1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thị trường và thị trường độc quyền tập đoàn

14 48 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 57,16 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nền kinh tế Việt Nam trong thời gian qua đã có những bước tiến vượt bậc, với tốc độ phát triển hàng năm từ 7% đến 8,6%, thu nhập bình quân đầu người tăng đáng kể. Nền kinh tế Việt Nam đang thay đổi diện mạo của mình, cơ sở hạ tầng được nâng cấp, đầu tư gia tăng. Với tốc độ phát triển của nền kinh tế, nhu cầu của con người cũng gia tăng, trong đó kể đến nhu cầu đi lại. Những người có thu nhập cao có nhu cầu đi lại bằng đường hàng không ngày càng gia tăng. Chi phí cho việc di chuyển bằng đường hàng không không phải nhỏ, ngoài việc tuỳ thuộc vào nhu cầu, việc đi lại với hình thức này còn phụ thuộc vào thu nhập. Số lượng người đi lại bằng đường hàng không tăng đều qua các năm, cùng với tốc độ tăng Trang 4 trường kinh tế qua các năm. Tốc độ phát triển của ngành hàng không hiện nay thuộc vào top 10 của thế giới với khoảng 20%/năm. Thị trường vận tải hàng không Việt Nam chứng kiến sự cạnh tranh khốc liệt giữa ba tập đoàn hàng không dân dụng lớn là Vietnam Airlines, Jetstar Pacific, Vietjet Air.

Trang 1

MỤC LỤC

A MỞ ĐẦU 1

B NỘI DUNG 1

I Khái niệm thị trường và thị trường độc quyền tập đoàn 1

1 Khái niệm 1

2 Đặc điểm của thị trường độc quyền tập đoàn 2

3 Những hạn chế của thị trường độc quyền tập đoàn 3

4 Lí thuyết trò chơi trong thị trường độc quyền tập đoàn, phân loại thị trường……….4

II THỊ TRƯỜNG VẬN TẢI HÀNG KHÔNG VIỆT NAM 7

1 Định nghĩa thị trường vận tải hàng không 7

2.Tính độc quyền tập đoàn của thị trường vận tải hàng không Việt Nam hiện nay……….…… 7

3 Sự cạnh tranh giữa ba tập đoàn vận tải hàng không lớn tại Việt Nam……….9

C KẾT LUẬN 11

Trang 2

A MỞ ĐẦU

Nền kinh tế Việt Nam trong thời gian qua đã có những bước tiến vượt bậc, với tốc độ phát triển hàng năm từ 7% đến 8,6%, thu nhập bình quân đầu người tăng đáng kể Nền kinh tế Việt Nam đang thay đổi diện mạo của mình, cơ

sở hạ tầng được nâng cấp, đầu tư gia tăng Với tốc độ phát triển của nền kinh tế, nhu cầu của con người cũng gia tăng, trong đó kể đến nhu cầu đi lại Những người có thu nhập cao có nhu cầu đi lại bằng đường hàng không ngày càng gia tăng Chi phí cho việc di chuyển bằng đường hàng không không phải nhỏ, ngoài việc tuỳ thuộc vào nhu cầu, việc đi lại với hình thức này còn phụ thuộc vào thu nhập Số lượng người đi lại bằng đường hàng không tăng đều qua các năm, cùng với tốc độ tăng Trang 4 trường kinh tế qua các năm Tốc độ phát triển của ngành hàng không hiện nay thuộc vào top 10 của thế giới với khoảng 20%/năm Thị trường vận tải hàng không Việt Nam chứng kiến sự cạnh tranh khốc liệt giữa ba tập đoàn hàng không dân dụng lớn là Vietnam Airlines, Jetstar Pacific, Vietjet Air

