay đã lớn dần và có thể giúp đỡ mẹ những công việc lặt vặt Một đôi khi lầm lỗi trong công việc bị mẹ quở mắng hay đánh đòn,

em không bao giờ dám oán trách mẹ Nếu bị quở mắng thì nhỏ nhẹ rằng:

Mẹ ơi đừng mắng con hoài,

Để con bẻ lựu, hái xoài mẹ ăn.

Theo thời gian, cô bé Việt Nam bây giờ đã trở thành thiếu nữ trưởng thành, trước khi lấy chồng, một đôi lúc ngồi nhìn những hạt mưa rơi, nàng nghĩ vẩn vơ:

Thân em như hạt mưa rào, Hạt sa xuống giếng, hạt vào vườn hoa.

Hay bâng khuâng tự hỏi:

Thân em như tấm lụa đào,

Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai.

Ngồi cành trúc, tựa cành mai,

Đông đào, tây liễu biết ai bạn cùng?

Đến tuổi trưởng thành, phụ nữ Việt Nam đẹp dần

lên Mỗi nàng một vẻ đẹp riêng, người thì đẹp

qua đôi mắt, người khác đẹp ở mái tóc, có cô đẹp

qua nụ cười, cô khác đẹp bằng hai má lúm đồng

tiền, có người đẹp với chiếc eo thon thon, dáng đi

yểu điệu, có người đẹp trừu tượng qua tâm hồn

Tóm lại, mỗi người một vẻ để làm rung động hay

làm xao xuyến con tim của người khác phái

Những phụ nữ có đôi mắt lá răm, lông mày lá liễu

được ca dao khen rằng:

Những người con mắt lá răm,

Lông mày lá liễu đáng trăm quan tiền.

Hay những người có làn da trắng nõn, má lại

hồng hồng, môi đỏ thắm:

Ai xui má đỏ, môi hồng,

Để anh nhác thấy đem lòng thương yêu.

Đã đẹp mặt mà còn đẹp về vóc dáng nữa thì “chim phải sa, cá phải lặn” cho nên những phụ

nữ có chiếc eo thon thon:

Những người thắt đáy lưng ong,

Đã khéo chiều chồng lại khéo nuôi con.

Trang 7

Mái tóc cũng đóng vai trò quan trọng trong việc trang điểm vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam:

Tóc em dài em cài bông hoa lý, Miệng em cười anh để ý anh thương.

Nụ cười là nét duyên dáng, nét quyến rũ của người phụ nữ Từ xưa cho đến nay có rất nhiều đàn ông đã chết vì nụ cười của phái đẹp:

Trăng rằm mười sáu trăng nghiêng, Thương em chúm chím cười duyên một mình.

Cũng thế, ta thường nghe ai đó ngâm hai câu ca dao:

Nàng về nàng nhớ ta chăng, Nàng về ta nhớ hàm răng nàng cười.

Và ca dao cũng không quên ca tụng nét đẹp tâm hồn của phụ nữ Việt Nam:

Chim khôn hót tiếng rảnh rang, Người khôn ăn nói dịu dàng dễ thương.

Phụ nữ Việt Nam vốn cháu con Quốc Mẫu Âu Cơ, dòng dõi tiên nên nhu mì, thùy mị được tiếng là đẹp, rất đẹp, nhất là trong chiếc áo dài tha thướt với vành nón lá che nghiêng nghiêngmái tóc xõa bờ vai Có biết bao nhiêu chàng trai đã trồng cây si ở cổng trường Trưng Vương, Gia Long, Đồng Khánh, Sương Nguyệt Ánh, Bùi Thị Xuân vì những tà áo dài thướt tha nầy

và mái trường đã từng là chứng nhân của những mối tình đẹp tựa bài thơ, đẹp như đêm trăng huyền ảo Trước cái đẹp của phụ nữ Việt Nam, mấy ai thuộc phái nam đã không từng cất giấutrong tim một bóng hồng của thời yêu thương ướt át:

Một thương tóc bỏ đuôi gà, Hai thương ăn nói mặn mà có duyên.

Ba thương má lúm đồng tiền, Bốn thương răng nhánh hạt huyền kém thua.

Năm thương cổ yếm đeo bùa, Sáu thương nón thượng quai tua dịu dàng.

Bảy thương nết ở khôn ngoan, Tám thương ăn nói lại càng thêm xinh.

Chín thương em ở một mình, Mười thương con mắt đưa tình với anh.

Dân tộc Việt Nam là dân tộc hiền hậu, hiếu hòa, cần cù nhẫn nại lại trọng đạo lý cho nên khi con cái vừa lớn khôn thì được gia đình, nhà trường, xã hội dạy những bài học luân lý về cung

Trang 8

cách ở đời, ăn ở có nhân có nghĩa theo đạo lý làm người và phụ nữ Việt Nam cũng được giáo huấn:

Con ơi mẹ bảo con này, Học buôn, học bán cho tày người ta.

Con đừng học thói điêu ngoa,

Họ hàng ghét bỏ, người ta chê cười.

Nhờ được giáo huấn cho nên phụ nữ Việt Nam đoan trang, thùy mị, nết na:

Sáng nay tôi đi hái dâu, Gặp hai anh ấy ngồi câu thạch bàn.

Hai anh đứng dậy hỏi han, Hỏi rằng cô ấy vội vàng đi đâu?

Thưa rằng tôi đi hái dâu, Hai anh mở túi đưa trầu mời ăn.

Thưa rằng bác mẹ tôi răn, Làm thân con gái chớ ăn trầu người.

Và xa hơn nữa:

Ở nhà còn mẹ, còn cha,

Lẽ đâu tôi dám nguyệt hoa cùng người.

Phụ nữ Việt Nam khi đến tuổi bước vào con đường yêu đương thì yêu nhẹ nhàng, kín đáo Nhẹ nhàng đến nỗi tình yêu của nàng len lén len lỏi vào tim hồi nào mà chàng trai không hay:

Vói tay ngắt lấy cọng ngò, Thương anh muốn chết giả đò ngó lơ.

E thẹn, giả đò ngó lơ, len lén ngó mà không dám ngó lâu là những cử chỉ yêu đương nhẹ nhàng, kín đáo rất dễ thương của người phụ nữ Việt Nam:

Ngó anh không dám ngó lâu, Ngó qua một chút đỡ sầu mà thôi.

Nhưng khi đã yêu thì phụ nữ Việt Nam yêu một cách đứng đắn, yêu đậm đà, tha thiết với tất

cả con tim mình:

Qua đình ghé nón trông đình, Đình bao nhiêu ngói, thương mình bấy nhiêu.

Tình yêu của nàng còn sâu đậm hơn nữa:

Yêu chàng lắm lắm chàng ôi, Biết đâu thanh vắng mà ngồi thở than.

Khi yêu, ngoài tình yêu đậm đà, tha thiết, phụ nữ Việt Nam lại còn chung tình:

Trang 9

Bao giờ cạn lạch Đồng Nai, Nát chùa Thiên Mụ mới phai lời nguyền.

Và chung tình cho đến chết vẫn còn chung tình:

Hồng Hà nước đỏ như son, Chết thì chịu chết, sống còn yêu anh.

Khi cất bước ra đi về làm dâu nhà chồng, một lần cuối nàng cố ghi lại những kỷ niệm của thời thơ ấu vào tâm khảm:

Ra đi ngó trước, ngó sau, Ngó nhà mấy cột, ngó cau mấy buồng.

Rồi lúc đã có chồng, người phụ nữ Việt Nam luôn luôn tâm niệm:

Chưa chồng đi dọc, đi ngang,

Có chồng cứ thẳng một đàng mà đi.

Lấy chồng, người phụ nữ Việt Nam đẹp duyên cùng chồng:

Trầu vàng ăn với cau xanh, Duyên em sánh với tình anh tuyệt vời.

Và có hình ảnh nào đẹp hơn vợ chồng hạnh phúc trong cảnh thanh bần:

Râu tôm nấu với ruột bầu, Chồng chan, vợ húp gật đầu khen ngon.

Dù nghèo, thanh bần nhưng phụ nữ Việt Nam học theo triết lý an phận, vẫn chung tình với chồng, không đứng núi nầy trông núi nọ:

Chồng ta áo rách ta thương, Chồng người áo gấm, xông hương mặc người.

Tinh thần chịu khó, chịu cực và khuyến khích chồng ăn học cho thành tài được diễn đạt qua những vần cao dao làm nổi bật đức tính hy sinh của phụ nữ Việt Nam:

Canh một dọn cửa, dọn nhà.

Canh hai dệt cửi, canh ba đi nằm.

Canh tư bước sang canh năm, Anh ơi dậy học chớ nằm làm chi.

Mốt mai chúa mở khoa thi, Bảng vàng chói lọi kia đề tên anh.

Bỏ công cha mẹ sắm sanh, Sắm nghiên, sắm bút cho anh học hành.

Trang 10

Đã có chồng con, người phụ nữ Việt Nam lại càng đảm đang, vừa lo cho con vừa lo toan mọi công việc nhà chồng:

Có con phải khổ vì con,

Có chồng phải gánh giang sơn nhà chồng.

Có con, người phụ nữ Việt Nam lại gánh thêm trách nhiệm làm mẹ với tình mẫu tử thiêng liêng:

Gió mùa thu mẹ ru con ngủ, Năm canh chầy thức đủ năm canh.

Tình mẫu tử của những bà mẹ Việt Nam bao la như trời bể, luôn luôn bảo bọc, che chở cho con:

Nuôi con chẳng quản chi thân, Chỗ ướt mẹ nằm, chỗ ráo con lăn.

Ngoài ra, phụ nữ Việt Nam còn phải đối diện với cảnh làm dâu nhà chồng Trước đây, xã hội

ta đã quan niệm sai lầm rằng người con dâu phải phục vụ gia đình nhà chồng gần như một người đầy tớ và một số bà mẹ chồng rất khắc nghiệt với nàng dâu gây nên nhiều cảnh thương tâm cho người phụ nữ Việt Nam Tự Lực Văn Đoàn đã đưa ra nhiều cuốn tiểu thuyết luận đề

để đả phá quan niệm sai lầm nầy và ca dao ta cũng lên tiếng thở than dùm cho các nàng dâu Việt Nam:

Làm dâu khổ lắm ai ơi, Vui chẳng dám cười, buồn chẳng dám than.

Còn nếu đất nước gặp thời chinh chiến, người phụ nữ Việt Nam không bịn rịn mà hăng hái khuyến khích chồng hành trang lên đường trả nợ núi sông:

Anh đi em ở lại nhà, Hai vai gánh vác mẹ già, con thơ.

Lầm than bao quản muối dưa, Anh đi anh liệu chen đua với đời.

Phụ nữ Việt Nam, ngoài những đức tính đảm đang, giàu lòng hy sinh, nết na, thùy mị còn là

người con rất mực hiếu thảo:

Ơn cha nặng lắm ai ơi, Nghĩa mẹ bằng trời chín tháng cưu mang,

Lòng nhớ công ơn cha mẹ sinh thành, nuôi dưỡng của người phụ nữ Việt Nam còn đươc diễn đạt qua mấy câu:

Ân cha lành cao như núi Thái

Trang 11

Đức mẹ hiền sâu tợ biển khơi.

Dù cho dâng trọn một đời, Cũng không trả hết ân người sinh ta.

Phụ nữ Việt Nam còn gắn liền với dân tộc và lịch sử vì thế khi tổ quốc lâm nguy, khi sơn hà nguy biến người phụ nữ Việt Nam hăng hái đưa vai gánh vác giang sơn như trường hợp Hai

Bà Trưng, Bà Triệu và những vị anh hùng liệt nữ khác Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca đã ghi lại công nghiệp của Hai Bà Trưng bằng những vần ca dao lịch sử:

Bà Trưng quê ở Châu Phong, Giận người tham bạo, thù chồng chẳng quên.

Chị em nặng một lời nguyền, Phất cờ nương tử thay quyền tướng quân.

Ngàn Tây nổi áng phong trần,

Ầm ầm binh mã xuống gần Long Biên, Hồng quần nhẹ bước chinh yên, Đuổi ngay Tô Định, dẹp yên biên thành.

Còn Bà Triệu, tên thật là Triệu Thị Trinh cùng anh là Triệu Quốc Đạt khởi nghĩa vào năm

248, sau Tây Lịch để chống lại quân xâm lăng Đông Ngô của Tàu:

Ru con, con ngủ cho lành,

Để mẹ gánh nước rửa bành con voi.

