1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

hành động cảm thán trong tiếng việt

92 1,3K 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hành động cảm thán trong tiếng việt
Tác giả Phạm Thanh Vân
Người hướng dẫn PGS. TS. Dư Ngọc Ngân
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Ngôn ngữ học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2010
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 817,12 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phương pháp nghiên cứu Thực hiện đề tài này, ngoài những phương pháp, thủ pháp nghiên cứu khoa học chung như thu thập, phân loại, khảo sát ngữ liệu,…luận văn sử dụng những phương pháp n

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS TS Dư Ngọc Ngân

Thành phố Hồ Chí Minh – 2010

Trang 2

L ỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả được đưa ra trong luận văn là trung thực và chưa được công bố ở bất kì công trình nghiên cứu nào khác

Tác giả luận văn

Phạm Thanh Vân

Trang 3

L ỜI CẢM ƠN

Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS TS Dư Ngọc Ngân, người đã tận tình dìu

dắt tôi từ những bước đầu tiên trong công tác nghiên cứu khoa học cũng như đã chu đáo chỉ bảo, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô đã giảng dạy chúng tôi những ba năm học vừa qua, phòng Khoa học công nghệ và sau Đại học, Thư viện Đại học Sư Phạm Tp, Hồ Chí Minh, Thư viện Khoa học Tổng hợp Tp Hồ Chí Minh, Khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi giúp tôi hoàn thành luận văn này

Trang 6

QUY ƯỚC VIẾT TẮT

Sp1: người nói 1 (speaker 1)

Sp2: người nói 2 (speaker 2)

IFIDs: Phương tiện chỉ dẫn hiệu lực ở lời

[2, tr18]: 2 số thứ tự tài liệu tham khảo, tr.8 số trang trong tài liệu

[5, 345]: 5 là số thứ tự tác phẩm làm tư liệu, 345 số trang trong tác phẩm

Trang 7

D ẪN NHẬP

1 Lí do ch ọn đề tài và mục đích nghiên cứu

Khái niệm cảm thán trong tiếng Việt đã được biết đến từ rất sớm qua kết quả “phân loại

câu theo mục đích phát ngôn”, theo đó trong tiếng Việt có bốn loại câu: trần thuật, cầu khiến, nghi vấn, cảm thán

Tuy nhiên, từ những năm 70 của thế kỷ XX trở lại đây, khi lí thuyết về hành động ngôn

từ của J.L.Austin, H.P.Grice, J.R Searle phát triển mạnh mẽ, thì giới Việt ngữ học nhận thấy

rằng xung quanh “câu phân loại theo mục đích phát ngôn” còn rất nhiều điều mới mẻ và hữu ích khi soi chiếu bằng lí thuyết trên Chính vì vậy mà thời gian qua đã có khá nhiều công trình nghiên cứu tiếng Việt chuyên sâu về nội dung này Các tác giả nhận thấy có sự phân biệt giữa câu nghi vấn và hành động hỏi, giữa câu trần thuật và hành động xác nhận, câu cầu khiến và hành động cầu khiến, giữa câu cảm thán và hành động bày tỏ cảm xúc và nhiều điều thú vị khác Mặc dù vậy đến nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu chuyên sâu nào về hành động cảm thán trong tiếng Việt, vốn là một trong những hành động ngôn từ có tần số xuất hiện cao trong giao tiếp bằng ngôn ngữ

Vì vậy, chúng tôi thực hiện luận văn này cũng với mục đích vận dụng lí thuyết về hành động ngôn từ để khảo sát hành động cảm thán trong tiếng Việt với mong muốn có được sự hệ

thống với góc nhìn mới về hành động ngôn từ này, đồng thời cũng hi vọng kết quả tìm hiểu này sẽ có ích cho việc nghiên cứu chung về hành động ngôn từ trong tiếng Việt

- Về mặt lí luận: luận văn hi vọng góp phần làm rõ thêm về khái niệm hành động cảm thán, phân loại hành động cảm thán trong tiếng Việt

- Về mặt thực tiễn: việc miêu tả các phương thức thể hiện hành động cảm thán trong tiếng Việt

có thể đóng góp thiết thực cho việc nói, viết và dạy-học tiếng Việt hiện nay

2 L ịch sử vấn đề

Vì là một nội dung có tính thực tế cao trong giao tiếp bằng ngôn ngữ nên từ trước đến nay cảm thán đã được nhiều công trình Việt ngữ học quan tâm Xét về cơ sở lí thuyết mà các tác giả lựa chọn khi quan tâm đến vấn đề cảm thán, chúng tôi nhận thấy có hai khuynh hướng sau: theo quan điểm của ngữ pháp truyền thống và theo quan điểm ngữ nghĩa- ngữ dụng học

2.1 Theo quan điểm của ngữ pháp truyền thống

Trang 8

Phần lớn các tác giả theo quan niệm truyền thống đều nghiên cứu cảm thán với tư cách là

một kiểu câu theo mục đích nói bên cạnh các kiểu còn lại là trần thuật (tường thuật, kể), nghi

vấn (hỏi), cầu khiến (mệnh lệnh)

Nguyễn Kim Thản (1963) phân chia câu tiếng Việt theo mục đích nói thành bốn loại: tường thuật, nghi vấn, cầu khiến, cảm thán Tác giả cũng miêu tả khá cụ thể những mục đích

sử dụng và một số phương thức biểu thị của câu cảm thán [40, tr.264]

Lê Văn Lý (1968) chia những câu trong Việt ngữ ra làm 8 loại: câu tự loại, câu đơn

giản, câu phức tạp, câu khẳng định, câu phủ định, câu nghi vấn, câu khuyến lệnh (ngôn ngữ

thế lực), câu cảm thán (ngôn ngữ tình cảm) Theo tác giả, câu cảm thán là một câu diễn tả tình

c ảm xen lẫn vào một ý tưởng, như: vui, buồn, ngạc nhiên, đau đớn, lo sợ, tức giận, phẫn

u ất,…[29, tr.188]

Cùng quan điểm với tác giả Nguyễn Kim Thản, Nguyễn Minh Thuyết (1997) cũng cho

rằng ứng với mỗi mục đích giao tiếp, thường có một kiểu câu riêng với đặc điểm riêng về cấu trúc và ứng với mục đích bộc lộ tình cảm, cảm xúc của người nói có kiểu câu cảm thán (câu

c ảm) [15, tr.273-274]

Còn Ng ữ pháp tiếng Việt của Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam (1983) xếp câu cảm

thán (thuật ngữ sách dùng là câu biểu cảm) vào kết quả phân loại dựa vào thuyết tính, bao

gồm: khẳng định và phủ định, tường thuật, nghi vấn, cầu khiến và biểu cảm Tác giả của cuốn

sách cũng nhận định rằng: Trong câu tường thuật, câu nghi vấn, câu cầu khiến đều có sự biểu

th ị cảm xúc Nhưng câu biểu cảm vẫn có thể có hình thức riêng [55, tr.205]

Tác giả Hồ Lê (1992) quan niệm rằng mỗi câu phát ra đều phải theo một trong bốn định hướng: trần thuật, nghi vấn, cầu khiến, cảm thán, người thụ ngôn phải cảm nhận được định

hướng của từng câu để có phản xạ thích hợp Đối với câu cảm thán, anh ta không phải hiểu

được nội dung ấy mà còn phải nhận ra điểm cảm thán trong câu (thường được diễn đạt hiển ngôn nhưng cũng có khi ẩn mặc) và chuẩn bị hành động phản ứng [26, tr.417]

Tác giả Nguyễn Thị Ly Kha (2008) căn cứ vào mục đích giao tiếp, phân chia câu thành

những loại quen thuộc đã có trong ngữ pháp truyền thống: câu trần thuật, câu cầu khiến, câu nghi vấn, câu cảm thán Tuy nhiên, tác giả cũng đi theo khuynh hướng của lí thuyết hành động ngôn từ khi cho rằng các câu trần thuật, nghi vấn, hoặc cầu khiến đều có thể thực hiện cả

nhi ệm vụ bộc lộ tình cảm và thái độ [25, tr.202-218]

Thực tế trong khuynh hướng của ngữ pháp truyền thống khi phân loại các kiểu câu

tiếng Việt theo mục đích nói, bên cạnh đa phần là các quan niệm cho rằng có bốn kiểu câu như

đã nói- trong đó luôn có cảm thán, thì cũng có một số cách phân loại khác Ở đây chúng tôi xin

mở rộng để có được cái nhìn đầy đủ, toàn diện hơn về lịch sử nghiên cứu vấn đề

Trang 9

Bùi Đức Tịnh (1954) không đề cập đến câu cảm thán mà chỉ có sự phân loại như sau: câu xác định, câu phủ định, câu nghi vấn, câu khuyến lệnh và câu tỏ sự mong ước hay hối tiếc [46, tr.376-383]

Các tác giả Lê Cận- Phan Thiều- Diệp Quang Ban- Hoàng Văn Thung (1983) trong

Ng ữ pháp tiếng Việt, tập 2 có ý kiến như sau: xét về mục đích nói năng, tất cả các câu nói đều

có thể quy về ba loại: câu kể, câu hỏi và câu cầu khiến Tuy nhiên, trong phần Thành phần phụ

c ủa câu, sách có đoạn viết trong những ngữ cảnh nhất định, phụ ngữ cảm thán có thể trở thành m ột câu (…) và phụ ngữ cảm thán là thành phần phụ biểu thị tình cảm của người nói đối với người nghe, làm cho người nghe thông cảm với mình (…) [7, tr.239] Như vậy rõ ràng

nếu chiếu câu được hình thành từ phụ ngữ cảm thán theo kết quả phân loại trên thì có vẻ như

đó là sự phân loại chưa thực sự bao quát, vì không rõ các tác giả sẽ xếp những câu dạng này vào loại nào: kể, hỏi hay cầu khiến

Hoàng Trọng Phiến (1980) dựa vào quan niệm về nhiệm vụ thông tin- ngữ pháp của câu, tác giả chia thành câu kể, câu cầu khiến, câu hỏi và câu than gọi Tác giả không cho câu

cảm xúc là một loại câu Bởi lẽ, cảm xúc với cái ý nghĩa sắc thái tình cảm của chủ thể phát

ngôn thì câu nào l ại không có Và, do đó không tạo thành sự đối lập: câu cảm xúc và câu không c ảm xúc [36, tr.269]

Nhìn chung, bốn kiểu câu trần thuật (kể), cầu khiến, nghi vấn (hỏi), cảm thán đã trở thành phổ thông trong tiếng Việt khi đề cập đến sự phân loại câu Nhưng thực tế, trong số

những người theo quan điểm truyền thống, có một số tác giả trong khi gọi các kiểu câu phân

loại theo mục đích phát ngôn, cũng nói rõ đó không phải là một sự phân loại chỉ đơn thuần dựa vào mục đích giao tiếp, mà là sự phân loại kết hợp cả hai mặt mục đích giao tiếp/công dụng và đặc điểm cấu trúc/ngữ pháp (Nguyễn Minh Thuyết [15, tr.274-275], Diệp Quang Ban [1, tr.224]) Như Bùi Mạnh Hùng (2003) nhận xét: Tuy nhiên quan niệm phân loại câu kết hợp cả

hai m ặt này chỉ thể hiện dưới dạng những nhận định có tính chất khái quát, không áp dụng được trên thực tế, vì không thể vận dụng nhất quán để phân loại một cách có hệ thống các

ki ểu câu khi gặp những câu mà giữa hình thức và công dụng của nó không có sự thống nhất

