Phương pháp nghiên cứu Thực hiện đề tài này, ngoài những phương pháp, thủ pháp nghiên cứu khoa học chung như thu thập, phân loại, khảo sát ngữ liệu,…luận văn sử dụng những phương pháp n
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS TS Dư Ngọc Ngân
Thành phố Hồ Chí Minh – 2010
Trang 2L ỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả được đưa ra trong luận văn là trung thực và chưa được công bố ở bất kì công trình nghiên cứu nào khác
Tác giả luận văn
Phạm Thanh Vân
Trang 3L ỜI CẢM ƠN
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS TS Dư Ngọc Ngân, người đã tận tình dìu
dắt tôi từ những bước đầu tiên trong công tác nghiên cứu khoa học cũng như đã chu đáo chỉ bảo, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô đã giảng dạy chúng tôi những ba năm học vừa qua, phòng Khoa học công nghệ và sau Đại học, Thư viện Đại học Sư Phạm Tp, Hồ Chí Minh, Thư viện Khoa học Tổng hợp Tp Hồ Chí Minh, Khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi giúp tôi hoàn thành luận văn này
Trang 6QUY ƯỚC VIẾT TẮT
Sp1: người nói 1 (speaker 1)
Sp2: người nói 2 (speaker 2)
IFIDs: Phương tiện chỉ dẫn hiệu lực ở lời
[2, tr18]: 2 số thứ tự tài liệu tham khảo, tr.8 số trang trong tài liệu
[5, 345]: 5 là số thứ tự tác phẩm làm tư liệu, 345 số trang trong tác phẩm
Trang 7D ẪN NHẬP
1 Lí do ch ọn đề tài và mục đích nghiên cứu
Khái niệm cảm thán trong tiếng Việt đã được biết đến từ rất sớm qua kết quả “phân loại
câu theo mục đích phát ngôn”, theo đó trong tiếng Việt có bốn loại câu: trần thuật, cầu khiến, nghi vấn, cảm thán
Tuy nhiên, từ những năm 70 của thế kỷ XX trở lại đây, khi lí thuyết về hành động ngôn
từ của J.L.Austin, H.P.Grice, J.R Searle phát triển mạnh mẽ, thì giới Việt ngữ học nhận thấy
rằng xung quanh “câu phân loại theo mục đích phát ngôn” còn rất nhiều điều mới mẻ và hữu ích khi soi chiếu bằng lí thuyết trên Chính vì vậy mà thời gian qua đã có khá nhiều công trình nghiên cứu tiếng Việt chuyên sâu về nội dung này Các tác giả nhận thấy có sự phân biệt giữa câu nghi vấn và hành động hỏi, giữa câu trần thuật và hành động xác nhận, câu cầu khiến và hành động cầu khiến, giữa câu cảm thán và hành động bày tỏ cảm xúc và nhiều điều thú vị khác Mặc dù vậy đến nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu chuyên sâu nào về hành động cảm thán trong tiếng Việt, vốn là một trong những hành động ngôn từ có tần số xuất hiện cao trong giao tiếp bằng ngôn ngữ
Vì vậy, chúng tôi thực hiện luận văn này cũng với mục đích vận dụng lí thuyết về hành động ngôn từ để khảo sát hành động cảm thán trong tiếng Việt với mong muốn có được sự hệ
thống với góc nhìn mới về hành động ngôn từ này, đồng thời cũng hi vọng kết quả tìm hiểu này sẽ có ích cho việc nghiên cứu chung về hành động ngôn từ trong tiếng Việt
- Về mặt lí luận: luận văn hi vọng góp phần làm rõ thêm về khái niệm hành động cảm thán, phân loại hành động cảm thán trong tiếng Việt
- Về mặt thực tiễn: việc miêu tả các phương thức thể hiện hành động cảm thán trong tiếng Việt
có thể đóng góp thiết thực cho việc nói, viết và dạy-học tiếng Việt hiện nay
2 L ịch sử vấn đề
Vì là một nội dung có tính thực tế cao trong giao tiếp bằng ngôn ngữ nên từ trước đến nay cảm thán đã được nhiều công trình Việt ngữ học quan tâm Xét về cơ sở lí thuyết mà các tác giả lựa chọn khi quan tâm đến vấn đề cảm thán, chúng tôi nhận thấy có hai khuynh hướng sau: theo quan điểm của ngữ pháp truyền thống và theo quan điểm ngữ nghĩa- ngữ dụng học
2.1 Theo quan điểm của ngữ pháp truyền thống
Trang 8Phần lớn các tác giả theo quan niệm truyền thống đều nghiên cứu cảm thán với tư cách là
một kiểu câu theo mục đích nói bên cạnh các kiểu còn lại là trần thuật (tường thuật, kể), nghi
vấn (hỏi), cầu khiến (mệnh lệnh)
Nguyễn Kim Thản (1963) phân chia câu tiếng Việt theo mục đích nói thành bốn loại: tường thuật, nghi vấn, cầu khiến, cảm thán Tác giả cũng miêu tả khá cụ thể những mục đích
sử dụng và một số phương thức biểu thị của câu cảm thán [40, tr.264]
Lê Văn Lý (1968) chia những câu trong Việt ngữ ra làm 8 loại: câu tự loại, câu đơn
giản, câu phức tạp, câu khẳng định, câu phủ định, câu nghi vấn, câu khuyến lệnh (ngôn ngữ
thế lực), câu cảm thán (ngôn ngữ tình cảm) Theo tác giả, câu cảm thán là một câu diễn tả tình
c ảm xen lẫn vào một ý tưởng, như: vui, buồn, ngạc nhiên, đau đớn, lo sợ, tức giận, phẫn
u ất,…[29, tr.188]
Cùng quan điểm với tác giả Nguyễn Kim Thản, Nguyễn Minh Thuyết (1997) cũng cho
rằng ứng với mỗi mục đích giao tiếp, thường có một kiểu câu riêng với đặc điểm riêng về cấu trúc và ứng với mục đích bộc lộ tình cảm, cảm xúc của người nói có kiểu câu cảm thán (câu
c ảm) [15, tr.273-274]
Còn Ng ữ pháp tiếng Việt của Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam (1983) xếp câu cảm
thán (thuật ngữ sách dùng là câu biểu cảm) vào kết quả phân loại dựa vào thuyết tính, bao
gồm: khẳng định và phủ định, tường thuật, nghi vấn, cầu khiến và biểu cảm Tác giả của cuốn
sách cũng nhận định rằng: Trong câu tường thuật, câu nghi vấn, câu cầu khiến đều có sự biểu
th ị cảm xúc Nhưng câu biểu cảm vẫn có thể có hình thức riêng [55, tr.205]
Tác giả Hồ Lê (1992) quan niệm rằng mỗi câu phát ra đều phải theo một trong bốn định hướng: trần thuật, nghi vấn, cầu khiến, cảm thán, người thụ ngôn phải cảm nhận được định
hướng của từng câu để có phản xạ thích hợp Đối với câu cảm thán, anh ta không phải hiểu
được nội dung ấy mà còn phải nhận ra điểm cảm thán trong câu (thường được diễn đạt hiển ngôn nhưng cũng có khi ẩn mặc) và chuẩn bị hành động phản ứng [26, tr.417]
Tác giả Nguyễn Thị Ly Kha (2008) căn cứ vào mục đích giao tiếp, phân chia câu thành
những loại quen thuộc đã có trong ngữ pháp truyền thống: câu trần thuật, câu cầu khiến, câu nghi vấn, câu cảm thán Tuy nhiên, tác giả cũng đi theo khuynh hướng của lí thuyết hành động ngôn từ khi cho rằng các câu trần thuật, nghi vấn, hoặc cầu khiến đều có thể thực hiện cả
nhi ệm vụ bộc lộ tình cảm và thái độ [25, tr.202-218]
Thực tế trong khuynh hướng của ngữ pháp truyền thống khi phân loại các kiểu câu
tiếng Việt theo mục đích nói, bên cạnh đa phần là các quan niệm cho rằng có bốn kiểu câu như
đã nói- trong đó luôn có cảm thán, thì cũng có một số cách phân loại khác Ở đây chúng tôi xin
mở rộng để có được cái nhìn đầy đủ, toàn diện hơn về lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trang 9Bùi Đức Tịnh (1954) không đề cập đến câu cảm thán mà chỉ có sự phân loại như sau: câu xác định, câu phủ định, câu nghi vấn, câu khuyến lệnh và câu tỏ sự mong ước hay hối tiếc [46, tr.376-383]
Các tác giả Lê Cận- Phan Thiều- Diệp Quang Ban- Hoàng Văn Thung (1983) trong
Ng ữ pháp tiếng Việt, tập 2 có ý kiến như sau: xét về mục đích nói năng, tất cả các câu nói đều
có thể quy về ba loại: câu kể, câu hỏi và câu cầu khiến Tuy nhiên, trong phần Thành phần phụ
c ủa câu, sách có đoạn viết trong những ngữ cảnh nhất định, phụ ngữ cảm thán có thể trở thành m ột câu (…) và phụ ngữ cảm thán là thành phần phụ biểu thị tình cảm của người nói đối với người nghe, làm cho người nghe thông cảm với mình (…) [7, tr.239] Như vậy rõ ràng
nếu chiếu câu được hình thành từ phụ ngữ cảm thán theo kết quả phân loại trên thì có vẻ như
đó là sự phân loại chưa thực sự bao quát, vì không rõ các tác giả sẽ xếp những câu dạng này vào loại nào: kể, hỏi hay cầu khiến
Hoàng Trọng Phiến (1980) dựa vào quan niệm về nhiệm vụ thông tin- ngữ pháp của câu, tác giả chia thành câu kể, câu cầu khiến, câu hỏi và câu than gọi Tác giả không cho câu
cảm xúc là một loại câu Bởi lẽ, cảm xúc với cái ý nghĩa sắc thái tình cảm của chủ thể phát
ngôn thì câu nào l ại không có Và, do đó không tạo thành sự đối lập: câu cảm xúc và câu không c ảm xúc [36, tr.269]
Nhìn chung, bốn kiểu câu trần thuật (kể), cầu khiến, nghi vấn (hỏi), cảm thán đã trở thành phổ thông trong tiếng Việt khi đề cập đến sự phân loại câu Nhưng thực tế, trong số
những người theo quan điểm truyền thống, có một số tác giả trong khi gọi các kiểu câu phân
