Mục Lục I Khái quát lý thuyết và lịch sử hình thành hệ thống kế toán Singapore 1 Khái niệm, đối tượng nghiên cứu của kế toán quốc tế 1 1 Khái niệm Kế toán quốc tế là môn học giới thiệu về kế toán phát[.]
Trang 1Mục Lục
I Khái quát lý thuyết và lịch sử hình thành hệ thống kế toán Singapore
1 Khái niệm, đối tượng nghiên cứu của kế toán quốc tế.
1.1 Khái niệm
Kế toán quốc tế là môn học giới thiệu về kế toán phát sinh khi doanh nghiệp tham gia các hoạt động kinh doanh và thương mại quốc tế Theo quan điểm truyền thống của Việt Nam có thể hiểu kế toán quốc tế theo 2 hướng:
(1) Là hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế
(2) Là hệ thống kế toán của các quốc gia khác trên thế giới mà tập trung là hệ thống kế toán Mỹ, hệ thống kế toán Pháp
Chuẩn mực kế toán quốc tế là những quy định và hướng dẫn về các nguyên tắc phương pháp kế toán có tính khuôn mẫu, nền tảng chung cho các quốc gia trong ghi chép
và trình bày hệ thống BCTC
Hệ thống gồm: Hệ thống CMKT quốc tế IPSAS
Hệ thống CMKT quốc tế cho khu vực tư nhân IAS
Hệ thống CMKT quốc tế về trình bày BCTC IFRS
1.2 Đối tượng nghiên cứu của kế toán quốc tế.
Có nhiều quan điểm về đối tượng, nội dung của kế toán quốc tế thay đổi theo từng thời kỳ Ngày nay, nội dung đối tượng được hiểu rộng hơn trên các lĩnh vực nghiên cứu sau:
- Nghiên cứu về kế toán của một quốc gia nhất định trong điều kiện, hoàn cảnh có yếu tố nước ngoài
- Nghiên cứu về một số quốc gia khác nhau có sử dụng 1 hệ thống kế toán tương tự nhau
- Nghiên cứu so sánh hệ thống kế toán các quốc gia khác nhau
- So sánh các đối tượng sử dụng thông tin kế toán giữa các quốc gia
- Các vấn đề kế toán của các công ty đa quốc gia
- Nghiên cứu mục đích, quy trình áp dụng và triển vọng kế toán của các quốc gia
2 Lịch sử hình thành hệ thống kế toán Singapore
Trước đây, mỗi quốc gia đã đưa ra các cách tiếp cận khác nhau đối với kế toán tài chính, xuất phát từ tính khác biệt trong môi trường văn hóa, chính trị và kinh tế của họ
Trang 2Trong bối cảnh của thị trường trong giai đoạn sơ khai vào thời điểm đó, đơn giản rằng việc điều chỉnh thực tiễn báo cáo theo cách này để phù hợp với đặc thù riêng của mỗi quốc gia là một việc tất yếu để thích nghi và phát triển
Tuy nhiên, có một lỗ hổng cơ bản trong cách tiếp cận này: tính đồng nhất và dễ so sánh trong định dạng báo cáo cũ không tồn tại Và chắc chắn, với tốc độ toàn cầu hóa ngày càng tăng của nền kinh tế thế giới, việc duy trì các chuẩn mực cũ là một cản trở cho
sự phát triển kinh tế
Đó là khi Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) – chuẩn mực kế toán đầu tiên được thành lập bởi Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB), xuất hiện vào năm 1973
Với mục đích tăng tính minh bạch, trách nhiệm và hiệu quả bằng cách xác định một tiêu chuẩn chung trong báo cáo tài chính giữa các quốc gia, và do vậy, cơ quan này đã trực tiếp thúc đẩy tăng trưởng thương mại và đầu tư quốc tế