Muốn coi lên núi mà coi,

Có Bà Triệu Tướng cỡi voi bành vàng.

Bà Trưng, Bà Triệu là những bậc nữ lưu anh hùng đầu tiên trong lịch sử thế giới nổi lên sớm nhất chống ngoại xâm giành độc lập cho dân tộc Rất lâu về sau nầy nước Pháp mới có nữ anh hùng Jeanne D' Arc nhưng sự nghiệp của Bà Jeanne D' Arc cũng không lẫm liệt bằng công nghiệp to lớn, lẫy lừng của Bà Trưng, Bà Triệu

Thật xứng đáng:

Phấn son tô điểm sơn hà, Làm cho tỏ mặt đàn bà Việt Nam!

Văn học trung đại

Đến thế kỉ XVI, đặc biệt là thế kỉ XVIII, phụ nữ đã trở thành một trong những đề tàilớn của văn học Các thể loại văn học dường như đều xoay quanh việc phản ánh số phậnngười phụ nữ Vì vậy, trong văn học giai đoạn này, hình tượng người phụ nữ hiện lên mộtcách khá đầy đủ và toàn diện trên nhiều bình diện Về văn xuôi, các tác phẩm nổi tiếng viết

về đề tài phụ nữ có “Truyền kì mạn lục” của Nguyễn Dữ (nửa đầu thế kỉ XVI), “Truyền kì tân phả” của Đoàn Thị Điểm (1705 – 1748), “Kiến văn lục” của Vũ Trinh (1759 – 1828),…

Trang 12

Truyện Nôm cũng có rất nhiều tác phẩm viết về đề tài này, nhưng tiêu biểu hơn cả là các

truyện “Tống Trân – Cúc Hoa”, “ Phạm Tải – Ngọc Hoa”, “Quan Âm Thị Kính”,… và các truyện “Song Tinh Bất Dạ” của Nguyễn Hữu Hào(? – 1713), “Hoa Tiên” của Nguyễn Huy Tự (1743 – 1790), “Truyện Kiều” của Nguyễn Du (1766 – 1820), “Sơ kính tân trang” của Phạm

Thái (1777? – 1813),… Thơ ca viết về phụ nữ, nổi bật là thơ của Hồ Xuân Hương, Nguyễn

Du, “Chinh phụ ngâm khúc” của Đặng Trần Côn và Đoàn Thị Điểm(?), “Cung oán ngâm khúc” của Nguyễn Gia Thiều (1741 – 1798),…

Từ thế kỉ XVI đến đầu thế kỉ XIX, trong các thể loại văn học, thơ ca cũng như vănxuôi tự sự, tác phẩm viết bằng chữ Hán cũng như viết bằng chữ Nôm,… dường như nở rộ đềtài viết về người phụ nữ và hình tượng người phụ nữ nổi bật lên với hai nét cơ bản: hiện thâncủa cái đẹp và hiện thân của bi kịch đau thương Từ góc nhìn của văn học trong giai đoạnnày, người phụ nữ chủ yếu được phản ánh nghiêng về số phận bất hạnh và vẫy vùng trong lờikêu oán, than thân với khát vọng được giải phóng Hãy quay ngược thời gian, trở về quá khứ

để tìm hiểu hình tượng người phụ nữ trong văn học giai đoạn này

Nhân vật phụ nữ, ở thể loại tự sự hay trữ tình trong văn học trung đại, thường đẹp cảngười lẫn nết, ít thấy có hiện tượng “xấu người đẹp nết” như trong văn học dân gian Chính vìthế, các nhân vật chính diện là những phụ nữ trong văn học từ thế kỉ XVI đến đầu thế kỉ XIXhầu hết có sự hài hoà giữa cái đẹp về hình thức với cái đẹp về tâm hồn, họ là hiện thân của

cái đẹp: “đẹp người và đẹp nết” Điều hầu như mới lạ: các cô gái khi đi vào văn học giai đoạn này đều là những giai nhân tuyệt thế Hạnh Nguyên trong “nhị độ mai” là một cô gái

đẹp rực rỡ:

“Người đâu trong ngọc trắng ngà, Mặt vành vạnh nguyệt, tóc rà rà mây”.

Chị em Thúy Vân và Thúy Kiều rõ ràng là khuôn mẫu của sắc đẹp:

“Vân xem trang trọng khác vời, Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang.

Hoa cười, ngọc thốt đoan trang, Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da.

Kiều càng sắc sảo mặn mà,

So bề tài sắc lại là phần hơn.

Làn thu thủy, nét xuân sơn, Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh”

Trang 13

Sắc đẹp người cung nữ trong “Cung oán ngâm khúc” của Nguyễn Gia Thiều đã đến

mức siêu phàm:

“Chìm đáy nước cá lừ đừ lặn, Lửng lưng trời nhạn ngẩn ngơ sa.

Hương tươi đắm nguyệt say hoa, Tây Thi mất vía Hằng Nga giật mình”.

Hồ Xuân Hương còn muốn vĩnh hằng hoá sắc đẹp của người con gái trong bài thơ “Đề tranh tố nữ”:

“Hỏi bao nhiêu tuổi hỡi cô mình.

Chị cũng xinh mà em cũng xinh.

Đôi lứa như in tờ giấy trắng, Ngàn năm còn mãi cái xuân xanh”.

Tuy nhiên, sắc đẹp của đa số nhân vật nữ trong

văn học giai đoạn này thường gắn liền với một phần

phẩm chất không thể thiếu được, đó là tài Ở

họ, sắc và tài tạo thành một cặp đặc điểm không tách

rời nhau Theo quan niệm của các tác giả văn học

trung đại, tài gồm bốn mặt sau đây: cầm (đàn), kì

(cờ), thi (thơ), hoạ (vẽ), nghĩa là: có tài đánh đàn, chơi

cờ, làm thơ và vẽ Có thể coi Thuý Kiều của Nguyễn

Du là nhân vật tiêu biểu cho phẩm chất nói trên Tiếng

đàn của nàng làm cho Kim Trọng phải “ngơ ngẩn

sầu”, làm cho Thúc Sinh “cũng tan nát lòng” và làm

cho Hồ Tôn Hiến “nhăn mày, rơi châu” Tài làm thơ

của Kiều nhanh đến khó mà tưởng tượng nổi:

“Tay tiên một vẫy đủ mười khúc ngâm.

…Tay tiên gió táp mưa sa…”

Đã nhanh, lại hay! Thơ của Kiều có thể cảm thông được quỷ thần, khiến hồn ma Đạm

Tiên phải hiện lên, khiến viên quan phủ “mặt sắt đen sì” phải rủ lòng thương, không những

chỉ tha cho Kiều mà còn đứng ra làm lễ tác hợp cho nàng được lấy Thúc Sinh Và Hoạn Thư,một con người tai quái cũng phải thốt lên:

Trang 14

“Rằng: Tài nên trọng, mà tình nên thương”

Tuy vậy, ca ngợi tài và sắc của người phụ nữ không phải là mục đích của tác giả vănhọc thế kỉ XVI - đầu XIX Tài và sắc chỉ là một phương diện của cái đẹp và làm nền để bộc

lộ bản chất của cái đẹp: đẹp nết Khi nói đến đẹp nết là ta đã đề cập tới phạm trù đạo đức.Trong văn học dân gian người ta cho rằng:

“Tốt gỗ hơn tốt nước sơn Xấu người đẹp nết còn hơn đẹp người”.

Nhưng, như trên đã nói, trong văn học viết không có sự đối lập giữa hình thức (xấungười) với nội dung (đẹp nết) Hình thức và nội dung thường có sự hòa quyện sóng đôi Vìthế, ở các truyện truyền kì cũng như truyện Nôm, trong bất cứ hoàn cảnh nào, nhân vật phụ

nữ luôn toát lên một phẩm chất cao đẹp: đức hi sinh, lòng vị tha và tấm tình chung thủy

Trước tai biến bất ngờ của gia đình, Thúy Kiều đã hi sinh thân mình, hi sinh tình yêu “Rẽ cho

để thiếp bán mình chuộc cha”.

Rơi vào lầu xanh của Tú Bà, Kiều phải sống một cuộc đời nhơ nhớp Có lần nàng toan

tự tử để mong thoát khỏi kiếp sống đọa đày đó Nhưng khi Thúc Sinh ngỏ lời cầu hôn, Kiềukhông coi đấy là cơ may phải chớp lấy Điều đầu tiên Kiều nghĩ đến là hạnh phúc của HoạnThư, người vợ hiện tại của Thúc Sinh Nếu như nàng lấy chàng Thúc, một hiện thực không

thể tránh khỏi cho Hoạn Thư là “Thêm người, người cũng bớt lòng riêng tây”.

Rõ ràng, người bị thiệt thòi trước hết là Hoạn Thư Tình cảm vợ chồng của Hoạn Thư

sẽ bị chia sẻ Kiều không đang tâm Rồi khi được quan phủ và Thúc ông tác thành cho lấyThúc Sinh, có thể nói, đó là lúc Kiều được sống trong hạnh phúc ấm êm Nhưng nàng khônggiành giật hạnh phúc cho riêng mình Nàng nghĩ đến sự cô đơn, thiệt thòi của Hoạn Thư, do

đó nàng chủ động nài nỉ chàng Thúc trở về thăm vợ:

“Xin chàng hãy trở lại nhà.

Trước người đẹp ý, sau ta biết tình”.

Làm việc này, Kiều hoàn toàn dự cảm được điều gì đang đợi mình sau chuyến viếngthăm vợ của chàng Thúc Nàng nói:

“Dù khi sóng gió bất bình Lớn ra phận lớn, tôi đành phận tôi”.

Biết hi sinh mình cho người là một trong những đức tính của Kiều nói riêng và của cácnhân vật phụ nữ trong văn học Việt Nam thế kỉ XVI - đầu XIX nói chung Cùng với lòng vị

Trang 15

tha, tấm tình thủy chung son sắt cũng là một trong những phẩm chất nổi bật của người phụnữ.

Kiều ăn ở với mọi người trước sau như bát nước đầy Bà quản gia, vãi Giác Duyên,Thúc Sinh… là những người đã từng cưu mang, cứu vớt Kiều Sau này, khi đã trở thành vợcủa người anh hùng cái thế Từ Hải, Kiều vẫn nhớ tới ơn sâu nghĩa nặng của họ Nàng đền ơnchàng Thúc thật là trọng hậu:

“Gấm trăm cuốn, bạc nghìn cân,

Tạ lòng dễ xứng báo ân gọi là”.

Gặp lại Bà quản gia và vãi Giác Duyên, Kiều nhắc tới công ơn cứu giúp của họ bằnglời nói vừa chân thật, vừa cảm động:

“Nhớ khi lỡ bước sảy vời, Non vàng chưa dễ đền bồi tấm thương.

Nghìn vàng gọi chút lễ thường,

Mà lòng Phiếu mẫu mấy vàng cho cân!”.

Hình ảnh Ngọc Hoa trong truyện “Phạm Tải – Ngọc Hoa” còn đặc sắc hơn Có thể nói,

đó là hình ảnh lí tưởng của tình yêu chung thủy sắt son Là con gái Trần tướng công, một viênquan to và giàu có, nhưng Ngọc Hoa lại yêu và kết duyên cùng Phạm Tải – chàng hàn sĩ lỡthời, không chốn nương thân, không nơi trú ngụ, phải đi ăn xin Vua Trang Vương ép nàng bỏPhạm Tải để lấy mình, nàng kiên quyết cự tuyệt Phạm Tải bị Trang Vương sát hại, Ngọc Hoa

ôm xác chồng về nhà Cái chết không chia lìa được tình yêu của họ, suốt ba năm ròng, NgọcHoa vẫn gắn bó với người chồng đã chết ấy:

“Ngày ngày ngồi ở bên ngoài, Đêm thời mở nắp quan tài vào trong.

Đá vàng khăng khăng thuỷ chung,

Cổ tay lại gói đầu chồng như xưa”.

