1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Hoàn thiện hệ thống kế toán ngân hàng Việt Nam theo chuẩn mực kế toán quốc tế

90 41 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 869,67 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với những lý do nêu trên, tôi quyết định chọn đề tài nghiên cứu: “HOÀN THIỆN HỆ THỐNG KẾ TOÁN NGÂN HÀNG VIỆT NAM THEO CHUẨN MỰC KẾ TOÁN QUỐC TẾ” MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Nhận biết rõ những k

Trang 1

-

NGUYỄN LÊ DIỄM PHƯƠNG

HOÀN THIỆN HỆ THỐNG KẾ TOÁN

NGÂN HÀNG VIỆT NAM THEO CHUẨN MỰC KẾ TOÁN QUỐC TẾ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP Hồ Chí Minh – Năm 2014

Trang 2

-

NGUYỄN LÊ DIỄM PHƯƠNG

HOÀN THIỆN HỆ THỐNG KẾ TOÁN

NGÂN HÀNG VIỆT NAM THEO CHUẨN MỰC KẾ TOÁN QUỐC TẾ

Chuyên ngành: Tài Chính - Ngân Hàng

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS BÙI KIM YẾN

TP Hồ Chí Minh – Năm 2014

Trang 3

Tất cả tài liệu tham khảo đều được trích dẫn đầy đủ và rõ ràng

Người cam đoan

Nguyễn Lê Diễm Phương

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC HÌNH VẼ

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ CHUẨN MỰC KẾ TOÁN QUỐC TẾ VÀ KẾ TOÁN NGÂN HÀNG 3

1.1 Lý luận về chuẩn mực kế toán, hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế 3

1.1.1 Khái niệm về chuẩn mực kế toán và sự cần thiết của chuẩn mực kế toán 3

1.1.2 Hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế 5

1.2 Lý luận về kế toán ngân hàng 16

1.2.1 Định nghĩa kế toán ngân hàng 16

1.2.2 Đối tượng của kế toán ngân hàng 17

1.2.3 Đặc điểm của kế toán ngân hàng 18

1.2.4 Vai trò của kế toán ngân hàng 19

1.2.5 Nhiệm vụ của kế toán ngân hàng 19

1.3 Mối quan hệ giữa kế toán và quản trị trong hoạt động ngân hàng 20

1.4 Kinh nghiệm áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế ở một số nền kinh tế tiêu biểu 22

1.4.1 Việc áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế ở một số nền kinh tế tiêu biểu 22

1.4.2 Bài học kinh nghiệm hoàn thiện hệ thống kế toán ngân hàng thương mại theo chuẩn mực kế toán quốc tế 23

1.5 Sự cần thiết phải hoàn thiện hệ thống kế toán ngân hàng Việt Nam theo chuẩn mực kế toán quốc tế 24

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 27

Trang 5

2.1 Tổng quan về hệ thống ngân hàng Việt Nam 28

2.2 Tổng quan về sự khác biệt 30

2.2.1 Tính thống nhất về hệ thống tài khoản 30

2.2.2 Kỹ thuật ghi chép tài khoản 31

2.2.3 Hệ thống sổ sách kế toán 32

2.2.4 Tính bắt buộc về hình thức 32

2.2.5 Hệ thống phương pháp đánh giá tài sản 33

2.3 Thực trạng sự khác biệt theo từng khoản mục cụ thể 33

2.3.1 Sự khác biệt các khoản mục trong Bảng cân đối kế toán 33

2.3.2 Sự khác biệt các khoản mục trong Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh 41

2.3.3 Sự khác biệt trong Báo cáo lưu chuyển tiền tệ 43

2.3.4 Sự khác biệt báo cáo thay đổi vốn chủ sở hữu 44

2.4 Minh họa sự sai lệch của một số chỉ tiêu tài chính do sự khác biệt giữa hệ thống kế toán ngân hàng và chuẩn mực kế toán quốc tế 44

2.4.1 Phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh theo chuẩn mực kế toán quốc tế 44

2.4.2 Phân tích về vốn chủ sở hữu 47

2.4.3 Phân tích tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản – ROA 48

2.4.4 Phân tích tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu - ROE 50

2.5 Đánh giá những vấn đề tồn tại của hệ thống kế toán 50

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 54

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HỆ THỐNG KẾ TOÁN NGÂN HÀNG VIỆT NAM THEO CHUẨN MỰC KẾ TOÁN QUỐC TẾ 55

3.1 Nguyên nhân chưa thể áp dụng ngay và toàn bộ chuẩn mực kế toán quốc tế 55

3.1.1 Nhân tố về nền kinh tế 55

3.1.2 Nhân tố về hệ thống luật pháp 56

Trang 6

mực kế toán quốc tế 58

3.3.1 Đẩy nhanh phát triển nền kinh tế thị trường 58 3.3.2 Sửa đổi luật kế toán và hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam hiện hành, để chủ động triển khai phù hợp với đặc thù kế toán ngân hàng 58 3.3.3 Giải pháp hoàn thiện hệ thống kế toán ngân hàng tại Việt Nam 60 3.3.4 Tạo điều kiện áp dụng công nghệ mới để hoàn thành tốt hơn nhiệm vụ kế toán của ngân hàng thương mại hiện đại 64 3.3.5 Cải thiện nội dụng, phương pháp đào tạo chuyên môn thuộc lĩnh vực kế toán – tài chính cho đội ngũ cán bộ kế toán ngân hàng 65

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 67 KẾT LUẬN 68 PHỤ LỤC

Trang 7

Khu vực thương mại tự do ASEAN CHXHCN: Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa

IAS: International Accounting Standard

Chuẩn mực kế toán quốc tế IASB: International Accounting Standards Board

Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế IASC: International Accounting Standards Committee

Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế IFRS: International Financial Reporting Standard

Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế IFRIC: International Financial Reporting Interpretations Committee

Ủy ban giải thích các chuẩn mực kế toán quốc tế NHNN: Ngân hàng nhà nước

NHTM: Ngân hàng thương mại

SAC: Standards Advisory Council

Hội đồng tư vấn chuẩn mực SEC: Security and Exchange Commission

Ủy ban chứng khoán quốc gia Hoa Kỳ TMCP: Thương mại cổ phần

US-GAAP: United States Generally Accepted Accounting Principles

Nguyên tắc kế toán chung của Hoa kỳ VAS: Vietnamese Accounting Standard

Chuẩn mực kế toán Việt Nam WTO: World Trade Organization

Tổ chức thương mại thế giới

Trang 8

theo IAS

Bảng 2.3: Bảng nguồn vốn của Ngân hàng TMCP Nam Việt

Bảng 2.4: Bảng nguồn vốn của Ngân hàng TMCP Nam Việt theo IAS

Bảng 2.5: Bảng phân tích về tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản - ROA

Bảng 2.6: Bảng phân tích về tỷ suất sinh lời trên tổng nguồn vốn - ROE

Trang 10

MỞ ĐẦU

LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Hội nhập kinh tế trở thành một xu thế thời đại và diễn ra mạnh mẽ trên nhiều lĩnh vực Cùng với xu thế đó Việt Nam đã chủ động tham gia vào quá trình hội nhập quốc tế như gia nhập AFTA, WTO, Trong bối cảnh chung của nền kinh tế, các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam sẽ có nhiều cơ hội hơn, đồng thời cũng đặt ra nhiều thách thức Phải làm sao sớm hội nhập, nâng cao khả năng cạnh tranh của bản thân về hoạt động kinh doanh cũng như công nghệ ngân hàng, trong đó có công cụ quản lý, công nghệ điều hành trên cơ sở phù hợp với thực tiễn về các mặt ở Việt Nam

Một trong những công cụ quản lý quan trọng của ngân hàng là hệ thống

kế toán Kế toán ngân hàng có vai trò đặc biệt trong việc cung cấp các số liệu, phản ánh diễn biến các hoạt động kinh tế và nhờ đó có thể kiểm tra hoạt động của ngân hàng có hiệu quả không Do đó, hệ thống kế toán ngân hàng phải không ngừng được hoàn thiện

Trong thời gian qua, đã có một số đề tài nghiên cứu về sự hoàn thiện hệ thống kế toán, hệ thống pháp luật kế toán nhằm mục đích hội nhập quốc tế Song hầu hết các đề tài nghiên cứu về kế toán nói chung, chưa tập trung nghiên cứu sâu về hệ thống kế toán ngân hàng Với những lý do nêu trên, tôi quyết định chọn đề tài nghiên cứu: “HOÀN THIỆN HỆ THỐNG KẾ TOÁN NGÂN HÀNG VIỆT NAM THEO CHUẨN MỰC KẾ TOÁN QUỐC TẾ”

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Nhận biết rõ những khác biệt giữa hệ thống kế toán Ngân hàng Việt Nam và chuẩn mực kế toán quốc tế;

Nêu những quan điểm ứng dụng tối ưu các chuẩn mực kế toán quốc tế vào hệ thống kế toán Ngân hàng Việt Nam;

Trên cơ sở đó, đề tài đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống

kế toán Ngân hàng để đẩy mạnh hiệu quả công tác quản lý và hội nhập thế giới

Trang 11

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Việc nghiên cứu được thực hiện theo phương pháp định tính, bằng cách

sử dụng phương pháp suy luận logic, phân tích so sánh, Ngoài ra luận văn còn tham khảo kết quả của các nghiên cứu trước đây

