1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Giải pháp hoàn thiện nội dung và phương pháp lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ tại các doanh nghiệp Việt Nam theo hướng hòa hợp với chuẩn mực kế toán quốc tế

152 74 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 152
Dung lượng 1,47 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NGUYỄN ANH VŨ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP LẬP BÁO CÁO LƯU CHUYỂN TIỀN TỆ TẠI CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM THEO HƯỚNG HÒA HỢP VỚI CHUẨN MỰC KẾ TOÁN QUỐC TẾ LUẬN VĂN THẠC S

Trang 1

NGUYỄN ANH VŨ

GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP LẬP BÁO CÁO LƯU CHUYỂN TIỀN TỆ TẠI CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM THEO HƯỚNG HÒA HỢP VỚI

CHUẨN MỰC KẾ TOÁN QUỐC TẾ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP Hồ Chí Minh – Năm 2014

Trang 2

NGUYỄN ANH VŨ

GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP LẬP BÁO CÁO LƯU CHUYỂN TIỀN TỆ TẠI CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM THEO HƯỚNG HÒA HỢP VỚI

CHUẨN MỰC KẾ TOÁN QUỐC TẾ

Chuyên ngành: Kế toán

Mã số: 60340301

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS HÀ XUÂN THẠCH

TP Hồ Chí Minh – Năm 2014

Trang 3

Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ kinh tế "Giải pháp hoàn thiện nội dung và phương

pháp lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ tại các doanh nghiệp Việt Nam theo hướng hòa

hợp với chuẩn mực kế toán quốc tế" là công trình nghiên cứu độc lập của tôi dưới sự

hướng dẫn khoa học của PGS.TS Hà Xuân Thạch Những kết quả nêu ra trong luận văn

này là trung thực và chưa công bố rộng rãi trước đây Các tài liệu, số liệu trích dẫn

trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng

Tác giả

Nguyễn Anh Vũ

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ BCLCTT THEO CHUẨN MỰC KẾ TOÁN QUỐC TẾ: 7

1.1 Tổng quan về BCLCTT: - 7

1.1.1 Sơ lược về lịch sử hình thành và phát triển của BCLCTT: 7

1.1.2 Ý nghĩa thông tin của BCLCTT: 11

1.2 Nội dung cơ bản của BCLCTT theo chuẩn mực kế toán quốc tế: - 12

1.2.1 Những thuật ngữ cơ bản: 12

1.2.2 Luồng tiền vào và ra trong BCLCTT: 12

1.2.3 Phương pháp lập và trình bày BCLCTT: 14

1.2.3.1 Phương pháp trực tiếp: 14

1.2.3.2 Phương pháp gián tiếp: 15

1.3 Mối quan hệ giữa BCLCTT và các BCTC khác: - 16

1.3.1 Mối quan hệ giữa BCLCTT và BCĐKT: 16

1.3.2 Mối quan hệ giữa BCLCTT và BCKQHĐKD: 17

1.3.3 Mối quan hệ giữa BCLCTT và thuyết minh BCTC: 19

1.4 So sánh sự khác biệt của chuẩn mực BCLCTT các nước và quốc tế - bài học kinh nghiệm cho Việt Nam: - 19

1.4.1 So sánh sự khác biệt của chuẩn mực BCLCTT các nước và quốc tế: 19

1.4.2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam: 31

Kết luận chương 1: - 33

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG LẬP VÀ TRÌNH BÀY BCLCTT TẠI CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM: 34

Trang 5

2.1.2.1 Các khái niệm cơ bản: 362.1.2.2 Phân loại luồng tiền: 362.1.2.3 Phương pháp lập BCLCTT: 37

2.2 So sánh sự khác biệt giữa BCLCTT theo IFRS và theo chuẩn mực Việt Nam: 38 2.3 Khảo sát về việc lập và trình bày BCLCTT tại Việt Nam: - 43

2.3.1 Thu thập dữ liệu: 432.3.1.1 Khảo sát những thuận lợi và khó khăn hiện nay trong việc lập BCLCTT theo chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán Việt Nam 432.3.1.2 Khảo sát tính hữu ích của thông tin BCLCTT: 452.3.1.3 Khảo sát tính tuân thủ khi vận dụng các văn bản pháp quy kế toán về việc vận dụng và trình bày BCLCTT ở Việt Nam: 452.3.1.4 Khảo sát mức độ hội nhập cũng như những thuận lợi khó khăn khi hội nhập kế toán Việt Nam và quốc tế: 462.3.2 Phương pháp xử lý: 462.3.2.1 Kết quả khảo sát những thuận lợi và khó khăn hiện nay trong việc lập

BCLCTT theo chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán Việt Nam: 462.3.2.2 Kết quả khảo sát tính hữu ích của thông tin BCLCTT: 582.3.2.3 Kết quả khảo sát tính tuân thủ khi vận dụng các văn bản pháp quy kế toán về việc vận dụng và trình bày BCLCTT ở Việt Nam: 632.3.2.4 Kết quả khảo sát mức độ hội nhập cũng như những thuận lợi khó khăn khi hội nhập kế toán Việt Nam và quốc tế: 64

2.4 Những mặt đã làm được, chưa làm được và nguyên nhân tồn tại: - 65 Kết luận chương 2 - 69 CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP LẬP BCLCTT TẠI CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM THEO HƯỚNG HÒA HỢP VỚI CHUẨN MỰC KẾ TOÁN QUỐC TẾ 70

Trang 6

3.2.2 Tiếp cận trên cơ sở hoàn thiện các mục tiêu nghiên cứu: 72

3.2.3 Tiếp cận từ các chủ thể liên quan BCLCTT: 72

3.2.3.1 Tiếp cận từ các tổ chức lập quy: 72

3.2.3.2 Tiếp cận từ người lập và người sử dụng BCLCTT: 74

3.2.3.3 Trách nhiệm của các trường đại học và trung tâm đào tạo kế toán: 75

3.3 Giải pháp hoàn thiện nội dung và phương pháp lập BCLCTT tại các doanh nghiệp Việt Nam theo hướng hòa hợp với chuẩn mực kế toán quốc tế: - 75

3.3.1 Hoàn chỉnh VAS 24 theo hướng hòa hợp với kế toán quốc tế: 76

3.3.2 Ban hành mới thông tư về BCLCTT theo chuẩn mực kế toán quốc tế: 79

3.3.3 Hoàn thiện quy trình lập BCLCTT phương pháp gián tiếp theo chuẩn mực kế toán quốc tế: 87

Kết luận chương 3 - 93

LỜI KẾT LUẬN 94 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

BCĐKT Bảng cân đối kế toán

BCKQHĐKD Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh

BCLCTT Báo cáo lưu chuyển tiền tệ

BCTC Báo cáo tài chính

AARF Australian Accounting Research Foundation

AASB Australian Accounting Standards Board

AICPA American Institute [of] Certified Public Accountants APB Accounting Principles Board

ASB Accounting Standards Board

ASRB Accounting Standards Review Board

FASB Financial Accounting Standards Board

FRS Financial Reporting Standards

GAAP Generally Accepted Accounting Principles

IASB International Accounting Standards Board

IASC International Accounting Standards Committee

ICAA Institute of Chartered Accountants in Australia

ICAEW Institute of Chartered Accountants in England and Wales IFRS International Financial Reporting Standard

SSAF Statement of Source and Application of Funds

SSAP Statements of Standard Accounting Practice

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là một bộ phận quan trọng của báo cáo tài chính, nó có tác dụng quan trọng trong việc phân tích, đánh giá, dự báo khả năng tạo ra tiền, khả năng đầu tư, khả năng thanh toán,… nhằm giúp các nhà quản lý, các nhà đầu tư và những ai có nhu cầu sử dụng thông tin có những hiểu biết nhất định đối với hoạt động của doanh nghiệp Trong thời đại ngày nay, để đáp ứng nhu cầu thông tin ngày càng cao của người sử dụng thì sự cần thiết đặt ra là báo cáo tài chính nói chung và báo cáo lưu chuyển tiền tệ nói riêng cũng phải được lập và trình bày theo tiến trình hội nhập kế toán quốc tế Hiện nay, nhiều quốc gia đã chủ động và tích cực tham gia bằng việc áp dụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IAS/IFRS) Chế độ kế toán và chuẩn mực

kế toán Việt Nam (VAS) những năm gần đây đã có những thay đổi rất lớn, thậm chí chúng ta đã dùng một số chuẩn mực kế toán quốc tế và chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IAS/ IFRS) áp dụng cho Việt Nam Tuy nhiên, viễn cảnh hội nhập kế toán quốc tế từ chuẩn mực đến thực tiễn là cả một quá trình đầy thử thách bởi thực trạng việc vận dụng chuẩn mực của các quốc gia và từng khu vực theo những phương pháp tiếp cận khác nhau Báo cáo lưu chuyển tiền tệ được quy định theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 24, tuy nhiên thực tế các doanh nghiệp chưa nhận thức đúng tầm quan trọng của báo cáo lưu chuyển tiền tệ trong việc cung cấp thông tin hữu ích cho người

sử dụng và báo cáo lưu chuyển tiền tệ cũng chưa được quan tâm và chú trọng đúng mức theo tinh thần hội nhập quốc tế trong giai đoạn hiện nay Để các doanh nghiệp Việt Nam có thể niêm yết trên thị trường chứng khoán nước ngoài cũng như giao dịch với các nước bạn thì vấn đề được đặt ra là làm sao để các Báo cáo tài chính được lập theo chuẩn mực kế toán Việt Nam có thể tiệm cận được với chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế Xuất phát từ tầm quan trọng của Báo cáo lưu chuyển tiền tệ, cùng với những kiến thức được các thầy cô trang bị trong hai năm theo học cao học tại trường,

Trang 9

tôi chọn nghiên cứu đề tài "Giải pháp hoàn thiện nội dung và phương pháp lập Báo cáo lưu chuyển tiền tệ tại các doanh nghiệp Việt Nam theo hướng hòa hợp với chuẩn mực

kế toán quốc tế" làm đề tài cho luận văn thạc sĩ của mình

2 Tổng quan các đề tài nghiên cứu có liên quan:

Đề tài "Adviser alert—New publication on IAS 7: Statement of Cash Flows—a guide to avoiding common pitfalls and application" của Grant Thornton năm 2012 Tác giả chú trọng làm rõ các khoản mục về "tiền và các khoản tương đương tiền"; cách thức phân loại các luồng tiền từ hoạt động kinh doanh, đầu tư, tài chính; cách thức trình bày BCLCTT; xác định các nhóm luồng tiền; làm rõ các luồng tiền liên quan đến ngoại

tệ theo IAS 7 Đề tài đã minh họa và giải thích những khái niệm chưa được làm rõ trong IAS 7

