với thông lệ quốc tế, tuy nhiên không phải đơn giản chỉ là sự áp dụng toàn bộ các chuẩn mực kế toán quốc tế mà phải dựa vào đặc điểm kinh tế-xã hội và yêu cầu quản lý của nền kinh tế cũn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
TRẦN THỊ THIÊN NGA
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh – Năm 2000
Trang 2MỤC LỤC
CHƯƠNG 1 BẢN CHẤT KẾ TOÁN VÀ CHUẨN MỰC KẾ TOÁN 1
1.1.1 Vài nét về lịch sử kế toán 1
1.1.3 Vai trò, vị trí của kế toán 3
1.1.4 Cơ chế vận hành của kế toán 5
1.2 BẢN CHẤT CHUẨN MỰC KẾ TOÁN 6
1.2.1 Định nghĩa chuẩn mực kế toán 6
1.2.2 Đặc điểm của chuẩn mực kế toán 7
1.2.3 Mối quan hệ giữa chuẩn mực kế toán với chính sách tài chính,
1.3.1 Quá trình hình thành chuẩn mực kế toán quốc tế 11
1.3.2 Nội dung của hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế 13
1 Khuôn mẫu của chuẩn mực kế toán quốc tế 13
2 Các chuẩn mực kế toán quốc tế 16
Trang 3CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CỦA HỆ THỐNG KẾ TOÁN VN 23
2.1 HỆ THỐNG KẾ TOÁN VIỆT NAM TRƯỚC NĂM 1995 23
2.1.1 Hệ thống kế toán Việt nam từ khi ra đời đến năm 1986 23
2.1.2 Hệ thống kế toán Việt nam từ năm 1986 đến năm 1995 26
2.2
HỆ THỐNG KẾ TOÁN VIỆT NAM TỪ NĂM 1995 ĐẾN
2.2.2 Nội dung hệ thống kế toán Việt Nam hiện hành 32
2.2.3 Đặc điểm của hệ thống kế toán Việt Nam hiện hành 36
2.2.4 Ưu điểm của hệ thống kế toán Việt Nam hiện hành 37
2.2.5 Nhược điểm của hệ thống kế toán Việt Nam hiện hành 39
2.2.6 So sánh hệ thống kế toán Việt Nam với chuẩn mực kế toán
3.1.1 Xu hướng hòa hợp các chuẩn mực kế toán của các quốc gia
trên thế giới và quan niệm vận dụng một số chuẩn mực kế toán quốc tế để hoàn thiện hệ thống kế toán Việt Nam 44
Trang 43.1.2 Cơ sở pháp lý cho việc ra đời của hệ thống chuẩn mực kế toán
3.1.3
Các nguyên tắc xây dựng hệ thống chuẩn mực kế toán Việt
3.1.4 Quy trình nghiên cứu, soạn thảo ban hành và công bố chuẩn
3.1.5 Nội dung xây dựng chuẩn mực kế toán quốc gia Việt Nam 49
1 Về việc xây dựng và ban hành khuôn mẫu 49
2 Về việc ban hành từ điển thuật ngữ kế toán 50
3 Về việc xây dựng các chuẩn mực kế toán Việt Nam 50
3.2 MỘT SỐ Ý KIẾN VẬN DỤNG CHUẨN MỰC KẾ TOÁN
QUỐC TẾ ĐỂ HOÀØN THIỆN HỆ THỐNG KẾ TOÁN VN 52
3.2.1 Lập dự phòng phải thu khó đòi 52
3.2.2 Dự phòng giảm giá hàng tồn kho 53
3.2.4 Chi phí nghiên cứu và phát triển 56
3.2.5 Tài sản cố định thuê tài chính 57
3.2.8 Phương pháp hạch toán và việc công bố các lỗi cơ bản và sự
thay đổi chính sách kế toán 60 3.2.9 Các sự kiện bất thường sau ngày lập bảng cân đối kế toán 62
Trang 51 Cơ cấu doanh thu 62
2 Việc ghi nhận chi phí 63
3 Báo cáo tài chính toàn công ty và kế toán về các khoản đầu tư
vào các xí nghiệp phụ thuộc 63
4 Hạch toán hợp đồng xây dựng 64
5 Thông tin về ảnh hưởng của sự biến động giá cả 64
6 Công bố của các bên hữu quan 64
7 Báo cáo tài chính trong nền kinh tế lạm phát 64
3.2.11 Một số ý kiến khác về hoàn thiện hệ thống kế toán Việt Nam 65
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Kế toán là một bộ phận cấu thành quan trọng của hệ thống công cụ quản lý kinh tế, có vai trò tích cực trong việc quản lý, điều hành và kiểm soát các hoạt động kinh tế Với tư cách là công cụ quản lý kinh tế, tài chính, kế toán là một lĩnh vực gắn liền với hoạt động kinh tế, tài chính, đảm nhiệm hệ thống tổ chức thông tin có ích cho các quyết định kinh tế
Nhiều thập niên gần đây đã cho thấy sự ra đời và phát triển của nền kinh tế toàn cầu – các công ty, tổ chức tài chính và các nhà đầu tư đều tìm cơ hội để xâm nhập vào nhiều nước, làm phát sinh việc quốc tế hóa thị trường vốn, thị trường tiêu thụ, thị trường lao động Điều này là khả thi vì nhờ có sự tiến bộ của công nghệ thông tin đã cung cấp được những thông tin tài chính và những thông tin cần thiết khác bất kể sự khác nhau về không gian và thời gian Tuy nhiên, các thông tin tài chính thường được soạn thảo phù hợp với chuẩn mực và thông lệ của từng quốc gia, mà các chuẩn mực và thông lệ giữa các quốc gia thường có sự khác biệt lớn, do đó để có thể hiểu được và dùng làm cơ sở để đo lường và so sánh, các thông tin tài chính phải được diễn dịch lại Từ đó làm nảy sinh nhu cầu phải thống nhất các nguyên tắc kế toán (trên phạm vi toàn thế giới) trong việc lập các báo cáo tài chính, và, trong điều kiện như thế, các chuẩn mực kế toán quốc tế đã ra đời để trở thành cơ sở cho hầu hết các quốc gia trong việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống kế toán của mình
Không nằm ngoài xu hướng chung đó, Việt Nam – quốc gia đang trong quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường theo hướng hội nhập vào nền
Trang 7với thông lệ quốc tế, tuy nhiên không phải đơn giản chỉ là sự áp dụng toàn bộ các chuẩn mực kế toán quốc tế mà phải dựa vào đặc điểm kinh tế-xã hội và yêu cầu quản lý của nền kinh tế cũng như định hướng phát triển trong tương lai của Việt Nam để mà vận dụng các chuẩn mực kế toán quốc tế với những điều chỉnh thích hợp Đây chính là một vấn đề bức xúc và vô cùng cần thiết để phát triển kinh tế Việt Nam đồng thời cũng là đòi hỏi cho quá trình hội nhập quốc tế và khu vực
2 MỤC ĐÍCH CỦA LUẬN ÁN
So sánh hệ thống kế toán Việt Nam hiện hành với các chuẩn mực kế toán quốc tế, sau đó dựa vào những điểm khác biệt đã tìm ra ở trên cùng với việc xem xét các đặc điểm của Việt Nam về kinh tế, xã hội, luật phát, văn hóa … để đề xuất phương hướng và biện pháp hoàn thiện hệ thống kế toán Việt Nam
3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu của luận án chỉ giới hạn ở phần kế toán tài chính, không đề cập đến kế toán quản trị cũng như các loại kế toán khác
Quá trình nghiên cứu bao gồm :
* Phân tích quá trình hình thành chuẩn mực kế toán quốc tế
* Phân tích quá trình hình thành và phát triển hệ thống kế toán Việt Nam qua các thời kỳ
* So sánh hệ thống kế toán Việt Nam với các chuẩn mực kế toán quốc tế, được thực hiện theo trình tự của hệ thống kế toán Việt Nam, bao gồm :
- Hệ thống tài khoản
- Hệ thống báo cáo
- Hệ thống chứng từ
- Hệ thống sổ sách
trong đó nhấn mạnh ở phần hệ thống tài khoản
Trang 8* Đề xuất phương hướng và biện pháp hoàn thiện hệ thống kế toán Việt Nam
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Luận án sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu như phương pháp duy vật biện chứng, tổng hợp và phân tích, so sánh và đối chiếu, logic … để giúp luận án đạt được mục tiêu đã đề ra
5 NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN
Luận án góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho việc am hiểu một cách có hệ thống quá trình phát triển của hệ thống kế toán Việt Nam từ ngày thành lập đến nay; hệ thống hóa sự khác nhau giữa hệ thống kế toán Việt Nam và chuẩn mực kế toán quốc tế, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc vận dụng các chuẩn mực kế toán quốc tế vào Việt Nam trên cơ sở chọn lọc sao cho phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế-xã hội của Việt Nam; đề xuất phương hướng chung cũng như những kiến nghị cụ thể để hoàn thiện hệ thống kế toán Việt Nam
6 BỐ CỤC CỦA LUẬN ÁN
Luận án gồm 68 trang, 1 bảng, 1 sơ đồ, 2 phụ lục và có kết cấu như sau :