Dữ liệu sử dụng: dữ liệu thứ cấp, được thu thập thông qua các nghiên cứu trước đây về kế toán, chuẩn mực kế toán quốc tế và hệ thống kế toán ngân hàng thương mại,

ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Hệ thống quy định pháp luật về kế toán Việt Nam;

Hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam;

Hệ thống chuẩn mực kế toán Quốc tế;

Hệ thống kế toán ngân hàng tại Việt Nam;

Hệ thống kế toán Ngân hàng TMCP Nam Việt (minh họa)

Tuy nhiên, trong điều kiện nghiên cứu có giới hạn, đề tài chỉ thực hiện nghiên cứu sâu những chuẩn mực nổi bậc liên quan đến hoạt động kế toán ngân hàng

KẾT CẤU LUẬN VĂN

Nội dung luận văn bao gồm:

Mở đầu

Chương 1: Lý luận về chuẩn mực kế toán quốc tế và kế toán ngân hàng Chương 2: Phân tích thực trạng khác biệt giữa hệ thống kế toán ngân hàng tại Việt Nam và hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện hệ thống kế toán ngân hàng Việt Nam theo chuẩn mực kế toán quốc tế

Kết luận

Trang 12

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ CHUẨN MỰC KẾ TOÁN QUỐC TẾ VÀ

KẾ TOÁN NGÂN HÀNG 1.1 Lý luận về chuẩn mực kế toán, hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế 1.1.1 Khái niệm về chuẩn mực kế toán và sự cần thiết của chuẩn mực kế toán

1.1.1.1 Khái niệm về chuẩn mực kế toán

Kế toán được xem là một công cụ trợ giúp trong việc phản ánh quản lý trên góc độ tài chính các hoạt động kinh tế Trong thời kỳ Phục Hưng Fraluca Pacioli đã phát minh nguyên tắc ghi sổ kép (double entry) phục vụ cho phản ánh các tài khoản thương mại ở Ý vào thế kỷ XIV Từ đó, ghi sổ kép đã thâm nhập vào Đức, Pháp sau đó tới Anh (trung tấm thế giới vào giữa thế kỷ XVII, XVIII) Những sự đầu tư của nước này vào công nghiệp, bảo hiểm và đường sắt tại các nước Bắc Mỹ đã kéo theo ảnh hưởng kế toán của Anh tới khu vực này, kế toán Hà Lan đã ảnh hưởng tới Indonesia và Nam Phi, ảnh hưởng từ các nước Châu Âu lan tỏa ra toàn thế giới, từ Tây Ban Nha tới các quốc gia Châu Mỹ - La tinh Gần đây, với uy thế về kinh tế của mình, Mỹ trở thành nước đầu tiên phát triển nguyên lý kế toán và xuất khẩu các mô hình báo cáo tài chính của quốc gia này ra toàn thế giới

Sự phát triển của kế toán ở các nước thường khác nhau về quy định và thực hành kế toán Khi mà các hệ thống kinh tế và các điều kiện thương mại khác nhau từ nước này sang nước khác thì mô hình và phương pháp kế toán cũng khác nhau Các nhân tố ảnh hưởng như là mức độ tập trung về kinh tế, mức độ kiểm soát của nhà nước đối với doanh nghiệp, bản chất của các hoạt động kinh tế từ xã hội quân bình đơn giản tới các doanh nghiệp kinh doanh tổng hợp, giai đoạn phát triển kinh tế,

Định nghĩa về kế toán được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau:

- Viện Kế toán công chứng Hoa Kỳ (1953) định nghĩa: “kế toán là một nghệ thuật ghi nhận, phân loại và tổng hợp các sự kiện kinh tế dưới hình thái tiền tệ theo một phương thức có ý nghĩa và giải thích các kết quả đó”

Trang 13

- Hiệp hội Kế toán Hoa Kỳ - AAA (1966) thì định nghĩa kế toán là “quá trình xác định, đo lường và cung cấp những thông tin kinh tế hữu ích cho việc đánh giá và đưa ra quyết định kinh doanh”

Kế toán là một hoạt động chuyên môn cao có chức năng cung cấp thông tin trung thực, hợp lý về tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Kế toán giúp cho người sử dụng thông tin hiểu được, so sánh được các thông tin tài chính Muốn vậy, cần phải có các quy định là khuôn mẫu đánh giá, ghi nhận và trình bày thông tin tài chính, đó chính là chuẩn mực

kế toán

Chuẩn mực kế toán là những quy định và hướng dẫn các nguyên tắc, nội dung, phương pháp và thủ tục kế toán cơ bản, chung nhất làm cơ sở ghi chép kế toán và Báo cáo tài chính nhằm đạt được sự đánh giá trung thực, hợp

lý, khách quan về thực trạng tài chính và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp

1.1.1.2 Sự cần thiết phải có chuẩn mực kế toán

Mục đích chung của việc soạn thảo và ban hành các chuẩn mực kế toán

là để thống nhất hoạt động kế toán trong một phạm vi địa lý (đó có thể là trong một quốc gia, trong một khu vực hay trên toàn cầu)

Nếu như không có chuẩn mực kế toán, các doanh nghiệp sẽ sử dụng nhiều phương pháp khác nhau để lập và trình bày báo cáo tài chính của mình Tất yếu, hai báo cáo tài chính của hai doanh nghiệp không thể đem ra so sánh với nhau được do chúng không được lập trên cùng một cơ sở

Không chỉ có thế, việc thiếu một bộ chuẩn mực kế toán sẽ là cơ hội cho các doanh nghiệp sử dụng các thủ pháp kế toán để điều chỉnh báo cáo tài chính theo ý muốn Các doanh nghiệp thậm chí có thể biến tình trạng thua lỗ của doanh nghiệp thành có lãi

Việc thiếu chuẩn mực kế toán cũng tạo cơ hội cho các doanh nghiệp được tùy ý trình bày các thông tin có liên quan đến các đối tượng kế toán trên

Trang 14

báo cáo tài chính Họ có thể che giấu các thông tin bất lợi cho mình và chỉ trình bày những thông tin có lợi cho mình

Chính vì những vấn đề trên, người sử dụng báo cáo tài chính sẽ không thể đưa ra một quyết định kinh tế hợp lý dựa vào các thông tin trên báo cáo tài chính được

Ngoài ra, việc có một bộ chuẩn mực kế toán cũng giúp ích cho người

sử dụng báo cáo tài chính trong việc đọc và phân tích các báo cáo tài chính được dễ dàng hơn Người sử dụng báo cáo tài chính có thể hiểu được cấu trúc của báo cáo tài chính, bản chất của các chỉ tiêu trên báo cáo tài chính, hiểu được các thuyết minh báo cáo tài chính Từ đó, người sử dụng báo cáo tài chính mới có thể đưa ra các phân tích chính xác và đưa ra quyết định hợp lý

Một lợi ích nữa mà người sử dụng báo cáo tài chính có thể thu được từ các chuẩn mực kế toán đó là sự đảm bảo rằng các doanh nghiệp và các kiểm toán viên thực hiện việc kiểm toán báo cáo tài chính đã tuân thủ các chuẩn mực kế toán trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình Người sử dụng có thể không có kiến thức về kế toán cũng như không đủ khả năng để hiểu được các chuẩn mực kế toán nhưng nếu họ nghi ngờ về tính trung thực và hợp lý của các báo cáo tài chính thì họ có thể thuê một tổ chức chuyên nghiệp để kiểm định việc tuân thủ các chuẩn mực kế toán của ban giám đốc các doanh nghiệp cũng như của các kiểm toán viên có liên quan Như vậy, việc ban hành các chuẩn mực kế toán là một cách để tăng thêm lòng tin cho người sử dụng báo cáo tài chính đối với các báo cáo tài chính và ngăn ngừa nguy cơ gian lận trong việc lập và trình bày báo cáo tài chính

1.1.2 Hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế

1.1.2.1 Lịch sử hình thành chuẩn mực kế toán quốc tế

Cơ quan đầu tiên xây dựng và ban hành hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế chính là Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế - IASC Đây là một tổ chức độc lập thuộc khu vực tư nhân, có mục tiêu nhằm đạt được sự thống nhất trong các nguyên tắc kế toán mà các nhà kinh doanh và các tổ chức trên thế

Trang 15

giới sử dụng để lập báo cáo tài chính Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế được thành lập vào năm 1973 dưới sự cam kết của các chuyên gia kế toán của các nước Úc, Canada, Pháp, Đức, Nhật, Mexico, Hà Lan, Anh, Ailen và Mỹ Từ năm 1983 các thành viên của Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế bao gồm toàn

bộ các chuyên gia kế toán thuộc thành viên của Liên đoàn kế toán quốc tế - IFAC Tính đến tháng 01/1999 số các thành viên đại diện cho hơn hai triệu chuyên gia kế toán là 142 thành viên thuộc 103 quốc gia khác nhau Đến tháng 12/1999, IASC đã chỉ định ủy ban lựa chọn và thành lập Hội đồng thành viên Trustees gồm 22 thành viên đến từ các khu vực địa lý, lĩnh vực và chuyên môn khác nhau

Năm 2001, Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế - IASB ra đời thay thế cho IASC Cấu trúc IASB có những cơ quan sau:

Đứng đầu là Ban quản trị ủy ban xây dựng chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB foundation) Ban quản trị ủy ban xây dựng chuẩn mực kế toán quốc tế

là cơ quan nắm giữ bản quyền của các chuẩn mực kế toán quốc tế và các văn bản khác của IASB Các ủy viên quản trị chỉ định các thành viên của IASB, thực hiện việc giám sát và gây quỹ cần thiết Còn IASB có toàn bộ trách nhiệm đối với việc soạn thảo các chuẩn mực kế toán

Ngoài ra, cơ cấu của IASB còn bao gồm hai cơ quan nữa là Hội đồng tư vấn chuẩn mực – SAC và ủy ban giải thích các chuẩn mực kế toán quốc tế – IFRIC

Trang 16

Hình 1.1: Sơ đồ cấu trúc IASB

Các ủy viên quản trị bổ nhiệm thành viên của IASB, IFRIC, SAC Bên cạnh việc giám sát IASB để đảm bảo hoạt động hiệu quả của ủy ban này và gây quỹ, các ủy viên quản trị còn phê chuẩn ngân sách của IASB và chịu trách nhiệm xem xét những thay đổi trong điều lệ hoạt động của hội đồng Các ủy viên quản trị được bầu sao cho có 6 người đến từ Bắc Mỹ, 6 người đến từ Châu Âu, 4 người đến từ Châu Á Thái Bình Dương và 3 đến từ các khu vực khác để đảm bảo sự cân bằng địa lý

Hội đồng tư vấn chuẩn mực – SAC tạo ra một cầu nối chính thức giúp cho các tổ chức và cá nhân khác, những người mà đến từ những khu vực địa lý khác nhau và có nền tảng học vấn đa dạng, được đưa ra những ý kiến góp ý cho hội đồng và cũng có thể là tư vấn cho các ủy viên quản trị Hội đồng này bao gồm 15 thành viên và gặp nhau ít nhất 3 lần một năm Hội đồng này được tham vấn bởi IASB trong những dự án quan trọng Hội đồng cũng tư vấn cho IASB về những ưu tiên trong lịch trình hoạt động và tác động của các chuẩn mực được đề xuất có ảnh hưởng đến người sử dụng và người lập báo cáo tài chính

mực kế toán quốc tế (22 ủy viên)

Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế (14 thành viên)

Ủy ban giải thích các chuẩn mực kế toán quốc tế (12 thành viên) Hội đồng tư vấn chuẩn mực

Các tổ chức soạn thảo

chuẩn mực kế toán quốc

gia và các bên liên quan

Chú thích

Bổ nhiệm Báo cáo cho

Có liên hệ với Tham vấn

Trang 17

Ủy ban giải thích chuẩn mực kế toán quốc tế - IFRIC đưa ra những chỉ dẫn về cách áp dụng và giải thích các tiêu chuẩn báo cáo tài chính quốc tế Ủy ban này chịu trách nhiệm về những vấn đề báo cáo tài chính mới xuất hiện mà chưa được nêu ra trong các tiêu chuẩn báo cáo tài chính quốc tế hoặc những vấn đề mà chưa có cách giải thích phù hợp hoặc có những sự giải thích trái ngược

Trong quá trình hoạt động, hội đồng này đã sửa đổi, bổ sung một số chuẩn mực kế toán cũ, thay thế chuẩn mực kế toán cũ bằng những những chuẩn mực trình bày báo cáo tài chính và ban hành một số chuẩn mực kế toán mới về những vấn đề chưa được đề cập trước đó

1.1.2.2 Chức năng, nhiệm vụ của Ủy Ban Chuẩn mực kế toán quốc tế

Thiết lập và công bố những chuẩn mực kế toán quốc tế công khai được xem xét trong việc lập báo cáo tài chính và khuyến khích sự chấp nhận, xem xét rộng rãi các chuẩn mực đó

Thực hiện một cách chung nhất cải thiện và hài hòa các quy định, chuẩn mực kế toán và thủ tục liên quan đến việc lập báo cáo tài chính

Xây dựng các thủ tục hoạt động dài hạn phù hợp với điều khoản hiến pháp của Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế

1.1.2.3 Quy trình soạn thảo nên các chuẩn mực kế toán quốc tế

Chuẩn mực kế toán quốc tế được hình thành qua một hệ thống các quy trình chuẩn và được sự tham vấn rộng rãi của cộng đồng quốc tế Quy trình chuẩn cho việc soạn thảo một chuẩn mực kế toán quốc tế gồm các bước sau:

Bước 1: Các nhân viên của IASB sẽ nhận diện, xem xét và đề xuất các

vấn đề mà có thể làm cho hội đồng quan tâm Hội đồng sẽ thảo luận về các dự

án tiềm năng và quyết định để theo đuổi một dự án phải được đưa ra trong một cuộc họp hội đồng công khai Trước khi đi đến một quyết định như vậy, IASB

sẽ tham vấn Hội đồng cố vấn chuẩn mực để lên một lịch trình hoạt động và đặt

ra các ưu tiên

Trang 18

Bước 2: Khi đưa một dự án vào một lịch trình hoạt động, IASB sẽ

quyết định có thực hiện dự án đó một mình hay là sẽ hợp tác với các tổ chức soạn thảo chuẩn mực khác

Bước 3: Sau khi xem xét bản chất của vấn đề, IASB sẽ thiết lập một

nhóm làm việc

Bước 4: Mặc dù một văn bản mời thảo luận không phải là một bước bắt

buộc trong quy trình chuẩn, IASB vẫn thường công bố một văn bản mời thảo luận cho những chủ đề mới quan trọng Thông thường thì một văn bản mời thảo luận sẽ bao gồm một phần tổng quát về vấn đề được bàn luận, các cách tiếp cận để giải quyết vấn đề, quan điểm ban đầu của tác giả hay của IASB và một lời mời đưa ra ý kiến Nếu IASB quyết định bỏ bước này thì IASB phải đưa ra lý do giải thích

Bước 5: Công bố bản thảo lấy ý kiến công chúng là một bước bắt buộc

trong quy trình chuẩn Bản thảo này phải được chính thành viên của IASB phê chuẩn Một bản thảo sẽ bao gồm cơ sở để đưa ra kết luận và các quan điểm trái ngược từ các thành viên IASB không phê chuẩn

Bước 6: IASB sẽ xem xét những lời nhận xét và kết quả của những lần

tham vấn khác

Bước 7: Khi IASB thấy rằng hội đồng đã có thể đưa ra một kết luận về

vấn đề đang được thảo luận, hội đồng sẽ chỉ đạo cho nhân viên của mình soạn thảo chính thức các chuẩn mực kế toán quốc tế Một chuẩn mực kế toán mới phải được chính thành viên của IASB phê chuẩn

Trang 19

Hình 1.2 Quy trình việc soạn thảo các chuẩn mực kế toán quốc tế 1.1.2.4 Khái quát hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế

Hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế được ban hành và quản lý bởi Ủy ban sáng lập chuẩn mực kế toán quốc tế Các chuẩn mực kế toán quốc tế - IASs vẫn được kế thừa các chuẩn mực kế toán quốc tế do IASC ban hành trước đây và Ủy ban sáng lập chuẩn mực kế toán quốc tế tiếp tục xây dựng, ban hành và phát triển các chuẩn mực kế toán quốc tế mới với tên gọi là chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế IFRS

Hiện nay, có sự dịch chuyển dần từ IAS sang IFRS bằng việc ban hành thêm IFRS IFRS đề cập nhiều hơn đến việc trình bày thông tin tài chính như thế nào để đảm bảo lợi ích cao hơn cho các đối tượng sử dụng báo cáo tài chính được lập ra từ kết quả của công việc kế toán

Đề xuất dự án soạn thảo chuẩn mực kế

toán quốc tế

Xem xét việc hợp tác với các tổ chức soạn thảo chuẩn mực quốc gia Thành lập các nhóm làm việc

Đưa ra văn bản mời thảo luận

Công bố bản thảo lấy ý kiến công chúng

Thu thập và xem xét các nhận xét

Soạn thảo chính thức chuẩn mực kế toán

quốc tế

Trang 20

Chuẩn mực kế toán quốc tế bao gồm 2 nhóm chính là:

IASs (International Accounting Standards) – nhóm chuẩn mực kế toán IFRSs (International Finalcial Reporting Standards) - các hướng dẫn thực hiện chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế

Nhóm chuẩn mực kế toán IAS so IASC ban hành có liên quan đến nhiều khía cạnh khác nhau trong kế toán:

IAS 1 Trình bày các báo cáo tài chính Chuẩn mực này được dùng để trình bày

tất cả các báo cáo tài chính phục vụ mục đích chung, và không được sử dụng

để đáp ứng nhu cầu thông tin cụ thể của người sử dụng

IAS 2 Hàng tồn kho Chuẩn mực này quy định cho tất cả hàng tồn kho là tài

sản

IAS 3 Được ban hành năm 1976, được thay thế bởi IAS 27 và IAS 28

IAS 4 Khấu hao, được thu hồi năm 1999

IAS 5 Không còn hiệu lực Được thay thế bởi IAS 1

IAS 6 Không còn hiệu lực Được thay thế bởi IAS 15

IAS 7 Báo cáo lưu chuyển tiền tệ Luồng lưu chuyển tiền tệ bao gồm luồng

thu và luồng chi của cả tiền mặt và các tài sản tương đương tiền mặt

IAS 8 Lỗ lãi ròng của cả kỳ, các lỗi cơ bản và thay đổi chế độ kế toán Chuẩn

mực này khi trình bày lỗ/lãi từ các hoạt động thông thường, các khoản bất thường và báo cáo thay đổi trong các dự toán, lỗi cơ bản và thay đổi chế độ kế toán