Đề tài "Presentation of Consolidated Statement of Cash Flows under IAS 7, Statement of Cash Flows" – đề tài nghiên cứu khoa học của Tănase Alin-Eliodor và Calota Traian-Ovidiu năm 2013 Tác giả đã trình bày phương pháp tiếp cận các khái niệm về BCLCTT, đồng thời minh họa quá trình chuẩn bị và lập BCLCTT hợp nhất theo IAS 7 Nhìn chung, bài nghiên cứu cho người đọc một cái nhìn tổng quát về BCLCTT theo chuẩn mực kế toán quốc tế

Đề tài "The Usefulness of Direct Cash Flow Statements under IFRS" – đề tài nghiên cứu của Alan Jonathan Duboisée de Ricquebourg năm 2013 Đề tài chú trọng trong việc phân tích tầm quan trọng của BCLCTT theo phương pháp trực tiếp, chỉ ra tính hữu của phương pháp này trong việc phân tích chính xác luồng tiền theo IFRS

Đề tài "Hoàn thiện nội dung và phương pháp lập BCLCTT để nâng cao tính hữu ích của hệ thống báo cáo kế toán doanh nghiệp Việt Nam" - đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường năm 2002, chủ nhiệm đề tài: Lý Thị Bích Châu Tác giả đã phân tích và lý giải những vấn đề cơ bản về BCLCTT theo chuẩn mực kế toán quốc tế và khẳng định

sự cần thiết phải vận dụng BCLCTT trong hệ thống doanh nghiệp Việt Nam Tác giả cũng đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện nội dung và phương pháp lập BCLCTT

Trang 10

trong hệ thống báo cáo tài chính nhằm nâng cao tính hữu ích của thông tin kế toán quản lý Đề tài thực hiện vào tháng 3 năm 2002, thời điểm này VAS 24 chưa được ban hành, các doanh nghiệp lúc này lập BCLCTT theo quyết định 1141/TC/CĐKT Tác giả nghiên cứu dưới góc độ các BCLCTT riêng, chưa đi vào nghiên cứu ở quy mô tập đoàn, tức là các BCLCTT hợp nhất

Đề tài "Một số giải pháp nâng cao tính hữu ích của BCLCTT tại các doanh nghiệp Việt Nam" - luận văn thạc sĩ năm 2010 Nguyễn Thị Thanh Hiền, người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Vũ Hữu Đức Tác giả đã hệ thống hóa những khó khăn thường gặp khi lập và sử dụng báo cáo cáo lưu chuyển tiền tệ, đồng thời đưa ra được một số giải pháp đối với người lập, người sử dụng nhằm nâng cao tính hữu ích của báo cáo này Giống như đề tài trên, tác giả cũng không nghiên cứu dưới góc độ các BCLCTT hợp nhất

Đề tài "Hoàn thiện BCLCTT hợp nhất tại các công ty hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con – Việt Nam" – luận văn thạc sĩ năm 2013 Phan Thị Kiểu Oanh, người hướng dẫn khoa học: PGS:TS Bùi Văn Dương Luận văn đã tổng hợp được các khó khăn khi lập BCLCTT hợp nhất và kiến nghị được một số giải pháp cho việc ra quyết định Trọng tâm nghiên cứu của luận văn theo hướng giúp BCLCTT hợp nhất phù hợp với thông lệ quốc tế và tình hình Việt Nam, luận văn không nghiên cứu theo khía cạnh hội tụ với các chuẩn mực kế toán quốc tế hiện nay

Tác giả nhận thấy rằng các công trình nghiên cứu nước ngoài đã tập trung làm rõ được các vấn đề trong việc lập và trình bày BCLCTT theo chuẩn mực kế toán quốc tế; các công trình nghiên cứu trong nước hướng trọng tâm vào việc nâng cao tính hữu ích của BCLCTT Trên cơ sở kế thừa các nghiên cứu trước đây có liên quan, tác giả tiếp cận đề tài ở một khía cạnh khác, đó là hoàn thiện nội dung và phương pháp lập theo hướng hòa hợp với chuẩn mực kế toán quốc tế

3 Mục đích nghiên cứu

3.1 Mục đích chung:

Trang 11

Mục đích của đề tài là nghiên cứu, làm rõ một số lý luận và thực tiễn trong việc lập và trình bày BCLCTT tại các doanh nghiệp Việt Nam, trên cơ sở đó đề xuất, kiến nghị một số giải pháp nhằm hoàn thiện nội dung và phương pháp lập BCLCTT

3.2 Mục đích cụ thể:

- Hệ thống hóa các lý luận về BCLCTT theo chuẩn mực kế toán quốc tế

- Thực trạng tại các doanh nghiệp Việt Nam trong việc lập BCLCTT riêng và BCLCTT hợp nhất theo VAS, xem xét khả năng đáp ứng thông tin của BCLCTT và quá trình hòa hợp của kế toán Việt Nam hiện nay

- Đề ra giải pháp để hoàn thiện việc lập và trình bày BCLCTT riêng và hợp nhất theo hướng hòa hợp với chuẩn mực kế toán quốc tế

4 Câu hỏi nghiên cứu:

(1) Những thuận lợi và khó khăn hiện nay trong việc lập BCLCTT theo chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán Việt Nam

(2) Tính hữu ích của thông tin BCLCTT theo mẫu hiện nay của kế toán Việt Nam ở mức độ nào

(3) Đánh giá về tính tuân thủ khi vận dụng các văn bản pháp quy kế toán về việc vận dụng và trình bày BCLCTT ở Việt Nam

(4) Mức độ hội nhập cũng như những thuận lợi khó khăn khi hội tụ kế toán Việt Nam

Trang 12

6 Phương pháp nghiên cứu:

6.1 Phương pháp thu thập số liệu:

Dữ liệu thứ cấp: gồm các tài liệu chuẩn mực kế toán quốc tế, IAS, IFRS, các công trình nghiên cứu về tiến trình hội tụ kế toán quốc tế của các quốc gia trên thế giới, tài liệu về chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán của Việt Nam, các báo cáo tài chính của các doanh nghiệp và tập đoàn sản xuất kinh doanh Việt Nam, các bài báo, luận văn, luận án có liên quan đến đề tài

Dữ liệu sơ cấp: Để đánh giá được nhiều ý kiến về lập và trình bày BCLCTT hiện nay tại Việt Nam thì ngoài dữ liệu thứ cấp ở các tài liệu nêu trên thì luận văn lập 4 bảng khảo sát để khảo sát 4 đối tượng khác nhau

6.2 Phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp tổng hợp, hệ thống hóa dữ liệu để phục vụ lý luận

- Phương pháp so sánh, phân tích thông tin

- Phương pháp thống kê mô tả để đánh giá các câu hỏi

- Phương pháp suy diễn nhằm tổng hợp và đưa ra những giải pháp

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu:

- Về lý luận: Hệ thống hóa lý luận lập BCLCTT theo chuẩn mực kế toán quốc tế

- Khảo sát sự giống và khác nhau về lý luận lập BCLCTT giữa Việt Nam và quốc tế

- Đánh giá thực trạng lập BCLCTT hiện nay ở Việt Nam

- Đưa ra giải pháp để Việt Nam hoàn thiện BCLCTT theo hướng hòa hợp với chuẩn mực với kế toán quốc tế

8 Bố cục đề tài:

Ngoại trừ phần mở đầu, phần kết luận và phần phụ lục Luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Tổng quan về Báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo chuẩn mực kế toán quốc tế Chương 2: Thực trạng lập và trình bày Báo cáo lưu chuyển tiền tệ tại các doanh

nghiệp Việt Nam

Trang 13

Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện nội dung và phương pháp lập Báo cáo lưu

chuyển tiền tệ tại các doanh nghiệp Việt Nam theo hướng hòa hợp với chuẩn mực kế toán quốc tế

Trang 14

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ BCLCTT THEO CHUẨN MỰC KẾ TOÁN QUỐC TẾ:

1.1 Tổng quan về BCLCTT:

1.1.1 Sơ lược về lịch sử hình thành và phát triển của BCLCTT:

Thời trung cổ, kế toán luồng tiền là một trong những hình thức lâu đời nhất trong việc lưu trữ hồ sơ, trong thời gian đó, tất cả các giao dịch kinh doanh ghi nhận những nghiệp vụ liên quan đến tiền mặt thực tế thu được hoặc thanh toán mà không liên quan đến thời gian cụ thể của các giao dịch Dưới sự phát triển của nguyên tắc bút toán kép

và kế toán dồn tích, công tác kế toán đã có sự thay đổi triệt để phù hợp với chi phí cho việc sử dụng các nguồn lực và các khoản thu liên quan được tạo ra bởi những nguồn lực tương tự

Sự phát triển BCLCTT ở Mỹ:

Theo Alan Jonathan Duboisée de Ricquebourg, (2013), trước những năm 1960, báo cáo thường niên của các công ty Mỹ chỉ bao gồm báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và bảng cân đối kế toán, có rất ít hoặc không có thông tin về lưu chuyển các nguồn lực trong giai đoạn này Đến đầu những năm 1960, một số công ty đã có những bước điều chỉnh để báo cáo tài chính của họ giải quyết vấn đề này, đó là thực hiện các báo cáo lưu chuyển quỹ Điều này làm nảy sinh một vấn đề nan giải khi so sánh báo cáo lưu chuyển quỹ giữa các công ty do thiếu quy định đầy đủ Năm 1961, Hiệp hội kế toán viên công chứng của Mỹ (AICPA) đã ra mắt Nghiên cứu Kế toán số 2 – Phân tích

"Luồng tiền" và Báo cáo quỹ nhằm chuẩn hóa việc công bố thông tin của họ

Tháng 10 năm 1963 Ủy Ban nguyên tắc kế toán (APB) ban hành Ý kiến số 3 của

họ về "Báo cáo về nguồn và sử dụng ngân quỹ" Họ đề nghị nhưng không bắt buộc sử dụng "Báo cáo về nguồn và sử dụng ngân quỹ"(SSAF) như là một phần bổ sung báo cáo thường niên của doanh nghiệp

Trang 15

Tháng 3 năm 1971, APB thay thế Ý kiến số 3 bằng Ý kiến số 19 – "Báo cáo thay đổi về tình hình tài chính" cho tất cả các công ty công bố báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và bảng cân đối kế toán trong báo cáo thường niên Về sau, có nhiều ý kiến cho rằng các báo cáo lưu chuyển quỹ là khá khó hiểu, không rõ ràng và dễ gây hiểu lầm Hơn nữa, việc định nghĩa lỏng lẻo các "quỹ", "vốn lưu động" hoặc "tiền mặt", bị chỉ trích nặng nề