loại theo mục đích phát ngôn, cũng nói rõ đó không phải là một sự phân loại chỉ đơn thuần dựa vào mục đích giao tiếp, mà là sự phân loại kết hợp cả hai mặt mục đích giao tiếp/công dụng và đặc điểm cấu trúc/ngữ pháp (Nguyễn Minh Thuyết [15, tr.274-275], Diệp Quang Ban [1, tr.224]) Như Bùi Mạnh Hùng (2003) nhận xét: Tuy nhiên quan niệm phân loại câu kết hợp cả
hai m ặt này chỉ thể hiện dưới dạng những nhận định có tính chất khái quát, không áp dụng được trên thực tế, vì không thể vận dụng nhất quán để phân loại một cách có hệ thống các
ki ểu câu khi gặp những câu mà giữa hình thức và công dụng của nó không có sự thống nhất
[24, tr.48] Nguy ễn Văn Hiệp (2008) cũng đồng tình khi nhận định rằng cái thường gọi là
phân lo ại câu theo mục đích nói của ngữ pháp truyền thống, (…) thực chất là sự nhập nhằng
gi ữa hai tiêu chí phân loại câu theo hình thức ngữ pháp và phân loại phát ngôn theo mục đích phát ngôn hay l ực ngôn trung [23, tr.220-221]
Trong những cách phân loại câu tiếng Việt theo mục đích nói, có một trường hợp “hiếm
hoi” (từ dùng của tác giả Bùi Mạnh Hùng [24, tr.48]), đó là sự phân loại dựa vào ngữ điệu của
Trang 10Trương Văn Chình, Nguyễn Hiến Lê [11, tr.639-640] (ngữ điệu là cái giọng ta nói ra một câu)
Kết quả phân loại như sau:
- Câu nói theo giọng thường
- Câu nói theo giọng hỏi
- Câu nói theo giọng biểu cảm (để tỏ tình cảm hay sai bảo ai)
Xét về thời gian, quan điểm này không mới Có thể thấy được hạn chế ở quá trình phân tích của sự phân loại này là “phân tích về vấn đề hữu quan của hai tác giả còn sơ sài và có chỗ
thi ếu chính xác” (nhận xét của Bùi Mạnh Hùng [24, tr.49]) song, rõ ràng trong khi những cách
phân loại cùng thời còn nhập nhằng về tiêu chí thì cách phân loại của hai ông là dựa vào dấu
hiệu hình thức một cách thuần nhất
2.2 Quan điểm ngữ nghĩa- ngữ dụng học
Tiêu biểu cho khuynh hướng này trong nghiên cứu cảm thán tiếng Việt có thể kể đến các tác giả sau: Diệp Quang Ban, Cao Xuân Hạo, Nguyễn Thị Lương, Nguyễn Thiện Giáp, Nguyễn Đức Dân, Đỗ Hữu Châu, Đỗ Hùng Việt,…
Diệp Quang Ban (2004, 2008) theo định hướng ngữ pháp chức năng hệ thống của M.A.K Halliday, tác giả cho rằng câu phân loại theo mục đích nói là hiện tượng nằm trên
đường biên giới của câu xét theo cấu tạo hình thức và câu xét ở phương diện sử dụng Với tiêu
chí l ấy hình thức làm cơ sở phân loại và lấy mục đích nói làm tên gọi, câu xét theo mục đích nói được chia thành bốn kiểu sau đây: câu trình bày, câu nghi vấn, câu cầu khiến, câu cảm thán [5, tr.108-109] Và ở đây tác giả cũng quan tâm đến cảm thán một cách khái lược, song cũng chỉ với tư cách là một kiểu câu chứ chưa phải là một hành động ngôn từ
Tác giả Cao Xuân Hạo (1991) khẳng định đối với tiếng Việt căn cứ vào một số thuộc
tính về cấu trúc cú pháp có thể phân loại các câu ra làm hai loại lớn: câu trần thuật và câu nghi
vấn Tác giả cho rằng “câu cảm thán” chỉ là câu trần thuật có màu sắc cảm xúc được đánh
d ấu mà thôi [21, tr.384] Còn về những hành động ngôn từ, Tiếng Việt sơ thảo ngữ pháp chức năng liệt kê một bảng khá dài những hành động ngôn trung trong đó có kể đến than phiền và
m ừng vốn là những hành động cảm thán cụ thể và có đề cập đến câu nghi vấn có giá trị cảm
thán [21, tr.388- 389, 412] Như vậy trong quan điểm của Cao Xuân Hạo, mặc dù trình bày không thật chi tiết, nhưng chúng ta thấy có sự tách bạch giữa hai khái niệm: câu cảm thán và hành động cảm thán
Nguyễn Thị Lương (2005) quan tâm đến cả hai vấn đề: hành động cảm thán và câu cảm thán Tác giả có viết: Trong hoạt động giao tiếp, con người sử dụng rất nhiều hoạt động nói
tr ực tiếp như: trần thuật, hỏi, cầu khiến, cảm thán, hứa, dọa, thề, khen, chê, thách, đố,… Mỗi
Trang 11hành động như vậy đều được thực hiện bằng những kiểu câu có hình thức, chức năng phù hợp
v ới đích ở lời của chúng Trong số các hành động nói, thực tế cho thấy, các hành động trần thu ật, hỏi, cầu khiến, cảm thán, khẳng định, phủ định được sử dụng nhiều hơn cả trong hoạt động giao tiếp Phương tiện ngôn ngữ để thực hiện các hành động đó là các kiểu câu tương ứng: câu trần thuật, câu hỏi, câu cầu khiến, câu cảm thán và câu phủ định [30, tr.190-191]
Tuy nhiên phần chi tiết về cảm thán mà tác giả đề cập là câu cảm thán
Nguyễn Thiện Giáp (2008) thì gián tiếp đề cập đến hành động cảm thán thông qua nhận
định Ngữ pháp truyền thống khi nghiên cứu các câu phân loại theo mục đích nói thì thực tế đã
nghiên c ứu các biểu thức ngôn hành của những hành động ngôn từ tương ứng [17, tr.388]
Riêng về cảm thán, tác giả chỉ nói đến một số cách thức để tạo câu cảm thán (thán từ, tình thái
chịu)… Đỗ Hữu Châu, Đỗ Hùng Việt trong Giáo trình Ngữ dụng học có đoạn: Ngữ pháp
TND (ti ền ngữ dụng- chúng tôi chú thích) chia theo mục đích nói căn cứ vào đặc điểm hình
th ức bốn kiểu câu: trần thuật, hỏi, cầu khiến, cảm thán (có tác giả thêm: phủ định) Thực ra,
b ốn kiểu câu này chỉ là bốn biểu thức ngữ vi của bốn hành động ở lời thường gặp Vì số lượng hành động ở lời lớn hơn nhiều nên số lượng các biểu thức ngữ vi cũng lớn hơn bốn (hoặc năm) kiểu câu của ngữ pháp TND rất nhiều [10, tr 73]
Như vậy, theo quan điểm ngữ dụng học, cảm thán là một hành động ngôn từ Các tác
giả theo quan điểm này trong Việt ngữ học đã dựa trên lí thuyết hành động ngôn từ của J.Austin và J.Searle đã xây dựng những tiền đề lí luận cơ bản cho việc nghiên cứu các hành động ngôn từ trong tiếng Việt
Ngoài ra còn có một số bài viết trên các tạp chí chuyên ngành có đề cập đến câu cảm
thán, hành động cảm thán, như: Nhận xét về đặc điểm ngữ nghĩa của một kiểu câu tiếng Việt
của Lê Quang Thiêm (1985) [44], Một số hình thức hỏi biểu thức cảm thán trong tiếng Việt
của Nguyễn Thị Hồng Ngọc (2003) [34], An ủi- lời hồi đáp tích cực cho hành vi cảm thán và
Hành vi c ảm thán gián tiếp của Hà Thị Hải Yến (2001) (2004) [51][52], Cách sử dụng từ ngữ
c ảm thán trong truyện Kiều của Phạm Thị Kim Thoa (2009) [45]
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là Hành động cảm thán, nghĩa là như từ đầu đã xác
định, khuynh hướng chúng tôi lựa chọn và lấy làm cơ sở lí luận là lí thuyết hành động ngôn từ
Trang 12của ngữ dụng học Chúng tôi cho rằng cảm thán là một nhu cầu có thực trong giao tiếp, và để
thực hiện nhu cầu đó con người có thể sử dụng nhiều phương tiện khác nhau, trong đó chủ yếu
là ngôn từ Nói khác đi cảm thán là một hành động ngôn từ, một hành động ngôn từ độc lập và
có tư cách ngang bằng với các hành động ngôn từ khác
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Hành động cảm thán trong tiếng Việt thể hiện nhiều giá trị ở lời cụ thể khác nhau, như: than phiền, rên rỉ, mừng, vui, sướng, trầm trồ… Giữa các hành động ấy, điểm khác nhau cơ
bản chính là tình cảm, cảm xúc của người nói được thể hiện Để tạo được sự đa dạng ấy, tiếng
Việt có thể sử dụng nhiều phương thức biểu đạt khác nhau Trong giới hạn luận văn, chúng tôi dành phần lớn sự quan tâm cho các phương thức ấy Chúng tôi tiếp nhận và vận dụng những
kết quả nghiên cứu của ngôn ngữ học về vấn đề cảm thán để từ đó đặc trưng hóa các phương
thức thể hiện hành động cảm thán trong tiếng Việt Cụ thể là:
- Phương thức thể hiện trực tiếp hành động cảm thán trong tiếng Việt
- Phương thức thể hiện gián tiếp hành động cảm thán trong tiếng Việt
4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu
4.1 Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, ngoài những phương pháp, thủ pháp nghiên cứu khoa học chung
như thu thập, phân loại, khảo sát ngữ liệu,…luận văn sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp phân tích ngữ nghĩa- ngữ dụng kết hợp với phân tích ngữ nghĩa- cú pháp của các biểu thức biểu đạt các loại hành động cảm thán chủ yếu trong tiếng Việt
- Phương pháp miêu tả: được dùng để khảo sát, miêu tả các loại hành động cảm thán chủ yếu
và những phương thức thể hiện chúng trong tiếng Việt
- Phương pháp thống kê: để định lượng các phương tiện thể hiện các hành động cảm thán chủ
yếu trong tiếng Việt
4.2 Ngu ồn ngữ liệu
Các ngữ liệu được khảo sát và trình bày trong luận văn được chúng tôi thu thập từ lời ăn
tiếng nói hàng ngày và trong một số tác phẩm văn chương Việt Nam
5 C ấu trúc luận văn
Ngoài phần Dẫn nhập, Kết luận, Phần Nội dung chính của luận văn gồm hai chương như sau:
Trang 13Chương 1: Tổng quan về hành động ngôn từ và hành động cảm thán
Trong chương này, chúng tôi trình bày những nội dung cơ bản về hành động ngôn từ có liên quan trực tiếp đến đối tượng nghiên cứu của luận văn như: khái niệm, phân loại hành động ngôn từ, hành động ở lời,… ; bên cạnh đó là những vấn đề cốt yếu nhất về hành động cảm thán: khái niệm, đặc điểm, phân loại
Chương 2: Phương thức thể hiện hành động cảm thán trong tiếng Việt
Ở chương hai, luận văn tập trung khảo sát, miêu tả các phương tiện thể hiện hành động
cảm thán trong tiếng Việt Đó là các phương thức thể hiện trực tiếp như từ và tổ hợp từ có ý nghĩa cảm thán chuyên biệt, từ và tổ hợp từ cảm thán không chuyên biệt, các kết cấu biểu đạt ý nghĩa cảm thán, ngữ điệu biểu thị ý nghĩa cảm thán; các phương thức gián tiếp thể hiện hành động cảm thán như sử dụng hình thức hỏi, hình thức thông báo
Trang 14Thuật ngữ hành động ngôn từ (speech act) do nhà triết học Anh là J.Austin khởi xướng
và được một nhà triết học khác là J.Searle phát triển Các tác giả này nhận ra rằng ngôn ngữ không chỉ được dùng để thông báo hoặc miêu tả cái gì đó mà còn được dùng để thực hiện các hành động Chẳng hạn khi ai đó nói “Tôi cảm ơn…”, “Tôi xin lỗi…” thì những phát ngôn đó
đã thực hiện hành động “cảm ơn” và “xin lỗi” Tương tự ta có thể có các hành động: đề nghị,
bác b ỏ, tuyên bố, mời mọc, ra lệnh… Các hành động thực hiện bằng lời nói được gọi là hành động ngôn từ Chúng ta chỉ có thể nhận diện ra hành động ngôn từ do một phát ngôn nào đó
thực hiện khi chúng ta biết được ngữ cảnh mà phát ngôn đó diễn ra Hành động ngôn từ chính
là ý định về mặt chức năng của một phát ngôn
1.2 Nh ững hành động ngôn từ
Trong giao tiếp, mỗi phát ngôn được tạo ra thường có 3 loại hành động
- Hành động tạo lời (locutionary act )
Hành động tạo lời là hành động cơ sở của phát ngôn Đó là hành động được thực hiện bởi
sự vận động của các cơ quan phát âm (hoặc cử động tay để tạo ra các nét chữ) vận dụng các từ
và kết hợp các từ theo quan hệ cú pháp thích hợp thành các câu…Nhờ vào hành động tạo lời, chúng ta hình thành nên các biểu thức có nghĩa
Nếu gặp một trở ngại nào đó ở cơ quan phát âm hoặc không tìm ra từ thích hợp, hoặc không nắm được các quan hệ cú pháp, cách thức tổ chức các biểu thức của một ngôn ngữ thì chúng ta không thực hiện được hoặc thực hiện không hoàn chỉnh hành động tạo lời
- Hành động ở lời ( illocutionary act )
Đây là hành động mà đích của nó nằm ngay trong việc tạo nên phát ngôn được nói ra (viết ra) Chính cái đích này phân biệt các hành động ở lời với nhau Hành động tại lời hỏi có đích là bày tỏ mong muốn được giải đáp điều người nói chưa rõ nên khác hành động ở lời hứa
vì hứa có mục đích là (người nói) tự ràng buộc mình vào một hành động sẽ thực hiện trong
tương lai
Đích của hành động ở lời được gọi là đích ở lời nếu đích đó được thỏa mãn thì ta có
hiệu quả ở lời
Trang 15Dấu hiệu của hiệu quả ở lời là lời hồi đáp của người tiếp nhận hành động tại lời (người nghe, người đọc) Cũng có những hành động ở lời có hiệu quả là một hành động mượn lời vật
- Hành động mượn lời ( perlocutionary act )
Hành động mượn lời khi thực hiện một phát ngôn là hành động nhằm gây ra những biến đổi trong nhận thức, trong tâm lí, trong hành động vật lí có thể quan sát được, gây ra một tác
động nào đấy đối với ngữ cảnh Giả sử A tạo ra phát ngôn “Trời nóng quá!” thì hành động tạo
lời của câu này là hành động phát ra câu đó với những từ ngữ có nghĩa và được sắp xếp theo
một trình tự nhất định, hành động ở lời của câu này là một lời than về thời tiết “trời nóng” tại
thời điểm phát ngôn, hành động mượn lời có thể là hành động bật quạt (mở cửa) của người nghe hoặc chỉ lặng yên không thực hiện yêu cầu đó
Ba thuật ngữ locutionary act, illcutionary act, và perlocutionary act được Hoàng Phê
dịch là hành động phát ngôn, hành động dĩ ngôn và hành động dụng ngôn; Cao Xuân Hạo dịch
là hành động tạo ngôn, hành động ngôn trung và hành động xuyên ngôn; Nguyễn Đức Dân
dịch là hành vi tạo lời, hành vi ở lời và hành vi mượn lời Chúng tôi sử dụng cách dịch của tác
giả Đỗ Hữu Châu
Ba loại hành động: hành động tạo lời, hành động ở lời, hành động mượn lời được thực
hiện theo cách thích hợp khi tạo ra một phát ngôn
1.3 Hà nh động ở lời
1.3.1 Phân lo ại hành động ở lời
Có hai hướng phân loại hành động ở lời: một của J.Austin và một của J.Searle Ở đây chúng tôi xin trình bày kết quả phân loại của J.Searle J.Searle đã phân ra 5 kiểu cơ bản của
hành động tại lời như sau:
- Hành động tuyên bố (declaration)
Hành động tuyên bố là hành động người nói thực hiện nhằm làm thay đổi địa vị hoặc
điều kiện bên ngoài của một đối tượng hoặc hoàn cảnh chỉ bằng cách tạo ra phát ngôn, như: từ
b ỏ, đặt tên, sa thải, khai mạc, … Đặc trưng của hành động tuyên bố là từ ngữ làm thay đổi
thực tại, người nói gây ra tình huống
Trang 16- Hành động biểu kiến (representative)
Hành động biểu kiến là hành động thể hiện cái mà người nói tin tưởng Hành động này
thể hiện ở những câu mà người nói phải chịu trách nhiệm về giá tri chân lí mà mệnh đề được
biểu đạt Nhóm biểu kiến có thể bao gồm các hành động như: khẳng định, quả quyết, phỏng
đoán, miêu tả, thông báo, từ chối, tán thành, phản đối, giả định, gợi ý, tranh cãi, hưởng ứng,
gi ải thích,… Đặc trưng của hành động biểu kiến là: làm từ ngữ khớp với thực tại, người nói tin
vào tình huống
- Hành động biểu cảm (expressive)
Với hành động này, người nói thể hiện trạng thái tâm lí của mình đối với sự tình trong
nội dung mệnh đề, như xin lỗi, phàn nàn, chúc mừng, cảm ơn, hoan nghênh Đặc trưng của hành động biểu cảm là: làm từ ngữ khớp với thực tại, người nói cảm thấy tình huống
- Hành động cầu khiến (directive)
Đây là hành động mà người nói nhằm làm cho người nghe thực hiện điều gì đó, chẳng hạn:
h ỏi, yêu cầu, ra lệnh, nài ép, thỉnh cầu Đặc trưng của hành động cầu khiến là làm thực tại
khớp với từ ngữ, người nói muốn tình huống xảy ra
- Hành động ước kết (commissive)
Người nói cam kết một hành động tương lai nào đó, chẳng hạn: bảo đảm, hứa hẹn, cam
đoan, thề, tuyên thệ Đặc trưng của hành động ước kết là làm thực tại khớp với từ ngữ, người
nói dự định tình huống
J Searle phân loại hành động trên dựa vào các tiêu chí cơ bản sau:
- Đích ở lời:
Đích ở lời của một hành động ngôn từ là mục đích của hành động đó Chẳng hạn đích ở
lời của hành động hứa hẹn là tự gán trách nhiệm tinh thần về sự thực hiện việc gì Đó là điều
kiện thiết yếu của hành động hứa hẹn Đích ở lời không trùng với hiệu lực ở lời Hai hành
động khác nhau có thể cùng một đích ở lời nhưng hiệu lực ở lời lại khác nhau J.Searle nêu ví
dụ sau: Hai hành động ra lệnh và thỉnh cầu đều cùng một đích ở lời là người nghe sẽ nhận
thực hiện (hoặc không thực hiện) một việc gì đó nhưng hiệu lực ở lời lại khác nhau, ra lệnh là
bắt buộc còn thỉnh cầu thì chỉ kêu gọi sự thiện chí của người nghe mà thôi
- Hướng khớp ghép giữa từ ngữ với thực tại:
Hướng khớp ghép là mối quan hệ giữa từ ngữ và thực tại mà hành động đề ra Hướng
khớp ghép có thể được xây dựng theo hai chiều: từ từ ngữ tới thực tại hoặc từ thực tại tới từ
ngữ Chẳng hạn trong cầu khiến hoặc trong ước kết, hướng khớp ghép là từ từ ngữ tới thực tại, nghĩa là lời có trước, sau đó hành động mới thực hiện sao cho phù hợp với lời Trong hành
Trang 17động biểu kiến và biểu cảm, thì thực tại có trước, lời nói phải làm sao cho phù hợp với thực
tại
- Trạng thái tâm lí được thể hiện :
Mỗi kiểu hành động ở lời ứng với sự thể hiện trạng thái tâm lí nhất định Trong hành động biểu kiến, trạng thái tâm lí của người nói là phải có lòng tin vào mệnh đề được nói ra
Với cầu khiến, trạng thái tâm lí là mong muốn người nghe thực hiện hành động Trong hành động biểu cảm, trạng thái tâm lí phụ thuộc vào mục đích của hành động ngôn từ cụ thể (thể
hiện sự vui sướng, mừng rỡ hay thất vọng v.v) Trong hành động ước kết, trạng thái tâm lí của người nói là định làm cái gì đó
Mỗi hành động ở lời muốn thực hiện được phải có những cơ sở, những ràng buộc nhất định Cảm thán là một hành động ở lời thuộc loại hành động biểu cảm Cho nên tiếp sau đây, chúng tôi xin đề cập đến những điều kiện sử dụng các hành động ở lời