IAS 9 Không còn hiệu lực Được thay thế bởi IAS 39, có hiệu lực vào ngày

01/07/1999

IAS 10 Các sự kiện xảy ra sau ngày lập bảng tổng kết tài sản Chuẩn mực này

phải được áp dụng trong việc kế toán và công bố toàn bộ những sự kiện sau ngày lập bảng tổng kết tài sản, kể cả có lợi hay bất lợi xảy ra trước ngày các báo cáo tài chính được ban hành

IAS 11 Các hợp đồng xây dựng

Trang 21

IAS 12 Thuế thu nhập Chuẩn mực này quy định cho tất cả các loại thuế thu

nhập trong nước, ngoài nước và chuyển ra nước ngoài, cũng như thuế thu nhập sau khi trả cổ tức

IAS 13 Không còn hiệu lực Được thay thế bởi IAS 39 có hiệu lực ngày

01/07/1998

IAS 14 Báo cáo ngành Chuẩn mực này áp dụng với tất cả các doanh nghiệp

có chứng khoán vốn hoặc chứng khoán nợ được giao dịch đại chúng trên thị trường chứng khoán hoặc những doanh nghiệp đang trong quá trình phát hành những loại chứng khoán này Công ty mẹ chỉ trình bày thông tin từng phân trên cơ sở báo cáo tài chính tổng hợp Thông tin theo bộ phận được trình bày

cả theo ngành kinh doanh và khu vực Đồng thời chuẩn mực này được thay thế bởi IFRS 8 có hiệu lực ngày 01/01/2009

IAS 15 Thông tin phản ánh ảnh hưởng của biến động giá cả Các báo cáo tài

chính thường được lập theo chi phí ban đầu mà không phản ánh ảnh hưởng thay đổi giá cả Theo đó IAS 15 được đưa ra để giúp người sử dụng báo cáo tài chính nhận thức được ảnh hưởng của giá cả thay đổi đối với hoạt động kinh doanh Tuy nhiên việc tuân thủ IAS 15 mang tính khuyến khích chứ không bắt buộc Chuẩn mực này bị thu hồi vào tháng 12 năm 2003

IAS 16 Tài sản cố định, nhà xưởng và thiết bị Chuẩn mực này quy định cho

tất cả các loại tài sản, nhà xưởng và thiết bị Tài sản, nhà xưởng và thiết bị là những tài sản hữu hình được doanh nghiệp giữ để sản xuất, cung cấp hàng hóa

và dịch vụ, cho thuê hoặc cho mục đích quản lý hành chính, và thường được

sử dụng trong nhiều giai đoạn

IAS 17 Tài sản thuê Chuẩn mực này áp dụng cho tất cả các hợp đồng cho

thuê, theo đó người cho thuê chuyển cho người thuê quyền sử dụng một tài sản trong một khoản thời gian thỏa thuận để nhận được một hoặc nhiều khoản tiền thanh toán

Trang 22

IAS 18 Doanh thu IAS quy định việc hạch toán doanh thu có được từ: bán

hàng, cung cấp dịch vụ, cho người khác sử dụng tài sản của doanh nghiệp mang lại lãi, tiền bản quyền, cổ tức

IAS 19 Lợi ích trả cho công nhân viên

IAS 20 Kế toán các khoản trợ cấp của chính phủ và công bố về trợ cấp chính

phủ

IAS 21 Ảnh hưởng do thay đổi tỷ giá hối đoái Chuẩn mực này cần được áp

dụng cho các giao dịch ngoại tệ, chuyển đổi các báo cáo tài chính của các hoạt động ở nước ngoài

IAS 22 Hợp nhất kinh doanh Chuẩn mực này quy định cho việc hợp nhất kinh

doanh Nó chủ yếu hướng vào tập đoàn các doanh nghiệp có bên mua là một công ty mẹ và bên được mua là một công ty con Trọng tâm hướng vào việc kế toán và vào ngày mua Chuẩn mực này được thay thế bởi IFRS 3 từ ngày 31/03/2004

IAS 23 Chi phí đi vay Chuẩn mực này cần được áp dụng trong việc kế toán

chi phí đi vay bao gồm lãi suất và các chi phí khác phát sinh cùng với việc đi vay vốn của doanh nghiệp

IAS 24 Công bố về các bên liên quan Quan hệ với các bên liên quan có thể

ảnh hưởng quan trọng đến tình trạng tài chính và kết quả hoạt động của đơn vị báo cáo Các bên được cho là có liên quan khi một bên có khả năng kiểm soát (hoặc cùng kiểm soát) bên còn lại hoặc có ảnh hưởng quan trọng đối với bên còn lại trong việc ra quyết định tài chính và hoạt động

IAS 25 Kế toán các khoản đầu tư Được thay thế bằng IAS 40 năm 2003 IAS 26 Kế toán và báo cáo theo quỹ lợi ích hưu trí

IAS 27 Báo cáo tài chính tổng hợp và kế toán các khoản đầu tư vào các công

ty con IAS này được áp dụng cho công ty mẹ và các công ty con trong cùng tập đoàn chịu sự kiểm soát của công ty mẹ

IAS 28 Kế toán các khoản đầu tư trong các đơn vị liên kết Chuẩn mực này áp

dụng cho từng khoản đầu tư trong một đơn vị liên kết Một đơn vị liên kết là

Trang 23

một công ty chịu ảnh hưởng quan trọng của nhà đầu tư, nhưng không phải là một công ty con cũng không phải là một nhà liên doanh của nhà đầu tư

IAS 29 Báo cáo tài chính trong các nền kinh tế siêu lạm phát Trong nền kinh

tế siêu lạm phát, báo cáo kết quả hoạt động và tình trạng tài chính mà không được khẳng định lại thì không còn hữu ích Đồng tiền mất sức mua nhanh đến mức việc so sánh giá trị giao dịch và các sự kiện khác đã xảy ra ngay trong cùng một kỳ kế toán cũng trở nên sai lệch IAS này yêu cầu các báo cáo tài chính của một doanh nghiệp hoạt động trong một nền kinh tế siêu lạm phát cần được báo cáo lại

IAS 30 Thuyết minh báo cáo tài chính của các ngân hàng và các tổ chức tài

chính tương tự Vào ngày 01/01/2007, chuẩn mực này được thay thế bởi chuẩn mực IFRS7

IAS 31 Góp vốn liên doanh Chuẩn mực này được thay thế bằng chuẩn mực

IFRS 11 và IFRS 12

IAS 32 Các công cụ tài chính: công bố và trình bày IAS này đưa ra các yêu

cầu cho việc trình bày các công cụ tài chính trong bảng tổng kết tài sản Xác định thông tin cần được công bố về các công cụ tài chính cả trong bảng (đã được ghi nhận) và ngoại bảng (chưa được ghi nhận)

IAS 33 Thu nhập trên một cố phiếu Chuẩn mực này áp dụng cho các đơn vị

có cổ phiếu được giao dịch đại chúng hoặc trong quá trình đang được phát hành ra công chúng trên thị trường chứng khoán, và các đơn vị khác lựa chọn công bố thu nhập trên cổ phiếu

IAS 34 Báo cáo tài chính tạm thời IAS này áp dụng với các doanh nghiệp

được yêu cầu (theo luật định hoặc các cơ quan quản lý) hoặc tự nguyện ban hành cho một kỳ ngắn hạn hơn một năm tài chính đầy đủ (ví dụ như một quý, sáu tháng)

IAS 35 Hoạt động bị ngừng Cơ sở cho việc tách thông tin liên quan tới các

hoạt động bị gián đoạn ra khỏi thông tin liên quan đến các hoạt động đang tiếp diễn IAS 35 được thay thế bởi IFRS 5 vào ngày 01/01/2005

Trang 24

IAS 36 Giảm giá trị tài sản IAS này quy định những thủ tục mà doanh nghiệp

áp dụng để đảm bảo rằng tài sản không bị định giá quá cao, công bố những tài sản bị giảm giá trị Mục đích của chuẩn mực này là hướng dẫn chi tiết cho việc thực hiện nguyên tắc thận trọng trong việc tính toán giá trị tài sản hoặc báo cáo trên bảng tổng kết tài sản

IAS 37 Các khoản dự phòng, tài sản và nợ tiềm ẩn Chuẩn mực này đưa ra các

điều kiện cần phải thực hiện để ghi nhận một khoản dự phòng Những điều kiện này cần giúp cho doanh nghiệp đạt tính nhất quán và khả năng so sánh trong việc hạch toán các khoản dự phòng

IAS 38 Tài sản vô hình Những khía cạnh chủ yếu trong việc kế toán tài sản

vô hình được quy định: ghi nhận là một tài sản, xác định giá trị kết chuyển, xác định và hạch toán lỗ do giảm giá, các yêu cầu về công bố