Năm 1987, FASB ban hành Chuẩn mực Kế toán tài chính (SFAS) số 95 "Báo cáo lưu chuyển tiền tệ" thay APB số 19 Mỹ là một trong những nước đầu tiên giới thiệu chuẩn mực về công bố luồng tiền Chuẩn mực đã loại bỏ sự mơ hồ của APB số 19, nó cũng phát triển để hoàn thiện khuôn mẫu lý thuyết kế toán của FASB FASB đã thiết

kế SFAS số 95 nhằm cung cấp cho người sử dụng thông tin để đánh giá tốt hơn luồng tiền tương lai nhằm xác định khả năng đáp ứng các nghĩa vụ trong tương lai của công

ty

Sự phát triển BCLCTT ở Anh:

Theo Alan Jonathan Duboisée de Ricquebourg, (2013), lịch sử phát triển của BCLCTT ở Anh theo một mô hình rất giống với Mỹ, tuy nhiên các doanh nghiệp Vương quốc Anh đã chậm hơn rất nhiều về việc chấp nhận và sử dụng các báo cáo lưu chuyển quỹ

Vào những năm 1970, Viện Kế toán Công chứng tại Anh và xứ Wales (ICAEW) điều tra về các báo cáo thường niên đã thấy được sự chấp nhận và sử dụng rộng rãi báo cáo lưu chuyển quỹ trong các công ty thuộc Vương quốc Anh Tháng 7 năm 1975, SSAP 10 "Báo cáo về nguồn và sử dụng ngân quỹ" được ban hành

Việc SSAP 10 thiếu sự hướng dẫn rõ ràng đã tạo áp lực cho Hội đồng chuẩn mực

kế toán (ASB) tiếp tục đổi mới Tháng 9 năm 1991, ASB ban hành Chuẩn mực Báo cáo tài chính (FRS) 1 "Báo cáo lưu chuyển tiền tệ", FRS 1 chịu nhiều ảnh hưởng từ SFAS số 95 của Mỹ Chuẩn mực này đã chuyển từ báo cáo lưu chuyển "quỹ" sang tập trung vào báo cáo "tiền mặt" được tạo ra và hấp thụ trong kỳ

Trang 16

ASB đã cung cấp một định nghĩa rõ ràng về "luồng tiền", tiếp tục giúp cho việc tăng khả năng so sánh các BCLCTT giữa các công ty Chuẩn mực đã định nghĩa "lưu chuyển tiền tệ" như một sự tăng, giảm "tiền mặt" hoặc "các khoản tương đương tiền" Hơn nữa, FRS 1 định nghĩa "tiền" là các khoản tiền mặt giữ trong tay, tiền gửi và "các khoản tương đương tiền" như các khoản "đầu tư ngắn hạn có tính thanh khoản" chuyển đổi thành tiền mặt mà không cần thông báo và đáo hạn trong vòng ba tháng kể từ ngày phát hành Những thay đổi này là một cải tiến lớn về định nghĩa lỏng lẻo của các "quỹ thanh khoản" được cung cấp bởi SSAP 10, giúp cho việc tăng khả năng so sánh giữa BCLCTT

Sự phát triển BCLCTT ở Úc:

Theo Alan Jonathan Duboisée de Ricquebourg, (2013), giống như Mỹ và Anh, báo cáo lưu chuyển quỹ và BCLCTT của Úc cũng phát triển theo một chu kỳ tương tự Tháng 1 năm 1971, Viện Kế toán Công chứng Úc (ICAA) phát hành tập san kỹ thuật F1:"Báo cáo Quỹ" Khi Sở Giao dịch chứng khoán Úc sửa đổi quy tắc niêm yết vào năm 1972, các báo cáo lưu chuyển quỹ trở nên phổ biến, các công ty đại chúng phải nộp một các báo cáo này như một phần của báo cáo thường niên

Trước năm 1985, Tổ chức nghiên cứu kế toán Úc (AARF) phát triển và ban hành chuẩn mực kế toán Úc mà không cần bất kỳ sự giám sát quản lý độc lập nào Quy định của Chuẩn mực kế toán Úc chỉ bắt đầu khi Hội đồng rà soát chuẩn mực kế toán(ASRB) được thành lập vào năm 1985 với nhiệm vụ xem xét các tiêu chuẩn do AARF lập Xung đột giữa các ASRB và AARF đã làm chậm lại đáng kể quá trình chuyển đổi

từ báo cáo lưu chuyển quỹ sang BCLCTT báo cáo tại Úc ASRB ưa chuộng SFAS 95 khi chuẩn mực này áp dụng một phương pháp hoàn toàn mới của BCLCTT và đã thoát

ra khỏi cái bóng của báo cáo lưu chuyển quỹ Trong khi đó, tuy nhiên, AARF là nội dung để giữ lại bảng vốn lưu với các sửa đổi

Tháng 12 năm 1991, Hội đồng chuẩn mực kế toán Úc (AASB) ban hành AASB

1026 "Báo cáo lưu chuyển tiền tệ" AASB 1026 chịu nhiều ảnh hưởng của SFAS số 95,

Trang 17

trong đó yêu cầu luồng tiền được công bố theo cùng ba hoạt động:"kinh doanh","đầu tư" và "tài chính" Ở Úc, các công ty không được phép lập BCLCTT theo phương pháp gián tiếp, mặc dù phương pháp này được sử dụng ở Mỹ và Vương quốc Anh

Sự hình thành và thay đổi của chuẩn mực BCLCTT quốc tế:

Theo Alan Jonathan Duboisée de Ricquebourg, (2013), cũng giống như FASB và ASB, IASC đã nhận ra rằng họ cần giải quyết các vấn đề liên quan đến Báo cáo lưu

chuyển quỹ Tháng 7 năm 1991 họ ban hành Dự thảo công bố (ED) 36: Báo cáo lưu

chuyển tiền tệ Tháng 12 năm 1992, họ ban hành IAS 7 Báo cáo lưu chuyển tiền tệ

(Cash flow statement), hiệu lực cho tất cả các năm tài chính kết thúc vào hoặc sau ngày

1 tháng 1 năm 1994

IAS 7 coi "luồng tiền" là sự kết hợp tất cả các luồng tiền vào và ra của "tiền và các khoản tương đương tiền" và không loại trừ " tương đương tiền" như FRS 1 (sửa đổi 1996) "Các khoản tương đương tiền" theo theo SFAS số 95 bao gồm "các khoản đầu

tư ngắn hạn, có tính thanh khoản" IAS 7 phân loại luồng tiền bằng cách sử dụng phương pháp của Mỹ: theo hoạt động kinh doanh, đầu tư, và tài chính

SFAS số 95 và IAS 7 có sự khác biệt quan trọng liên quan việc phân loại lãi suất

và cổ tức IAS 7, đoạn 31, cho phép lãi và cổ tức được phân loại dưới hoạt động "kinh doanh", "đầu tư" hoặc "tài chính", miễn là phương pháp được lựa chọn đã được áp dụng nhất quán từ một giai đoạn kế tiếp Trong khi đó, SFAS số 95 chỉ cho phép phân loại tiền lãi nhận được, chi trả tiền lãi và cổ tức nhận được là hoạt động "kinh doanh", phân loại chi trả cổ tức như hoạt động "tài chính"

Tháng 9 năm 2007, IASB đổi tên IAS 7 "Báo cáo lưu chuyển tiền tệ" từ "Cash Flow Statements" sang "Statement of Cash Flows"

Gần đây hơn, IASB sửa đổi IAS 7 yêu cầu việc công bố thông tin của chi phí vốn trong hoạt động đầu tư cho những nguồn tạo ra tài sản (IASB, 2010), văn bản này có hiệu lực từ năm tài chính kết thúc vào hoặc sau ngày 01 tháng một năm 2010

Trang 18

1.1.2 Ý nghĩa thông tin của BCLCTT:

BCLCTT là báo cáo tài chính có ý nghĩa quan trọng đối với công tác quản lý doanh nghiệp cũng như đối với các cơ quan hữu quan và các đối tượng quan tâm như: Hội đồng quản trị, nhà đầu tư, người cho vay, các cơ quan quản

lý cấp trên cùng toàn bộ cán bộ của doanh nghiệp

Đối với nội bộ doanh nghiệp:

- Là phương tiện cần thiết để nhà quản lý phân tích, dự đoán khả năng về số lượng, thời gian và độ tin cậy của các luồng tiền trong kỳ kế tiếp, kiểm tra mối quan hệ giữa khả năng sinh lời với lượng lưu chuyển tiền thuần và những tác động của thay đổi giá cả từ

đó lập kế hoạch kinh doanh, sử dụng vốn có hiệu quả cho kỳ đó

- Là căn cứ quan trọng cho việc xây dựng các chỉ tiêu kinh tế, tài chính của doanh nghiệp, từ đó doanh nghiệp có biện pháp cụ thể cho việc nâng cao hiêu quả kinh doanh của mình

Đối với đối tượng ngoài doanh nghiệp

- Cung cấp thông tin cho người sử dụng về các thay đổi trong tài sản thuần, cơ cấu tài chính, khả năng chuyển đổi tài sản thành tiền, khả năng thanh toán và khả năng của doanh nghiệp trong việc tạo ra tiền trong quá trình hoạt động

- Làm tăng khả năng đánh giá khách quan tình hình hoạt động của doanh nghiệp và khả năng so sánh của các doanh nghiệp vì nó loại trừ được ảnh hưởng của việc sử dụng các phương pháp kế toán khác nhau cho cùng một giao dịch

- Cung cấp các chỉ tiêu, số liệu đáng tin cậy để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp, khả năng thanh toán, đồng thời cho biết nhu cầu của doanh nghiệp trong việc sử dụng các khoản tiền

Trang 19

1.2 Nội dung cơ bản của BCLCTT theo chuẩn mực kế toán quốc tế:

1.2.1 Những thuật ngữ cơ bản:

Tiền: Bao gồm tiền mặt đang nắm giữ và tiền gửi

Các khoản tương đương tiền: Là các khoản đầu tư ngắn hạn, có tính thanh khoản

cao, có khả năng chuyển đổi thành tiền mặt để đáp ứng các cam kết chi tiền ngắn hạn hơn là cho việc đầu tư hoặc các mục đích khác Vì vậy, một khoản đầu tư bình thường

mà đủ điều kiện gọi là tương đương tiền chỉ khi nó có kỳ hạn ngắn, ba tháng hoặc ít hơn từ ngày mua Thấu chi ngân hàng thường được xem là hoạt động tài chính tương

tự như vay Tuy nhiên, nếu chúng được hoàn trả theo yêu cầu và được chứng minh là một phần không thể thiếu trong quản lý tiền mặt của một doanh nghiệp, thấu chi ngân hàng là một bộ phận của tiền và các khoản tương đương tiền

