1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu hành động đề nghị trong tiếng việt

18 929 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu hành động đề nghị trong tiếng Việt
Tác giả Lê Thị Tố Uyên
Người hướng dẫn PGS.TS. Đào Thanh Lan
Trường học Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn
Chuyên ngành Ngôn ngữ học
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2011
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 527,46 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các nhà nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt chủ yếu bàn đến hành động cầu khiến một cách toàn diện, tổng thể, ít ai quan tâm đến việc đào sâu nghiên cứu một tiểu loại hành động trong kiểu hàn

Trang 1

Nghiên cứu hành động đề nghị trong

tiếng Việt

Lê Thị Tố Uyên

Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Luận văn ThS ngành: Ngôn ngữ học; Mã số: 60 22 01 Người hướng dẫn: PGS.TS Đào Thanh Lan

Năm bảo vệ: 2011

Abstract Chương I Cơ sở lí luận liên quan đến đề tài: hành động ngôn từ; Hành

động cầu khiến tiếng Việt; Hành động đề nghị trong mối quan hệ với hành động cầu khiến; Hành động đề nghị và tính lịch sự Chương II Nhận diện hành động đề nghị trong tiếng Việt: nghiên cứu tiêu chí nhận diện hành động đề nghị trong tiếng Việt

và phương pháp nhận diện hành động đề nghị trong tiếng Việt Chương III Phương thức biểu hiện hành động đề nghị trong tiếng Việt: Phương thức biểu hiện hành động

đề nghị trực tiếp và gián tiếp

Keywords Tiếng Việt; Giao tiếp; Hành động đề nghị; Ngôn ngữ học

Content

MỞ ĐẦU

I Lí do chọn đề tài

Ngôn ngữ có chức năng quan trọng trong hoạt động giao tiếp, nhưng đơn vị giao tiếp

cơ bản không phải là câu hay một hình thức ngôn ngữ nào đó như theo quan niệm của ngôn ngữ học truyền thống mà là một phát ngôn nhằm thực hiện một hành động nhất định Thành tựu của ngôn ngữ học hiện đại cho thấy những hành động mà ta thực hiện bằng lời nói vô cùng phong phú, đa dạng chứ không chỉ là nói để kể, để hỏi hay để cầu khiến

Hiện nay, một số nhà ngôn ngữ học đã bắt đầu quan tâm đến việc nghiên cứu các hành động ngôn từ Tuy nhiên, việc nghiên cứu này chưa nhiều và chưa sâu Các nhà nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt chủ yếu bàn đến hành động cầu khiến một cách toàn diện, tổng thể,

ít ai quan tâm đến việc đào sâu nghiên cứu một tiểu loại hành động trong kiểu hành động này Chính điều đó đã thôi thúc chúng tôi nghiên cứu một cách sâu sắc hơn về một vấn đề cụ thể

của hành động cầu khiến tiếng Việt: nghiên cứu hành động đề nghị trong tiếng Việt

II Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích của luận văn là khảo cứu các phương thức và phương tiện thể hiện hành động đề nghị trong tiếng Việt, chỉ ra ranh giới của nó với các tiểu loại hành động khác và sự thể hiện tính lịch sự trong hành động đó

Với mục đích như trên, luận văn có nhiệm vụ như sau:

- Xác định hành động đề nghị trong tiếng Việt

- Phân tích, miêu tả hành động đề nghị trong tiếng Việt

- Chỉ ra mức độ giá trị của hành động đề nghị trên cơ sở biểu hiện của lực ngôn trung

- Xem xét tính lịch sự của hành động đề nghị

III Đóng góp của luận văn

Trang 2

Công trình nghiên cứu của chúng tôi có ý nghĩa về lí luận và thực tiễn như sau:

Về lí luận, luận văn góp phần làm rõ thêm về khái niệm hành động cầu khiến nói

chung và hành động đề nghị nói riêng, phân loại hành động đề nghị, miêu tả một số tình thái

đề nghị lịch sự, đồng thời làm rõ các dấu hiệu nhận diện hành động đề nghị tiếng Việt; từ đó góp phần vào việc hoàn thiện các kết quả nghiên cứu về hành động cầu khiến nói chung và hành động đề nghị nói riêng theo quan điểm mới của ngôn ngữ học hiện đại

Về thực tiễn, những kết quả nghiên cứu của luận văn có thể góp phần giải quyết nhiều

vấn đề về cách sử dụng tiếng Việt và là cơ sở để biên soạn nội dung, xác định phương pháp dạy tiếng Việt không chỉ cho người Việt mà còn cho người nước ngoài học tiếng Việt

IV Phương pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu

1.1 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, luận văn có sử dụng các phương pháp và thủ pháp sau:

+ Phương pháp miêu tả

+ Thủ pháp thống kê

+ Thủ pháp cải biến

+ Thủ pháp so sánh

1.2 Nguồn ngữ liệu

Các ngữ liệu đã khảo sát và trình bày trong luận văn được thu thập chủ yếu từ một số văn bản viết (gồm văn bản thuộc phong cách nghệ thuật và văn bản thuộc phong cách hành chính, công vụ), và từ lời ăn tiếng nói hàng ngày mà người viết quan sát, ghi chép lại được

PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG I

CƠ SỞ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

I VỀ HÀNH ĐỘNG NGÔN TỪ

1.1 Khái niệm về hành động ngôn từ

Hành động ngôn từ (speech acts) đã được các nhà nghiên cứu quan tâm từ đầu những

năm 60 của thế kỷ XX Mỗi lần nói đến lý thuyết hành động ngôn từ, chúng ta đều nghĩ ngay tới nhà triết học người Anh, J.L.Austin và cũng không thể bỏ qua nhà triết học nổi tiếng người Áo L.Wittgenstein [33] – người đặt tiền đề và tiên phong cho lý thuyết này Hành động ngôn từ nhấn mạnh bản chất của lời nói Khi ta nói một câu nghĩa là ta đã thực hiện một hành động nào đó, tức là chúng ta thực hiện một hành động đặc biệt mà phương tiện là ngôn ngữ

Chẳng hạn như thông báo, khuyên, chúc mừng, tuyên bố, hứa hẹn,… Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng thuật ngữ “hành động ngôn từ” theo ý khi ta nói một câu nghĩa là ta đã thực hiện một hành động nào đó và nó tương đương với thuật ngữ “hành vi ngôn ngữ” Trong lý

thuyết của mình, J.L.Austin xem hành động ngôn từ là một thể thống nhất những hành động:

− Hành động tạo lời (locutionary act)

− Hành động tại lời (illocutionary act)

− Hành động mượn lời (perlocutionary act)

1.2 Điều kiện sử dụng hành động ngôn từ

Các hành động tại lời cũng đòi hỏi những điều kiện nhất định Các hành động tại lời bị chi phối bởi các quy tắc hình thành tự nhiên theo cộng đồng vì vậy mỗi loại hành động tại lời

có những điều kiện sử dụng của nó mà Austin gọi tên chúng là những điều kiện thuận lợi Về

vấn đề này Searle chia làm 3 loại chính như sau:

− Điều kiện ban đầu

− Điều kiện chân thực

− Điều kiện thiết yếu (điều kiện căn bản)

1.3 Phân loại các hành động ngôn từ

1.3.1 Phân loại hành động ngôn từ theo J.Austin

Trang 3

Trong công trình năm 1962, Austin đã phân loại các hành động tại lời thành 5 lớp lớn:

(1) Phán xét (Verdictive) (4) Ứng xử (Behabitive)

(2) Hành xử (Exercitive) (5) Bày tỏ (Expositive)

(3) Cam kết (Commisive)

Tuy quan niệm của J.L.Austin đã có nhiều tiến bộ nhưng vẫn có những hạn chế nhất định mà theo Searle hạn chế đó là chỉ phân loại các động từ ngữ vi Searle là người đầu tiên vạch ra hạn chế của Austin Ông cho rằng Austin không định ra các tiêu chí phân loại nên kết

quả phân loại có sự chồng chéo

J.R.Searle phân loại các hành động ngôn từ có sự tiến bộ hơn so với J.L.Austin Tác giả Nguyễn Đức Dân [4] tóm lược: Searle đã nêu ra mười hai phương diện (dimensions) mà các hành vi ngôn ngữ có thể khác nhau Trong số này, ông chọn bốn tiêu chí cơ bản để phân loại các hành động tại lời

* Đích ở lời (Illocutionary point)

* Hướng của sự khớp ghép (Direction of fit)

* Trạng thái tâm lý được biểu hiện

* Nội dung mệnh đề

Dựa vào những tiêu chí này mà J.R.Searle chia hành động ngôn từ ra thành 5 loại :

(1) Khẳng định (Assertives) (4) Bày tỏ (Expressive)

(2) Cầu khiến (Directive) - Mệnh lệnh (5) Tuyên bố (Declaratives)

(3) Hứa hẹn (Commissive)

Như vậy, J.L.Austin và J.R.Searle đã đưa ngôn ngữ vào sự phong phú, đa dạng nhưng không kém phần phức tạp của hoạt động ngôn ngữ trong đời sống hàng ngày Lý thuyết trên

đã khẳng định giao tiếp cơ bản của ngôn từ là một phát ngôn thực hiện hành động

1.4 Phân biệt phát ngôn ngôn hành tường minh và phát ngôn ngôn hành nguyên cấp

1.4.1 Phát ngôn ngôn hành tường minh

Phát ngôn ngôn hành tường minh là phát ngôn có chứa những dấu hiệu chỉ ra chính hành động được thực hiện khi phát ra phát ngôn đó

Ví dụ: - Con xin lỗi mẹ, con đã để mẹ phải chờ! - Nó lúng búng trong mồm

(Hậu thiên đường, Nguyễn Thị Thu Huệ, tr 6)

Những phát ngôn không chứa các động từ ngôn hành mà sử dụng các phương tiện chỉ

dẫn hiệu lực tại lời được gọi là các phát ngôn nguyên cấp

Ví dụ: - Thưa bà, con so

- Bà nên nói thực, thì tôi mới liệu được Tôi xem bụng bà, hình như đẻ con rạ thì phải

hơn

- Thưa bà, thực tôi đẻ con so

(Oẳn tà roằn, Nguyễn Công Hoan, tr 5)

1.5 Hành động ngôn từ trực tiếp và hành động ngôn từ gián tiếp

1.5.1 Nghĩa tường minh (hiển ngôn) và nghĩa hàm ẩn (hàm ngôn)

1.5.1.1 Nghĩa tường minh (hiển ngôn)

Nghĩa tường minh là ý nghĩa được nói ra trực tiếp nhờ các yếu tố ngôn ngữ như âm,

từ, kết cấu phát ngôn…ý nghĩa này hiển hiện trên ngôn từ còn gọi là hiển ngôn Bất kì một phát ngôn nào cũng có nghĩa tường minh