IAS 39 Ghi nhận và đánh giá công cụ tài chính Ở những nơi áp dụng IFRS thì

chuẩn mực này được thay thế bởi IFRS 9

IAS 40 Tài sản đầu tư IAS 40 thay thế cho các yêu cầu trước đây trong IAS

25 Chuẩn mực áp dụng cho tài sản đầu tư, là tài sản được giữ để hưởng tiền thuê hoặc cho việc tăng giá vốn hoặc cả hai

IAS 41 Nông nghiệp

Nhóm chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế IFRS do IASB ban hành: IFRS 1 Áp dụng các chuẩn mực kế toán quốc tế về trình bày báo cáo tài chính IFRS 2 Thanh toán cơ bản trên cổ phiếu

IFRS 3 Hợp nhất kinh doanh

IFRS 4 Hợp đồng bảo hiểm

IFRS 5 Tài sản dài hạn giữ để bán và hoạt động không liên tục

IFRS 6 Hoạt động thăm dò và đánh giá khoáng sản

IFRS 7 Công cụ tài chính – trình bày

IFRS 8 Các bộ phận kinh doanh

IFRS 9 Công cụ tài chính

IFRS 10 Báo cáo tài chính hợp nhất

Trang 25

IFRS 11 Thỏa thuận liên doanh

IFRS 12 Công bố lợi tức từ các công ty con

IFRS 13 Giá trị đo lường hợp lý

Lý do có thể coi Hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế do ISAB công bố là thông lệ kế toán quốc tế là ở chổ:

Đây là sự tổng kết, quy nạp hầu hết các nghiên cứu khoa học kế toán ở hầu hết các nước có nền kinh tế thị trường phát triển, nền kinh tế xuất nhập khẩu

áp đảo trên thế giới;

Đây là kết quả làm việc nghiêm túc của một ủy ban nghề nghiệp được thế giới thừa nhận và các chuẩn mực này được nhiều nước lấy làm cơ sở để xây dựng hệ thống kế toán của mình;

Được chấp nhận sử dụng ở nhiều nước trên thế giới Điển hình việc sử dụng chuẩn mực kế toán quốc tế như sau:

- Tất cả các công ty niêm yết ở các nước thành viên EU phải sử dụng IASs/IFRSs trong các báo cáo tài chính hợp nhất từ năm 2005

- Rất nhiều quốc gia sử dụng hệ thống kế toán quốc tế như Singapore, HongKong, Úc, Newzeland, Anh

- Trong xu thế toàn cầu hóa thị trường tài chính ngày nay rất nhiều quốc gia phải cải tiến hệ thống thuế của họ để phù hợp với IASs/IFRS đến mức độ

sự khác biệt gần như rất ít như Nhật Bản, Hàn Quốc với các nước trong khu vực Đài Loan, Malaysia, Thailand

- Thị trường chứng khoán NewYork, Mỹ chấp nhận các công ty sử dụng IFRSs tuy nhiên có yêu cầu thêm bảng điều hòa so với nguyên tắc kế toán

Mỹ được thừa nhận chung-US GAAP, nó rất tương thích với IFRSs nhưng rất nhiều quy định chi tiết

1.2 Lý luận về kế toán ngân hàng

1.2.1 Định nghĩa kế toán ngân hàng

Trang 26

Kế toán ngân hàng là một phân ngành nhỏ trong lĩnh vực kế toán Ngày nay trong hầu hết các tài liệu về kế toán ngân hàng đều có nêu định nghĩa, khái quát về hoạt động kế toán ngân hàng

Kế toán ngân hàng là một môn khoa học và nghệ thuật ghi chép, tổng hợp, phân loại và giải thích các nghiệp vụ ngân hàng bằng con số có tác động đến tình hình tài chính của các ngân hàng, nhằm cung cấp các thông tin về tình hình tài chính và kết quả hoạt động của ngân hàng, làm cơ sở cho việc ra quyết định liên quan đến mục tiêu quản lý kinh doanh và đánh giá hoạt động của ngân hàng

Kế toán ngân hàng nói chung bao gồm kế toán tại các Tổ chức tín dụng

và tại các ngân hàng Kế toán ngân hàng có vai trò quan trọng trong việc cung cấp số liệu, phản ánh diễn biến các hoạt động kinh tế Kế toán ngân hàng là công cụ để quản lý các nghiệp vụ của ngân hàng và hoạt động của nền kinh tế

1.2.2 Đối tượng của kế toán ngân hàng

Tài sản và nguồn hình thành tài sản cũng như sự biến động của chúng trong quá trình kinh doanh là đối tượng của kế toán ngân hàng Việc theo dõi

về tài sản, nguồn hình thành nên tài sản giúp những người sử dụng thông tin

kế toán có thể đánh giá năng lực huy động tài sản của ngân hàng, cũng như tính hợp lý trong việc sử dụng những tài sản này

Kế toán ngân hàng cũng có trách nhiệm ghi chép, phản ánh những khoản thu nhập do quá trình kinh doanh mang lại, cũng như những khoản chi phí trong quá trình hoạt động, do đó các khoản thu nhập, chi phí cũng là đối tượng của kế toán ngân hàng

Ngoài ra trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng còn có các nghiệp

vụ không liên quan trực tiếp hoặc ngay lập tức đến tài sản ngân hàng (có thể ảnh hưởng đến trong tương lai) nhưng có thể mang lại thu nhập hoặc làm tăng chi phí của ngân hàng Đó là các hoạt động như bảo lãnh, cam kết thực hiện hợp đồng, Đây là những hoạt động nằm ngoại bảng nhưng cũng là đối tượng của kế toán ngân hàng

Trang 27

1.2.3 Đặc điểm của kế toán ngân hàng

Ngân hàng là tổ chức trung gian tài chính nên kế toán ngân hàng cũng phản ánh rõ nét tình hình huy động vốn trong các thành phần kinh tế và dân cư (thê hiện trên các tài khoản tiền gửi thanh toán, tiền gửi tiết kiệm, ), tình hình hoạt động cho vay (thể hiện trên các tài khoản cho vay ngắn hạn, trung và dài hạn, )

Kế toán ngân hàng có tính giao dịch và xử lý nghiệp vụ ngân hàng (thanh toán, chuyển khoản, )

Kế toán ngân hàng có tính cập nhật và chính xác cao độ

Kế toán ngân hàng có tính tập trung và thống nhất cao

1.2.4 Vai trò của kế toán ngân hàng

- Đối với các đối tượng ngoài ngân hàng

Đối với Nhà nước: cung cấp thông tin tổng hợp để phục vụ quản lý nền kinh

tế Kế toán ngân hàng có quan hệ mật thiết với hoạt động của nền kinh tế Mọi hoạt động về kinh tế, tài chính của doanh nghiệp đều được phản ánh thông qua các tài khoản mở tại ngân hàng Vì vậy số liệu ghi chép của kế toán vừa phản ánh được hoạt động nghiệp vụ của ngân hàng, vừa phản ánh được hoạt động của các ngành nghề khác về tình hình kinh tế, tài chính, sự biến động về khả năng thanh toán, từ đó các đơn vị có đầy đủ thông tin để ra quyết định điều hành kịp thời Mặt khác, các cơ quan quản lý Nhà nước trong lĩnh vực tài chính, kế toán, thống kê cũng cần được cung cấp thông tin để xây dựng các chỉ tiêu kế hoạch, xây dựng chế độ quản lý tài chính, từ đó đề ra các phương hướng phát triển nền kinh tế một cách đúng đắn

Đối với các đối tượng khác (nhà đầu tư, khách hàng, ): kế toán ngân hàng

có vai trò bảo vệ an toàn tài sản Bảo vệ an toàn tài sản là trách nhiệm chung của kế toán bất kỳ ngành nào, song kế toán ngân hàng có vai trò quan trọng hơn vì ngoài việc bảo vệ an toàn tài sản của bản thân ngân hàng, còn phải bảo

vệ tài sản của tổ chức kinh tế khác, khách hàng gửi tiền tại ngân hàng Do đó,

Trang 28

kế toán ngân hàng phải ghi chép, kiểm soát một cách chặt chẽ mọi loại tài sản

để tránh sai sót, mất mát và nâng cao hiệu quả tài sản trong quá trình sử dụng

- Đối với nhà quản lý, điều hành ngân hàng:

Cung cấp thông tin về hoạt động tiền tệ, tín dụng, thanh toán, phục vụ chỉ đạo điều hành, quản trị đạt hiệu quả cao;

Góp phần quản trị hoạt động tài chính của ngân hàng, kế toán phản ánh các loại chi phí, thu nhập trong hoạt động kinh doanh ngân hàng Từ đó, giúp việc quản lý chặt chẽ hoạt động tài chính, tiết kiệm chi phí, nâng cao thu nhập

Kế toán ngân hàng được tổ chức ghi chép một cách khoa học,đầy đủ, chính xác Số liệu kế toán ngân hàng phản ánh được toàn bộ tài sản, nguồn vốn của ngân hàng, cũng như sự vận động, khả năng sinh lời của chúng Do đó, kế toán ngân hàng góp phần hỗ trợ nhà quản trị quản lý chặt chẽ tài sản, nguồn vốn đồng thời hoạch định các chiến lược kinh doanh nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng;