B NỘI DUNG

I KHÁI NIỆM THỊ TRƯỜNG VÀ THỊ TRƯỜNG ĐỘC QUYỀN TẬP ĐOÀN

1 Khái niệm: Thị trường là nơi mọi người gặp gỡ, với một bên là những

người bán, cung cấp, điều hòa các hàng hóa dịch vụ và bên kia là những người mua, đảm bảo nhu cầu tiêu thụ ổn định, nhờ đó đã duy trì được cho nhà sản xuất và thị trường hoạt động Cạnh tranh là một quy luật, là kết quả của nền kinh tế thị trường tự do gồm có nhiều doanh nghiệp của nhiều thành phần kinh

tế cùng tồn tại để tranh dành cùng một lợi ích, mong mở rộng thị phần của mình trên một thị trường liên quan. Cạnh tranh là động lực của cải tiến và phát

Trang 3

triển. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau mà có sự tồn tại sự độc quyền, cũng như một số tập đoàn, doanh nghiệp độc quyền trong nền kinh tế thị trường, đó có thể là do, doanh nghiệp được nhà nước bảo hộ độc quyền về bí quyết kinh doanh, bằng sáng chế, hay là do doanh nghiệp kiểm soát được toàn

bộ nguồn cung cấp các nguyên liệu để chế tạo ra một sản phẩm nào đó, hay cũng có thể là doanh nghiệp độc quyền là nhờ vào các quy định của pháp luật -doanh nghiệp được Chính phủ bảo hộ độc quyền

2 Đặc điểm của thị trường độc quyền tập đoàn:

 Thị trường độc quyền tập đoàn chỉ có một số doanh nghiệp sản xuất toàn

bộ sản phẩm hoặc hầu hết tổng sản lượng Thị phần của mỗi doanh nghiệp là tương đối lớn và có quan hệ phụ thuộc lẫn nhau: vì chỉ có một vài doanh nghiệp cạnh tranh với nhau nên mỗi doanh nghiệp này phải cân nhắc cẩn thận xem các hành động của mình sẽ gây tác động như thế nào đến các doanh nghiệp cạnh tranh còn lại và cách các doanh nghiệp đó phản ứng trở lại; khi những người quản lí của doanh nghiệp đánh giá kết quả tiềm năng của các quyết định của mình thì họ phải giả định rằng đối thủ cũng là những người hợp lí và thông minh như họ Họ phải đặt mình vào vị trí của các đối thủ và cân nhắc xem phản ứng như thế nào Điều này dẫn đến hai mô hình thị trường độc quyền tập đoàn chủ yếu là mô hình cạnh tranh và mô hình cấu kết giữa các doanh nghiệp

 Các doanh nghiệp mới khó có thể gia nhập thị trường do vấp phải rất nhiều rào cản lớn như: độc quyền về bằng sáng chế, chiến lược kinh doanh, ưu thế về quy mô sản xuất, thương hiệu sản phẩm của các doanh nghiệp đang tồn tại trên thị trường này Một số hoặc tất cả doanh nghiệp đều thu được lợi nhuận đáng kể trong dài hạn

 Cân bằng trong thị trường độc quyền tập đoàn (cân bằng Nash): là một cân bằng không hợp tác - mỗi doanh nghiệp ra quyết định sao cho thu được lợi

Trang 4

nhuận cao nhất khi biết hành động của các doanh nghiệp đối thủ Khi không hợp tác hành động, lẽ ra lợi nhuận của mỗi doanh nghiệp thu được cao hơn lợi nhuận thu được trong cạnh tranh hoàn hảo, nhưng lại thấp hơn lợi nhuận nếu các doanh nghiệp cấu kết với nhau