Ba năm như vậy trôi qua Lấy cớ nàng mãn tang chồng, Trang Vương sai người đến bắtNgọc Hoa về kinh đô, ép nàng làm vợ Ngọc Hoa không chịu đầu hàng, nàng tự tử để giữtrọn tình nghĩa với chồng Xuống đến âm cung, nàng còn tìm gặp Phạm Tải, cùng đưa nhauđến gặp Diêm Vương để kiện Trang Vương, bắt tên này phải đền tội Tình yêu chung thuỷ đãgiúp họ chiến thắng Cuối cùng Trang Vương bị bỏ vào vạc dầu, Phạm Tải và Ngọc Hoa đượcsống lại, trở về dương thế, Phạm Tải lên ngôi trị vì thiên hạ…

Trang 16

Mỗi một thể loại văn học, mỗi một tác giả văn học lại có cách biểu đạt riêng về cái đẹpcủa người phụ nữ Hồ Xuân Hương đã hình tượng hoá phẩm chất của người phụ nữ trong bài

thơ thất ngôn tứ tuyệt “Bánh trôi nước” theo kiểu riêng của bà:

“Thân em vừa trắng lại vừa tròn, Bảy nổi ba chìm với nước non.

Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn,

Mà em vẫn giữ tấm lòng son”.

Dù cuộc đời có bị vùi dập “bảy nổi ba chìm” thì “tấm lòng son” của người phụ nữ vẫn

được giữ gìn trọn vẹn Đó là nét nổi bật thứ nhất về hình tượng người phụ nữ trong văn họcViệt Nam thế kỉ XVI - đầu XIX

Với đầy đủ những vẻ đẹp đó, đáng lẽ ra, người phụ nữ phải được sống một cuộc sốnghạnh phúc trọn vẹn nhưng ở giai đoạn này, cả nước Việt chìm trong những ràng buộc, lễ giáokhắc nghiệt tối tăm Và vô hình chung, số phận của người phụ nữ cũng không thể nào vượt rakhỏi ranh giới của hoàn cảnh xã hội Dưới chế độ phong kiến, mọi thế lực xã hội, kể cả giađình, đều có thể chà đạp lên thân phận người phụ nữ Đứng đầu các thế lực xã hội thời bấygiờ là vua chúa

Để phục vụ cho việc ăn chơi truỵ lạc, bọn chúng đã kén hàng trăm cô gái trẻ trung,xinh đẹp vào cung làm phi tần Chế độ cung tần dã man đã làm cho tuổi xuân và sắc đẹp của

các cô gái bị chôn vùi trong cung cấm “Cung oán ngâm khúc” của Nguyễn Gia Thiều là

tiếng oán thán đến rớm máu cho những số phận đau thương đó Khi đã vào cung, ngoại trừmột vài người có cái may mắn được vua chúa sủng ái, còn hầu hết các cung nữ đều mauchóng bị ruồng bỏ, lãng quên Họ chỉ còn biết âm thầm thở than, oán trách:

“Hoa này bướm nỡ thờ ơ

Để gầy bông thắm, để xơ nhị vàng”.

Dân gian thường nói:

“Vua thì nhiều vợ nhất đời

Ba trăm mỹ nữ, sáu mươi cung tần”.

Bởi quá nhiều cung tần mỹ nữ như vậy, người cung phi không thể tìm được cho mìnhchỗ đứng trong cái “gia đình” một chồng mà có tới vài ba trăm vợ ấy Họ buộc lòng phải thốtlên:

“Ngán thay cái én ba nghìn Một cây cù mộc biết chen cành nào”.

Trang 17

Sống âm thầm cô đơn, để cho tuổi xuân tàn tạ và trở thành những người không chồng

không con “Bỗng không mà hoá ra người vị vong” (Người vị vong: người có chồng bị chết)

rồi chết già trong cung cấm, đó là số phận không thể tránh khỏi của người cung nữ

Chế độ cung tần còn làm cho nhiều gia đình tan nát, cha xa con, vợ lìa chồng Ngọc

Hoa trong truyện “Phạm Tải - Ngọc Hoa” là một ví dụ tiêu biểu cho những số phận bi ai.

Nàng bị vua Trang Vương ép phải bỏ Phạm Tải – người chồng mà nàng hết mực yêu thương

để lấy hắn Ép không được, Trang Vương đã dùng thủ đoạn độc ác: giết Phạm Tải, Ngọc Hoađau đớn tuyệt vọng:

“Trời cao đất rộng có hay, Sát phu, kiếp phụ, sự này thấu chưa?”

Chiến tranh cũng là một trong những tai họa giáng xuống đầu người phụ nữ “Chinh phụ ngâm khúc” của Đặng Trần Côn và Đoàn Thị Điểm là tiếng kêu khắc khoải của người vợ trẻ

có chồng bị cuốn vào cuộc chiến tranh phi nghĩa Người chồng ra trận đối đầu với cái chết.Người vợ ở nhà mòn mỏi chờ mong, lo âu phấp phỏng, lo cho chồng nơi chiến địa, lo cho

tuổi xuân của mình lặng lẽ trôi qua: “thiếp rầu thiếp, lại rầu chàng chẳng quên”.

Nỗi cô đơn gặm nhấm dần tuổi trẻ, người chinh phụ không khỏi lo lắng cho sự tàn tạ

của mình: “Gái tơ mấy chốc xảy ra nạ dòng” Nàng khao khát được gặp lại chồng dù chỉ một lần, song chiến tranh đẩy họ xa nhau, mỗi người một phương biền biệt: “thiếp trong cánh cửa, chàng ngoài chân mây” Sầu chia li giày vò, người chinh phụ chỉ còn biết tìm chút hạnh phúc trong mộng mị: “duy còn hồn mộng được gần, đêm đêm thường tới giang tân tìm người,

…” Nhưng mộng rồi phải tỉnh, và khi tỉnh dậy càng thấy buồn khổ hơn:

“Giận thân thiếp lại không bằng mộng Được gần chàng bến Lũng thành Quan, Khi mơ những tiếc khi tàn

Tỉnh trong giấc mộng muôn vàn cũng không”.

Còn chiến tranh, người phụ nữ phải chịu nhiều đau khổ Tuy nhiên, những nỗi bất hạnh

mà người cung nữ, nàng Ngọc Hoa, người chinh phụ,… phải gánh chịu đều do hoàn cảnhkhách quan gây nên Còn có những nỗi bất hạnh làm cho phụ nữ đau đớn hơn nhiều, đó lànhững tai họa bởi chính người thân trong gia đình giáng xuống đầu họ Đối với người phụ nữ,gia đình là tất cả, vì gia đình là tổ ấm, là chốn nương thân, là nơi có thể tìm thấy niềm vui sự

an ủi Nhưng biết bao kiếp người phụ nữ đã gặp cảnh gia đình ngang trái, nhất là khi lấy phải

người chồng chẳng ra gì Bài thơ “Khóc tổng Cóc” của Hồ Xuân Hương như tiếng thở dài của

Trang 18

“Chàng Cóc ơi! Chàng Cóc ơi!

Thiếp bén duyên chàng có thế thôi.

Nòng nọc đứt đuôi từ đây nhé, Ngàn vàng xin chuộc dấu bôi vôi!”

Có lẽ tiêu biểu hơn cả những số phận cay đắng do người chồng gây ra là nhân vật Vũ

Thị Thiết trong truyện ”Người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ Như tất cả các cô gái nông thôn, Vũ Nương “thùy mị nết na, lại thêm có tư dung tốt đẹp” Nhưng số phận nàng thật

hẩm hiu: “lấy phải người chồng vũ phu lại có tính hay ghen” Khi chồng đi lính, nàng đã mộtmình vừa nuôi con thơ, vừa chăm sóc mẹ chồng già yếu, ốm đau Nhưng rồi, như mẹ chồng

đã nói: “Dầu khan, bấc hết, số tận mệnh cùng”, bà đã qua đời Vũ Nương lại một mình lo liệu

“ma chay tế lễ” rất là chu đáo Có thể nói, Vũ Nương là mẫu mực về người con dâu hiếu thảo

đối với mẹ chồng

Suốt ba năm xa chồng, nàng một lòng giữ gìn trinh tiết chờ đợi Sau ba năm, chồng đã

trở về bình yên, hạnh phúc tưởng như cầm chắc trong tay Nhưng mà, “chưa vui sum họp đã sầu chia phôi” Vì hiểu lầm lời nói của đứa con thơ, cơn ghen trong lòng Trương Sinh bùng

lên không sao dập được Niềm vui đoàn tụ mau chóng bị tiêu tan, chỉ còn sự giận dữ đến phũ

phàng của người chồng: “Sinh thường mắng mỏ, nhiếc móc và đánh đuổi đi” Chồng là chỗ

dựa duy nhất mà còn ruồng bỏ thì nàng biết nương tựa vào đâu? Nỗi oan của nàng ai hay?Danh dự bị sỉ nhục, trinh tiết bị nghi ngờ! Cuối cùng, Vũ Nương đành phải đầm mình tự vẫnnơi dòng Hoàng Giang

Tất cả những cuộc ép duyên đều dẫn đến cái chết bi thảm Cô gái dệt vải bị ngườichồng vũ phu dùng cuốc phang chết, con gái phú ông vì không lấy được chàng lái đò nênkhắc khoải buồn đau thành bệnh qua đời,… Còn nhiều và rất nhiều những kiếp người nhưvậy Song, có lẽ, điển hình cho nhân phẩm và tài sắc bị vùi dập vẫn là nhân vật Thúy Kiều

Tài sắc của Kiều, như Nguyễn Du đã nói:“Sắc đành đòi một, tài đành họa hai” Hơn nữa,

Kiều lại có lòng vị tha, có trái tim đôn hậu Vậy mà, đời nàng là một chuỗi dài những bi kịch

“hết họa nọ đến nạn kia” Mới 15 tuổi đầu, Kiều đã phải bán mình chỉ vì thằng bán tơ vu oan

giá họa cho gia đình Bán mình đã là điều đau khổ Nhưng cái chính là, tài sắc như Kiều màphải đem thân bán cho tên ô trọc Mã Giám Sinh tuổi “ngoại tứ tuần” Nỗi đau đớn bất ngờ ấy

khiến Kiều không thốt lên được một lời nào Nàng chỉ còn biết khóc: “Thềm hoa một bước lệ hoa mấy hàng”.

Trang 19

Từ đây, nước mắt của nàng sẽ nhỏ theo từng bước chân trong suốt 15 năm trời lưu lạc.Khi mới bán mình, Kiều chưa hình dung được thân phận mình sau này sẽ ra sao Nàng chỉbiết rằng:

“Từ đây góc bể chân trời Nắng mưa thui thủi quên người một thân”.

Oái oăm thay, con người tài sắc “đáng giá nghìn vàng” như Kiều, sau khi qua tay Mã

Giám Sinh, lại rơi vào lầu xanh bẩn thỉu của Tú Bà Kiều quằn quại khi phải sống cuộc đờinhơ nhớp của gái lầu xanh:

“Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh, Giật mình, mình lại thương mình xót xa.

Khi sao phong gấm rủ là, Giờ sao tan tác như hoa giữa đường.

Mặt sao dày gió dạn sương, Thân sao bướm chán ong ong chường bấy thân!”.

Được Thúc Sinh cứu khỏi lầu xanh của Tú Bà, Thúy Kiều lại bị Bạc Bà, Bạc Hạnh đẩyvào lầu xanh lần thứ hai Tài sắc lẽ ra phải được nâng niu trân trọng Song, dưới chế độphong kiến, ngược lại, tài sắc trở thành nguyên nhân để nhân phẩm bị chà đạp Thoạt tiên, tàisắc của Thúy Kiều bị biến thành món hàng trong tay những “phường bán thịt”, “quân buôn

người”: “Đắn đo cân sắc cân tài, ép cung cầm nguyệt, thử bài quạt thơ” Sau này, Hoạn Thư

đem tài đàn của Kiều ra để hành hạ nàng, bắt nàng hầu đàn Thúc Sinh Và cuối cùng, Hồ TônHiến cũng dùng tiếng đàn của Kiều để nhục mạ nàng

Như chúng ta đã biết, trong đời Kiều, Từ Hải là người duy nhất giúp nàng ngẩng caođầu “cả cười” và “ân oán rạch ròi” Đối với Kiều, Từ Hải là ân nhân (cứu Kiều ra khỏi lầuxanh, giúp nàng đền ơn báo oán, đưa Kiều từ thân phận gái lầu xanh lên bậc mệnh phụ phunhân…), là người tri kỷ, là chồng,… Từ Hải là tất cả cuộc đời Kiều Vậy mà, vì mắc lừa HồTôn Hiến – quan trọng thần, đại diện triều đình – Kiều đã khuyên Từ Hải ra hàng để dẫn đếncái chết của Từ Đời Kiều rất nhiều nỗi đớn đau, nhưng nỗi đớn đau lớn nhất vẫn là việc TừHải chết Kiều đã khóc, khóc suốt 15 năm, nhưng chưa bao giờ nàng khóc nhiều như khi TừHải chết Nàng khóc cho chồng, khóc cho mình, khóc cho đời, khóc cho người tri kỷ mà

Trang 20

mình vô tình làm hại Nỗi đau đớn đó làm cho Kiều như bị tan ra thành nước mắt: “Dòng thu như giội cơn sầu”

Đang trong cơn tuyệt vọng như vậy, Kiều lại phải dùng tài đàn của mình để mừng công

Hồ Tôn Hiến, kẻ vừa giết Từ Hải Đó là là sự sỉ nhục lớn nhất trong đời Kiều Tiếng đàn mà

Hoạn Thư bắt Kiều hầu rượu Thúc Sinh đã não nùng: “Bốn dây như khóc như than” Tiếng

đàn hầu rượu Hồ Tôn Hiến còn não nùng hơn! Đó không chỉ là tiếng khóc, tiếng than, mà làtiếng máu bật ra từ trái tim đau khổ:

“Một cung gió thảm mưa sầu, Bốn dây nhỏ máu năm đầu ngón tay!’.