1.3.2 Các điều kiện sử dụng hành động ở lời
Con người ta khi thực hiện bất cứ hành động nào cũng phải hội đủ những điều kiện nhất định mới có được kết quả như mong muốn, dù đó là hành động vật lí giản đơn như rọc giấy (có giấy, có dao (đủ sắc), có nhu cầu rọc giấy…) Vì cũng là hành động, hơn nữa lại là hành động xã hội nên hành động ở lời cũng có những điều kiện thích hợp mới thực hiện được và
mới có hiệu quả Mỗi hành động ở lời: kêu, chào, xin lỗi, mời, cầu xin, hứa, bảo,…đều có điều
kiện riêng
Trong những điều kiện riêng của mỗi hoạt động ở lời khác nhau, J.Austin và J.Searle đã tìm ra những điểm chung mà J.Austin gọi chúng là những điều kiện thuận lợi (felicity conditions)
- Điều kiện nội dung mệnh đề: Đây là điều kiện liên quan đến cấu trúc quan hệ ngữ
nghĩa của nội dung mệnh đề Điều kiện này chỉ ra nội dung hoạt động ở lời, chẳng hạn đối với
hành động hứa và hành động cảnh báo thì nội dung của phát ngôn phải nói về một sự kiện tương lai, hành động hứa đòi hỏi cái sự kiện tương lai đó sẽ là hành động của người nói
- Điều kiện chuẩn bị: Điều kiện này liên quan tới những hiểu biết của người thực hiện
hoạt động về những tri thức nền của người tiếp nhận hành động, về quyền lợi, về trách nhiệm,
về năng lực tinh thần và vật chất của người tiếp nhận hành động Cũng thuộc điều kiện chuẩn
bị là lợi ích, trách nhiệm, năng lực vật chất, tinh thần cũng như quyền lực của người nói đối
với hành động ở lời mà mình đưa ra
Trang 18- Điều kiện tâm lí: Đây là điều kiện chỉ ra trạng thái tâm lí của người thực hiện hành động ở lời thích hợp với hành động ở lời mà mình đưa ra Điều kiện tâm lí còn có nghĩa là người nói thực sự chân thành mong đợi hiệu quả ở lời của hành động ở lời mà mình thực hiện
- Điều kiện căn bản: Theo điều kiện này thì người thực hiện hành động ở lời nào đó khi phát ngôn ra biểu thức ngôn hành tương ứng bị ràng buộc ngay vào kiểu trách nhiệm và hành
động ở lời tạo ra biểu thức ngôn hành đó đòi hỏi Chẳng hạn, khi hứa hẹn bằng lời, người nói
đã gắn vào mình trách nhiệm thực hiện lời hứa Khi ra lệnh, trách nhiệm và sự ràng buộc lại
gắn vào người nghe, nghĩa là người nghe phải thực hiện nó hoặc bị ràng buộc phải thực hiện
nó
1.3.3 Phương thức thực hiện các hành động ở lời
Hành động ở lời là đối tượng nghiên cứu chủ yếu của Ngữ dụng học Từ đây luận văn xin dùng thuật ngữ hành động ngôn từ để chỉ hành động ở lời
Các hành động ngôn từ có thể được thực hiện bằng hai phương thức: trực tiếp và gián
tiếp, được gọi tên tương ứng là hành động ngôn từ trực tiếp và hành động ngôn từ gián tiếp
- Hành động ngôn từ trực tiếp:
Hành động ngôn từ trực tiếp là hành động mà người nghe có thể nhận diện ra đích ở lời
dựa vào chính câu chữ biểu thị chúng (không phải suy ý, không phải dựa vào ngữ cảnh) Trong trường hợp này, hình thức từ ngữ và mục đích nói có sự thống nhất Hành động ngôn từ trực
tiếp còn được gọi là hành động câu chữ
Các dấu hiệu nhận diện hành động ngôn từ trực tiếp:
+ Dựa vào các động từ ngôn hành (động từ ngữ vi)
Động từ ngôn hành là những động từ nói năng mà khi nói ra ở ngôi thứ nhất, thời hiện
tại (bây giờ) và không có bất kì một yếu tố hình thái nào liên quan tới thái độ, cách đánh giá…
của người nói, thì người nói thực hiện luôn cái hành động ở lời do động từ đó biểu thị
Ví dụ:
(2) Tôi khuyên các em đừng nên học tủ
(khuyên là động từ ngôn hành)
Tôi đã khuyên các em đừng nên học tủ rồi mà
(khuyên không còn là động từ ngôn hành vì có từ tình thái đã cho biết hành động khuyên được nói đến ở đây chủ thể phát ngôn thực hiện trong quá khứ)
+ Dựa vào hình thức của câu
Câu hỏi thường có các đại từ nghi vấn ai, gì nào … phụ từ nghi vấn, quan hệ từ lựa
chọn hay, …đã…chưa ,…, các tiểu từ hình thái dùng để hỏi: à, ơi, nhỉ, nhé… và ngữ điệu hỏi,
Trang 19hành động cầu khiến thường được thực hiện bằng hình thức câu có chứa phụ từ mệnh lệnh
hãy, đừng, chớ, các tiểu từ đi, thôi, nào…và ngữ điều cầu khiến; hành động cảm thán cũng có
những dấu hiệu khu biệt về hình thức, chúng tôi sẽ miêu tả cụ thể ở chương sau
- Hành động ngôn từ gián tiếp
Hành động ngôn từ gián tiếp là hành động ngôn từ được thực hiện bằng cách sử dụng các phương tiện biểu đạt của hành động ngôn từ này để đạt tới hiệu lực ở lời của một hành động ngôn từ khác
Ví dụ: Trong tập quán giao tiếp của người Việt ta thường gặp những hành động chào được
thực hiện gián tiếp bằng hình thức hỏi, như “Bác đi đâu đấy?”, “Mới về à?”, “Đến sớm
v ậy?”…
Để nhận diện hành động ngôn từ gián tiếp người ta thường nhắc tới bốn cơ sở sau:
- Hoàn cảnh giao tiếp
- Các thao tác suy ý
- Các ước định xã hội (hay các lẽ thường)
- Các quy tắc điều khiển hành động ngôn ngữ
Các hành động ngôn từ trực tiếp thường được biểu thị bằng các biểu thức ngôn hành tường minh, còn trong hành động ngôn từ gián tiếp là các biểu thức ngôn hành nguyên cấp
Biểu thức ngôn hành tường minh là biểu thức ngôn hành có động từ được dùng trong chức năng ngôn hành (động từ nói năng thực hiện hành động tại lời ngay khi phát âm) Biểu thức ngôn hành nguyên cấp là biểu thức tuy có hiệu lực ở lời nhưng không có động từ ngôn hành
Sở dĩ chúng tôi đề cập đến hành động ngôn từ trực tiếp và gián tiếp là vì hành động cảm thán trong tiếng Việt cũng được thực hiện bằng cả hai phương thức này
1.4 M ối quan hệ giữa cảm thán và tình thái trong tiếng Việt
Thường thì khi đề cập đến cảm thán người ta hay liên tưởng đến khái niệm tình thái Đôi khi chúng ta còn gặp quan điểm cho rằng tình thái và cảm thán giống nhau, cùng đều thể
hiện tình cảm, cảm xúc Quả thực, cảm thán và tình thái có quan hệ khá gắn bó, tuy nhiên đây
là hai khái niệm khá tách bạch
Khái niệm tình thái trong ngôn ngữ học hiện nay được các tác giả dùng để chỉ một
phạm trù ngữ nghĩa rộng lớn, xoay quanh mối quan hệ giữa người nói, nội dung miêu tả trong phát ngôn và thực tế Hiện nay, có nhiều cách định nghĩa khác nhau về tình thái trong ngôn
ngữ học
Vinogradov xem tình thái như một phạm trù ngữ pháp độc lập, tồn tại song song với
phạm trù vị tính, biểu thị những mối quan hệ khác nhau của thông báo với thực tế Tác giả cho
Trang 20rằng: “Mỗi câu đều mang một ý nghĩa tình thái như dấu hiệu cấu trúc cơ bản, tức chỉ ra quan
h ệ đối với hiện thực” Nội dung thông báo, có thể được người nói hiểu như là hiện thực hay
phi hiện thực, là đã tồn tại trong quá khứ, trong hiện tại, hay là điều sẽ được thực hiện trong tương lai, là điều mà người nói mong muốn hay đòi hỏi với ai đó…
O.B Xirotinina thì cho rằng tình thái nằm trong vị tính của câu Đối với các ngôn ngữ
biến hình thì “Thời tính, tình thái vị tính và ngôi tính nằm trong cấu trúc vị tính và cùng nhau
t ạo nên cái gọi là vị tính mà thiếu nó thì không thể có thông báo”
Với Gak thì tình thái phản ánh mối quan hệ của người nói đối với nội dung phát ngôn
và nội dung phát ngôn đối với thực tế Tình thái biểu hiện nhân tố chủ quan của phát ngôn, đó
là sự khúc xạ của một phân đoạn thực tế qua nhận thức của người nói (Gak, 1986)
Ngoài ra còn có một số định nghĩa khác như:
Tình thái là phạm trù ngữ nghĩa chức năng thể hiện các dạng quan hệ khác nhau của phát ngôn với thực tế cũng như các dạng đánh giá chủ quan khác nhau đối với điều được thông báo (Liapol, 1990)
Tình thái là thái độ của người nói đối với nội dung mệnh đề mà câu biểu thị hay cái sự tình mà mệnh đề đó miêu tả (Lyons, 1977)
Những định nghĩa trên đây về tình thái chúng tôi kế thừa từ kết quả nghiên cứu của tác
giả Nguyễn Văn Hiệp trong Cơ sở ngữ nghĩa phân tích cú pháp [23, tr84-85]
Qua những nghiên cứu khá bao quát và tỉ mỉ NguyễnVăn Hiệp cũng nhận thấy rằng: tình thái, theo một định nghĩa được rất nhiều nhà nghiên cứu nhất trí, đó là “quan điểm hoặc
thái độ của người nói đối với mệnh đề mà câu nói biểu thị hoặc các tình huống mà mệnh đề miêu t ả” (Lyons,1977)- Dẫn theo [23, tr86], và cách sử dụng thuật ngữ đối lập tình thái và nội
dung mệnh đề có lẽ là cách dùng phổ biến nhất hiện nay
Chẳng hạn, cùng một một nội dung sự tình “Tuấn học rất giỏi” người ta có thể thể hiện
những nội dung tình thái rất khác nhau:
(3) Tuấn từng học giỏi
(4) Có lẽ Tuấn học giỏi
(5) Gì thì gì, Tuấn là người học giỏi
(6) Có phải Tuấn học giỏi?
