1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hành vi ngôn ngữ thề (swear) trong tiếng việt

199 4K 21
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hành Vi Ngôn Ngữ Thề (Swear) Trong Tiếng Việt
Tác giả Nguyễn Thị Thu Nga
Người hướng dẫn GS.TS Nguyễn Văn Hiệp, TS Nguyễn Thị Trung Thành
Trường học Viện Hàn Lâm Khoa Học Xã Hội Việt Nam
Chuyên ngành Lí luận ngôn ngữ
Thể loại Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2013
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 199
Dung lượng 2,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

khóa luận, luận văn, thạc sĩ, tiến sĩ, cao học, đề tài

Trang 1

NGUYỄN THỊ THU NGA

HÀNH VI NGÔN NGỮ THỀ (SWEAR)

TRONG TIẾNG VIỆT

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

HÀ NỘI - 2013

Trang 2

NGUYỄN THỊ THU NGA

HÀNH VI NGÔN NGỮ THỀ (SWEAR)

TRONG TIẾNG VIỆT

Chuyên ngành: Lí luận ngôn ngữ

Mã số: 62.22.01.01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

1 GS.TS Nguyễn Văn Hiệp

2 TS Nguyễn Thị Trung Thành

HÀ NỘI - 2013

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các sốliệu trong luận án là trung thực Những kết luận khoa học của luận án chưađược công bố trong bất kì công trình nào khác.

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Nguyễn Thị Thu Nga

Trang 4

Mục lục

Danh mục các kí hiệu, các chữ viết tắt

Danh mục các bảng

1.1.4 Hành vi ở lời trực tiếp và hành vi ở lời gián tiếp 19 1.1.5 Phương thức thực hiện hành vi ở lời 20

1.3.2 Khái niệm ngôn ngữ, mối quan hệ ngôn ngữ-văn hóa 35

2.3.1 Phát ngôn ngữ vi thề với tư cách một tham thoại dẫn nhập 70

Trang 5

LỜI THỀ

3.1 Đặc trưng văn hóa dân tộc qua nội dung ngữ nghĩa của lời thể 86 3.1.1 Ý nghĩa văn hóa của những biểu tượng tâm linh trong lời thề Việt 87 3.1.2 Ý nghĩa văn hóa của những thiệt hại, tổn thất mà người thề tự nhận 98 3.1.3 Sự biến đổi nội dung lời thề qua các thời điểm lịch sử 106 3.2 Đặc trưng văn hóa dân tộc qua cấu trúc hình thức của lời thề 113

CHƯƠNG 4: MỘT SỐ ĐẶC TRƯNG CỦA VIỆC SỬ DỤNG LỜI THỀ

TRONG GIAO TIẾP CỦA NGƯỜI VIỆT HIỆN NAY

117

4.1.2 Mức độ sử dụng lời thề trong các hoàn cảnh giao tiếp 119 4.1.3 Hoàn cảnh thúc đẩy sử dụng lời thề trong giao tiếp 121

4.2 Hình thức lời thề được sử dụng trong giao tiếp 124 4.2.1 Lời thề trong hoàn cảnh không có khả năng đáp ứng yêu cầu của đối

4.4.1 Tình huống đối tượng tiếp nhận cảm thấy tin tưởng lời thề 141 4.4.2 Tình huống đối tượng tiếp nhận cảm thấy lời thề chưa đáng tin cậy 143 4.4.3 Tình huống đối tượng tiếp nhận cảm thấy lời thề không đáng tin cậy 145

Trang 6

1 BTNV: biểu thức ngữ vi

2 ĐTNV: động từ ngữ vi

3 HT: hội thoại

4 HVCH: hành vi chủ hướng

5 HVMR: hành vi mở rộng

6 HVPT: hành vi phụ thuộc

7 PNNV: phát ngôn ngữ vi

8 TTDN: tham thoại dẫn nhập

9 TTHĐ: tham thoại hồi đáp

10 Sp1: người nói/nhân vật hội thoại thứ nhất

11 Sp2: người nói/nhân vật hội thoại thứ hai

Trang 7

SỐ TÊN BẢNG, BIỂU TRANG 2.1 So sánh điều kiện sử dụng của hành vi thề Kết ước và Xác tín 45

2.3 Kết quả phân tích loại sự tình trong nghĩa biểu hiện của NDMĐ 61 2.4 So sánh cấu tạo cú pháp và nghĩa biểu hiện của NDMĐ thề Kết

4.2 Mức độ sử dụng lời thề trong các hoàn cảnh giao tiếp 120

4.5 Lời thề khi không có khả năng đáp ứng yêu cầu của đối tượng 125 4.6 Lời thề khi đối tượng giao tiếp thiếu sự tin tưởng 128 4.7 Lời thề khi đối tượng yêu cầu phải kết ước/xác tín 132 4.8 Lời thề khi bị tổn thương về danh dự, nhân phẩm 135 4.9 Mối quan hệ giữa đối tượng và việc sử dụng các hình thức lời

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Nghiên cứu ngôn ngữ trong mối quan hệ với người sử dụng (Ngữ dụng

học) là một hướng tiếp cận mới mẻ của ngôn ngữ học hiện đại, trong đó người

nghiên cứu hướng tới việc lí giải cơ chế vận hành và thực hiện chức năng giaotiếp của ngôn ngữ Trong những năm gần đây, một loạt vấn đề quan trọng của

Ngữ dụng học đã được tập trung nghiên cứu như: Nghĩa tường minh và nghĩa

hàm ẩn, tiền giả định và hàm ý, chiếu vật và chỉ xuất, nghĩa miêu tả và nghĩatình thái, mục đích phát ngôn, lí thuyết lập luận, lí thuyết hội thoại …Trongsố đó, hành vi ngôn ngữ luôn luôn được xem là một trong những vấn đề cơbản và cốt lõi Việc phát hiện ra bản chất hành vi cuả việc nói năng của con

người đã giúp Ngữ dụng học có thể trả lời những câu hỏi như: Mục đích thực

sự cúa một câu nói là gì? Chúng ta làm gì khi chúng ta nói? Chúng ta thực sự nói gì khi chúng ta nói?

Thề là một hành vi ngôn ngữ được người Việt sử dụng khá phổ biến

trong giao tiếp với hiệu lực ở lời và mượn lời khác nhau Đây là một hành vingôn ngữ rất đặc biệt, bởi lẽ có thể xếp nó vào nhóm Xác tín (Assertives), tức

thề được xem là một dạng xác tín mạnh (ví dụ Tôi thề là tôi không biết, tôi thề là tôi không lấy số tiền đó…), lại cũng có thể xếp nó vào nhóm Kết ước

(Commissive), tức thề được xem là một dạng kết ước ở mức độ cực cao (ví dụ

Tôi thề sẽ cho nó biết tay, tôi thề sẽ không bao giờ hút thuốc nữa…) Việc

nghiên cứu bản chất của hành vi thề, cấu trúc và phương tiện thể hiện, các tác nhân quyết định hiệu quả của hành vi thề, nét đặc trưng văn hóa của người Việt Nam biểu lộ qua hành vi thề, những nét riêng của việc sử dụng hành vi

thề trong giao tiếp của các nhóm xã hội… là một vấn đề cần thiết Tuy nhiên,

cho đến nay, ở Việt Nam vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu một

Trang 9

cách hệ thống và toàn diện về hành vi thề.

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Theo quan sát của chúng tôi, các nghiên cứu về hành vi ngôn ngữ đitheo hai hướng chính: Thứ nhất là những vấn đề có tính lí thuyết, như là kháiniệm hành vi ngôn ngữ, phân loại hành vi ngôn ngữ, điều kiện sử dụng hành

vi ngôn ngữ, biểu thức ngữ vi và động từ ngữ vi… Thứ hai là những nghiêncứu vận dụng lí thuyết hành vi ngôn ngữ để nghiên cứu một hoặc một sốhành vi ngôn ngữ cụ thể trong các ngôn ngữ cụ thể Sau đây chúng tôi sẽ lầnlượt trình bày các hướng nghiên cứu này

2.1 Những nghiên cứu có tính lí thuyết

Austin (1962) là người đã phát hiện ra bản chất hành động của sự nóinăng và xây dựng lí thuyết hành vi ngôn ngữ Theo Austin, nói cũng là làm1

và người ta thực hiện 3 loại hành vi ngôn ngữ trong khi nói ra một phát ngôn:tạo lời, ở lời và mượn lời Trong đó hành vi ở lời là đối tượng nghiên cứuchính của Ngữ dụng học Các hành vi ở lời được Austin phân thành 5 lớp lớn

Đó là: 1.Phán xét (verdictive); 2.Hành xử (exrcitive); 3.Kết ước (commissive); 4.Ứng xử (behabitive); và 5.Bày tỏ (expositive) Trong đó hành

vi thề được ông xếp vào nhóm Kết ước Đây là nhóm gồm những hành vi ràng buộc người nói vào những trách nhiệm, nghĩa vụ nhất định: hứa hẹn, kí kết,

giao kèo, thỏa thuận, giao ước, thề bồi, cá cược,…

John Searle (1969) đã tiếp tục phát triển lí thuyết hành vi ngôn ngữ của

Austin Trong cuốn sách rất nổi tiếng của mình (“Speech acts”), ông cho rằng

cần phải xác lập cho được một hệ thống tiêu chí trước khi đưa ra kết quảphân loại các hành vi ngôn ngữ Searle đã đưa ra 12 tiêu chí, trong đó 4 tiêu

chí quan trọng nhất là: Đích tại lời (illocutionary point), Hướng khớp ghép

1 Công trình của Austin “How to do things with words” được dịch sang tiếng Pháp là “Quand dire, C’est faire” (Nói tức là làm)

Trang 10

lời – hiện thực (direction of fit), Trạng thái tâm lí được biểu hiện, Nội dung mệnh đề Căn cứ vào 4 tiêu chí này và một số các tiêu chí khác, Searle đã

phân loại các hành vi ở lời thành 5 lớp lớn: Biểu hiện (representatives), Điều

khiển (directives), Kết ước (commissives), Biểu cảm (expressives), Tuyên bố

(declarations) Trong đó, hành vi thề được xếp vào nhóm Kết ước, một nhóm bao gồm các hành vi hứa, cam đoan, cam kết, hẹn, giao ước, bảo đảm, thỏa

thuận, thề …

Có thể kể đến quan điểm của một số nhà ngôn ngữ học khác có liênquan đến lí thuyết “Hành vi ngôn ngữ”, thể hiện qua các công trình cụ thể Đólà các đồng chủ biên Ferenc Kiefer, John R Searle và Manfred Bierwisch

(1980) với cuốn “Speech Act Theory and Pragmatics” ( Lí thuyết về Hành vi

ngôn ngữ và Ngữ dụng học) [85] bao gồm: Manfred Bierwisch với bài

“Semantic Structure and Illocutionary Force” (Cấu trúc ngữ nghĩa và lực ngôn trung); Wolfgang Motsch với “Situational Context and Illocutionary

