1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đề bài tập lớn Thị trường độc quyền

17 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 259,8 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Năm 2021 là một năm vận hành đầy biến động của Hệ thống điện quốc gia: Nhiều khu vực nhu cầu điện giảm thấp do chịu ảnh hưởng nặng nề của đại dịch COVID-19; thủy văn diễn biến bất thườ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG KHOA KINH TẾ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

KỲ THI KẾT THÚC HỌC PHẦN HỌC KỲ PHỤ - KỲ 2, NĂM HỌC 2021 – 2022

Đề bài tập lớn: Thị trường độc quyền

Họ và tên sinh viên : Nguyễn Hữu Thọ

Mã sinh viên : 1911180119

Tên học phần : Kinh tế vi mô Giảng viên hướng dẫn :

Hà Nội, ngày 13 tháng 3 năm 2022

Trang 2

1 Phân tích thị trường độc quyền

➢ Khái niệm: Một thị trường được xem là độc quyền khi chỉ có một nhà cung ứng duy nhất (độc quyền bán) hoặc một người mua duy nhất (độc quyền mua) trên thị trường đó

➢ Một ngành được xem là độc quyền hoàn toàn khi nó thỏa mãn hai điều kiện sau:

Không có đối thủ cạnh tranh

Không có những sản phẩm thay thế tương tự

➢ Nguyên nhân dẫn đến độc quyền:

▪ Độc quyền xuất hiện là kết quả của quá trình cạnh tranh

Quá trình cạnh tranh sẽ làm cho những doanh nghiệp nào kém hiệu quả, có những quyết định kinh doanh sai lầm sẽ bị những doanh nghiệp khác làm ăn hiệu quả hơn thôn tính, chiếm lĩnh thị phần và rốt cuộc sẽ

bị đào thải ra khỏi cuộc chơi

Trong trường hợp cực đoan nhất, nếu tất cả các doanh nghiệp khác đều bị một doanh nghiệp duy nhất đánh bại thì rốt cuộc, cạnh tranh tự

do đã để lại một doanh nghiệp duy nhất trên thương trường và doanh nghiệp đó đương nhiên có được vị thế độc quyền

▪ Do được chính phủ nhượng quyền khai thác thị trường

Nhiều hãng trở thành độc quyền là nhờ được chính phủ nhượng quyền khai thác một thị trường nào đó, ví dụ các địa phương cho phép một công ty duy nhất cung cấp nưdc sạch trên địa bàn địa phương mình

Trang 3

Ngoài ra, với những ngành được coi là chủ đạo của quốc gia, chính phủ thưởng tạo cho nó một cơ chế có thể tồn tại dưới dạng độc quyền nhà nước Có lẽ không có ai phản đối rằng, quốc phòng hay công

nghiệp sản xuất vũ khí nên do chính phủ nẵm giữ, vì nó liên quan đến

an ninh đất nước

Nhưng có nhiều ngành khác thì sự độc quyền của nhà nước lại không

dễ thuyết phục đến như vậy Ví dụ, ngành hàng không ở Việt Nam gần như độc quyền trong thị trường nội địa (nếu không kể đến sự có mặt rất

mờ nhạt của Pacific Airlines), trong khi nhiều nước khác nó lại có sự góp mặt của nhiều hãng lớn cạnh tranh gay gắt với nhau

▪ Do chế độ bản quyền đối với phát minh, sáng chế và sở hữu trí tuệ

Chế độ bản quyền là một cơ chế bảo vệ quyền lợi của những nhà phát minh, khuyến khích họ đầu tư công sức, thời gian và tiền của vào hoạt động nghiên cứu và triển khai, góp phần nâng cao năng suất lao động

và đời sống tinh thần cho xã hội

Nhưng chính những qui định này đã tạo cho người có bản quyền một

vị thế độc quyền lớn, tuy không phải vĩnh cửu (vị thế này còn tuỳ thuộc vào thời hạn giữ bản quyền được qui định ở từng nước)

▪ Do sở hữu được một nguồn lực đặc biệt

Việc nắm giữ được một nguồn lực hay một khả năng đặc biệt nào đó cũng sẽ giúp người sở hữu có được vị thế độc quyền trên thị trường