Như vậy, vai trò to lớn của kế toán ngân hàng là không thể phủ nhận được Thông qua các hoạt động của mình, kế toán ngân hàng giúp cho các giao dịch trong nền kinh tế được tiến hành một cách nhanh chóng, chính xác, kịp thời Những số liệu kế toán ngân hàng cung cấp là những chỉ tiêu thông tin kinh tế quan trọng giúp cho việc chỉ đạo, điều hành hoạt động kinh doanh của ngân hàng cũng như căn cứ cho việc hoạch định, thực thi chính sách tiền tệ quốc gia và chỉ đạo toàn bộ hoạt động của nền kinh tế, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của một ngân hàng nói riêng và hiệu quả hoạt động của nền kinh tế nói chung

1.2.5 Nhiệm vụ của kế toán ngân hàng

Kế toán ngân hàng phải ghi nhận, phản ánh chính xác, đầy đủ, kịp thời mọi nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong ngân hàng về các hoạt động: hoạt động nguồn vốn, hoạt động sử dụng vốn, và các dịch vụ ngân hàng khác

Kế toán ngân hàng phải phân loại nghiệp vụ, tổng hợp số liệu theo đúng phương pháp kế toán và theo đúng những chỉ tiêu nhất định nhằm cung cấp

Trang 29

thông tin một cách đầy đủ, chính xác và kịp thời nhất để phục vụ cho việc chỉ đạo, lãnh đạo hoạt động kinh doanh của ngân hàng và thực thi các chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nước

Kế toán ngân hàng phải giám sát quá trình sử dụng tài sản (vốn) nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng các loại tài sản thông quan việc kiểm soát trước (tiền kiểm soát) các nghiệp vụ bên nợ và nghiệp vụ bên có của bảng tổng kết tài sản ở từng đơn vị ngân hàng cũng như toàn hệ thống Từ đó góp phần tăng cường kỷ luật tài chính, củng cố chế độ hạch toán kế toán của ngân hàng cũng như của nền kinh tế

Kế toán ngân hàng phải có trách nhiệm tổ chức tốt công tác kế toán nói chung và kế toán tài chính nói riêng ở từng đơn vị cũng như toàn hệ thống Đồng thời kế toán ngân hàng phải tổ chức giao dịch, phục vụ khách hàng một cách khoa học, giúp khách hàng nắm được những nội dung cơ bản của kỹ thuật nghiệp vụ ngân hàng nói chung và kỹ thuật nghiệp vụ kế toán nói riêng, góp phần thực hiện chiến lược khách hàng của ngân hàng

1.3 Mối quan hệ giữa kế toán và quản trị trong hoạt động ngân hàng

Kế toán và quản trị có mối quan hệ mật thiết với nhau Kế toán ngân hàng có nhiệm vụ ghi nhận, phản ánh chính xác, kịp thời mọi nghiệp vụ kinh

tế phát sinh trong quá trình hoạt động ngân hàng Trong khi đó, hoạt động quản trị có chức năng hoạch định chiến lược kinh doanh, tổ chức thực hiện, điều khiển, kiểm tra Song cần lưu ý rằng hoạt động quản trị cần sử dụng các

số liệu, thông tin từ hoạt động kế toán để hoạch định được chiến lược kinh doanh phù hợp, mang lại lợi nhuận cao nhất cho ngân hàng Cả hai hoạt động

kế toán và quản trị phải cùng nhau phối hợp vận hành hiệu quả mới đảm bảo hiệu quả hoạt động cho một ngân hàng

Hệ thống báo cáo tài chính được lập từ các số liệu, thông tin kế toán, nhằm mục đích cung cấp cho nhà quản trị, nhà đầu tư những thông tin hữu ích Khi xem xét, phân tích báo cáo tài chính sẽ trả lời cho các câu hỏi như: Quy

Trang 30

mô một tổ chức kinh tế lớn như thế nào? Tổ chức này có đang tăng trưởng hay không? Khả năng thanh khoản như thế nào? Các báo cáo tài chính tiêu biểu:

- Bảng cân đối kế toán: là bảng báo cáo tài chính được lập vào một thời điểm nhất định Nó có ý nghĩa rất quan trọng đối với nhiều đối tượng sử dụng như nhà quản lý, nhà đầu tư, cơ quan chính phủ,

- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh: là báo cáo tài chính tổng hợp phản ánh doanh thu, chi phí trong một kỳ kế toán, thường là một năm tài chính

- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ dùng phản ánh việc hình thành và sử dụng tiền phát sinh trong kỳ Báo cáo lưu chuyển tiền tệ giải thích xuất xứ của lượng tiền trong một giai đoạn và lượng tiền này được chi vào đâu Thông qua báo cáo này nhà đầu tư, nhà quản trị có thể đánh giá khả năng thanh toán, việc sử dụng tiền đã hợp lý chưa?

- Thuyết minh báo cáo tài chính là báo cáo tổng hợp không tách rời với báo cáo tài chính của một tổ chức kinh tế, được sử dụng để giải thích và bổ sung thông tin về tình hình hoạt động kinh doanh, tình hình tài chính của một doanh nghiệp mà các báo cáo tài chính khác chưa trình bày rõ ràng và cụ thể được

Thành phần của báo cáo tài chính là thông tin kế toán Hầu hết các thông tin kế toán là được xác định theo chuẩn mực kế toán nhất định, do đó các báo cáo tài chính phải được lập phù hợp với chuẩn mực kế toán đã đăng

Trang 31

- Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) bằng lãi ròng chia tổng tài sản Chỉ tiêu này cho các nhà quản trị tài chính thấy được một đồng tài sản bỏ ra sẽ thu được về bao nhiêu đồng lãi ròng

- Hệ số an toàn vốn (CAR) là một thước đo độ an toàn vốn của một ngân hàng Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu được xác định bằng tỷ lệ giữa vốn tự có so với tổng tài sản rủi ro kể cả cam kết ngoại bảng

1.4 Kinh nghiệm áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế ở một số nền kinh tế tiêu biểu

1.4.1 Việc áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế ở một số nền kinh tế tiêu biểu

Liên minh Châu Âu, từ những năm 1995 đã bắt đầu có chiến lược hội

nhập kế toán EU đã cho áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế do IASC ban hành với mục đích thiết lập chuẩn mực được chấp nhận trên toàn cầu Tháng 06/2000 EU đề nghị các công ty niêm yết lập Báo cáo tài chính hợp nhất theo IAS/IFRS nhưng từng IAS/IFRS phải được xác nhận và thông qua Như vậy

có thể thấy, về nguyên tắc chung EU áp dụng hoàn toàn IAS/IFRS, tuy nhiên việc EU thông qua từng IAS/IFRS tạo nên hệ thống chưa thật đồng bộ so với IAS/IFRS Vì vậy tính thống nhất trong hệ thống chuẩn mực kế toán EU chưa hoàn chỉnh, và cũng chưa đạt được tính nhất quán

Hoa Kỳ, Ủy ban chứng khoán Mỹ (SEC) đã có những động thái tích

cực đối với hội nhập theo IAS/IFRS IASB và SEC đã thảo luận các vấn đề liên quan đến hội tụ kế toán quốc tế Thời gian gần đây, SEC đã có những nổ lực, thiện chí nhất định tiến đến hội tụ kế toán quốc tế:

Ngày 22/04/2005, SEC công bố lộ trình hội tụ kế toán quốc tế theo IAS/IFRS bằng việc gỡ bỏ quy định các công ty nước ngoài niêm yết tại Thị trường chứng khoán Mỹ có Báo cáo tài chính lập theo IAS/IFRS phải chỉnh hợp sang chuẩn mực US-GAAP

Đến ngày 15/11/2007 đã bỏ phiếu thông qua cho phép các công ty nước ngoài niêm yết tại Thị trường chứng khoán Mỹ có báo cáo tài chính lập theo

Trang 32

IAS/IFRS SEC tiến xa hơn bằng việc công bố lộ trình từ 2014 đến 2016 các công ty Mỹ sẽ chuyển sang áp dụng IAS/IFRS

Tháng 02/2010 SEC tái khẳng định lộ trình hội tụ trong giai đoạn đến 2015 –

2016

Úc đã có những bước chuẩn bị nhất định cho việc chuyển đổi từ Chuẩn

mực kế toán Úc sang IAS/IFRS từ năm 2002 và Úc đã chính thức chuyển sang

áp dụng IAS/IRFS từ ngày 01/01/2005 Úc là một trong những quốc gia đầu tiên áp dụng IAS/IFRS Tuy nhiên Chuẩn mực kế toán Úc đã có sự chỉnh sửa cho tương thích với môi trường pháp lý và những đặc điểm riêng biệt để phù hợp với nền kinh tế Úc Chính sự điều chỉnh, bổ sung này dẫn đến IAS/IFRS vận dụng tại Úc không nhất quán với IAS/IFRS Trong nghiên cứu của David Cairns (2008) về việc đo lường giá trị hợp lý, lựa chọn chính sách kế toán của hai quốc gia Anh và Úc đã sử dụng mô hình hai trăm hai mươi tám (228) công

ty tương ứng mỗi quốc gia là một trăm mười bốn (114) công ty để đo lường trên Báo cáo tài chính những năm 2004 – 2006 với hai mươi khoản mục Nhìn chung kết quả cho thấy việc thực thi IAS/IFRS của Úc không có sự khác biệt giữa trước và sau áp dụng IAS/IFRS Ngoài ra còn có một nghiên cứu thực nghiệm của Tyrone Carlin, Nigel Finch (2008) nhằm xác định lợi thế thương mại được thực hiện bởi các công ty Úc áp dụng IAS/IFRS trong giai đoạn