Được dựa trên các nguyên tắc cơ bản của IFRS, Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Singapore (SFRS) được thành lập và, kể từ đó, đã được công nhận là chuẩn mực kế toán chính thức của Singapore SFRS không chỉ cho phép sự linh hoạt tuyệt vời phù hợp với hệ sinh thái độc đáo của Singapore, mà còn thừa hưởng tính phổ biến và cẩn trọng của nền tảng IFRS Kế toán dồn tích là một trong những nguyên tắc chính của chuẩn mực kế toán Singapore Báo cáo dồn tích được lập trên cơ sở dồn tích của kế toán
Hơn nữa, ACRA – cơ quan chịu trách nhiệm chính về quản lý các công ty ở
Singapore, nói rõ rằng các công ty bắt đầu giai đoạn tài chính kể từ ngày 1 tháng 1 năm
2003 có nghĩa vụ tuân thủ SFRS
Hội đồng Chuẩn mực Kế toán (ASC) là cơ quan quản lý chịu trách nhiệm xây dựng
và ban hành SFRS
Trước sự thay đổi không ngừng của thế giới, các chuẩn mực kế tóan đang ngày càng trở nên phức tạp hơn Điều này gây khó khăn hơn cho các doanh nghiệp nhỏ để họ cảm thấy tự tin rằng mình đã tuân thủ đúng, Áp dụng SFRS (đầy đủ) sẽ gây khó khăn cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, khi họ nhận thấy các yêu cầu vượt quá khả năng và nguồn lực của mình Trong khi đó, cũng như ở nhiều nước khác, các doanh nghiệp vừa và nhỏ lại chiếm phần lớn các công ty đang hoạt động tại Singapore
Như một biện pháp để giải quyết các nhu cầu cụ thể của các doanh nghiệp vừa và nhỏ quốc tế IASB ban hành một IFRS đặc biệt cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong năm 2009 Theo đó, Hội đồng Tiêu chuẩn Kế toán (ASC) của Singapore cũng đã công bố việc ban hành Chuẩn mực báo cáo tài chính Singapore (SFRS) cho các doanh nghiệp vừa
& nhỏ vào tháng 11 năm 2010
SFRS cho các doanh nghiệp nhỏ là một khung sườn thay thế cho SFRS (đầy đủ) cho các công ty, đơn vị đủ điều kiện tại Singapore SFRS được liên kết chẽ với IFRS cho các
Trang 3doanh nghiệp nhỏ, và nó đã được ban hành sau khi tham khảo ý kiến với các bên liên quan Nó cung cấp một tiêu chuẩn báo cáo tài chính bắt buộc đối với các doanh nghiệp nhỏ có kì hạn báo cáo bắt đầu từ hoặc sau ngày 01 tháng 01 năm 2011
II Các nhân tố tác động đến hệ thống kế toán Singapore
1, Các yếu tố kinh tế - chính trị
1.1, Luật pháp
Hệ thống luật pháp của Singapore dựa theo hệ thống Thông luật hay còn gọi là Common Law của Anh Cụ thể, từ năm 1919, Singapore bắt đầu chịu ảnh hưởng của pháp luật Anh Trước khi Văn phòng thuộc địa của Anh ở London kiểm soát hoàn toàn vùng lãnh thổ Singapore năm 1867, Singapore đã nằm dưới sự kiểm soát của chính quyền thuộc địa Anh ở vùng Bengal và chính quyền Ấn Độ (lãnh thổ thuộc địa của Anh) Vì thế, hệ thống pháp luật Anh đã được tiếp nhận bằng cả 2 cách trực tiếp và gián tiếp vào hệ thống pháp luật Singapore
Cùng giống với hầu hết các quốc gia chịu ảnh hưởng bởi hệ thống Thông luật, pháp luật Singapore cùng dành khá nhiều ưu ái cho các phán quyết của cơ quan tư pháp bởi trong hệ thống thông luật, tiền lệ tư pháp hoặc các quyết định của tòa án cấp trên trong các vụ án trước đó về cùng một vấn đề phải được tòa án tuân theo khi quyết định một vụ
án - điều này làm nổi bật vai trò quan trọng của án lệ - luật không thành văn - trong cấu trúc pháp luật của quốc gia này Tuy nhiên, Singapore ngày càng trở nên độc lập với luật pháp Anh, phát triển nền luật học độc đáo của Singapore, tiếp thu các thông lệ pháp lý tốt nhất từ khắp nơi trên thế giới Mặc dù vẫn là hệ thống thông luật nhưng không còn vị trí độc tôn của các án lệ, thông luật của cơ quan tư pháp, mà luật thành văn đã và đang có những vị trí nhất định trong hệ thống pháp luật của Singapore