1.2.2 Luồng tiền vào và ra trong BCLCTT:

Một đơn vị kinh doanh khi trình bày một BCLCTT, luồng tiền trong kỳ được phân loại theo hoạt động kinh doanh, đầu tư và tài chính

Luồng tiền từ hoạt động kinh doanh

Hoạt động kinh doanh là những hoạt động tạo ra doanh thu chủ yếu của đơn vị kinh doanh Do đó, luồng tiền từ hoạt động kinh doanh nói chung là kết quả của các giao dịch và các sự kiện và điều kiện khác nhau mà tham gia vào việc xác định lãi hoặc lỗ + Luồng tiền vào chủ yếu từ việc bán hàng hoá và cung cấp dịch vụ, tiền bản quyền, phí , hoa hồng và doanh thu khác; thu tiền mặt từ các khoản đầu tư , cho vay và hợp đồng khác…

+ Luồng tiền ra chủ yếu từ thanh toán tiền mặt cho các nhà cung cấp hàng hóa và dịch

vụ, thanh toán tiền mặt cho nhân viên; thanh toán bằng tiền mặt hoặc hoàn lại tiền thuế thu nhập trừ khi chúng được xác định là hoạt động tài chính hoặc hoạt động đầu tư; chi tiền mặt cho khoản đầu tư , cho vay và hợp đồng khác…

Luồng tiền từ hoạt động đầu tư:

Trang 20

Hoạt động đầu tư là những hoạt động mua lại và thanh lý tài sản dài hạn và các khoản đầu tư khác không nằm trong khoản tương đương tiền

+ Luồng tiền vào chủ yếu từ việc bán tài sản, máy móc thiết bị , tài sản vô hình và tài sản dài hạn khác; phát hành công cụ vốn chủ sở hữu hoặc nợ của đơn vị và lợi ích trong công ty liên doanh (trừ doanh thu đối với những công cụ được phân loại là tương đương tiền mặt hoặc tổ chức xử lý , kinh doanh ) khác; tiền thu các khoản vay các bên khác; tiền thu từ các hợp đồng tương lai , hợp đồng kỳ hạn , hợp đồng quyền chọn và hợp đồng hoán đổi , trừ khi hợp đồng được tổ chức cho giao dịch , kinh doanh , hoặc hóa đơn được phân loại là hoạt động tài chính

+ Luồng tiền ra chủ yếu từ thanh toán tiền mặt mua tài sản, máy móc thiết bị (bao gồm

cả bất động sản tự xây dựng, máy móc thiết bị) , tài sản vô hình và tài sản dài hạn khác; thanh toán tiền mặt để đạt được công cụ vốn hoặc nợ của đơn vị khác và các quyền lợi khác trong công ty liên doanh (trừ các khoản thanh toán cho những công cụ phân loại

là tương đương tiền mặt hoặc tổ chức cho giao dịch , kinh doanh ); chi tiền mặt và các khoản vay cho các bên khác ; thanh toán tiền mặt cho hợp đồng tương lai , hợp đồng kỳ hạn , hợp đồng quyền chọn và hợp đồng hoán đổi , trừ khi hợp đồng được tổ chức cho giao dịch , kinh doanh , hoặc các khoản thanh toán được phân loại là hoạt động tài chính

Luồng tiền từ hoạt động tài chính:

Hoạt động tài chính là những hoạt động mà dẫn đến thay đổi trong quy mô và thành phần đóng góp của vốn chủ sở hữu và khoản vay của một doanh nghiệp

+ Luồng tiền vào chủ yếu từ phát hành cổ phiếu hoặc công cụ vốn khác; trái phiếu phát hành, các khoản vay, trái phiếu, các khoản thế chấp và các khoản vay ngắn hạn hoặc dài hạn khác

+ Luồng tiền ra chủ yếu từ thanh toán tiền mặt cho chủ sở hữu để mua lại cổ phiếu của doanh nghiệp; trả tiền các khoản vay…

Trang 21

1.2.3 Phương pháp lập và trình bày BCLCTT:

1.2.3.1 Phương pháp trực tiếp:

Phương pháp trực tiếp được thực hiện dựa trên nguyên tắc cơ sở kế tiền Phương pháp trực tiếp cho thấy các khoản mục ảnh hưởng đến luồng tiền và các tác động của luồng tiền Các khoản tiền thu vào, và các khoản tiền chi ra và nguồn gốc cụ thể của nó (chẳng hạn như khách hàng và các nhà cung cấp) được thể hiện ra sao, trái ngược với phương pháp gián tiếp (tức là dựa trên cơ sở dồn tích) với cách chuyển đổi lợi nhuận (hoặc lỗ) đến các thông tin về luồng tiền bằng một chuỗi các khoản cộng vào và các khoản khấu trừ Theo IAS 7, các đơn vị kinh doanh được khuyến khích lập BCLCTT theo phương pháp trực tiếp Một lợi thế quan trọng của phương pháp trực tiếp là nó cho phép người sử dụng báo cáo tài chính hiểu một cách dễ dàng hơn mối quan hệ giữa lợi nhuận (lỗ) và luồng tiền của đơn vị, bên cạnh đó nó giúp dự đoán được luồng tiền tương lai

Khi tính toán luồng tiền từ hoạt động kinh doanh theo phương pháp trực tiếp phải xác định các loại phiếu thu và phiếu chi thu tiền mặt như tiền thu từ khách hàng, tiền trả cho nhà cung cấp, tiền trả lương,…và sau đó sắp xếp chúng lại với nhau thành luồng tiền từ hoạt động kinh doanh của BCLCTT Những con số này được tính bằng số

dư đầu và số dư cuối kỳ tài khoản khác nhau của doanh nghiệp và sự tăng hoặc giảm ròng trong tài khoản Những thông tin về hoạt động kinh doanh có thể thu được từ: + Sổ sách kế toán của đơn vị, hoặc

+ Bằng cách điều chỉnh doanh thu, giá vốn hàng bán và các khoản mục khác trong BCKQHĐKD cho:

 Thay đổi về hàng tồn kho và các khoản phải thu và phải trả từ hoạt động kinh doanh trong kỳ;

 Khoản mục không dùng tiền mặt khác; và

 Khoản mục khác mà ảnh hưởng đến luồng tiền của hoạt động đầu tư hoặc tài chính

Trang 22

1.2.3.2 Phương pháp gián tiếp:

Phương pháp gián tiếp được lập dựa trên cơ sở dồn tích Phương pháp này được

sử dụng để xác định luồng tiền từ hoạt động kinh doanh - bắt đầu từ sự khác biệt giữa lợi nhuận (lỗ) và luồng tiền Trong bài nghiên cứu "Presentation of Consolidated Statement of Cash Flows under IAS 7, Statement of Cash Flows" đã đề cập lý do tại sao các BCTC cho cộng đồng không nhanh hơn trong việc đi theo một khái niệm luồng tiền là bởi từ lâu ngành kế toán có một sự ác cảm với sự đo lường hiệu suất hoạt động của vốn theo cơ sở tiền mặt Điều này phần lớn là bởi nguyên tắc của cơ sở dồn tích, công nhận doanh thu khi thu được và chi phí khi phát sinh, và cách nhìn BCLCTT như một cách tiếp cận ngược trở lại cơ sở tiền

Mặc dù phương pháp gián tiếp được sử dụng nhiều hơn trong thực tế, tuy nhiên phương pháp này có một bất lợi Phương pháp này là gây khó khăn cho người sử dụng BCTC để hiểu được thông tin trình bày vì thông tin này không phản ánh một cách hiệu quả luồng tiền thu vào và luồng tiền chi ra của tiền và các khoản tương đương tiền Để thực hiện phương pháp gián tiếp ta lấy lợi nhuận trước thuế (hoặc lỗ) trong năm (chênh lệch giữa doanh thu và chi phí) điều chỉnh:

+ Điều chỉnh liên quan đến thu nhập và chi phí (được bao gồm lợi nhuận / lỗ trong năm) mà không phải là một phần của hoạt động kinh doanh như:

 Thu nhập tài chính được trích và chi phí tài chính được bổ sung (nghĩa là thu nhập từ lãi hoặc chi phí lãi vay)

 Khoản mục doanh thu và chi phí không ảnh hưởng đến tiền mặt được khấu trừ hoặc

bổ sung (tức là chi phí khấu hao bởi vì chúng làm giảm lợi nhuận và chúng là khoản mục phi tiền tệ)

 Doanh thu và chi phí được tạo ra bởi việc thanh lý tài sản cố định và đầu tư dài hạn (doanh thu được khấu trừ và chi phí được thêm do thực tế chúng là các khoản mục không liên quan đến hoạt động kinh doanh, nhưng chúng là một phần của hoạt động

Trang 23

đầu tư mà luồng tiền được xác định là chênh lệch giữa luồng luồng tiền thu vào và luồng tiền chi ra)

+ Điều chỉnh do thay đổi cơ cấu vốn lưu động (thay đổi trong hàng tồn kho, khoản phải thu, khoản phải trả, và tài khoản vãng lai khác)

Thu nhập và chi phí, bao gồm lợi nhuận (lỗ) trong năm, là các khoản mục đã được xác định căn cứ vào cơ sở dồn tích hơn là dựa trên cơ sở tiền mặt, dẫn đến khác biệt giữa thu nhập với lượng tiền mặt nhận được từ khách hàng

BCLCTT theo phương pháp gián tiếp minh họa những thay đổi trong hầu hết các

bộ phận của tài sản và nợ ngắn hạn Thay đổi trong hàng tồn kho, khoản phải thu, khoản phải trả, và tài khoản tiền gửi thanh toán khác được sử dụng để xác định luồng tiền từ hoạt động kinh doanh

Trong phương pháp gián tiếp, lợi nhuận ròng từ BCKQHĐKD được sử dụng để tính toán luồng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh Kể từ khi BCKQHĐKD được chuẩn bị trên cơ sở dồn tích, trong đó doanh thu được ghi nhận khi phát sinh chứ không phải khi thực tế thu được, do đó lợi nhuận ròng không đại diện cho luồng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh và điều đó dẫn đến sự cần thiết để điều chỉnh lợi nhuận trước thuế và lãi vay (EBIT) cho những khoản mục mà có ảnh hưởng lợi nhuận ròng mặc dù không thực sự đã trả hoặc nhận tiền