(7) Tuấn không bao giờ là người học giỏi
Trang 21bằng chứng nào đó mà người nói có được, hoặc dựa trên một cơ sở suy luận nào đó Ở đây, người nói không đảm bảo hoàn toàn, không cam kết hoàn toàn về tính chân thực, tính thực tế
của việc Tuấn học giỏi Trong khi đó, ở phát ngôn (5), người nói cho rằng với những bằng
chứng hay lí lẽ mà anh ta có được thì việc Tuấn học giỏi là một điều đã là hiện thực, bất chấp
mọi bằng chứng, lí lẽ mà người khác có thể đưa ra nhằm phủ nhận Còn trong phát ngôn (7), người nói muốn thể hiện sự thông báo của anh ta là một sự chắc chắn …
Tình thái trong ngôn ngữ học có thể được hiểu theo hai cách: theo nghĩa hẹp và theo nghĩa rộng
Theo nghĩa hẹp, tình thái chỉ xoay quanh các tham số về tính tất yếu, tính khả năng và
tính hiện thực trên cơ sở nhận thức hay đạo nghĩa, và tất cả được hiểu theo góc độ khách quan (tình thái trong logic) hay chủ quan (tình thái trong ngôn ngữ)
Hiểu theo theo nghĩa rộng nhất, khái niệm tình thái trong ngôn ngữ học sẽ bao hàm
những ý nghĩa rất khác nhau Đó là những kiểu cơ bản sau đây:
- Các ý nghĩa khác nhau thể hiện sự đánh giá, thái độ, lập trường của người nói đối với nội dung thông báo: người nói đánh giá nội dung thông báo về độ tin cậy, về tính hợp pháp của hành động, xem nó là điều tích cực (mong muốn) hay tiêu cực (không mong muốn), là điều bất
ngờ ngoài chờ đợi hay bình thường, đánh giá về tính khả năng, tính hiện thực của điều được thông báo…
- Các ý nghĩa đối lập giữa khẳng định và phủ định đối với sự tồn tại của sự tình, liên quan đến khung ngữ nghĩa- ngữ pháp của vị từ cũng như mối quan hệ giữa chủ thể được nói đến trong câu và vị từ (ý nghĩa về thời, thể và các ý nghĩa được thể hiện bằng vị từ tình thái cho biết chủ
thể có ý định, khả năng, mong muốn thực hiện hành động…)
- Các ý nghĩa phản ánh các đặc trưng khác của phát ngôn và hành động phát ngôn có liên quan đến ngữ cảnh xét theo quan điểm đánh giá của người nói Chẳng hạn như sự đánh giá của người nói về mức độ biểu hiện của người nghe, sự đánh giá của người nói đối với các quan điểm, ý kiến khác…
- Các ý kiến thể hiện phát ngôn của người nói, hay nói theo lý thuyết hành động ngôn từ, là thể
hiện kiểu mục đích tại lời mà người nói thực hiện (xác nhận, bác bỏ, thề, hỏi, ra lệnh, yêu cầu, khuyên, mời,…) xét ở bình diện liên nhân, thể hiện sự tác động qua lại giữa người nói và người đối thoại
Tác giả Nguyễn Văn Hiệp cũng đã nhận định rằng: “Phạm trù tình thái bao gồm tất cả
nh ững kiểu ý nghĩa gắn với sự thực tại hóa câu, biến các nội dung mệnh đề ở thế tiềm năng trở thành các phát ngôn trong giao ti ếp.” [23, tr.92]
Trang 22Ở Việt Nam, quan niệm rộng về tình thái như trên đây có thể thấy ở: Đỗ Hữu Châu, Hoàng Tuệ, Cao Xuân Hạo và nhiều tác giả khác về sau như Lê Đông, Phạm Hùng Việt, Nguyễn Văn Hiệp,…
Tiếng Việt có các phương tiện biểu thị của tình thái cụ thể như sau:
- Các phó từ làm thành phần phụ của ngữ vị từ: đã, sẽ, đang, từng, vừa, mới,…
- Các vị từ tình thái làm chính tố trong ngữ đoạn vị từ: toan, định, cố, muốn, đành, được, bị,
- Các vị từ ngôn hành trong kiểu câu ngôn hành (với những điều kiện về ngôi, về chỉ tố
thời,…) như: ra lệnh, van, xin, đề nghị, yêu cầu,…
- Các thán từ: ôi, eo ôi, chao ôi, ồ,…
- Các tiểu từ tình thái cuối câu và tổ hợp từ tương đương: à, ư, nhỉ, nhé, thôi, chứ, đi, mất, thật,
cũng nên, lại còn, thì chết,…
- Các vị từ đánh giá và tổ hợp có tính đánh giá: may (là), may một cái (là), đáng buồn (là),
đáng mừng (là), đáng tiếc (là),…
- Các trợ từ: đến, những, mỗi, ngay, cả, chính, đích thị, đã, chỉ, mới,
- Những đại từ nghi vấn được dùng trong những câu phủ định- bác bỏ (P làm gì? P thế nào
được?), các liên từ trong các câu hỏi (Hay P?, Hay là P?) (Trong đó, P là nội dung mệnh đề)
- Các từ ngữ chêm xen biểu thị tình thái: nó biết cóc gì, mua cha nó cho rồi, hỏi cái đếch gì,…
- Kiểu câu điều kiện, giả định: nếu…thì, giá…thì, cứ…thì,…
Nếu hiểu tình thái theo cách hiểu rộng nhất như tất cả những gì mà người nói thể hiện kèm theo nội dung mệnh đề khi thực hiện một hành động phát ngôn, thì cách hiểu như vậy cho phép ta đưa vào phạm vi tình thái một loạt những ý nghĩa rất khác nhau về “lập trường” của người nói (đánh giá về lượng, đánh giá về chủng loại, đánh giá về tính đáng mong muốn hay
không đáng mong muốn của điều được nói đến…) Tác giả Nguyễn Văn Hiệp cũng cho rằng:
“Nhìn bên ngoài, cách hi ểu về tình thái như vậy là quá rộng vì có thể gây khó khăn cho việc khái quát hóa, t ổng kết tình thái, song trong thực tế đây lại là cách hiểu thích hợp để xác lập
m ột khung lý thuyết có hiệu lực để miêu tả những trợ từ, những tiểu từ tình thái, đặc biệt khi chúng là nh ững phương tiện cực kì quan trọng để biểu thị tình thái trong một ngôn ngữ đơn
l ập, không biến đổi hình thái như tiếng Việt” [23, tr96]
Trang 23Như vậy, với cách hiểu tình thái theo nghĩa rộng thì cảm thán là một phương diện biểu
hiện của tình thái, và trong các phương tiện biểu thị của tình thái trong tiếng Việt cũng có sự góp mặt của các thán từ- vốn là phương tiện đặc trưng của hành động cảm thán
1.5 Hành động cảm thán
1.5.1 Khái ni ệm hành động cảm thán
Hoàng Phê (2008) có định nghĩa về cảm thán như sau: Cảm thán là biểu lộ tình cảm,
c ảm xúc
- Cảm thán được nhìn nhận dưới góc độ là một kiểu câu trong quan niệm của ngữ pháp truyền
thống được thể hiện ở một số quan niệm tiêu biểu sau đây:
Theo tác giả Lê Văn Lý (1968), câu cảm thán là một câu diễn tả tình cảm xen lẫn vào
m ột ý tưởng như: vui, buồn, ngạc nhiên, đau đớn, lo sợ, tức giận, phẫn uất… [29, tr.188]
Nguyễn Kim Thản (1963) định nghĩa như sau: Câu cảm thán nhằm mục đích nói lên
các th ứ tình cảm, các trạng thái tinh thần của người nói (… ) nhờ những ngữ điệu ấy mà ta nói lên được những tình cảm như: vui mừng, sợ hãi, căm giận, âu yếm, nũng nịu, nói lên được
s ự ca tụng, tiếc rẻ, khiến trách, khinh bỉ, dằn dỗi, thờ ơ, miễn cưỡng … v.v [40, tr.264]
Diệp Quang Ban (1996) cho rằng câu cảm thán được dùng khi cần thể hiện một mức độ
nh ất định những tình cảm khác nhau, thái độ đánh giá, những trạng thái tinh thần khác thường của người nói đối với sự vật hay sự kiện mà câu nói đề cập hoặc ám chỉ [1, tr.237]
- Quan niệm ngữ dụng học:
Các tác giả Diệp Quang Ban ( 2004) (2008), Nguyễn Thị Lương (2005) miêu tả rõ nét hơn các tác giả cùng quan điểm về cảm thán song các tác giả này cũng chỉ dừng lại ở việc xem xét biểu hiện hình thức của hành động của ngôn từ này (tức câu cảm thán) mà thôi
Câu c ảm thán (hay câu cảm) là câu sử dụng các từ ngữ chuyên biệt để biểu thị những
c ảm xúc mạnh, đột ngột, có tính bộc phát tức thì của người nói thường dùng trong những ngôn
ng ữ sinh hoạt và trong ngôn ngữ văn chương [30, tr.190-191]
Nói chung cả quan điểm truyền thống và quan điểm ngữ dụng học đều có điểm thống
nhất trong quan niệm về cảm thán là về bộc lộ tình cảm, cảm xúc Tuy nhiên, nếu chỉ hiểu cảm thán là bộc lộ tình cảm, cảm xúc thì e rằng khó có sự khu biệt với các hành động ngôn từ khác (vì thực ra một phát ngôn bao giờ cũng gồm nội dung mệnh đề và nội dung tình thái ) Cho nên
cần thấy rằng cảm thán là hành động thể hiện tình cảm, cảm xúc trong những tình huống có
vấn đề, thường là bất ngờ, đột ngột, ngoài sự tiên liệu của người nói
Qua khảo sát lịch sử nghiên cứu vấn đề, chúng tôi nhận thấy rải rác ở một số những công trình nghiên cứu Việt ngữ thời gian gần đây đã có những định nghĩa về các hành động
Trang 24ngôn từ được sử dụng phổ biến, như: trần thuật, hỏi, cầu khiến,…Ở đây, với việc định nghĩa khái niệm hành động cảm thán, chúng tôi cũng tham khảo quan điểm của các tác giả Đặng Thị
Hảo Tâm (2003) và Chu Thị Thanh Tâm (1995), Hà Thị Hải Yến (2004) trong những công trình nghiên cứu ít nhiều có liên quan đến hành động cảm thán Từ đó luận văn xin đưa ra định nghĩa như sau về hành động cảm thán:
C ảm thán (exclamation) là một hành động ngôn từ mà ở đó người nói bộc lộ tức thời tình c ảm, cảm xúc của mình trước một sự vật, hiện tượng nào đó có tác động lớn đến họ, gây
ra tr ạng thái tình cảm ở mức độ không kìm nén nổi buộc phải nói ra
1.5.2 Đặc điểm của hành động cảm thán
Hành động cảm thán thuộc lớp hành động biểu cảm, vốn là hành động người nói sử
dụng để thể hiện trạng thái tâm lí đối với sự tình (X) trong nội dung mệnh đề
Có thể nhận diện hành động cảm thán qua những đặc điểm sau:
- Được phát ra đồng thời với sự xuất hiện của X trong cuộc thoại
Thời gian X có thể xuất hiện có thể trùng với thời điểm phát ra hành động cảm thán
Ví dụ:
(9) (B vô ý giẫm lên chân A)
A: Ô hay, đi đứng thế à?