1.2, Kênh huy động vốn
Huy động vốn có thể liên kết các tổ chức tài chính với nhau Các công ty bảo hiểm, các quỹ có thể gửi tiền của mình vào ngân hàng hoặc các công ty tài chính để sinh lời Các tổ chức cũng có thể đầu tư tiền gửi trên thị trường chứng khoán giúp dòng vốn luân chuyển hữu ích cho nền kinh tế Dòng vốn được luân chuyển từ người có vốn đến người cần vốn theo cả phương thức trực tiếp và gián tiếp
Singapore với đặc điểm là hệ thống tài chính dựa vào ngân hàng, vốn được huy động chủ yếu từ các tổ chức, cá nhân gửi tiền vào ngân hàng và các tổ chức tài chính Một phần
không thể thiếu từ thị trường chứng khoán Singapore sẽ đẩy mạnh thị trường chứng
khoán trong nước và các công ty khởi nghiệp thông qua một gói các biện pháp hỗ trợ, trong nỗ lực đưa nước này trở thành một trung tâm tài chính ở châu Á
Trang 4Đến nay, thị trường chứng khoán phái sinh Singapore có đến 92% khối lượng giao dịch chứng khoán phái sinh được thực hiện qua giao dịch trực tuyến Trải qua quá trình phát triển lâu dài, chứng khoán Singapore nói chung và thị trường chứng khoán phái sinh nói riêng đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, trở thành “vùng đất hứa” của nhiều doanh nghiệp
→ Điểm khác biệt của thị trường chứng khoán Singapore là nhà đầu tư không bị quản chặt về trách nhiệm thanh toán bởi trách nhiệm này thuộc về công ty môi giới chứng khoán Nhà đầu tư không bị giới hạn về số tài khoản được mở Một nhà đầu tư có thể có
từ 5 - 7 tài khoản để giao dịch chứng khoán Tuy nhiên, pháp luật tại nước này chỉ cho phép người môi giới được mở một tài khoản tại chính công ty mình và trước khi giao dịch, họ phải báo cáo với bộ phận kiểm soát Điều này nhằm đảm bảo rằng, giao dịch của nhà môi giới là hoàn toàn minh bạch
1.3, Lạm phát và Kế toán
Lạm phát ở Singapore trong Quý 3/ 2021 đã tăng từ 2.4 lên 2.5% Mặc dù vậy, dự kiến lạm phát cả năm 2021 trong khoảng 1-2%, tăng từ 0.5-1.5% so với dự báo trước đây (cân nhắc các yếu tố lạm phát bên ngoài như giá dầu tăng cáo hay tình trạng lạm phát ở các nền kinh tế lớn như Hoa Kỳ, Trung Quốc)
Lạm phát cơ bản cũng tăng từ 0.6% lên 1% trong Quý 3/2021; đây là mức cao nhất
kể từ 6/2019 Lạm phát trong Quý 3 tăng do các yếu tố: giá thực phẩm, giá nhà giá điện
và gas tăng Tuy nhiên, vẫn giữ nguyên mức dự báo lạm phát cơ bản cả năm là từ 0-1% và theo các chuyên gia kinh tế, Singapore sẽ chỉ thắt chặt chính sách tiền tệ từ năm 2022 Điều này cũng ảnh hưởng đến BC Kế toán vì khi lạm phát tăng, đồng tiền mất đi sức mua của nó, nếu không có sự điều chỉnh sẽ trở nên nghiêm trọng và việc so sánh các nghiệp vụ phát sinh có thể dẫn đến sai ngay khi so sánh cùng kỳ kế toán
1.4, Chuẩn mực kế toán
Ở Singapore, được biết đến như Chuẩn mực BCTC Singapore( SFRS) và dựa trên IFRS Tất cả công ty có năm tài chính bắt đầu từ hoặc sau 01/01/2003 phải tuân thủ và thực hiện theo SFRS
Kế toán dồn tích là một trong những nguyên tắc chính của Chuẩn mực kế toán Singapore BCTC được lập trên cơ sở dồn tích của kế toán