1.3 Mối quan hệ giữa BCLCTT và các BCTC khác:

1.3.1 Mối quan hệ giữa BCLCTT và BCĐKT:

Từ khi kế toán dồn tích ra đời, bảng cân đối kế toán phát triển nổi bật và trở thành trọng tâm trong báo cáo tài chính, điều này vẫn tiếp diễn đến cuối thế kỷ 17 Vào đầu thế kỷ 18, trọng tâm đã chuyển từ bảng cân đối và lên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (Brown, 1971, trang 9)

Trang 24

Những con số trong BCLCTT có nguồn gốc từ những thay đổi trong bảng cân đối

kế toán trong năm của một doanh nghiệp Những thay đổi trong tài khoản bảng cân đối dẫn đến thay đổi số liệu báo cáo trong BCLCTT

Những sự thay đổi của các tài khoản trong bản cân đối kế toán là những nền tảng

cơ bản để chuẩn bị một BCLCTT Những thay đổi về tài sản , nợ, và vốn chủ sở hữu là những số liệu báo cáo trong BCLCTT, hoặc những thay đổi được sử dụng để xác định tổng luồng tiền ( như trong trường hợp của sự thay đổi trong lợi nhuận giữ lại , được chia thành thành phần thu nhập thuần của nó và phần cổ tức của nó )

Lưu ý: Khi trình bày luồng tiền từ hoạt động kinh doanh, lợi nhuận ròng được trình bày đầu tiên , sau đó sẽ thực hiện một số điều chỉnh lợi nhuận ròng để xác định tổng cộng luồng tiền từ hoạt động kinh doanh Các tài sản và nợ phải trả bao gồm là phần của các hoạt động kinh doanh có lãi của một doanh nghiệp

Ví dụ, các tài khoản tài sản phải thu được tăng lên (ghi Nợ) khi bán chịu cho khách hàng Các tài khoản tài sản hàng tồn kho bị giảm (ghi Có) khi ghi nhận giá vốn hàng bán Các tài khoản tài khoản phải trả tăng (ghi Có) khi ghi nhận chi phí chưa thanh toán

Các quy tắc để điều chỉnh luồng tiền đến lợi nhuận ròng là:

+ Tăng tài sản trong kỳ làm giảm luồng tiền từ lợi nhuận

+ Giảm nợ trong kỳ làm giảm luồng tiền từ lợi nhuận

+ Tăng tài sản trong kỳ làm tăng luồng tiền từ lợi nhuận

+ Tăng nợ trong kỳ làm tăng luồng tiền từ lợi nhuận

1.3.2 Mối quan hệ giữa BCLCTT và BCKQHĐKD:

Mối quan hệ giữa BCLCTT và BCKQHDKD là nằm ở hoạt động kinh doanh của BCLCTT Do BCLCTT được lập sau BCKQHDKD nên trong phần hoạt động sản xuất kinh doanh sử dụng thông tin trên BCKQHĐKD Chỉ tiêu đầu tiên trong hoạt động kinh doanh là lợi nhuận ròng, đó là thông tin chính xác được trình bày trên

Trang 25

BCKQHĐKD trong kỳ Một chỉ tiêu khác là chi phí khấu hao, cũng xuất hiện trên BCKQHĐKD Để xác định số lượng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh, công ty khấu trừ lợi nhuận ròng từ tài khoản khấu hao và những thay đổi trong những tài khoản nhất định trên BCĐKT

Trong khi BCLCTT thực hiện dựa trên cơ sở tiền thì BCKQHĐKD dựa trên cơ sở dồn tích Khi đối chiếu thông tin giữa hai báo cáo này với nhau, ta sẽ nắm bắt toàn diện kết quả hoạt động của doanh nghiệp Theo cách tính của BCLCTT thì kết quả hoạt động trong một kỳ bằng tổng số tiền thực thu được trong kỳ trừ đi tổng số tiền thực chi

ra trong kỳ, cách tính này rất có cơ sở khi xuất phát điểm của nó là tiền và đích đến của

nó cũng là tiền Trong khi đó, theo BCKQHĐKD thì kết quả kinh doanh trong kỳ bằng thu nhập thực hiện trong kỳ trừ chi phí tạo ra tương ứng với thu nhập đó Theo cơ sở kế toán dồn tích mọi giao dịch kinh tế liên quan đến tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu và chi phí được ghi nhận tại thời điểm phát sinh giao dịch, không quan tâm đến thời điểm thực tế thu hoặc chi tiền BCKQHĐKD chính là phản ánh kết quả hoạt động trên cơ sở đối chiếu thu nhập với chi phí liên quan tới thu nhập đó

Nhược điểm của kế toán dồn tích là kế toán theo cơ sở dồn tích đôi khi không tuân thủ theo yêu cầu khách quan trong kế toán, nó ghi nhận doanh thu và chi phí không dựa vào luồng tiền tương ứng thu vào hay chi ra mà dựa vào thời điểm giao dịch phát sinh, số liệu trên BCTC thể hiện một phần ý kiến chủ quan của nhà kế toán Sự tách rời giữa thực thu và thu nhập, thực chi có thể dẫn đến đánh giá sai các nguy cơ hay cơ hội của doanh nghiệp BCLCTT sẽ giúp phát hiện ra các nguy cơ hay cơ hội đó Theo cơ sở tiền sẽ có một ưu điểm nổi bật là tính khách quan cao khi trình thông tin trong BCTC Tiền thu vào và chi ra là những hoạt động "hữu hình", số tiền và ngày thu, chi tiền được xác định chính xác, cụ thể không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của nhà quản trị DN Khi doanh nghiệp bán chịu hàng hóa thì vẫn được ghi nhận doanh thu, nó dẫn đến lãi trong BCKQHĐKD Nếu như vì lý do nào đó doanh nghiệp không thu được tiền từ người mua thì khoản lãi đã ghi nhận sẽ là một khoản lãi "ảo"

Trang 26

BCLCTT sẽ giúp ta nhận biết được sự bất tương xứng của chỉ tiêu tiền thu bán hàng ở BCLCTT không tương xứng với doanh thu BCKQHDDKD Kết hợp giữa hai báo cáo,

ta sẽ có một sự nhìn nhận, đánh giá kết quả hoạt động của doanh nghiệp toàn diện hơn

1.3.3 Mối quan hệ giữa BCLCTT và thuyết minh BCTC:

Trên thực tế, có một số giao dịch không trực tiếp sử dụng tiền hay các khoản tương đương tiền nên chúng không được trình bày trong BCLCTT Các giao dịch này tuy có ảnh hưởng tới kết cấu tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp nhưng không ảnh hưởng trực tiếp tới luồng tiền hiện tại Lúc này, các giao dịch đó sẽ không trình bày trên BCLCTT mà sẽ được trình bày trên thuyết minh BCTC Bản thuyết minh sẽ làm

rõ cho người sử dụng các thông tin về doanh nghiệp như: mua tài sản bằng cách nhận các khoản nợ liên quan trực tiếp hoặc cho thuê tài chính; mua một doanh nghiệp thông qua phát hành cổ phiếu; chuyển nợ thành vốn chủ sở hữu Bên cạnh đó, thuyết minh BCTC còn có tác dụng giải thích các khoản tiền và tương đương tiền lớn do doanh nghiệp nắm giữ nhưng không được sử dụng do có sự hạn chế của pháp luật hoặc các ràng buộc khác mà doanh nghiệp phải thực hiện Những thông tin này nếu trình bày trên BCLCTT sẽ tăng mức độ phức tạp và khó khăn cho người sử dụng Thông qua bảng thuyết minh, nó vừa đảm bảo cung cấp thông tin, vừa tránh được những phiền toái cho người sử dụng khi đọc BCLCTT

1.4 So sánh sự khác biệt của chuẩn mực BCLCTT các nước và quốc tế - bài học kinh nghiệm cho Việt Nam:

1.4.1 So sánh sự khác biệt của chuẩn mực BCLCTT các nước và quốc tế:

Sau chiến tranh thế giới thứ hai, mỗi quốc gia đều hình thành các chuẩn mực kế toán được chấp nhận chung của mình (GAAP) Do sự khác biệt về GAAP của các quốc gia, đã có thời kỳ kế toán thế giới bị phân hóa sâu sắc Những năm 50 thế kỷ trước,

Trang 27

giao dịch quốc tế và đầu tư nước ngoài phát triển mạnh mẽ, các công ty ngày càng phát triển rộng khắp ra ngoài biên giới của mình

Giai đoạn 1973 – 1989, Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế (IASC) được thành lập bởi đại diện của 13 nước thành viên trực thuộc liên đoàn kế toán quốc tế (IFAC) Thời kỳ này là giai đoạn đầu của hòa hợp kế toán quốc tế Giai đoạn này chủ yếu cho phép các quốc gia thu hẹp sự khác biệt kế toán thông qua việc áp dụng chuẩn mực kế toán cho phép nhiều sự lựa chọn nhằm thích nghi kế toán giữa các quốc gia IASC chính là bước đệm đầu tiên trong việc thành lập các chuẩn mực kế toán quốc tế Gần như các ủy ban và hội đồng kế toán của các quốc gia đã bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi IASC Hiệp hội kế toán của mỗi quốc gia đã ký cam kết IASC sẽ nỗ lực hết sức để thúc đẩy việc sử dụng IASC trong đất nước của họ

Tháng 1 năm 1975, những chuẩn mực đầu tiên của IASC đã được công bố Từ năm 1975 đến 1987, IASC đã phát hành 25 chuẩn mực và ảnh hưởng của nó đến các quốc gia cũng có sự khác biệt Trong các quốc gia sáng lập, vẫn luôn có quốc gia vẫn duy trì GAAP của riêng mình Giai đoạn này, mục tiêu chính của IASC là sửa đổi, loại trừ một số rào cản để hòa hơp kế toán giữa các quốc gia Mặt trái của sự "dễ dãi" của IASC đã khiến cho báo cáo tài chính (BCTC) không đáp ứng được thông tin cho người

sử dụng

Trước sức ép của những người sử dụng thông tin trên BCTC, giai đoạn 1989 –

1993, IASC đã có nhiều sự cải thiện đáng kể bằng việc giảm dần sự lựa chọn các phương pháp, nguyên tắc trong CMKT Do giảm các lựa chọn nên các CMKT của IASC đã đảm bảo tính so sánh thông tin trên BCTC Nhận thấy xu thế hội nhập của nền kinh tế thế giới, ngày 1 tháng 4 năm 2001, hội đồng chuẩn mực kế toán thế giới (IASB)