B: Xin lỗi, tôi vội quá!
Cũng có khi X đã xảy ra rồi, người nói thực hiện một hành động cảm thán khi nhắc lại,
nhớ lại Thời gian xuất hiện hay tiếp xúc với X có thể xê dịch ít nhiều, trước hoặc sau thời gian
hiện tại hội thoại (thậm chí khi X đã xảy ra trước hoặc sau một vài năm)
Ví dụ:
(10) Ôi chao, tự nhiên thèm món canh cua ngày xưa mẹ nấu quá!
Từ ngày xưa xuất hiện trong phát ngôn cho thấy X thuộc về quá khứ
- Nội dung của hành động cảm thán là bộc lộ một xúc cảm, một trạng thái tâm lí, như: vui, sợ,
Trang 25biết trạng thái cảm xúc của mình thì đó là trường hợp họ muốn dùng hành động cảm thán để đạt hiệu lực tại lời của một hành động ngôn từ khác
thấp, kéo dài thường là lời than thở, rên rỉ,….), hoặc các yếu tố phi ngôn ngữ như nét mặt, thái
độ, dáng điệu,… để nhận ra thái độ, tâm trạng, tình cảm cụ thể mà người nói muốn bộc lộ
1.5.3 Phân lo ại hành động cảm thán
Chúng tôi phân loại hành động cảm thán theo hai cách, với hai tiêu chí sau: theo đặc điểm cấu trúc của biểu thức ngôn hành cảm thán và theo thang độ cảm xúc của hành động cảm thán
3.3.1 Theo đặc điểm cấu trúc của biểu thức ngôn hành cảm thán
Hành vi cảm thán thường được biểu thị bởi các động từ: than, than thở, rên, la, reo,
tr ầm trồ, nức nở… Nhưng những động từ này đều mang chức năng miêu tả mà không phải
chức năng ngôn hành Ví dụ: Muốn thực hiện hành động trầm trồ, người nói không thể dùng phát ngôn “Tôi tr ầm trồ vẻ tráng lệ của tòa lâu đài.” mà phải bằng cách khác, có thể là “Ôi, tòa
lâu đài đẹp quá!” hay “Tòa lâu đài mới đẹp làm sao!” Cho nên nói biểu thức ngôn hành cảm thán là nói tới biểu thức ngôn hành nguyên cấp mà không phải biểu thức ngữ vi tường minh Theo đó, xét về cấu trúc hình thức, hành động cảm thán được chia làm hai loại: hành động cảm thán không có cấu trúc cú pháp biểu thị nội dung mệnh đề và hành động cảm thán có cấu trúc
cú pháp biểu thị nội dung mệnh đề
- Hành động cảm thán không có cấu trúc biểu thị nội dung mệnh đề
Tạo nên dạng hành động này là những từ/cụm từ tự thân biểu lộ được tình cảm, trạng thái cảm xúc quá mức, cực đoan của chủ thể biểu cảm, như: ối, ối giời ơi, trời ơi, trời đất ơi,…
Đây chính là các IFIDs (illocutionary force indicating devices- Phương tiện chỉ dẫn
hiệu lực ở lời) của biểu thức ngôn hành nguyên cấp của hành động cảm thán IFIDs này đồng
thời là biểu thức ngôn hành nguyên cấp cảm thán
Ví dụ:
(14)Trời ơi!
Trang 26(15) Ối giời ơi!
Dẫu các IFIDs này được coi là biểu thức ngôn hành nguyên cấp cảm thán nhưng trên
thực tế chúng ít khi xuất hiện một mình mà thường đi cùng với một thành phần mở rộng có
cấu tạo là một biểu thức ngôn hành thuộc về những hành động khác nhau (sẽ được trình bày ở
phần sau)
- H ành động cảm thán có cấu trúc biểu thị nội dung mệnh đề
Hành động cảm thán kiểu này có hai dạng tồn tại:
− Dạng thứ nhất: Có sự kết hợp giữa IFIDs với các biểu thức miêu tả
Ví dụ:
(16) Giời ạ! Sao mà nóng thế!
− Dạng thứ hai: chỉ có biểu thức miêu tả mà không có IFIDs đi kèm
Ví dụ:
(17) Mẹ ơi, con khát nước quá!
(18) Hạnh phúc thay khi được làm con của mẹ!
Cơ sở để nhận diện phát ngôn dạng thứ hai chính là các phụ từ chỉ mức độ, các trợ từ tình thái
Trong vai trò là các IFIDs, các từ/ cụm từ tự thân biểu lộ tình cảm, trạng thái cảm xúc luôn làm cho cảm xúc của chủ thể cảm thán được biểu hiện rõ ràng hơn, hiệu lực ở lời của hành động cảm thán cũng trở nên xác định hơn
Ví dụ:
So sánh hai phát ngôn sau:
(19a) Trăng hôm nay thật đẹp!
(19b) Chà, trăng hôm nay thật đẹp!
Phát ngôn (19a) có thể được hiểu là người nói muốn miêu tả hiện thực “trăng hôm nay thật
đẹp” cùng với sự thể hiện cảm xúc của mình về điều được nói tới, đó có thể là sự trầm trồ
cũng có thể là nỗi buồn, lời than thở vì hiện thực này gợi nhớ đến kỉ niệm không vui nào đó trong quá khứ Còn trong (19b), cũng là nội dung mệnh đề “trăng hôm nay thật đẹp” nhưng
nhờ có IFIDs là thán từ “chà” nên người nghe biết chắc chắn phát ngôn này là sự trầm trồ,
tấm tắc của người nói về điều được đề cập tới
3.3.2 Theo thang độ bộc lộ cảm xúc của hành động cảm thán
Có thể thấy cảm xúc, tâm trạng, thái độ được bộc lộ trong hành động cảm thán là rất đa
dạng, ứng với sự tinh tế những cung bậc khác nhau trong đời sống tình cảm của con người Cho nên, thực hiện phân loại theo tiêu chí này, chúng tôi chỉ nhóm họp những hành động cảm thán có màu sắc cảm xúc tương cận vào cùng một loại Cụ thể, như sau:
Trang 27− Hành động cảm thán bộc lộ cảm xúc dương tính, tích cực, như: vui mừng, sung sướng, hạnh phúc, trầm trồ, tán thưởng, thích thú,…
Ví dụ:
(20) Chà chà, cá bay mà hấp ăn với đậu rồng là hết ý luôn!
(21) Trời đất ơi, thuốc gì mà hay quá chừng!
− Hành động cảm thán bộc lộ cảm xúc âm tính, tiêu cực: sợ hãi, chán nản, buồn phiền, đau đớn, thất vọng, thiếu tin tưởng,…
Ví dụ:
(22) Eo ơi, kiến bù nhọt cắn đau lắm!
(23) Ôi dào, người như vậy không thay đổi được đâu!
Sự phân loại trên đây của chúng tôi cũng mới chỉ dừng ở mức khái quát và có tính tương đối
Trang 28C HƯƠNG 2: PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN HÀNH ĐỘNG CẢM
2 1 Phương thức sử dụng các phương tiện trực tiếp biểu thị ý nghĩa cảm thán
Theo J.Searle các hành động tại lời thường có những dấu hiệu chỉ dẫn được gọi là các phương tiện chỉ dẫn hiệu lực ở lời (IFIDs ) Đóng vai trò IFIDs là:
- Các kiểu kết cấu
Kết cấu ở đây bao gồm kiểu câu – như cách hiểu từ trước đến nay của ngữ pháp truyền
thống (chẳng hạn khi quan niệm về kết cấu của câu trần thuật, hỏi, cầu khiến, cảm thán) và cả
những kết cấu cụ thể ứng với từng hành động ở lời
Ví dụ: Thuộc kết cấu cầu khiến, tiếng Việt không chỉ là các mô hình quen thuộc: Hãy…,
đừng…, chớ…mà còn là các kết cấu: Làm ơn chuyển lá thư này cho cô ấy!, Phiền bác ngày
mai lại tới!, Đi nào!, Tiến hành thôi!…
Kết cấu biểu thị hành động cảm thán như: Đẹp quá! (lắm, cực kì, tuyệt vời, hết ý…) ,
đẹp ơi là đẹp,…Hoặc từ ngữ cảm thán kết hợp với biểu thức của hành động trình bày, hành
động hỏi như: Giời ơi là giời, có chồng con nhà nào thế này không?