- Mở đầu
- Chương 1 : Bản chất kế toán và chuẩn mực kế toán
-Chương 2 : Thực trạng của hệ thống kế toán Việt Nam So sánh hệ thống kế toán Việt Nam hiện hành với chuẩn mực kế toán quốc tế
- Chương 3 : Một số ý kiến vận dụng chuẩn mực kế toán quốc tế để hoàn thiện hệ thống kế toán Việt Nam
- Kết luận
- Tài liệu tham khảo
- Phụ lục
Trang 9CHƯƠNG 1
BẢN CHẤT KẾ TOÁN VÀ CHUẨN MỰC KẾ TOÁN
1.1 BẢN CHẤT KẾ TOÁN
1.1.1 VÀI NÉT VỀ LỊCH SỬ KẾ TOÁN
Sự hình thành của khoa kế toán xuất hiện cùng một lúc với sự hình thành đời sống kinh tế xã hội của loài người Xuyên qua các thời đại đánh dấu đà tiến triển quan trọng của nền văn minh cổ sơ các dân tộc như Ai Cập, Babylonienne,
Hy Lạp, La Mã… với những cổ vật tìm được từ những thời đại xa xưa để lại (như những di tích bằng đất nung, những bia đá trên đó có ghi khắc nhiều tài liệu) chứng tỏ rằng môn kế toán đã hình thành từ 3, 4 ngàn năm trước Công nguyên
Việc ghi chép, tính toán, kiểm tra của thời xưa mang nhiều đặc điểm tương tự như của chúng ta ngày nay Chẳng hạn như các nhà quản lý thời xưa cũng ghi chép lại những khoản thu, chi và sử dụng những thủ tục để kiểm tra sự trung thực và đáng tin cậy của các nhân viên
Một nghiên cứu về sự tiến hóa của kế toán đã chỉ ra rằng kế toán đã phát triển tương ứng với nhu cầu của kinh doanh, và sự phát triển kinh tế đã tác động đến sự phát triển của kế toán Lịch sử cho thấy trình độ văn minh càng cao thì các phương pháp kế toán càng chi tiết, tỉ mỉ
Sự ra đời của phương pháp ghi sổ kép là một sự kiện trọng đại trong lịch sử kế toán Năm 1494, ông Luca Pacioli, một giáo sĩ cơ đốc, đã trình bày phương pháp ghi sổ kép trong một tác phẩm của ông có tựa đề là “Summa de Arithmetica, Geometric, Proportion et Proportionalite” Đây chính là những nguyên tắc kế toán căn bản, thiết yếu và có tính cách truyền thống mà hiện nay chúng ta vẫn đang áp dụng
Trang 10Từ đó đến nay, nền thương mại, kỹ nghệ, nền văn minh nhân loại đã có những bước tiến vượt bực, các hoạt động kinh tế, tài chính, ngân hàng, ngoại thương… càng ngày càng phát triển đa dạng và tất nhiên, khoa kế toán phải luôn luôn cải tiến để vận dụng cho phù hợp với đà phát triển kinh tế một cách khoa học và tinh vi hơn
1.1.2 ĐỊNH NGHĨA KẾ TOÁN
Có rất nhiều định nghĩa về kế toán, tuy nhiên chúng không mâu thuẫn nhau mà luôn thống nhất với nhau về mục tiêu và bản chất của kế toán
Mục tiêu cơ bản của kế toán là cung cấp thông tin tài chính về một thực thể kinh tế Những thông tin tài chính do hệ thống kế toán cung cấp cần thiết cho những người ra quyết định quản lý trong việc lập kế hoạch và giám sát hoạt động của thực thể kinh tế đó
Muốn cung cấp được các dữ kiện tài chính này, kế toán phải thực hiện một số công việc như ghi nhận vào sổ sách các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, sau đó phân loại và hệ thống hóa theo từng loại nghiệp vụ cũng như tổng hợp những nghiệp vụ này lại Cuối cùng là tính toán kết quả của những nghiệp vụ kinh tế diễn ra trong thời kỳ bằng cách lập các báo cáo tài chính để cho ban giám đốc thấy được kết quả hoạt động và tình hình tài chính của đơn vị mình Chính vì kế toán viên phải thực hiện những công việc như trên mà ta có thể định nghĩa như sau : “Kế toán là một khoa học, liên quan đến việc ghi nhận; phân loại; tổng hợp và tính toán kết quả của các hoạt động kinh tế tài chính của một tổ chức giúp ban giám đốc có thể căn cứ vào đó mà ra các quyết định quản lý”
Theo điều lệ tổ chức kế toán Nhà nước Việt Nam thì “kế toán là công việc ghi chép, tính toán bằng con số dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động, chủ yếu dưới hình thức giá trị để phản ánh kiểm tra tình hình vận động
Trang 11của các loại tài sản, quá trình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, sử dụng vốn và kinh phí của Nhà nước, cũng như từng tổ chức, xí nghiệp”
Theo Hiệp Hội Kế toán Mỹ, “kế toán là quá trình ghi nhận, đo lường, và công bố các thông tin kinh tế, giúp người sử dụng phán đoán và ra quyết định dựa trên những thông tin này”
Kế toán còn được gọi là “ngôn ngữ của kinh doanh” Ngôn ngữ là một công cụ để giao tiếp xã hội, do đó ngôn ngữ phải thay đổi để đáp ứng những nhu cầu biến động của xã hội Tương tự như vậy, kế toán cũng liên tục diễn ra sự biến động và hoàn thiện
1.1.3 VAI TRÒ, VỊ TRÍ CỦA KẾ TOÁN
Chúng ta đang sống trong một kỷ nguyên của kế toán Do kế toán đã có những tiến bộ to lớn nên việc thực hiện các chức năng kế toán trở thành yêu cầu thiết yếu đối với mỗi đơn vị trong xã hội Mỗi cá nhân đều phải tính toán thu nhập của mình, các công ty lớn phải chịu trách nhiệm trước các cổ đông của họ, trước các cơ quan chính phủ và trước công chúng Đối với một doanh nghiệp, một trường học, một chương trình xã hội hoặc một thành phố, kế toán được sử dụng làm cơ sở để kiểm soát nguồn lực và đo lường mức độ hoàn thành công việc của họ, là cơ sở thiết yếu giúp họ thành công
Cụ thể là đối với doanh nghiệp : nhờ kế toán mà người quản lý điều hành trôi chảy các hoạt động đơn vị, tạo cho sự quản lý lành mạnh, tránh những hiện tượng thâm lạm tài sản Nhờ kế toán mà người quản lý tính được hiệu quả công việc mình làm đồng thời cũng qua đó vạch ra hướng hoạt động cho tương lai Kế toán giúp doanh nghiệp theo dõi thường xuyên tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, là cơ sở đảm bảo vững chắc trong sự giao dịch buôn bán, giúp cho nguời quản lý ra quyết định kịp thời, phù hợp, giúp điều hòa tình hình tài chính của doanh nghiệp Ngoài ra, kế toán còn là cơ sở để giải quyết sự
Trang 12tranh tụng khiếu tố, được tòa án công nhận là bằng chứng về hành vi thương mại
Đối với Nhà nước : nhờ kế toán, Nhà nước có thể theo dõi được sự phát triển của các ngành sản xuất kinh doanh để từ đó tổng hợp được sự phát triển của nền kinh tế quốc gia Nhờ số liệu kế toán, Nhà nước làm trọng tài giải quyết sự tranh chấp về quyền lợi giữa các doanh nghiệp Kế toán cung cấp các dữ kiện hữu ích cho các quyết định kinh tế, chính trị, xã hội… xác định được khả năng trách nhiệm, cương vị quản lý và cung cấp các dữ kiện hữu ích cho việc đánh giá khả năng tổ chức và lãnh đạo Đối với nền kinh tế quốc gia, kế toán lưu ý với chính quyền trong việc soạn thảo và ban hành những luật lệ về thuế, thiết lập những chính sách kinh tế cho phù hợp với tình hình thương mại và kinh tế nước nhà Qua kết quả tổng hợp các báo cáo tài chính của ngành, chính quyền có thể biết được tình hình thịnh suy của nền kinh tế nước nhà, biết được sự thành công hay thất bại của các ngành doanh nghiệp đồng thời biết được nguồn lợi về thuế sẽ thu được cho ngân sách
Tóm lại, kế toán có vai trò tích cực đối với việc quản lý vốn tài sản và việc điều hành các hoạt động sản xuất kinh doanh ở doanh nghiệp, nó là nguồn thông tin số liệu đáng tin cậy để nhà nước điều hành nền kinh tế, kiểm tra, kiểm soát hoạt động của các ngành, các khu vực Điều lệ tổ chức kế toán Nhà nước ban hành kèm theo NĐ số 25 HĐBT (nay là Hội đồng chính phủ) có nêu rõ…”…Kế toán là công cụ quan trọng để tính toán, xây dựng và kiểm tra việc chấp hành Ngân sách Nhà nước, để điều hành và quản lý nền kinh tế quốc dân Đối với các tổ chức, xí nghiệp, kế toán là công cụ quan trọng để điều hành, quản lý các hoạt động, tính toán kinh tế và kiểm tra việc bảo vệ, sử dụng tài sản, vật