3 Những hạn chế của thị trường độc quyền tập đoàn:

 Gây trở ngại cho việc sử dụng lao động, kỹ thuật và không đạt hiệu quả sản xuất Các doanh nghiệp độc quyền sẽ không sử dụng hết năng suất sản xuất

và làm giảm thặng dư tiêu dùng của khách hàng

 Thị trường độc quyền tập đoàn hoạt động kém hiệu quả hơn so với thị trường cạnh tranh hoàn toàn bởi vì doanh nghiệp độc quyền không thiết lập quy

mô sản xuất tối ưu nên chi phí sản xuất cao hơn so với thị trường cạnh tranh hoàn toàn Lợi nhuận chỉ tập trung vào một nhóm người, tạo ra sự chênh lệch thu nhập ngày càng lớn giữa các thành phần dân cư

 Thông tin không hoàn hảo: người tiêu dùng và doanh nghiệp không có được thông tin hoàn hảo về đặc tính của các sản phẩm họ mua và bán Xác định nhãn hiệu hàng hoá là quan trọng với các thị trường độc quyền tập đoàn bởi khách hàng thường muốn trả giá cao hơn cho một sản phẩm được sản xuất bởi một doanh nghiệp có tên tuổi hơn là mua một sản phẩm từ một doanh nghiệp

mà họ không biết Có hai vấn đề phát sinh do thông tin không hoàn hảo là Sự lựa chọn bất lợi và Rủi ro đạo đức: Vấn đề lựa chọn bất lợi nảy sinh khi những người sẵn sàng chấp nhận giao dịch lại đang bán một sản phẩm chất lượng thấp hơn chất lượng điển hình chung trong toàn bộ thị trường, gây bất lợi cho người tiêu dùng nói chung; Rủi ro đạo đức nảy sinh khi tồn tại một giao dịch khiến cho một bên thay hành vi không đổi giống hành vi đã được thoả thuận trong giao dịch giữa hai bên

Trang 5

4 Lí thuyết trò chơi trong thị trường độc quyền tập đoàn, phân loại thị trường.

Khi ra quyết định, mỗi người quản lí tập đoàn đều phải tính đến phản ứng của những người khác đối với hành động của mình Do tính phụ thuộc lẫn nhau là đặc trưng của thị trường độc quyền tập đoàn, nên lý thuyết trò chơi rất hữu ích cho việc giải thích hành vi của các doanh nghiệp trên thị trường này

Doanh nghiệp B Giá cao (P1) Giá thấp (P2) Doanh nghiệp

A

Bảng mô tả các kết quả của những khả năng đặt giá khác nhau của doanh nghiệp Trong việc ra quyết định đặt giá thì mỗi doanh nghiệp một cách độc lập đang làm điều tốt nhất mà mình có thể, đã tính đến phản ứng của các đối thủ Điểm mấu chốt ở đây là mỗi doanh nghiệp sẽ luôn thu được lợi nhuận cao hơn bằng việc đặt giá thấp, cho dù đối thủ đặt giá thế nào đi nữa nếu không có sự cấu kết đặt giá giữa các doanh nghiệp đối thủ Tuy nhiên các doanh nghiệp đều có khả năng đặt giá và sản lượng nhiều lần, liên tục quan sát hành vi của các đối thủ và điều chỉnh hành vi của mình qua đó gây dựng thương hiệu cho sản phẩm của mình Vì vậy, sự phối hợp và hợp tác của các doanh nghiệp độc quyền tập đoàn đôi khi trở thành phổ biến Điều này dẫn đến sự hình thành mô hình thị trường độc quyền tập đoàn cấu kết công khai

và thị trường độc quyền cấu kết ngầm  Các doanh nghiệp có thể thỏa thuận công khai hay ngấm ngầm về với nhau về giá bán và sản lượng để tránh (hạn chế) đối đầu hay cạnh tranh Họ có thể thống nhất giảm sản lượng để tăng giá