- Những từ ngữ chuyên dùng trong các biểu thức ngôn hành
Những từ ngữ này dùng để tổ chức các kết cấu và là các dấu hiệu mà nhờ chúng, chúng
ta biết được hành động nào đang được thực hiện
Trong biểu thức ngôn hành của hành động hỏi, ta có thể thấy: có (đã)…không (chưa)?,
có ph ải…hay không ? ai, cái gì, bao giờ, mấy…; à, ư, nhỉ, như,…chăng; hay là những từ ngữ: hãy, đừng, chớ, hãy…đi; đừng…nữa, xin, làm ơn; hộ, cảm ơn; nào, thôi (đi nào, đi thôi…)
trong biểu thức ngôn hành cầu khiến Đó là các từ ngữ như: nên, không nên trong các biểu
thức ngôn hành khuyên, là các quán ngữ như: đi đằng đầu, chết không nhắm mắt,…thì trời tru
đất diệt, thì trời đánh thánh vật…trong các phát ngôn cam kết; hay những “lời chửi” cha (m ẹ)… , tiên sư (nhân)…, đồ (mặt)…, đồ (con)…, chết đi cho rồi…hoặc một số từ ngữ chuyên
dùng các biểu thức ngôn hành cảm thán là ôi, ô, ô hay, ối giời, a, à…thay, vô cùng, hết ý,…
- Ngữ điệu: Theo tác giả Đỗ Hữu Châu thì cần nghiên cứu ngữ điệu của các biểu thức ngôn hành hơn là ngữ điệu của câu, vì “cùng một tổ chức từ vựng, ngữ pháp cụ thể nếu được phát
âm v ới những ngữ điệu khác nhau sẽ cho các biểu thức ngữ vi khác nhau ứng với những hành
vi ở lời khác nhau” [10 , 94]
- Quan hệ giữa các thành tố trong cấu trúc vị từ-tham thể tạo nên nội dung mệnh đề được nêu trong biểu thức ngôn hành với những nhân tố của ngữ cảnh Các đặc tính ngữ nghĩa như tự
Trang 29nguyện hay cưỡng bức, tích cực hay tiêu cực, có lợi hay có hại… của hành động đối với người
tạo ra hành động và với người nhận hành động cũng có giá trị như là IFIDs
Có thể so sánh hai biểu thức ngôn hành sau:
(24a) Cô hãy chuyển cho giám đốc thông báo này
(24b) Cô làm ơn hãy chuyển cho giám đốc thông báo này
Ở câu (24a) thì việc chuyển thông báo là việc của cô (Sp2) sẽ làm trong tương lai nhưng ở biểu thức (24a) nó là thuộc trách nhiệm của Sp2 cho nên biểu thức này là biểu thức ngôn hành sai khiến Ở biểu thức (24b) việc chuyển thông báo vốn thuộc trách nhiệm của người nói (Sp1) vì lí do nào đó Sp1 muốn Sp2 thực hiện thay mình, do đó biểu thức này là
Chúng tôi cũng dựa trên cơ sở này để xác định các phương tiện đánh dấu hành động
cảm thán Các hành động cảm thán cụ thể chủ yếu là các hành động: than, than phiền, than
th ở, than khóc, rên la, reo, trầm trồ, mừng vui… Gọi tên các hành động đó, tiếng Việt cũng có
các động từ: than, than phiền, than khóc, rên la, reo… Nhưng đó không phải là các động từ
ngôn hành mà những từ này chỉ có chức năng miêu tả mà thôi Để bộc lộ hành động than phiền
vì buồn chán, người cảm thán không nói “Tôi than phiền rằng tôi đang buồn chán.” mà phải
bằng từ một biểu thức khác, chẳng hạn: “Trời ơi, chán quá!” hay “Chán thật!” Vì vậy, tiếng
Việt không có biểu thức cảm thán ngôn hành tường minh mà chỉ có biểu thức cảm thán ngôn hành nguyên cấp
Ở đây luận văn đi sâu vào ba phương tiện chủ yếu là: những từ ngữ cảm thán, các kiểu
kết cấu của hành động cảm thán và ngữ điệu thể hiện ý nghĩa cảm thán
2.1.1 P hương thức sử dụng từ ngữ cảm thán
Về mặt ngữ nghĩa, từ ngữ cảm thán là những đơn vị từ vựng đặc biệt được sử dụng để
biểu đạt những cảm xúc, những tình cảm, tâm trạng, thái độ khác nhau của người nói trước
hiện thực được đề cập đến
Về mặt từ vựng – ngữ pháp, từ ngữ cảm thán có khả năng độc lập cấu tạo câu, trong khẩu
ngữ hàng ngày thường đứng ở đầu câu, là thành phần độc lập với nòng cốt câu và cũng có khi đứng cuối câu hoặc xen vào giữa nòng cốt câu
Trang 302.1.2 Phương thức sử dụng từ ngữ cảm thán chuyên biệt
Nhóm này bao gồm những từ ngữ chỉ hoạt động với chức năng cảm thán, phổ biến nhất
là thán từ, ngoài ra còn có các quán ngữ cảm thán
2.1.2.1 Thán t ừ
Thán từ trong tiếng Việt khá đa dạng, đặc biệt là sự đa dạng về mặt ngữ âm của cùng
một từ (ở những địa phương khác nhau ta thấy cách phát âm khác nhau của cùng một thán từ,
ví dụ: úi dà / úi dào; trời / giời …) Theo kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thiện Giáp
(2008) thì trong tiếng Việt, nhiều nhà Việt ngữ học cho rằng thán từ là từ loại bao gồm không
những các từ thể hiện cảm xúc, mà còn cả các từ “làm tín hiệu của những lời gọi đáp”
(Nguyễn Kim Thản), thí dụ: a, a ha, ái chà, chao ôi, vâng, dạ, này,…Cao Xuân Hạo chia thán
từ thành hai loại là thán từ biểu hiện cảm xúc và thán từ gọi đáp Theo Nguyễn Kim Thản,
“Thán t ừ là một loại ngữ thái từ dùng làm tín hiệu của các tình cảm, các sự kích động khác nhau, nhưng không định danh cho các tình cảm và kích động ấy, và làm tín hiệu của các lời
g ọi đáp” (Dẫn theo [17, tr.266])
Về phương thức biểu đạt này, tác giả Nguyễn Thị Lương [30, tr.203 – 205] đã liệt kê ra
một số nhóm từ cảm thán và định cho mỗi nhóm một giá trị biểu đạt cảm xúc riêng Cụ thể như sau:
Những từ hoặc tổ hợp từ biểu thị nỗi vui mừng, sung sướng, ngạc nhiên, thán phục: a, a
ha, ôi, ơ, ờ, …
Những từ hoặc tổ hợp từ biểu thị sự chán nản, buồn bã, thiếu tin tưởng,: ôi, ôi dào, dào
ôi, ôi chao, chao ôi,…,
Những từ biểu thị ý lo lắng, sợ hãi, ghê tởm:, eo, eo ôi, eo lèo ôi,…
Những từ bộc lộ sự đau đớn, khổ sở, lo lắng, buồn bực, giận dữ: trời, ôi, ối, ái,…
Những từ biểu thị sự thông cảm, thương xót, bực mình: chao ôi, hừ,…
Tuy nhiên, qua thực tế khảo sát ngữ liệu chúng tôi thấy nghĩa của những thán từ này là nghĩa chức năng, được nhận ra nhờ ngữ cảnh và ngữ điệu của người nói, việc giải nghĩa chúng
gắn liền với ngữ cảnh mà nó xuất hiện Cho nên, việc phân chia những nhóm từ cảm thán với ý nghĩa cố định như trên có lẽ là áp đặt và hạn chế đi tính đa nghĩa của từ ngữ nói chung
Vì vậy, khi xem xét đến phương thức thể hiện này của hành động cảm thán, chúng tôi không sắp xếp theo nhóm nghĩa mà trình bày những từ/nhóm từ có khả năng thay thế cho nhau trong cùng ngữ cảnh theo trình tự từ đơn giản đến phức tạp về cấu tạo ngữ âm/chữ viết
Trang 31Khi phân tích khả năng biểu đạt của những từ ngữ cảm thán này chúng tôi dựa vào ý nghĩa cố định đã được giải thích trong từ điển, đồng thời căn cứ vào ngữ cảnh từ/ngữ đó xuất
hiện mà chúng tôi đã thu thập được
Trong phần này, luận văn hệ thống lại những thán từ tiêu biểu có tần số xuất hiện cao trong
thực tế sử dụng tiếng Việt
A / À
A là tiếng thốt ra biểu lộ sự vui mừng, ngạc nhiên hoặc sực nhớ chợt hiểu ra, nhận ra điều gì
Nét nghĩa cơ bản thường thấy của “a” là ngạc nhiên do bất chợt phát hiện ra một điều gì bất
thường, đặc biệt
Ví dụ:
(25) A, em Liên thảo nhỉ Hôm nay lại rót đầy cho chị?
[2, 348]
(26) Thế là nó nhảy tới, đúng là một con thú rừng thật, nó nhảy tới vồ lấy chú nó, rú lên:-
A, chú Cắm, chú Cắm, chú đi cách mạng đã về rồi Thế còn ông Cụ có về với chú không? [2, 415]
(27) A! Hay đấy nhỉ? Được! (Đêm nay đồng chí nghỉ đâu?)
[2, 482]
(28) Ông văng tục: “ A… hóa ra mày làm thơ, viết văn! Giời ạ! Thật là đồ chó … Hóa ra nhà tôi lại có một văn nghệ sĩ nữa kia”
[9, 627]
Trong phát ngôn (25), chủ thể phát ngôn (nhân vật cụ Thi điên) đã “a” lên để thể hiện
thái độ ngạc nhiên của mình vì Liên “hôm nay lại rót đầy” cho cụ hơn những hôm trước Ở (26), thằng bé ngạc nhiên vì nó phát hiện ra sự xuất hiện bất ngờ của chú Cắm vốn là người rất thân thiết mà đã lâu nó không được gặp Với phát ngôn (27), chủ thể phát ngôn nhận được một
đề nghị khá bất ngờ là đổi những bình gốm cũ mà cơ quan ông ta có để lấy một chiếc xe ô tô đời mới, một sự trao đổi ông cảm thấy không bình thường nhưng lại có vẻ có lợi cho mình Còn trong (28), người nói quá bất ngờ vì phát hiện ra một điều bất thường là đứa em trai vốn
dĩ bị coi là vô tích sự trong nhà nay lại viết văn, làm thơ, trong khi ông là thầy giáo, ông cho
rằng điều đó xúc phạm đến sĩ diện của mình
Đi kèm với nét nghĩa ngạc nhiên, có thể thấy cùng với nội dung mệnh đề, hành động
cảm thán do “a” biểu đạt còn có những nét nghĩa khác có quan hệ mật thiết với nét nghĩa ngạc
nhiên; như ở (26) ngạc nhiên – mừng rỡ, (27) ngạc nhiên – thích thú, (28) ngạc nhiên – tức
giận
Trang 32Như vậy “a” không chỉ biểu đạt cho cảm xúc dương tính mà cũng có thể thể hiện được
cảm xúc âm tính
Ngoài ra, “a” còn được dùng để biểu thị một trạng thái tức thời của cảm xúc trí tuệ:
chợt nhớ ra, chợt hiểu ra
- Có phải bác đã dùng nó hơn hai mươi năm nay?
- Đúng Làm sao cô biết?
- A…a…a! Thật à! Thế thì mời cô tạm vào trong nhà
[1, 75]
“A” biểu thị trạng thái “sực nhớ” ở (29) khi người mẹ nhìn thấy đứa con thì liên tưởng ngay đến việc “thằng Cò bắn trúng vào trán thằng Sỏi”, với (30) (31), chủ thể phát ngôn nhận ra điều mình cần biết sau khi người đối thoại đã đưa thêm thông tin (thông tin phụ) để làm rõ cho điều mình muốn nói (thông tin chính)
Tương tự với “A” ta có “À”, song phạm vi sử dụng của “À” hạn chế hơn
À là tiếng thốt ra trong đối thoại, biểu lộ ý chợt nhận ra hay chợt nhớ ra, hiểu ra điều gì
Ví dụ (32), (33) đều là các phát ngôn thể hiện thái độ ngạc nhiên khi người nói bất ngờ
nhận ra điều mình vừa (hoặc đang) nhìn thấy, nghe thấy Như ở (32), anh bộ đội giải phóng
ngạc nhiên vì nhận ra người mình đang nghi ngờ là “địch” hóa ra lại là “ta” Tương tự như vậy
ở (33), người nói ngạc nhiên vì nghĩ rằng người như ông Nghị không thể xuất hiện ở nơi mà anh ta đang đứng nhưng đó là điều đang diễn ra
Trang 33Sự xuất hiện của “à” ở các ví dụ (34), (35), (36), (37), (38) cùng với nội dung mệnh đề trong từng phát ngôn thể hiện tương ứng ngay sau đó đều cho thấy người nói muốn tỏ thái độ mình vừa nhớ ra điều gì
(39) Quan không sao kìm được cơn thịnh nộ, áp lại gần, chỉ ngón tay dăn deo, rít lên: - À,
ra con này giỏi thực Mày không coi ông ra gì
[3,485]
(40) Ông trưởng sực hiểu, nói:
- À, ra chú lập tâm giới thiệu hắn với tôi đấy à?