Theo cơ sở này, những ảnh hưởng từ các giao dịch phát sinh sẽ được ghi nhận khi chúng xảy ra Những giao dịch này sẽ được ghi nhận lại trong sỏ sách kế toán và báo lại trong BCTC của các kỳ có liên quan Các BCTC dựa trên cơ sở dồn tích không những thông báo cho người dùng những giao dịch trong quá khứ có liên quan đến việc thanh toá,
mà còn nhắc nhở nghĩa vụ phải chi trả và các nguồn tiền được nhận trong tương lai
Tổng hợp Chuẩn mực kế toán gồm 39 tiêu chuẩn khác nhau, mỗi tiêu chuẩn được đặt tên theo FRS X Ví dụ: FRS 1 Mỗi tiêu chuẩn bao gồm một chủ đề cụ thể như trình bày BCT, ghi nhận doanh thu, kiểm kê HTK
Trang 51.5, Mối quan hệ về kinh tế, ngoại giao giữa các quốc gia và tác động đến kế toán
*Quan hệ với nước láng giềng
Về quan hệ kinh tế với Việt Nam, năm 2020, Singapore là nhà đầu tư nước ngoài
lớn nhất tại Việt Nam Trong 5 tháng đầu năm 2021, đầu tư của Singapore vào Việt Nam tiếp tục đứng đầu với tổng vốn đầu tư 5,26 tỷ USD, chiếm hơn 40% tổng vốn đầu tư vào
Việt Nam; đặc biệt 10 khu công nghiệp Việt Nam - Singapore tại các địa phương của Việt
Nam, trong đó 9 khu công nghiệp đã đi vào hoạt động trở thành biểu tượng của hợp tác kinh tế song phương Việt Nam- Singapore
Quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam - Singapore tiếp tục được thúc đẩy và phát triển mạnh mẽ, sâu rộng trên nhiều lĩnh vực bất chấp tác động của dịch Covid-19, trong
đó hai bên tiếp tục duy trì hiệu quả trao đổi cấp cao và các cấp
Singapore và Philipines có quan hệ kinh tế mật thiết và Philippines là đối tác thương mại lớn thứ 15 của Singapore, Singapore là đối tác thương mại lớn thứ 3 của Philippines Singapore có quan hệ kinh tế mật thiết với Thái Lan Singapore là nước thương mại lớn thứ 3 của Thái Lan, chỉ đứng sau Nhật Bản và Hoa Kì, Thái Lan là nước thương mại lớn thứ 5 của Singapore Singapore vẫn là nước đầu tư lớn thứ 3 của Thái Lan
Malaysia được coi là nước láng giềng gần nhất của Singapore Singapore có lịch sử
và quan hệ ngoại giao vô cùng thân mật và gần gũi với Malaysia, kinh tế và xã hội nương tựa lẫn nhau mà tồn tại
→Singapore rất coi trọng việc duy trì hợp tác về nhiều lĩnh vực với các nước láng
giềng và còn quan tâm, thiết lập mối quan hệ chặt chẽ về kinh tế với Mỹ, EU
*Quan hệ với cộng đồng quốc tế
Singapore duy trì mỗi quan hệ tốt đẹp với Mỹ và Trung Quốc để duy trì hòa bình ổn định trong khu vực, đảm bảo lưu thông hàng hải tự do qua Biển Đông đến eo biển
Malacca
Kinh tế Singapore phụ thuộc nhiều vào các tập đoàn đa quốc gia và thương gia quốc
tế Nhiều tập đoàn đa quốc gia này đóng trụ sở Châu Á tại Singapore để giám sát hoạt động kinh doanh của họ tại Trung Quốc và Châu Á
Singapore là một trong 5 thành viên tham gia sáng lập của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), là nơi đặt Ban thư ký (APEC) Một thành viên của Hội nghị cấp cao Đông Á, Phong trào không liên kết, Khối Thịnh vượng chung Anh và cùng nhiều tổ
chức quốc tế lớn khác
→Đây là sự hội nhập kinh tế thông qua sự tăng trưởng của thương mại quốc tế và
dòng vốn là động lực mạnh mẽ cho sự hội tụ của các Chuẩn mực kế toán giữa các quốc gia trên thế giới