[24, tr.48] Nguy ễn Văn Hiệp (2008) cũng đồng tình khi nhận định rằng cái thường gọi là

phân lo ại câu theo mục đích nói của ngữ pháp truyền thống, (…) thực chất là sự nhập nhằng

gi ữa hai tiêu chí phân loại câu theo hình thức ngữ pháp và phân loại phát ngôn theo mục đích phát ngôn hay l ực ngôn trung [23, tr.220-221]

Trong những cách phân loại câu tiếng Việt theo mục đích nói, có một trường hợp “hiếm

hoi” (từ dùng của tác giả Bùi Mạnh Hùng [24, tr.48]), đó là sự phân loại dựa vào ngữ điệu của

Trang 10

Trương Văn Chình, Nguyễn Hiến Lê [11, tr.639-640] (ngữ điệu là cái giọng ta nói ra một câu)

Kết quả phân loại như sau:

- Câu nói theo giọng thường

- Câu nói theo giọng hỏi

- Câu nói theo giọng biểu cảm (để tỏ tình cảm hay sai bảo ai)

Xét về thời gian, quan điểm này không mới Có thể thấy được hạn chế ở quá trình phân tích của sự phân loại này là “phân tích về vấn đề hữu quan của hai tác giả còn sơ sài và có chỗ

thi ếu chính xác” (nhận xét của Bùi Mạnh Hùng [24, tr.49]) song, rõ ràng trong khi những cách

phân loại cùng thời còn nhập nhằng về tiêu chí thì cách phân loại của hai ông là dựa vào dấu

hiệu hình thức một cách thuần nhất

2.2 Quan điểm ngữ nghĩa- ngữ dụng học

Tiêu biểu cho khuynh hướng này trong nghiên cứu cảm thán tiếng Việt có thể kể đến các tác giả sau: Diệp Quang Ban, Cao Xuân Hạo, Nguyễn Thị Lương, Nguyễn Thiện Giáp, Nguyễn Đức Dân, Đỗ Hữu Châu, Đỗ Hùng Việt,…

Diệp Quang Ban (2004, 2008) theo định hướng ngữ pháp chức năng hệ thống của M.A.K Halliday, tác giả cho rằng câu phân loại theo mục đích nói là hiện tượng nằm trên

đường biên giới của câu xét theo cấu tạo hình thức và câu xét ở phương diện sử dụng Với tiêu

chí l ấy hình thức làm cơ sở phân loại và lấy mục đích nói làm tên gọi, câu xét theo mục đích nói được chia thành bốn kiểu sau đây: câu trình bày, câu nghi vấn, câu cầu khiến, câu cảm thán [5, tr.108-109] Và ở đây tác giả cũng quan tâm đến cảm thán một cách khái lược, song cũng chỉ với tư cách là một kiểu câu chứ chưa phải là một hành động ngôn từ

Tác giả Cao Xuân Hạo (1991) khẳng định đối với tiếng Việt căn cứ vào một số thuộc

tính về cấu trúc cú pháp có thể phân loại các câu ra làm hai loại lớn: câu trần thuật và câu nghi

vấn Tác giả cho rằng “câu cảm thán” chỉ là câu trần thuật có màu sắc cảm xúc được đánh

d ấu mà thôi [21, tr.384] Còn về những hành động ngôn từ, Tiếng Việt sơ thảo ngữ pháp chức năng liệt kê một bảng khá dài những hành động ngôn trung trong đó có kể đến than phiền và

m ừng vốn là những hành động cảm thán cụ thể và có đề cập đến câu nghi vấn có giá trị cảm

thán [21, tr.388- 389, 412] Như vậy trong quan điểm của Cao Xuân Hạo, mặc dù trình bày không thật chi tiết, nhưng chúng ta thấy có sự tách bạch giữa hai khái niệm: câu cảm thán và hành động cảm thán

Nguyễn Thị Lương (2005) quan tâm đến cả hai vấn đề: hành động cảm thán và câu cảm thán Tác giả có viết: Trong hoạt động giao tiếp, con người sử dụng rất nhiều hoạt động nói

tr ực tiếp như: trần thuật, hỏi, cầu khiến, cảm thán, hứa, dọa, thề, khen, chê, thách, đố,… Mỗi

Trang 11

hành động như vậy đều được thực hiện bằng những kiểu câu có hình thức, chức năng phù hợp

v ới đích ở lời của chúng Trong số các hành động nói, thực tế cho thấy, các hành động trần thu ật, hỏi, cầu khiến, cảm thán, khẳng định, phủ định được sử dụng nhiều hơn cả trong hoạt động giao tiếp Phương tiện ngôn ngữ để thực hiện các hành động đó là các kiểu câu tương ứng: câu trần thuật, câu hỏi, câu cầu khiến, câu cảm thán và câu phủ định [30, tr.190-191]

Tuy nhiên phần chi tiết về cảm thán mà tác giả đề cập là câu cảm thán

Nguyễn Thiện Giáp (2008) thì gián tiếp đề cập đến hành động cảm thán thông qua nhận

định Ngữ pháp truyền thống khi nghiên cứu các câu phân loại theo mục đích nói thì thực tế đã

nghiên c ứu các biểu thức ngôn hành của những hành động ngôn từ tương ứng [17, tr.388]

Riêng về cảm thán, tác giả chỉ nói đến một số cách thức để tạo câu cảm thán (thán từ, tình thái

chịu)… Đỗ Hữu Châu, Đỗ Hùng Việt trong Giáo trình Ngữ dụng học có đoạn: Ngữ pháp

TND (ti ền ngữ dụng- chúng tôi chú thích) chia theo mục đích nói căn cứ vào đặc điểm hình

th ức bốn kiểu câu: trần thuật, hỏi, cầu khiến, cảm thán (có tác giả thêm: phủ định) Thực ra,

b ốn kiểu câu này chỉ là bốn biểu thức ngữ vi của bốn hành động ở lời thường gặp Vì số lượng hành động ở lời lớn hơn nhiều nên số lượng các biểu thức ngữ vi cũng lớn hơn bốn (hoặc năm) kiểu câu của ngữ pháp TND rất nhiều [10, tr 73]

Như vậy, theo quan điểm ngữ dụng học, cảm thán là một hành động ngôn từ Các tác

giả theo quan điểm này trong Việt ngữ học đã dựa trên lí thuyết hành động ngôn từ của J.Austin và J.Searle đã xây dựng những tiền đề lí luận cơ bản cho việc nghiên cứu các hành động ngôn từ trong tiếng Việt

Ngoài ra còn có một số bài viết trên các tạp chí chuyên ngành có đề cập đến câu cảm

thán, hành động cảm thán, như: Nhận xét về đặc điểm ngữ nghĩa của một kiểu câu tiếng Việt

của Lê Quang Thiêm (1985) [44], Một số hình thức hỏi biểu thức cảm thán trong tiếng Việt

của Nguyễn Thị Hồng Ngọc (2003) [34], An ủi- lời hồi đáp tích cực cho hành vi cảm thán và

Hành vi c ảm thán gián tiếp của Hà Thị Hải Yến (2001) (2004) [51][52], Cách sử dụng từ ngữ

c ảm thán trong truyện Kiều của Phạm Thị Kim Thoa (2009) [45]

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là Hành động cảm thán, nghĩa là như từ đầu đã xác

định, khuynh hướng chúng tôi lựa chọn và lấy làm cơ sở lí luận là lí thuyết hành động ngôn từ

Trang 12

của ngữ dụng học Chúng tôi cho rằng cảm thán là một nhu cầu có thực trong giao tiếp, và để

thực hiện nhu cầu đó con người có thể sử dụng nhiều phương tiện khác nhau, trong đó chủ yếu

là ngôn từ Nói khác đi cảm thán là một hành động ngôn từ, một hành động ngôn từ độc lập và

có tư cách ngang bằng với các hành động ngôn từ khác

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Hành động cảm thán trong tiếng Việt thể hiện nhiều giá trị ở lời cụ thể khác nhau, như: than phiền, rên rỉ, mừng, vui, sướng, trầm trồ… Giữa các hành động ấy, điểm khác nhau cơ

bản chính là tình cảm, cảm xúc của người nói được thể hiện Để tạo được sự đa dạng ấy, tiếng

Việt có thể sử dụng nhiều phương thức biểu đạt khác nhau Trong giới hạn luận văn, chúng tôi dành phần lớn sự quan tâm cho các phương thức ấy Chúng tôi tiếp nhận và vận dụng những

kết quả nghiên cứu của ngôn ngữ học về vấn đề cảm thán để từ đó đặc trưng hóa các phương

thức thể hiện hành động cảm thán trong tiếng Việt Cụ thể là:

- Phương thức thể hiện trực tiếp hành động cảm thán trong tiếng Việt

- Phương thức thể hiện gián tiếp hành động cảm thán trong tiếng Việt

4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu

4.1 Phương pháp nghiên cứu

Thực hiện đề tài này, ngoài những phương pháp, thủ pháp nghiên cứu khoa học chung

như thu thập, phân loại, khảo sát ngữ liệu,…luận văn sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp phân tích ngữ nghĩa- ngữ dụng kết hợp với phân tích ngữ nghĩa- cú pháp của các biểu thức biểu đạt các loại hành động cảm thán chủ yếu trong tiếng Việt

- Phương pháp miêu tả: được dùng để khảo sát, miêu tả các loại hành động cảm thán chủ yếu

và những phương thức thể hiện chúng trong tiếng Việt

- Phương pháp thống kê: để định lượng các phương tiện thể hiện các hành động cảm thán chủ

yếu trong tiếng Việt

4.2 Ngu ồn ngữ liệu

Các ngữ liệu được khảo sát và trình bày trong luận văn được chúng tôi thu thập từ lời ăn

tiếng nói hàng ngày và trong một số tác phẩm văn chương Việt Nam

5 C ấu trúc luận văn

Ngoài phần Dẫn nhập, Kết luận, Phần Nội dung chính của luận văn gồm hai chương như sau:

Trang 13

Chương 1: Tổng quan về hành động ngôn từ và hành động cảm thán

Trong chương này, chúng tôi trình bày những nội dung cơ bản về hành động ngôn từ có liên quan trực tiếp đến đối tượng nghiên cứu của luận văn như: khái niệm, phân loại hành động ngôn từ, hành động ở lời,… ; bên cạnh đó là những vấn đề cốt yếu nhất về hành động cảm thán: khái niệm, đặc điểm, phân loại

Chương 2: Phương thức thể hiện hành động cảm thán trong tiếng Việt

Ở chương hai, luận văn tập trung khảo sát, miêu tả các phương tiện thể hiện hành động

cảm thán trong tiếng Việt Đó là các phương thức thể hiện trực tiếp như từ và tổ hợp từ có ý nghĩa cảm thán chuyên biệt, từ và tổ hợp từ cảm thán không chuyên biệt, các kết cấu biểu đạt ý nghĩa cảm thán, ngữ điệu biểu thị ý nghĩa cảm thán; các phương thức gián tiếp thể hiện hành động cảm thán như sử dụng hình thức hỏi, hình thức thông báo

Trang 14

Thuật ngữ hành động ngôn từ (speech act) do nhà triết học Anh là J.Austin khởi xướng

và được một nhà triết học khác là J.Searle phát triển Các tác giả này nhận ra rằng ngôn ngữ không chỉ được dùng để thông báo hoặc miêu tả cái gì đó mà còn được dùng để thực hiện các hành động Chẳng hạn khi ai đó nói “Tôi cảm ơn…”, “Tôi xin lỗi…” thì những phát ngôn đó

đã thực hiện hành động “cảm ơn” và “xin lỗi” Tương tự ta có thể có các hành động: đề nghị,

bác b ỏ, tuyên bố, mời mọc, ra lệnh… Các hành động thực hiện bằng lời nói được gọi là hành động ngôn từ Chúng ta chỉ có thể nhận diện ra hành động ngôn từ do một phát ngôn nào đó

thực hiện khi chúng ta biết được ngữ cảnh mà phát ngôn đó diễn ra Hành động ngôn từ chính