Force” (Ngôn cảnh tình huống và lực ngôn trung); Francois Recanati với

“Some Remarks on Explicit Performatives, Indirect Speech Acts, Locutionary

Meaning and Truth –Value” (Một số nhận xét về câu ngôn hành tường minh,

hành vi ở lời gián tiếp, ý nghĩa tạo lời và chân trị); Daniel Vanderveken với

“Illocutionary logic and Self – Defeating” (Lô gích của hành vi ở lời và thất

sách của hành vi)…; Michale L Geis với cuốn “Speech Acts and

Conversational Interaction” (Hành vi ngôn ngữ và tương tác hội thoại) [77]…

hoặc công trình của S.C.Levinson (1983) “Pragmatics” (Ngữ dụng học) [76]

với các chương 3, 5, 6 bàn về hàm ý hội thoại, và hành vi ngôn ngữ … Nóichung các nhà nghiên cứu đã bàn đến những khía cạnh khác nhau của hành vingôn ngữ với tư cách là một trong những trụ cột của Ngữ dụng học hiện đại

Ở Việt Nam, Ngữ dụng học, trong đó có hành vi ngôn ngữ dành được

sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Có thể điểm qua một số tác giả tiêu

Trang 11

biểu như: Đỗ Hữu Châu (1993), trong “Đại cương ngôn ngữ học” (viết chung

với Bùi Minh Toán), phần Ngữ dụng học, đã đưa ra khái niệm hành vi ngônngữ, phân biệt biểu thức ngữ vi và động từ ngữ vi, và nêu một số dấu hiệungữ dụng đánh dấu lực tại lời của các hành vi ngôn ngữ Nguyễn Đức Dân(1998), trong “Ngữ dụng học”, đã nêu những cơ sở lí thuyết căn bản về ngữdụng học trong đó có hành vi ngôn ngữ Song tác giả không phân biệt cácbiểu thức ngữ vi và phát ngôn ngữ vi mà cho rằng biểu thức ngữ vi và phát

ngôn ngữ vi là một Nguyễn Văn Khang (1999), trong “ Ngôn ngữ học xã

hội-Những vấn đề cơ bản”, khi trình bày về tính xã hội của sự nói năng đã nêu

khái quát lý thuyết của Austin, Searle và hướng nghiên cứu hành vi ngôn ngữnhư một hành vi xã hội của một số nhà nghiên cứu như Reinach Nguyễn

Thiện Giáp (2000) trong cuốn “Dụng học Việt ngữ” đã trình bày những vấn

đề Ngữ dụng học ứng dụng vào nghiên cứu tiếng Việt Nguyễn Văn Hiệp

(2008) trong cuốn “Cơ sở ngữ nghĩa phân tích cú pháp” khi trình bày về

nghĩa mục đích phát ngôn (một trong bốn cơ sở ngữ nghĩa của việc phân tíchvà miêu tả cú pháp câu tiếng Việt: nghĩa miêu tả, nghĩa tình thái, nghĩa chủđề, nghĩa mục đích phát ngôn) đã nêu khái quát lí thuyết hành vi ngôn từ củaAustin, phân loại hành vi ngôn ngữ, và đặc biệt tác giả đã phân tích mối quanhệ giữa đánh dấu mục đích phát ngôn và đánh dấu kiểu câu, vai trò của cáctiểu từ tình thái tiếng Việt trong việc hình thành hiệu lực ở lời của phát ngôn

Đỗ Việt Hùng (2011) trong cuốn “Ngữ dụng học” ngoài phần trình bày nhữnglí thuyết chung về hành vi ngôn ngữ, tác giả cho rằng sự kiện lời nói được tạobởi một nhóm các hành vi ngôn ngữ, thống nhất với nhau để thực hiện mộthành vi ngôn ngữ trung tâm

2.2 Những nghiên cứu có tính ứng dụng

Đây là hướng nghiên cứu vận dụng lí thuyết hành vi ngôn ngữ vào việcxem xét một ngôn ngữ cụ thể Trên thế giới, có thể kể đến các tác giả: G.N

Trang 12

Leech (1983) với ““Những nguyên lí ngữ dụng học” (Principles of

Pragmatics) đã mô tả câu ngữ vi và động từ ngôn hành trong tiếng Anh; Anna

Weirzbicka (1987) với cuốn “English speech act verb” (Động từ ngôn hành

tiếng Anh) đã miêu tả cấu trúc ngữ nghĩa và điều kiện sử dụng của tất cả các

động từ nói năng trong tiếng Anh “English speech act verb” được coi như

một cuốn từ điển chỉ dẫn cách sử dụng các động từ nói năng tiếng Anh nhằm

thực hiện các hành vi ngôn ngữ, trong đó động từ thề (Swear) được xếp vào 2 nhóm: swear 1 tương đương với hành vi thề (nhóm Kết ước), còn swear 2 tương đương với hành vi chửi thề trong tiếng Việt (hành vi này không có

động từ ngôn hành)

Ở Việt Nam, những công trình nghiên cứu có tính ứng dụng về hành vingôn ngữ tập trung vào các hướng sau:

 Nghiên cứu phân tích cấu trúc ngữ nghĩa của nhóm các động từ nóinăng biểu thị hành vi ngôn ngữ Có thể điểm qua một số nghiên cứu tiêu biểu

như: “Cấu trúc ngữ nghĩa của nhóm động từ nói năng nhóm thông tin” (Luận

văn Thạc sĩ của Nguyễn Thị Ngân 1996); “Cấu trúc ngữ nghĩa của nhóm động

từ nói năng nhóm khen, tặng, chê” (Luận văn Thạc sĩ của Lê Thị Thu Hoa 1996); “Cấu trúc ngữ nghĩa của nhóm động từ nói năng nhóm bàn, tranh

luận, cãi” (Luận văn Thạc sĩ của Đinh Thị Hà 1996); “Cấu trúc ngữ nghĩa của

động từ nói năng nhóm khuyên, ra lệnh, nhờ” (Luận văn Thạc sĩ của tác giả

Nguyễn Thị Thái Hòa 1997) Các công trình theo hướng này tập trungnghiên cứu động từ nói năng về phương diện ngữ nghĩa, từ đó xây dựng môhình cấu trúc ngữ nghĩa cho nhóm động từ này

 Nghiên cứu các hành vi ngôn ngữ như một sự kiện lời nói trong tươngtác hội thoại Về hướng này, có thể kể đến một số các sự kiện lời nói đã được

nghiên cứu như: “Hành vi cho tặng trong sự kiện lời nói cho, tặng” (Luận văn Thạc sĩ của Chử Thị Bích 2001); “Cặp thoại điều khiển trong sự kiện lời nói

Trang 13

điều khiển” (Luận văn Thạc sĩ của Trịnh Thanh Hà 2001); “Cặp thoại thỉnh cầu (xin) trong sự kiện lời nói thỉnh cầu” (Luận văn Thạc sĩ của Nguyễn Thị

Vân Anh 2001); “Hành vi ngôn ngữ mách và sự kiện lời nói mách” (Luận văn Thạc sĩ của Nguyễn Thị Hoài Linh, 2003); “Lịch sự trong đoạn thoại xin phép

của tiếng Việt” (Luận án Tiến sĩ của Đào Nguyên Phúc 2007); “Hành vi ngôn

ngữ trách và sự kiện lời nói trách” (Luận văn Thạc sĩ của Nguyễn Thu Hạnh 2005); “Sự kiện lời nói chê trong tiếng Việt” (Luận án Tiến sĩ của Nguyễn Thị Hoàng Yến 2006); “Hành vi nhờ và sự kiện lời nói nhờ trong tiếng Việt”

(Luận án Tiến sĩ Ngữ văn của Dương Tuyết Hạnh 2007) Nét chính của cáccông trình này là nghiên cứu xây dựng khái niệm một hành vi ngôn ngữ cụthể, xây dựng cấu trúc của biểu thức ngữ vi tường minh của hành vi ngôn ngữđó, xác định cấu trúc đặc thù của từng sự kiện lời nói với các tham thoại dẫnnhập, tham thoại hồi đáp, bước đầu tìm hiểu ảnh hưởng của yếu tố văn hóađến sự thể hiện hành vi ngôn ngữ được nghiên cứu

Đáng chú ý là, trong luận án Tiến sĩ “Sự kiện lời nói cam kết trong hộithoại”, Vũ Tố Nga (2010) đã miêu tả cấu trúc của BTNV cam kết, cấu trúc lõicủa sự kiện lời nói cam kết, các thành phần tạo nên một tham thoại dẫn nhậpcam kết và đặc biệt chú ý đến vai trò của cấu trúc “Nếu thì” trong việc trìhoãn hiệu lực ở lời cam kết của phát ngôn Khi mô tả các động từ ngữ vi biểuthị hành vi “cam kết”, Vũ Tố Nga đã bước đầu chỉ ra sự khác biệt của động từ

thề so với các động từ hứa, nguyện, cam đoan, bảo đảm, thế chấp, bảo lãnh : “Thề biểu thị một hành vi cam kết bày tỏ quyết tâm cao độ của người nói với điều mình hứa hẹn Lí do khiến cho lời thề có sức nặng là ở chỗ người nói đã mang điều mà người ta vẫn cho là thiêng liêng nhất ra làm đảm bảo,

để người nghe tin và cảm thấy yên lòng – danh dự Trong phát ngôn cam kết

có động từ “thề” thường có thêm phần nêu điều kiện ràng buộc trách nhiệm, gây thiệt hại cho người nói nếu lời cam kết không được thực hiện.”[58, 52].

Trang 14

Đồng thời, trong công trình này, Vũ Tố Nga cũng bước đầu chỉ ra những néttương đồng trong cách biểu thị hành vi cam kết giữa người Việt, người TrungQuốc và Hàn Quốc Có thể nói rằng, luận án của Vũ Tố Nga nghiên cứu cam

kết với tư cách một nhóm hành vi, trong đó thề là một hành vi cam kết ở mức

độ cao Và cũng dễ nhận ra rằng Vũ Tố Nga hoàn toàn chưa đề cập đến thềnhư một hành vi thuộc nhóm xác tín

 Nghiên cứu so sánh đối chiếu phương tiện thể hiện hành vi ngôn ngữgiữa tiếng Việt với một ngôn ngữ khác Có thể điểm một số công trình tiêu biểu

như: “Một số khác biệt giao tiếp lời nói Việt Mĩ trong cách thức khen và tiếp

nhận lời khen” (Luận án Tiến sĩ Ngữ văn của Nguyễn Văn Quang 1998); “Một

số đặc điểm văn hóa ứng xử của hành vi từ chối trong tiếng Việt” (có sự đối

chiếu với tiếng Anh) (Luận án Tiến sĩ Ngữ văn của Nguyễn Phương Chi

2004); “Phương thức biểu hiện hành vi từ chối lời cầu khiến trong tiếng

Anh ,liên hệ tiếng Việt” (Luận án Tiến sĩ Ngữ văn của Trần Chi Mai 2004);

“Nghiên cứu đối chiếu hành vi bác bỏ trong tiếng Thái và tiếng Việt” (Luận án

Tiến sĩ Ngữ văn của Siriwong Hongsawan, sau đó đã được công bố thànhsách) Trong các công trình này, các tác giả chủ yếu miêu tả và phân tích sựkhác biệt về phương tiện và cách thức biểu thị hành vi ngôn ngữ giữa tiếng Việtvà một ngôn ngữ khác, bước đầu lí giải sự khác biệt đó từ góc độ văn hóa

Như đã có dịp nói ở trên, các nhà nghiên cứu đều nhất trí coi hành vingôn ngữ là một vấn đề trung tâm của lí thuyết Ngữ dụng học Bởi từ đây,nhà nghiên cứu có thể xác lập mối liên hệ với các vấn đề khác cuả Ngữ dụnghọc như lí thuyết hội thoại, lịch sự, nghĩa hàm ẩn… Theo nhận xét của chúngtôi, bức tranh toàn cảnh về việc nghiên cứu hành vi ngôn ngữ đã khá phongphú song vẫn cần những nghiên cứu mang tính ứng dụng Bởi số lượng hành

vi ngôn ngữ của con người nói chung là cực kì phong phú, và trong mỗi ngônngữ cụ thể, sự biểu hiện lại càng đa dạng, tinh tế mang đặc trưng văn hóa, xã

Trang 15

hội của mỗi cộng đồng ngôn ngữ.