tư, tiền vốn nhằm bảo đảm việc chủ động trong sản xuất, kinh doanh và chủ
Trang 131.1.4 CƠ CHẾ VẬN HÀNH CỦA KẾ TOÁN
Để cung cấp thông tin tài chính hữu ích, có nghĩa là đạt được các mục tiêu của báo cáo tài chính, kế toán không chỉ tùy thuộc vào sự am hiểu các kỹ thuật ghi chép của kế toán mà còn tùy thuộc vào sự nắm vững cấu trúc của kế toán và sự thống nhất với môi trường kinh doanh Cấu trúc của kế toán được hình thành bởi các giả thiết, khái niệm, nguyên tắc và các thủ tục kế toán ; được minh họa theo sơ đồ sau :
2a- Các giả thiết kế toán 2b- Các khái niệm kế toán
2a- Các nguyên tắc kế toán
2a- Các thủ tục kế toán1- Các mục tiêu của báo cáo tài chính
Các khái niệm và giả thiết kế toán do con người thu nhận từ môi trường kinh doanh, nó không phải là những quy luật tự nhiên Nhưng khi môi trường kinh doanh thay đổi thì khái niệm và giả thiết kế toán rất hiếm thay đổi Các giả thiết và khái niệm của kế toán là những điều hiển nhiên được công nhận vì nó phù hợp với mục tiêu của báo cáo tài chính
Nguyên tắc kế toán được xây dựng trên cơ sở những giả thiết và khái niệm kế toán, đó là những hướng dẫn tổng quát cho việc thực hành thu thập, xử lý thông tin
Trang 14Thủ tục kế toán là những cách thức, phương pháp riêng biệt trong ứng dụng kế toán để thực hiện chức năng của kế toán, do đó thủ tục kế toán dễ dàng thay đổi cho phù hợp với môi trường kinh doanh – cụ thể gồm các công việc sau :
- Kế toán viên quan sát, nhận diện và đo lường bằng giá trị các nghiệp vụ kinh tế phát sinh
- Để phản ánh và giám đốc, kế toán vận dụng hệ thống phương pháp kế toán như lập chứng từ kế toán, kiểm kê, đánh giá, tính giá thành, tài khoản, ghi sổ kép để cung cấp những dữ kiện cần thiết cho việc lập báo cáo tài chính Những dữ kiện đó được thiết lập trên cơ sở tuân thủ một cách nghiệm ngặt các nguyên tắc kế toán và bị chi phối bởi định chế pháp luật của nước sở tại Thông thường các báo cáo tài chính trước khi công bố ra bên ngoài phải được một công ty kiểm toán xác nhận
1.2 BẢN CHẤT CHUẨN MỰC KẾ TOÁN
1.2.1 ĐỊNH NGHĨA CHUẨN MỰC KẾ TOÁN
Chuẩn mực kế toán là những quy định và hướng dẫn về nguyên tắc, nội dung, phương pháp và thủ tục kế toán cơ bản, chung nhất, đủ làm cơ sở ghi chép kế toán và lập báo cáo tài chính nhằm đạt được sự đánh giá trung thực, hợp lý, khách quan về thực trạng tài chính và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp, được nhiều người thừa nhận
Chuẩn mực kế toán bao gồm những quy định có tính nguyên tắc, mực thước làm cơ sở cho doanh nghiệp tổ chức công tác kế toán, lập và trình bày báo cáo tài chính Chuẩn mực kế toán vừa có những quy định mang tính pháp quy về các nguyên tắc, phương pháp kế toán để đảm bảo tính trung thực, khách quan, hợp lý và khả năng so sánh của thông tin kế toán, tạo ra độ tin cậy cao cho
Trang 15hướng dẫn, giải thích thống nhất các phương pháp tính toán và thủ tục ghi chép phản ánh Mục tiêu của chuẩn mực kế toán là quy định thống nhất nội dung, cách trình bày và thuyết minh báo cáo tài chính doanh nghiệp, hay nói cách khác là nâng cao tính so sánh và nhất quán dựa trên thông lệ kế toán chung
Theo thông lệ phổ biến ở các quốc gia trên thế giới, cơ quan nghiên cứu và công bố chuẩn mực kế toán quốc gia thường là các Hiệp hội nghề nghiệp hoặc Bộ Tài chính, hoặc tổ chức vừa có tính chất Nhà nước, vừa có tính chất nghề nghiệp
Ví dụ :
- Ở Anh : Chuẩn mực kế toán do Ủy ban Chuẩn mực kế toán trực thuộc Hội đồng báo cáo tài chính công bố
- Ở Mỹ : Chuẩn mực kế toán do Hội đồng tiêu chuẩn kế toán tài chính
(FASB) trực thuộc Viện kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA) ban hành
- Ở Pháp : Chuẩn mực kế toán do Hội đồng kế toán quốc gia soạn thảo, Bộ
Kinh tế tài chính (CNCC) ban hành
1.2.2 ĐẶC ĐIỂM CỦA CHUẨN MỰC KẾ TOÁN
Chuẩn mực kế toán là những quy định mang tính pháp lý (tuy nhiên đặc điểm này không hoàn toàn có ở tất cả các quốc gia, ví dụ như ở Vương quốc Anh thì chuẩn mực kế toán chỉ là những quy định có tính hướng dẫn (không bắt buộc)
do Hiệp hội nghề nghiệp xây dựng) và mang tính mực thước Nó liên quan đến chính sách tài chính, chính sách thuế ở đặc điểm là vừa thống nhất, vừa độc lập với chính sách tài chính, chính sách thuế, vấn đề này sẽ được phân tích rõ hơn ở
mục 1.2.3 “Mối quan hệ giữa chuẩn mực kế toán với chính sách tài chính, thuế
“
Trang 16Chuẩn mực kế toán linh hoạt hơn Luật kế toán và dễ sửa đổi khi cần thiết, nó thường được trình bày một cách dễ hiểu (theo ngôn ngữ chuyên môn), thể hiện cụ thể khuôn mẫu các vấn đề liên quan đến thu nhận, xử lý, trình bày và cung cấp thông tin kế toán Chuẩn mực kế toán không đề cập chi tiết hết mọi khía cạnh trong mọi nghiệp vụ giao dịch mà nó tạo điều kiện cho các kế toán viên có thể vận dụng sự xét đoán của mình (tuy nhiên đặc điểm này cũng còn tùy thuộc từng quốc gia)
Chuẩn mực kế toán có thể được trình bày dưới các hình thức văn bản khác nhau, có thể là theo từng chuẩn mực riêng rẽ hoặc trình bày trong hệ thống kế toán chung tùy theo đặc điểm của mỗi quốc gia
Chuẩn mực kế toán có tác dụng :
- Đảm bảo tính thống nhất trong ghi chép kế toán, trình bày và thuyết minh các báo cáo tài chính của doanh nghiệp
- Đảm bảo độ tin cậy và sự an tâm cho những người sử dụng thông tin kế toán
- Tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ kế toán thực hiện công tác kế toán một cách thuận tiện, có căn cứ, phù hợp với điều kiện của doanh nghiệp trong môi trường pháp lý chung Mặt khác, thuận lợi cho công tác đào tạo, huấn luyện,
di chuyển cán bộ kế toán trong phạm vi từng quốc gia cũng như khu vực hoặc toàn thế giới
1.2.3 MỐI QUAN HỆ GIỮA CHUẨN MỰC KẾ TOÁN VỚI CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH, THUẾ
Chính sách (còn gọi là cơ chế hoặc quy chế) tài chính doanh nghiệp là những quy định mang tính pháp quy của Nhà nước đối với hoạt động tài chính của một doanh nghiệp nhằm đảm bảo cho hoạt động tài chính doanh nghiệp được lành mạnh, hiệu quả, công bằng, phản ánh trung thực tình hình tài chính,
Trang 17tính toán và nộp đủ thuế theo pháp luật Nhà nước, bảo đảm quyền lợi của người đầu tư không bị xâm phạm
Chính sách thuế là những quy định của Nhà nước về các sắc thuế đối với các đơn vị kinh doanh và cá nhân nhằm thực hiện việc động viên các nguồn thu vào Ngân sách Nhà nước, điều tiết vĩ mô nền kinh tế và đảm bảo công bằng xã hội
Ngoại trừ những vấn đề mang tính khái niệm, định nghĩa, nguyên tắc đánh giá liên quan đến thu nhập, chi phí, lợi nhuận đòi hỏi phải đạt đến sự thống nhất về cơ bản ở cả 3 loại chính sách : Chính sách tài chính, chính sách thuế và chuẩn mực kế toán, mối quan hệ giữa chuẩn mực kế toán và thuế là mối quan hệ độc lập, chủ yếu là ở việc chấp nhận sự khác biệt giữa lợi nhuận kế toán và lợi nhuận chịu thuế Nguyên nhân là do khi xác định lợi nhuận chịu thuế, Luật thuế đã không cho tính vào chi phí hợp lý một số khoản chi phí của doanh nghiệp hoặc là quy mô các khoản chi phí đó vượt quá định mức giới hạn quy định Sự khác biệt này là điều tất yếu và phổ biến ở các quốc gia