Sự chà đạp nhân phẩm đã lên đến cùng cực Kiều không còn lý do gì để sống Nàng đãnhảy xuống sông Tiền Đường, kết thúc một kiếp tài hoa bị đoạ đày Rồi trên thi đàn Việt Namlúc ấy, còn biết bao người phụ nữ cũng cùng một số phận như vậy khiến Nguyễn Du đại thi

hào dân tộc phải đau đớn mà thốt lên: “Đau đớn thay phận đàn bà/ Lời rằng bạc mệnh cũng

là lời chung” Hai câu thơ cất lên trong hoàn cảnh mà con người bị cương tỏa bởi “vòng kim

cô” của lễ giáo phong kiến, của những “tam tòng tứ đức”, “ trọng nam khinh nữ”… Ngườiphụ nữ càng đẹp, càng tài, càng lắm bất hạnh, khổ đau Nguyên nhân vì đâu, vào cái thời đại

ấy chưa có câu trả lời Do đó, câu thơ của Nguyễn Du chính là khúc “bạc mệnh” tấu lên chomọi “kiếp hồng nhan”

Ngày nay, đọc lại văn học trung đại Việt Nam, từ “Truyền kì mạn lục” của Nguyễn

Dữ đến “Truyện Kiều” của Nguyễn Du, từ “Truyền kì tân phả” của Đoàn Thị Điểm đến thơ

Hồ Xuân Hương, từ “Cung oán ngâm khúc” của Nguyễn Gia Thiều đến “Kiến văn lục” của

Vũ Trinh,… ta thấy hình tượng người phụ nữ nổi bật lên hai nét lớn: phụ nữ hiện thân của cáiđẹp và phụ nữ hiện thân của những số phận bi thương Đấy là một trong những thành cônglớn của các tác gia văn học Việt Nam thế kỉ XVI - đầu thế kỉ XIX Nó đã góp phần vào tràolưu nhân đạo chủ nghĩa, góp phần vào tiếng nói đòi giải phóng con người, nhất là giải phóngphụ nữ

Văn học hiện đại

Như một nguồn mạch dạt dào, bất tận; như một dòng chảy mạnh mẽ không ngừng; hình ảnhngười phụ nữ Việt Nam đã đi vào văn học một cách hết sức tự nhiên, và rồi cứ thế xuất hiệnxuyên suốt trên hầu khắp các trang viết của mọi thế hệ từ xưa tới nay Đáng yêu biết bao làngười phụ nữ trong truyện cổ, ca dao với những phẩm chất cao quý và thiên tính nữ cao đẹp

Trang 21

Đáng trân trọng biết bao là người phụ nữ trong văn học trung đại, dù chịu nhiều bất hạnh,đắng cay mà vẫn giữ vẹn tấm lòng sắt son, trinh bạch Để rồi, trải qua thăng trầm của lịch sửcùng những thay đổi của thời gian, người phụ nữ Việt Nam hiện lên trong văn học hiện đạimới thật đáng khâm phục biết bao Đó là hình ảnh người phụ nữ mang đậm hơi thở thời đại,ghi đậm dấu ấn của hai cuộc kháng chiến trường kỳ: chống Pháp và chống Mỹ.

Trước hết, trong kháng chiến chống Pháp, người phụ nữ được phác hoạ bằng những nét

vẽ dung dị, mộc mạc mà không kém phần đằm thắm, trữ tình Họ là những con người thoát licông việc gia đình bình thường, tham gia vào các đoàn dân công tải đạn, tải lương:

" Dốc Pha Đin, chị gánh anh thồ Đèo Lũng Lô, anh hò chị hát

Dù bom đạn, xương tan thịt nát Không sờn lòng, không tiếc tuổi xanh"

Họ là những người vợ sẵn sàng góp sức với dân làng đánh giặc cứu nước, không hềthua kém đức lang quân:

"Nhà em phơi lúa chưa khô Ngô chửa vào bồ, sắn thái chưa xong Nhà em con bế con bồng

Em cũng theo chồng đi phá đường quan."

Họ là những người mẹ đã nhường cơm sẻ áo, che giấu cán bộ, không quản vất vả khókhăn, không ngại hiểm nguy gian khổ:

"Hỡi người mẹ khổ đã dành cơm Cho con, cho Đảng ngày xưa ấy

Trang 22

Chẳng sợ tù gông, chấp súng gươm!"

Người mẹ ấy đã hy sinh thật anh dũng và xúc động":

"Sống trong cát, chết vùi trong cát Những trái tim như ngọc sáng ngời!"

Họ là những người bà tần tảo sớm hôm, nuôi con rồi nuôi cháu làm cách mạng, chắtchiu từng miếng khoai, củ sắn:

"Nhóm niềm yêu thương khoai sắn ngọt bùi Nhóm nồi xôi gạo mới xẻ chung vui

Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi trẻ"

Bao thế hệ phụ nữ đã đóng góp cho cuộc kháng chiến trường kỳ:

"Xưa tiễn chồng đi rười rượi tóc xanh Nay tiễn con đi, rung rinh đầu bạc"

Đến kháng chiến chống Mỹ, người phụ nữ lại được khắc hoạ bằng những nét vẽ khoẻkhoắn, trẻ trung, dũng cảm, gan dạ một cách lạ thường

Ta sẽ còn nhớ mãi nỗi xúc động, bàng hoàng của nhà thơ Tố Hữu khi đứng trước ngườicon gái Việt Nam:

"Em là ai? Cô gái hay nàng tiên

Em có tuổi hay không có tuổi Mái tóc em đây, hay là mây là suối Đôi mắt em nhìn hay chớp lửa đêm giông Thịt da em hay là sắt là đồng?"

Và nhà thơ đã tìm thấy lời giải đáp giản đơn mà không hề đơn giản:

Trang 23

"Điện giật, dùi đâm, dao cắt, lửa nung Không giết được em người con gái anh hùng!"

Nhà thơ ấy cũng đã có cái nhìn đầy ngưỡng mộ và khâm phục khi được xem "Tấm ảnh":

"O du lích nhỏ giương cao súng Thằng Mỹ lênh khênh bước cúi đầu

Ra thế! To gan hơn béo bụng Anh hùng đâu cứ phải mày râu!"

Nguyễn Đình Thi thì lại được khơi gợi cảm hứng từ hình ảnh lộng gió của những côgái thanh niên xung phong:

"Gặp em trên cao lộng gió Rừng lạ, ào ào lá đỏ

Em đứng bên đường, như quê hương Vai áo bạc, quàng súng trường.”

Cô gái trong thơ Nguyễn Đình Thi cũng chính là Nguyệt trong "Mảnh trăng cuối rừng" của Nguyễn Minh Châu, Chiến trong "Những đứa con trong gia đình"của Nguyễn Thi Họ

sẵn sàng hy sinh vì đất nuớc, vì Tổ Quốc; dưới làn mưa bom, lửa đạn, họ đã dũng cảm quênmình bảo đảm cho đoàn xe ra trận Nếu ai đã từng nếm trải khói lửa chiến tranh đều hiểu rằngđây là những con người rất bình thường mà cũng vô cùng vĩ đại Những con người mà cáichết của họ đã hoá thân vào quê hương, đất nước, trở thành bất tử, vĩnh hằng:

"Hỡi mặt trời hay chính trái tim em trong ngực Soi cho tôi bước tiếp quãng đường dài"

(Hố bom và khoảng trời- Lâm Thị Mỹ Dạ)

Trang 24

Chiến tranh không chỉ không khuất phục nổi những cô gái đôi mươi, mười tám mà cònphải cúi đầu trước những người mẹ , người bà mái tóc đã pha sương Hình ảnh chị Út Tịch

trong "Người mẹ cầm súng" của Nguyễn Thi đã ghi lại dấu ấn sâu đậm trong lòng người đọc những năm kháng chiến chống Mỹ Với tinh thần: "Còn cái lai quần cũng đánh", mang bầu

bảy tháng nhưng người mẹ ấy vẫn xông pha giết giặc cứu nước Chị là nét son chói lọi vềngười phụ nữ Việt Nam thương con và yêu nước tha thiết Và còn rất nhiều, rất nhiều những

người mẹ, người chị anh hùng nữa: như chị Sứ trong "Hòn Đất", cô giao liên trong "Chiếc lược ngà", mẹ Suốt ở Quảng Bình- Vĩnh Linh, người mẹ Tà ôi trong "Khúc hát ru những em

bé lớn trên lưng mẹ" ôi, kể làm sao xiết những con người đã hy sinh thầm lặng, cống hiến cả

tuổi xuân, người thân và cuộc đời cho đất nước, Tổ Quốc thân yêu Những người phụ nữ ấychính là niềm tự hào của dân tộc, là niềm yêu mến, kính trọng của nhân dân, là biểu tượngcao đẹp mà Bác Hồ trao tặng tám chữ vàng:

"Anh hùng- Bất khuất- Trung hậu- Đảm đang."

Đi dọc chiều dài lịch sử dân tộc, không đâu là không thấy bóng dáng của người phụ nữViệt Nam; đi dọc chiều dài lịch sử thơ văn, không đâu là không thấy bóng những con ngườiđảm đang ,bất khuất Đúng như nhà thơ Tố Hữu đã từng ngợi ca xúc động chân thành:

"Chị em tôi toả nắng vàng lịch sử Nắng cho đời và cũng nắng cho thơ."

2.HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG THƠ CA NGUYỄN DU

a) Nguyên nhân vì sao thơ Nguyễn Du lại viết nhiều về người phụ nữ

Trang 25

Nhân vật văn học là con người Để hiểu nhân vật văn học không thể không tìm hiểu quan niệm về con người của tác giả cũng như quan niệm của cả thời đại và sự chi phối ủa quan niệm ấy đến việc khắc họa tính cách nhân vật.