Các công trình nghiên cứu lí thuyết và đặc biệt là các công trình nghiêncứu một hành vi ngôn ngữ cụ thể trong tiếng Việt hoặc so sánh tiếng Việt vớimột ngôn ngữ khác đã giúp chúng tôi xác lập khung vấn đề cần giải quyết khitriển khai đề tài “Hành vi ngôn ngữ thề trong tiếng Việt”

3 Mục đích nghiên cứu

Luận án của chúng tôi hướng đến mục đích góp phần minh chứng cho líthuyết của Ngữ dụng học về hành vi ngôn ngữ, góp phần làm phong phú thêmlí thuyết về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa; làm rõ bản chất của hành

vi thề từ góc độ cấu trúc, chức năng và sử dụng

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Trong luận án này, chúng tôi nhắm đến thực hiện những nhiệm vụnghiên cứu cụ thể sau:

4.1 Xây dựng khái niệm hành vi thề, từ đó rút ra những đặc trưng củahành vi thề

4.2 Mô tả cấu trúc ngữ nghĩa của biểu thức ngữ vi thề tường minh vànguyên cấp trong tiếng Việt, xem xét chức năng của phát ngôn ngữ vi thểtrong hội thoại

4.3 Phân tích sự khác biệt giữa hành vi thề với tư cách là một hành vithuộc nhóm Xác tín và hành vi thề thuộc nhóm Kết ước

4.4 Bước đầu lí giải cách sử dụng hành vi thề của người Việt dưới gócnhìn văn hóa và xã hội

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp miêu tả: được sử dụng trong quá trình miêu tả cácthành tố của BTNV thề tường minh và nguyên cấp, miêu tả cấu trúc củaPNNV thề

5.2 Phương pháp so sánh: được sử dụng trong so sánh BTNV thề khi

Trang 16

thực hiện hai chức năng Kết ước và Xác tín; so sánh sự biến đổi nội dung ngữnghĩa của lời thề qua các thời điểm lịch sử.

5.3 Phương pháp điều tra xã hội học: sử dụng bảng hỏi tiêu chuẩn hóaphỏng vấn 505 khách thể nghiên cứu thuộc các nhóm xã hội để tìm hiểu đặcđiểm của việc sử dụng hành vi thề trong giao tiếp hiện nay

5.4 Phương pháp phân tích diễn ngôn: được sử dụng trong quá trìnhphân tích các ngữ liệu (ngôn bản, đoạn thoại ) có chứa PNNV thề trong mốitương quan với bối cảnh giao tiếp

Sử dụng bốn phương pháp nghiên cứu nói trên, luận án đồng thời tiếnhành một số thủ pháp nghiên cứu sau:

- Thống kê phân loại: được sử dụng để thu thập và xử lí ngữ liệu và sốliệu

- Phân tích và hệ thống hóa: được sử dụng trong phân tích ngữ liệu, sốliệu để khái quát những đặc điểm cấu trúc, ngữ nghĩa, ngữ dụng của hành vithề

6 Phạm vi nghiên cứu

Trong tiếng Việt, hành vi thề có thể được thực hiện trực tiếp hoặc giántiếp Trong luận án, chúng tôi chủ yếu xem xét cách thực hiện hành vi thề trựctiếp, tức hành vi thề có những dấu hiệu tường minh

Luận án sử dụng ngữ liệu thu thập từ :

- Các tác phẩm văn học Việt Nam

- Một số bộ phim truyền hình Việt Nam

- Hội thoại trong giao tiếp hàng ngày

- Kết quả điều tra xã hội học bằng bảng hỏi kết hợp phỏng vấn sâu

7 Kết cấu của luận án

Ngoài các phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nguồn

Trang 17

ngữ liệu trích dẫn, phụ lục, luận án gồm 4 chương:

Chương 1: Cơ sở lí thuyết Trong chương này, luận án trình bày ba vấn

đề lí thuyết cơ bản là cơ sở để triển khai nghiên cứu hành vi thề: lí thuyếthành vi ngôn ngữ, lí thuyết hội thoại và lí thuyết về mối quan hệ giữa ngônngữ và văn hóa

Chương 2: Đặc điểm cấu trúc và ngữ nghĩa của hành vi thề Trong

chương này, luận án xây dựng khái niệm hành vi thề, các đặc trưng của hành

vi thề đồng thời miêu tả cấu trúc của BTNV thề, xem xét chức năng củaPNNV thề trong hội thoại

Chương 3: Một số đặc trưng văn hóa dân tộc qua hành vi thề Trong

chương này, luận án sẽ tập trung lí giải những đặc trưng văn hóa-dân tộc đượcthể hiện qua nội dung ngữ nghĩa và cấu trúc của lời thề

Chương 4: Một số đặc điểm của việc sử dụng hành vi thề trong giao

tiếp hiện nay Luận án trình bày kết quả của một điều tra xã hội học để bước

đầu chỉ ra những đặc điểm của việc sử dụng hành vi thề cũng như ảnh hưởngcủa những nhân tố xã hội như giới tính, nghề nghiệp đến việc sử dụng hành vithề của người Việt hiện nay

8 Cái mới và đóng góp của luận án

8.1 Cái mới của luận án

- Mô tả cặn kẽ cấu trúc ngữ nghĩa của biểu thức ngữ vi thề, chức năng

của phát ngôn ngữ vi thề trong hội thoại và khái quát những đặc trưng, tínhchất căn bản của hành vi thề trong tiếng Việt

- Chỉ ra các tiêu chí nhận diện hành vi thề với tư cách một hành vithuộc nhóm Xác tín và hành vi Thề với tư cách một hành vi thuộc nhóm Kếtước

- Bước đầu lí giải những đặc trưng văn hóa, xã hội trong cách sử dụng

Trang 18

hành vi thề của người Việt.

8.2 Đóng góp của luận án

- Về mặt lí luận: Xây dựng mô hình cấu trúc, ngữ nghĩa, ngữ dụng vềhành vi thề trong tiếng Việt Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần khẳngđịnh một hướng nghiên cứu còn khá mới mẻ: nghiên cứu hành vi ngôn ngữgắn với các yếu tố văn hóa và xã hội

- Về mặt thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận án cho phép đưa ranhững chỉ dẫn cho việc sử dụng hành vi thề trong giao tiếp một cách có hiệuquả Đồng thời cũng gợi ý một giải pháp cho việc biên soạn giáo trình dạytiếng Việt cho người nước ngoài theo hướng dạy hành vi ngôn ngữ Việcnghiên cứu hành vi thề gắn với các yếu tố văn hóa và xã hội có thể được mởrộng để nghiên cứu các hành vi ngôn ngữ khác

Trang 19

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ THUYẾT

1.1 Lí thuyết hành vi ngôn ngữ

1.1.1 Hành vi ngôn ngữ 2

Người đầu tiên đề xuất lí thuyết hành vi nói (Theory of Speech Act) là

John.L.Austin, một nhà triết học Anh 12 chuyên đề do ông trình bày ở Đạihọc tổng hợp Harvard vào năm 1955 đã được tập hợp lại thành sách xuất bản

năm 1962 với nhan đề How to do things with word (Người ta hành động như

thế nào bằng lời nói) Trong cuốn sách này, ông đã phát biểu một luận điểm

hết sức quan trọng, đó là “khi tôi nói tức là tôi hành động” (When I say, (…)

I do)3 Nghĩa là, khi chúng ta nói năng là chúng ta hành động, đây là loạihành động đặc biệt mà phương tiện là ngôn ngữ

Việc phát hiện ra bản chất hành động của việc nói năng của Austin xuấtphát từ việc ông phân biệt sự khác nhau giữa phát ngôn khảo nghiệm (còn gọilà khẳng định, trần thuật, xác tín, miêu tả) và phát ngôn ngữ vi Ông cho rằngphát ngôn khảo nghiệm là những phát ngôn về mặt ngữ nghĩa đều có thể đượcđánh giá theo tiêu chuẩn logic đúng – sai Chẳng hạn :

(1) Cô Liêu Đình là sinh viên Trung Quốc.

Người nghe có thể đối chiếu với thực tế để phán xét về tính đúng/saihay chân trị của câu này Cụ thể nếu cô Liêu Đình quả thật là sinh viên TrungQuốc thì câu này đúng, còn nếu là cô Liêu Đình không phải sinh viên TrungQuốc, thì câu này sai

2 Đây là thuật ngữ được dịch từ cụm từ “Speech act” trong tiếng Anh Hiện nay, ở Việt Nam, có nhiều cách gọi khác nhau: hành vi ngôn từ, hành vi nói, hành vi ngôn ngữ, hành vi nói năng, hành động ngôn từ, hành

động nói…Trong luận án, chúng tôi sử dụng thuật ngữ hành vi ngôn ngữ

3

Dẫn theo Siriwong Hongsawan (2008), Nghiên cứu đối chiếu hành vi bác bỏ trong tiếng Thái và tiếng Viêt,

Luận án Tiến sĩ ngôn ngữ học, ĐH Quốc gia Hà Nội

Trang 20

Trong khi đó, phát ngôn ngữ vi là những phát ngôn được nói ra khôngnhằm trình bày một kết quả khảo nghiệm, một sự miêu tả về các sự vật, sựkiện, chúng không phải là những báo cáo về hiện thực mà nhằm làm một việcgì đó như thề thốt, hứa hẹn, đánh cuộc, xin lỗi, vì thế chẳng thể nào đánh giáchúng là đúng hay sai (nhưng có thể đánh giá chúng được thực hiện có chân

thành hay không)… Chẳng hạn tôi nói: “Tôi thề với anh là ngày mai tôi sẽ trả

tiền anh” tức là tôi đã thực hiện hành vi “thề”, “Tôi cuộc với anh là đội Hoàng Anh – Gia Lai sẽ thắng đội Sông Lam Nghệ An” tức là tôi đã thực hiện

hành vi “đánh cuộc”, “ Tôi xin lỗi vì tôi đã đến muộn” tức là tôi đã thực hiện hành vi “xin lỗi”, “ Anh ấy có nhà không chị?” tức là tôi đã thực hiện hành vi