1.5.1.2 Nghĩa hàm ẩn (hàm ngôn)

Nghĩa hàm ẩn là ý nghĩa không lộ ra trên mẫu câu, từ ngữ Muốn lĩnh hội được ý nghĩa đó, người tiếp nhận phải trải qua một quá trình suy ý từ nghĩa tường minh, căn cứ vào tình huống phát ngôn, cách thức sử dụng mẫu câu, từ ngữ và quy tắc hợp logic

1.5.2 Hành động ngôn từ trực tiếp (hiển ngôn) và hành động ngôn từ gián tiếp (hàm ngôn)

Trang 4

Tác giả cuốn Ngữ nghĩa ngữ pháp của lời cầu khiến tiếng Việt [14; 47] đã định nghĩa

hành động trực tiếp và hành động gián tiếp như sau:

Hành động trực tiếp/ hiển ngôn là hành động tạo ra địch ngôn trung hiển ngôn được biểu hiện trực tiếp bởi các dấu hiệu hình thức ngôn từ đặc trưng cho nó tức là bằng phương tiện chỉ dẫn lực ngôn trung trực tiếp Hành động trực tiếp tạo ra lời trực tiếp/ chính danh

Hành động gián tiếp/ hàm ngôn là hành động mà đích ngôn trung không được biểu hiện trực tiếp bằng các dấu hiệu hình thức ngôn từ đặc trưng cho nó mà được biểu hiện gián tiếp thông qua dấu hiệu hình thức của hành động khác (hành động dẫn nhập) tạo ra hàm ý của lời được người nghe nhận diện bằng thao tác suy ý trên cơ sở ngữ nghĩa và ngữ cảnh (bao gồm bối cảnh giao tiếp và thể chế, ước chế xã hội đã được mã hóa) Hành động gián tiếp tạo ra lời gián tiếp/ hàm ngôn

II HÀNH ĐỘNG CẦU KHIẾN TIẾNG VIỆT

2.1 Cầu khiến và hành động cầu khiến

Ở Việt Nam, vấn đề cầu khiến tuy đã được các nhà nghiên cứu quan tâm và bàn nhiều, song vẫn chưa đi đến thống nhất

Nhóm các nhà ngôn ngữ học theo quan điểm ngữ pháp truyền thống phân loại câu dựa

trên hai tiêu chí: theo cấu trúc cú pháp và theo mục đích phát ngôn Phân loại câu theo mục đích phát ngôn gồm có: câu trần thuật, câu cầu khiến, câu cảm thán, câu nghi vấn Tiêu biểu

như các tác giả: Nguyễn Kim Thản, Lê Văn Lý, Hoàng Trọng Phiến,

Theo quan điểm ngữ dụng học, dựa vào lý thuyết hành động ngôn từ của J.L.Austin, H.P.Grice và J.R.Searle thì các nhà ngôn ngữ học theo quan điểm này khác với nhóm nghiên

cứu theo ngữ pháp truyền thống là không phân loại câu theo mục đích phát ngôn mà chỉ khảo

sát những hành động tại lời (hành động ngôn trung) trong cách phát ngôn Tiêu biểu như các tác giả: Cao Xuân Hạo, Hồ Lê, Nguyễn Thiện Giáp,

2.2 Phân loại hành động cầu khiến

Căn cứ vào ý nghĩa cầu khiến để phân loại hành động cầu khiến thường xem xét đến các yếu tố sau:

(1) Vai giao tiếp của chủ ngôn và tiếp ngôn

2) Quyền lợi hay lợi ích của người tiếp nhận thực hiện hành động được nêu ra trong phát ngôn

(3) Cường độ, mức độ cầu khiến của chủ ngôn

Theo Đào Thanh Lan [14; 42], căn cứ vào lực ngôn trung cầu khiến thể hiện ở mức độ cầu khiến cao hay thấp và căn cứ vào sự đa dạng của phương tiện chỉ dẫn lực ngôn trung mà

có thể phân chia hành động cầu khiến thành các kiểu nhỏ hơn như lược đồ sau:

Stt Hành động

cầu khiến Mức độ cầu khiến

Nội dung mệnh lệnh Hình thức biểu đạt điển hình

1 ra lệnh Khiến cao nhất Làm Vnh, hãy, đi

2 cấm Khiến cao nhất Không làm Vnh, không được

3 cho/ cho phép Khiến cao Làm Vnh, hãy, đi

5 đề nghị Khiến trung bình,

Vnh, hãy, nào/ nhé

7 khuyên Khiến thấp, cầu thấp Làm/ không làm Vnh, nên/ Vnh + không nên

Trang 5

13 cầu Cầu rất cao Làm Vnh (xin, van), với

(Ghi chú: Vnh = vị từ ngôn hành; hãy, đi… = từ có vai trò làm phương tiện chỉ dẫn lực ngôn

trung)

III HÀNH ĐỘNG ĐỀ NGHỊ TRONG MỐI QUAN HỆ VỚI HÀNH ĐỘNG CẦU KHIẾN

3.1 Hành động đề nghị

“Đề nghị” được Từ điển tiếng Việt – Viện Ngôn ngữ học (Hoàng Phê chủ biên) [26] giải thích như sau: “1 đưa ra ý kiến về một việc nên làm nào đó để thảo luận, để xét – 2 yêu

cầu thường là việc riêng, và mong được chấp nhận, được giải quyết (thường dùng trong đơn từ), như “yêu cầu” nhưng có vẻ khiêm nhường hơn – 3 từ dùng ở đầu câu để nêu lên một yêu cầu, đòi hỏi phải làm theo (thường dùng để thay thế cho câu mệnh lệnh để cho có vẻ lịch sự hơn)”