ý định về mặt chức năng của một phát ngôn

1.2 Nh ững hành động ngôn từ

Trong giao tiếp, mỗi phát ngôn được tạo ra thường có 3 loại hành động

- Hành động tạo lời (locutionary act )

Hành động tạo lời là hành động cơ sở của phát ngôn Đó là hành động được thực hiện bởi

sự vận động của các cơ quan phát âm (hoặc cử động tay để tạo ra các nét chữ) vận dụng các từ

và kết hợp các từ theo quan hệ cú pháp thích hợp thành các câu…Nhờ vào hành động tạo lời, chúng ta hình thành nên các biểu thức có nghĩa

Nếu gặp một trở ngại nào đó ở cơ quan phát âm hoặc không tìm ra từ thích hợp, hoặc không nắm được các quan hệ cú pháp, cách thức tổ chức các biểu thức của một ngôn ngữ thì chúng ta không thực hiện được hoặc thực hiện không hoàn chỉnh hành động tạo lời

- Hành động ở lời ( illocutionary act )

Đây là hành động mà đích của nó nằm ngay trong việc tạo nên phát ngôn được nói ra (viết ra) Chính cái đích này phân biệt các hành động ở lời với nhau Hành động tại lời hỏi có đích là bày tỏ mong muốn được giải đáp điều người nói chưa rõ nên khác hành động ở lời hứa

vì hứa có mục đích là (người nói) tự ràng buộc mình vào một hành động sẽ thực hiện trong

tương lai

Đích của hành động ở lời được gọi là đích ở lời nếu đích đó được thỏa mãn thì ta có

hiệu quả ở lời

Trang 15

Dấu hiệu của hiệu quả ở lời là lời hồi đáp của người tiếp nhận hành động tại lời (người nghe, người đọc) Cũng có những hành động ở lời có hiệu quả là một hành động mượn lời vật

- Hành động mượn lời ( perlocutionary act )

Hành động mượn lời khi thực hiện một phát ngôn là hành động nhằm gây ra những biến đổi trong nhận thức, trong tâm lí, trong hành động vật lí có thể quan sát được, gây ra một tác

động nào đấy đối với ngữ cảnh Giả sử A tạo ra phát ngôn “Trời nóng quá!” thì hành động tạo

lời của câu này là hành động phát ra câu đó với những từ ngữ có nghĩa và được sắp xếp theo

một trình tự nhất định, hành động ở lời của câu này là một lời than về thời tiết “trời nóng” tại

thời điểm phát ngôn, hành động mượn lời có thể là hành động bật quạt (mở cửa) của người nghe hoặc chỉ lặng yên không thực hiện yêu cầu đó

Ba thuật ngữ locutionary act, illcutionary act, và perlocutionary act được Hoàng Phê

dịch là hành động phát ngôn, hành động dĩ ngôn và hành động dụng ngôn; Cao Xuân Hạo dịch

là hành động tạo ngôn, hành động ngôn trung và hành động xuyên ngôn; Nguyễn Đức Dân

dịch là hành vi tạo lời, hành vi ở lời và hành vi mượn lời Chúng tôi sử dụng cách dịch của tác

giả Đỗ Hữu Châu

Ba loại hành động: hành động tạo lời, hành động ở lời, hành động mượn lời được thực

hiện theo cách thích hợp khi tạo ra một phát ngôn

1.3 Hà nh động ở lời

1.3.1 Phân lo ại hành động ở lời

Có hai hướng phân loại hành động ở lời: một của J.Austin và một của J.Searle Ở đây chúng tôi xin trình bày kết quả phân loại của J.Searle J.Searle đã phân ra 5 kiểu cơ bản của

hành động tại lời như sau:

- Hành động tuyên bố (declaration)

Hành động tuyên bố là hành động người nói thực hiện nhằm làm thay đổi địa vị hoặc

điều kiện bên ngoài của một đối tượng hoặc hoàn cảnh chỉ bằng cách tạo ra phát ngôn, như: từ

b ỏ, đặt tên, sa thải, khai mạc, … Đặc trưng của hành động tuyên bố là từ ngữ làm thay đổi

thực tại, người nói gây ra tình huống

Trang 16

- Hành động biểu kiến (representative)

Hành động biểu kiến là hành động thể hiện cái mà người nói tin tưởng Hành động này

thể hiện ở những câu mà người nói phải chịu trách nhiệm về giá tri chân lí mà mệnh đề được

biểu đạt Nhóm biểu kiến có thể bao gồm các hành động như: khẳng định, quả quyết, phỏng

đoán, miêu tả, thông báo, từ chối, tán thành, phản đối, giả định, gợi ý, tranh cãi, hưởng ứng,

gi ải thích,… Đặc trưng của hành động biểu kiến là: làm từ ngữ khớp với thực tại, người nói tin

vào tình huống

- Hành động biểu cảm (expressive)

Với hành động này, người nói thể hiện trạng thái tâm lí của mình đối với sự tình trong

nội dung mệnh đề, như xin lỗi, phàn nàn, chúc mừng, cảm ơn, hoan nghênh Đặc trưng của hành động biểu cảm là: làm từ ngữ khớp với thực tại, người nói cảm thấy tình huống

- Hành động cầu khiến (directive)

Đây là hành động mà người nói nhằm làm cho người nghe thực hiện điều gì đó, chẳng hạn:

h ỏi, yêu cầu, ra lệnh, nài ép, thỉnh cầu Đặc trưng của hành động cầu khiến là làm thực tại

khớp với từ ngữ, người nói muốn tình huống xảy ra

- Hành động ước kết (commissive)

Người nói cam kết một hành động tương lai nào đó, chẳng hạn: bảo đảm, hứa hẹn, cam

đoan, thề, tuyên thệ Đặc trưng của hành động ước kết là làm thực tại khớp với từ ngữ, người

nói dự định tình huống

J Searle phân loại hành động trên dựa vào các tiêu chí cơ bản sau:

- Đích ở lời:

Đích ở lời của một hành động ngôn từ là mục đích của hành động đó Chẳng hạn đích ở

lời của hành động hứa hẹn là tự gán trách nhiệm tinh thần về sự thực hiện việc gì Đó là điều

kiện thiết yếu của hành động hứa hẹn Đích ở lời không trùng với hiệu lực ở lời Hai hành

động khác nhau có thể cùng một đích ở lời nhưng hiệu lực ở lời lại khác nhau J.Searle nêu ví

dụ sau: Hai hành động ra lệnh và thỉnh cầu đều cùng một đích ở lời là người nghe sẽ nhận

thực hiện (hoặc không thực hiện) một việc gì đó nhưng hiệu lực ở lời lại khác nhau, ra lệnh là

bắt buộc còn thỉnh cầu thì chỉ kêu gọi sự thiện chí của người nghe mà thôi

- Hướng khớp ghép giữa từ ngữ với thực tại:

Hướng khớp ghép là mối quan hệ giữa từ ngữ và thực tại mà hành động đề ra Hướng

khớp ghép có thể được xây dựng theo hai chiều: từ từ ngữ tới thực tại hoặc từ thực tại tới từ

ngữ Chẳng hạn trong cầu khiến hoặc trong ước kết, hướng khớp ghép là từ từ ngữ tới thực tại, nghĩa là lời có trước, sau đó hành động mới thực hiện sao cho phù hợp với lời Trong hành

Trang 17

động biểu kiến và biểu cảm, thì thực tại có trước, lời nói phải làm sao cho phù hợp với thực

tại

- Trạng thái tâm lí được thể hiện :

Mỗi kiểu hành động ở lời ứng với sự thể hiện trạng thái tâm lí nhất định Trong hành động biểu kiến, trạng thái tâm lí của người nói là phải có lòng tin vào mệnh đề được nói ra

Với cầu khiến, trạng thái tâm lí là mong muốn người nghe thực hiện hành động Trong hành động biểu cảm, trạng thái tâm lí phụ thuộc vào mục đích của hành động ngôn từ cụ thể (thể

hiện sự vui sướng, mừng rỡ hay thất vọng v.v) Trong hành động ước kết, trạng thái tâm lí của người nói là định làm cái gì đó

Mỗi hành động ở lời muốn thực hiện được phải có những cơ sở, những ràng buộc nhất định Cảm thán là một hành động ở lời thuộc loại hành động biểu cảm Cho nên tiếp sau đây, chúng tôi xin đề cập đến những điều kiện sử dụng các hành động ở lời

1.3.2 Các điều kiện sử dụng hành động ở lời

Con người ta khi thực hiện bất cứ hành động nào cũng phải hội đủ những điều kiện nhất định mới có được kết quả như mong muốn, dù đó là hành động vật lí giản đơn như rọc giấy (có giấy, có dao (đủ sắc), có nhu cầu rọc giấy…) Vì cũng là hành động, hơn nữa lại là hành động xã hội nên hành động ở lời cũng có những điều kiện thích hợp mới thực hiện được và

mới có hiệu quả Mỗi hành động ở lời: kêu, chào, xin lỗi, mời, cầu xin, hứa, bảo,…đều có điều

kiện riêng

Trong những điều kiện riêng của mỗi hoạt động ở lời khác nhau, J.Austin và J.Searle đã tìm ra những điểm chung mà J.Austin gọi chúng là những điều kiện thuận lợi (felicity conditions)

- Điều kiện nội dung mệnh đề: Đây là điều kiện liên quan đến cấu trúc quan hệ ngữ

nghĩa của nội dung mệnh đề Điều kiện này chỉ ra nội dung hoạt động ở lời, chẳng hạn đối với

hành động hứa và hành động cảnh báo thì nội dung của phát ngôn phải nói về một sự kiện tương lai, hành động hứa đòi hỏi cái sự kiện tương lai đó sẽ là hành động của người nói

- Điều kiện chuẩn bị: Điều kiện này liên quan tới những hiểu biết của người thực hiện

hoạt động về những tri thức nền của người tiếp nhận hành động, về quyền lợi, về trách nhiệm,

về năng lực tinh thần và vật chất của người tiếp nhận hành động Cũng thuộc điều kiện chuẩn

bị là lợi ích, trách nhiệm, năng lực vật chất, tinh thần cũng như quyền lực của người nói đối

với hành động ở lời mà mình đưa ra

Trang 18

- Điều kiện tâm lí: Đây là điều kiện chỉ ra trạng thái tâm lí của người thực hiện hành động ở lời thích hợp với hành động ở lời mà mình đưa ra Điều kiện tâm lí còn có nghĩa là người nói thực sự chân thành mong đợi hiệu quả ở lời của hành động ở lời mà mình thực hiện

- Điều kiện căn bản: Theo điều kiện này thì người thực hiện hành động ở lời nào đó khi phát ngôn ra biểu thức ngôn hành tương ứng bị ràng buộc ngay vào kiểu trách nhiệm và hành

động ở lời tạo ra biểu thức ngôn hành đó đòi hỏi Chẳng hạn, khi hứa hẹn bằng lời, người nói

đã gắn vào mình trách nhiệm thực hiện lời hứa Khi ra lệnh, trách nhiệm và sự ràng buộc lại

gắn vào người nghe, nghĩa là người nghe phải thực hiện nó hoặc bị ràng buộc phải thực hiện

1.3.3 Phương thức thực hiện các hành động ở lời

Hành động ở lời là đối tượng nghiên cứu chủ yếu của Ngữ dụng học Từ đây luận văn xin dùng thuật ngữ hành động ngôn từ để chỉ hành động ở lời