“hỏi”… Phát ngôn ngữ vi là những phát ngôn mà khi người ta nói chúng ra

thì đồng thời người ta thực hiện ngay cái hành vi được biểu thị trong phátngôn

Theo Austin, người ta thực hiện đến 3 loại hành vi ngôn ngữ trong khinói ra một phát ngôn: tạo lời, ở lời và mượn lời

Hành vi tạo lời (locutionary act) là hành vi người nói sử dụng các yếu

tố của ngôn ngữ như ngữ âm, từ, các kiểu kết hợp từ để tạo ra phát ngôn thànhphẩm với một dạng thức cụ thể và một ý nghĩa ít nhiều xác định

Hành vi ở lời (illocutionary act) là hành vi người nói thực hiện ngay

khi nói năng để tạo ra hiệu quả thuộc ngôn ngữ, đặt trong một thiết chế xãhội, một môi trường văn hóa-ngôn ngữ nào đó Đó là những hành vi như: cảm

ơn, xin lỗi, hứa, ra lệnh, đề nghị, thề, bác bỏ,

Hành vi mượn lời (perlocutionary act) là hành vi thông qua phương

tiện ngôn ngữ để gây ra một hiệu quả ngoài ngôn ngữ , thể hiện qua tác độngtâm lí mà phát ngôn đem lại với người nghe

Trong ba loại hành vi này thì hành vi ở lời là đối tượng của Ngữ dụnghọc Và khái niệm hành vi ngôn ngữ hiểu theo nghĩa hẹp chính là hành vi ở lời

Trang 21

Tiếp theo Austin, John R.Searle, nhà triết học ngôn ngữ người Mĩ, đãtiếp tục phát triển lý thuyết hành vi ngôn ngữ với tác phẩm nổi tiếng nhất của

mình, đó là “Speech Acts” (1969) Với Searle, Speech Acts có thể hiểu là ‘Nói

là hành vi tuân theo điều kiện” Mỗi hành vi ngôn ngữ phải tuân theo những

điều kiện nhất định Searle cũng tin rằng mỗi khi ai đó thực hiện một hành vingôn ngữ thì người đó có thể thực hiện ba hành vi:

- Hành vi phát ngôn (utterance act) là hành vi mà người nói sử dụng

dòng âm thanh, từ ngữ và cấu trúc ngữ pháp để tạo ra phát ngôn giao tiếp

- Hành vi mệnh đề (propositional act) là nội dung ý nghĩa của phát

ngôn và nội dung đó có thể nhận xét được là đúng hay sai

- Hành vi ở lời (Illocutionary act) là sự bày tỏ của người nói cho người

nghe biết chủ ý / ý định tại lời (illocutionary intention) của mình nói ra mộtphát ngôn Searle cũng đưa ra một bộ tiêu chí để phân loại các hành vi ởnhóm này

Có thể nói rằng tư tưởng của Austin và Searle đã tạo nền móng vữngchắc cho lí thuyết hành vi ngôn ngữ Trong những phần tiếp theo, luận án sẽtrình bày những vấn đề cơ bản của lí thuyết này liên quan đến việc triển khaiđề tài

1.1.2 Phân loại hành vi ở lời

Số lượng các hành vi ở lời rất lớn Cho đến nay, các nhà Ngữ dụng họcvẫn chưa thống nhất với nhau về một con số chính xác, cũng như cách phânloại chúng Đáng chú ý là hai hướng phân loại của hai tác giả Austin vàSearle

1.1.2.1 Sự phân loại của Austin

Theo Austin, các hành vi ở lời được phân thành 5 lớp lớn Đó là : 1

Phán xét (verdictive); 2 Hành xử (exercitive); 3 Kết ước (commissive); 4 Ứng xử (behabitive); và 5 Bày tỏ (expositive)

Trang 22

Lớp thứ nhất là những hành vi đưa ra những lời phán xét về một sựkiện hoặc một giá trị dựa trên những chứng cứ hiển nhiên hoặc dựa vào lí lẽ

vững chắc như: xử trắng án, lên án, xem là, cho là, tính toán, miêu tả, phân

tích, đánh giá, phân loại, hủy bỏ, nêu đặc điểm…

Lớp thứ hai là những hành vi đưa ra những quyết định thuận lợi hay

chống lại một chuỗi hành vi nào đó: ra lệnh, chỉ huy, biện hộ cho, khẩn cầu,

đặt hàng, giới thiệu, van xin, di chúc, bổ nhiệm, đặt tên…

Lớp thứ ba gồm những hành vi ràng buộc người nói vào những trách

nhiệm, nghĩa vụ nhất định: hứa hẹn, kí kết, giao ước, bảo đảm, thề nguyền, cá

cược…

Lớp thứ tư gồm những hành vi được dùng để trình bày các quan niệm,

dẫn dắt lập luận, giải thích cách dùng các từ như khẳng định, phủ định, chối,

trả lời, phản bác, nhượng bộ, dẫn thí dụ, chuyển dạng lời, báo cáo luận điểm…

Lớp thứ năm gồm những hành vi phản ứng lại những cách xử sự củangười khác, đối với các sự kiện có liên quan, chúng cũng là cách biểu hiện

thái độ đối với hành vi hay số phận của người khác: xin lỗi, cám ơn, khen

ngợi, chào mừng, phê phán, chia buồn, ban phước, nguyền rủa, nâng cốc, chống lại, thách thức, nghi ngờ…

Sự phân loại trên đây, chính Austin cũng nhận thấy còn những điềukhông thỏa đáng: có chỗ chồng chéo, có chỗ còn mơ hồ không xác định được

rõ ràng Có những ý kiến phê bình sự phân loại này, đặc biệt là ý kiến củaSearle (1977)

1.1.2.2 Sự phân loại của J Searle

Searle cho rằng Austin đã phân loại trên những tiêu chí chồng chéonhau và không rõ ràng nên đã có những yếu tố không tương hợp được xếptrong một lớp, lại có những hành vi về bản chất cùng loại nhưng được xếp vào

Trang 23

các lớp khác nhau Searle cũng cho rằng cần phải xác lập cho được một hệthống tiêu chí trước khi đưa ra kết quả phân loại Searle đã đưa ra 4 tiêu chíquan trọng nhất là:

a Đích tại lời

b Hướng khớp ghép lời – hiện thực

c Trạng thái tâm lí được biểu hiện

d Nội dung mệnh đề

Ngoài ra còn một số các tiêu chí khác như: Hiệu lực; Cương vị xã hộicủa người nói và người nghe; Chức năng liên kết ngôn từ ; Có cần động từngữ vi không?; Thể chế xã hội và hành vi nói; Hành vi nói và các biểu thứcngữ vi… Dựa vào bộ tổng hợp các tiêu chí, Searle đã phân loại các hành vi ởlời thành 5 lớp lớn:

1 Biểu hiện (representatives) (còn gọi là trình bày, khảo nghiệm, thông

tin miêu tả, xác tín) Lớp này gồm các hành vi như: kể, tự sự, miêu tả, mách,

tường thuật, báo cáo, thuyết minh, lập biên bản, tường trình, tố cáo, khai, khai báo…

2 Điều khiển (directives) (còn gọi là chi phối) Các hành vi thuộc lớp

này là: ra lệnh, sai, sai khiến, bảo, yêu cầu, đề nghị, xin phép, cho phép, chỉ,

khuyên, chỉ thị, kiến nghị, khuyến nghị, chỉ định, hỏi, tra…

3 Kết ước (commissives) (còn gọi là Cam kết) Các hành vi thuộc lớp

này là: hứa, cam đoan, cam kết, hẹn, giao ước, bảo đảm, thỏa thuận, thề…

4 Biểu cảm (expressives) Các hành vi thuộc lớp này là: cảm thán, than thở, thán phục, trầm trồ, cảm ơn, xin lỗi, ân hận, lấy làm tiếc, khen chê…

5 Tuyên bố (declarations) Các hành vi thuộc lớp này là: tuyên bố,

Trang 24

tuyên án, buộc tội, kết tội, từ chức, khai trừ, rút phép thông công…

Tiêu chí và kết quả phân loại các hành vi ở lời của Searle mặc dầu là một đóng góp quan trọng nhưng không phải đã được tất cả các nhà Ngữ dụng học chấp nhận Nhiều tác giả khác đưa ra những tiêu chí khác và bảng phân loại khác Theo Nguyễn Văn Hiệp [37], “Lyons đã nói đến cái thực tế hiện nay là không có cách phân loại nào được cho là cuối cùng: mọi cách phân loại đều có thể chấp nhận được, căn cứ vào quan điểm riêng của từng tác giả Bảng thống kê của Keith Allan (1998) sau đây có thể minh họa cho tình trạng này:

Assertives (xác tín)

Assertives (xác tín)

Statements (thông báo) Commissives

(kết ước)

Commissives (kết ước)

Commissives (kết ước)

Commissives (kết ước) Behabitives

(khu xử)

Behabitives (khu xử)

Expressives (biểu lộ)

Acknowledgment (đáp tạ)

Expressives (biểu lộ)

Exercitives

(hành xử)

Interrogatives (vấn lệnh) Directives

(Điều khiển)

Directives (Điều khiển)

Invitationals (mời khiến) Exercitives

(hành xử)

Authoritatives (quyết thẩm)

Venrdictives

(phán quyết)

Venrdictives (phán quyết)

Declarations (tuyên bố)

Verdictives (phán quyết) Operatives

(lệnh hiệu)

Effectives (thời hiệu)

(Bảng so sánh 5 cách phân loại hành vi ngôn từ, theo Austin, Vendler, Searle, Bach, Harnish và Allan) (Dẫn theo Keith Allan 1998).

Quan sát bảng này, có thể rút ra mấy nhận xét sau đây:

- Số lượng nhóm hành vi ngôn từ theo các tác giả khác nhau là khácnhau, có thể là 4 nhóm (Allan), 5 nhóm (Austin, Searle) hay 6 nhóm(Vendler, Bach và Harnish)

- Cùng nhóm hành vi, nhưng tên gọi của nhóm có thể khác nhau, chẳng

Trang 25

hạn Austin và Vendle gọi là khu xử (behabitives), nhưng Searle và Allan gọi là biểu lộ (expressives), còn Bach và Harnish gọi là đáp tạ

(acknowledgments)

- Cùng một tên gọi nhưng số lượng thành viên trong nhóm có thể nhiều,ít khác nhau, chẳng hạn nhóm phán quyết của Austin có phạm vi rộng hơnnhóm phán quyết của Vendler, Bach và Harnish

Có thể nói rằng sự phân loại các hành vi ở lời là một vấn đề hết sứctương đối Bởi lẽ số lượng các hành vi ngôn ngữ là vô cùng lớn và không thểcó một số lượng hành vi chung cho mọi ngôn ngữ Trong luận án, chúng tôi

sẽ chủ yếu sử dụng tiêu chí và kết quả phân loại của Searle để nhận diện và

phân loại hành vi thề trong tiếng Việt.