Trang 62 Môi trường văn hóa
Sự tác động của văn hóa cũng như các yếu tố môi trường khác đến sự hình thành và phát triển của hệ thống kế toán tại các quốc gia khác nhau ngày càng được thừa nhận rộng rãi Thấu hiểu sự tác động của văn hóa đến kế toán sẽ giải thích sự đa dạng của kế toán trên thế giới hay sự khác biệt của hệ thống kế toán tại một quốc gia cụ thể Hơn thế, nó xác định các vấn đề phát sinh trong quá trình hòa hợp và hội tụ của kế toán từ đó có những gợi ý về mặt chính sách trong phát triển hệ thống kế toán quốc gia
2.1 Chủ nghĩa cá nhân-IDV
Singapore, với điểm số 20 là một xã hội tập thể Điều này có nghĩa là “Chúng tôi” là quan trọng, những người thuộc các nhóm (gia đình, thị tộc hoặc tổ chức) chăm sóc lẫn nhau để đổi lấy lòng trung thành Ở đây chúng ta cũng có thể thấy nguyên tắc then chốt thứ hai trong lời dạy của Nho gia: Gia đình là nguyên mẫu của mọi tổ chức xã hội Một người chủ yếu không phải là một cá nhân; đúng hơn, người đó là thành viên của một gia
đình Trẻ em nên học cách kiềm chế bản thân, vượt qua tính cá nhân để duy trì sự hòa thuận trong gia đình Sự hài hòa được tìm thấy khi mọi người tiết kiệm thể diện với ý thức trang trọng, tự tôn và uy tín Các mối quan hệ xã hội nên được tiến hành sao cho thể diện của mọi người được lưu lại Tôn trọng ai đó được gọi là thể hiện
2.2 Khoảng cách quyền lực (Power distance)
Singapore đạt điểm cao về khía cạnh này (điểm 74) Với nền tảng Nho giáo (người Hoa), họ thường có cách tiếp cận đồng bộ với tôn giáo, đây cũng là cách tiếp cận chủ đạo
ở Singapore Một trong những nguyên tắc chủ yếu trong giảng dạy của Nho giáo là sự ổn định của xã hội, dựa trên mối quan hệ bất bình đẳng giữa con người với nhau
2.3 Sự né tránh những vấn đề không chắc chắn (Uncertainty Avoidance)
Singapore đạt điểm 8 ở khía cạnh này và do đó điểm rất thấp ở khía cạnh này Ở Singapore, người ta tuân thủ nhiều quy tắc không phải vì họ cần cấu trúc mà vì PDI cao Người Singapore gọi xã hội của họ là “Quốc gia tốt đẹp Bạn sẽ nhận được tiền phạt cho mọi thứ’’
2.4 Đặc điểm về giới-Nam tính/nữ tính
Singapore đạt 48 điểm và ở “giữa” thang điểm nhưng hơn về mặt Nữ tính Điều này có nghĩa là các khía cạnh nhẹ nhàng hơn của văn hóa như bình đẳng với người khác, đồng thuận, thông cảm với kẻ yếu hơn được coi trọng và khuyến khích Khiêm tốn và khiêm tốn được xem là rất quan trọng; do đó cho thấy rằng một người biết tất cả và do đó đã đến
để giáo dục các đối tác không được thích Xung đột được tránh trong cuộc sống riêng tư
và công việc và sự đồng thuận ở cuối cùng là điều quan trọng
2.5 Quan điểm định hướng dài hạn
Singapore đạt điểm 72, điểm cao này được lọc ở Singapore thể hiện những phẩm chất văn hóa hỗ trợ đầu tư lâu dài như kiên trì, nỗ lực bền bỉ, chậm kết quả, tiết kiệm; thưa thớt tài nguyên, quan hệ trật tự theo địa vị và có tâm lý xấu hổ (xem lại lời dạy của Nho
Trang 7gia) Singapore cũng trở thành một trong năm con rồng với thành công vang dội về kinh tế
Trong khi người phương Tây luôn tìm kiếm sự thật, thì người Singapore lại nhấn mạnh đến đức tính và cách bạn làm mọi việc Họ luôn để ngỏ các lựa chọn của mình vì có nhiều cách để lột da mèo Người phương Tây cho rằng nếu A đúng thì B phải sai, ngược lại người dân các nước Đông và Đông Nam Á lại cho rằng cả A và B kết hợp lại tạo ra thứ gì