Các hành động ngôn từ có thể được thực hiện bằng hai phương thức: trực tiếp và gián

tiếp, được gọi tên tương ứng là hành động ngôn từ trực tiếp và hành động ngôn từ gián tiếp

- Hành động ngôn từ trực tiếp:

Hành động ngôn từ trực tiếp là hành động mà người nghe có thể nhận diện ra đích ở lời

dựa vào chính câu chữ biểu thị chúng (không phải suy ý, không phải dựa vào ngữ cảnh) Trong trường hợp này, hình thức từ ngữ và mục đích nói có sự thống nhất Hành động ngôn từ trực

tiếp còn được gọi là hành động câu chữ

Các dấu hiệu nhận diện hành động ngôn từ trực tiếp:

+ Dựa vào các động từ ngôn hành (động từ ngữ vi)

Động từ ngôn hành là những động từ nói năng mà khi nói ra ở ngôi thứ nhất, thời hiện

tại (bây giờ) và không có bất kì một yếu tố hình thái nào liên quan tới thái độ, cách đánh giá…

của người nói, thì người nói thực hiện luôn cái hành động ở lời do động từ đó biểu thị

Ví dụ:

(2) Tôi khuyên các em đừng nên học tủ

(khuyên là động từ ngôn hành)

Tôi đã khuyên các em đừng nên học tủ rồi mà

(khuyên không còn là động từ ngôn hành vì có từ tình thái đã cho biết hành động khuyên được nói đến ở đây chủ thể phát ngôn thực hiện trong quá khứ)

+ Dựa vào hình thức của câu

Câu hỏi thường có các đại từ nghi vấn ai, gì nào … phụ từ nghi vấn, quan hệ từ lựa

chọn hay, …đã…chưa ,…, các tiểu từ hình thái dùng để hỏi: à, ơi, nhỉ, nhé… và ngữ điệu hỏi,

Trang 19

hành động cầu khiến thường được thực hiện bằng hình thức câu có chứa phụ từ mệnh lệnh

hãy, đừng, chớ, các tiểu từ đi, thôi, nào…và ngữ điều cầu khiến; hành động cảm thán cũng có

những dấu hiệu khu biệt về hình thức, chúng tôi sẽ miêu tả cụ thể ở chương sau

- Hành động ngôn từ gián tiếp

Hành động ngôn từ gián tiếp là hành động ngôn từ được thực hiện bằng cách sử dụng các phương tiện biểu đạt của hành động ngôn từ này để đạt tới hiệu lực ở lời của một hành động ngôn từ khác

Ví dụ: Trong tập quán giao tiếp của người Việt ta thường gặp những hành động chào được

thực hiện gián tiếp bằng hình thức hỏi, như “Bác đi đâu đấy?”, “Mới về à?”, “Đến sớm

v ậy?”…

Để nhận diện hành động ngôn từ gián tiếp người ta thường nhắc tới bốn cơ sở sau:

- Hoàn cảnh giao tiếp

- Các thao tác suy ý

- Các ước định xã hội (hay các lẽ thường)

- Các quy tắc điều khiển hành động ngôn ngữ

Các hành động ngôn từ trực tiếp thường được biểu thị bằng các biểu thức ngôn hành tường minh, còn trong hành động ngôn từ gián tiếp là các biểu thức ngôn hành nguyên cấp

Biểu thức ngôn hành tường minh là biểu thức ngôn hành có động từ được dùng trong chức năng ngôn hành (động từ nói năng thực hiện hành động tại lời ngay khi phát âm) Biểu thức ngôn hành nguyên cấp là biểu thức tuy có hiệu lực ở lời nhưng không có động từ ngôn hành

Sở dĩ chúng tôi đề cập đến hành động ngôn từ trực tiếp và gián tiếp là vì hành động cảm thán trong tiếng Việt cũng được thực hiện bằng cả hai phương thức này

1.4 M ối quan hệ giữa cảm thán và tình thái trong tiếng Việt

Thường thì khi đề cập đến cảm thán người ta hay liên tưởng đến khái niệm tình thái Đôi khi chúng ta còn gặp quan điểm cho rằng tình thái và cảm thán giống nhau, cùng đều thể

hiện tình cảm, cảm xúc Quả thực, cảm thán và tình thái có quan hệ khá gắn bó, tuy nhiên đây

là hai khái niệm khá tách bạch

Khái niệm tình thái trong ngôn ngữ học hiện nay được các tác giả dùng để chỉ một

phạm trù ngữ nghĩa rộng lớn, xoay quanh mối quan hệ giữa người nói, nội dung miêu tả trong phát ngôn và thực tế Hiện nay, có nhiều cách định nghĩa khác nhau về tình thái trong ngôn

ngữ học

Vinogradov xem tình thái như một phạm trù ngữ pháp độc lập, tồn tại song song với

phạm trù vị tính, biểu thị những mối quan hệ khác nhau của thông báo với thực tế Tác giả cho

Trang 20

rằng: “Mỗi câu đều mang một ý nghĩa tình thái như dấu hiệu cấu trúc cơ bản, tức chỉ ra quan

h ệ đối với hiện thực” Nội dung thông báo, có thể được người nói hiểu như là hiện thực hay

phi hiện thực, là đã tồn tại trong quá khứ, trong hiện tại, hay là điều sẽ được thực hiện trong tương lai, là điều mà người nói mong muốn hay đòi hỏi với ai đó…

O.B Xirotinina thì cho rằng tình thái nằm trong vị tính của câu Đối với các ngôn ngữ

biến hình thì “Thời tính, tình thái vị tính và ngôi tính nằm trong cấu trúc vị tính và cùng nhau

t ạo nên cái gọi là vị tính mà thiếu nó thì không thể có thông báo”

Với Gak thì tình thái phản ánh mối quan hệ của người nói đối với nội dung phát ngôn

và nội dung phát ngôn đối với thực tế Tình thái biểu hiện nhân tố chủ quan của phát ngôn, đó

là sự khúc xạ của một phân đoạn thực tế qua nhận thức của người nói (Gak, 1986)

Ngoài ra còn có một số định nghĩa khác như:

Tình thái là phạm trù ngữ nghĩa chức năng thể hiện các dạng quan hệ khác nhau của phát ngôn với thực tế cũng như các dạng đánh giá chủ quan khác nhau đối với điều được thông báo (Liapol, 1990)

Tình thái là thái độ của người nói đối với nội dung mệnh đề mà câu biểu thị hay cái sự tình mà mệnh đề đó miêu tả (Lyons, 1977)

Những định nghĩa trên đây về tình thái chúng tôi kế thừa từ kết quả nghiên cứu của tác

giả Nguyễn Văn Hiệp trong Cơ sở ngữ nghĩa phân tích cú pháp [23, tr84-85]

Qua những nghiên cứu khá bao quát và tỉ mỉ NguyễnVăn Hiệp cũng nhận thấy rằng: tình thái, theo một định nghĩa được rất nhiều nhà nghiên cứu nhất trí, đó là “quan điểm hoặc

thái độ của người nói đối với mệnh đề mà câu nói biểu thị hoặc các tình huống mà mệnh đề miêu t ả” (Lyons,1977)- Dẫn theo [23, tr86], và cách sử dụng thuật ngữ đối lập tình thái và nội

dung mệnh đề có lẽ là cách dùng phổ biến nhất hiện nay

Chẳng hạn, cùng một một nội dung sự tình “Tuấn học rất giỏi” người ta có thể thể hiện

những nội dung tình thái rất khác nhau:

(3) Tuấn từng học giỏi

(4) Có lẽ Tuấn học giỏi

(5) Gì thì gì, Tuấn là người học giỏi

(6) Có phải Tuấn học giỏi?

(7) Tuấn không bao giờ là người học giỏi

Trang 21

bằng chứng nào đó mà người nói có được, hoặc dựa trên một cơ sở suy luận nào đó Ở đây, người nói không đảm bảo hoàn toàn, không cam kết hoàn toàn về tính chân thực, tính thực tế

của việc Tuấn học giỏi Trong khi đó, ở phát ngôn (5), người nói cho rằng với những bằng

chứng hay lí lẽ mà anh ta có được thì việc Tuấn học giỏi là một điều đã là hiện thực, bất chấp

mọi bằng chứng, lí lẽ mà người khác có thể đưa ra nhằm phủ nhận Còn trong phát ngôn (7), người nói muốn thể hiện sự thông báo của anh ta là một sự chắc chắn …

Tình thái trong ngôn ngữ học có thể được hiểu theo hai cách: theo nghĩa hẹp và theo nghĩa rộng

Theo nghĩa hẹp, tình thái chỉ xoay quanh các tham số về tính tất yếu, tính khả năng và

tính hiện thực trên cơ sở nhận thức hay đạo nghĩa, và tất cả được hiểu theo góc độ khách quan (tình thái trong logic) hay chủ quan (tình thái trong ngôn ngữ)

Hiểu theo theo nghĩa rộng nhất, khái niệm tình thái trong ngôn ngữ học sẽ bao hàm

những ý nghĩa rất khác nhau Đó là những kiểu cơ bản sau đây:

- Các ý nghĩa khác nhau thể hiện sự đánh giá, thái độ, lập trường của người nói đối với nội dung thông báo: người nói đánh giá nội dung thông báo về độ tin cậy, về tính hợp pháp của hành động, xem nó là điều tích cực (mong muốn) hay tiêu cực (không mong muốn), là điều bất

ngờ ngoài chờ đợi hay bình thường, đánh giá về tính khả năng, tính hiện thực của điều được thông báo…

- Các ý nghĩa đối lập giữa khẳng định và phủ định đối với sự tồn tại của sự tình, liên quan đến khung ngữ nghĩa- ngữ pháp của vị từ cũng như mối quan hệ giữa chủ thể được nói đến trong câu và vị từ (ý nghĩa về thời, thể và các ý nghĩa được thể hiện bằng vị từ tình thái cho biết chủ

thể có ý định, khả năng, mong muốn thực hiện hành động…)

- Các ý nghĩa phản ánh các đặc trưng khác của phát ngôn và hành động phát ngôn có liên quan đến ngữ cảnh xét theo quan điểm đánh giá của người nói Chẳng hạn như sự đánh giá của người nói về mức độ biểu hiện của người nghe, sự đánh giá của người nói đối với các quan điểm, ý kiến khác…

- Các ý kiến thể hiện phát ngôn của người nói, hay nói theo lý thuyết hành động ngôn từ, là thể

hiện kiểu mục đích tại lời mà người nói thực hiện (xác nhận, bác bỏ, thề, hỏi, ra lệnh, yêu cầu, khuyên, mời,…) xét ở bình diện liên nhân, thể hiện sự tác động qua lại giữa người nói và người đối thoại

Tác giả Nguyễn Văn Hiệp cũng đã nhận định rằng: “Phạm trù tình thái bao gồm tất cả

nh ững kiểu ý nghĩa gắn với sự thực tại hóa câu, biến các nội dung mệnh đề ở thế tiềm năng trở thành các phát ngôn trong giao ti ếp.” [23, tr.92]

Trang 22

Ở Việt Nam, quan niệm rộng về tình thái như trên đây có thể thấy ở: Đỗ Hữu Châu, Hoàng Tuệ, Cao Xuân Hạo và nhiều tác giả khác về sau như Lê Đông, Phạm Hùng Việt, Nguyễn Văn Hiệp,…

Tiếng Việt có các phương tiện biểu thị của tình thái cụ thể như sau:

- Các phó từ làm thành phần phụ của ngữ vị từ: đã, sẽ, đang, từng, vừa, mới,…

- Các vị từ tình thái làm chính tố trong ngữ đoạn vị từ: toan, định, cố, muốn, đành, được, bị,