Trong quan niệm về con người, Nguyễn Du đặc biệt chú ý tới hai loại người - người tài vàngười phụ nữ Chính ở đó, quan niệm của ông về con người chứa đựng những nét đặc sắcnhất Đồng thời, sắc thái tư duy Việt trong tư tưởng Nguyễn Du về con người cũng bộc lộ rõnhất khi ông thể hiện các quan niệm này Trước Nguyễn Du, trong văn học Việt Nam nóichung, trong quan niệm về con người nói riêng luôn đặt trọng tâm sự chú ý của xã hội vàongười quân tử, vào người làm quan, người có học vấn, bậc Nho sĩ Theo quan niệm của họ,chỉ nam giới mới được coi trọng, được đánh giá là có tài hay không có tài; cái tài chỉ được thểhiện qua con đường duy nhất là văn chương, thơ phú, cử nghiệp Nhưng tới Nguyễn Du, vàgần như đồng thời với ông là Hồ Xuân Hương, người tài không còn là độc quyền của namgiới nữa Hồ Xuân Hương đã làm một việc quan trọng, mở đường cho việc đưa hình tượngngười phụ nữ vào văn học và vào nhận thức của dân tộc giai đoạn cuối thế kỷ XVIII đầu thế

kỷ XIX, đó là phê phán tận gốc những mặt trái đằng sau hình tượng người quân tử theo quanniệm cũ, đưa những nhu cầu tình cảm, tâm lý, khát vọng sống của người phụ nữ lên thànhnhững quyền cơ bản của con người, có quyền và có giá trị bình đẳng với nam giới TớiNguyễn Du, ông đã làm tiếp một việc quan trọng nữa, và là sự kế tiếp như một quy luật tấtyếu, cần phải có trong sự tự nhận thức của dân tộc, đó là tôn vinh người phụ nữ như nhữngtinh hoa, anh tài của xã hội

Hình ảnh người phụ nữ đi suốt trong thơ Nguyễn Trãi:hình ảnh người vợ đầu của ông trongbài thơ Ký mộng và sau đó là những người mà Nguyễn Du gặp gỡ tại một thời điểm nào đónhư cô gái hái sen ở Hồ Tây, cô Cầm: người đàn bà gảy đàn ở Long Thành, người đẹp cáchtường cao, cô gái kéo nước giếng, người đàn bà giận chồng, cô gái cài hoa vàng, và ngườiđẹp ở đất Thăng Long, tiếp đến là những người đàn bà danh tiếng trong điển tích đượcNguyễn Du nhắc đến như Tiểu Thanh, hai bà phi Nga Hoàng và Nữ Anh vợ vua Ngu Thuấn,chị em Tiểu Kiều, Đại Kiều thời Tam quốc, ba người phụ nữ trung trinh tiết liệt trong TamLiệt Miếu, Dương Quí Phi, Ngu Cơ, Chiêu Quân Với những người đàn bà này, Nguyễn Dukhông tiếc lời khen ngợi và tỏ lòng quý mến Nhưng với người đàn bà lòng dạ ác độc thâmhiểm như vợ Tần Cối thì Nguyễn Du cũng không tiếc lời mỉa mai, châm biếm hết sức nặng

nề

Tình cảm Nguyễn Du dành cho người phụ nữ là xót thương vô hạn trước số phận của nhữngngười phụ nữ khổ đau, bất hạnh(trong số đó có vợ của các nhà thơ), căm ghét những phụ nữ

Trang 26

độc ác, quỷ quyệt

Trong tác phẩm của Nguyễn Du người phụ nữ được nhìn ở kênh thẩm mỹ khác mà cơ bản là

bi kịch, nghịch lí của những phẩm chất Sắc-Tài-Tình cùng những khát vọng, ý thức nhân văn

bị xã hội, cái ác, cái xấu tiêu diệt, chà đạp, truy đuổi Do đĩ, nĩ cĩ những miền giao thoa vớinhân vật hiền tài và tạo nên hệ thống mở với khả năng tạo nên sự cộng hưởng sâu rộng củanhiều thế hệ, tầng lớp độc giả với nhiều tầng bậc ý nghĩa Nhân vật nữ trong tác phẩmNguyễn Du tạo nên nhiều phân hệ, nhiều cấp độ và kênh thẩm mỹ tư tưởng khác nhau: Ngườiphụ nữ dân đen chịu đau khổ về áo cơm, đĩi rét, chết chĩc (Sở kiến hành, Trở binh hành );ngưỡi phụ nữ cĩ đạo đức, sắc đẹp, thủy chung nhưng chịu bi kịch (Vợ vua Thuấn, Ngu Cơ );người phụ nữ là hiện thân của bi kịch những năng lực phẩm chất bị hủy hoại, tàn diệt (TiểuThanh, cơ cầm ); người phụ nữ mang bi kịch của dân tộc và của nhân loại: Thúy Kiều Quanhân vật này, Nguyễn Du đã phát hiện ra con người cá nhân Nhưng khi vươn lên trổ nhữngbơng hoa của riêng mình, nĩ vẫn khơng tách khỏi cội rễ của đạo lí và văn hĩa Việt Nam Tức

là ở Thúy Kiều, cổ sự hài kết tự nhiên, thuyết phục giữa cái Tơi với cái Ta Đặc biệt hơn làqua cuộc đấu tranh của nhân vật Thúy Kiều với chính mình, ơng đã khai sinh ta con ngườingay trong con người Ý nghĩa tư tưởng, thẩm mĩ của nhân vật nữ trong tác phẩm củaNguyễn Du cĩ những nét khác với nhân vật nữ của các nhà văn cùng thời Nhân vật nữ trongtác phẩm của Nguyễn Du xuất hiện nhiều, đa dạng, phong phú với nhiều gĩc nhìn của tác giảtạo nên nhiều tầng bậc ý nghĩa Tự tưởng của Nguyễn Du qua nhân vật nữ cĩ tầm khái quátcao, trước hết là cho những giá trị văn hĩa, tư tưởng của con người Việt Nam, và đồng thời,qua đĩ tạo được những giá trị phổ quát của nhân loại Trong khi đĩ, nhân vật nữ trong tácphẩm của các nhà thơ khác như Hồ Xuân Hương, Nguyễn Gia Thiều thường xốy sâu vàomột khía cạnh nào đấy mang tính bi kịch ở phạm vi xã hội và nhân văn mang tính thời đạiđặc thù

b)Đặc điểm của hình tượng người phụ nữ trong thơ

Nguyễn Du

*Nét chung của người phụ nữ trong thơ Nguyễn Du

Qua phần “Hình tượng của người phụ nữ trong văn học Việt Nam” ở trên đã cĩ thể thấy rõmột điều rằng từ cổ chí kim, dù ở bất kì thời đại nào, giai đoạn nào: văn học dân gian, văn họctrung đại và cả văn học hiện đại, bĩng dáng thướt tha, yêu kiều mang theo những nét đẹp vềngoại hình lẫn tâm hồn của người phụ nữ vẫn luơn thấp thống ẩn hiện sau từng vần thơ, từngtác phẩm văn chương bất hủ Ca dao, tục ngữ vẫn luơn gắn liền với hình ảnh người phụ nữ Việt:

Trang 27

“Chân mày vòng nguyệt có duyên Tóc mây gợn sóng đẹp duyên tơ hồng”

Hay:

“Thân em như miếng cau khô Người thanh chuộng mỏng, người thô chuộng dày”

Điều đó càng chứng tỏ hình tượng người phụ nữ đã xuất hiện trong nển văn học nước nhà hay

từ khi nó hình thành Bắt đầu từ văn học dân gian, bước sang văn học trung đại, người phụ nữvẫn hiện lên với những nét đẹp nữ tính, uyển chuyển, thướt tha, dịu dàng muôn thuở Cùng vớingười phụ nữ là những mảnh đời bất hạnh của họ đã trở thành nguồn cảm hứng vô tận với cácthi nhân, văn nhân trong thời đại Trong số những nhà thơ hướng tới đề tài người phụ nữ ở giaiđoạn văn học trung đại, không thể không nhắc đến Nguyễn Du- đại thi hào của dân tộc – người

đã dành biết bao nhiêu tình yêu thương, sự đồng cảm, trân trọng và những giọt nước mắt xót xa

để tạc nên hình ảnh những người phụ nữ xinh đẹp, tài hoa nhưng cuộc đời đầy biến động Ông làmột trong số ít nhà thơ đương thời dám phá vỡ khuôn phép cứng nhắc của xã hội phong kiến,nâng người phụ nữ nhỏ nhoi từ vị trí thấp kém không hề có tiếng nói riêng lên một vị trí thật đặcbiệt – là trung tâm trong tác phẩm của mình Trong thơ ông, phẩm giá và khát vọng của ngườiphụ nữ đã được đề cao Ông thay họ lên tiếng cho chính cuộc sống của mình Và cũng chính từnhững dòng thơ đong đầy cảm xúc của Nguyễn Du đã phác họa nên những bức chân dung củangười phụ nữ Việt Nam với những nét chung sau:

*Ngoại hình và phẩm chất:

Nếu ai đã từng đọc qua thơ của Nguyễn Du đều phải thừa nhận rằng tất cả người phụ nữtrong tác phẩm của ông đều được xây dựng rất hoàn hảo về mặt ngoại hình Bằng sự sáng tạo vàliên tưởng độc đáo của mình, Nguyễn Du vẽ nên những mĩ nhân thời đại Mỗi người tuy có vẻđẹp khác nhau Có người được Nguyễn Du ưu ái dành cho những từ ngữ trau chuốt, những hìnhảnh tuyệt đẹp để làm nổi bật nhan sắc mĩ miều của người phụ nữ Như trong “Truyện Kiều”, nétđẹp của chị em Thúy Vân, Thúy Kiều được ông miêu tả rất chân thật và sống động:

“Vân xem trang trọng khác vời Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang Hoa cười ngọc thốt đoan trang Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da

Kiều càng sắc sảo mặn mà

So bề tài sắc lại là phần hơn Làn thu thủy, nét xuân sơn Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh”.

Trang 28

Thúy Kiều và Thúy Vân hiện lên với những vẽ đẹp thật hoàn mĩ, ngang tầm với cả vẻ đẹpcủa thiên nhiên và thậm chí làm cho thiên nhiên phải ghen tị, chịu thua kém lui xuống vị trí thứ

2, nhường lại vị trí “đệ nhất mĩ nhân” cho hai chị em Thúy Kiều Nàng Vân với nét đẹp nền nã,

sang trọng, thùy mị, dịu dàng Nét tròn đầy của khuôn mặt sánh với trăng, miệng cười xinh như

nụ hoa hé nở, làn tóc mềm mại, bồng bềnh khiến mây phải chào thua, da trằng đến mức tuyếtcũng phải nhường Còn nàng Kiều lại có đôi mắt trong sáng như nước mùa thu, chân mày uốnlượn như núi mùa xuân, tươi thắm đến mức hoa phải ghen, thướt tha khiến liễu phải hờn Vẻ đẹpcủa nàng được ông dùng những hình ảnh thiên nhiên tuyệt đẹp để phác họa nên một bức tranh

chân dung “nghiêng nước nghiêng thành” của hai nàng Kiều, Vân

Cũng có người không đẹp lộng lẫy khiến “hoa ghen, liễu hờn” như Thúy Kiều, không được

Nguyễn Du ưu ái dành cho những từ ngữ tuyệt đẹp để vẽ nên chân dung tuyệt sắc, nhưng nàng

Cầm trong “Long thành Cầm giả ca” đã cho thấy một cô gái tuổi đôi mươi đang e ấp nụ xuân

hồng phơi phới:

“Tuổi hăm mốt nõn nà lộng lẫy Gió xuân êm hây hẩy bộng đào”

Hay trong bài “Độc Tiểu Thanh ký” dù không hề có đoạn miêu tả chi tiết nhan sắc của nàng

Tiểu Thanh nhưng người đọc vẫn đang tưởng tượng ra một Tiểu Thanh thật đẹp, nhan sắc kiều

diễm, duyên dàng, mặn mà, tha thướt qua từ “son phấn”:

Trang 29

Dù là nét đẹp đoan trang, thùy mị hay lộng lẫy, sang trọng, sắc sảo Dù được miêu tả thậtnổi bật hay chỉ được miêu tả thoáng qua thì trong lòng độc giả vẫn vẽ nên cho riêng mình nhữngbức chân dung rất riêng của người phụ nữ đẹp Đó chính là nét chung tiêu biểu của hình tượng

người phụ nữ trong thơ Nguyễn Du Tất cả đều là những “tuyệt sắc giai nhân” in sâu trong lòng

người đọc hàng mấy thế kỉ qua

Người phụ nữ được Nguyễn Du xây dựng không chỉ đẹp về hình thức mà còn đẹp cả trongtâm hồn Kế thừa những nét đẹp truyền thống trong văn học dân gian, người phụ nữ trong thơNguyễn Du vẫn mang những phẩm chất tốt đẹp thuở ban đầu Chính điều đó đã tạo những ngườiphụ nữ hoàn thiện trong lòng người đọc

Ta có thể thấy một nàng Kiều xinh đẹp nhưng cũng không kém phần hiếu thảo Trong lúc bịbán vào chốn lầu xanh, cuộc đời chưa biết phải trôi dạt về đâu thế nhưng nàng không hề lo chobản thân mình trước tiên mà tấm lòng vẫn luôn lo lắng cho đấng sinh thành đang cô đơn, thángngày hiu quạnh, mòn mỏi ngóng trông tin nàng:

“Xót người tựa cửa hôm mai Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ Sân Lai cách mấy nắng mưa

Có khi gốc tử đã vừa người ôm”.