▪ Do có khả năng giảm giá thành khi mở rộng sản xuất

Do tính chất đặc biệt của ngành có lợi tức tăng dần theo qui mô đã khiến việc có nhiều hàng cùng cung cấp một dịch vụ trở nên không hiệu quả và hãng nào đã có mặt trong thị trường từ trước thì có thể liên

Trang 4

tục giảm giá khi mở rộng sản xuất biến đó thành một hàng rào hữu hiệu ngăn cản sự xâm nhập thị trường của những hãng mới Trường hợp này còn được gọi là độc quyền tự nhiên

➢ Nguyên tác tối đa hóa lợi nhuận của doanh nghiệp độc quyền:

Để tối đa hóa lợi nhuận, doanh nghiệp độc quyền bán thuần túy sẽ lựa chọn mức sản lượng tại đó có doanh thu cận biên bằng chi phí cận biên (MR = MC) Do sức mạnh độc quyền nên doanh nghiệp độc quyền bán thuần túy có khả năng đặt giá cao hơn so với chi phí cận biên

2 Vận dụng

a Phương trình các loại chi phí

- VC = Q2 – 40Q

- FC = 200

- AFC = 𝐹𝐶

𝑄

- AVC =𝑉𝐶

𝑄 = 𝑄 − 40

- ATC = 𝑇𝐶

𝑄 = 𝑄 − 40 +200

𝑄

- MC = TC’Q = 2Q – 40

- P = 200 – 2Q => TR = P*Q = (200 - 2Q) *Q = 200Q – 2Q2

- MR = (TR)’Q = 200 – 4Q

b Để tối đa hóa lợi nhuận

MC = TC’Q = 2Q – 40

MC = P

 2Q – 40 = 200 – 2Q

 2Q2 = 240

 Q* = 60

 P* = 80

Trang 5

TR = P * Q = 60 * 80 = 4800

TC = Q2 – 40Q + 200 = 602 – 40 * 60 + 200 = 1400

π = TR – TC = 4800 – 1400 = 3400 USD

c Nếu chính phủ đánh thuế t = 6USD/sản phẩm ta có:

MCt = MC + t = 2Q – 40 + 6 = 2Q – 46

Nguyên tắc tối đa hóa lợi nhuận

MR = MCt 200 – 4Q = 2Q – 46

 Qt = 41 ( sản phẩm)

Do đó: Pt = 200 – 2Qt = 200 – 2 * 41 = 118 (USD/sản phẩm)

TRt = Pt * Qt = 118 * 41 = 4838 (USD)

TCt = TC + t * Qt

= Qt2 – 40Qt + 200 + t * Qt

= 412 – 40 * 41 + 200 + 6 * 41

= 3767 (USD)

d

3 Liên hệ thực tiễn

❖ Thực tiễn về phát triển ngành điện lực tại Việt Nam

- Tính đến cuối năm 2021, tổng công suất lắp đặt nguồn điện toàn hệ thống đạt 76.620 MW, tăng gần 7.500 MW so với năm 2020, trong đó tổng công suất các nguồn điện năng lượng tái tạo (điện gió, điện mặt trời) là 20.670 MW (tăng 3.420 MW so với năm 2020) và chiếm tỷ trọng 27,0% Quy mô hệ thống điện Việt Nam đã vươn lên đứng đầu

khu vực ASEAN về công suất nguồn điện

- Mặc dù chịu ảnh hưởng của đại dịch COVID-19, điện sản xuất và nhập khẩu toàn hệ thống vẫn đạt 256,7 tỷ kWh, tăng 3,9% so với năm

Trang 6

2020 Công suất phụ tải cực đại toàn hệ thống là 43.518 MW, tăng 11,3%

- Điện thương phẩm toàn Tập đoàn đạt 225,3 tỷ kWh, tăng 3,85% so với năm 2020, trong đó, Tổng công ty Điện lực miền Bắc (EVNNPC) tăng cao nhất 9,31% Báo cáo của EVN (Tập đoàn điện lực Việt Nam) cho thấy, điện cấp cho lĩnh vực công nghiệp-xây dựng chiếm tỷ trọng 54,5%, tăng trưởng 4,88%; điện cấp cho thương mại, khách sạn, nhà hàng chiếm tỷ trọng 4,0% và là thành phần bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi dịch COVID-19