1.1.3 Điều kiện thực hiện các hành vi ở lời

Hành vi ở lời, cũng giống như các hành vi khác của con người, chỉ đượcthực hiện thành công với những điều kiện nhất định Hơn nữa, hành vi ở lờicòn là một hành vi xã hội, nên những điều kiện để thực hiện còn chặt chẽ và đadạng hơn Mỗi hành vi ở lời như chào, kể, bác bỏ, từ chối, sai khiến, cầu xin,hứa, dặn dò… đều có những điều kiện riêng Những điều kiện nếu có chúng thìhành vi ở lời mới thực hiện được và thực hiện có hiệu quả được gọi là điều kiệnsử dụng của hành vi ở lời

Austin xem các điều kiện sử dụng các hành vi ở lời là những điều kiện

may mắn Nếu chúng được bảo đảm thì hành vi đó mới đạt hiệu quả Searle sau

này gọi chúng là các điều kiện thỏa mãn Mỗi hành vi ở lời có một hệ những

điều kiện thỏa mãn Mỗi điều kiện là một điều kiện cần, còn toàn bộ cả hệ làđiều kiện đủ đối với một hành vi ở lời

Tuy điều kiện sử dụng của mỗi hành vi ở lời khác nhau nhưng vẫn cóthể tìm ra những cái chung trong những điều kiện riêng Searle cho rằng có

Trang 26

bốn loại điều kiện sử dụng hành vi ở lời sau đây:

a Điều kiện nội dung mệnh đề

Điều kiện này chỉ ra bản chất nội dung của hành vi Mỗi hành vi ở lời

sẽ có một nội dung mệnh đề đặc trưng

b Điều kiện chuẩn bị

Đây là điều kiện liên quan tới những hiểu biết của người thực hiện hành

vi về những tri thức nền của người tiếp nhận hành vi, về quyền lợi, về tráchnhiệm, về năng lực tinh thần và vật chất của người tiếp nhận hành vi Cũngthuộc điều kiện chuẩn bị là lợi ích, trách nhiệm, năng lực vật chất, tinh thầncũng như quyền lực của người nói đối với hành vi ở lời mà mình đưa ra

c.Điều kiện tâm lí

Đây là điều kiện chỉ ra trạng thái tâm lí của người thực hiện hành vi ởlời thích hợp với hành vi ở lời mà mình đưa ra Điều kiện tâm lí còn có nghĩalà người nói thực sự, chân thành mong đợi hiệu quả ở lời của hành vi ở lời màmình thực hiện

d Điều kiện căn bản

Theo điều kiện này thì người thực hiện một hành vi ở lời nào đó khiphát ra biểu thức ngữ vi tương ứng bị ràng buộc ngay vào trách nhiệm màhành vi ở lời tạo ra biểu thức ngữ vi đó đòi hỏi

1.1.4 Hành vi ở lời trực tiếp và hành vi ở lời gián tiếp

Hành vi ở lời trực tiếp là những hành vi được dùng đúng với các điềukiện sử dụng, đúng với các đích ở lời của chúng Hay nói cách khác đó là

những hành vi ở lời được dùng một cách chân thực Thí dụ: Hành vi hỏi với đích trực tiếp là hỏi, hành vi chúc với đích trực tiếp là chúc, hành vi trình bày

với đích trực tiếp là trình bày

Nhưng trong thực tế giao tiếp, không hiếm gặp những trường hợp hành

Trang 27

vi ở lời được dùng không chân thực, có nghĩa là sử dụng nhằm đạt tới đíchcủa một hành vi ở lời khác Searle đã đặt cho những hành vi này cái tên là

hành vi ngôn ngữ gián tiếp (indirect speech acts) Thí dụ: Hành vi trình bày

được dùng để điều khiển, đề nghị, cảnh cáo, ; hành vi hỏi được dùng để

chào, thăm hỏi, mời mọc, yêu cầu nhắc nhở, phê bình nhắc nhở, đe dọa, cảnhbáo

Hành vi ở lời gián tiếp là một trong những phương thức tạo ra hàm ýcho phát ngôn Người nghe thường phải dựa vào các thao tác suy ý và rấtnhiều các nhân tố như biểu thức ngữ vi với các phương tiện chỉ dẫn hiệu lực ởlời đặc thù cho từng hành vi ở lời, nội dung mệnh đề với đặc điểm cấu trúc,ngữ nghĩa, ngữ cảnh với quan hệ liên cá nhân giữa người nói và người nghe…mới có thể giải mã được Cho nên, có thể nói rằng, hành vi ở lời gián tiếp thìkhông quyết liệt, mạnh mẽ bằng hành vi ở lời trực tiếp Đối tượng nghiên cứucủa chúng tôi - hành vi thề - do tính chất quyết liệt của nó, là một hành vi rấthiếm khi được thực hiện như một hành vi ở lời gián tiếp, thông qua hàm ý Vìvậy, khác với các công trình nghiên cứu về hành vi ngôn ngữ đã có, trongluận án này chúng tôi chỉ đi sâu vào nghiên cứu hành vi thề trực tiếp

1.1.5 Phương thức thực hiện hành vi ở lời

1.1.5.1 Biểu thức ngữ vi (viết tắt: BTNV) và các phương tiện chỉ dẫn hiệu lực ở lời

Searle cho rằng tất cả các phát ngôn (do hành vi tạo lời và hành vi ở lờitạo ra) đều có hai thành phần ngữ nghĩa kí hiệu là: F(p) (p) là nội dung thôngtin thường được biểu diễn bằng một nội dung mệnh đề (là sự phản ánh một sựtình khách quan vào phát ngôn bằng cấu trúc vị từ-tham thể, cho nên (p) cũngtương đương với cấu trúc vị từ - tham thể) F là kí hiệu chỉ hiệu lực ở lời dohành vi ở lời tạo ra phát ngôn đó mà có

Trong một phát ngôn, có những dấu hiệu cho biết phát ngôn đó do hành

Trang 28

vi ở lời nào tạo ra, tức có hiệu lực ở lời F gì Chẳng hạn, một phát ngôn “Anh

có đi Huế không?” là một phát ngôn đặc trưng cho hành vi ở lời hỏi vì nó có những dấu hiệu đặc trưng như kiểu kết cấu “…có …không?” và ngữ điệu hỏi.

Những dấu hiệu này được gọi là phương tiện chỉ dẫn hiệu lực ở lời(illocutionary force indicating devices - IFIDs) Nhờ các dấu hiệu này màngười nghe có thể nhận ra hành vi ở lời nào đang được người nói thực hiện đểhồi đáp lại bằng một hành vi thích hợp

Một phát ngôn có đầy đủ (p) và F hoặc có chứa các dấu hiệu đặc trưng

cho một hành vi tại lời được gọi là một biểu thức ngữ vi Biểu thức ngữ vi là

một thể thức nói năng cốt lõi do các phương tiện chỉ dẫn hiệu lực ở lời kếthợp với (hoặc không có) nội dung mệnh đề đặc trưng cho một hành vi ở lờinào đó Biểu thức ngữ vi (hay còn gọi là biểu thức ở lời, biểu thức ngôn trung,biểu thức ngôn hành) vừa là sản phẩm vừa là phương tiện của một hành vi ởlời

1.1.5.2 Phát ngôn ngữ vi

Phát ngôn ngữ vi (viết tắt: PNNV) là sự hiện thực hóa một biểu thứcngữ vi trong một ngữ cảnh cụ thể Trong thực tế chúng ta có thể gặp hai loạiphát ngôn ngữ vi Phát ngôn ngữ vi tối giản là phát ngôn ngữ vi chỉ có biểuthức ngữ vi, chẳng hạn như:

(2) Tôi thề tôi không nói dối cậu.(HT)

và các phát ngôn ngữ vi mở rộng, ngoài biểu thức ngữ vi còn chứanhững thành phần phụ khác Thí dụ:

(3) Để cho cậu thoải mái, tớ thề là từ nay sẽ không gọi điện cho cô ấy

nữa.(HT)

Phát ngôn ngữ vi này gồm biểu thức ngữ vi cốt lõi “tớ thề là từ nay sẽ

không gọi điện cho cô ấy nữa” của hành vi thề và thành phần mở rộng “Để cho cậu thoải mái”.

Trang 29

1.1.5.3 Động từ ngữ vi

Trong các phương tiện chỉ dẫn hiệu lực ở lời, có một loại phương tiệnđặc biệt được gọi là động từ ngữ vi (viết tắt: ĐTNV) Đó là những động từ màkhi phát ngôn người nói thực hiện luôn cái hành vi ở lời do chúng biểu thị

như: hỏi, xin, trả lời, khuyên, hứa, cảm ơn, thề, cảnh cáo… Chẳng hạn có người nói “Tôi cảm ơn anh” thì đối với khuôn hình câu “Tôi…….anh” người

đó chỉ có thể thực hiện hành vi “cảm ơn” bằng cách phát âm động từ “cảmơn” chứ không thể bằng con đường nào khác

Không phải bao giờ một ĐTNV cũng luôn được dùng với chức năngngữ vi Austin cho rằng ĐTNV chỉ được dùng theo hiệu lực ngữ vi với haiđiều kiện sau:

- Chủ ngữ trong phát ngôn ngữ vi ở ngôi thứ nhất Chẳng hạn, hãy sosánh hai phát ngôn:

(4) Tôi thề sẽ làm hết sức mình để lấy lại uy tín cho hãng

(5) Ông Toyoda thề làm hết sức mình để lấy lại uy tín cho hãng.(HT)

Trong phát ngôn (4) động từ “thề” được dùng trong hiệu lực ngữ vi,còn trong phát ngôn (5), do chủ ngữ là “Ông Toyoda” (ngôi thứ ba) nên độngtừ “thề” dùng theo lối miêu tả thông thường (kể lại một hành vi ngữ vi củangười khác)

- ĐTNV ở thời hiện tại với những ngôn ngữ có phạm trù “thì” (Tense)và không có các phụ từ chỉ thời gian hoặc các từ tình thái trỏ thời gian trong

các ngôn ngữ không có phạm trù “thì” (Thí dụ trong tiếng Việt những từ đã,

đang, sẽ, mới, rồi, vẫn đi kèm động từ thì động từ đó không được dùng với

hiệu lực ngữ vi) Chẳng hạn, hãy so sánh hai phát ngôn:

(6)Tôi thề suốt đời không quên ơn nghĩa của anh.

Trang 30

(7)Tôi đã thề suốt đời không quên ơn nghĩa của anh.