Chuẩn mực kế toán và chính sách tài chính có nhiều điểm thống nhất, trùng hợp và cũng có nhiều điểm không thống nhất và hoàn toàn độc lập, bởi vì :
- Chính sách tài chính bao gồm các quy định đối với hoạt động tài chính của doanh nghiệp Chuẩn mực kế toán đưa ra các quy định áp dụng cho hạch toán kế toán và lập báo cáo tài chính, mà đối tượng phản ánh của thông tin kế toán tài chính cũng là hoạt động tài chính của doanh nghiêp Do đó, những quy định trong chuẩn mực kế toán về phản ánh các thông tin về hoạt động tài chính được lượng hóa bằng chỉ tiêu giá trị yêu cầu phải trùng hợp, thống nhất về cơ bản với quy định trong chính sách tài chính
- Sự khác biệt, không trùng hợp giữa chuẩn mực kế toán và chính sách tài chính được thể hiện ở các quy định về vấn đề quản lý tài chính hoặc hướng dẫn các
Trang 18phöông phaùp keâ toaùn : coù nhöõng quy ñònh chư ñöôïc ñöa ra trong chính saùch taøi chính doanh nghieôp maø khođng ñöôïc ñeă caôp trong chuaơn möïc keâ toaùn, ngöôïc lái, coù nhöõng quy ñònh chư coù trong chuaơn möïc keâ toaùn maø khođng coù trong chính saùch taøi chính
Tređn theâ giôùi, ôû moôt soẫ nöôùc, heô thoâng chuaơn möïc keâ toaùn ñöôïc thieât laôp ban ñaău bôûi khu vöïc kinh teâ tö nhađn (Myõ, Haø Lan) vaø söï vaôn haønh khaù töï do, nhöõng raøng buoôc phaùp lyù khaù loûng lẹo ÔÛ moôt soâ nöôùc khaùc, heô thoâng chuaơn möïc keâ toaùn lái chòu ạnh höôûng naịng neă bôûi luaôt phaùp vaø caùc quy ñònh veă thueâ (Tađy Ñöùc, Nhaôt Bạn) Coù nhöõng nöôùc, keâ toaùn chòu chi phoâi khaù chaịt cheõ cụa Nhaø nöôùc (Phaùp, Hy Láp), cụa cô cheâ keâ hoách hoùa taôp trung (Lieđn Xođ cuõ, moôt vaøi nöôùc Ñođng Ađu), coù nöôùc quan tađm keâ toaùn xaõ hoôi, keâ toaùn quoâc gia (Hy Láp, Phaùp), quan tađm chuaơn möïc keâ toaùn trong mođi tröôøng lám phaùt (Brazil) Coù nöôùc quan tađm vaø roông raõi trong laôp döï phoøng nôï khoù ñoøi, phaùt trieơn thò tröôøng ngoaøi nöôùc (Nhaôt) Coù nöôùc lái quan tađm nhieău ñeân keâ toaùn quạn trò vaø söï bí maôt cụa thođng tin (Thúy Só) Moôt vaøi nöôùc coù söï thoâng nhaât khaù cao trong quy ñònh veă heô thoâng taøi khoạn keâ toaùn (Phaùp vaø moôt soâ nöôùc ñaõ töøng laø thuoôc Phaùp) Ngöôïc lái, coù moôt soâ nöôùc lái khođng coù quy ñònh baĩt buoôc veă heô thoâng taøi khoạn keâ toaùn Nhieău nöôùc coù heô thoâng keâ toaùn töông töï nhö heô thoâng keâ toaùn cụa caùc nöôùc cai trò thuoôc ñòa tröôùc ñađy nhö Aixôlen, New Zealand, Hongkong, Singapore, Tuynidi, Ma Roâc Nhöng nhìn chung, tái caùc quoâc gia coù neăn kinh teâ thò tröôøng lađu ñôøi, coù hai nhoùm tröôøng phaùi keâ toaùn tieđu bieơu, ñoù laø tröôøng phaùi Chađu Ađu lúc ñòa vaø tröôøng phaùi Anglo-Saxon maø ñieơm khaùc bieôt chụ yeâu nhaât giöõa hai tröôøng phaùi naøy laø söï ñoăng nhaât keâ toaùn trong toaøn quoâc gia Caùc quoâc gia thuoôc khoâi Anglo-Saxon cho raỉng vieôc ñoăng nhaât laø do söï thieâu nhaôn thöùc veă tính ña dáng cụa thöïc tieên, vaø caùc khuođn maêu keâ toaùn coù lieđn quan trong khi caùc
Trang 19giúp cho người sử dụng tránh khỏi những khác biệt trọng yếu do tính thiếu đồng nhất gây ra
1.3 CHUẨN MỰC KẾ TOÁN QUỐC TẾ
1.3.1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH CHUẨN MỰC KẾ TOÁN QUỐC TẾ
Trên thế giới, đã từ lâu ở mỗi quốc gia có một hệ thống kế toán phù hợp đặc điểm, trình độ và tập quán của từng nước, trên cơ sở những nguyên lý chung và lý thuyết về phương pháp kế toán Ở Việt Nam cũng vậy, hệ thống kế toán tương đối hoàn chỉnh của chúng ta hình thành từ những năm 60 trên nền tảng của kế toán Trung Quốc, Liên Xô Chúng ta gọi là chế độ kế toán hoặc hệ thống chế độ kế toán Những năm gần đây, xu hướng toàn cầu hóa, hợp tác và phát triển kinh tế đã diễn ra khá sôi động – sự hình thành và phát triển của hàng loạt công
ty đa quốc gia, của thị trường tài chính quốc tế và các hoạt động thương mại ngoài biên giới đã cho phép nhiều nhà đầu tư hoạt động trong phạm vi khu vực và quốc tế Hoạt động kế toán không còn là vấn đề mang tính quốc gia mà cần phải được giải quyết ở tầm cỡ và quy mô quốc tế Nhu cầu này đòi hỏi phải xúc tiến quá trình hài hòa, thống nhất hóa các chuẩn mực kế toán quốc gia và hình thành chuẩn mực kế toán quốc tế làm cơ sở ghi chép kế toán, trình bày và lập báo cáo tài chính ở các doanh nghiệp trên phạm vi toàn cầu, giúp cho việc tổng hợp báo cáo, so sánh và hiểu được thông tin trình bày trên báo cáo tài chính Hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế đề cập đến những vấn đề mang tính nền tảng, khuôn mẫu, những nguyên tắc, phương pháp có tính chất cơ bản có thể áp dụng ngay ở những quốc gia đã có đầy đủ những điều kiện cần thiết và ở các quốc gia chưa phát triển
Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế (IASC) đã được thành lập từ năm 1973 bởi tổ chức kế toán của 10 quốc gia là Uùc, Canađa, Pháp, Tây Đức, Nhật, Mexico, Hà Lan, Anh, Aùi Nhĩ Lan và Mỹ để thực hiện việc cải tiến và hài hòa
Trang 20báo cáo tài chính, chủ yếu thông qua sự phát triển và công bố các chuẩn mực kế toán quốc tế
Mục tiêu của IASC là :
- Thiết lập và công bố trước công chúng các chuẩn mực kế toán quốc tế được áp dụng trong việc lập báo cáo tài chính và nâng cao sự chấp nhận và tôn trọng trên toàn thế giới
- Thực hiện việc cải tiến và hài hòa các nguyên tắc, chuẩn mực kế toán và thủ tục liên quan đến sự trình bày báo cáo tài chính
Những thành viên của IASC bao gồm những tổ chức kế toán chuyên nghiệp là thành viên của Liên đoàn kế toán quốc tế (IFAC) đại diện cho hơn một triệu kế toán viên ở các ngành công nghiệp, thương nghiệp, giáo dục… và chính phủ Hoạt động của IASC được tiến hành bởi một Hội đồng quản trị bao gồm đại diện của 13 quốc gia và tối đa là bốn tổ chức khác có quan tâm đến báo cáo tài chính (ví dụ như đại diện của Ủy ban phối hợp quốc tế của Hiệp hội các nhà phân tích tài chính, Liên đoàn các công ty cổ phần mẹ ngành công nghiệp Thụy Sĩ , Hiệp hội quốc tế các viện điều hành tài chính…) có nhiệm vụ xây dựng, sửa đổi các chuẩn mực Hội đồng quản trị còn gặp gỡ thường xuyên một nhóm cố vấn quốc tế bao gồm đại diện của những người sử dụng và soạn thảo báo cáo tài chính cũng như các quan sát viên từ các tổ chức liên chính phủ Nhóm cố vấn này có nhiệm vụ tư vấn cho IASC về việc soạn thảo các IAS và tham gia phản biện học (nhưng không biểu quyết)
IASC đã phát triển các chuẩn mực kế toán thông qua một quá trình liên quan đến các chuyên gia về báo cáo kế toán và tài chính trên khắp thế giới Quá trình này cung cấp cho những người sử dụng, soạn thảo và kiểm toán báo cáo tài chính cơ hội để trình bày quan điểm của mình về các chuẩn mực kế toán cần
Trang 21thực hiện Quá trình này cần thiết cho việc duy trì chất lượng của các chuẩn mực kế toán quốc tế