Thật đáng quý thay tấm lòng hiếu thảo của người con gái chẳng may vương mang phải “nợ hồng nhan” Nàng đã đứng ở lầu Ngưng Bích trông về xa xa nơi phía chân trời, nghĩ đến cảnh

người mẹ già đêm ngày tựa cửa trông con về mà lòng nghe chua xót Nàng trách mình không thể

ở bên chăm sóc “cơm bưng nước rót”, “quạt nồng ấp lạnh” cho cha mẹ khi “tuổi già bóng xế”.

Chỉ hiếu thảo thôi vẫn chưa đủ làm nên một nàng Kiều hoàn thiện Trong nàng còn có cả sự

chung thủy với người mình yêu Dù biết thân phận mình đã như “hoa trôi bèo dạt” vào chốn lầu

xanh vẩn đục nhưng nàng vẫn luôn hướng về Kim Trọng với tất cả tình yêu nồng thắm, chânthành, tha thiết và cả tấm lòng son sắt, thủy chung:

“Tưởng người dưới nguyệt chén đồng Tin sương luống những rày trông mai chờ

Bên trời góc bể bơ vơ Tấm son gột rửa bao giờ cho phai”

Thúy Kiều đã khẳng định một điều rằng dù cho bất cứ chuyện gì xảy ra, tấm lòng nàng, tráitim nàng vẫn chỉ yêu mình Kim Trọng và chỉ duy nhất mình chàng mà thôi, trọn đời trọn kiếpnguyện mãi chung tình, thậm chí cho đến kiếp sau:

“Biết bao duyên nợ thề bồi Kiếp này thôi thế thì thôi con gì?

Tái sinh chưa dứt hương thề Làm thân trâu ngựa đền nghì trúc mai

Nợ tình chưa trả cho ai Khối tình mang xuống tuyền đài chưa tan”.

Không những thế nàng còn là một người phụ nữ đức hạnh, coi trọng trinh tiết – một trongnhững nét đẹp truyền thống, tứ đức của người phụ nữ xưa: công, dung, ngôn, hạnh Khi Kiều vì

Trang 30

đã phải lòng Kim Trọng, quá nhớ thương, nàng đã “xăm xăm băng lối vườn khuya một mình”.

Dù biết mình làm như vậy là đi ngược lại với gia giáo của người con gái khuê các trong xã hộiphong kiến, thậm chí là điều tuyệt đối nghiêm cấm Thế nhưng, không vì thế mà nàng dễ dãi,

đánh mất danh dự, phẩm giá, trinh tiết của mình bởi lẽ nàng “vì hoa nên phải đánh đường tìm hoa” Đó là một lí do chính đáng và nàng cần được người mình yêu tôn trọng Khi “sóng tình dường đã xiêu xiêu” thì Kim Trọng lại “Xem trong âu yếm có chiều lả lơi” nhưng đã bị Kiều

thẳng thắn cự tuyệt:

“Thưa rằng: “Đừng lấy làm chơi

Dẽ cho thưa hết một lời đã nao!

Vẻ chi một đóa yêu đào, Vườn hồng chi dám ngăn rào chim xanh.

Đã cho vào bậc bố kinh, Đạo tòng phu lấy chữ trinh làm đầu.

Ra tuồng trên Bộc, trong dâu, Thù con người ấy ai cầu làm chi!

Phải điều ăn xổi ở thì, Tiết trăm năm nỡ bỏ đi một ngày!”

Lời cự tuyệt vừa nhẹ nhàng vừa cứng rắn đã cho thấy đức hạnh cao quý của Kiều

Khi biết mình bị bán cho tên Mã Giám Sinh, tấm thân ngọc ngà nay đã nhuốc nhơ, nàng xấu

Nhắc đến người phụ nữ Việt là nhắc đến đức hi sinh cao cả Họ là những người mẹ, người

vợ, người con sẵn sàng cam chịu, gánh lấy mọi khổ đau, tủi cực để mong cho những người mìnhyêu thương được hạnh phúc mà không hề oán than nửa lời Đó chính là đức tính đáng quý nhất,cao đẹp nhất và cũng đáng để để tự hào nhất về người phụ nữ Việt từ ngàn xưa Thuở xưa, cadao có câu:

“Con cò lặn lội bờ sông Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non

Nàng về nuôi cái cùng con

Để anh đi trẩy nước non Cao Bằng”.

Tiếp đến văn học trung đại, cụ thể là trong thơ Nguyễn Du đã xuất hiện hình ảnh nàng Kiềuhiếu thảo, chung tình Khi hiếu tình không thể vẹn cả đôi đường, nàng chấp nhận hi sinh chữ tình

Trang 31

và chính tấm thân “quốc sắc thiên hương” ra để người ta trả giá mong cứu lấy cha già khỏi vòng

lao lý, đền ơn sinh thành:

“Cò kè bớt một thêm hai Giò lâu ngã giá vàng ngoài bốn trăm”

Nàng vì chữ “hiếu” đành chấp nhận hi sinh thân mình mà không hề ân hận hay ca thán nửa

lời:

“Cội xuân tuổi hạc càng cao Một cây gánh vác biết bao nhiêu cành

Lòng tơ dù chẳng dứt tình Gió mưa âu hẳn tan tành nước non Thà rằng liều một thân con, Hoa dù rã cánh lá còn xanh cây”.

Không những thế, vì chữ “hiếu”, nàng phải đan tâm đem chữ “tình” mà nàng đã từng “thề non hẹn biển”, từng sắt son chung thủy chung thủy một lòng trao cho Thúy Vân mà lòng đau

như cắt:

“Ngày xuân em hãy còn dài Xót tình máu mủ, thay lời nước non Chị dù thịt nát xương mòn Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây Chiếc vành với bức tờ mây Duyên này thì giữ vật này của chung”.

Sự hi sinh đó đâu phải chỉ có ở riêng Thúy Kiều mà ngay trong cả những con người khốnkhổ mà Nguyễn Du tình cờ gặp trên đường đi sứ sang đất Bắc Đó chính là người mẹ hết lòng vìcon, sẵn sàng nhường miếng ăn, sự sống cho những đứa con trong lúc đói rét cùng cực mà quên

đi sự sống chết của bản thân:

“Chết lăn rãnh đến nơi Thịt da béo cầy sói

Mẹ chết có tiếc gì, Thương đàn con vô tội, Nỗi đau như xé lòng Trời cao có thấu nỗi”

(Sở kiến hành)Những phẩm chất cao quý trên không phải chỉ của riêng Thúy Kiều hay người mẹ phương

Bắc trong “Sở kiến hành” mà còn là của hàng vạn người phụ nữ Việt từ xưa đến nay Sự sắc son,

chung thủy trong tình yêu, lòng hiếu thảo với cha mẹ, đức hi sinh vì người khác để làm nênnhững người phụ nữ vừa đẹp về ngoại hình vừa đẹp cả trong tâm hồn và nhân cách, khiếnNguyễn Du phải ngưỡng mộ đến mức thốt lên rằng:

“Mai cốt cách tuyết tinh thần”

Trang 32

Quả thật, những hình tượng người phụ nữ trong thơ Nguyễn Du nói riêng và người phụ nữViệt Nam nói chung đều có dáng vẻ thật thanh cao của mai và tâm hồn lúc nào cũng sáng trongnhư tuyết trắng mùa đông khiến cho hậu thế ngàn sau vẫn phải trầm trồ, ngưỡng mộ.

*Tài năng và số phận

Nguyễn Du là một đại thi hào rất tài hoa của Việt Nam và thế giới Đặc biệt, tài viết vănxuất sắc của ông đã làm nên những tác phẩm văn chương với những thành công rực rỡ, để lạicho nền văn học Việt Nam và thế giới.Những áng văn chương đậm tính nhân văn, những sảnphẩm tinh thần đồ sộ là sự kết tinh từ tài năng và nhân cách của Nguyễn Du đã lưu truyền đếnngàn đời sau, hậu thế vẫn luôn nhớ đến và say mê ngưỡng mộ Xuất phát từ chính tài năng củabản thân thế nên những người phụ nữ trong thơ ông đều là những con người tài hoa Trong hầuhết các tác phẩm có nhân vật chính là người phụ nữ của ông, Nguyễn Du đã xây dựng họ trởthành những con người hoàn hảo Chúng ta đều biêt rõ rằng con người không có ai là người toàndiện Mỗi người đều có những ưu và những khuyết điểm riêng Có người xinh đẹp nhưng lại ngungốc, bất tài Cũng có người tài giỏi nhưng lại kém nhan sắc hoặc là có tài năng và sắc đẹp thì lạimất đi tâm hồn trong sáng, mất đi trái tim nồng ấm biết đập những nhịp yêu thương, trở thành

người vô tình vô nghĩa Bởi thế, người xưa mới có câu: “Nhân vô thập toàn”, con người không

ai hoàn hảo cả Người từng trải như Nguyễn Du chắc chắn hiểu rõ được quy luật của cuộc đời.Thế nhưng, dường như ông cố tình làm trái lại với điều đó Nguyễn Du đã xây dựng hình tượngngười phụ nữ khác hẳn với quy luật tự nhiên Họ đều là những con người tài năng xuất chúng

“tài sắc vẹn toàn” lại có nhân cách thanh cao Quả là những con người hoàn mĩ: “Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười”.

Nói đến tài năng, người xưa xet về bốn phương diện: cầm, kì, thi, họa thì những người phụ

nữ trong thơ ông đều tài giỏi ở hầu hết các phương diện, mỗi người phụ nữ là một tài năng ở một

lĩnh vực và tất cả đều rất kiệt xuất, có thể nói không ai sánh bằng Như nàng Cầm trong “Long thành Cầm giả ca” đã được trời ban cho tài đàn ca xuất chúng từng nổi tiếng khắp thành Thăng

Long thuở ấy, khiến cho ai nghe cũng phải say đắm ngẩn ngơ:

“Đàn cầm thánh thót mấy dây Khắp thành que miệng gọi ngay Nàng Cầm “Cung Phụng Khúc” xưa ngâm trong Nội Phổ nên chương tiếng nổi một thời”.

Ngón đàn của nàng thật điêu luyện làm sao! Âm thanh bổng trầm, ủ rũ hay vui tươi đềutheo ngón tay trắng nõn nà của nàng vang lên khiến người nghe cảm nhận tim mình như đangtan chảy:

“Men tô duyên não nùng sao

Nỉ non năm tiếng thấp cao tuyệt vời Theo tay ngọc lòng người ủ rũ Tiếng bổng trầm to nhỏ miên man Khoan như gió lướt thông ngàn Trong như tiếng hạc lạc đàn kêu sương

Trang 33

Mạnh như sấm phũ phàng xé đá Tiến Phúc bia nổ ầm ầm

Buồn như khúc Việt ai ngâm Nỗi lòng Trang Tích âm thầm mà đau”.

Từng cung bậc vang lên trầm bổng, khoan nhặt, lúc trong trẻo mềm mại, khi lại như tiếng

nổ ầm ầm tạo nên những khúc nhạc buồn thê lương miên man làm người nghe như bị cuốn vàotừng tiếng tơ đồng, nghe mãi mà vẫn không chán:

“Điệu êm ấm nghe lâu chẳng mỏi Chính khúc này Đại Nội triều xưa Tây Sơn quân tướng thẫn thờ Ngả nghiêng đến sáng còn chưa thỏa lòng”.

Còn đối với nàng Tiểu Thanh trong “Độc Tiểu Thanh ký” vừa xinh đẹp lại vừa có tài làm

thơ Nàng đã sáng tác ra cả một tập thơ trong thời gian bị giam lỏng ở Tây Hồ Thế nhưng khimất đi, tập thơ trên đã bị người vợ cả nhẫn tâm đốt bỏ, chỉ còn lại vài mảnh giấy tàn còn sót lại:

“Văn chương vô mệnh lụy phần dư”

(Văn chương không mệnh đốt còn vương).

Và khi đến với “Truyện Kiều” thì đó lại là một bức chân dung lớn về những con người tài hoa và nhan sắc Nàng Đạm Tiên là một ca nhi“tài sắc nổi danh một thời”:

“Vương Quan mới dẫn gần xa:

Đạm Tiên nàng ấy xưa là ca nhi Nổi danh tài sắc một thì Xôn xao ngoài cửa hiếm gì yến anh”.