- Các vị từ ngôn hành trong kiểu câu ngôn hành (với những điều kiện về ngôi, về chỉ tố

thời,…) như: ra lệnh, van, xin, đề nghị, yêu cầu,…

- Các thán từ: ôi, eo ôi, chao ôi, ồ,…

- Các tiểu từ tình thái cuối câu và tổ hợp từ tương đương: à, ư, nhỉ, nhé, thôi, chứ, đi, mất, thật,

cũng nên, lại còn, thì chết,…

- Các vị từ đánh giá và tổ hợp có tính đánh giá: may (là), may một cái (là), đáng buồn (là),

đáng mừng (là), đáng tiếc (là),…

- Các trợ từ: đến, những, mỗi, ngay, cả, chính, đích thị, đã, chỉ, mới,

- Những đại từ nghi vấn được dùng trong những câu phủ định- bác bỏ (P làm gì? P thế nào

được?), các liên từ trong các câu hỏi (Hay P?, Hay là P?) (Trong đó, P là nội dung mệnh đề)

- Các từ ngữ chêm xen biểu thị tình thái: nó biết cóc gì, mua cha nó cho rồi, hỏi cái đếch gì,…

- Kiểu câu điều kiện, giả định: nếu…thì, giá…thì, cứ…thì,…

Nếu hiểu tình thái theo cách hiểu rộng nhất như tất cả những gì mà người nói thể hiện kèm theo nội dung mệnh đề khi thực hiện một hành động phát ngôn, thì cách hiểu như vậy cho phép ta đưa vào phạm vi tình thái một loạt những ý nghĩa rất khác nhau về “lập trường” của người nói (đánh giá về lượng, đánh giá về chủng loại, đánh giá về tính đáng mong muốn hay

không đáng mong muốn của điều được nói đến…) Tác giả Nguyễn Văn Hiệp cũng cho rằng:

“Nhìn bên ngoài, cách hi ểu về tình thái như vậy là quá rộng vì có thể gây khó khăn cho việc khái quát hóa, t ổng kết tình thái, song trong thực tế đây lại là cách hiểu thích hợp để xác lập

m ột khung lý thuyết có hiệu lực để miêu tả những trợ từ, những tiểu từ tình thái, đặc biệt khi chúng là nh ững phương tiện cực kì quan trọng để biểu thị tình thái trong một ngôn ngữ đơn

l ập, không biến đổi hình thái như tiếng Việt” [23, tr96]

Trang 23

Như vậy, với cách hiểu tình thái theo nghĩa rộng thì cảm thán là một phương diện biểu

hiện của tình thái, và trong các phương tiện biểu thị của tình thái trong tiếng Việt cũng có sự góp mặt của các thán từ- vốn là phương tiện đặc trưng của hành động cảm thán

1.5 Hành động cảm thán

1.5.1 Khái ni ệm hành động cảm thán

Hoàng Phê (2008) có định nghĩa về cảm thán như sau: Cảm thán là biểu lộ tình cảm,

c ảm xúc

- Cảm thán được nhìn nhận dưới góc độ là một kiểu câu trong quan niệm của ngữ pháp truyền

thống được thể hiện ở một số quan niệm tiêu biểu sau đây:

Theo tác giả Lê Văn Lý (1968), câu cảm thán là một câu diễn tả tình cảm xen lẫn vào

m ột ý tưởng như: vui, buồn, ngạc nhiên, đau đớn, lo sợ, tức giận, phẫn uất… [29, tr.188]

Nguyễn Kim Thản (1963) định nghĩa như sau: Câu cảm thán nhằm mục đích nói lên

các th ứ tình cảm, các trạng thái tinh thần của người nói (… ) nhờ những ngữ điệu ấy mà ta nói lên được những tình cảm như: vui mừng, sợ hãi, căm giận, âu yếm, nũng nịu, nói lên được

s ự ca tụng, tiếc rẻ, khiến trách, khinh bỉ, dằn dỗi, thờ ơ, miễn cưỡng … v.v [40, tr.264]

Diệp Quang Ban (1996) cho rằng câu cảm thán được dùng khi cần thể hiện một mức độ

nh ất định những tình cảm khác nhau, thái độ đánh giá, những trạng thái tinh thần khác thường của người nói đối với sự vật hay sự kiện mà câu nói đề cập hoặc ám chỉ [1, tr.237]

- Quan niệm ngữ dụng học:

Các tác giả Diệp Quang Ban ( 2004) (2008), Nguyễn Thị Lương (2005) miêu tả rõ nét hơn các tác giả cùng quan điểm về cảm thán song các tác giả này cũng chỉ dừng lại ở việc xem xét biểu hiện hình thức của hành động của ngôn từ này (tức câu cảm thán) mà thôi

Câu c ảm thán (hay câu cảm) là câu sử dụng các từ ngữ chuyên biệt để biểu thị những

c ảm xúc mạnh, đột ngột, có tính bộc phát tức thì của người nói thường dùng trong những ngôn

ng ữ sinh hoạt và trong ngôn ngữ văn chương [30, tr.190-191]

Nói chung cả quan điểm truyền thống và quan điểm ngữ dụng học đều có điểm thống

nhất trong quan niệm về cảm thán là về bộc lộ tình cảm, cảm xúc Tuy nhiên, nếu chỉ hiểu cảm thán là bộc lộ tình cảm, cảm xúc thì e rằng khó có sự khu biệt với các hành động ngôn từ khác (vì thực ra một phát ngôn bao giờ cũng gồm nội dung mệnh đề và nội dung tình thái ) Cho nên

cần thấy rằng cảm thán là hành động thể hiện tình cảm, cảm xúc trong những tình huống có

vấn đề, thường là bất ngờ, đột ngột, ngoài sự tiên liệu của người nói

Qua khảo sát lịch sử nghiên cứu vấn đề, chúng tôi nhận thấy rải rác ở một số những công trình nghiên cứu Việt ngữ thời gian gần đây đã có những định nghĩa về các hành động

Trang 24

ngôn từ được sử dụng phổ biến, như: trần thuật, hỏi, cầu khiến,…Ở đây, với việc định nghĩa khái niệm hành động cảm thán, chúng tôi cũng tham khảo quan điểm của các tác giả Đặng Thị

Hảo Tâm (2003) và Chu Thị Thanh Tâm (1995), Hà Thị Hải Yến (2004) trong những công trình nghiên cứu ít nhiều có liên quan đến hành động cảm thán Từ đó luận văn xin đưa ra định nghĩa như sau về hành động cảm thán:

C ảm thán (exclamation) là một hành động ngôn từ mà ở đó người nói bộc lộ tức thời tình c ảm, cảm xúc của mình trước một sự vật, hiện tượng nào đó có tác động lớn đến họ, gây

ra tr ạng thái tình cảm ở mức độ không kìm nén nổi buộc phải nói ra

1.5.2 Đặc điểm của hành động cảm thán

Hành động cảm thán thuộc lớp hành động biểu cảm, vốn là hành động người nói sử

dụng để thể hiện trạng thái tâm lí đối với sự tình (X) trong nội dung mệnh đề

Có thể nhận diện hành động cảm thán qua những đặc điểm sau:

- Được phát ra đồng thời với sự xuất hiện của X trong cuộc thoại

Thời gian X có thể xuất hiện có thể trùng với thời điểm phát ra hành động cảm thán

Ví dụ:

(9) (B vô ý giẫm lên chân A)

A: Ô hay, đi đứng thế à?

B: Xin lỗi, tôi vội quá!

Cũng có khi X đã xảy ra rồi, người nói thực hiện một hành động cảm thán khi nhắc lại,

nhớ lại Thời gian xuất hiện hay tiếp xúc với X có thể xê dịch ít nhiều, trước hoặc sau thời gian

hiện tại hội thoại (thậm chí khi X đã xảy ra trước hoặc sau một vài năm)

Ví dụ:

(10) Ôi chao, tự nhiên thèm món canh cua ngày xưa mẹ nấu quá!

Từ ngày xưa xuất hiện trong phát ngôn cho thấy X thuộc về quá khứ

- Nội dung của hành động cảm thán là bộc lộ một xúc cảm, một trạng thái tâm lí, như: vui, sợ,

Trang 25

biết trạng thái cảm xúc của mình thì đó là trường hợp họ muốn dùng hành động cảm thán để đạt hiệu lực tại lời của một hành động ngôn từ khác

thấp, kéo dài thường là lời than thở, rên rỉ,….), hoặc các yếu tố phi ngôn ngữ như nét mặt, thái

độ, dáng điệu,… để nhận ra thái độ, tâm trạng, tình cảm cụ thể mà người nói muốn bộc lộ

1.5.3 Phân lo ại hành động cảm thán

Chúng tôi phân loại hành động cảm thán theo hai cách, với hai tiêu chí sau: theo đặc điểm cấu trúc của biểu thức ngôn hành cảm thán và theo thang độ cảm xúc của hành động cảm thán

3.3.1 Theo đặc điểm cấu trúc của biểu thức ngôn hành cảm thán

Hành vi cảm thán thường được biểu thị bởi các động từ: than, than thở, rên, la, reo,

tr ầm trồ, nức nở… Nhưng những động từ này đều mang chức năng miêu tả mà không phải

chức năng ngôn hành Ví dụ: Muốn thực hiện hành động trầm trồ, người nói không thể dùng phát ngôn “Tôi tr ầm trồ vẻ tráng lệ của tòa lâu đài.” mà phải bằng cách khác, có thể là “Ôi, tòa

lâu đài đẹp quá!” hay “Tòa lâu đài mới đẹp làm sao!” Cho nên nói biểu thức ngôn hành cảm thán là nói tới biểu thức ngôn hành nguyên cấp mà không phải biểu thức ngữ vi tường minh Theo đó, xét về cấu trúc hình thức, hành động cảm thán được chia làm hai loại: hành động cảm thán không có cấu trúc cú pháp biểu thị nội dung mệnh đề và hành động cảm thán có cấu trúc

cú pháp biểu thị nội dung mệnh đề

- Hành động cảm thán không có cấu trúc biểu thị nội dung mệnh đề

Tạo nên dạng hành động này là những từ/cụm từ tự thân biểu lộ được tình cảm, trạng thái cảm xúc quá mức, cực đoan của chủ thể biểu cảm, như: ối, ối giời ơi, trời ơi, trời đất ơi,…

Đây chính là các IFIDs (illocutionary force indicating devices- Phương tiện chỉ dẫn

hiệu lực ở lời) của biểu thức ngôn hành nguyên cấp của hành động cảm thán IFIDs này đồng

thời là biểu thức ngôn hành nguyên cấp cảm thán

Ví dụ:

(14)Trời ơi!

Trang 26

(15) Ối giời ơi!

Dẫu các IFIDs này được coi là biểu thức ngôn hành nguyên cấp cảm thán nhưng trên

thực tế chúng ít khi xuất hiện một mình mà thường đi cùng với một thành phần mở rộng có

cấu tạo là một biểu thức ngôn hành thuộc về những hành động khác nhau (sẽ được trình bày ở

phần sau)

- H ành động cảm thán có cấu trúc biểu thị nội dung mệnh đề

Hành động cảm thán kiểu này có hai dạng tồn tại:

− Dạng thứ nhất: Có sự kết hợp giữa IFIDs với các biểu thức miêu tả

Ví dụ:

(16) Giời ạ! Sao mà nóng thế!

− Dạng thứ hai: chỉ có biểu thức miêu tả mà không có IFIDs đi kèm

Ví dụ:

(17) Mẹ ơi, con khát nước quá!

(18) Hạnh phúc thay khi được làm con của mẹ!