đã được thành lập từ nền tảng của IASC IASB chịu trách nhiệm phát triển các Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) và thúc đẩy việc sử dụng và áp dụng các tiêu chuẩn này Sự ra đời của IFRS không ngoài mục đích hướng dẫn việc lập và trình bày báo cáo kế toán có tính thống nhất cao và được sử dụng rộng rãi khắp thế giới Mục

Trang 28

đích của việc tiêu chuẩn hóa này là để giúp tạo ra sự phù hợp đối với quá trình chuẩn bị lập báo cáo tài chính trong một môi trường toàn cầu Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) ngày nay được rất nhiều quốc gia trên toàn thế giới áp dụng, tính đến thời điểm cuối năm 2008 (27/8/2008) đã có hơn 100 quốc gia bao gồm Úc, Singapo, Thổ Nhĩ Kỳ, và toàn bộ các quốc gia trong khối liên minh Châu Âu Bên cạnh đó cũng có nhiều quốc gia đang trong quá trình chuẩn bị thông qua bộ chuẩn mực IFRS nhưng vẫn chưa được chuyển tiếp một cách hoàn toàn triệt để Canada, Nga và Hoa Kỳ thì vẫn còn trong giai đoạn chuẩn bị để tiến tới áp dụng IFRS Canada và Nga hy vọng rằng việc này sẽ có hiệu lực vào năm 2011, trong khi đó Hoa Kỳ lại cho rằng các yêu cầu của họ sẽ được đáp ứng và sẽ có hiệu lực vào năm 2014

Giống như FASB và ASB, IASC nhận ra tầm quan trọng của việc giải quyết các vấn đề liên quan đến báo cáo lưu chuyển quỹ, Tháng 12 năm 1992, IASC ban hành IAS 7 "Báo cáo lưu chuyển tiền tệ", chuẩn mực này có hiệu lực sau ngày 1 tháng 1 năm 1994

Khi IASC phát hành dự thảo ED 36 "Báo cáo lưu chuyển tiền tệ", chỉ 1/3 số người được hỏi ủng hộ việc sử dụng bắt buộc phương pháp trực tiếp, hơn một nửa số người mong muốn một sự lựa chọn giữa phương pháp trực tiếp và phương pháp gián tiếp (Donleavy, 1994, trang 155) IAS 7 khuyến khích việc sử dụng phương pháp BCLCTT trực tiếp, bên cạnh việc cho phép các công ty lựa chọn giữa 2 phương pháp này

 Mỹ:

Mỹ là nước có nền kế toán phát triển lớn mạnh bậc nhất thế giới, những cá nhân

ưu tú nhất trong IASB cũng rất nhiều người là người mang quốc tịch Mỹ Hiện nay, chuẩn mực kế toán ở các nước nếu không chịu sự chi phối của IFRS thì sẽ mang ảnh hưởng của US GAAP

Một vài điểm khác biệt giữa BCLCTT theo IFRS và US GAAP:

IFRS (IAS7) US GAAP (ASC 230, AAG-DEP, AICPA

Trang 29

1600)

 Tiền và các khoản tương đương tiền

bao gồm các khoản đầu tư ngắn hạn và

trong một số trường hợp có thể là các

khoản thấu chi

 Luồng tiền từ hoạt động kinh doanh có

thể trình bày theo phương pháp trực tiếp

hoặc gián tiếp Nếu sử dụng phương pháp

trực tiếp, đơn vị kinh doanh trình bày

dung hòa lợi nhuận và lỗ đến luồng tiền

thuần từ hoạt đông kinh doanh, tuy nhiên,

việc trình bày này nhiều khi khác nhau

căn cứ vào lợi nhuận hoặc lỗ

 Một đơn vị kinh doanh tự chọn chính

sách về việc phân loại lãi và cổ tức phải

trả là hoạt động kinh doanh hoặc hoạt

động tài chính, và lãi và cổ tức thu được là

hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động đầu

 Thuế thu nhập phải trả được phân loại

 Giống như IFRS, tiền và các khoản tương đương tiền bao gồm các khoản đầu

tư ngắn hạn Khác với IFRS, thấu chi ngân hàng thì được xem như một hình thức tài chính ngắn hạn, thường phân loại hoạt động tài chính

 Giống IFRS, luồng tiền từ hoạt động kinh doanh có thể trình bày theo phương pháp trực tiếp hoặc gián tiếp Giống IFRS, nếu sử dụng phương pháp trực tiếp đơn vị kinh doanh trình bày dung hòa thu nhập đến luồng tiền thuần của hoạt động kinh doanh, tuy nhiên, khác với IFRS, điểm bắt đầu của dung hòa là lợi nhuận ròng

 Không giống IFRS, lãi thu được và lãi phải trả (lãi vốn hóa ròng) và cổ tức thu được từ lợi nhuận chưa phân phối trước đây được yêu cầu phân loại là hoạt động kinh doanh Khác với IFRS, cổ tức phải trả thì được yêu cầu phân loại như hoạt động tài chính

 Không giống IFRS, thuế thu nhập

Trang 30

như hoạt động kinh doanh trừ những

trường hợp được phân loại như hoạt động

tài chính và hoạt động đầu tư

doanh nghiệp thì đòi hỏi phải phân loại như hoạt động kinh doanh

Nguồn: KPMG (2013), IFRS compared to US GAAP: An overview

BẢNG 1.1: Một vài điểm khác biệt giữa BCLCTT theo IFRS và US GAAP:

Vấn đề hội tụ US GAAP và IFRS là trọng tâm của tiến trình hội tụ kế toán quốc

tế Chủ tịch FASB Robert H.Herz đã từng phát biểu: "Sẽ không là chuẩn mực quốc tế nếu như thị trường vốn lớn nhất thế giới là Mỹ lại không là một phần của sự phát triển ấy" Cái gọi là dự án hội tụ sẽ làm cho các nguyên tắc kế toán được chấp nhận chung ở

Mỹ (US.GAAP) sẽ tương đồng với các chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) Bên cạnh việc ban hành các chuẩn mực kế toán mới, FASB và IASB phải đưa ra

và xử lý một vướng mắc trong kế toán trước khi dự án hội tụ giữa IFRS và US.GAAP

có thể hoàn thành Đưa ra phương án tối ưu cho việc hợp nhất giữa US.GAAP và IFRS

có thể trợ giúp SEC trong việc ra quyết định chuyển đổi sang các chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế trở nên dễ dàng hơn, cũng như sẽ khiến cho US.GAAP trở nên tương đồng với IFRS ở một số khía cạnh then chốt

Tháng 9 năm 2002, IASB và FASB ký thỏa hiệp Norwalk nhằm thực hiện những

dự án chung; hạn chế những khác biệt giữa nguyên tắc kế toán được chấp nhận chung của Mỹ (US GAAP) và IAS/IFRS Tuy nhiên, quá trình hội tụ cho thấy nhiều vấn đề khó khăn nhất định Một trong những vấn đề gây cản trở đó là hệ thống kế toán của Mỹ trên cơ sở qui định (rules-based) trong khi IAS/IFRS theo những nguyên tắc (priciples-based) Bên cạnh đó, hệ thống kế toán của Mỹ thực thi theo các qui định nên được hướng dẫn một cách chi tiết trong khi IAS/IFRS hạn chế những hướng dẫn

Theo Ricquebourg, (2013), trong dự án hội tụ về BCLCTT, trọng tâm chính của cuộc tranh luận liên quan việc công bố luồng tiền từ hoạt động kinh doanh Họ cho

Trang 31

rằng "luồng tiền" nên được định nghĩa là biến động trong "tiền mặt" mà thôi, và không phải trên "các khoản tương đương tiền" (IASB, 2008, đoạn 3.72) Trong việc nhất trí thực hiện phương pháp lưu chuyển tiền tệ trực tiếp trong BCLCTT về hoạt động kinh doanh, cuộc thảo luận lại đưa ra một cuộc tranh luận nên hay không trong việc lựa chọn việc sử dụng phương pháp trực tiếp hoặc phương pháp gián tiếp (IASB, 2008, đoạn 3.75-3.83)

Việc nâng cao trình độ hiểu biết về mối quan hệ giữa các khoản mục trên BCLCTT, báo cáo thu nhập toàn diện, và báo cáo tình hình tài chính là chìa khóa cho việc đề xuất thay đổi trên BCLCTT Nhiều cuộc tranh luận cho rằng phương pháp gián tiếp có sự thiếu sót lớn do việc thiếu công bố thông tin của của các thành phần tạo nên luồng tiền như hóa đơn tiền mặt hoặc thanh toán BCLCTT hoạt động kinh doanh bằng cách sử dụng phương pháp gián tiếp giống như báo cáo lãi lỗ trong kỳ bằng cách điều chỉnh sự thay đổi hàng năm trong vốn chủ sở hữu cho những ảnh hưởng việc thanh toán cổ tức và sự biến động của các cổ phiếu Theo họ, một phương pháp tiếp cận lãi lỗ như vậy sẽ không tiết lộ các thông tin hữu ích cho người sử dụng báo cáo tài chính (IASB, 2008, đoạn 3.77)

Các cuộc thảo luận cho rằng việc sử dụng nhất quán phương pháp trực tiếp trong công luồng tiền từ hoạt động kinh doanh sẽ giúp người sử dụng đạt được các mục tiêu trình bày báo cáo tài chính Phương pháp này giúp thực hiện các mục tiêu là "gắn kết",

"cho phép người sử dụng đánh giá thời gian, số lượng và sự không chắc chắn của lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động kinh doanh trong tương lai", đồng thời "cung cấp thông tin hữu ích liên quan đến các đối tượng của tính thanh khoản và tính linh hoạt tài chính" IASB và FASB khẳng định những ưu điểm của phương pháp gián tiếp không đủ so với những lợi ích của báo cáo thu tiền mặt và thanh toán theo phương pháp trực tiếp FASB

và IASB bày tỏ quan điểm của họ trong khi cân nhắc chi phí và lợi ích của việc thực hiện BCLCTT trực tiếp

Trang 32

Năm 2009, Khi FASB đưa ra cuộc thảo luận, đã có 229 ý kiến phản hồi Bốn đại gia trong ngành kiểm toán đã đưa ra các đề xuất thực hiện BCLCTT Deloitte, KMPG

và EY nhấn mạnh với IASB và FASB tầm quan trọng việc điều tra sâu rộng xem liệu những lợi ích của BCLCTT trực tiếp sẽ thực sự bù đắp chi phí của việc thay đổi và thực hiện hệ thống báo cáo tài chính để nắm bắt những thông tin cần thiết hay không PriceWaterhouseCoopers ủng hộ mạnh mẽ phương pháp trực tiếp như đề xuất trong tài liệu thảo luận Tuy nhiên, họ nhấn mạnh rằng các đề xuất chi tiết của cuộc thảo luận đã hơi quá mức