đó cao cấp hơn Tư duy này cho phép một cách tiếp cận thực tế hơn trong kinh doanh
III Quá trình hòa hợp hội tụ và vai trò của CMKT Singapore với IAS/IFRS
Quá trình hội tụ kế toán quốc tế ngày càng được sự quan tâm của các tổ chức quốc tế
về kế toán cũng như các quốc gia trên thế giới, hội tụ kế toán quốc tế là xu hướng tất yếu khách quan trong tiến trình phát triển Nhiều quốc gia đã chủ động và tích cực tham gia bằng việc áp dụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IAS/IFRS) với những phương pháp tiếp cận khác nhau
1 Thực tiễn hòa hợp và hội tụ của Kế toán Singapore với kế toán quốc tế:
1.1 Thực tiễn quá trình hòa hợp với kế toán quốc tế
- Năm 2001, Singapore thành lập Ủy ban Chuẩn mực kế hoán (ASC) Cơ quan này đã đề xuất áp dụng chuẩn mực IFRS trong xây dựng báo cáo tài chính Singapore (IFRS, 2016)
- Từ năm 2002, Singapore ban hành chuẩn mực báo cáo tài chính (SFRS) dựa trên cơ sở IFRS, áp dụng cho các công ty niêm yết trên sàn giao dịch Singapore
- Năm 2009, ASC đưa ra chiến lược sửa đổi SFRS theo hướng tương đồng với IFRS để
áp dụng cho những công ty niêm yết ở Singapore
-Năm 2012, ASC lên kế hoạch áp dụng hoàn toàn IFRS và quyết định mốc thời gian áp dụng
- Ngày 29/5/2014, ASC thông báo những công ty niêm yết ở Singapore áp dụng IFRS cho năm tài chính bắt đầu từ ngày 01/01/2018
=> Nhìn chung, để chuyển sang áp dụng hoàn toàn IFRS, Singapore đã xây dựng một lộ trình chuyển đổi tương đối dài, áp dụng từng phần và thí điểm trên các công ty niêm yết trước khi quy định áp dụng đại trà ASC chuẩn bị áp dụng IFRS tại Singapore từ năm
2015, đến năm 2018 thì chính thức áp dụng Chuẩn mực báo cáo tài chính mới của
Singapore được xây dựng giống như chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế IFRS (SG-FRS)
và áp dụng cho các doanh nghiệp có kỳ kế toán bắt đầu hoặc sau ngày 01/10/2018 IASB công nhận chuẩn mực kế toán của Singapore tương thích hoàn toàn với IFRS
- Khác với Liên minh châu Âu (EU), Hồng Kông, Nhật Bản và Anh, Singapore không có sẵn một quy định riêng về báo cáo tài chính (BCTC) cho các tổ chức nhỏ Tất cả các công
ty thành lập tại Singapore, bất kể quy mô hoặc mức độ lợi ích công cộng đều phải tuân thủ Luật công ty và Tiêu chuẩn BCTC Singapore (SFR), trong đó phần lớn được lấy từ IFRS đầy đủ
Trang 8- Hội đồng Chuẩn mực Kế toán (ASC) đã nhận được phản hồi về những gánh nặng khi
áp dụng Tiêu chuẩn BCTC Singapore ở nhiều công ty tư nhân nhỏ, sự khác biệt trong yêu cầu về mức độ và phạm vi công bố thông tin ở những người sử dụng BCTC Hầu hết các ngân hàng khi xem xét liệu để mở rộng cho vay thì thường có xu hướng dựa vào sự đảm bảo cá nhân/tài sản đảm bảo được cung cấp bởi các giám đốc và/hoặc cổ đông của các công ty, chứ không phải là BCTC
- Năm 2008, ASC đã thành lập một nhóm chuyên trách xem xét khả năng ban hành quy định riêng về BCTC đối với các DNNVV tại Singapore Với tất cả những lý do nêu trên thì hầu hết các ý kiến cho rằng cần thiết có một tiêu chuẩn riêng về BCTC cho DNNVV Tại Singapore, một cuộc tham vấn rộng rãi đã được thực hiện từ 12/5 – 30/6/2008 về các tiêu chí để một tổ chức được coi là DNNVV và áp dụng quy định riêng về BCTC Nhiều