Các đại diện của Hội đồng quản trị , các tổ chức thành viên, các thành viên của nhóm Cố vấn và những cá nhân và tổ chức khác cũng như nhân viên IASC được khuyến khích đểõ đệ trình những đề nghị về đề tài mới liên quan đến các IAS trong đó có nêu rõ lý do tại sao nên thêm đề tài này vào chương trình làm việc hiện tại Những đề nghị này sẽ được Hội đồng quản trị xem xét Khi Hội đồng đã thêm đề tài vào chương trình làm việc của mình, họ sẽ thành lập một Ban thường trực Sau khi nghiên cứu đề tài, Ban thường trực sẽ đưa ra dự thảo Dự thảo được Hội đồng xem xét rồi chuyển cho các tổ chức thành viên, các thành viên của Nhóm Cố vấn và các cơ quan có liên quan để lấy ý kiến Sau khi nhận
ý kiến đóng góp, Hội đồng sẽ xem lại và hiệu đính (nếu cần thiết) Sau đó, nếu dự thảo được tối thiểu 3/4 Hội đồng quản trị chấp thuận, dự thảo sẽ trở thành một chuẩn mực, và có hiệu lực từ ngày được ghi trong chuẩn mực
Ngôn ngữ của các chuẩn mực và dự thảo đều được viết bằng tiếng Anh Những thành viên của Ủy ban dưới sự chỉ đạo của Hội đồng quản trị sẽ có trách nhiệm soạn thảo các bản dịch Muốn có giá trị, bản dịch ra các ngôn ngữ khác phải được Hội đồng quản trị chấp thuận
1.3.2 NỘI DUNG CỦA HỆ THỐNG CHUẨN MỰC KẾ TOÁN QUỐC TẾ
Hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế gồm 3 phần chính :
- Khuôn mẫu của chuẩn mực kế toán quốc tế
- Các chuẩn mực kế toán quốc tế
- Từ điển thuật ngữ
1- Khuôn mẫu của chuẩn mực kế toán quốc tế
IASC đã ban hành khuôn mẫu cho việc soạn thảo và trình bày báo cáo tài chính Khuôn mẫu là những quy ước chung về các khái niệm kế toán căn bản, về các
Trang 22đặc điểm định tính của báo cáo, về các yếu tố cần có, và về các phương pháp đánh giá các yếu tố của báo cáo tài chính
Mục đích của khuôn mẫu bao gồm :
- Giúp đỡ IASC trong việc phát triển các chuẩn mực kế toán quốc tế tương lai và xem xét lại các IAS hiện hữu
- Giúp đỡ IASC trong việc cải tiến và hài hòa các nguyên tắc, chuẩn mực kế toán và thủ tục liên quan đến việc trình bày báo cáo tài chính bằng cách cung cấp cơ sở để giảm bớt việc chọn lựa các phương pháp kế toán được IAS cho phép
(Trong một số trường hợp khi các chuẩn mực kế toán quốc tế cho phép hai phương pháp kế toán cho những nghiệp vụ và sự kiện giống nhau thì một phương pháp sẽ được thiết kế như là phương pháp chuẩn (benchmark treatment) còn phương pháp kia sẽ là phương pháp thay thế được cho phép (allowed alternative treatment))
Khuôn mẫu của chuẩn mực kế toán quốc tế bao gồm những vấn đề chính sau :
* Các giả định căn bản
- Giả định dồn tích : Kết quả của các hoạt động kinh doanh và các sự kiện khác được công nhận ngay khi chúng xảy ra (chứ không phải khi phát sinh luồng tiền) Những sự kiện này được ghi chép lại và đưa vào các báo cáo tài chính trong các kỳ báo cáo tương ứng
- Giả định hoạt động liên tục : Giả định rằng đơn vị vẫn tiếp tục hoạt động trong một tương lai định trước
* Các đặc điểm định tính của báo cáo tài chính
Trang 23- Tính có thể hiểu được : Thông tin cần phải dễ hiểu đối với người sử dụng – những người có kiến thức cơ bản về kinh doanh, kinh tế và kế toán và muốn nghiên cứu thông tin
- Tính phù hợp : Thông tin phù hợp ảnh hưởng tới các quyết định kinh tế của người sử dụng, giúp cho họ đánh giá các sự kiện đã, đang và sẽ xảy ra hoặc xác nhận/điều chỉnh những đánh giá trước đây của họ Tính phù hợp của thông tin chịu sự ảnh hưởng của bản chất và tầm quan trọng của thông tin
- Tính có thể tin cậy được : Thông tin đáng tin cậy không mang lỗi trọng yếu và phiến diện Nó phụ thuộc vào : trình bày trung thực, nội dung hơn hình thức, tính khách quan, tính thận trọng, tính đầy đủ
- Tính có thể so sánh được : Thông tin cần được trình bày nhất quán giữa các kỳ và giữa các doanh nghiệp để người sử dụng có thể đưa ra những so sánh trên nhiều khía cạnh
Những hạn chế đối với việc cung cấp thông tin phù hợp và đáng tin cậy như hạn chế về thời gian, cân đối giữa lợi ích và chi phí, cân đối giữa các đặc điểm định tính
* Các yếu tố của báo cáo tài chính
- Đối với Bảng cân đối kế toán, gồm tài sản, công nợ và vốn chủ sở hữu
- Đối với Báo cáo kết quả kinh doanh, gồm thu nhập (bao gồm doanh thu và lãi), chi phí và lỗ
* Phương pháp đánh giá các yếu tố trên báo cáo tài chính
- Giá phí lịch sử
- Giá phí hiện hành
- Giá trị có thể thực hiện
- Giá trị hiện tại
* Khái niệm về vốn và bảo tồn vốn bao gồm :
Trang 24- Khái niệm về vốn :
+ Vốn tài chính : Vốn đồng nghĩa với tài sản thuần/vốn chủ sở hữu; nó được đo bằng đơn vị tiền tệ danh nghĩa Lợi nhuận thể hiện khoản tăng vốn bằng tiền danh nghĩa trong kỳ
+ Vốn vật chất : Vốn được xem là năng lực hoạt động; nó được đo bằng khả năng sản xuất Lợi nhuận thể hiện sự tăng lên trong khả năng sản xuất trong kỳ
- Khái niệm về bảo toàn vốn và xác định lợi tức
2- Các chuẩn mực kế toán quốc tế :
Cho đến nay IASC đã ban hành được 40 chuẩn mực Quá trình hình thành và phát triển các chuẩn mực kế toán quốc tế có thể tóm tắt như sau :
IAS 1 : Sự công bố chính sách kế toán
Công bố lần đầu vào tháng 1/1975 Có cải cách vào năm 1994
Sửa đổi lần 2 vào tháng 8/1997, thay thế cho IAS 5 và IAS 13
IAS 2 – Cách đánh giá và trình bày hàng tồn kho theo hệ thống giá phí nguyên
thủy
Công bố lần đầu vào tháng 10/1975 Bỏ và biên soạn lại vào tháng 12/1993
IAS 3 – Báo cáo tài chính của toàn công ty
Công bố vào tháng 6/1976
Tháng 4/1989, bỏ IAS này và công bố IAS 27
IAS 4 – Hạch toán về khấu hao
Công bố tháng 10/1976 Cải cách năm 1994 Đặc biệt về khấu hao tài sản, máy
Trang 25móc thiết bị được phản ánh vào IAS 16 – Kế toán nhà xưởng, máy móc, thiết bị
IAS 5 – Số liệu phải được công bố trong các báo cáo tài chính
Công bố vào tháng 10/1976 Cải cách vào năm 1994
Tháng 8/1997, được hủy bỏ và thay thế bằng IAS 1
IAS 6 – Kế toán về sự ứng phó với thay đổi giá cả
Công bố vào tháng 6/1977 Hủy bỏ vào tháng 11/1981 và thay thế bằng IAS 15 – Thông tin phảøn ánh ảnh hưởng của sự thay đổi giá cả
IAS 7 – Bảng kê về các biến động về tình hình tài chính
Công bố tháng 10/1977 với tên Báo cáo sự thay đổi vị trí tài chính
Tháng 12/1992, được hủy bỏ và đổi tên thành IAS 7–Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
IAS 8 – Lãi lỗ ròng trong kỳ, các sai sót và những thay đổi cơ bản trong các
chính sách kế toán
Ban hành vào tháng 2/1978 với tên gọi : Sự thay đổi chính sách kế toán với những sự kiện bất thường
Tháng 12/1993, hủy bỏ và công bố IAS 8 với tên mới như đang được áp dụng
IAS 9 – Hạch toán về hoạt động nghiên cứu và phát triển
Công bố vào tháng 7/1978 với tên gọi : Kế toán những hoạt động nghiên cứu và phát triển
Tháng 12/1993, bỏ và sửa đổi thành chi phí nghiên cứu và phát triển
Tháng 7/1998, bỏ và thay bằng IAS 38
Trang 26IAS 10 – Những bất ngờ và các biến cố xảy ra sau ngày lập bảng cân đối kế toán
Công bố tháng 10/1978 Năm 1994, có cải cách lại
Tháng 9/1998, tiếp tục sửa đổi Một phần nội dung chuyển sang IAS 37
Tháng 4/1999, sửa đổi nội dung liên quan đến những sự kiện phát sinh sau ngày lập bảng cân đối kế toán
IAS 11 – Hạch toán các hợp đồng xây dựng
Công bố tháng 3/1979 Tháng 12/1993 có sửa đổi và bắt đầu hiệu lực từ ngày 1.1.1995
IAS 12 – Hạch toán về thuế lợi tức
Công bố tháng 7/1979 Cải cách vào năm 1994
Tiếp tục sửa đổi vào năm 1996 và có hiệu lực vào ngày 1.1.1998
IAS 13 – Cách trình bày tài sản lưu động và nợ ngắn hạn
Ban hành vào tháng 11/1979 Cải cách vào năm 1994
Tháng 8/1997, bỏ IAS 13 và thay thế bằng IAS 1