Cơ sở để nhận diện phát ngôn dạng thứ hai chính là các phụ từ chỉ mức độ, các trợ từ tình thái

Trong vai trò là các IFIDs, các từ/ cụm từ tự thân biểu lộ tình cảm, trạng thái cảm xúc luôn làm cho cảm xúc của chủ thể cảm thán được biểu hiện rõ ràng hơn, hiệu lực ở lời của hành động cảm thán cũng trở nên xác định hơn

Ví dụ:

So sánh hai phát ngôn sau:

(19a) Trăng hôm nay thật đẹp!

(19b) Chà, trăng hôm nay thật đẹp!

Phát ngôn (19a) có thể được hiểu là người nói muốn miêu tả hiện thực “trăng hôm nay thật

đẹp” cùng với sự thể hiện cảm xúc của mình về điều được nói tới, đó có thể là sự trầm trồ

cũng có thể là nỗi buồn, lời than thở vì hiện thực này gợi nhớ đến kỉ niệm không vui nào đó trong quá khứ Còn trong (19b), cũng là nội dung mệnh đề “trăng hôm nay thật đẹp” nhưng

nhờ có IFIDs là thán từ “chà” nên người nghe biết chắc chắn phát ngôn này là sự trầm trồ,

tấm tắc của người nói về điều được đề cập tới

3.3.2 Theo thang độ bộc lộ cảm xúc của hành động cảm thán

Có thể thấy cảm xúc, tâm trạng, thái độ được bộc lộ trong hành động cảm thán là rất đa

dạng, ứng với sự tinh tế những cung bậc khác nhau trong đời sống tình cảm của con người Cho nên, thực hiện phân loại theo tiêu chí này, chúng tôi chỉ nhóm họp những hành động cảm thán có màu sắc cảm xúc tương cận vào cùng một loại Cụ thể, như sau:

Trang 27

− Hành động cảm thán bộc lộ cảm xúc dương tính, tích cực, như: vui mừng, sung sướng, hạnh phúc, trầm trồ, tán thưởng, thích thú,…

Ví dụ:

(20) Chà chà, cá bay mà hấp ăn với đậu rồng là hết ý luôn!

(21) Trời đất ơi, thuốc gì mà hay quá chừng!

− Hành động cảm thán bộc lộ cảm xúc âm tính, tiêu cực: sợ hãi, chán nản, buồn phiền, đau đớn, thất vọng, thiếu tin tưởng,…

Ví dụ:

(22) Eo ơi, kiến bù nhọt cắn đau lắm!

(23) Ôi dào, người như vậy không thay đổi được đâu!

Sự phân loại trên đây của chúng tôi cũng mới chỉ dừng ở mức khái quát và có tính tương đối

Trang 28

C HƯƠNG 2: PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN HÀNH ĐỘNG CẢM

2 1 Phương thức sử dụng các phương tiện trực tiếp biểu thị ý nghĩa cảm thán

Theo J.Searle các hành động tại lời thường có những dấu hiệu chỉ dẫn được gọi là các phương tiện chỉ dẫn hiệu lực ở lời (IFIDs ) Đóng vai trò IFIDs là:

- Các kiểu kết cấu

Kết cấu ở đây bao gồm kiểu câu – như cách hiểu từ trước đến nay của ngữ pháp truyền

thống (chẳng hạn khi quan niệm về kết cấu của câu trần thuật, hỏi, cầu khiến, cảm thán) và cả

những kết cấu cụ thể ứng với từng hành động ở lời

Ví dụ: Thuộc kết cấu cầu khiến, tiếng Việt không chỉ là các mô hình quen thuộc: Hãy…,

đừng…, chớ…mà còn là các kết cấu: Làm ơn chuyển lá thư này cho cô ấy!, Phiền bác ngày

mai lại tới!, Đi nào!, Tiến hành thôi!…

Kết cấu biểu thị hành động cảm thán như: Đẹp quá! (lắm, cực kì, tuyệt vời, hết ý…) ,

đẹp ơi là đẹp,…Hoặc từ ngữ cảm thán kết hợp với biểu thức của hành động trình bày, hành

động hỏi như: Giời ơi là giời, có chồng con nhà nào thế này không?

- Những từ ngữ chuyên dùng trong các biểu thức ngôn hành

Những từ ngữ này dùng để tổ chức các kết cấu và là các dấu hiệu mà nhờ chúng, chúng

ta biết được hành động nào đang được thực hiện

Trong biểu thức ngôn hành của hành động hỏi, ta có thể thấy: có (đã)…không (chưa)?,

có ph ải…hay không ? ai, cái gì, bao giờ, mấy…; à, ư, nhỉ, như,…chăng; hay là những từ ngữ: hãy, đừng, chớ, hãy…đi; đừng…nữa, xin, làm ơn; hộ, cảm ơn; nào, thôi (đi nào, đi thôi…)

trong biểu thức ngôn hành cầu khiến Đó là các từ ngữ như: nên, không nên trong các biểu

thức ngôn hành khuyên, là các quán ngữ như: đi đằng đầu, chết không nhắm mắt,…thì trời tru

đất diệt, thì trời đánh thánh vật…trong các phát ngôn cam kết; hay những “lời chửi” cha (m ẹ)… , tiên sư (nhân)…, đồ (mặt)…, đồ (con)…, chết đi cho rồi…hoặc một số từ ngữ chuyên

dùng các biểu thức ngôn hành cảm thán là ôi, ô, ô hay, ối giời, a, à…thay, vô cùng, hết ý,…

- Ngữ điệu: Theo tác giả Đỗ Hữu Châu thì cần nghiên cứu ngữ điệu của các biểu thức ngôn hành hơn là ngữ điệu của câu, vì “cùng một tổ chức từ vựng, ngữ pháp cụ thể nếu được phát

âm v ới những ngữ điệu khác nhau sẽ cho các biểu thức ngữ vi khác nhau ứng với những hành

vi ở lời khác nhau” [10 , 94]

- Quan hệ giữa các thành tố trong cấu trúc vị từ-tham thể tạo nên nội dung mệnh đề được nêu trong biểu thức ngôn hành với những nhân tố của ngữ cảnh Các đặc tính ngữ nghĩa như tự

Trang 29

nguyện hay cưỡng bức, tích cực hay tiêu cực, có lợi hay có hại… của hành động đối với người

tạo ra hành động và với người nhận hành động cũng có giá trị như là IFIDs

Có thể so sánh hai biểu thức ngôn hành sau:

(24a) Cô hãy chuyển cho giám đốc thông báo này

(24b) Cô làm ơn hãy chuyển cho giám đốc thông báo này

Ở câu (24a) thì việc chuyển thông báo là việc của cô (Sp2) sẽ làm trong tương lai nhưng ở biểu thức (24a) nó là thuộc trách nhiệm của Sp2 cho nên biểu thức này là biểu thức ngôn hành sai khiến Ở biểu thức (24b) việc chuyển thông báo vốn thuộc trách nhiệm của người nói (Sp1) vì lí do nào đó Sp1 muốn Sp2 thực hiện thay mình, do đó biểu thức này là

Chúng tôi cũng dựa trên cơ sở này để xác định các phương tiện đánh dấu hành động

cảm thán Các hành động cảm thán cụ thể chủ yếu là các hành động: than, than phiền, than

th ở, than khóc, rên la, reo, trầm trồ, mừng vui… Gọi tên các hành động đó, tiếng Việt cũng có

các động từ: than, than phiền, than khóc, rên la, reo… Nhưng đó không phải là các động từ

ngôn hành mà những từ này chỉ có chức năng miêu tả mà thôi Để bộc lộ hành động than phiền

vì buồn chán, người cảm thán không nói “Tôi than phiền rằng tôi đang buồn chán.” mà phải

bằng từ một biểu thức khác, chẳng hạn: “Trời ơi, chán quá!” hay “Chán thật!” Vì vậy, tiếng

Việt không có biểu thức cảm thán ngôn hành tường minh mà chỉ có biểu thức cảm thán ngôn hành nguyên cấp

Ở đây luận văn đi sâu vào ba phương tiện chủ yếu là: những từ ngữ cảm thán, các kiểu

kết cấu của hành động cảm thán và ngữ điệu thể hiện ý nghĩa cảm thán

2.1.1 P hương thức sử dụng từ ngữ cảm thán

Về mặt ngữ nghĩa, từ ngữ cảm thán là những đơn vị từ vựng đặc biệt được sử dụng để

biểu đạt những cảm xúc, những tình cảm, tâm trạng, thái độ khác nhau của người nói trước

hiện thực được đề cập đến

Về mặt từ vựng – ngữ pháp, từ ngữ cảm thán có khả năng độc lập cấu tạo câu, trong khẩu

ngữ hàng ngày thường đứng ở đầu câu, là thành phần độc lập với nòng cốt câu và cũng có khi đứng cuối câu hoặc xen vào giữa nòng cốt câu

Trang 30

2.1.2 Phương thức sử dụng từ ngữ cảm thán chuyên biệt

Nhóm này bao gồm những từ ngữ chỉ hoạt động với chức năng cảm thán, phổ biến nhất

là thán từ, ngoài ra còn có các quán ngữ cảm thán

2.1.2.1 Thán t ừ

Thán từ trong tiếng Việt khá đa dạng, đặc biệt là sự đa dạng về mặt ngữ âm của cùng

một từ (ở những địa phương khác nhau ta thấy cách phát âm khác nhau của cùng một thán từ,

ví dụ: úi dà / úi dào; trời / giời …) Theo kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thiện Giáp

(2008) thì trong tiếng Việt, nhiều nhà Việt ngữ học cho rằng thán từ là từ loại bao gồm không

những các từ thể hiện cảm xúc, mà còn cả các từ “làm tín hiệu của những lời gọi đáp”

(Nguyễn Kim Thản), thí dụ: a, a ha, ái chà, chao ôi, vâng, dạ, này,…Cao Xuân Hạo chia thán

từ thành hai loại là thán từ biểu hiện cảm xúc và thán từ gọi đáp Theo Nguyễn Kim Thản,

“Thán t ừ là một loại ngữ thái từ dùng làm tín hiệu của các tình cảm, các sự kích động khác nhau, nhưng không định danh cho các tình cảm và kích động ấy, và làm tín hiệu của các lời

g ọi đáp” (Dẫn theo [17, tr.266])

Về phương thức biểu đạt này, tác giả Nguyễn Thị Lương [30, tr.203 – 205] đã liệt kê ra

một số nhóm từ cảm thán và định cho mỗi nhóm một giá trị biểu đạt cảm xúc riêng Cụ thể như sau:

Những từ hoặc tổ hợp từ biểu thị nỗi vui mừng, sung sướng, ngạc nhiên, thán phục: a, a

ha, ôi, ơ, ờ, …

Những từ hoặc tổ hợp từ biểu thị sự chán nản, buồn bã, thiếu tin tưởng,: ôi, ôi dào, dào

ôi, ôi chao, chao ôi,…,

Những từ biểu thị ý lo lắng, sợ hãi, ghê tởm:, eo, eo ôi, eo lèo ôi,…

Những từ bộc lộ sự đau đớn, khổ sở, lo lắng, buồn bực, giận dữ: trời, ôi, ối, ái,…

Những từ biểu thị sự thông cảm, thương xót, bực mình: chao ôi, hừ,…

Tuy nhiên, qua thực tế khảo sát ngữ liệu chúng tôi thấy nghĩa của những thán từ này là nghĩa chức năng, được nhận ra nhờ ngữ cảnh và ngữ điệu của người nói, việc giải nghĩa chúng

gắn liền với ngữ cảnh mà nó xuất hiện Cho nên, việc phân chia những nhóm từ cảm thán với ý nghĩa cố định như trên có lẽ là áp đặt và hạn chế đi tính đa nghĩa của từ ngữ nói chung

Vì vậy, khi xem xét đến phương thức thể hiện này của hành động cảm thán, chúng tôi không sắp xếp theo nhóm nghĩa mà trình bày những từ/nhóm từ có khả năng thay thế cho nhau trong cùng ngữ cảnh theo trình tự từ đơn giản đến phức tạp về cấu tạo ngữ âm/chữ viết

Trang 31

Khi phân tích khả năng biểu đạt của những từ ngữ cảm thán này chúng tôi dựa vào ý nghĩa cố định đã được giải thích trong từ điển, đồng thời căn cứ vào ngữ cảnh từ/ngữ đó xuất

hiện mà chúng tôi đã thu thập được

Trong phần này, luận văn hệ thống lại những thán từ tiêu biểu có tần số xuất hiện cao trong

thực tế sử dụng tiếng Việt

A / À

A là tiếng thốt ra biểu lộ sự vui mừng, ngạc nhiên hoặc sực nhớ chợt hiểu ra, nhận ra điều gì

Nét nghĩa cơ bản thường thấy của “a” là ngạc nhiên do bất chợt phát hiện ra một điều gì bất

thường, đặc biệt

Ví dụ:

(25) A, em Liên thảo nhỉ Hôm nay lại rót đầy cho chị?