Trang 6

hoặc bán cùng mức giá cao hay giảm giá để tạo rào cản thị trường khi có doanh nghiệp mới xuất hiện Các doanh nghiệp có thể thương lượng với nhau

và có những hợp đồng ràng buộc để đưa ra các quyết định chung

 Mô hình chỉ đạo giá: Khi một doanh nghiệp chiếm ưu thế về chi phí sản xuất thấp, chất lượng sản phẩm đảm bảo, ổn định, có uy tín trên thị trường, có quy mô sản xuất lớn, sản lượng cung ứng chiếm tỷ trọng cao trong ngành thông thường họ quyết định giá bán, các doanh nghiệp khác sẽ là người chấp nhận giá

đó và làm theo

 Mô hình Cartel: Hiệp hội các nước xuất khẩu dầu mỏ thế giới (OPEC),  Hiệp hội các nước xuất khẩu đồng (CIPEC), Liên minh bô xít thế giới IBA,…

là những ví dụ điển hình về mô hình các doanh nghiệp được phép hợp tác công khai và được thế giới công nhận

Trong mô hình chỉ đạo giá, việc định giá cấu kết ngầm là một việc rất khó khăn khi các doanh nghiệp không được trao đổi thông tin với nhau Khó khăn gia tăng khi chi phí và cầu thay đổi, mức giá chuẩn cũng thay đổi theo Chỉ đạo giá cũng có thể là một cách mà các doanh nghiệp độc quyền tập đoàn xử lý với việc miễn cưỡng thay đổi giá Khi đó các doanh nghiệp có thể trông chờ vào mức giá mà doanh nghiệp chỉ đạo phát tín hiệu về thời gian thay đổi và thay đổi bao nhiêu

Tuy vậy, sự cấu kết ngầm có xu hướng dễ đổ vỡ nên các doanh nghiệp độc quyền tập đoàn thường mong muốn sự ổn định về giá cả: Khi chi phí sản xuất hoặc cầu thị trường giảm, các doanh nghiệp cũng không muốn giảm giá vì điều

đó có thể phát tín hiệu sai cho các doanh nghiệp đối thủ và có thể khơi ngòi chiến tranh giá cả Còn khi chi phí hoặc cầu thị trường tăng, các doanh nghiệp cũng không muốn tăng giá vì sợ các đối thủ cũng không tăng giá Điều này giải thích tại sao đặc trưng nổi bật của ngành độc quyền tập đoàn là sự cứng nhắc về giá Khi một hãng giảm giá, hãng sẽ cho rằng đối thủ cạnh tranh cũng sẽ giảm

Trang 7

giá theo, do đó mặc dù cầu trên thị trường tăng nhưng thị phần của các hãng có thể vẫn không đổi Tuy nhiên, khi hãng tăng giá, đối thủ có thể sẽ không có hành vi tương tự, và hãng sẽ mất đi một lượng khách hàng đáng kể của mình chuyển sang mua sản phẩm của các hãng khác Do đó, khi giá tăng cao hơn P* (tương ứng tại điểm gẫy khúc) thì đường cầu sẽ thoải hơn đoạn cầu ở dưới

Đường cầu gãy Đường cầu D gãy khúc ở điểm E làm cho đường MR trở thành một đường đứt đoạn.Như vậy, đường cầu gãy khúc là sự hợp thành của hai đoạn cầu riêng biệt có độ dốc khác nhau Mỗi đoạn cầu này có đường doanh thu cận biên riêng biệt (tương ứng là MR₁ và MR₂) và có một khoảng gián đoạn giữa hai đoạn doanh thu cận biến này Chính khoảng gián đoạn này giải thích quan trọng cho hành vi của các hãng độc quyền tập đoàn Sự giảm xuống của chi phí sản xuất thường dẫn đến gia tăng sản lượng và giảm mức giá bán, nhưng điều này có thể không đúng với độc quyền tập đoàn