2006 – 2007 Mô hình nghiên cứu đã sử dụng báo cáo tài chính của năm mươi (50) công ty niêm yết lớn nhất của Úc Qua thực nghiệm cho thấy mức độ các công ty này hầu như không đạt yêu cầu Như vậy, Chuẩn mực kế toán của Úc hướng đến IAS/IFRS nhưng trên thực tế các công ty không sẵn lòng thực hiện theo những yêu cầu IAS/IFRS

1.4.2 Bài học kinh nghiệm hoàn thiện hệ thống kế toán ngân hàng thương mại theo chuẩn mực kế toán quốc tế

Quá trình hoàn thiện hệ thống kế toán theo chuẩn mực kế toán quốc tế tại các quốc gia diễn ra khá mạnh mẽ Qua những nghiên cứu trước đây, nhận thấy, quá trình hoàn thiện này diễn ra theo một trong các mô hình sau:

Trang 33

- Mô hình 1: Áp dụng toàn bộ hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế, gần như không sửa đổi Đại diện cho mô hình này là Nigieria, Malaysia, Singapore,

- Mô hình 2: Các quốc gia vừa mới chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường như Trung Quốc, các nước Đông Âu hay các quốc gia như Lào, Phillipine, đã sử dụng hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế làm cơ sở chủ yếu để xây dựng hệ thống chuẩn mực cho riêng mình Các quốc gia này không vận dụng toàn bộ mà chỉ vận dụng một phần có sửa đổi để xây dựng và hoàn thiện hệ thống chuẩn mực của riêng mình

- Mô hình 3: Áp dụng tại các quốc gia mà hệ thống chuẩn mực của họ ra đời trước khi có sự ra đời của IAS/IFRS, nên họ chỉ cần sửa đổi để hòa hợp với các chuẩn mực quốc tế Đây là mô hình của các quốc gia phát triển, có nền kinh tế lâu đời

Bài học kinh nghiệm rút ra từ các nghiên cứu này chỉ ra rằng:

- Hòa hợp với chuẩn mực kế toán quốc tế là một xu thế tất yếu, khách quan;

- Áp dụng toàn bộ hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế cho hệ thống kế toán một quốc gia không phải là vấn đề dễ dàng;

- Quá trình hoàn thiện hệ thống chuẩn mực kế toán không đơn giản chỉ là ban hành các chuẩn mực phù hợp với chuẩn mực quốc tế, vấn đề là chúng có thực

sự đi vào cuộc sống, đáp ứng yêu cầu thông tin và kiểm soát

1.5 Sự cần thiết phải hoàn thiện hệ thống kế toán ngân hàng Việt Nam theo chuẩn mực kế toán quốc tế

Một là, nhằm đảm bảo hệ thống kế toán ngân hàng phù hợp với chuẩn mực kế toán quốc tế, tạo niềm tin cho các nhà đầu tư nước ngoài, góp phần thúc đẩy đầu tư nước ngoài vào hệ thống ngân hàng Việt Nam;

Hai là, nhằm tăng cường tính minh bạch của thông tin tài chính, tạo điều kiện tối đa cho việc giám sát tình hình tài chính và kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng Thực hiện chủ trương tái cơ cấu ngành ngân hàng và phát triển thị trường tài chính Xu thế này đã tạo ra nhu cầu ngày càng gia tăng

về việc công khai, minh bạch các thông tin tài chính của bản thân các ngân

Trang 34

hàng Đối tượng sử dụng báo cáo tài chính cho các quyết định kinh tế nhiều hơn, đa dạng hơn, đòi hỏi các thông tin tài chính phải được thuyết minh rõ ràng hơn, với những ngôn ngữ dễ hiểu hơn, gần gủi với số đông nhà đầu tư Thực tiễn này đòi hỏi hệ thống kế toán của ngân hàng phải được sửa đổi, bổ sung theo hướng tăng cường tính công khai, minh bạch;

Ba là, hệ thống kế toán ngân hàng là nơi hội tụ thông tin kinh tế tài chính của khách hàng, nên việc hoàn thiện hệ thống kế toán hợp lý sẽ đáp ứng được nhu cầu của khách hàng, đồng thời là điều kiện để chính ngân hàng chiếm ưu thế trong cạnh tranh Việc hoàn thiện hệ thống kế toán cũng sẽ góp phần khắc phục yếu kém về tính công khai thông tin kế toán;

Bốn là, tạo tiền đề cho việc hoàn thiện hệ thống khuôn khổ pháp lý về

kế toán ngân hàng, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội và hội nhập kinh

tế quốc tế trong thời gian tới Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, thị trường tài chính và xu thế hội nhập toàn cầu, rất nhiều nghiệp vụ kế toán mới được hình thành và phát triển như nghiệp vụ thanh toán quốc tế, các giao dịch quyền chọn mua, quyền chọn bán, hoán đổi lãi suất, hoán đổi tỷ giá hoặc các công cụ tài chính phái sinh để hạn chế rủi ro kinh doanh do những thay đổi về giá, tỷ giá, lãi suất Với nhu cầu minh bạch thông tin tài chính về các giao dịch trên, cần thiết phải ban hành mới các quy định mới về kế toán ngân hàng, hướng dẫn việc ghi nhận, xác định giá trị và trình bày thông tin;

Bên cạnh đó việc hoàn thiện hệ thống kế toán ngân hàng Việt Nam theo chuẩn mực kế toán quốc tế còn mang lại những lợi ích sau:

Lợi ích đầu tiên là tạo ra sự tự do có thể so sánh được các báo cáo tài chính Hiện nay có nhiều cách thức khác nhau để sắp xếp và chuẩn bị báo cáo tài chính Một trong những trở ngại mà nhà đầu tư phải vượt qua đó là đưa ra các quyết định đầu tư khi mà thông tin tài chính được báo cáo dưới nhiều hình thức khác nhau;

Trang 35

Lợi ích thứ hai là làm giảm chi phí đầu tư ở các thị trường khác nhau Lợi ích này có thể nhận ra từ việc cắt giảm bớt chi phí liên quan trong việc thiết kế lại các báo cáo tài chính khi có yêu cầu công bố thông tin, hay khi có nhu cầu mở rộng đầu tư và các thi trường kinh doanh khác;

Lợi ích thứ ba là tạo ra các hoạt động kinh tế mang tính toàn cầu Việc hoàn thiện các chuẩn mực kế toán theo chuẩn mực kế toán quốc tế làm tăng niềm tin với các nhà đầu tư trên thị trường kinh tế nội địa và thị trường kinh tế thế giới

Trang 36

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Các chuẩn mực kế toán quốc tế ra đời dựa trên nhu cầu thực tế, và là kết quả của một quá trình nghiên cứu khoa học nghiêm túc của một Ủy ban nghề nghiệp Do đó, hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế được áp dụng ở nhiều nước trên thế giới

Trong mối quan hệ tương hỗ với quản trị ngân hàng, kế toán ngân hàng có vai trò vô cùng quan trọng nhằm cung cấp các thông tin kinh tế chính xác đến nhà quản trị, từ đó xây dựng chiến lược phát triển phù hợp cho ngân hàng Do đó, việc hoàn thiện hệ thống kế toán ngân hàng càng trở nên cần thiết

Song với kinh nghiệm của các nước trên thế giới cho thấy việc hoàn thiện hệ thống chuẩn mực kế toán quốc gia nói chung, hệ thống kế toán ngân hàng nói riêng theo chuẩn mực kế toán quốc tế là điều không dễ dàng Quá trình hoàn thiện hệ thống chuẩn mực kế toán không đơn giản chỉ là ban hành các chuẩn mực phù hợp với chuẩn mực quốc tế, vấn đề là chúng có thực sự đi vào cuộc sống, đáp ứng yêu cầu thông tin và kiểm soát

Trang 37

CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG KHÁC BIỆT GIỮA HỆ THỐNG KẾ TOÁN NGÂN HÀNG VIỆT NAM VÀ HỆ THỐNG CHUẨN

MỰC KẾ TOÁN QUỐC TẾ 2.1 Tổng quan về hệ thống ngân hàng Việt Nam

Sự phát triển của ngành ngân hàng Việt Nam có thể được đánh dấu từ

sự ra đời của Ngân hàng nhà nước Việt Nam vào ngày 06/05/1951 Tuy nhiên ngành ngân hàng Việt Nam mới thực sự bắt đầu phát triển từ năm 1990, khi hai sắc lệnh quan trọng được ban hành: Sắc lệnh về Ngân hàng nhà nước Việt Nam và Sắc lệnh về ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và các công ty tài chính Quy định này thực sự đưa Việt Nam từ một nước có hệ thống ngân hàng độc nhất sang hệ thống ngân hàng hai cấp Những bước phát triển quan trọng của

hệ thống ngân hàng Việt Nam:

Từ năm 1991, Ngân hàng TMCP được phép đi vào hoạt động và các ngân hàng nước ngoài được phép tham gia vào thị trường Việt Nam thông qua việc mở chi nhánh hoặc liên doanh với các ngân hàng trong nước