ý kiến cho rằng cần làm rõ khái niệm “trách nhiệm công cộng” và một DNNVV cần đáp ứng 2 trong 3 tiêu chí:
- (1) Tài sản ròng không lớn hơn 15 triệu đô la Singapore;
- (2) Doanh thu hàng năm không quá 15 triệu đô la Singapore
- (3) Số lượng trung bình của người lao động không hơn 200 Tuy nhiên, khi xem xét lại thì các tiêu chuẩn trên phù hợp với nhóm công ty đang ở giai đoạn chuẩn bị niêm yết hơn ASC đã tiến hành thảo luận tập trung với một nhóm công ty được chọn
-Tháng 3/2010, các tiêu chuẩn chính thức được ban hành Một thực thể đủ điều kiện để
sử dụng các tiêu chuẩn BCTC Singapore cho các thực thể nhỏ nếu đáp ứng các tiêu chí định tính và định lượng: không phải công khai trách nhiệm, công bố báo cáo tài chính nói chung mục đích cho người sử dụng bên ngoài và đáp ứng các nghĩa của một “thực thể nhỏ”
Một thực thể hội đủ điều kiện như là một thực thể nhỏ nếu nó đáp ứng ít nhất 2 trong 3 tiêu chuẩn sau đây:
- (1) Tổng doanh thu hàng năm không quá 10 triệu đô la Singapore (khoảng 7,5 triệu USD)
- (2) Tổng tài sản không quá 10 triệu đô la Singapore (khoảng 7,5 triệu USD)
- (3) Tổng số lao động không quá 50 người Doanh nghiệp sẽ phải thực hiện Tiêu chuẩn BCTC Singapore đầy đủ nếu không đáp ứng các tiêu chí trên trong 2 năm liên tiếp
- ASC cho rằng tiêu chí này là phù hợp để giảm thiểu các vấn đề không thể so sánh được trong khi cho phép ít nhất 80% các công ty tại Singapore đủ điều kiện sử dụng tiêu chuẩn BCTC Singapore
=> Như vậy, không phải tất cả các công ty Singapore đáp ứng định nghĩa “DNNVV” của IASB đều đủ điều kiện để sử dụng Tiêu chuẩn BCTC Singapore cho thực thể nhỏ
Một văn bản thỏa thuận gồm những nội dung trên đã được ban hành với mục đích thông báo cho công chúng về việc có thể ban hành Tiêu chuẩn BCTC Singapore cho các thực thể nhỏ ở Singapore Các thành viên của công chúng và các bên liên quan đều có thể gửi ý kiến về các dự định của ASC
Trang 9-Đến 30/11/2010, ASC đã ban hành Tiêu chuẩn BCTC cho các thực thể nhỏ (SFR cho các thực thể nhỏ) Tiêu chuẩn này có hiệu lực từ 01/01/2011
Các Tiêu chuẩn BCTC Singapore cho thực thể nhỏ dựa trên Chuẩn mực kế toán quốc tế cho DNNVV, tuy nhiên, tài liệu tham khảo là Tiêu chuẩn BCTC Singapore thay vì IFRS
Nó có dung lượng các trang bằng khoảng 10% Tiêu chuẩn BCTC Singapore đầy đủ, được viết bằng tiếng Anh một cách dễ hiểu Số lượng yêu cầu thuyết minh (đặc biệt là đối với công cụ tài chính) cũng được đơn giản hóa và giảm đáng kể
1.2 Thực tiễn quá trình hội tụ kế toán quốc tế
Singapore công bố kế hoạch hội tụ toàn bộ với chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế năm 2009 và dự kiến sẽ hoàn thành vào năm 2012
Tháng 3/2012, Hội đồng Chuẩn mực kế toán Singapore công bố việc hội tụ sẽ không hoàn thành trong năm 2012 và cam kết sẽ tiếp tục quá trình hội tụ toàn bộ với chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế Hội đồng Chuẩn mực kế toán Singapore cũng chờ đợi quá trình hội tụ IASB – FASB hoàn thành