Nàng Đạm Tiên chỉ là một ca nữ nhỏ bé, lại chỉ là nhân vật phụ trong “Truyện Kiều” của

Nguyễn Du thế mà vẫn được ông xây dựng thành một người phụ nữ tài hoa và xinh đẹp Từ đócho thấy Nguyễn Du muốn vẽ nên một bức tranh thu nhỏ của xã hội phong kiến, tuy nghiệt ngã,bất công nhưng trong đó luôn tồn tại những người phụ nữ tài hoa, nhan sắc, dù họ là tiểu thưquyền quý hay ca nữ tầm thường nơi chốn lầu xanh Đó cũng chính là sự trân trọng cái tài và vẻđẹp đồng thời là tình yêu mà Nguyễn Du dành cho người phụ nữ Việt Nam ở thời đại phong kiếntrong chính tác phẩm của mình

Nhưng trong “Truyện Kiều” đâu phải chỉ có mình Đạm Tiên là người tài hoa mà nhân vật

chính Thúy Kiều lại tài hoa gấp bội phần Dường như bao tinh hoa của con người tài năng đềuhội tụ ở nơi nàng Kiều Nguyễn Du đã vẽ nên một nàng Kiều đệ nhất giai nhân và tài hoa cũngxếp vào hàng kiệt xuất thế gian như lời Đạm Tiên đã nhận xét:

“Xem thơ nức nở khen thầm:

Giá đành tú khẩu cẩm tâm khác thường!

Ví đem vào tập đoạn trường Thì treo giải nhất chi nhường cho ai!”

Nhắc đến tài năng của Kiều, nổi bật nhất là tài đánh đàn Tài cầm của nàng thuộc bậc “đệ nhất thiên hạ” Tài năng đó được hình thành ngay từ lúc nhỏ nên vô vùng thành thục và điêu luyện Sáng tác nổi tiếng nhất của nàng là bản “Bạc mệnh”:

Trang 34

“Thông minh vốn sẵn tính trời Pha nghề thi họa đủ mùi ca ngâm Cung thương làu bậc ngũ âm Nghề riêng ăn đứt Hồ cầm một trương Khúc nhà tay lựa nên chương Một thiên Bạc mệnh lại càng não nhân”.

Tiếng đàn của nàng chẳng kém gì nàng Cầm trong bài “Long thành Cầm giả ca” Mỗi bài

cầm đều mang những cung bậc bổng trầm, ngân vang da diết như len lỏi sâu vào từng ngõ ngáchtrong tâm hồn người nghe:

“Trong như tiếng hạc bay qua, Đục như tiếng suối mới sa nửa vời Tiếng khoan như gió thoảng ngoài, Tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa”.

Tiếng đàn của nàng như một bản hòa quyện giữa các âm thanh tự nhiên trong trời đất Tiếngtrong, tiếng đục, khi khoan, khi nhặt như để kể cho người nghe những câu chuyện bi thương:

“So vần dây vũ dây văn Bốn dây to nhỏ theo vần cung, thương Khúc đâu Hán Sở chiến trường Nghe ra tiếng sắt, tiếng vàng chen nhau Khúc đâu Tư Mã Phượng cầu Nghe ra như oán, như sầu phải chăng?

Kê Khang này khúc Quảng Lăng, Một rằng Lưu Thủy, hai rằng Hành vân Quá quang này khúc Chiêu Quân, Nửa phần luyến chúa, nửa phần tư gia”.

Hầu hết những bài cầm của Kiều đều mang một nỗi buồn da diết, thê lương chứ không vuitươi, sôi nổi như lứa tuổi thanh xuân ngập tràn sức sống của một tiểu thư khuê các Đó như làkhúc ca của chính cuộc đời sóng gió, thăng trầm sắp xảy đến với Kiều trong một ngày không xa.Từng cung bậc vang lên như chứa đựng vạn giọt lệ sầu bi thương, đem đến cho người thưởngthức nỗi buồn tê tái, khiến họ phải chau mày, ngẩn ngơ:

“Ngọn đèn khi tỏ khi mờ, Khiến người ngồi đó cũng ngơ ngẩn sầu

Khi tựa gối, khi cuối đầu Khi vò chín khúc, khi chau đôi mày Rằng: “Hay thì thật là hay, Nghe ra ngậm đắng nuốt cay thế nào!

Lựa chi những bậc tiêu tao, Dột lòng mình, cũng nao nao lòng người”.

Và ngay cả kẻ mặt sắt như Hồ Tôn Hiến cũng phải rơi châu:

“Ve ngâm, vượn hót, nào tày,

Trang 35

Lọt tai, Hồ cũng nhăn mày, rơi châu Hỏi rằng: “Này khúc ở đâu?

Nghe ra muôn oán nghìn sầu lắm thay”.

Không chỉ có tài cầm hay mà tài thi của nàng cũng rất tài tình Khi Kim Trọng mời nàng đềtên cho bức họa vừa vẽ xong, Kiều đã thể hiện được tài văn chương xuất sắc của mình:

“Tay tiên gió táp mưa sa Khoảng trên, dừng bút thảo và bốn câu”.

Khiến Kim Trọng phải ngưỡng mộ:

“Khen: “Tài nhả ngọc phun châu, Nàng Ban, ả Tạ cũng đâu thế này!”

Có thể nói, những người phụ nữ trong thơ của Nguyễn Du đều là những con người “tài sắc vẹn toàn”, “cầm, kì thi họa” đều tinh thông Tài năng “đệ nhất thiên hạ” đã làm cho những

người phụ nữ thêm tỏa sáng và không còn thấp kém, vô giá trị trong xã hôi phong kiến cũ Đâychính là cách ông trân trọng giá trị của người phụ nữ, nâng họ lên một vị trí mới cao hơn, khiến

cho họ trở thành những con người “mười phân vẹn mười”.Sự tài hoa của họ không chỉ khiến

người đương thời ngưỡng mộ mà hậu thế ngàn năm sau cũng phải trầm trồ thán phục

Những người phụ nữ trong thơ Nguyễn Du “tài sắc vẹn toàn” là thế nhưng cuộc sống của

họ lại nhiều nỗi truân chuyên Đúng là không có ai được toàn vẹn về mọi thứ Con người đượcthứ này thì bắt buộc phải mất đi thứ khác Những người phụ nữ trong thơ ông dù tài sắc đến đâuvẫn không thể thoát khỏi quy luật khắc khe của cuộc đời Tất cả những người phụ nữ xinh đẹp,tài năng đều có cuộc đời sóng gió, đau thương Có lẽ, số phận của học chỉ có thể tóm gọn tronghai chữ “bạc mệnh”:

“Anh hoa phát tiết ra ngoài Nghìn thu bạc mệnh một đời tài hoa”.

Nàng Tiểu Thanh tài thơ văn hơn người, tuổi xuân phơi phới thế mà đường tình duyên lạilận đận, phải làm vợ lẻ cho người, hạnh phúc không trọn vẹn Lại bị người vợ lớn hành hạ, đàyđọa, bị giam lỏng nơi Tây Hồ hoang vắng, tuổi xuân bị khóa kín, tràn đầy một nỗi cô đơn, lạclỏng và cuối cùng chết khi tuổi mới đôi mươi Lẽ ra, người tài hoa như nàng đáng lẽ phải đượchưởng cuộc sống hạnh phúc đến trọn đời thế nhưng cuộc sống không cho ai toại nguyện Cuốicùng, nàng vẫn phải chết tong bao nỗi cô đơn, uất hận, nỗi đau thương mang xuống hoàng tuyềnvẫn chưa tan Ngay cả những tác phẩm văn chương là minh chứng cho tài năng của nàng để lạicho đời cũng không được toàn vẹn, chỉ còn lại những mảnh giấy tàn dang dở:

“Son phấn có thần chôn vẫn hận Văn chương không mệnh lụy phần dư”

Hầu hết cuộc đời của những người phụ nữ tài hoa trog thơ ông đều chia thành hai giai đoạn

lớn: thời vàng son rực rỡ và thời tàn lụi, đau thương Như cuộc đời của nàng Cầm trong “Long thành Cầm giả ca” Thuở còn trẻ đẹp, xuân sắc, tài nghệ xuất chúng, quân Tây Sơn đang lúc

thắng trận nên cuộc đời nàng như được trải thảm nhung lấp đầy hoa hồng đón từng bước chânnàng đến Cuộc đời ngập tràn môt màu sắc tươi sáng, tưởng chừng như đã đi đến đỉnh cao củahạnh phúc khi được người trâng trọng, nâng niu, chiều chuộng, quý như vàng như ngọc:

Trang 36

“Quăng lục thương tây đông tíu tít Vàng tựa bùn cứ việc vung tay Công hầu hào khí đua say Ngũ lăng niên thiếu một bày sói chi Dạo khúc xuân diễm kì lả lướt Băm sáu cung thánh thót xinh xinh Tràng An treo ngọc liên thành Phẩm cao vô giá tài tình riêng ai”.

Tài năng xuất chúng, xinh đẹp, được nhiều người mến mộ nên tiền của dư thừa, nhiều đếnmức tựa bùn vung vãi, cuộc sống thật sung túc Không ngờ, chỉ sau hai mươi năm sau, quân TâySơn thua trận, nàng Cầm nổi danh khắp thành Thăng Long xưa kia giờ đã thay đổi qua nhiều.Theo bước đi của thời gian, nhan sắc kiều diễm trước kia nay đã xác xơ, tiều tụy:

“Một nàng đầu tốc hình dung bơ phờ Mình gầy võ mày thưa duyên nhạt

Ai biết nàng oanh liệt xưa kia”.

Tuy tài đàn vẫn điêu luyện như trước nhưng mỗi khúc ca như đượm một nỗi sầu đauthương:

“Khúc đâu lệ chảy đầm đìa Người nghe những đê mê xót thầm”.

Quả là cuộc đời thật khắc nghiệt, xã hội thật bất công đã vùi dập con người đến mức tàn tạ,xác xơ Từ một người có giá ngọc liên thành sau 20 năm, trải qua bao cuộc binh biến, người đờingoảnh mặt quay lưng, nàng giờ chỉ như cái xác không hồn, không chút giá trị khiến cho ta phảingậm ngùi thương xót cho một thân phận hồng nhan tài hoa nhưng lắm nỗi truân chuyên:

“Thành tàn duyên cũng xác xơ Ngậm ngùi mấy cuộc biển mờ dâu xanh Rồi một sớm bại thành là thế

Càm khúc ca Trời để một người Trăm năm một thoáng bao dài Ngậm ngùi chuyện cũ cho đời buồn đau”.

Cuộc đời nàng Cầm đã bi thảm, cuộc đời của nàng KIều còn bi thảm hơn gấp bội phần.Nàng Kiều là một bức chân dung tiêu biểu cho những con người tài hoa nhất trong thiên hạ.Nhưng số phận của nàng lại nhuộm một màu đen tối, bị sóng gió cuộc đời bao vây và dường nhưkhông có lối thoát Cả cuộc đời nàng đã phản ánh tất cả mọi điều xấu xa của xã hội phong kiếnđương thời, của lòng người đen bạc Cuộc của Kiều củng có hai giai đoạn lớn: lúc bình yên vàthời sóng gió Sinh ra trong một gia đình khá giả, từ lúc nhỏ nàng đã sống một cuộc sống sung

túc, “ăn ngon mặc đẹp”, nhung gấm lụa là của một tiểu thư khuê các:

“Thâm nghiêm kín cổng cao tường, Cạn dòng lá thắm, đứt đường chim xanh”

“Mấy làn cửa đóng, then cài”,

Trang 37

Cuộc sống của nàng cứ bình lặng trôi đi cho đến một ngày, nàng phải lòng chàng KimTrọng, rồi yêu nhau tha thiết đến mức cùng nhau thề non hẹn biển, chung tình với nhau đến bạcđầu:

“Tiên thề cùng thảo một trương, Tóc mây một món, dao vàng chia đôi Vầng trăng vằng vặc giữa trời, Đinh ninh hai miệng một lời song song

Tóc tơ căn vặn tấc lòng, Trăm năm tạc một chữ “đồng” đến xương Chén hà sánh giọng quỳnh tương, Dải là hương lộn, bình gương bóng lồng”.

Những tưởng cuộc tình của nàng và Kim Trọng sẽ có ngày đơm hoa kết quả, không ngờsóng gió bắt đầu nổi lên, báo trước một cuộc đời đầy trắc trở, khổ đau như một giấc mộng kinhhoàng của Kiều cũng sắp bắt đầu Tháng ngày sống yên bình trong thân phận một tiểu thư giagiáo, đài các đã chính thức chấm dứt khi cả nhà Kiều bị tên bán tơ vu oan giá họa khiến cha và

em trai nàng bị bắt giam:

“Người nách thước, kẻ tay đao Đầu trâu, mặt ngựa, ào ào như sôi Già giang một lảo, một trai Một dây vô lại buộc hai thâm tình”.