[2, 348]

(26) Thế là nó nhảy tới, đúng là một con thú rừng thật, nó nhảy tới vồ lấy chú nó, rú lên:-

A, chú Cắm, chú Cắm, chú đi cách mạng đã về rồi Thế còn ông Cụ có về với chú không? [2, 415]

(27) A! Hay đấy nhỉ? Được! (Đêm nay đồng chí nghỉ đâu?)

[2, 482]

(28) Ông văng tục: “ A… hóa ra mày làm thơ, viết văn! Giời ạ! Thật là đồ chó … Hóa ra nhà tôi lại có một văn nghệ sĩ nữa kia”

[9, 627]

Trong phát ngôn (25), chủ thể phát ngôn (nhân vật cụ Thi điên) đã “a” lên để thể hiện

thái độ ngạc nhiên của mình vì Liên “hôm nay lại rót đầy” cho cụ hơn những hôm trước Ở (26), thằng bé ngạc nhiên vì nó phát hiện ra sự xuất hiện bất ngờ của chú Cắm vốn là người rất thân thiết mà đã lâu nó không được gặp Với phát ngôn (27), chủ thể phát ngôn nhận được một

đề nghị khá bất ngờ là đổi những bình gốm cũ mà cơ quan ông ta có để lấy một chiếc xe ô tô đời mới, một sự trao đổi ông cảm thấy không bình thường nhưng lại có vẻ có lợi cho mình Còn trong (28), người nói quá bất ngờ vì phát hiện ra một điều bất thường là đứa em trai vốn

dĩ bị coi là vô tích sự trong nhà nay lại viết văn, làm thơ, trong khi ông là thầy giáo, ông cho

rằng điều đó xúc phạm đến sĩ diện của mình

Đi kèm với nét nghĩa ngạc nhiên, có thể thấy cùng với nội dung mệnh đề, hành động

cảm thán do “a” biểu đạt còn có những nét nghĩa khác có quan hệ mật thiết với nét nghĩa ngạc

nhiên; như ở (26) ngạc nhiên – mừng rỡ, (27) ngạc nhiên – thích thú, (28) ngạc nhiên – tức

giận

Trang 32

Như vậy “a” không chỉ biểu đạt cho cảm xúc dương tính mà cũng có thể thể hiện được

cảm xúc âm tính

Ngoài ra, “a” còn được dùng để biểu thị một trạng thái tức thời của cảm xúc trí tuệ:

chợt nhớ ra, chợt hiểu ra

- Có phải bác đã dùng nó hơn hai mươi năm nay?

- Đúng Làm sao cô biết?

- A…a…a! Thật à! Thế thì mời cô tạm vào trong nhà

[1, 75]

“A” biểu thị trạng thái “sực nhớ” ở (29) khi người mẹ nhìn thấy đứa con thì liên tưởng ngay đến việc “thằng Cò bắn trúng vào trán thằng Sỏi”, với (30) (31), chủ thể phát ngôn nhận ra điều mình cần biết sau khi người đối thoại đã đưa thêm thông tin (thông tin phụ) để làm rõ cho điều mình muốn nói (thông tin chính)

Tương tự với “A” ta có “À”, song phạm vi sử dụng của “À” hạn chế hơn

À là tiếng thốt ra trong đối thoại, biểu lộ ý chợt nhận ra hay chợt nhớ ra, hiểu ra điều gì

Ví dụ (32), (33) đều là các phát ngôn thể hiện thái độ ngạc nhiên khi người nói bất ngờ

nhận ra điều mình vừa (hoặc đang) nhìn thấy, nghe thấy Như ở (32), anh bộ đội giải phóng

ngạc nhiên vì nhận ra người mình đang nghi ngờ là “địch” hóa ra lại là “ta” Tương tự như vậy

ở (33), người nói ngạc nhiên vì nghĩ rằng người như ông Nghị không thể xuất hiện ở nơi mà anh ta đang đứng nhưng đó là điều đang diễn ra

Trang 33

Sự xuất hiện của “à” ở các ví dụ (34), (35), (36), (37), (38) cùng với nội dung mệnh đề trong từng phát ngôn thể hiện tương ứng ngay sau đó đều cho thấy người nói muốn tỏ thái độ mình vừa nhớ ra điều gì

(39) Quan không sao kìm được cơn thịnh nộ, áp lại gần, chỉ ngón tay dăn deo, rít lên: - À,

ra con này giỏi thực Mày không coi ông ra gì

[3,485]

(40) Ông trưởng sực hiểu, nói:

- À, ra chú lập tâm giới thiệu hắn với tôi đấy à?

[3, 572]

(41) À, tôi không ngờ mợ ăn nói như thế; ăn nói như đồ vô giáo dục

[4, 265]

Với (39), người nói chợt hiểu ra mục đích của người đối thoại là giới thiệu một người nào đó

với mình Trong (40), (41) thì chủ thể phát ngôn lại không thể ngờ rằng vợ mình có thể hỗn hào, coi thường ông đến vậy

Tuy vậy, trong một số ngữ cảnh, giữa “À” không thể thay thế cho “A”và ngược lại

Trong ví dụ (26):

Thế là nó nhảy tới, đúng là một con thú rừng thật, nó nhảy tới và vồ lấy chú nó, rú lên:

- A, chú Cắm, chú Cắm, chú đi cách mạng đã về rồi Thế còn ông Cụ có về với chú không?

[2, 415]

Trang 34

Sở dĩ “À” không thế chỗ cho “A” trong ngữ cảnh này là bởi vì người nói bộc lộ sự ngạc nhiên,

vui mừng, sắc thái đó “À” không thể biểu đạt được Ngược lại ta xét tình huống sau:

(42a) À, bây giờ anh mới thở dài, hối hận Chậm lắm rồi!

[ 2, 611]

Nếu viết lại theo dạng hội thoại, ta có phát ngôn tương đương sau:

(42b) Bây giờ anh mới thở dài, hối hận:

- À, chậm lắm rồi!

Cảm xúc thốt lên “à” thể hiện trong phát ngôn này là chán nản, thất vọng khi chợt nhận ra một

điều gì đó đã diễn ra, không thể thay đổi được nữa Nếu thay “a” vào vị trí trên của “à”, ta có phát ngôn sau:

(42c) Bây giờ anh mới thở dài, hối hận:

- A, chậm lắm rồi!

Chắc chắn đây là một phát ngôn “có vấn đề” vì không thể thể hiện cảm xúc “thở dài, hối hận”

bằng cách reo lên “a”

Hay trong ngữ cảnh sau “a” cũng không thể có mặt

(43) - Tôi lạy cậu, tôi van cậu, cậu đừng ép tôi Tôi là vợ cậu…

- À, tôi là vợ cậu! Là vợ mà chồng bảo không nghe

(44) Anh Lí Cựu cũng vừa vỗ tay, vừa nhảy như thằng cuồng:

- A ha! Hip! Hip – Lơ! Con ma quay lơ? Hổ chết rồi!

[3, 238]

(45) A ha! Hóa ra đồ chơi mắc hơn đồ ăn

[2, 485]

(46) Vừa thoáng thấy con nhãi nhép ấy, anh ta bỗng reo lên:

- A ha, nhà này vừa sắm được của quý!

[2, 325]

Biến thể ngữ âm của “A ha” là “ À hà”

(47) À hà, con chó này đang ngon thịt đây…

Trang 35

(50) Ô, ông kia đi xe đạp mà cũng đội nón bảo hiểm kìa!

(51) Ô, nó có cuộc đời của nó!

[1, 381]

(52) Ô, đấy lại là chuyện khác, nếu không được ở đây mà bị rơi hẫng ra ngoài kia, ngoài biên chế, thì người ta sẽ còn phải gặp nhiều điều phiền toái, khó lường, và vì thế mà người nào cũng sợ…Cháu không hiểu à?

[1, 399]

Sự ngạc nhiên được bộc lộ ở đây ngoài sự vật, sự việc gây bất ngờ, mới lạ, không bình thường còn là thái độ ngạc nhiên trước những quan điểm, lối suy nghĩ khác với chủ thể cảm thán Như trong (51), chủ thể phát ngôn tỏ ra ngạc nhiên vì người đối thoại với anh ta quan

niệm rằng cha mẹ phải có trách nhiệm với cuộc đời của con cái nhưng anh ta thì không nghĩ như vậy, hay thái độ ngạc nhiên của người nói trong ví dụ (52) khi nhận thấy sự ngây thơ, hồn nhiên, vô tư trước thời cuộc của cô cháu gái khi không biết rằng bấy giờ làm “người nhà nước” thì có lợi hơn

“Ơ” cũng có cách dùng tương tự như “ô”

(53)- Ơ trời!

Chị nhận ra anh, kêu lên và đứng ôm mặt khóc.[2, 376]

(54) Ơ! Tụi hắn mô hết rồi?

Gần với cách dùng của ô/ơ là “ô hay” và “ơ hay”

 Ô hay / Ơ hay là tiếng thốt ra biểu lộ sự ngạc nhiên kèm theo ý thất vọng, không hài lòng

Trang 36

(58) Ô hay! Ông giận gì chúng tôi?

[3, 567]

Trong phát ngôn (55), người nói đi vay tiền mua thuốc cho mẹ mình nhưng người cho vay

không đưa tiền mà còn có hành động sàm sở đối với người nói, thán từ “ô hay” trong phát

ngôn được dùng để biểu thị thái độ ngạc nhiên, không hài lòng của người nói trước hành động thiếu đứng đắn ấy Phát ngôn (56) cũng biểu đạt nội dung cảm thán tương tự Còn trong (57), người chồng tỏ ra không hài lòng vì người vợ không nghe lời mình Ví dụ (58) thì cho thấy sự

ngạc nhiên kèm theo ý thất vọng khi người nói biết được người đối thoại sẽ không ở lại nữa và

(66) Ồ, viết thư thì cần gì nặn nọt, ông muốn nói gì, ông muốn nói gì, cứ nói thẳng tuột cho

dễ hiểu có hơn không?