3.2 Hành động đề nghị - một trong các kiểu hành động cầu khiến

Hành động cầu khiến gồm có 16 hành động cụ thể Trong đó, đề nghị là một trong các

hành động cầu khiến có tính chất khiến trung bình, cầu thấp, được xếp ở vị trí thứ 5 Điều đó cũng có thể suy ra rằng, ở hành động này, vị thế giao tiếp của chủ ngôn có thể cao hơn hoặc ngang bằng với tiếp ngôn Sự sắp xếp này chưa phải là tuyệt đối và chỉ khi được phân tích kỹ lưỡng, chúng ta mới thấy hết được bản chất phức tạp của hành động này

Về hình thức biểu đạt điển hình, hành động đề nghị có Vnh, hãy, nào/ nhé

IV HÀNH ĐỘNG ĐỀ NGHỊ VÀ TÍNH LỊCH SỰ

4.1 Một số vấn đề về lý thuyết lịch sự

“Lịch sự chỉ bất cứ phương thức nào được dùng để tỏ ra lưu ý đến tình cảm (feelings)

hay là thể diện của nhau trong hội thoại, bất kể khoảng cách xã hội giữa người nói và người nghe như thế nào” (P Brown & S Levinson)

Theo chúng tôi, tuy lịch sự là một phạm trù phổ quát trong ngôn ngữ nhưng nó cũng chịu sự chi phối của những quy tắc riêng của từng xã hội thể hiện những tiêu chí đánh giá riêng của xã hội đó

4.2 Hành động đề nghị và tính lịch sự

Hành động đề nghị có mức độ cầu khiến là khiến trung bình, cầu thấp Nó có vẻ

“khiêm nhường” hơn hành động yêu cầu và có vẻ “lịch sự” hơn hành động ra lệnh Vậy thì, hành động đề nghị là hành động có hiệu quả tích cực, tức là có tính chất lịch sự và nếu không

có tính chất lịch sự thì nó có thể trở thành hành động ra lệnh hoặc hành động yêu cầu

Tiểu kết: Như vậy, chương I chúng tôi đã trình bày một số vấn đề lý luận có liên quan

đến đề tài, gồm vấn đề về hành động ngôn từ, hành động cầu khiến nói chung và hành động

đề nghị trong tiếng Việt nói riêng Hành động đề nghị được tìm hiểu trong mối quan hệ khăng khít với hành động cầu khiến, đồng thời hành động này cũng được xem xét trong mối quan hệ với tính lịch sự Cơ sở lý luận này sẽ làm nền tảng và định hướng nghiên cứu cho toàn luận văn

CHƯƠNG II NHẬN DIỆN HÀNH ĐỘNG ĐỀ NGHỊ TRONG TIẾNG VIỆT

I TIÊU CHÍ NHẬN DIỆN HÀNH ĐỘNG ĐỀ NGHỊ TRONG TIẾNG VIỆT

1.1 Tiêu chí thứ nhất: ngữ cảnh tình huống

1.1.1 Quan điểm của một số tác giả Việt Nam về ngữ cảnh tình huống

a Quan điểm của Đỗ Hữu Châu

“Hoàn cảnh giao tiếp là cái thế giới xã hội và tâm lí mà trong đó ở thời điểm nhất định người ta sử dụng ngôn ngữ Nó ít nhất bao gồm những điều, những tiền ước của người

Trang 6

nói (kể cả người nghe) về thời gian, không gian và thiết chế xã hội về các hành động đã qua, đang diễn ra và trong tương lai (hành động bằng lời và không bằng lời)”

b Quan điểm của Cao Xuân Hạo

“Một phát ngôn bao giờ cũng được thực hiện trong một tình huống nhất định kể cả tình huống bên ngoài lẫn tình huống của quá trình hội thoại (thường được gọi là văn cảnh hay ngôn cảnh)”

c Quan điểm của Nguyễn Thiện Giáp

“Ngữ cảnh tình huống là xã hội tâm lí mà trong đó, ở một thời điểm người ta sử dụng

ngôn ngữ Nó có thể bao gồm sự hiểu biết về vị thể của người nói và người nghe, sự hiểu biết

về vị trí, thời gian và không gian, sự hiểu biết về phép xã giao trong xã hội và sự hiểu biết về

mã ngôn ngữ được dùng (nói hoặc viết), sự hiểu biết về nội dung giao tiếp và bối cảnh giao tiếp Ngữ cảnh tình huống bao gồm cả sự chấp nhận ngầm của người nói và người nghe về tất cả các quy ước, các niềm tin và các tiền đề được coi là đương nhiên của các thành viên trong cộng đồng của người nói và người nghe”

Ngữ cảnh tình huống ở đây được coi là mảng hiện thực khách quan trong đó bao gồm những sự kiện, hiện tượng và cả những phát ngôn xuất hiện trước và sau phát ngôn đề nghị

1.1.2 Ngữ cảnh cầu khiến

Ngữ cảnh cầu khiến là kiểu ngữ cảnh chứa những nhân tố tạo ra điều kiện để hình thành phát ngôn cầu khiến Các nhân tố cầu khiến đã được các tác giả như Bondarco, Hymes

đề cập đến

Mỗi tác giả có cách nhìn rất chi tiết về đặc điểm ngữ cảnh cầu khiến nhưng về đại thể

là thống nhất ở các phương diện như người nói, người nghe, không gian, thời gian Vậy, một phát ngôn cầu khiến chỉ được xuất hiện trong một ngữ cảnh với các đặc điểm:

- Người nói: ngôi 1 số ít/ số nhiều (tôi, chúng tôi… - từ này có thể ẩn)