- Năm 2021 là một năm vận hành đầy biến động của Hệ thống điện quốc gia: Nhiều khu vực nhu cầu điện giảm thấp do chịu ảnh hưởng nặng nề của đại dịch COVID-19; thủy văn diễn biến bất thường và khó

dự báo; tỷ trọng các nguồn điện năng lượng tái tạo (đặc biệt điện mặt trời, điện gió) tăng cao gây khó khăn trong điều hành hệ thống và dẫn đến tình trạng “thừa nguồn”, đặc biệt là vào các ngày lễ và cuối tuần ở khu vực miền Nam nhưng lại thiếu điện cục bộ một số khu vực tại miền Bắc vào một số thời gian cao điểm nắng nóng mùa hè

- Trung tâm Điều độ Hệ thống điện quốc gia đã thực hiện nghiêm túc các quy định về lập lịch, huy động, vận hành và điều độ các nhà máy điện, vận hành tối ưu trong thời gian thực các nguồn điện tái tạo, bảo đảm công khai, công bằng, minh bạch

- Mặc dù phụ tải thực tế thấp hơn nhiều so với dự báo, Tập đoàn vẫn bảo đảm vận hành thị trường điện bán buôn cạnh tranh liên tục, ổn định Hiện tại, có 104 nhà máy điện tham gia trực tiếp trong thị trường điện với tổng công suất 27.957 MW, chiếm 36,5% tổng công suất đặt toàn hệ thống

Trang 7

- Trong công tác kinh doanh và dịch vụ khách hàng, Tập đoàn và các đơn vị trực thuộc tiếp tục triển khai nhiều giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng cung ứng dịch vụ điện, đa dạng hoá hình thức cung cấp dịch vụ, đã sửa đổi bổ sung Quy trình kinh doanh và giảm thời gian tiếp cận điện năng theo Nghị quyết của Chính phủ

- Đến nay, tỷ lệ thu tiền điện không dùng tiền mặt toàn Tập đoàn đạt gần 95%, tỷ lệ giao dịch theo phương thức điện tử đạt 97,89%, tăng 20,32% so với năm 2020 Cùng với đó có tới 99,66% các yêu cầu về dịch vụ điện được cung cấp qua các kênh Internet, qua Trung tâm chăm sóc khách hàng, Trung tâm hành chính công

- EVN cũng tiếp tục tập trung đơn giản hóa các thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian cấp điện Thời gian cấp điện lưới trung áp giảm còn 3,30 ngày; thời gian cấp điện lưới hạ áp giảm cho khách hàng sinh hoạt khu vực thành phố, thị xã, thị trấn là 2,29 ngày, khu vực nông thôn là 2,67 ngày và khách hàng ngoài sinh hoạt là 2,62 ngày

- Dù tiếp tục gặp rất nhiều khó khăn, vướng mắc trong triển khai các thủ tục đầu tư, đền bù giải phóng mặt bằng, chuyển đổi mục đích đất rừng, thu xếp vốn, giá vật tư, vật liệu tăng cao và giãn cách do dịch COVID-19, Tập đoàn và các đơn vị rất nỗ lực và có các giải pháp đẩy nhanh tiến độ nên đã cơ bản hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch năm 2021

- Theo đó, EVN đã đưa vào vận hành nhà máy Thủy điện Thượng Kon Tum (220 MW) và nhà máy Thủy điện Đa Nhim mở rộng (80 MW); hoàn thành cụm công trình cửa xả dự án Thủy điện tích năng Bắc Ái; khởi công 3 dự án nguồn điện gồm: Nhà máy thủy điện Hòa Bình mở rộng (480 MW), nhà máy Thủy điện Ialy mở rộng (360 MW) và nhà máy nhiệt điện Quảng Trạch I (1.200 MW)