Từ “đã” trong câu (7) đã làm cho PNNV thề mất tính chất ngữ vi , trởthành một phát ngôn kể lại một hành vi ngôn ngữ (thề) đã được thực hiện

Như vậy, ĐTNV là một dấu hiệu đặc biệt trong những phương tiện chỉdẫn hiệu lực ở lời mà vai trò của nó chưa được các nhà Ngữ pháp học pháthiện ra trong ngữ pháp tiền dụng học Song số lượng các động từ ngữ vi trongmột ngôn ngữ là bao nhiêu? Có sự tương ứng giữa các động từ ngữ vi của mộtngôn ngữ này với các động từ ngữ vi của một ngôn ngữ khác không? Có sựtương ứng giữa số lượng các hành vi ngôn ngữ của con người với số lượngcác động từ ngữ vi không? Có phải tất cả các hành vi ngôn ngữ đều được gọitên bằng các động từ ngữ vi không? Đó là những câu hỏi mà các nhà Ngữdụng học cần phải trả lời

Đối với tiếng Việt, dễ dàng có thể nhận thấy có khá nhiều các động từvừa có ý nghĩa hành vi ở lời (ĐTNV) , vừa có ý nghĩa hành vi tạo lời, vừa có

ý nghĩa hành vi mượn lời (Thí dụ: cằn nhằn là động từ chỉ hành vi ở lời trách

móc, bày tỏ sự không hài lòng trước việc làm của người nào đó Nhưng hành

vi ở lời đó được thực hiện theo cách thức lặp đi lặp lại nhiều lần nhưng không

to tiếng Đồng thời, với cách thức cằn nhằn, người nói cố tình làm cho người

nghe phải bực dọc, khó chịu nhận ra sự sai trái trong việc làm của mình để từ

bỏ nó) Bên cạnh đó, còn có khá nhiều các động từ đồng nghĩa chỉ khác nhau chủ yếu ở tính chất ngữ vi hay không ngữ vi: chẳng hạn mời và mời mọc,

hứa và hứa hẹn, xin và xin xỏ, thề và thề thốt…So sánh “thề” và “thề thốt”.

Động từ “thề” có thể được dùng để thực hiện hành vi “thề” tức được dùng với

tư cách là dấu hiệu ngữ vi của “thề” như trong phát ngôn: “Tôi thề suốt đời trung thành với lí tưởng cách mạng”, cũng có thể dùng trong phát ngôn miêu

tả bình thường: “Tôi đã thề suốt đời trung thành với lí tưởng cách mạng”.

Trang 31

Động từ “thề thốt” trái lại chỉ có dùng để miêu tả, kể lại sự kiện, không thể dùng như một động từ ngữ vi Không ai “thề” bằng phát ngôn: “Tôi thề thốt

suốt đời trung thành với lí tưởng cách mạng”.

1.1.5.4 Phân biệt biểu thức ngữ vi tường minh và biểu thức ngữ vi nguyên cấp

Austin phân biệt BTNV nguyên cấp là những BTNV không có ĐTNV,thí dụ:

(8) Anh có đi Sài Gòn không?

(9) Tôi sẽ trả bài kiểm tra vào ngày mai.

(10) Im lặng.

(11) Nếu nói sai thì tôi sẽ chết.

với những BTNV tường minh , là những biểu thức có ĐTNV dùng theo hiệulực ngữ vi, như:

(12) Tôi hỏi anh có đi Sài Gòn không?

(13) Tôi hứa sẽ trả bài kiểm tra vào ngày mai.

(14) Tôi đề nghị im lặng.

(15) Tôi thề nếu nói sai thì tôi sẽ chết.

Sau khi phân biệt BTNV tường minh và BTNV nguyên cấp, Austin chorằng không có sự đối lập giữa các phát ngôn khảo nghiệm và các phát ngônngữ vi nữa Các phát ngôn khảo nghiệm cũng là các phát ngôn ngữ vi nguyêncấp Chúng có thể chuyển thành các phát ngôn ngữ vi tường minh với động từngữ vi tương ứng như động từ “khẳng định” Thí dụ:

(16) Cô Liêu Đình là sinh viên Trung Quốc.

(17) Tôi khẳng định cô Liêu Đình là sinh viên Trung Quốc.

Một số nhà nghiên cứu cho rằng mỗi BTNV nguyên cấp đều có mộtBTNV tường minh làm cơ sở Đối với BTNV tường minh, nếu bỏ bộ phậnthứ nhất gồm chủ ngữ Sp1 và động từ dùng trong chức năng ngữ vi đi thì

Trang 32

chúng ta sẽ có một BTNV nguyên cấp Quan điểm này được gọi tên là “Giảthuyết ngữ vi” (hay “Giả thuyết ngôn hành) Quan điểm này hiện nay đã bịphủ định bởi vì, thứ nhất, có những hành vi ở lời chỉ có thể dùng BTNVnguyên cấp mà không thể dùng BTNV tường minh để thực hiện chúng (chẳnghạn, trong tiếng Việt, hành vi “nịnh” không thể sử dụng động từ “nịnh” nhưBTNV tường minh, tức ta không thể nịnh ai bằng cách nói: “Tôi nịnh anh”,hoặc hành vi doạ không thể sử dụng động từ “doạ” như BTNV tường minh,tức ta không thể doạ người khác bằng cách nói “Tôi doạ anh” ) Thứ hai,nghĩa của BTNV nguyên cấp và BTNV tường minh cùng một hiệu lực ở lờicó khác nhau Hiệu lực ở lời do các BTNV nguyên cấp thực hiện thường nhẹnhàng hơn, dễ tiếp nhận hơn là được thực hiện bởi các BTNV tường minh.Hiệu lực ở lời của các BTNV tường minh thường rõ hơn, mang tính áp đặthơn

Tuy nhiên, trên thực tế, phân biệt BTNV tường minh và BTNV nguyêncấp là một vấn đề gây tranh luận Một số nhà nghiên cứu như Lyons (1995),Nguyễn Văn Hiệp (2008) cho rằng: “Động từ ngôn hành không phải là dấuhiệu ngôn hành duy nhất Lyons đã chỉ ra rất xác đáng rằng người nói còn cóthể làm rõ lực ngôn trung của phát ngôn (tức ý nghĩa đích thực của phát ngôn)bằng nhiều dấu hiệu ngôn ngữ khác: “bằng một tiểu từ tình thái đặc biệt, bằngmột thức ngữ pháp đặc biệt, hoặc thậm chí bằng một kiểu ngữ điệu đặc biệt”(Lyons 1995, tr250) Trong khi đó, câu ngôn hành nguyên cấp là những câuthiếu vắng các dấu hiệu hình thức như vậy.” [37,106] Rõ ràng với những tácgiả theo quan điểm như vậy thì khái niệm “tường minh” được hiểu rất rộng,không chỉ bằng động từ ngữ vi (hay ngôn hành) mà còn bằng các dấu hiệungôn ngữ khác Tuy nhiên, để tiện cho việc trình bày, trong luận án này chúngtôi đi theo quan điểm của Diệp Quang Ban được thể hiện trong công trình gầnđây [3]: BTNV tường minh là biểu thức có chứa ĐTNV được dùng với hiệu

Trang 33

lực ngữ vi; BTNV nguyên cấp là biểu thức không có ĐTNV Đây cũng làquan điểm được thấy ở những tác giả trước đó như Đỗ Hữu Châu, NguyễnĐức Dân…

1.2 Lí thuyết hội thoại

Việc nghiên cứu một hành vi ngôn ngữ nào đó không thể thực hiện ở dạng

cô lập mà phải đặt nó vào chuỗi hành vi ngôn ngữ, tức xét đến những hành vi đitrước và đi sau nó Đó là lí do cần phải đề cập đến lí thuyết hội thoại

Hội thoại là hình thức giao tiếp phổ biến, thường xuyên của ngôn ngữ.Hành vi ngôn ngữ bao giờ cũng xuất hiện trong hội thoại Việc nghiên cứu

hành vi thề càng phải được đặt trong hội thoại, bởi lẽ người ta chỉ thề khi có

sự xung đột niềm tin giữa các bên tham gia đối thoại, cụ thể là người nghe tỏ

ý không tin tưởng vào điều mà chủ ngôn nói ra

Lí thuyết hội thoại bao gồm nhiều vấn đề Ở đây chúng tôi chỉ trình bàymột số nội dung liên quan đến việc triển khai đề tài

1.2.1 Những yếu tố trong cấu trúc hội thoại

Trong phân tích hội thoại, trước hết phải kể đến khái niệm cuộc thoại.Cuộc thoại là một lần trao đổi, nói chuyện giữa cá nhân trong hoàn cảnh xãhội nào đó Trong cuộc thoại, các nhân vật tham gia đều luân phiên trao đổi

lượt lời với nhau "Chuỗi đơn vị ngôn ngữ được một nhân vật hội thoại nói ra,

kể từ lúc bắt đầu cho đến lúc chấm dứt để cho nhân vật hội thoại kia nói chuỗi của mình là một lượt lời (turn at talk)”[7,629] Lượt lời và tham thoại

là hai khái niệm đươc các nhà nghiên cứu quan niệm khác nhau NguyễnThiện Giáp (2000) trong Dụng học Việt ngữ [16,66] cho rằng “tham thoại” làkhái niệm chỉ người nói và người nghe – những người tham gia vào cuộc hộithoại Nguyễn Đức Dân (1998) không phân biệt lượt lời và tham thoại Ông

cho rằng “Đơn vị cơ bản của hội thoại là lượt lời” và “Trong một cặp thoại,

Trang 34

lượt lời thứ nhất có chức năng định hướng cho lượt lời thứ hai “ [12,145]

Ở đây, chúng tôi theo quan điểm của Đỗ Hữu Châu, “tham thoại là

phần đóng góp của từng nhân vật hội thoại vào một cặp thoại nhất định và một lượt lời có thể gồm nhiều tham thoại mà cũng có thể nhỏ hơn tham thoại”

[7,630] Như vậy, lượt lời và tham thoại là hai khái niệm khác biệt Việc nhậndiện lượt lời nhiều khi mang tính trực giác còn sự nhận diện tham thoại thìphải căn cứ vào yếu tố nội dung

Nếu như tham thoại là đơn vị mang tính đơn thoại thì cặp thoại được

coi là đơn vị lưỡng thoại nhỏ nhất, là “đơn vị cơ sở của hội thoại” [5, 125] mà

“với chúng, cuộc trao đổi, tức cuộc thoại chính thức được tiến hành”[7,

628-629] Một cặp thoại điển hình là cặp thoại gồm một tham thoại có chức năngdẫn nhập (gọi là tham thoại dẫn nhập), và một tham thoại có chức năng hồiđáp (gọi là tham thoại hồi đáp)

Theo trật tự tuyến tính của lời nói, tham thoại dẫn nhập là tham thoại

thứ nhất của cặp thoại Nó có chức năng ở lời dẫn nhập, tức là “chức năng ở

lời quy định quyền lực và trách nhiệm đối với nhân vật hội thoại” [7,559].