[3, 572]
(41) À, tôi không ngờ mợ ăn nói như thế; ăn nói như đồ vô giáo dục
[4, 265]
Với (39), người nói chợt hiểu ra mục đích của người đối thoại là giới thiệu một người nào đó
với mình Trong (40), (41) thì chủ thể phát ngôn lại không thể ngờ rằng vợ mình có thể hỗn hào, coi thường ông đến vậy
Tuy vậy, trong một số ngữ cảnh, giữa “À” không thể thay thế cho “A”và ngược lại
Trong ví dụ (26):
Thế là nó nhảy tới, đúng là một con thú rừng thật, nó nhảy tới và vồ lấy chú nó, rú lên:
- A, chú Cắm, chú Cắm, chú đi cách mạng đã về rồi Thế còn ông Cụ có về với chú không?
[2, 415]
Trang 34Sở dĩ “À” không thế chỗ cho “A” trong ngữ cảnh này là bởi vì người nói bộc lộ sự ngạc nhiên,
vui mừng, sắc thái đó “À” không thể biểu đạt được Ngược lại ta xét tình huống sau:
(42a) À, bây giờ anh mới thở dài, hối hận Chậm lắm rồi!
[ 2, 611]
Nếu viết lại theo dạng hội thoại, ta có phát ngôn tương đương sau:
(42b) Bây giờ anh mới thở dài, hối hận:
- À, chậm lắm rồi!
Cảm xúc thốt lên “à” thể hiện trong phát ngôn này là chán nản, thất vọng khi chợt nhận ra một
điều gì đó đã diễn ra, không thể thay đổi được nữa Nếu thay “a” vào vị trí trên của “à”, ta có phát ngôn sau:
(42c) Bây giờ anh mới thở dài, hối hận:
- A, chậm lắm rồi!
Chắc chắn đây là một phát ngôn “có vấn đề” vì không thể thể hiện cảm xúc “thở dài, hối hận”
bằng cách reo lên “a”
Hay trong ngữ cảnh sau “a” cũng không thể có mặt
(43) - Tôi lạy cậu, tôi van cậu, cậu đừng ép tôi Tôi là vợ cậu…
- À, tôi là vợ cậu! Là vợ mà chồng bảo không nghe
(44) Anh Lí Cựu cũng vừa vỗ tay, vừa nhảy như thằng cuồng:
- A ha! Hip! Hip – Lơ! Con ma quay lơ? Hổ chết rồi!
[3, 238]
(45) A ha! Hóa ra đồ chơi mắc hơn đồ ăn
[2, 485]
(46) Vừa thoáng thấy con nhãi nhép ấy, anh ta bỗng reo lên:
- A ha, nhà này vừa sắm được của quý!
[2, 325]
Biến thể ngữ âm của “A ha” là “ À hà”
(47) À hà, con chó này đang ngon thịt đây…
Trang 35(50) Ô, ông kia đi xe đạp mà cũng đội nón bảo hiểm kìa!
(51) Ô, nó có cuộc đời của nó!
[1, 381]
(52) Ô, đấy lại là chuyện khác, nếu không được ở đây mà bị rơi hẫng ra ngoài kia, ngoài biên chế, thì người ta sẽ còn phải gặp nhiều điều phiền toái, khó lường, và vì thế mà người nào cũng sợ…Cháu không hiểu à?
[1, 399]
Sự ngạc nhiên được bộc lộ ở đây ngoài sự vật, sự việc gây bất ngờ, mới lạ, không bình thường còn là thái độ ngạc nhiên trước những quan điểm, lối suy nghĩ khác với chủ thể cảm thán Như trong (51), chủ thể phát ngôn tỏ ra ngạc nhiên vì người đối thoại với anh ta quan
niệm rằng cha mẹ phải có trách nhiệm với cuộc đời của con cái nhưng anh ta thì không nghĩ như vậy, hay thái độ ngạc nhiên của người nói trong ví dụ (52) khi nhận thấy sự ngây thơ, hồn nhiên, vô tư trước thời cuộc của cô cháu gái khi không biết rằng bấy giờ làm “người nhà nước” thì có lợi hơn
“Ơ” cũng có cách dùng tương tự như “ô”
(53)- Ơ trời!
Chị nhận ra anh, kêu lên và đứng ôm mặt khóc.[2, 376]
(54) Ơ! Tụi hắn mô hết rồi?
Gần với cách dùng của ô/ơ là “ô hay” và “ơ hay”
Ô hay / Ơ hay là tiếng thốt ra biểu lộ sự ngạc nhiên kèm theo ý thất vọng, không hài lòng
Trang 36(58) Ô hay! Ông giận gì chúng tôi?
[3, 567]
Trong phát ngôn (55), người nói đi vay tiền mua thuốc cho mẹ mình nhưng người cho vay
không đưa tiền mà còn có hành động sàm sở đối với người nói, thán từ “ô hay” trong phát
ngôn được dùng để biểu thị thái độ ngạc nhiên, không hài lòng của người nói trước hành động thiếu đứng đắn ấy Phát ngôn (56) cũng biểu đạt nội dung cảm thán tương tự Còn trong (57), người chồng tỏ ra không hài lòng vì người vợ không nghe lời mình Ví dụ (58) thì cho thấy sự
ngạc nhiên kèm theo ý thất vọng khi người nói biết được người đối thoại sẽ không ở lại nữa và
(66) Ồ, viết thư thì cần gì nặn nọt, ông muốn nói gì, ông muốn nói gì, cứ nói thẳng tuột cho
dễ hiểu có hơn không?
[3, 429]
Trang 37Trong một số trường hợp người ta, người ta hồ nghi rằng “ồ” không biểu thị cảm xúc ngạc
nhiên, bất ngờ hoặc sực nhớ ra điều gì mà là thái độ thản nhiên (chẳng có gì là lạ) của chủ thể phát ngôn trước một vấn đề mà người đối thoại cho là bất thường, khác lạ
Các ví dụ (67), (68), (69) cho thấy chủ thể phát ngôn không hề bất ngờ, ngạc nhiên với
điều được đề cập đến trong nội dung mệnh đề sau thán từ “ồ”, thậm chí còn dùng cách nói
“… ấy mà”, “…thì thế nào (mà) chẳng…”, “thiếu gì…” để tỏ thái độ thản nhiên Nhưng thực
ra “ ồ” trong những phát ngôn này vẫn được dùng để biểu đạt thái độ ngạc nhiên, bất ngờ, có
điều đối tượng cảm thán ở đây không phải là đối tượng được đề cập đến trong phát ngôn mà là quan niệm, thái độ của người đối thoại Người đối thoại cho rằng những điều mình nói đến là
bất thường, đặc biệt nhưng với chủ thể phát ngôn thì đó là những điều hiển nhiên, bình thường
Trang 38- Ngoài ra, không nhất thiết đối tượng cảm thán là điều bất ngờ, nhưng để bộc lộ tình cảm tha thiết, sự xúc động người ta vẫn dùng “ôi”
Như sự xúc động trước sự bao dung của trái tim người mẹ trong phát ngôn (75), hay tình
cảm tha thiết đầy tự hào về tinh thần đấu tranh của những người nông dân chất phác trong (76)
- “Ôi” còn được dùng để thể hiện thái độ thờ ơ, dửng dưng, hờ hững
(79) Ôi, chuyện đàn bà ấy mà!
chị, vì chị cho rằng chồng mình không có gì đặc biệt để kể
Để diễn tả mức độ cao hơn bình thường mà “Ôi” biểu thị, người ta thường kết hợp “Ôi” với
Trang 39Ví dụ:
(83) Bỗng có một tiếng tru lên, bà Cứu ôm mặt, lanh lảnh khóc:
- Ối, con tôi!
Tiếng khóc của người mẹ trước thi hài đứa con chết đuối đã trương, làm ai cũng phải cảm động [2, 141]
Từ “bỗng” cho thấy cái chết của đứa con đối với bà Cứu là một tai họa bất ngờ Phát ngôn
“ Ối, con tôi”, đặc biệt là thán từ “ối” được dùng để biểu đạt điều đó
Tương tự như vậy:
(84) Ối trời, làm mẹ giật cả mình, suýt nữa thì sặc nước
Trong trường hợp này, chủ thể phát ngôn kêu “ối” vì tình huống đang diễn ra trong cuộc
đối thoại theo suy đoán của chủ thể là anh ta sẽ bị gán vào tội dan díu với vợ của một người
bạn Thực tế, với chủ thể phát ngôn đó là một nỗi oan ức, một tai họa bất ngờ
(86) Ngài giật phắt cái cột màn Thì thình lình:
- Ối hàng phố ơi!- Bà vừa kêu, vừa túm lấy chồng, thở ì ạch
[3, 696]
(87) Ối ông đội xếp ơi! Thằng ăn cắp! Ai đuổi hộ tôi
Bà ấy chạy sau rốt – Áo lấm khăn xổ Tóc rũ Ngửa mặt lên mà kêu:
- Ối ông đội xếp ơi!
[3, 272-273]
Như đã thấy, đặc điểm của “ối” khi làm tiếng kêu than là thường kết hợp với các tổ hợp từ
mang ý nghĩa cảm thán Các tổ hợp từ này chúng tôi cũng sẽ đề cập đến ở phần sau của luận văn
- Cũng có khi “ối” được dùng giống “ôi” nhằm biểu thị ý ngạc nhiên, bất ngờ Như sự ngạc
nhiên của anh phu xe trước đề nghị quá bất ngờ đến mức sổ sàng của cô gái trong ngữ liệu sau: (88) Cô ả nắm lấy tay, vỗ vào vai anh xe, nhăn nhở cười:
- Anh này thực thà quá, nghĩa là chỉ có anh và tôi thôi, thì người tôi đây, anh muốn làm
gì, tôi cũng bằng lòng
Trang 40- Ối thôi! Tôi lạy cô Nhỡ cô đổ bệnh cho tôi thì tôi bỏ mẹ tôi
(95) Nói xong, cụ Khánh đứng dậy, vươn vai, gân tay gân chân kêu răng rắc:
- Chà! Giãn thịt giãn xương
(98) Cha, con cái nhà ai mà dễ thương quá đi!
Với mục đích biểu đạt sắc thái cảm xúc ngạc nhiên, thích thú, trầm trồ, tấm tắc, sảng khoái,
“Chà”/ “Cha” thường được dùng ở dạng láy lại