Trang 8

- Về lưới điện, EVN đã khởi công 198 công trình và hoàn thành 176 công trình lưới điện 110-500 kV Đặc biệt, EVN đã hoàn thành dự án cấp điện nông thôn tỉnh Lai Châu, triển khai thủ tục đầu tư dự án cấp điện huyện Côn Đảo từ lưới điện quốc gia bằng cáp ngầm

- Các Tổng công ty điện lực đã chủ động thu xếp các nguồn vốn hơn 1.100 tỷ đồng để cấp điện cho 15.000 hộ dân chưa có điện tại địa bàn khó khăn thuộc các tỉnh Sơn La, Lào Cai, Lai Châu, Lạng Sơn, Điện Biên, Nghệ An, Cà Mau

- Tính đến cuối năm 2021, số xã có điện trên cả nước đạt 100% và số

hộ dân được sử dụng điện đạt 99,65%; trong đó số hộ dân nông thôn có điện đạt 99,45%

❖ Đề xuất giải pháp

Phát triển điện lực nói riêng và phát triển năng lượng nói chung có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng của đất nước Vì vậy, để đảm bảo phát triển điện lực bền vững cần nghiên cứu triển khai các giải pháp chủ yếu sau:

Khai thác tiềm năng sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả

Có thể nói đây là giải pháp hữu hiệu nhất mà nhiều nước trên thế giới

áp dụng, nhằm giảm nhu cầu điện năng để từ đó giảm chi phí đầu tư vào phát triển nguồn lưới cung cấp điện, giảm tác động xấu đến môi trường sinh thái (giảm phát thải ô nhiễm, chiếm dụng đất đai…) và giảm giá thành điện năng…

Theo nghiên cứu, đánh giá của một số chuyên gia năng lượng trong nước và quốc tế, giải pháp sử dụng năng lượng hiệu quả có thể giảm nhu cầu điện năng của cả nước khoảng 11-12% vào năm 2030

Trang 9

Theo đuổi kịch bản phát triển năng lượng phát thải ít carbon

Khí carbon dioxyt (CO2) phát thải từ việc đốt cháy nhiên liệu hóa thạch (than trong năng lượng và dầu mỏ trong giao thông vận tải) được coi là tác nhân chính gây nên hiệu ứng nhà kính làm trái đất nóng lên Vì vậy, hiện nay hầu hết các quốc gia trên thế giới trong chiến lược phát triển của mình đều hết sức quan tâm đến cuộc chiến chống biến đổi khí hậu toàn cầu và theo đuổi các kịch bản tăng trưởng phát thải ít carbon Đối với nước ta, hiện tại và trong tương lai, lượng phát thải CO2 từ các nhà máy nhiệt điện than chiếm tỷ trọng rất lớn, tiêu thụ than có thể lên đến trên dưới 100 triệu tấn vào năm 2030, trong khi đó lượng than khai thác trong nước có khả năng cung cấp cho sản xuất điện dự báo chỉ có thể hạn chế khoảng 40 triệu tấn/năm, khoảng 2/3 lượng than còn lại sẽ là than nhập

Để đáp ứng yêu cầu giảm phát thải khí CO2, cần phải nghiên cứu xem xét giảm tỷ trọng cac nhà máy nhiệt điện than trong cơ cấu phát triển nguồn điện mà thay thế bằng các nguồn không/ít phát thải carbon như: tăng cường tỷ trọng nguồn điện từ năng lượng tái tạo và nhập khẩu; xây dựng các nhà máy điện nguyên tử và các nhà máy điện sử dụng khí hóa lỏng

Việc giảm tỷ trọng nguồn nhiệt điện than còn có ý nghĩa hết sức quan trọng, là giảm bớt sự phụ thuộc quá nhiều vào nguồn than nhập khẩu, góp phần bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia

Tăng cường phát triển nguồn điện từ năng lượng tái tạo

Giải pháp hữu hiệu và chủ động nhất để bù đắp lượng nhiệt điện than suy giảm trong cơ cấu phát triển nguồn điện theo kịch bản tăng trưởng

Trang 10

phát thải ít carbon là tăng cường phát triển nguồn điện từ năng lượng tái tạo, mà chủ yếu là thủy điện nhỏ, sinh khối, gió và mặt trờo