Tham thoại dẫn nhập có chức năng định hướng cho tham thoại hồi đáp trongcặp thoại mà bản chất của nó được quyết định bởi hành vi chủ hướng-thànhphần nòng cốt của tham thoại

Tham thoại hồi đáp là tham thoại có chức năng ở lời hồi đáp chức năngở lời (chủ hướng) của tham thoại dẫn nhập Chức năng hồi đáp chỉ rõ mức độthỏa mãn các trách nhiệm mà tham thoại ở lời dẫn nhập đặt ra Nếu thamthoại hồi đáp thỏa mãn được đích của tham thoại dẫn nhập thì đó là hồi đáptích cực Ngược lại, nếu tham thoại hồi đáp đi ngược lại với đích của thamthoại dẫn nhập thì đó là hồi đáp tiêu cực

Liên quan đến hai khái niệm hồi đáp tích cực và tiêu cực, Nguyễn Đức

Trang 35

Dân (1998) sử dụng thuật ngữ “lượt lời ưa dùng” (chỉ hồi đáp tích cực) và

“lượt lời ít dùng” (chỉ hồi đáp tiêu cực), còn Nguyễn Thiện Giáp (2000) dùng

“câu đáp được ưu tiên” và “câu đáp được đánh dấu” Nhìn chung, các tác giảđều thống nhất ở một điểm quan trọng, hồi đáp tiêu cực thường phong phú vàphức tạp về cấu trúc hơn hồi đáp tích cực, và chính chúng lại có khả năng mở

ra cho cuộc thọai phát triển, tiếp tục.Vì vậy, Đỗ Hữu Châu (1993) cho rằng

“những tham thoại hồi đáp không chỉ đáp lại nội dung của tham thoại ở lờidẫn nhập, không phải nó chỉ thực hiện vế thứ hai của hiệu lực ở lời tức thựchiện trách nhiệm đối với tham thoại dẫn nhập Tự nó, khi thực hiện tráchnhiệm thì cũng đồng thời đưa ra một quyền lực: quyền lực buộc người đốithoại (người đưa ra tham thoại dẫn nhập) phải tin vào, phải đáp lại điều màtham thoại hồi đáp đưa ra (do trách nhiệm phải hồi đáp)” [6, 316] Điều nàycó nghĩa rằng một tham thoại có thể là tham thoại hồi đáp trong cặp thoại Xnhưng đồng thời cũng có thể là tham thoại dẫn nhập trong cặp thoại Y Chínhvì vậy, trong chương tiếp theo của luận án, khi nghiên cứu hành vi thề tronghội thoại, chúng tôi sẽ xem xét tham thoại (có hành vi chủ hướng ) thề với haivai trò: tham thoại dẫn nhập và tham thoại hồi đáp

Có thể minh họa các yếu tố cấu trúc hội thoại qua một cuộc thoại sau đây:Ví dụ (18)

Sp1: (1) Anh đi đâu về thế?

Sp2: (2)Uống vài chén với anh Vang.

Sp1: (3)Lại thế rồi Tối thứ bảy tuần trước anh đã bị ngã xe máy vì say

rượu rồi đấy.

Sp2: (4)Chỉ tại hôm nay nể anh Vang quá Anh xin thề từ nay anh sẽ

không đụng đến một giọt rượu nào nữa.

Trang 36

Sp1: (5)Tại sao em phải tin anh? [HT]

Cuộc thoại trên gồm có 5 lượt lời và bốn cặp thoại Cặp thoại thứ nhấtgồm tham thoại dẫn nhập (1) có hành vi chủ hướng là hỏi, tham thoại hồi đáp

(2) có hành vi chủ hướng là trả lời Tham thoại hồi đáp (2) lại trở thành tham

thoại dẫn nhập trong cặp thoại thứ hai mà lời hồi đáp (3) có hai hành vi than

thở (Lại thế rồi) và nhắc nhở, trách móc (Tối thứ bảy tuần trước anh đã bị

ngã xe máy vì say rượu rồi đấy) Lời hồi đáp (3) đồng thời cũng là tham thoại

dẫn nhập trong cặp thoại thứ ba mà lời hồi đáp (4) chứa hành vi thanh minh

(Chỉ tại hôm nay nể anh Vang quá) và hành vi thề để an ủi ( Anh xin thề từ

nay anh sẽ không đụng đến một giọt rượu nào nữa).Lời hồi đáp (4) đồng thời

là tham thoại dẫn nhập mà lời hồi đáp (5) là một hành vi hỏi biểu thị sự khôngtin tưởng của Sp1 với Sp2 Các lượt lời (2), (4) là các hồi đáp tích cực Lượtlời (5) là hồi đáp tiêu cực

1.2.2 Nguyên tắc lịch sự trong hội thoại

Trong hội thoại, lịch sự là một nguyên tắc đặc biệt quan trọng Nguyêntắc này ảnh hưởng rất mạnh đến hình thức, cấu trúc cũng như hiệu quả củamột hội thoại Vì vậy, có rất nhiều các công trình, các nhà nghiên cứu đã khảosát vấn đề này theo những góc độ khác nhau Để phục vụ cho việc triển khaiđề tài , chúng tôi sử dụng các kết quả nghiên cứu của G.Leech (1983) [109],P.Brown và S.Levinson (1987)[98]

1.2.2.1 G.Leech và các phương châm về phép lịch sự

G.Leech dựa trên các khái niệm tổn thất (cost) và lợi ích (benefit) đểđưa ra 6 phương châm lịch sự là:

- Khéo léo: Giảm tối thiểu những điều bất lợi, tăng tối đa những điều cólợi cho người nghe khi dùng những phát ngôn cầu khiến hay ước kết

- Độ lượng (trong những phát ngôn cầu khiến hay ước kết): giảm thiểu

Trang 37

lợi ích của mình và tăng tối đa tổn thất của mình.

- Tán đồng (trong những phát ngôn biểu cảm và cảm xúc): giảm thiểusự chê bai người khác, tăng tối đa sự chê bai mình

- Khiêm tốn: giảm tối thiểu việc tự khen mình, tăng tối đa sự chê baimình

- Tán đồng (trong những phát ngôn xác tín): giảm thiểu sự bất đồng,tăng tối đa sự tán đồng giữa mình và người nghe

- Thiện cảm (trong những phát ngôn xác tín: giảm tối thiểu ác cảm,tăng tối đa thiện cảm giữa mình và người nghe

Theo ông, mức độ lịch sự của một hành vi ở lời phụ thuộc vào 3 nhân tố:

- Bản chất của hành vi : Đó là “ có những hành vi ở lời mang bản chấtcố hữu là không lịch sự, chẳng hạn hành vi ra lệnh, có những hành vi tại lờimà bản chất cố hữu lại là lịch sự như khen, tặng” [13,143]

- Hình thức ngôn từ thể hiện hành vi

- Quan hệ giữa người nói và người nghe

1.2.2.2 P.Brown và S.Levinson (1987) với quan niệm lịch sự gắn với thể diện của người nói và người nghe

Theo P.Brown và S Levinson, thể diện là nhận thức về giá trị bản thân

ta trong mắt mọi người, điều mà mỗi thành viên trong xã hội đều muốn cóđược Mỗi người đều có hai thể hiện: thể diện dương tính (tích cực) và thểdiện âm tính (tiêu cực) Thể diện dương tính là những điều mà mỗi ngườimuốn mình được khẳng định, được những người khác tôn trọng Thể diện âmtính là những điều mà mỗi người muốn mình được “coi như người lớn”,không bị ai cản trở trong hành động, không bị quấy rầy Như vậy, trong mộtcuộc tương tác, có bốn phương diện của thể diện: Thể diện tích cực của ngườinói; thể diện tiêu cực của người nói; thể diện tích cực của người nghe; thểdiện tiêu cực của người nghe Bốn thể diện này thường xuyên bị đe doạ tổn

Trang 38

hại bởi các hành vi ngôn ngữ Đại bộ phận các hành vi ngôn ngữ - thậm chí cóthể nói là tất cả đều tiềm ẩn khả năng làm tổn hại đến bốn thể diện nói trên.

P.Brown và S.Levinson gọi chúng là các hành vi đe dọa thể diện (FaceThreatening Acts – viết tắt là FTA) FTA gồm 4 phạm trù:

- Hành vi đe dọa thể diện tiêu cực của người nói: tặng, hứa…

- Hành vi đe dọa thể diện tích cực của người nói: xin lỗi, thanh minh…-Hành vi đe dọa thể diện tiêu cực của người nghe: ra lệnh, khuyênbảo…

- Hành vi đe dọa thể diện tích cực của người nghe: phê phán , từ chối…Trong hội thoại, khi thực hiện một hành vi ở lời có tính chất đe dọa thểdiện thì người nói phải tìm cách làm dịu tác động của nó bằng cách dùng kèm

theo những hành vi mà Browwn và Levinson gọi là cứu vãn thể diện hoặc giữ

thể diện (face saving acts) Và như vậy, tập hợp các hành vi ở lời được chia

thành hai nhóm chính: nhóm có hiệu quả căn bản tích cực và nhóm có hiệuquả căn bản tiêu cực Tương ứng với chúng sẽ có các phép lịch sự tích cực vàlịch sự tiêu cực

- Phép lịch sự tích cực: Là phép lịch sự hướng vào thể diện tích cực củangười tiếp nhận nhằm thực hiện những hành vi tôn vinh thể diện của cả ngườinghe và người nói Chúng được dùng chủ yếu khi thực hiện những hành vinhằm tôn vinh thể diện

- Phép lịch sự tiêu cực: Là phép lịch sự hướng vào thể hiện tiêu cực,vào lãnh địa của người tiếp nhận đối thoại Phép lịch sự tiêu cực về căn bảncó tính né tránh hay bù đắp Đó là sự né tránh các FTA hoặc bù đắp, giảm nhẹhiệu lực của chúng khi bắt buộc phải thực hiện chúng Chủ yếu được thựchiện bằng các biện pháp tu từ (nói giảm, nói vòng), dùng cách nói gián tiếpthay cho trực tiếp, sử dụng các phương tiện “giảm xóc”, sử dụng các từ xưng

Trang 39

hô lịch sự…

Khi thực hiện hành vi thề, người nói tự ràng buộc trách nhiệm phải thựchiện một hành vi trong tương lai hoặc tính chân thực của một mệnh đề đượcxác tín Cho nên có thể xem thề là một hành vi thuộc nhóm đe dọa thể diệntiêu cực của người nói Khi thề, để thuyết phục, tạo niềm tin và gây ấn tượng,tác động mạnh mẽ tới người nghe, người nói phải thực hiện phương châmtăng tối đa tổn thất của mình, thậm chí những tổn thất càng ghê rợn bao nhiêuthì hiệu quả của hành vi càng cao bấy nhiêu Ngoài ra, cách thức hồi đáp lờithề của người tiếp nhận cũng có khả năng đe dọa tới thể diện tích cực củangười nói Người tiếp nhận hành vi thề sẽ sử dụng những phương tiện nào đểtôn vinh hoặc né tránh/ bù đắp thể diện của người thề? Luận án sẽ sử dụng líthuyết nguyên tắc lịch sự để tìm hiểu giải quyết vấn đề này

1.2.3 Quan hệ liên cá nhân trong hội thoại

Những quan hệ được hình thành giữa những người đối thoại với nhauđược gọi là quan hệ liên cá nhân Theo một số nhà nghiên cứu, quan hệ nàycó thể được xem xét trên hai trục tọa độ là: trục ngang và trục dọc