1993, Việt Nam bình thường hóa quan hệ tín dụng với các tổ chức tín dụng quốc tế như: Quỹ tiền tệ quốc tế, Ngân hàng thế giới, Ngân hàng phát triển Châu Á

1997, Luật về Ngân hàng nhà nước Việt Nam và Luật về các tổ chức tín dụng được Quốc Hội thông qua ngày 02/12/1997 và có hiệu lực từ ngày 01/10/1998

2001, Hiệp định thương mại song phương với Mỹ được ký kết Theo hiệp định này, thị trường tài chính và thị trường ngân hàng Việt Nam sẽ dần

mở cửa đối với Mỹ, và đến năm 2010 các tổ chức tài chính của Mỹ được đối

xử ngang bằng các tổ chức tài chính Việt Nam Đây là nền tảng tốt cho sự phát triển thị trường tài chính Việt Nam, nhưng cũng là một thách thức lớn cho các

tổ chức tài chính trong nước, đặc biệt là các ngân hàng thương mại

2003, Luật về Ngân hàng nhà nước được sửa đổi Ngân hàng chính sách xã hội được thành lập, thay thế cho Ngân hàng dành cho người nghèo

Trang 38

nhằm tách bạch tín dụng chính sách khỏi tín dụng thương mại theo cơ chế thị trường

2010, Quốc hội thông qua luật mới về Ngân hàng nhà nước Việt Nam

và Luật về các tổ chức tín dụng vào ngày 16/06/1010 Hai bộ luật này có hiệu lực từ ngày 01/01/2011 Theo đó, Ngân hàng nhà nước Việt Nam là một cơ quan ngang bộ của Chính phủ và hoạt động như một ngân hàng trung ương của Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam

Trong hơn hai thập kỷ kể từ lần cải cách đầu tiên, ngành ngân hàng đã phát triển mạnh mẽ Từ hệ thống ngân hàng độc nhất, hệ thống ngân hàng đã ngày càng phát triển về số lượng và quy mô vốn điều lệ Nhìn chung hệ thống ngân hàng Việt Nam có thể phân ra hai dạng cơ bản như sau: Ngân hàng thương mại nhà nước, Ngân hàng thương mại cổ phần

Ngân hàng thương mại nhà nước: hiện nay có năm (05) NHTM nhà

nước ở Việt Nam: NHTMCP Ngoại Thương, NHTMCP Công Thương, NHTMCP Đầu Tư và Phát Triển Việt Nam, Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn, Ngân hàng phát triển nhà Đồng Bằng Sông Cửu Long Để hoàn thành quá trình mở cửa thị trường ngân hàng trong nước cho các nhà đầu

tư nước ngoài và tăng tính cạnh tranh cho các ngân hàng trong nước, Chính phủ đã ban hành Quyết định số 112/2006/QĐ-TTg, đặt mục tiêu cổ phần hóa các NHTM nhà nước và cho tới năm 2010 sẽ giảm tỷ lệ sở hữu nhà nước xuống còn 51% Tuy nhiên quá trình cổ phần hóa tất cả các NHTM nhà nước

đã diễn ra khá chậm so với mục tiêu của chính phủ

Ngân hàng thương mại cổ phần: Việt Nam hiện có ba mươi ba (33)

Ngân hàng TMCP có tổng vốn điều lệ trên 190 nghìn tỷ đồng Về số lượng các Ngân hàng TMCP lớn hơn rất nhiều so với NHTM nhà nước, tổng vốn điều lệ cũng lớn hơn, tuy nhiên khi tính riêng vốn điều lệ của từng Ngân hàng TMCP lại thấp hơn rất nhiều so với NHTM nhà nước Cụ thể, trong nhóm NHTM nhà nước (ngoại trừ Ngân hàng Phát triển nhà Đồng Bằng Sông Cửu Long) đều có vốn điều lệ trên 23 nghìn tỷ đồng, trong khi nhóm Ngân hàng TMCP có vốn

Trang 39

điều lệ lớn nhất chỉ hơn 12 nghìn tỷ đồng, và khoảng 40% các Ngân hàng TMCP có vốn điều lệ nhỏ hơn 4 nghìn tỷ đồng Đây cũng là nhóm ngân hàng xảy ra nhiều thương vụ mua bán sáp nhập diễn ra nhất trong toàn hệ thống ngân hàng Việt Nam thời gian qua

2.2 Tổng quan về sự khác biệt

Hệ thống ngân hàng Việt Nam ngày càng tăng về số lượng và các hoạt động kinh doanh ngày càng đa dạng về chủng loại sản phẩm, hiện đại về công nghệ Trong đó, hệ thống kế toán ở hầu hết các ngân hàng đều có điểm chung là tuân thủ các quan điểm, chuẩn mực, phương thức kế toán được thừa nhận trong Luật kế toán thống nhất của Việt Nam, hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam – VAS, hệ thống các quy định về chế độ kế toán của các tổ chức tín dụng, Trên góc độ nhìn tổng thể về sự khác nhau cơ bản giữa chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) và hệ thống kế toán ngân hàng thì có nhiều sự khác nhau, song tập trung chủ yếu vào các vấn đề sau:

2.2.1 Tính thống nhất về hệ thống tài khoản

Theo IAS hay IFRS: chỉ quy định về báo cáo tài chính, không quy định

về hệ thống tài khoản kế toán vì nó là phương tiện kế toán để đáp ứng được đầu ra là các báo cáo tài chính Theo thực tế kế toán quốc tế, doanh nghiệp tự thiết kế hệ thống tài khoản kế toán từ các yêu cầu thông tin và yêu cầu các báo cáo tài chính và báo cáo quản trị (không phải chỉ có yêu cầu của báo cáo tài chính), nhà thiết kế phân tích và đưa ra một hệ thống tài khỏan phù hợp mà nó

có thể đáp ứng được các báo cáo tài chính và báo cáo quản trị Ở hầu hết các nước, không có khái niệm hệ thống tài khoản kế toán thống nhất chung cho một quốc gia vì mỗi công ty có nhu cầu thông tin, quản trị khác nhau nên các công ty tự xây dựng cho mình là hợp lý nhất Các học giả kế toán đúc kết kinh nghiệm, lý thuyết quản trị và kế toán để đưa ra các hệ thống tài khoản có tính hướng dẫn cho các công ty và giảng dạy ở các trường kế toán

Theo chế độ kế toán của Việt Nam, Bộ Tài chính ban hành một hệ thống tài khoản kế toán thống nhất dùng chung cho các doanh nghiệp; các

Trang 40

định chế tài chính như ngân hàng thì tuân theo hệ thống tài khoản thống nhất

do NHNN ban hành Tuy nhiên cần phải hiểu rằng hệ thống tài khoản này chỉ đáp ứng được việc lập các báo cáo tài chính thông thường nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu quản trị Những ngân hàng, đặc biệt là những ngân hàng đã niêm yết cổ phần trên sàn giao dịch chứng khoán cần nhiều thông tin quản trị hơn nữa, hệ thống tài khoản kế toán thống nhất của NHNN không đáp ứng được yêu cầu này Các ngân hàng phải xây dựng lại hệ thống tài khoản kế toán, nhưng một điều khó là họ vẫn phải dùng hệ thống tài khoản kế toán thống nhất làm bộ khung Điều đó làm cho hệ thống tài khoản kế toán của ngân hàng trở nên phức tạp, rắc rối hơn rất nhiều và gây khó khăn Hiện tại, các ngân hàng muốn có một hệ thống tài khoản hiệu quả cần phải thiết kế riêng cho mình một

hệ thống tài khoản dựa trên hệ thống tài khoản thống nhất và các nhu cầu thông tin quản trị nội bộ của ngân hàng Hệ thống tài khoản kế toán phải đáp ứng được yêu cầu của không những các báo cáo tài chính cho các nhà đầu tư theo chế độ kế toán Việt Nam mà điều quan trọng là các báo cáo quản trị nội

bộ của ngân hàng

2.2.2 Kỹ thuật ghi chép tài khoản

Theo chuẩn mực kế toán quốc tế cho phép nhiều Nợ đối ứng với nhiều

Có trong cùng một định khoản, tuy nhiên không nên lạm dụng việc ghi nhiều

Nợ đối ứng với nhiều Có để mất đi tính rõ ràng của kế toán Các phần mềm kế toán nổi tiếng và thông lệ quốc tế đều viết theo nguyên tắc cho phép nhiều Nợ đối ứng với nhiều Có Việc cho phép ghi nhiều Nợ đối ứng với nhiều Có làm cho việc ghi sổ kế toán trở nên đơn giản và trong một số tình huống nó phản

ánh đúng bản chất của giao dịch hơn là phải tách ra thành nhiều định khoản kế

toán khác nhau chỉ để giải quyết quan niệm không ghi nhiều Nợ đối ứng với nhiều Có

Theo hệ thống kế toán Ngân hàng Việt Nam đưa ra các nguyên tắc ghi chép tài khoản là không được ghi nhiều Nợ đối ứng với nhiều Có trong một định khoản kế toán, mà chỉ ghi một Nợ đối ứng với nhiều Có hoặc ngược lại

Ngày đăng: 01/09/2020, 14:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w