- Người nghe: ngôi 2 số ít/ số nhiều (anh, các anh…)

- Thời gian: thời hiện tại (thời gian diễn ra cuộc thoại) Lời ngôn hành phải không chứa các thực từ hoặc các từ tình thái chỉ thời gian (đã, sẽ, vừa mới…)

- Không gian: nơi diễn ra cuộc thoại trực tiếp

Nói một cách đơn giản thì đặc điểm ngữ cảnh trong một phát ngôn cầu khiến gồm:

tôi, anh, bây giờ, ở đây

1.2 Tiêu chí thứ hai: Quan hệ giữa người nói và người nghe trong phát ngôn đề nghị

Ở mối quan hệ này chúng tôi quan tâm tới vị thế giao tiếp và vị thế xã hội của người nói và người nghe

Vị thế xã hội, vị thế giao tiếp là gì

Theo Đào Thanh Lan [14;55], vị thế xã hội được hiểu là địa vị, tư thế của người này

so với người khác trong xã hội

Vị thế xã hội được tạo thành bởi các nhân tố sau: nghề nghiệp, chức vụ, tuổi tác, quan

hệ huyết thống

Vị thế giao tiếp được hiểu là địa vị, tư thế của một người nào đó trong bối cảnh cụ thể của cuộc giao tiếp mà người đó tham gia

Vị thế giao tiếp được tạo thành bởi các nhân tố sau: vị thế xã hội + mục đích phát ngôn

Mối quan hệ giữa vị thế xã hội và vị thế giao tiếp

Vị thế xã hội và vị thế giao tiếp có quan hệ mật thiết với nhau

1.3 Tiêu chí thứ 3: Khả năng hiện thực hóa của hành động đề nghị

1.3.1 Tiếp ngôn đáp lại bằng hành động ngôn từ

Hành động cầu khiến nói chung và hành động đề nghị nói riêng luôn có xu hướng chờ đợi tiếp ngôn đáp lại bằng hành động Hành động đáp lại này cũng có thể là một hành động ngôn từ (tức là việc trả lời của tiếp ngôn)

Trang 7

1.3.2 Tiếp ngôn đáp lại bằng một hành động vật lý

Hành động vật lý ở đây có thể hiểu là các hành động như lắc đầu khi không đồng ý,

im lặng khi không muốn nói ra lời từ chối hoặc đồng ý, gật đầu khi đồng ý hoặc thực hiện

hành động theo lời đề nghị của chủ ngôn

1.4 Tiêu chí thứ tư: Những dấu hiệu hình thức đánh dấu phát ngôn đề nghị

1.4.1 Vị từ ngôn hành đề nghị: đề nghị

Ví dụ: Sử mang đến cuốn sổ điện báo:

- (Tôi) Đề nghị anh duyệt bức điện sắp đánh

( Trước giờ nổ súng - Phan Tứ - tr 19)

1.4.2 Vị từ tình thái: hãy

Ví dụ: - Địa chỉ gia đình em đã ghi cả ở trong này Anh hãy đưa đến tận tay mẹ em (Người đàn bà uống rượu - Hữu Ước - tr 120)

1.4.3 Vị từ: để

Ví dụ: - Tôi cặp thuyền vào bờ để anh lên nhé!

(Truyện ngắn chọn lọc - Nguyễn Huy Thiệp - tr 204)

1.4.4 Các tiểu từ tình thái: nào/ nhé/ đã

Ví dụ: (1) Cả phòng này, tiếp sau lời Phụng - Vịnh đột ngột lên tiếng - Mình có cái

này, còn gần một tiếng nữa - liếc mắt vào đồng hồ nơi tay Vịnh tiếp - Mình đọc cả phòng

nghe nhé

(Có một đêm như thế - Phạm Thị Minh Thư - tr.36)

(2) Vừa đến ngõ ông lão đã lên tiếng:

- Chúng mày đâu rồi, ra thầy chia quà cho nào Lũ trẻ ở trong nhà ùa ra, ông lão vội

rút cái gói bọc lá chuối khô cho con bé lớn

(Làng - Kim Lân, tr.33)

(3)- Chấp hành đi – Không một phút nào nữa

- Các cậu để mình nói đã,… nếu các cậu không nghe mình, có lẽ mình phải chết

thật…

(Trời vẫn sáng - Lê Văn - tr 247)

1.4.5 Vị từ cầu khiến: mong

Ví dụ: - Anh mong anh và em hãy vì con cháu mình

(Hôn nhân không giá thú - Nguyễn Kim Ánh - tr.110)

II PHƯƠNG PHÁP NHẬN DIỆN HÀNH ĐỘNG ĐỀ NGHỊ TRONG TIẾNG

VIỆT

Đối chiếu vào tiếng Việt thì giữa hành động đề nghị và các hành động khác có những

nét tương đồng Trong giới hạn của luận văn, chúng tôi tập trung quan tâm đến những nét

khác biệt nổi bật giữa hành động đề nghị và các hành động dễ lẫn với hành động này như:

hành động yêu cầu, hành động dặn dò, hành động khuyên bảo, hành động rủ rê, hành động

nhờ vả… Sự so sánh này được tiến hành theo từng cặp để thấy nét khác biệt một cách chi tiết

nhất Những điểm nào có sự tương đồng giữa các cặp hành động đang xét thì chúng tôi không

nêu ra nữa

Ở hành động ngôn từ trực tiếp, chúng tôi tập trung làm rõ sự khác biệt của hành động

đề nghị và hành động khác theo hai tiêu chí:

- Tiêu chí về dấu hiệu ngôn hành (Trong khuôn khổ và điều kiện nhất định

của luận văn, chúng tôi xin không bàn đến ngữ điệu (vốn đòi hỏi những tư liệu

thực nghiệm phức tạp)

- Tiêu chí về các điều kiện hành động, cụ thể là:

+ Về người hưởng lợi + Về chiến lược hành động

+ Về quyền từ chối của tiếp ngôn + Về thời gian hiện thực hóa hành động

Trang 8

Chúng ta có thể tổng quát các nét khác biệt giữa hành động đề nghị và các hành động khác trong bảng sau:

Tiêu chí

Hành

động

Vị thế Người

hưởng lợi

Quyền từ chối của

T

Hướng thực hiện hành động

Chiến lược hành động

Thời gian hiện thực hóa hành động

Dấu hiệu hình thức

Yêu cầu C > T

C (cá nhân hoặc tập thể)

hầu như không T lí trí ngắn Vnh, hãy, đi

Đề nghị

C = T

C > T

C < T

C (cá nhân hoặc tập thể)

C hoặc

T

lí trí ngắn

Vnh, nhé, nào, hãy,

đã

Khuyên

bảo

C = T

C > T

C < T

không câu thúc

Vnh, nên, không nên

Dặn dò

C = T

C > T

C < T

C hoặc

T

và lí trí

không câu thúc nhớ, nhé

Rủ rê C = T C & T có C & T tình cảm ngắn nhé, xem,

đã

Nhờ vả C < T C (cá

nhân) có (ít) T tình cảm

không câu thúc

Vnh, với, giúp, hộ, giùm

Chú giải: C = chủ ngôn, T = tiếp ngôn Tiểu kết: Có thể nói, mỗi hành động ngôn từ đều mang những nét riêng, đặc trưng,

đều có thể tự khẳng định được sự tồn tại độc lập trong một tập hợp các hành động Để nhận diện được hành động đề nghị hay bất kỳ một hành động nào khác không phải chỉ căn cứ vào một tiêu chí mà cần phải dựa vào tổng thể các tiêu chí và đặt trong sự đối sánh giữa hành động này với hành động kia

Riêng về hành động đề nghị, chúng ta có thể thấy, ngoài những đặc điểm chung của hành động cầu khiến như hướng tiếp ngôn đến việc thực hiện một hành động, mong muốn tiếp ngôn phản hồi, có chứa đựng những dấu hiệu hình thức nhất định… thì khi đi vào chi tiết vấn đề, chúng ta sẽ thấy được sự phân lập nhất định giữa nó với các hành động xung quanh như yêu cầu, khuyên bảo, rủ rê, nhờ vả…

CHƯƠNG III PHƯƠNG THỨC BIỂU HIỆN HÀNH ĐỘNG ĐỀ NGHỊ TRONG TIẾNG VIỆT

I PHƯƠNG THỨC BIỂU HIỆN HÀNH ĐỘNG ĐỀ NGHỊ TRỰC TIẾP TRONG TIẾNG VIỆT

1.1 Phương tiện chỉ dẫn lực ngôn trung đề nghị trường minh - lời đề nghị tường minh

Lời đề nghị tường minh là lời chứa vị từ ngôn hành “đề nghị” Xét khả năng hoạt

động của vị từ ngôn hành đề nghị chúng ta có mô hình đầy đủ, khái quát của lời đề nghị chứa

vị từ ngôn hành đề nghị là:

K1 = D1 + Vnhđn + D2 + V (p)

Trang 9

Chàng nói vào giờ phút đầy nước mắt: “Thầy đề nghị cả lớp chúng ta (lúc này chỉ

còn lại ba phần tư) hãy để tang cho các thầy cô và các bạn đã không còn nữa sau trận bom…”

(Đạo của tình yêu - Trần Huy Quang - tr.316)

Mô hình biến thể thứ nhất là dạng rút gọn D1 (Quy ước: K1 a

)

Đây là dạng có tần số xuất hiện cao nhất ở cả văn bản nghệ thuật lẫn văn bản hành chính, công vụ (xem bảng thống kê bên dưới)

Ví dụ: - Chúng ta sẽ lần lượt đến thăm từng gia đình của mỗi bạn Đề nghị các bạn

cho biết ý kiến

(Hôn nhân không giá thú - Nguyễn Kim Ánh- tr 263 )

Mô hình biến thể thứ hai, có tần số xuất hiện thấp hơn là dạng rút gọn D2 (Quy ước:

K1 b)

Ví dụ: Phờng nói:

- Tôi đề nghị bắn chết con voi cái Còn con cái thì Pắc Chăn không chịu về

(Tâm sự chiến sĩ quản tượng - Xuân Thiều - tr.133)

Mô hình biến thể thứ ba, có tần số xuất hiện thấp nhất là dạng rút gọn cả D1 và D2

(Quy ước: K1 c

)

Ví dụ: - Đề nghị trật tự Tôi xin phục vụ một bài vậy ạ!