IAS 14 – Báo cáo số liệu tài chính theo khoản mục
Tháng 8/1981, đuợc công bố
Cải cách vào năm 1994 Tiếp tục sửa đổi vào tháng 8/1997
IAS 15 – Thông tin phản ánh sự thay đổi của giá cả
Công bố vào 11/1981
Trang 27Cải cách vào 1994, thay cho IAS 6
IAS 16 – Hạch toán tài sản cố định hữu hình
Ban hành vào tháng 3/1982
Tháng 12/1993, sửa đổi và hoàn chỉnh
IAS 17 – Hạch toán hợp đồng cho thuê
Công bố lần đầu vào tháng 9/1982
Cải cách vào 1994 và sửa đổi hoàn chỉnh lần 2 vào tháng 12/1997
IAS 18 – Ghi nhận doanh thu
Công bố vào tháng 12/1982
Tháng 12/1993 được sửa đổi Tháng 12/1998, nó được tu chỉnh bằng chuẩn mực IAS 39 (Các công cụ tài chính – Phương pháp đánh giá và công nhận, được ban hành 12/1998, có hiệu lực 1.1.2001)
IAS 19 – Hạch toán các quyền lợi nghỉ hưu của các chủ doanh nghiệp trong báo
cáo tài chính
Công bố lần đầu vào tháng 1/1983 với tên gọi : Kế toán lương hưu trong báo cáo tài chính nhân viên
Tháng 12/1993, có sửa đổi bổ sung
IAS 20 - Hạch toán trợ cấp Nhà nước và công bố trợ cấp Nhà nước
Công bố vào tháng 4/1983 Cải cách vào năm 1994
IAS 21 – Kế toán về sự thay đổi tỷ giá ngoại hối
Trang 28Tháng 7/1983 được công bố lần đầu
Tháng 12/1993, sửa đổi thành : Aûnh hưởng của sự thay đổi tỷ giá ngoại tệ
IAS 22 – Kế toán về việc sát nhập các công ty
Công bố vào tháng 10/1983 với tên gọi : Kế toán hợp nhất kinh doanh
Tháng 12/1993, sửa đổi nội dung và đổi thành : Hợp nhất kinh doanh Vào tháng 10/1996, cập nhật thêm từ IAS 12
Tháng 9/1998, sửa đổi lần cuối và có hiệu lực từ 1.7.1999
IAS 23 – Chi phí lãi vay
Công bố lần đầu vào tháng 3/1984 với tên : Hạch toán vốn chi phí vay nợ
Tháng 12/1993, hủy bỏ và sửa đổi thành chi phí vay nợ Có hiệu lực từ 1.1.1995
IAS 24 – Công bố của các bên hữu quan
Công bố lần đầu vào tháng 7/1984 Cải cách vào năm 1994
IAS 25 – Kế toán về các khoản đầu tư
Công bố váo 3/1986 Cải cách vào năm 1994
Cắt phần liên quan đến đầu tư bằng tài sản bổ sung vào nội dung IAS 39
IAS 26 – Kế toán và báo cáo kế hoạch quyền lợi về nghỉ hưu
Công bố lần đầu vào tháng 1/1987 Cải cách vào 1994
IAS 27 – Báo cáo tài chính toàn công ty và kế toán về các khoản đầu tư vào các
xí nghiệp phụ thuộc
Công bố vào thángt 4/1987 Sửa đổi vào năm 1994
Trang 29IAS 28 – Kế toán các khoản đầu tư trong các công ty liên kết
Công bố vào tháng 4/1989 Cải cách vào năm 1994
Tháng 6/1998, sửa lại trong IAS 36 Tháng 12/1998, IAS 39 có tu chỉnh
IAS 29 – Báo cáo tài chính trong điều kiện nền kinh tế có lạm phát
Công bố tháng 7/1989, cải cách vào 1994
IAS 30 – Công bố trong báo cáo tài chính của Ngân hàng và các thể chế tài
chính tương tự
Công bố vào tháng 8/1990, cải cách vào năm 1994
IAS 39 có tu chỉnh lại nội dung này
IAS 31 – Báo cáo về phần hùn trong các công ty liên doanh
Công bố tháng 12/1990 Cải cách năm 1994
Tháng 6/1998, có sửa lại trong IAS 36 Tháng 12/1998, tu chỉnh trong IAS 39
IAS 33 – Cổ tức
Ban hành tháng 2/1997 Có hiệu lực vào 1.1.1998
IAS 34 – Báo cáo tài chính sơ bộ
Dự thảo 8/1997 Công bố vào 2/1998 Có hiệu lực vào 1.1.1999
IAS 35 – Các hoạt động không liên tục
Công bố 6/1998 Bỏ từ đoạn 19 đến 22 của IAS 8 (Bản sửa 1993)
Hiệu lực từ 1.1.1999
Trang 30IAS 36 – Giảm giá tài sản
Công bố vào tháng 6/1998 Hiệu lực 1.7.1999
Chuẩn mực này thay thế quy định về khả năng khôi phục một tài sản đã được ghi trong IAS 9, IAS 16 và IAS 22 (Bản 1993)
IAS 37 – Dự phòng, tài sản và nợ ngoài dự kiến
Công bố vào tháng 7/1998 Bỏ những khoản mục liên quan ngẫu nhiên trong IAS 10 (1978) về sự kiện xảy ra sau ngày lập bảng cân đối kế toán
IAS 38 – Tài sản cố định vô hình
Công bố vào tháng 7/1998 Bỏ IAS 9 (Bản sửa lại năm 1993)
IAS 39 – Các công cụ tài chính : phương pháp đánh giá và công nhận
Ban hành vào tháng 12/1998, hiệu lực từ 1.1.2001
Bỏ những phần liên quan trong IAS 25 (Bản 1998) Tập hợp kết quả điều chỉnh và hợp lý hóa chúng từ các IAS 18 (Bản sửa 1993), IAS 27 (1989), IAS 28 (1989), IAS 30 (1990), IAS 31 (1990) và IAS 32 (1995)
IAS 40 – Tài sản đầu tư
Ban hành vào tháng 4/2000 Quy định phương pháp hạch toán tài sản đầu tư và các yêu cầu giải trình liên quan
Trang 31Kết luận chương 1
Kế toán là một trong những công cụ quan trọng để quản lý nền kinh tế nói chung và quản lý doanh nghiệp nói riêng Là khoa học thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin về hoạt động kinh tế tài chính một cách thường xuyên, liên tục, phục vụ cho nhà quản lý ra được các quyết định tài chính tối ưu Những thập niên gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường ở các quốc gia theo xu hướng mở cửa, thu hút vốn đầu tư nước ngoài, hình thành sự liên kết kinh tế giữa các quốc gia và các dạng tổ chức kinh tế thế giới, hoạt động kế toán không còn là vấn đề mang tính quốc gia mà cần phải được giải quyết ở tầm cỡ và quy mô quốc tế Trong điều kiện như thế, yêu cầu các thông tin kế toán cung cấp phải có độ tin cậy cao, có giá trị pháp lý, tuân theo những nguyên tắc chung được thừa nhận Do đó công tác kế toán phải được thực hiện theo những chuẩn mực chung trên phạm vi toàn cầu
Những năm qua, cùng với quá trình phát triển kinh tế, cùng với sự đổi mới sâu sắc của cơ chế kinh tế, hệ thống kế toán Việt Nam đã không ngừng được hoàn thiện và phát triển, góp phần tích cực vào việc tăng cường và nâng cao chất lượng quản lý tài chính quốc gia, quản lý doanh nghiệp Tuy nhiên, hệ thống kế toán của Việt Nam vẫn chưa phù hợp ở mức độ cần thiết với chuẩn mực kế toán mang tính phổ biến của quốc tế được đa số các quốc gia thừa nhận
Vì vậy, việc xây dựng một hệ thống kế toán có tính chất tương đồng và hài hòa với quốc tế thông qua việc vận dụng có chọn lọc các chuẩn mực kế toán quốc tế là điều tất yếu, khách quan
W X
Trang 32CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG CỦA HỆ THỐNG KẾ TOÁN VIỆT NAM
Ra đời từ năm 1945, hệ thống kế toán Việt Nam đã không ngừng cải tiến và hoàn thiện Sự phát triển của hệ thống kế toán Việt Nam chịu sự chi phối mạnh mẽ của môi trường kế toán Do đó, nếu dựa vào sự biến đổi lớn của môi trường kế toán, ta có thể chia quá trình phát triển của hệ thống kế toán Việt Nam thành 3 giai đoạn :
- Giai đoạn 1 (tính từ khi ra đời đến năm 1986) : Nền kinh tế vận hành theo cơ
chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp
- Giai đoạn 2 (từ năm 1986 đến năm 1995) : Xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu,
bao cấp, xây dựng cơ chế mới về quản lý kinh tế – cơ chế kế hoạch hóa theo phương thức hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa, đúng nguyên tắc tập trung dân chủ
- Giai đoạn 3 (từ năm 1995 đến nay) : Nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị
trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa
2.1 HỆ THỐNG KẾ TOÁN VIỆT NAM TRƯỚC NĂM 1995
2.1.1 HỆ THỐNG KẾ TOÁN VIỆT NAM TỪ KHI RA ĐỜI ĐẾN NĂM
1986
Đặc điểm của giai đoạn này là nền kinh tế vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp Nhà nước thực hiện việc quản lý toàn diện đối với các doanh nghiệp trên cơ sở quy định và giao nhiệm vụ kế hoạch sản xuất bằng các chỉ tiêu pháp lệnh Tuy nhiên, mức độ tập trung trong quản lý kinh tế và kế hoạch hóa không như nhau trong suốt thời kỳ, được thể hiện qua những