Nhìn thấy cảnh cha già cùng người em thơ dại của mình bị đánh đập, hành hạ đến “đau đớn rụng rời” mà tim nàng như ngàn mũi kim đâm Nàng biết rất rõ quan lại “làm cho khốc hại chẳng qua vì tiền” Thế nên, hơn ai hết, nàng biết mình nên làm gì cứu cha Thế nhưng, điều làm nàng đau đớn và khó xử nhất chính là phải cầm cán cân để quyết định “bên tình, bên hiếu, bên nào nặng hơn?” Nàng đang đứng trước giữa người thân và người tình, ai cũng là người nàng

yêu quý và quan trọng nhất với nàng trên cuộc đời Nhưng đến cuối cùng vẫn phải chọn một vànàng đã đành phải quyết định bán thân chuộc cha:

“Để lời thề hải minh sơn Làm con, trước phải đền ơn sinh thành”.

Dù biết rằng lòng nàng rất đau đớn khi phải phụ đi tấm chân tình của Kim Trọng, phá vỡ đitình yêu trong sáng, thủy chung sâu nặng nhưng nàng vẫn chọn cách làm trọn đạo làm con vớiđấng sinh thành Nàng đành phải đem mối duyên tình trao lại cho Thúy Vân mà trong lòng đaunhư đứt từng đoạn ruột, thốt lên những câu ai oán nghe thật xót xa:

“Ôi Kim lang! Hỡi Kim lang!

Thôi thôi! Thiếp đã phụ chàng từ đây!”

Nàng đâu biết rằng cuộc đời nàng sắp đi vào ngõ tối, cơn sóng gió lớn sắp ập đến bủa vâylấy cuộc đời nàng khiến nàng phải lưu lạc suốt 15 năm Nàng chấp nhận bán thân với giá bốntrăm lạng vàng để chuộc cha Thân phận nàng từ đó trôi nổi bấp bênh, như một món hàng đểngười ta rao bán Đầu tiên, nàng bị bán cho Mã Giám Sinh:

“Xót nàng chút phận thuyền quyên

Trang 38

Cành hoa đem bán vào thuyền lái buôn”.

Sau đó, tên Mã Giám Sinh lại xảo quyệt, bỉ ổi, lừa bán nàng vào chốn lầu xanh ô nhục:

“Con kia đã bán cho ta Nhập gia thì phải phép nhà ta đây”.

Từ đó, nàng phải sống những tháng ngày tủi cực, nhục nhã, nhơ nhuốc, sớm thân mật vớingười này, tối lại vui vẻ trong tay kẻ khác, tấm thân ngà ngọc, trắng trong, đài các xưa kia nay lại

hồn, hết cười nói với người khách này rồi lại vui đùa với người khách nọ Cho đến khi nàng gặpThúc Sinh, một chàng trai thư sinh, hào phóng Hai người dần dần càng tâm đầu ý hợp, gắn bóbên nhau không thể tách rời:

“Khi gió gác, khi trăng sân Bầu tiên chuôc rượu, câu thần nối thơ Khi hương sớm, khi trà trưa, Bàn vây điểm nước, đường tơ họa đàn Miệt mài trong cuộc truy hoan Càng quen thuộc nết càng dan díu tình”.

Nhưng cuộc vui chóng tàn, tháng ngày đau khổ, tủi nhục của Kiều lại bắt đầu và lần nàysóng gió lại càng dữ dội hơn bởi lẽ Kiều đang bước chân vào cuộc chiến tình trường khốc liệtvới Hoạn Thư – người vợ cả của Thúc Sinh và là con của nhà quan lại quyền quý Sau khi ThúcSinh vì quá say mê tài năng nên đã bỏ tiền ra cuộc Kiều mong cưới nàng về làm vợ nhưng cuốicùng bị Hoạn Thư phát hiện, sai Ưng, Khuyển bắt đem về hành hạ nhẫn tâm:

“Trúc côn, ra sức đập vào, Thịt nào chẳng nát, gan nào chẳng kinh!”.

Trang 39

Không dừng lại ở đó, Hoạn Thư còn ép nàng xuống làm kiếp nô tì thấp hèn trong nhà không

chút thương tâm Quả là “độc ác nhất là lòng dạ đàn bà”:

“Hoa nô truyền dạy đổi tên Buồng the, dạy ghép vào phiên thị tỳ

Ra vào theo lũ thanh y Dãi dầu tóc rối, da chì quản bao!”

Từ một người con gái khuê các, từng có kẻ hầu người hạ kề cận, chăm sóc chu đáo từ bữa

ăn, giấc ngủ thế mà nay lại phải cúi đầu làm con hầu cho người khác:

“Sớm khuya khăn mặt, lược đầu, Phận con hầu, giữ con hầu, dám sai”.

Đó chính là một nỗi nhục nhã không thể rửa sạch, một bi kịch cay đắng đối với một tiểu thưđoan trang, con nhà trâm anh đài các như Kiều Không dừng lại ở đó, Hoạn Thư còn nham hiểmhơn khi trả thù nàng bằng cách nàng hầu hạ trà rượu, đánh đàn cho vợ chồng Thúc Sinh cười đùavui vẻ bên nhau Chứng kiến cảnh người mình yêu mặn nồng, ân ái với người khác, trong lòngsao tránh khỏi nỗi xót xa, trái tim đau đớn như tan thành từng mảnh Từng tiếng đàn vang lênnhư những lời oán than, nức nở nghẹn ngào thương cho duyên nợ long đong của mình:

“Bốn dây như khóc như than, Khiến người trên tiệc cũng tan nát lòng!

Cùng trong một tiếng tơ đồng, Người ngoài cười nụ, người trong khóc thầm”.

Sau đó, Hoạn Thư bắt Kiều vào ở Quan Âm Các viết kinh nhưng Kiều đã trốn được rangoài Nàng gặp được sư Giác Duyên và được sư giúp đỡ cho ở lại chùa, lánh xa sự đời Nhữngtưởng sóng gió đã yên, không ngờ, nợ hồng trần nàng chưa trả hết, số kiếp đoạn trường vẫn chưa

buông tha cho Kiều Giác Duyên gửi nàng cho Bạc bà chăm sóc Nhưng “Nào ngờ cũng tổ bợm già/ Bạc bà học với Tú bà đồng môn!” Thế nên khi “Thấy nàng mặn phấn, tươi son” thì đã

“Mừng thầm được mối bán buôn có lời” Chính vì vậy, thêm một lần nữa, nàng bị bán vào lầu xanh, tiếp tục sống những tháng ngày dài tủi nhục Quả là “Phận sao phận bạc như vôi/ Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng” Cuộc đời tưởng chừng không lối thoát cho đến khi nàng gặp

Từ Hải – một anh hùng đầu đội trời, chân đạp đất, tài ba hơn người:

“Râu hùm, hàm én, mày ngài Vai năm tấc rộng, thân mười thước cao Côn quyền hơn sức, lược thao gồm tài

Đôi trời đạp đất ở đời,

Họ Từ tên Hải, vốn người Việt Đông”.

Cảm mến tài năng, đức hạnh và thượng cho số phận trôi nổi, bi thương của Kiều, Từ Hảiđem tiền chuộc Kiều ra khỏi chốn lầu xanh và cưới về làm vợ:

“Ngỏ lời nói với băng nhân Tiền trăm lại cứ nguyên ngân phát hoàn!”

Trang 40

Quả là “Trai anh hùng, gái thuyền quyên/ Phỉ nguyền sánh phượng, đẹp duyên cưỡi rồng”.

Kiều và Từ Hải sống những tháng ngày “hương lửa mặn nồng”, chàng lại lập công danh hiểnhách, tháng ngày vinh hoa Từ Hải lại giúp Kiều báo ân báo oán:

“Từ rằng: “Ân oán hai bên Mặc nàng xử quyết báo đền cho minh”

Vốn người trọng nhân nghĩa, Kiều theo lời quyết định báo ân trước, trả thù sau Nàng báo

ân cho Thúc Sinh, bà quản gia, sư Giác Duyên rất hậu: “Gấm trăm cuốn, bạc nghìn cân” Đồng

thời, nàng cũng quyết tâm trả thù rất công minh những kẻ đã đẩy cuộc đời nàng vào ngõ tối

Nàng mỉa mai, dùng những lời đanh thép buôc tội Hoạn Thư, khiến “Hoạn Thư hồn lạc, phách xiêu/ Khấu đầu dưới trướng liệu điều kêu ca” Và cuối cùng, vì lòng nhân hậu nên Kiều đã tha

cho Hoạn Thư Nhưng riêng với Tú bà, Ưng , Khuyển, Mã Giám Sinh, Sở Khanh, Bạc bà, BạcHạnh, những kẻ đã từng vùi dập cuộc đời nàng xuống bùn lầy nhơ nhuốc, nhục nhã, nỗi cămghận dâng đến ngất trời, nàng quyết không tha, truyền lệnh gia hình:

“Lệnh quân truyền xuống nội đao Thề sao, thì lại cứ sao gia hình Máu rơi, thịt nát, tan tành

Ai ai trông thấy hồn kinh phách rời”.

Việc nàng báo ân, báo oán rất phân minh đã phản ánh rõ quy luật của cuộc đời “gieo gió gặt bão”:

“Cho hay muôn sự tại trời Phụ người, chẳng bỏ khi người phụ ta!

Mấy người bạc ác, tinh ma, Mình làm, mình chịu kêu mà ai thương!”

Đây cũng chính là sự táo bạo trong thơ Nguyễn Du, trong xã hội phong kiến xưa, người phụ

nữ không hề có tiếng nói Nhưng trong thơ ông, người phụ nữ vượt ra ngoài khuôn khổ khắcnghiệt của xã hội, chẳng những có thể lên tiếng đòi quyền tự do, quyền sống, tố cáo xã hội xấu

xa mà còn có thể trở thành một quan tòa công chính, ân oán phân minh, tự mình đền ơn báo thùvới những người có công và có tội mà không cần phải thông qua ai cả Tuy họ chỉ là nhữngngười phụ nữ bình thường, chân yếu tay mềm nhưng họ vẫn có thể đưa ra những quyết định dứtkhoát, nghiêm minh chẳng kém gì đấng nam nhi Đó chính là nét độc đáo trong hình tượngngười phụ nữ phong kiến trong thơ Nguyễn Du mà trước đó vẫn chưa xuất hiện

Tiếc thay! Cuộc vui chóng tàn Tháng ngày vợ chồng ân ái mặn nồng sớm kết thúc Vì mắcmưu Hồ Tôn Hiến, Từ Hải chết đứng giữa chiến trận Còn Kiều bị Hồ Tôn Hiến bắt hầu đàn suốtđêm, tiết hạnh, danh phẩm bị chà đạp:

“Bắt nàng thị yến dưới màn Giở say lại ép vặn đàn nhặt tâu Một cung gió tủi mưa sầu Bốn dây rỏ máu năm đầu ngón tay”.

Thế rồi, đến khi tỉnh rượu, Hồ Tôn Hiến nhớ ra mọi chuyện xấu xa, đê tiện của bản thân, lại

sợ “quan trên trông xuống, người ta trông vào” sinh lời đàm tiếu, hắn bèn vội vã ép gả Kiều cho

Ngày đăng: 23/04/2022, 21:55

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình Ảnh  Người  Phụ - chuyen de nguyen du
nh Ảnh Người Phụ (Trang 1)
Quả thật, hình ảnh người phụ nữ trong thơ Nguyễn Du đều trở thành những “trang tuyệt sắc giai nhân”, với vẻ đẹp “nghiêng nước nghiêng thành” khĩ cĩ ai sánh kịp: - chuyen de nguyen du
u ả thật, hình ảnh người phụ nữ trong thơ Nguyễn Du đều trở thành những “trang tuyệt sắc giai nhân”, với vẻ đẹp “nghiêng nước nghiêng thành” khĩ cĩ ai sánh kịp: (Trang 28)
3.NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG THƠ NGUYỄN DU - chuyen de nguyen du
3. NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG THƠ NGUYỄN DU (Trang 49)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w