(Vụ mùa chưa gặt - Nguyễn Kiên - tr 92)

Mô hình biến thể thứ tư (Quy ước: K1 d

):

Đây là mô hình có cả vị từ ngôn hành cầu khiến và vị từ ngôn hành đề nghị cùng hoạt

động trong lời Vị từ ngôn hành cầu khiến là “xin” thiên về biểu thị sắc thái lịch sự của hành động đề nghị còn vị từ ngôn hành đề nghị biểu thị nội dung của hành động

Ví dụ: - Công việc cụ thể xin đề nghị được đóng góp:

Ban Liên lạc tự nguyện tham dự Lễ đặt tên trường với kinh phí tự túc

(Đơn đề nghị của trường Nghi Tàm - TP.HCM - Phạm Văn Lâm - 18/12/ 2003)

Bên cạnh việc sử dụng Vnhck “xin”, một số phát ngôn còn xuất hiện từ “kính” trước

Vnhđn để thể hiện sự khiêm nhường và tôn trọng tiếp ngôn

Ví dụ: … nay chúng tôi làm đơn này kính đề nghị Qúi tòa : Ra quyết định triệu

tập giám định viên của Phân viện Khoa học hình sự TP.HCM…

(Đơn đề nghị triệu tập giám định viên tham dự phiên tòa - Nguyễn Văn Văn &

Nguyễn Thị Huệ - 27/09/ 2010)

K1 a = Vnhđn + D2 + V (p)

K1 b = D1 + Vnhđn + V (p)

K1 c = Vnhđn + V (p)

Trang 10

Tổng số phát ngôn chứa vị từ ngôn hành đề nghị là 105 phát ngôn Dưới đây là bảng thống kê tần số xuất hiện của các vị từ ngôn hành đề nghị ở dạng đầy đủ và dạng biến thể:

Mô hình

Tần

số

Dạng đủ Biến thể 1 Biến thể 2 Biến thể 3 Biến thể 4

1.2 Phương tiện chỉ dẫn lực ngôn trung đề nghị nguyên cấp - phát ngôn đề nghị nguyên cấp

1.2.1 Vị từ tình thái “hãy”

Sơ đồ cấu tạo của lời đề nghị chứa vị từ tình thái “hãy”, được quy ước là kiểu K2 có

dạng như sau:

(Quy ước: D2/ Đ2 = danh/ đại từ ngôi 2; dấu “/” = hoặc; V = vị từ; p = phụ tố)

Ví dụ: Đến cửa một nhà săm, cô ả bảo:

- Anh hãy ghé vào đây một tý cho tôi hỏi vay tiền người này xem có được không

(Người ngựa và ngựa người - Nguyễn Công Hoan - tr.33)

Nếu trong trường hợp phát ngôn thể hiện hành động đề nghị có vị từ tình thái “hãy” đứng

đầu thì từ chỉ tiếp ngôn (từ xưng hô) có thể chuyển xuống cuối phát ngôn hoặc có sự kết hợp với

tiểu từ tình thái “nhé” hoặc có sự xuất hiện cả hai

Ví dụ: Hãy chịu khó đan xong cái này rồi nghỉ, em nhé

(Khẩu ngữ)

Về khả năng kết hợp, “hãy” trong hành động đề nghị có khả năng kết hợp với số

lượng lớn động từ chỉ hoạt động của con người Một số vị từ chỉ sự hoạt động của con người

mang ý nghĩa tiêu cực, như: cút, xéo, biến, câm/ câm mồm, ngậm miệng, thường xuất hiện

trong phát ngôn biểu thị hành động ra lệnh hoặc yêu cầu, không xuất hiện trong phát ngôn biểu thị hành động đề nghị

“Hãy” không kết hợp với các vị từ mà chủ thể tiếp nhận hành động chịu sự tác động tiêu cực Ví dụ như: xấu hổ, ngại, coi thường, khinh bỉ, làm khổ, dửng mỡ và “bị”

“Hãy” hầu như không kết hợp với nhóm vị từ chỉ sự tồn tại, xuất hiện và tiêu biến

(hay động từ chỉ trạng thái) trong phát ngôn đề nghị Bản thân nhóm từ này mang nghĩa quá trình và được xếp vào nhóm vị từ trạng thái chỉ trạng thái nhất định của sự vật, hiện tượng

Đại diện cho nhóm các vị từ này như: “có”, “còn”, “mất”, “hết”

Theo thống kê của luận văn, vị từ tình thái “hãy” hoạt động khá phổ biến với tỉ lệ là 12,3 %

so với tổng số các phát ngôn thể hiện hành động đề nghị trực tiếp

1.2.2 Tiểu từ tình thái “nào”

Mô hình cấu trúc của phát ngôn chứa tiểu từ “nào” cũng giống như mô hình cơ bản của phát ngôn đề nghị chứa tiểu từ “nhé”

Ví dụ: Một ông già hướng mặt về phía Dũng bảo: “Đồng chí bộ đội có chuyện gì vui

kể nghe nào”

(Một người Hà Nội - Nguyễn Khải - tr 250)

Theo khảo sát, tiểu từ “nào” không chỉ có vị trí đứng cuối phát ngôn mà còn đứng cả

ở đầu phát ngôn Khi đặt phát ngôn có chứa “nào” ở vị trí đầu phát ngôn vào ngữ cảnh giao

K2 = D2/ Đ2 + hãy + V (+ p)