[3, 429]

Trang 37

Trong một số trường hợp người ta, người ta hồ nghi rằng “ồ” không biểu thị cảm xúc ngạc

nhiên, bất ngờ hoặc sực nhớ ra điều gì mà là thái độ thản nhiên (chẳng có gì là lạ) của chủ thể phát ngôn trước một vấn đề mà người đối thoại cho là bất thường, khác lạ

Các ví dụ (67), (68), (69) cho thấy chủ thể phát ngôn không hề bất ngờ, ngạc nhiên với

điều được đề cập đến trong nội dung mệnh đề sau thán từ “ồ”, thậm chí còn dùng cách nói

“… ấy mà”, “…thì thế nào (mà) chẳng…”, “thiếu gì…” để tỏ thái độ thản nhiên Nhưng thực

ra “ ồ” trong những phát ngôn này vẫn được dùng để biểu đạt thái độ ngạc nhiên, bất ngờ, có

điều đối tượng cảm thán ở đây không phải là đối tượng được đề cập đến trong phát ngôn mà là quan niệm, thái độ của người đối thoại Người đối thoại cho rằng những điều mình nói đến là

bất thường, đặc biệt nhưng với chủ thể phát ngôn thì đó là những điều hiển nhiên, bình thường

Trang 38

- Ngoài ra, không nhất thiết đối tượng cảm thán là điều bất ngờ, nhưng để bộc lộ tình cảm tha thiết, sự xúc động người ta vẫn dùng “ôi”

Như sự xúc động trước sự bao dung của trái tim người mẹ trong phát ngôn (75), hay tình

cảm tha thiết đầy tự hào về tinh thần đấu tranh của những người nông dân chất phác trong (76)

- “Ôi” còn được dùng để thể hiện thái độ thờ ơ, dửng dưng, hờ hững

(79) Ôi, chuyện đàn bà ấy mà!

chị, vì chị cho rằng chồng mình không có gì đặc biệt để kể

Để diễn tả mức độ cao hơn bình thường mà “Ôi” biểu thị, người ta thường kết hợp “Ôi” với

Trang 39

Ví dụ:

(83) Bỗng có một tiếng tru lên, bà Cứu ôm mặt, lanh lảnh khóc:

- Ối, con tôi!

Tiếng khóc của người mẹ trước thi hài đứa con chết đuối đã trương, làm ai cũng phải cảm động [2, 141]

Từ “bỗng” cho thấy cái chết của đứa con đối với bà Cứu là một tai họa bất ngờ Phát ngôn

“ Ối, con tôi”, đặc biệt là thán từ “ối” được dùng để biểu đạt điều đó

Tương tự như vậy:

(84) Ối trời, làm mẹ giật cả mình, suýt nữa thì sặc nước

Trong trường hợp này, chủ thể phát ngôn kêu “ối” vì tình huống đang diễn ra trong cuộc

đối thoại theo suy đoán của chủ thể là anh ta sẽ bị gán vào tội dan díu với vợ của một người

bạn Thực tế, với chủ thể phát ngôn đó là một nỗi oan ức, một tai họa bất ngờ

(86) Ngài giật phắt cái cột màn Thì thình lình:

- Ối hàng phố ơi!- Bà vừa kêu, vừa túm lấy chồng, thở ì ạch

[3, 696]

(87) Ối ông đội xếp ơi! Thằng ăn cắp! Ai đuổi hộ tôi

Bà ấy chạy sau rốt – Áo lấm khăn xổ Tóc rũ Ngửa mặt lên mà kêu:

- Ối ông đội xếp ơi!

[3, 272-273]

Như đã thấy, đặc điểm của “ối” khi làm tiếng kêu than là thường kết hợp với các tổ hợp từ

mang ý nghĩa cảm thán Các tổ hợp từ này chúng tôi cũng sẽ đề cập đến ở phần sau của luận văn

- Cũng có khi “ối” được dùng giống “ôi” nhằm biểu thị ý ngạc nhiên, bất ngờ Như sự ngạc

nhiên của anh phu xe trước đề nghị quá bất ngờ đến mức sổ sàng của cô gái trong ngữ liệu sau: (88) Cô ả nắm lấy tay, vỗ vào vai anh xe, nhăn nhở cười:

- Anh này thực thà quá, nghĩa là chỉ có anh và tôi thôi, thì người tôi đây, anh muốn làm

gì, tôi cũng bằng lòng

Trang 40

- Ối thôi! Tôi lạy cô Nhỡ cô đổ bệnh cho tôi thì tôi bỏ mẹ tôi

(95) Nói xong, cụ Khánh đứng dậy, vươn vai, gân tay gân chân kêu răng rắc:

- Chà! Giãn thịt giãn xương

(98) Cha, con cái nhà ai mà dễ thương quá đi!

Với mục đích biểu đạt sắc thái cảm xúc ngạc nhiên, thích thú, trầm trồ, tấm tắc, sảng khoái,

“Chà”/ “Cha” thường được dùng ở dạng láy lại

Ngày đăng: 19/02/2014, 10:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Di ệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung (1996), Ng ữ pháp tiếng Việt tập 1 , Nxb Giáo d ục 2. Di ệp Quang Ban (cb) (2000), Ti ếng Việt lớp 10 , Nxb Giáo d ục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt tập 1", Nxb Giáo dục 2. Diệp Quang Ban (cb) (2000), "Tiếng Việt lớp 10
Tác giả: Di ệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung (1996), Ng ữ pháp tiếng Việt tập 1 , Nxb Giáo d ục 2. Di ệp Quang Ban (cb)
Nhà XB: Nxb Giáo dục 2. Diệp Quang Ban (cb) (2000)
Năm: 2000
3. Di ệp Quang Ban (2000), Ng ữ pháp tiếng Việt Tập 2, Nxb Giáo d ục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt Tập 2
Tác giả: Di ệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
4. Di ệp Quang Ban (2004), Ng ữ pháp Việt Nam- Phần câu, Nxb Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp Việt Nam- Phần câu
Tác giả: Di ệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2004
5. Di ệp Quang Ban (2008), Giáo trình ng ữ pháp tiếng Việt (Theo định hướng ngữ pháp ch ức năng) Tập 2- Phần câu , Nxb Giáo d ục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình ngữ pháp tiếng Việt (Theo định hướng ngữ pháp chức năng) Tập 2- Phần câu
Tác giả: Di ệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2008
6. Phan M ậu Cảnh (2004), V ề kiểu câu bình giá- biểu cảm trong tiếng Việt, Ng ữ học trẻ 2004, Tr 24-26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về kiểu câu bình giá- biểu cảm trong tiếng Việt
Tác giả: Phan M ậu Cảnh
Năm: 2004
7. Lê C ận, Phan Thiều, Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung (1983), Giáo trình ng ữ pháp ti ếng Việt tập 2- Cú pháp tiếng Việt , Nxb Giáo d ục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình ngữ pháp tiếng Việt tập 2- Cú pháp tiếng Việt
Tác giả: Lê C ận, Phan Thiều, Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1983
8. Đỗ Hữu Châu (2003), Đại cương ngôn ngữ học, T ập 2 , Ng ữ dụng học , Nxb Giáo d ục 9. Đỗ Hữu Châu (2005), Đỗ Hữu Châu tuyển tập, T ập 1 , T ừ vựng- ngữ nghĩa , Nxb Giáod ục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương ngôn ngữ học, "Tập 2", Ngữ dụng học", Nxb Giáo dục 9. Đỗ Hữu Châu (2005), "Đỗ Hữu Châu tuyển tập, "Tập 1", Từ vựng- ngữnghĩa
Tác giả: Đỗ Hữu Châu (2003), Đại cương ngôn ngữ học, T ập 2 , Ng ữ dụng học , Nxb Giáo d ục 9. Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục 9. Đỗ Hữu Châu (2005)
Năm: 2005
12. Mai Ng ọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến (2000), Cơ sở ngôn ng ữ học và ti ếng Việt , Nxb Giáo d ục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt
Tác giả: Mai Ng ọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
13. Nguy ễn Đức Dân (1998), Ng ữ dụng học, T ập 1, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ dụng học
Tác giả: Nguy ễn Đức Dân
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
14. Hoàng Dũng, Bùi Mạnh Hùng (2007), Giáo trình D ẫn luận ngôn ngữ h ọc, Nxb Đại h ọc Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Dẫn luận ngôn ngữ học
Tác giả: Hoàng Dũng, Bùi Mạnh Hùng
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2007
15. Nguy ễn Thiện Giáp (cb), Đoàn Thiện Thuật, Nguyễn Minh Thuyết (1997), D ẫn luận ngôn ng ữ học , Nxb Giáo d ục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận ngôn ngữ học
Tác giả: Nguy ễn Thiện Giáp (cb), Đoàn Thiện Thuật, Nguyễn Minh Thuyết
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1997
19. Cao Xuân H ạo (1998), Ti ếng Việt mấy vấn đề ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa , Nxb Giáo d ục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt mấy vấn đề ngữ âm, ngữ pháp, ngữnghĩa
Tác giả: Cao Xuân H ạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
20. Cao Xuân H ạo (chủ biên), Hoàng Xuân Tâm, Nguyễn Văn Bằng, Bùi Tất Tươm (1999), Ng ữ pháp chức năng tiếng Việt, quy ển 1, Câu trong ti ếng Việt Cấu trúc- nghĩa- công d ụng , Nxb Giáo d ục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp chức năng tiếng Việt, "quyển 1, "Câu trong tiếng Việt Cấu trúc- nghĩa- công dụng
Tác giả: Cao Xuân H ạo (chủ biên), Hoàng Xuân Tâm, Nguyễn Văn Bằng, Bùi Tất Tươm
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
21. Cao Xuân H ạo (in lần thứ nhất 1991)(2006), Ti ếng Việt sơ thảo ngữ pháp ch ức năng , Nxb Giáo d ục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt sơ thảo ngữ pháp chức năng
Tác giả: Cao Xuân H ạo (in lần thứ nhất 1991)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
22. Nguy ễn Văn Hiệp (2001), “Hướng đến một cách miêu tả và phân loại các tiểu từ tình thái cu ối câu tiếng Việt”, Ngôn ngữ (5), Tr 54-63 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng đến một cách miêu tả và phân loại các tiểu từ tình thái cuối câu tiếng Việt
Tác giả: Nguy ễn Văn Hiệp
Năm: 2001
23. Nguy ễn Văn Hiệp (2008), Cơ sở ngữ nghĩa phân tích cú pháp , Nxb Giáo d ục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ nghĩa phân tích cú pháp
Tác giả: Nguy ễn Văn Hiệp
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2008
24. Bùi M ạnh Hùng (2003), “Bàn thêm về vấn đề câu theo mục đích phát ngôn”, Ngôn ngữ (2), Tr 47-57 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn thêm về vấn đề câu theo mục đích phát ngôn
Tác giả: Bùi M ạnh Hùng
Năm: 2003
25. Nguy ễn Thị Ly Kha (2008), Ng ữ pháp tiếng Việt , Nxb Giáo d ục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Nguy ễn Thị Ly Kha
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2008
26. H ồ Lê (1992), Cú pháp ti ếng Việt, quy ển 2, Cú pháp cơ sở , Nxb Khoa h ọc xã hội 27. Tr ần Long (2004), Sự thể hiện tính biểu cảm của tiếng Việt về mặt từ vựng và ngữpháp (có so sánh v ới tiếng Anh), Luận án Tiến sĩ Ngữ văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cú pháp tiếng Việt, "quyển 2, "Cú pháp cơ sở
Tác giả: H ồ Lê (1992), Cú pháp ti ếng Việt, quy ển 2, Cú pháp cơ sở , Nxb Khoa h ọc xã hội 27. Tr ần Long
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội 27. Trần Long (2004)
Năm: 2004
28. Ph ạm Thị Ly (2002), “Tiểu từ tình thái cuối câu một trong những phương tiện chủ yếu di ễn đạt ý nghĩa tình thái trong tiếng Việt”, Ngôn ngữ (13), Tr 19-27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu từ tình thái cuối câu một trong những phương tiện chủ yếu diễn đạt ý nghĩa tình thái trong tiếng Việt
Tác giả: Ph ạm Thị Ly
Năm: 2002

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w