Trang 33thay đổi của hệ thống chỉ tiêu pháp lệnh giao kế hoạch cho các đơn vị cơ sở trong thời kỳ này
Năm 1957, hệ thống kế toán kép đầu tiên được áp dụng ở Việt Nam Giai đoạn này, cùng với việc đẩy mạnh công việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc theo đường lối của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III, Nhà nước đã coi kế toán là một bộ phận cấu thành quan trọng của hệ thống công cụ quản lý kinh tế, tài chính nhằm quản lý điều hành nền kinh tế và bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa Nghị định 175/CP ngày 28/10/1961, Chính phủ đã ban hành Điều lệ tổ chức kế toán Nhà nước với mục tiêu “tăng cường công tác kế toán tại các ngành, các cấp nhằm góp phần vào việc nắm bắt kịp thời và chính xác tình hình hoàn thiện kế hoạch kinh tế tài chính của Nhà nước, tăng cường công tác quản lý kinh tế và tài chính của Nhà nước” Trong điều lệ đã quy định một cách cụ thể, chi tiết các vấn đề liên quan đến công tác kế toán Căn cứ vào Điều lệ tổ chức kế toán Nhà nước, Bộ Tài chính đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn kế toán cho các ngành sản xuất công nghiệp, xây dựng cơ bản, thương nghiệp… Chế độ sổ kế toán được ban hành từ năm 1963, nhưng văn bản đầu tiên có tính pháp lý cao nhất lúc đó là Thông tư số 07-TC/CĐKT ngày 21/12/1964 quy định rõ các vấn đề liên quan đến các loại sổ, việc mở sổ, ghi sổ, chữa sổ, lưu trữ và bảo quản sổ kế toán Chế độ ghi chép ban đầu ban hành theo quyết định 583-LB/TC-TK ngày 1/1/1967 tạo
cơ sở pháp lý cho công tác kế toán thống kê
Nghị định 176/CP ngày 10/9/1970 của Chính phủ thay đổi chương III của Điều lệ tổ chức kế toán Nhà nước, quy định lại chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn kế toán trưởng nhằm phù hợp với chương trình cải tiến quản lý xí nghiệp Để tạo môi trường pháp lý làm cơ sở cho công tác kế toán góp phần thực hiện việc quản lý, giám sát hoạt động kinh tế tài chính trong quá trình thực hiện chương trình cải tiến xí nghiệp quốc doanh, Bộ Tài chính ban hành sửa đổi hệ
Trang 34thống chế độ kế toán, thống kê định kỳ (quyết định số 231-TC/CĐKT ngày 17/7/1970) Cùng thời gian xây dựng này, Chính phủ cũng có quyết định 233/CP ngày 1/2/1970 quy định hệ thống báo cáo kế toán thống kê thống nhất Hệ thống này được quy định áp dụng cho tất cả các xí nghiệp thuộc các ngành và các địa phương quản lý Hệ thống bao gồm 13 biểu báo cáo và chia làm 4 loại :
Loại 1 : Phản ánh vốn và nguồn vốn kinh doanh của xí nghiệp, loại này có 3 biểu
23 CN - Bảng tổng kết tài sản
24 CN - Tăng giảm tài sản cố định và quỹ khấu hao
25 CN - Tăng giảm nguồn vốn cơ bản
Loại 2 : Phản ánh chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm, loại này có 5 biểu :
26 CN - Chi phí phục vụ và quản lý sản xuất
27 CN - Chi phí sản xuất theo yếu tố
28 CN - Giá thành sản phẩm so sánh được và toàn bộ sản phẩm theo
khoản mục
29 CN - Giá thành đơn vị các loại các loại sản phẩm chủ yếu
30 CN - Những nhân tố làm tăng giảm giá thành
Loại 3 : Phản ánh tình hình tiêu thụ sản phẩm và lãi lỗ, loại này có 2 biểu :
31 CN - Tiêu thụ
32 CN - Lãi lỗ và các khoản thanh toán với ngân sách
Loại 4 : Phản ánh các quỹ xí nghiệp, tiền mặt và công nợ, loại này có 3 biểu :
33 CN - Tăng giảm các quỹ xí nghiệp
34 CN - Thu chi tiền mặt
35 CN - Công nợ phải thanh toán
Cũng trong năm 1970, Bộ Tài chính ban hành hệ thống tài khoản kế toán
Trang 35TC/CĐKT ngày 14/12/1970) Sau ngày miền Nam giải phóng (30/4/1975), hệ thống kế toán này được thống nhất áp dụng cho cả nước Hệ thống tài khoản kế toán gồm 68 tài khoản (sau đó bổ sung thêm 1 tài khoản) xếp thành 11 loại tài khoản trong Bảng tổng kết tài sản và 9 tài khoản ngoài Bảng tổng kết tài sản Mỗi tài khoản mang ký hiệu 2 số từ số 01 đến số 99, các tài khoản còn được xây dựng các tiểu khoản, ký hiệu của tiểu khoản là 3 số trong đó 2 số mang ký hiệu của tài khoản và thêm 1 con số nữa Ngày 24/3/1983, để đáp ứng yêu cầu chuẩn hóa chứng từ, biểu mẫu và cơ khí hóa công tác tính toán, tổng cục thống kê ra quyết định số 200/TCKT-PPCĐ về việc sửa đổi bổ sung thêm một số chứng từ ghi chép ban đầu đã ban hành theo quyết định số 538 LB ngày 1/1/1967
Hệ thống kế toán trong giai đoạn này được xây dựng trên cơ sở các nguyên tắc của một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung đã cung cấp được các thông tin một cách có hệ thống và toàn diện về tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh và bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa của các đơn vị Thông qua số liệu kế toán, các cơ quan đảng và nhà nước thiết lập một sự kiểm tra và kiểm soát đối với hoạt động kinh tế của đơn vị với tư cách là người lãnh đạo và quản lý toàn bộ nền kinh tế quốc dân Hệ quả là, trong cơ chế này, đối tượng sử dụng thông tin kế toán bên ngoài đơn vị chỉ là các cơ quan chủ quản và các cơ quan quản lý chức năng của Nhà nước Cơ chế này đã tạo tâm lý ỷ lại cho các đơn vị cũng như không phát huy tính năng động sáng tạo của từng đơn vị bởi vì việc quản trị doanh nghiệp không phải là công việc nội bộ của đơn vị mà chịu sự chi phối của các cơ quan chủ quản, các cơ quan chức năng của Nhà nước Để khắc phục nhược điểm trên, đòi hỏi phải có sự đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nói chung, và đi liền với nó là một sự đổi mới về hệ thống kế toán và cơ chế tài chính
Trang 362.1.2 HỆ THỐNG KẾ TOÁN VIỆT NAM TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM
1995 :
Xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp, xây dựng cơ chế mới về quản lý kinh tế – cơ chế kế hoạch hóa theo phương thức hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa, đúng nguyên tắc tập trung dân chủ
Đây là thời kỳ chuyển biến căn bản nền kinh tế nước ta, các doanh nghiệp được giao quyền tự chủ về mặt tài chính, thực hiện chế độ hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa Ngày 30/11/1986 Nghị quyết 156/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) được ban hành, các chỉ tiêu pháp lệnh giao cho xí nghiệp giảm xuống đáng kể theo hướng mở rộng quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh của các xí nghiệp, nhằm thực hiện chủ trương đổi mới cơ chế quản lý kinh tế mà Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã đề ra là : “Xóa bỏ tập trung quan liêu bao cấp, xây dựng cơ chế mới phù hợp với quy luật khách quan và trình độ phát triển của nền kinh tế” Thay vì can thiệp quá sâu vào hoạt động kinh doanh của các xí nghiệp, Nhà nước kiểm soát các xí nghiệp bằng pháp luật Quyết định 217/HĐBT ngày 4/11/1987 của Hội đồng Bộ trưởng và hàng loạt các văn bản đã được ban hành có giá trị pháp lý phục vụ cho công tác quản lý xí nghiệp trong thời kỳ đổi mới Trong giai đoạn này, Nhà nước đã phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa,
đa dạng hóa các loại hình sở hữu, thu hút vốn đầu tư nước ngoài Các quy định pháp lý về kế toán cũng như các chế độ kế toán ở nước ta đã có những thay đổi căn bản mang tính bản chất, phù hợp với trình độ phát triển của nền kinh tế Các khuôn khổ pháp lý về kế toán được tạo dựng, hoàn thiện phù hợp với cơ chế quản lý mới Pháp lệnh kế toán và thống kê được ban hành theo lệnh số 06-