Trước các ý kiến phản hồi, Dự thảo công bố của FASB về "Trình bày báo cáo tài chính trình" ban hành ngày 1 tháng 7 năm 2010 có rất ít thay đổi từ tài liệu thảo luận ban đầu Ngoại trừ đòi hỏi một sự dung hòa một số chi tiết để hỗ trợ các BCLCTT phương pháp trực tiếp, FASB và IASB đã không có thay đổi đáng chú ý Đề xuất sử dụng bắt buộc phương pháp trực tiếp vẫn còn thấy rõ trong Dự thảo công bố (FASB,

2010, đoạn 168-199) Theo đó, để có được các thông tin cần thiết phục vụ BCLCTT trực tiếp, có 2 phương pháp được đề nghị, đó là thay đổi hệ thống thông tin; hoặc điều chỉnh gián tiếp báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và tình hình tài chính theo kế toán dồn tích và các giao dịch không dùng tiền mặt khác

Nhìn chung, sự hội tụ của FASB hướng tới CMKT quốc tế được nhiều người nhận định như phần còn lại của chuẩn mực toàn cầu Tuy nhiên, phải thừa nhận rằng việc hội tụ là một thách thức lớn đối với cả hai tổ chức FASB – IASB và đang khẩn trương, nỗ lực chạy nước rút cho tiến trình hội tụ và mọi vấn đề vẫn nằm còn nằm ở phía trước

 Anh:

Theo Alan Jonathan Duboisée de Ricquebourg, (2013), năm 2005, Vương quốc Anh đã áp dụng các chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế (IFRS), lúc này không có thay đổi lớn trong BCLCTT ở Anh Tháng 7 năm 2002, việc phát hành Quy chế (EC)

số 1606/2002 của Nghị viện và Hội đồng châu Âu yêu cầu tất cả các công ty châu Âu

Trang 33

liệt kê chuẩn bị báo cáo tài chính hợp nhất theo quy định của IFRS cho kỳ kế toán bắt đầu từ hoặc sau ngày 1 tháng 1 năm 2005 Tất cả các công ty niêm yết Vương quốc Anh đã được yêu cầu phải chuyển đổi từ FRS 1 (sửa đổi năm 1996) sang tương đương với IFRS, IAS 7 "Báo cáo lưu chuyển tiền tệ"

Giữa UK GAAP và IFRS có một sự khác biệt đáng kể Trong khi IAS 7 xác định

"luồng tiền" là "tiền và các khoản tương đương tiền" thì FRS 1 (sửa đổi 1996) đã loại trừ "các khoản tương đương tiền", mà theo họ đây là hạng mục được báo cáo riêng trong "quản lý các nguồn thanh khoản" Giống như SFAS 95, IAS 7 luồng tiền cũng đòi hỏi được báo cáo theo ba loại khác biệt: hoạt động "kinh doanh", "đầu tư" và "tài chính" Hơn nữa, IAS 7 không yêu cầu dung hòa "nợ ròng" một cách riêng biệt hay cung cấp bất kỳ một ngoại lệ nào đối với việc áp dụng các chuẩn mực, do đó mở rộng phạm vi yêu cầu thực hiện BCLCTT ở Anh với các doanh nghiệp được miễn trước đây Cuối cùng, IAS 7 tăng yêu cầu công bố thông tin cho các doanh nghiệp Vương quốc Anh về báo cáo chênh lệch tỷ giá, trình trong bày một cách dung hòa tiền thu và tiền chi và số dư các khoản tương đương tiền

 Úc:

Theo Alan Jonathan Duboisée de Ricquebourg, (2013), tháng 3 năm 1997 , Úc ban hành Dự thảo công bố AASB 77 Tháng 10 năm 1997, Úc phát hành sửa đổi AASB 1026 Đến thời điểm này, Úc đã hòa hợp BCLCTT của họ với IAS 7 Úc đã đi

xa hơn Vương quốc Anh trong việc chuẩn bị chuyển đổi sang IFRS Giữa AASB 1026

và IAS 7 có một khác biệt trong việc tiết lộ các luồng tiền hoạt động Mặc dù IAS 7 khuyến khích việc sử dụng phương pháp trực tiếp, chuẩn mực này cho phép các công

ty lựa chọn phương pháp trực tiếp hoặc gián tiếp, miễn là các công ty áp dụng nhất quán phương pháp được lựa chọn qua các giai đoạn kế tiếp nhau Theo IAS 7, cổ tức chi trả có thể được phân loại là hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động tài chính, trong khi AASB 1026 lại yêu cầu bắt buộc phải phân loại là hoạt động tài chính

Trang 34

Trong lịch sử của mình, AASB đã yêu cầu lập BCLCTT chỉ theo phương pháp trực tiếp; khi áp dụng IFRS, họ đã ban hành AASB 107 BCLCTT vào 15/7/2004, và truyền thống này vẫn được duy trì AASB 107 tương đương với IAS 7 trong tất cả các khía cạnh trọng yếu, ngoại trừ nó không cho phép các công ty để tiết lộ luồng tiền hoạt động bằng cách sử dụng phương pháp gián tiếp

Tháng Tư năm 2007, để hội tụ hoàn toàn với IFRS, các AASB sửa đổi AASB 107 cho phép các công ty Úc để lựa chọn giữa hai phương pháp, cho phép việc sử dụng các phương pháp gián tiếp, bên cạnh đó cho phép phân loại cổ tức phải trả là hoạt động tài chính hoặc kinh doanh

Mặc dù Úc chấp nhận toàn bộ các chuẩn mực theo IAS/IFRS nhưng Úc vẫn có những điều chỉnh nhất định cho phù hợp với đặc điểm riêng của quốc gia Việc xây dựng CMKT quốc gia như Úc là một hướng tiếp cận riêng, thể hiện chính sách trung lập trong việc thực thi CMKT quốc tế

 Trung Quốc:

Năm 1998, Bộ Tài chính (BTC) Trung Quốc bắt đầu thiết lập CMKT Cuối năm

1992, BTC đã phát triển chuẩn mực cơ bản của kế toán cho hoạt động doanh nghiệp (tương tự khuôn mẫu lý thuyết) Để đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế thế giới, Trung Quốc đã xây dựng hệ thống CMKT mới theo hướng hội tụ kế toán quốc tế trên cơ sở IAS/IFRS gồm 38 CMKT có hiệu lực từ ngày 1.1.2007 Hệ thống chuẩn mực, CMKT Trung Quốc được hình hình thành trên nền tảng của IAS/IFRS, tuy nhiên, giữa CMKT Trung Quốc và IAS/IFRS có những điểm khác biệt rõ rệt Cụ thể CMKT Trung Quốc không phát triển và áp dụng đầy đủ giá trị hợp lý, yêu cầu công bố các bên liên quan được chỉnh sửa lại cũng như không thực hiện đánh giá tổn thất tài sản Theo Jean Jinghan Chen and Peng Cheng (2007) thì mức độ hội tụ của CMKT Trung Quốc và IAS/IFRS chỉ là về hình thức, bên ngoài CMKT Trung Quốc được che đậy với IAS/IFRS nhưng thực chất Trung Quốc vẫn áp dụng chính sách kế toán doanh nghiệp

Trang 35

Trước sức ép ngày càng gia tăng từ các tổ chức quốc tế Trung Quốc phải xây dựng lộ trình hội tụ đầy đủ CMKT quốc tế Tháng 10/2009, trong báo cáo dự thảo của Ngân hàng thế giới về lộ trình và tiếp tục hội tụ đầy đủ giữa ASBE (hệ thống kế toán cho hoạt động doanh nghiệp) với IAS/IFRS, nhìn chung ASBE về cơ bản đã đáp ứng hội tụ CMKT quốc tế nhưng CMKT phải được hội tụ một cách toàn diện và đầy đủ Đồng thời, ASBE cam kết giai đoạn chuyển đổi từ 2009 đến kết thúc 2011 và đã lên chương trình những nội dung cơ bản cho lộ trình hội tụ đầy đủ

Thực tế hiện nay, chuẩn mực CAS 31 – chuẩn mực BCLCTT của Trung Quốc hiện nay vẫn còn mang nhiều điểm khác biệt với IAS 7:

 Theo IFRS, các doanh nghiệp có thể

lựa chọn báo cáo luồng tiền từ hoạt động

kinh doanh theo phương pháp trực tiếp

hoặc gián tiếp, thông thường các đơn vị

báo cáo theo IFRS thường sử dụng

phương pháp gián tiếp

 Không yêu cầu công bố phương pháp

BCLCTT khác trong thuyết minh BCTC

(IAS 7.18)

 Theo New PRC GAAP, các doanh nghiệp phải sử dụng phương pháp trực tiếp để trình bày dòng tiền từ hoạt động kinh doanh

 Các doanh nghiệp được yêu cầu phải công bố trong thuyết minh BCTC sự dung hòa lợi nhuận ròng đến luồng tiền từ hoạt động kinh doanh bằng cách sử dụng phương pháp gián tiếp

(CAS 31.8 & 16; CAS 31.AG.III(I))

Nguồn: KPMG, 2011, An overview of new PRC GAAP

BẢNG 1.2: Một vài điểm khác biệt giữa BCLCTT theo IFRS và CAS:

Trang 36

Gần đây, BTC của Trung Quốc tuyên bố quốc gia này áp dụng đầy đủ theo IFRS nhưng có một số loại trừ Đồng thời BTC cho biết tất cả các công ty có qui mô lớn và vừa sẽ phải áp dụng theo CMKT từ năm 2012

 Singapore:

Dựa trên những tài liệu nghiên cứu trên iasplus.com thì vào năm 2002, chính phủ Singapore đã thành lập Hội đồng công bố thông tin và quản trị doanh nghiệp (CCDG) nhằm thay thế Viện kế toán Công chứng Singapore trong việc đóng vai trò là nhà lập chuẩn mực cho tất cả các công ty thành lập tại Singapore

Ngày 1/1/2007, CCDG được thay thế bởi hội đồng chuẩn mực kế toán (ASC) Chính phủ Singapore tin rằng "sự sáng lập ASC là bước chuẩn bị tích cực theo hướng đảm bảo tính nhất quán trong chuẩn mực kế toán tạo điều kiện so sánh các báo cáo tài chính giữa các đơn vị kinh doanh khác nhau và nâng cao độ tin cậy và minh bạch của báo cáo tài chính"