Để đảm bảo phát triển ngành Điện lực Việt Nam bền vững trong giai đoạn từ nay đến năm 2030, cần tập trung nỗ lực vào việc tăng cường khai thác tiềm năng sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp và sinh hoạt; kiên định theo đuổi kịch bản tăng trưởng phát thải ít carbon trong Quy hoạch phát trển Điện lực với quy định bắt buộc áp dụng công nghệ than sạch (công nghệ lò hơi siêu tới hạn) đối với các dự án nhiệt điện than mới và thúc đẩy đầu tư phát triển các dự án năng lượng tái tạo, đặc biệt là điện gió, mặt trời và sinh khối

❖ Vấn đề độc quyền

Tại Việt Nam hiện nay, ngoài một số nhà cung cấp nhỏ, có ít nhất ba

cơ quan lớn trong lĩnh vực năng lượng, đó là: Điện lực Việt Nam, PV Power (Tổng công ty điện lực dầu khí Việt Nam), và TKV (Tập đoàn công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam, hay còn gọi là

VINACOMIN) Hãy giả sử rằng không tồn tại cơ chế độc quyền trong sản xuất điện mặc dù cả ba công ty kể trên đều thuộc sở hữu nhà nước

và cũng không có bằng chứng nào cho thấy có sự cạnh tranh giữa ba công ty này

Ngoài ra, về mặt kỹ thuật, việc Nhà nước điều tiết hệ thống điện quốc gia là hoàn toàn hợp lý Chúng ta đang giả định rằng, theo truyền

thống, mỗi hệ thống cần một bên nắm vai trò điều tiết toàn bộ hệ thống,

và việc chính phủ nên là người điều tiết hệ thống quốc gia là một điều hợp lý Tuy nhiên, nếu công nghệ tiên tiến tới mức độ mà tất cả các nhà sản xuất điện – nhà nước và tư nhân – đều có thể tham gia vào một hệ

Trang 11

thống điều phối chung, thì câu chuyện hiện tại của chúng ta về độc quyền truyền tải điện sẽ khác đi, nghĩa là việc điều tiết hệ thống có thể được áp dụng như nhau đối với tất cả các bên – nhà nước và tư nhân

Hãy thử đơn giản hoá vấn đề bằng cách chỉ tập trung vào cơ chế độc quyền trong truyền tải điện Cơ sở duy nhất cho việc độc quyền này là

an ninh quốc gia Hệ thống truyền tải điện quốc gia là hệ thống mang tính xương sống và huyết mạch của hệ thống điện quốc gia, đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đảm bảo an ninh năng lượng và an ninh quốc gia Tuy nhiên, không ai giải thích được tại sao chính phủ phải giữ độc quyền trong vận hành lưới điện quốc gia và các nhà máy điện lớn chỉ vì chúng quan trọng đối với an ninh quốc gia

Hiểu biết thông thường lẫn các nghiên cứu đáng tin cậy đều cho chúng ta thấy rằng một hệ thống tập trung như lưới điện quốc gia cực

kỳ dễ bị tấn công Nếu xương sống bị nứt, nhiều khả năng toàn bộ quốc gia hoặc một phần lớn đất nước sẽ bị tê liệt Các biện pháp đảm bảo an toàn sẽ yêu cầu hệ thống được phân cấp thành nhiều yếu tố nhỏ hơn – nhiều nhà máy điện và lưới điện cục bộ phân tán trên khắp đất nước – và kết nối với nhau thành một mạng lưới thông minh và hài hòa

An ninh quốc gia đòi hỏi lưới điện quốc gia và các nhà máy sản xuất điện phải nằm phân tán trong cả nước, không tập trung thành một hệ thống khổng lồ duy nhất

Một cơ chế độc quyền được bảo vệ bởi luật là điều tệ nhất có thể xảy

ra đối với một nền kinh tế Kể cả khi không được luật pháp bảo hộ, EVN vốn dĩ đã nắm giữ vai trò độc quyền tự nhiên, điều này có từ sự phát triển truyền thống của ngành năng lượng trên toàn thế giới Dùng

Ngày đăng: 18/04/2022, 02:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w