Trang 8

Trong hình 3 Q* là sản lượng tối ưu không chỉ ở mức chi phí MC₁ mà cả MC₂ hoặc MC bất kỳ nằm trong khoảng gián đoạn của đường doanh thu cận biên, và khi đó mức giá “cứng nhắc” tại P* Mức giá kém linh hoạt này được giải thích bởi cá nhân một hãng không thể hạ giá mà không bị phản ứng và cũng không thể nâng giá mà không bị tổn thất về thị phần Các doanh nghiệp luôn né tránh cuộc cạnh tranh bằng giá cả, vì hậu quả của nó là các bên đều bị thiệt hại, nhưng để tồn tại và phát triển, các doanh nghiệp luôn nỗ lực tìm kiếm những hình thức cạnh tranh phi giá an toàn và hữu hiệu hơn. Do vậy, cạnh tranh phi giá cả thực sự quan trọng đối với các doanh nghiệp độc quyền nhóm bởi vì thông thường giá của các sản phẩm giống nhau, doanh nghiệp nào có chính sách hậu mãi, quảng cáo, sức mạnh thương hiệu tốt hơn thì sẽ bán được nhiều sản phẩm hơn

II THỊ TRƯỜNG VẬN TẢI HÀNG KHÔNG VIỆT NAM

1 Định nghĩa thị trường vận tải hàng không.

Vận tải hàng không nói theo nghĩa rộng là sự tập hợp các yếu tố kinh tế kỹ thuật nhằm khai thác việc chuyên chở bằng máy bay một cách có hiệu quả Nếu nói theo nghĩa hẹp thì vận tải hàng không là sự di chuyển của máy bay trong không trung hay cụ thể hơn là hình thức vận chuyển hành khách, hàng hoá, hành lí, bưu kiện từ một địa điểm này đến một địa điểm khác bằng máy bay Vận tải hàng không là một ngành còn rất trẻ so với ngành vận tải khác Nếu như vận tải đường biển ra đời và phát triển từ thế kỷ thứ 5 trước công nguyên thì vận tải hàng không mới chỉ phát triển từ những năm đầu của thế kỷ 20 Vận tải hàng không khi mới ra đời chỉ phục vụ nhu cầu quân sự, nhưng cho đến nay, sự phát triển của vận tải hàng không đã gắn liền với nhu cầu vận chuyển hành khách, hàng hoá và nó đã trở thành một ngành quan trọng đối với nền kinh tế thế giới nói chung và đối với buôn bán quốc tế nói riêng Các đặc điểm cơ bản

Trang 9

của ngành Ngành hàng không dân dụng là ngành vận tải áp dụng kỹ thuật công nghệ đại với hoạt động không chỉ trong nước mà còn mang tính quốc tế Vì gắn liền với tuyệt đối an toàn và an ninh, mức độ phục vụ mang tính cạch tranh cao Nên trong ngành hàng không có rất nhiều việc và cần nhiều nghề nghiệp đa dạng để hoạt động đồng bộ trong một quy trình chặt chẽ

2 Tính độc quyền tập đoàn của thị trường vận tải hàng không Việt Nam hiện nay

Trước năm 1991, khi hàng không Việt Nam chỉ có duy nhất 1 hãng là Việt Nam Airline (VNA), thì người ta gọi đây là thị trường "độc quyền hoàn toàn" tức là toàn thị trường chỉ có duy nhất 1 hãng/ doanh nghiệp tham gia bán/ cung cấp 1 loại sản phẩm/dịch vụ mà hầu như là không thể có sản phẩm/dịch vụ cái nào tốt hơn để thay thế cho nó Do vậy, tất cả các quyền hạn và quyền lợi đều nằm trong tay một người hay một tổ chức nắm cái quyền đó, từ chuyện tiền vé, phí, các tuyến đường, chặng bay anh buộc phải theo tôi, không thì anh chẳng có