- Trục ngang (còn gọi là trục khoảng cách hay trục thân cận): thể hiệnkhoảng cách tình cảm gần gũi, thân tình hay xa lạ giữa những người tham giahội thoại Quan hệ này có thể điều chỉnh được Những quan hệ trên trục nàyđược gọi là quan hệ ngang Có những dấu hiệu phi lời, kèm lời và bằng lời đểđánh dấu mức độ quan hệ này giữa những người tham gia hội thoại

- Trục dọc (còn gọi là trục quyền uy, trục vị thế): thể hiện vị thế xã hộicủa những người tham gia hội thoại Những quan hệ trên trục này được gọi làquan hệ dọc Những quan hệ về vị thế cũng biểu hiện qua các dấu hiệu phi lời,kèm lời và bằng lời

Vị thế xã hội và quan hệ thân cận có ảnh hưởng không nhỏ đến nộidung, hình thức và cả quá trình hội thoại Khi nghiên cứu hành vi thề, luận án

Trang 40

tìm hiểu tác động của những mối quan hệ liên cá nhân này và một số nhân tố

xã hội khác như giới tính, nghề nghiệp… của những người tham gia giao tiếpđến xu hướng, hình thức, hoàn cảnh sử dụng lời thề và cách thức hồi đáp lờithề trong giao tiếp hiện nay

1.3 Văn hóa, ngôn ngữ và mối quan hệ ngôn ngữ, văn hóa

1.3.1 Khái niệm văn hóa

Hành vi thề thuộc loại hành vi thể hiện những đặc trưng văn hoá rõ rệtnhất của cộng đồng người thực hiện nó Tuy nhiên, “văn hoá” là một kháiniệm gây nhiều tranh cãi Cho đến nay, đã có rất nhiều định nghĩa khác nhauvề văn hoá, mỗi định nghĩa phản ánh cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau.Ngay từ năm 1954, hai nhà nhân loại học Mĩ là Alfred Kroeber và ClydeKluckhohn đã từng thống kê có tới 164 định nghĩa khác nhau về văn hóatrong các công trình nổi tiếng thế giới [57, 82] Văn hóa được đề cập đếntrong nhiều lĩnh vực nghiên cứu như dân tộc học, nhân loại học, dân gian học,địa văn hóa học, văn hóa học, xã hội học và trong mỗi lĩnh vực nghiên cứuđó, định nghĩa văn hóa cũng khác nhau Theo Phạm Khiêm Ích [47], có thểkể đến một số các định nghĩa tiêu biểu của nhà triết học AnhThomas Hobbes

(1588-1679):” Lao động giành cho đất gọi là sự gieo trồng và sự dạy dỗ trẻ

em gọi là gieo trồng tinh thần"; nhà nhân loại học người Anh Edward BurnettTylor (1832 - 1917): văn hóa hay văn minh hiểu theo nghĩa rộng trong dân tộc học là một tổng thể phức hợp gồm kiến thức , đức tin , nghệ thuật , đạo đức ,

luật pháp , phong tục , và bất cứ những khả năng, tập quán nào mà con người thu nhận được với tư cách là một thành viên của xã hội; nhà nhân loại học,

ngôn ngữ học người Mỹ Edward Sapir (1884 - 1939): văn hóa chính là bản

thân con người , cho dù là những người hoang dã nhất sống trong một xã hội tiêu biểu cho một hệ thống phức hợp của tập quán, cách ứng xử và quan điểm được bảo tồn theo truyền thống; nhà xã hội học người Mỹ gốc Nga, người

Ngày đăng: 20/11/2013, 13:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (1992), Việt Nam văn hóa sử cương, NXB Tp Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hóa sử cươn
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: NXB Tp Hồ Chí Minh
Năm: 1992
2. Nguyễn Thị Vân Anh (2001), Cặp thoại thỉnh cầu (xin) trong sự kiện lời nói thỉnh cầu, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cặp thoại thỉnh cầu (xin) trong sự kiện lời nói thỉnh cầu
Tác giả: Nguyễn Thị Vân Anh
Năm: 2001
3. Diệp Quang Ban (2004), Ngữ pháp tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2004
4. Chử Thị Bích (2008), Cấu trúc của sự kiện lời nói cho, tặng trong tiếng Việt, Luận án Tiến sĩ Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Cấu trúc của sự kiện lời nói cho, tặng trong tiếng Việt
Tác giả: Chử Thị Bích
Năm: 2008
5. Đỗ Hữu Châu (chủ biên), Bùi Minh Toán (1993), Đại cương ngôn ngữ học, tập hai, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương ngôn ngữ học
Tác giả: Đỗ Hữu Châu (chủ biên), Bùi Minh Toán
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1993
6. Đỗ Hữu Châu (2000), Tìm hiểu văn hóa qua ngôn ngữ, Tạp chí Ngôn ngữ, số 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu văn hóa qua ngôn ngữ
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Năm: 2000
7. Đỗ Hữu Châu, Đỗ Việt Hùng tuyển chọn và giới thiệu (2000), Đỗ Hữu Châu tuyển tập, Tập hai, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đỗ Hữu Châu tuyển tập
Tác giả: Đỗ Hữu Châu, Đỗ Việt Hùng tuyển chọn và giới thiệu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2000
8. Đỗ Hữu Châu, Đỗ Việt Hùng (2007), Ngữ dụng học, giáo trình CĐSP, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ dụng học
Tác giả: Đỗ Hữu Châu, Đỗ Việt Hùng
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2007
9. Mai Ngọc Chừ (chủ biên), Nguyễn Thị Ngân Hoa, Đỗ Việt Hùng, Bùi Minh Toán (2007), Nhập môn ngôn ngữ học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn ngôn ngữ học
Tác giả: Mai Ngọc Chừ (chủ biên), Nguyễn Thị Ngân Hoa, Đỗ Việt Hùng, Bùi Minh Toán
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
10. Nguyễn Hồng Cổn (2001), Bàn thêm về cấu trúc thông báo của câu tiếng Việt, Tạp chí Ngôn ngữ, số 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn thêm về cấu trúc thông báo của câu tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Hồng Cổn
Năm: 2001
11. Nguyễn Đức Dân (1987), Lôgich – Ngữ nghĩa – Cú pháp, NXB Đại học và THCN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lôgich – Ngữ nghĩa – Cú pháp
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Nhà XB: NXB Đại học và THCN
Năm: 1987
12. Nguyễn Đức Dân (1996), Logic và tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Logic và tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1996
13. Nguyễn Đức Dân (1998), Ngữ dụng học, NXB Giáo dục, Tp Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ dụng học
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
14. Hữu Đạt (2000), Văn hóa và ngôn ngữ giao tiếp của người Việt, NXB Văn hóa – Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa và ngôn ngữ giao tiếp của người Việt
Tác giả: Hữu Đạt
Nhà XB: NXB Văn hóa – Thông tin
Năm: 2000
15. Lê Đông (1996), Ngữ nghĩa-ngữ dụng câu hỏi chính danh (trên ngữ liệu tiếng Việt), Luận án Phó tiến sĩ Ngôn ngữ học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ nghĩa-ngữ dụng câu hỏi chính danh
Tác giả: Lê Đông
Năm: 1996
16. Lê Đông – Nguyễn Văn Hiệp (2001), Ngữ nghĩa – ngữ dụng các tiểu từ tình thái tiếng Việt, Công trình khoa học cấp Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ nghĩa – ngữ dụng các tiểu từ tình thái tiếng Việt
Tác giả: Lê Đông – Nguyễn Văn Hiệp
Năm: 2001
17. Lê Đông – Nguyễn Văn Hiệp (2003), Khái niệm tình thái học, Tạp chí Ngôn ngữ số 7-8/2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khái niệm tình thái học
Tác giả: Lê Đông – Nguyễn Văn Hiệp
Năm: 2003
18. Nguyễn Thiện Giáp (chủ biên), Đoàn Thiện Thuật, Nguyễn Minh Thuyết (1996), Dẫn luận ngôn ngữ học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận ngôn ngữ học
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp (chủ biên), Đoàn Thiện Thuật, Nguyễn Minh Thuyết
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1996
19. Nguyễn Thiện Giáp (2000), Dụng học Việt ngữ, NXB ĐHQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dụng học Việt ngữ
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: NXB ĐHQG
Năm: 2000
20. Nguyễn Thiện Giáp (2008), Ngôn ngữ học, NXB ĐHQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ học
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: NXB ĐHQG
Năm: 2008

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng thống kê của Keith Allan (1998) sau đây có thể minh họa cho tình trạng  này: - Hành vi ngôn ngữ thề (swear) trong tiếng việt
Bảng th ống kê của Keith Allan (1998) sau đây có thể minh họa cho tình trạng này: (Trang 27)
Bảng 4.1: Mức độ sử dụng lời thề trong giao tiếp - Hành vi ngôn ngữ thề (swear) trong tiếng việt
Bảng 4.1 Mức độ sử dụng lời thề trong giao tiếp (Trang 128)
Bảng 4.2: Mức độ sử dụng lời thề trong các hoàn cảnh giao tiếp - Hành vi ngôn ngữ thề (swear) trong tiếng việt
Bảng 4.2 Mức độ sử dụng lời thề trong các hoàn cảnh giao tiếp (Trang 129)
Bảng 4.3: Hoàn cảnh sử dụng lời thề trong giao tiếp - Hành vi ngôn ngữ thề (swear) trong tiếng việt
Bảng 4.3 Hoàn cảnh sử dụng lời thề trong giao tiếp (Trang 131)
Bảng 4.4: Mục đích sử dụng lời thề trong giao tiếp - Hành vi ngôn ngữ thề (swear) trong tiếng việt
Bảng 4.4 Mục đích sử dụng lời thề trong giao tiếp (Trang 133)
Bảng 4.5: Lời thề khi không có khả nằng đáp ứng yêu cầu của đối tượng - Hành vi ngôn ngữ thề (swear) trong tiếng việt
Bảng 4.5 Lời thề khi không có khả nằng đáp ứng yêu cầu của đối tượng (Trang 135)
Bảng 4.6: Lời thề khi đối tượng giao tiếp thiếu sự tin tưởng - Hành vi ngôn ngữ thề (swear) trong tiếng việt
Bảng 4.6 Lời thề khi đối tượng giao tiếp thiếu sự tin tưởng (Trang 138)
Bảng 4.7: Lời thề khi đối tượng yêu cầu phải kết ước/xác tín - Hành vi ngôn ngữ thề (swear) trong tiếng việt
Bảng 4.7 Lời thề khi đối tượng yêu cầu phải kết ước/xác tín (Trang 142)
Bảng 4.10: Hồi đáp khi đối tượng tiếp nhận cảm thấy tin tưởng  lời thề - Hành vi ngôn ngữ thề (swear) trong tiếng việt
Bảng 4.10 Hồi đáp khi đối tượng tiếp nhận cảm thấy tin tưởng lời thề (Trang 152)
Bảng 4.11: Hồi đáp khi đối tượng tiếp nhận cảm thấy lời thề chưa đáng  tin cậy - Hành vi ngôn ngữ thề (swear) trong tiếng việt
Bảng 4.11 Hồi đáp khi đối tượng tiếp nhận cảm thấy lời thề chưa đáng tin cậy (Trang 153)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w