D2/ Đg + V + nào

Ngày đăng: 24/01/2014, 23:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đỗ Hữu Châu, Đỗ Hữu Châu tuyển tập - tập 2: Đại cương -Ngữ dụng học - Ngữ pháp văn bản; Nxb Giáo dục, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đỗ Hữu Châu tuyển tập - tập 2: Đại cương -Ngữ dụng học - Ngữ pháp văn bản
Nhà XB: Nxb Giáo dục
2. Nguyễn Thị Hoàng Chi, Khảo sát hoạt động của các hư từ biểu thị tình thái cầu khiến trong câu tiếng Việt; Luận án thạc sĩ Ngữ văn, trường ĐH QGHN, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát hoạt động của các hư từ biểu thị tình thái cầu khiến trong câu tiếng Việt
3. Phạm Thùy Chi, Sự hoạt động của những yếu tố lịch sự trong câu cầu khiến tiếng Việt, Luận văn thạc sĩ khoa học ngữ văn, trường ĐH QGHN, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự hoạt động của những yếu tố lịch sự trong câu cầu khiến tiếng Việt
4. Nguyễn Đức Dân, Ngữ dụng học - tập 1; Nxb Giáo dục, H., 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ dụng học - tập 1
Nhà XB: Nxb Giáo dục
5. Lý Doanh Doanh, Khảo sát phương thức trực tiếp biểu hiện hành động cầu khiến trong tiếng Việt (liên hệ với tiếng Hán) qua một số tác phẩm văn học; Luận văn Th.S. Ngôn ngữ học, H., ĐH KHXH&amp;NV, ĐH QGHN, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát phương thức trực tiếp biểu hiện hành động cầu khiến trong tiếng Việt (liên hệ với tiếng Hán) qua một số tác phẩm văn học
6. Nguyễn Văn Độ, Các phương tiện ngôn ngữ biểu hiện hành động thỉnh cầu trong tiếng Anh và tiếng Việt; Luận án tiến sĩ Ngữ văn, ĐH QGHN, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các phương tiện ngôn ngữ biểu hiện hành động thỉnh cầu trong tiếng Anh và tiếng Việt
7. Đinh Văn Đức, Ngữ pháp tiếng Việt (từ loại); Nxb ĐH và THCN, 1986 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt (từ loại)
Nhà XB: Nxb ĐH và THCN
8. Nguyễn Thiện Giáp, Dụng học việt ngữ, Nxb ĐH QGHN, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dụng học việt ngữ
Nhà XB: Nxb ĐH QGHN
9. Cao Xuân Hạo, Tiếng Việt sơ thảo ngữ pháp chức năng - quyển 1, Nxb Khoa học Xã hội, 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt sơ thảo ngữ pháp chức năng - quyển 1
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
10. Nguyễn Thị Hồng, Hành vi cầu khiến và ứng dụng trong giảng dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ; Luận văn ThS. Ngôn ngữ học, H., ĐH KHXH&amp;NV, ĐHQGHN, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hành vi cầu khiến và ứng dụng trong giảng dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ
11. Bùi Mạnh Hùng, Bàn thêm về vấn đề phân loại câu theo mục đích phát ngôn, Ngôn ngữ số 2, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn thêm về vấn đề phân loại câu theo mục đích phát ngôn
12. Nguyễn Thị Thanh Hương, Đặc trưng ngữ nghĩa – ngữ pháp của phát ngôn hỏi – cầu khiến, Luận văn ThS. Ngôn ngữ học, H., ĐH KHXH&amp;NV, ĐHQGHN, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc trưng ngữ nghĩa – ngữ pháp của phát ngôn hỏi – cầu khiến
13. Vũ Thị Thanh Hương, Gián tiếp và lịch sự trong lời cầu khiến tiếng Việt, Tạp chí Ngôn ngữ số 1, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gián tiếp và lịch sự trong lời cầu khiến tiếng Việt
14. Đào Thanh Lan, Ngữ pháp ngữ nghĩa của lời cầu khiến tiếng Việt, Nxb Khoa học xã hội, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp ngữ nghĩa của lời cầu khiến tiếng Việt
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
15. Đào Thanh Lan, Phân tích câu đơn tiếng Việt theo cấu trúc đề - thuyết, Nxb ĐH QGHN, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích câu đơn tiếng Việt theo cấu trúc đề - thuyết
Nhà XB: Nxb ĐH QGHN
16. Đào Thanh Lan, Cách biểu hiện hành động cầu khiến gián tiếp bằng cầu hỏi - cầu khiến, Tạp chí Ngôn ngữ số 11, 2005, Tr: 28-32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cách biểu hiện hành động cầu khiến gián tiếp bằng cầu hỏi - cầu khiến
17. Đào Thanh Lan, Câu cầu khiến tiếng Việt, Đề tài cấp ĐHQGHN, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Câu cầu khiến tiếng Việt
18. Đào Thanh Lan, Ứng dụng quan điểm ngữ pháp chức năng vào khảo sát lại nhóm từ: Hãy, Đừng, Chớ, Tạp chí khoa học, ĐHQGHN, số 3, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng dụng quan điểm ngữ pháp chức năng vào khảo sát lại nhóm từ: Hãy, Đừng, Chớ
19. Đào Thanh Lan, Một số đặc điểm ngữ nghĩa – ngữ dụng của nhóm vị từ biểu thị hoạt động nói năng trong tiếng Việt; Tạp chí Ngôn ngữ số 7, 2009, Tr: 1-6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc điểm ngữ nghĩa – ngữ dụng của nhóm vị từ biểu thị hoạt động nói năng trong tiếng Việt
20. Đào Thanh Lan, Nhận diện hành động ngôn từ gián tiếp trên tư liệu hỏi – cầu khiến tiếng Việt; Tạp chí Ngôn ngữ, số 11, 2007, Tr 10-19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận diện hành động ngôn từ gián tiếp trên tư liệu hỏi – cầu khiến tiếng Việt

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ cấu tạo của lời đề nghị chứa vị từ tình thái  “hãy”, được quy ước là kiểu K2 có  dạng như sau: - Nghiên cứu hành động đề nghị trong tiếng việt
Sơ đồ c ấu tạo của lời đề nghị chứa vị từ tình thái “hãy”, được quy ước là kiểu K2 có dạng như sau: (Trang 10)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w