ai khác mà theo đâu Thật ra lúc hàng không Việt Nam còn có 2 hãng khác là Công ty bay Dịch vụ Hàng không (VASCO) nhưng hãng này là một đơn vị trực thuộc của Viet Nam Airlines và Tổng công ty bay dịch vụ Việt Nam thuộc Bộ Quốc Phòng chủ yếu là mục đích quân sự, cho nên tóm lại là thời điểm này Nhà Nước hoàn toàn nắm thế độc quyền ngành hàng không - Năm 1991, Pacific Airline (PA) tham gia thị trường, hãng này ban đầu tuy mang tiếng là tư nhân nhưng hoàn toàn do nhà nước quản lý, thậm chí năm 1995, VNA nhảy vào làm một trong những cổ đông lớn của PA, mãi đến năm 2005, chính phủ đã ký Quyết định số 64/2005/QĐ-TTg chuyển toàn bộ 86,49% cổ phần của Vietnam Airlines cho Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC) thuộc

Bộ Tài Chính thay mặt Nhà nước quản lý, cho nên thị trường hàng không Việt Nam gần như không có gì thay đổi, sự có mặt của PA nhằm làm phong phú thêm cho ngành hàng không chứ không phá vỡ thế độc quyền hoàn toàn của

Trang 10

Vietnam Airlines - Năm 2008, khi hãng Quantas nhảy vào mua 30% cổ phần

PA để trở thành cổ đông chiến lược, lúc này đổi tên thành Jetstar Pacific Airline cũng như Hà Dũng xuất hiện với Air Speed Up (sau đổi tên thành Indochina Airline) lúc này ai cũng hy vọng thế độc quyền hoàn toàn của Vietnam Airlines

sẽ bị phá vỡ với nhưng chiêu thức cạnh tranh giành thị phần nội địa đơn giản là

vé giá rẻ Thế nhưng thực tế đã cho thấy với ưu thế tuyệt đối về tiềm lực tài chính, số lượng đường bay đang khai thác, tần suất chuyến bay, chất lượng máy bay và dịch vụ cung cấp, cuộc chiến giành thị phần nội địa đã nghiêng hẳn về phía Vietnam Airlines Đây là một vài con số chứng minh: Tính đến 31/12/2009, Vietnam Airlines đã vận chuyển được 6,3 triệu khách nội địa, tăng 14% so 2008 Jetstar Pacific Airlines chỉ vận chuyển xấp xỉ 1,9 triệu khách chưa bằng 1/3 sản lượng của Vietnam Airlines Không chỉ giành thị phần tuyệt đối về vận chuyển khách, Vietnam Airlines là hãng hàng không duy nhất công

bố có lãi với mức lợi nhuận trước thuế đạt 150 tỷ đồng Trong khi đó, với khoản thua lỗ 30 triệu USD từ việc kinh doanh xăng dầu hàng không năm 2009, Jetstar Pacific Airlines rất khó gượng dậy sau cú sốc này Indochina Airlines thậm chí còn khó khăn hơn Kể từ khi đi vào hoạt động đầu năm 2009, hãng hàng không tư nhân liên tục nợ tiền nhiên liệu của nhà cung cấp Cho đến tháng 11/2009, hãng này đã phải trả cho đối tác chiếc Boeing 737- 800 duy nhất và ngừng hoạt động cho tới nay Tức là vào thời điểm cách đây một năm, tuy không còn là độc quyền hoàn toàn nhưng VNA theo đánh giá của các chuyên giá kinh tế vẫn được xem là độc quyền nhóm tức là thị trường tuy có nhiều doanh nghiệp nhưng chỉ có 1 doanh nghiệp hoạt động hiệu quả và chiếm ưu thế cạnh tranh hoàn toàn trên thị trường, vượt trội hơn hẳn so với các đối thủ, bởi đơn giản Vietnam Airlines có quá nhiều lợi thế có nhà nước đứng sau - Cuối năm 2010: Air Mekong (AM) xuất hiện đầy ấn tượng cũng với chiêu thức vé giá vẻ nhưng khôn ngoan hơn một chút là sử dụng đường bay "độc" khiến cho

Ngày đăng: 10/07/2021, 09:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w