Chuẩn mực BCTC Singapore đã đi theo con đường hội tụ với chuẩn mực BCTC quốc tế cho các công ty Singapore trong nhiều năm Singapore đã thông qua phần lớn IFRS của IASB như các SFRSs của họ, mặc dù có những khác biệt về thời hạn hiệu lực

và những đòi hỏi trong chuyển đổi Chuẩn mực SFRS 7: Cash flow statement của Singapore tương đương với IAS 7 (hiệu lực năm 1994) trên tất cả các phương diện Thời hạn để hoàn thiện toàn bộ tiến trình hội tụ được điều chỉnh để chờ đợi sự phát triển các dự án về ghi nhận doanh thu, các công cụ tài chính và mô hình về khoảng lỗ làm giảm giá trị tài sản ASC hiện đã quyết định giới thiệu một khuôn mẫu BCTC mới giống hệt IFRS cho các công ty niêm yết của Singapore Các khuôn mẫu này cũng sẽ được áp dụng trên cơ sở tự nguyện đối với các công ty chưa niêm yết

 Thái Lan:

Theo Deloitte, GAAP Thái Lan chịu nhiều ảnh hưởng từ Hành nghề Kế Toán (Accounting Profession Act) B.E 2547, IFRS, U.S GAAP, và các thông lệ khác của sở thuế vụ, sàn chứng khoán, ngân hàng, văn phòng công tác bảo hiểm Thái Lan Từ năm

Trang 37

1997, TAS của Thái Lan đã có nhiều thay đổi và sử dụng IAS làm nền tảng, rất nhiều chuẩn mực được sửa lại hoặc ban hành mới để phù hợp với IFRS hiện hành Đã có nhiều dự đoán rằng TAS sẽ hoàn toàn phụ thuộc vào IFRS trong tương lai gần, tuy nhiên ngày có hiệu lực của mỗi chuẩn mực có thể đem lại lợi ích khác nhau cho giai đoạn chuyển tiếp, thế nên hiện tại không biết khi nào việc thực hiện IFRS đầy đủ sẽ trở thành quy định bắt buộc ở Thái Lan

Hiện nay, IAS 7 và TAS 25 vẫn còn tồn tại vài điểm khác biệt trong trình bày luồng tiền từ hoạt động kinh doanh:

 Sử dụng phương pháp trực tiếp và gián

khuyến khích)

Nguồn: Deloitte, 2008, IFRS and GAAP in the Kingdom in Thailand

BẢNG 1.3: Một vài điểm khác biệt giữa BCLCTT theo IFRS và TAS:

 Nhận xét chung về sự khác biệt của chuẩn mực BCLCTT của các quốc gia và

chuẩn mực quốc tế:

_ Về phân loại luồng tiền: Nhìn chung, IFRS cho phép một sự linh hoạt trong việc phân loại luồng tiền hơn GAAP của các quốc gia GAAP các quốc gia thường quy định

cụ thể cách phân loại các khoản mục ảnh hưởng đến luồng tiền

_ Về phương pháp lập: IFRS cho phép sử dụng cả 2 phương pháp trực tiếp và gián tiếp (khuyến khích phương pháp gián tiếp), GAAP của các quốc gia châu Á đôi khi quy

Trang 38

định chỉ thực hiện một trong hai phương pháp (Thái Lan, Trung Quốc chỉ cho phép sử dụng phương pháp trực tiếp)

1.4.2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam:

Tiến trình hội nhập với chuẩn mực kế toán quốc tế là hướng đi tích cực đáp ứng

xu hướng toàn cầu hóa kinh tế tuy nhiên, quá trình này cũng đầy rẫy cam go và phức tạp Việt Nam cần phải nhận định đúng đắn tình hình để có những lộ trình thích hợp, đáp ứng phát triển kinh tế

Hệ thống kế toán của Việt Nam ta có những nét đặc trưng riêng do sự khác biệt

về môi trường kinh doanh, pháp lý, văn hóa với các nước trong khu vực và thế giới Theo đường lối XHCN, nhà nước ta đóng vai trò chủ đạo trong hệ thống kế toán quốc gia, cụ thể: quốc hội ban hành Luật kế toán, thủ tướng chinh phủ ban hành chế độ tài chính, Bộ tài chính ban hành hệ thống CMKT và các thông tư hướng dẫn Mặt khác, hệ thống kế toán của ta còn bị chi phối bởi các quy định về thuế Khác với thế giới, Hội

Kế toán và Kiểm toán Việt Nam (VAA) ra đời đã lâu từ 1994 nhưng không giữ vai trò lập quy và sự ảnh hưởng còn nhiều hạn chế Ngoài ra, IFRS thì chủ yếu mang tính xét đoán Tất cả điều này đã gây nhiều khó khăn trong việc lập và trình bày BCTC nói chung và BCLCTT nói riêng hội nhập với chuẩn mực kế toán quốc tế

Việc nhận thức được những lợi ích của việc hòa hợp chuẩn mực kế toán nói chung và chuẩn mực về BCLCTT nói riêng là tiên quyết quan trọng Giống như tình hình chung của các nước, nước ta cũng tồn tại sự khác biệt trong viêc lập BCLCTT so với IFRS Khác biệt này chủ yếu nằm trong việc phân loại các khoản mục liên quan đến luồng tiền Để BCTC của Việt Nam được các nước công nhận rộng rãi, ta cần thống nhất trong việc phân loại các khoản mục này Điều này sẽ giảm các chi phí khi phải chuyển đổi các báo cáo từ VAS sang IFRS Trong giai đoàn đầu của tiến trình hội nhập, trước những khó khăn trong việc áp dụng toàn bộ IFRS cho toàn bộ các doanh nghiệp, hệ thống chuẩn mực Việt Nam có thể bao gồm 2 phần: một phần dành cho các

Trang 39

công ty niêm yết và một phần dành cho các công ty không niêm yết Các công ty niêm yết sẽ phải trình bày BCLCTT theo IAS/IFRS, các công ty chưa niêm yết sẽ vẫn trình bày theo chuẩn mực kế toán Việt Nam hiện hành

Việt Nam cũng như nhiều nước khác trong khu vực (như Trung Quốc, Thái Lan, Singapore), các chuẩn mực kế toán Việt Nam cũng dựa trên IAS/IFRS Do nhiều khác biệt về đặc điểm chính trị, luật pháp,… , tiến trình hội nhập cần phải phác thảo một lộ trình rõ ràng, rành mạch Để thực hiện mục tiêu hội nhập kế toán quốc tế, trước hết ta phải hội nhập kế toán với các nước trong khu vực, lộ trình này sẽ được thực hiện bằng việc niêm yết trên thị trường chứng khoán nước bạn Theo nghiên cứu của TS Trần Việt Dũng, việc niêm yết này không chỉ giúp cung cấp nguồn vốn dồi dào cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp niêm yết mà còn tạo điều kiện để các doanh nghiệp Việt Nam nâng cao vị thế, hình ảnh doanh nghiệp, qua đó mở rộng được thị trường xuất khẩu cho chính mình và tạo nên tính cạnh tranh cho các sản phẩm Việt Nam trên trường quốc tế Hiện tại, Singapore là một lựa chọn ưu tiên hơn cả đối với nhiều doanh nghiệp Việt Nam Điều này xuất phát từ thực tế rằng, Singapore là một nước có lãnh thổ nhỏ nhưng có tính hội tụ rất cao Đây là một trung tâm tài chính lớn của khu vực có khả năng vốn hóa cao, môi trường tài chính – kinh doanh ổn định, minh bạch và thân thiện đối với các doanh nghiệp nước ngoài Nhìn từ bình diện hợp tác kinh tế, Singapore và Việt Nam có mối quan hệ thương mại – đầu tư rất chặt chẽ và không ngừng gia tăng trong suốt hai thập kỷ qua Tuy nhiên, do những tiêu chí khắt khe của việc niêm yết, hiện nay mới chỉ có một số ít các doanh nghiệp (như Hoàng Anh Gia Lai, Vingroup) đã thành công trong việc niêm yết trái phiếu quốc tế tại Sở giao dịch chứng khoán Singapore (SGX) Việc niêm yết trên SGX của các doanh nghiệp này sẽ là bài học quý báu và là động lực cho doanh nghiệp Việt Nam tiếp tục phấn đấu Có thể nói, một khi đã thực hiện tốt việc niêm yết trên thị trường chứng khó tính như Singapore, triển vọng hội nhập kế toán quốc tế của Việt Nam sẽ trở nên rất sáng sủa

Trang 40

Kết luận chương 1:

BCLCTT trên thế giới đã trải qua nhiều thăng trầm trong quá trình phát triển lâu dài của mình Giữa nó và các BCTC khác luôn có mối quan hệ tương hỗ không ngoài mục đích đáp ứng nhu cầu thông tin cho người sử dụng Trong thời kỳ hội nhập, để có thể thu hút đầu tư vào Việt Nam thì nhu cầu cấp thiết đặt ra là BCTC nói chung và BCLCTT nói riêng cần phải được lập trên một cơ sở thống nhất Bởi vậy, tiến trình hội nhập kế toán quốc tế chính là hướng đi tích cực đáp ứng xu hướng toàn cầu hóa kinh tế hiện nay, tuy nhiên quá trình đó cũng đầy cam go và phức tạp

Toàn bộ chương 1 không ngoài mục đích khái quát lịch sử hình thành và phát triển của chuẩn mực BCLCTT, những nội dung cơ bản của BCLCTT theo chuẩn mực

kế toán quốc tế Bên cạnh đó, người viết mô tả mối quan hệ giữa BCLCTT với các BCTC khác, đồng thời người viết cũng thực hiện so sánh sự khác biệt giữa chuẩn mực BCLCTT các nước và quốc tế, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Lộ trình hội nhập kế toán từ khu vực đến quốc tế là cả một quá trình đòi hỏi sự phấn đấu không ngừng của các cấp có thẫm quyền và các doanh nghiệp Do đó, yêu cầu tiên quyết là phải nhận định một cách đúng đắn tình hình để có những lộ trình thích hợp nhằm đáp ứng công cuộc phát triển kinh tế Trong tiến trình này, việc tìm ra phương hướng, cách thức nhằm cải thiện việc lập BCTC nói chung và BCLCTT nói riêng theo xu hướng hội nhập với chuẩn mực kế toán quốc tế là điều tiên quyết quan trọng

Ngày đăng: 01/09/2020, 14:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w