Trang 37quy định điều chỉnh lĩnh vực kế toán và quản lý Nhà nước về kế toán trong các đơn vị kinh tế cơ sở Pháp lệnh này đã dần dần đi vào cuộc sống thực tế về quản lý kinh tế trong thời kỳ quá độ Song, sự nghiệp đổi mới đất nước ta đòi hỏi phải có sự đồng bộ về các chính sách, chế độ quản lý, vì vậy Nhà nước đã ban hành hàng loạt các văn bản quy phạm pháp luật để triển khai pháp lệnh kế toán thống kê như Nghị định 25/HĐBT ngày 18/3/1989 về Điều lệ tổ chức kế toán Nhà nước, Nghị định 26/HĐBT ngày 18/3/1989 về Điều lệ kế toán trưởng xí nghiệp quốc doanh, Quyết định số 212-TC/CĐKT ngày 15/12/1989 về hệ thống tài khoản kế toán thống nhất, Quyết định 19TC/CĐKT ngày 31/3/1990 để bổ sung về chế độ sổ kế toán theo hình thức Nhật ký chứng từ, Quyết định 224-TC/CĐKT ngày 18/4/1990 về hệ thống báo cáo kế toán mới thay thế hệ thống báo cáo kế toán ban hành theo Quyết định 13-TCTK/PPCĐ ngày 13/1/1986, Nghị định 52/HF9BT ngày 19/12/1992 về xử phạt hành chính trong lĩnh vực kế toán, thống kê, Thông tư 84/TC/CĐKT ngày 23/10/1993 về hướng dẫn thực hiện công tác kế toán đối với các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Hệ thống tài khoản kế toán thống nhất theo Quyết định số 212-TC/CĐKT ngày 15/12/1989 gồm 9 loại với 41 tài khoản (sau thêm 1 tài khoản) trong Bảng tổng kết tài sản và 8 tài khoản ngoài Bảng, mỗi tài khoản mang ký hiệu 2 số từ số 10 đến số 92, các tiểu khoản mang ký hiệu 3 số trong đó 2 số là ký hiệu của tài khoản
Danh mục tài khoản kế toán :
* 10,11 : Tài sản cố định
* 20-25 : Dự trữ sản xuất, kinh doanh
* 30-38 : Chi phí
* 40 : Tiêu thụ và kết quả
* 50-52 : Vốn bằng tiền
Trang 38* 60-69 : Thanh toán
* 70,71 : Thu nhập
* 80-84 : Nguồn vốn
* 90-92 : Nguồn vốn tín dụng
Hệ thống báo cáo theo Quyết định 224-TC/CĐKT ngày 18/4/1990 được áp dụng thống nhất cho các xí nghiệp công nghiệp quốc dân thuộc các ngành, các địa phương quản lý có ưu điểm là cắt giảm toàn bộ các thông tin tác nghiệp và bổ sung các thông tin liên quan đến các đối tượng kế toán phát sinh trong môi trường kế toán mới như hoạt động liên doanh, liên kết, các nghiệp vụ có liên quan đến ngoại tệ, những thay đổi về nguồn tài trợ… Hệ thống báo cáo này chỉ còn 4 biểu :
- Biểu số 1 : Bảng tổng kết tài sản
- Biểu số 2 : Kết quả kinh doanh
- Biểu số 3 : Chi phí sản xuất theo yếu tố
- Biểu số 4 : Bảng giải trình về kết quả kinh doanh
Trong giai đoạn này, “Nhà nước không điều phối nền kinh tế bằng các quyền lực hành chính trực tiếp mà điều phối gián tiếp thông qua một hệ thống thông tin theo chiều ngang trong mối liên hệ ràng buộc giữa xí nghiệp sản xuất với cơ chế thị trường, với những quy phạm và các tham số kinh tế để điều phối, vận hành nền kinh tế theo định hướng của Nhà nước” Hệ thống các văn bản pháp quy và các chế độ kế toán được ban hành trong thời gian này đã có nhiều
ưu điểm là đáp ứng được những yêu cầu cơ bản trong quản lý kinh tế vĩ mô của Nhà nước cũng như tạo ra tiền đề quản lý tốt quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của các xí nghiệp Tuy nhiên, hệ thống cũng còn nhiều nhược điểm, chẳng hạn : hệ thống tài khoản tuy rườm rà phức tạp nhưng lại chưa phản ánh và
Trang 39ánh các nghiệp vụ mới phát sinh như dự phòng, tài sản cố định vô hình, tài sản cố định thuê tài chính…; chưa phù hợp với thông lệ kế toán quốc tế do đó chưa thể hòa nhập với khu vực và quốc tế; hệ thống văn bản tài chính-kế toán ban hành chưa kịp thời, còn mang nhiều dấu ấn của thời bao cấp, của cơ chế hành chính quan liêu và chưa phù hợp hoàn toàn với nền kinh tế nhiều thành phần vận hành trong cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước Do đó, để nâng cao được vai trò cũng như phát huy hết hiệu lực của kế toán trong công tác quản lý kinh tế, việc tiếp tục cải cách cơ chế quản lý kinh tế nói chung và hệ thống kế toán nói riêng là một tất yếu khách quan
2.2 HỆ THỐNG KẾ TOÁN VIỆT NAM TỪ NĂM 1995 ĐẾN NAY
2.2.1 MÔI TRƯỜNG PHÁP LÝ
Đặc điểm nổi bật của giai đoạn này là công cuộc đổi mới nền kinh tế nước ta – từ nền kinh tế kế hoạch sang nền kinh tế thị trường - đã thu được những thành tựu đáng kể, thu hút vốn đầu tư nước ngoài tăng nhanh, quan hệ kinh tế đối ngoại phát triển; sự hội nhập nền kinh tế nước ta với thế giới và các nước trong khu vực đạt được nhiều thành tựu to lớn Nước ta đã gia nhập AFTA, APEC, được các tổ chức tài chính, tiền tệ thế giới và khu vực giúp đỡ cho vay vốn để đầu tư phát triển các ngành kinh tế “mũi nhọn”
Trong điều kiện đó, việc tạo ra một môi trường pháp lý lành mạnh cho các hoạt động kế toán, tài chính và kiểm toán là một yêu cầu cấp thiết Tháng 7/1994, Chính phủ đã thành lập Ban cải cách chế độ kế toán gồm nhiều chuyên gia kế toán giỏi ở các Bộ, ngành, Trường Đại học kinh tế, tài chính với sự giúp đỡ của các chuyên gia nước ngoài đã thiết lập hệ thống kế toán Việt Nam Ngày 1/1/1995, Bộ Tài chính ra quyết định số 1205-TC/CĐKT, ban hành hệ thống kế toán doanh nghiệp Hệ thống kế toán này được đưa vào thử nghiệm ở 642 doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực, các thành phần kinh tế Sau quá trình thử nghiệm đã
Trang 40rút ra những ưu điểm và những tồn tại của hệ thống kế toán này và đến ngày 1/11/1995, Bộ Tài chính ban hành hệ thống kế toán doanh nghiệp thống nhất áp dụng cho các doanh nghiệp trong cả nước theo Quyết định số 1141-TC/CĐKT, hệ thống kế toán này được áp dụng từ ngày 1/1/1996 Cũng trong thời gian này, ngày 14/12/1995 Bộ Tài chính đã ban hành hệ thống chế độ kế toán áp dụng cho các hộ kinh doanh theo Quyết định số 1271-TC/QĐ/CĐKT thay cho chế độ kế toán ngoài quốc doanh ban hành theo Quyết định 598-TC/QĐ/CĐKT ngày 8/12/1990; Ngày 2/11/1996 ban hành hệ thống chế độ kế toán hành chính sự nghiệp theo Quyết định số 999-TC/QĐ/CĐKT; Ngày 23/12/1996 ban hành hệ thống kế toán doanh nghiệp vừa và nhỏ theo Quyết định số 1177-TC/QĐ/CĐKT; Ngày 31/12/1996 ban hành hệ thống kế toán áp dụng cho các doanh nghiệp Bảo hiểm theo quyết định số 1296-TC/QĐ/CĐKT; Ngày 20/3/1997 ban hành Thông
tư số 10TC/CĐKT hướng dẫn sửa đổi, bổ sung chế độ kế toán doanh nghiệp; Ngày 28/4/1997 ban hành hệ thống kế toán áp dụng cho các Tổng công ty xổ số kiến thiết theo Quyết định số 298-TC/QĐ/CĐKT; Ngày 1/9/1997 ban hành Thông tư 60-TC/CĐKT để hướng dẫn thực hiện công tác kế toán ở các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; ngày 16/12/1998, ban hành chế độ kế toán áp dụng cho các doanh nghiệp xây lắp theo Quyết định số 1864/1998/QĐ-BTC Cùng với các văn bản pháp lý nói trên ngày 1/4/1999, hệ thống kế toán áp dụng cho các tổ chức tín dụng, ngân hàng cũng đã được ban hành
Thực tế trong những năm gần đây, công tác kế toán trong các ngành, các cấp, các lĩnh vực và mọi thành phần kinh tế đã có nhiều tiến bộ trên cơ sở môi trường pháp lý ngày càng được hoàn thiện Việc mạnh dạn sửa đổi, bổ sung hệ thống các văn bản pháp quy về kế toán tạo hành lang pháp lý đảm bảo cho hoạt động kế toán phát triển ổn định nhằm phát huy vai trò công cụ đắc lực trong