Đối với chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế dành cho DNNVV, năm 2010 Hội đồng Chuẩn mực kế toán Singapore cũng công bố định hướng chấp nhận toàn bộ không điều chỉnh từ tháng 1/2011 cho các công ty không niêm yết và thỏa các tiêu chuẩn về quy mô Các chuẩn mực này được ban hành đúng kế hoạch và mang tên chuẩn mực báo cáo tài chính dành cho DNNVV (SFRS for SME) (ASC, 2012b)
2 Vai trò của kế toán Singapore trong quá trình hòa hợp và hội tụ với kế toán quốc tế
Bên cạnh một hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế, vai trò của quốc gia là yếu tố rất quan trọng, không thể thiếu trong quá trình hòa hợp và hội tụ của hệ thống kế toán Singapore
cụ thể:
- Một là, Chuẩn mực kế toán Singapore cung cấp đầy đủ chi tiết trên khuôn mẫu lí thuyết kế toán để hướng dẫn cho các doanh nghiệp trong việc ghi nhận, trình bày
và công bố các khoản mục trên báo cáo tài chính Việc thể hiện đầy đủ các nguyên tắc ghi nhận, trình bày công bố làm cho các thông tin trên BCTC được minh bạch,
rõ ràng Điều này là cho các nhà đầu tư có nhiều thông tin hưu ích để đưa ra các quyết định đầu tư đúng đắn
- Hai là, SFRS có nội dung phù hợp với IFRS, được điều chỉnh và bổ sung theo chuẩn mực kế toán quốc tế IFRS Điều này làm cho các công ty đa quốc gia thuận lợi thực hiện hoạt động đầu tư tạo Singapore, làm cho nền kinh tế của Singapore thu hút vốn đầu tư của các tập đoàn lớn trên thế giới
- Ba là, SFRS cũng có chuẩn mực riêng dành cho các công ty vừa và nhỏ Nội dung chuẩn mực lược bỏ một số điều không thể áp dụng hay không được áp dụng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ Điều này làm cho công tác kế toán cho các doanh nghiệp vừa và hỏ trở lên dễ dàng hơn, phù hợp hơn với quy mô và khả năng hạn chế của các doanh nghiệp vừa và nhỏ
Trang 10IV So sánh chuẩn mực kế toán Singapore (SFRS) với chuẩn mực kế toán quốc tế (IFRS):
SFRS được xây dựng trên cở sở IFRS, nên nội dung cơ bản của SFRS là hoàn toàn phù hợp với nội dung của IFRS Tuy nhiên, mỗi quốc gia có điều kiện, môi trường khác nhau về kinh tế, văn hóa, chính trị , pháp luật, vì vậy nên có một số nội dung của SFRS khác với IFRS Những nội dung khác biệt chủ yếu khác nhau về thời điểm áp dụng chuẩn mực, điều kiện ghi nhận để phù hợp cho chuẩn mực quốc giá Sau những lần điều chỉnh của IFRS thì SFRS cũng đã thay đổi và điều chỉnh kịp thời nhằm đảm bảo phù hợp với IFRS ở những khía cạnh trọng yếu Những điểm giống nhau và khác nhau trên nội dung SFRS và IFRS được thể hiện trong bảng so sánh sau đây:
BẢNG SO SÁNH NỘI DUNG GIỮA SFRS VÀ IFRS
Có hiệu
lực từ
01.01 nếu
không có
quy định
nào khác
và IFRS
báo cáo tài chính
IAS 1 Trình bày
báo cáo tài chính
FRS 1 phù hợp với IAS 1 (có hiệu lực từ 2007) ở tất cả các khía cạnh Năm 2009 IAS 1 được điều chỉnh thành IFRS 1
kho IAS 2 Hàng tồnkho FRS 2 phù hợp với IAS 2 ở tất cả các
khía cạnh
chuyển tiền tệ
IAS 7 Báo cáo lưu
chuyển tiền tệ
FRS 7 phù hợp với IAS 7 ở tất cả các khía cạnh
xây dựng IAS 11 Hợp đồngxây dựng FRS 11 phù hợp với IAS 11 ở tất cả các
khía cạnh
nhập IAS 12 Thuế thunhập FRS 12 phù hợp với IAS 12 ở tất cả các
khía cạnh Ngoại trừ
kế toán của khoản thu nhập nước ngoài chưa nộp
Theo hướng dẫn Kế toán thực hành (RAP)