1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phạm an tiểu luận triết học mác lênin

25 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 49,48 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TIỂU LUẬN MÔN TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN VẬN DỤNG QUY LUẬT QUAN HỆ SẢN XUẤT PHÙ HỢP VỚI TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT VÀO PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM Sinh viên Phạm An Lớp QTKD K19C Chuyên ngành Quản Trị Kinh Doanh Đắk Lắk, tháng 8 năm 2021 22 MỤC LỤC MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU 1 PHẦN NỘI DUNG 2 1 KHÁI QUÁT QUY LUẬT QUAN HỆ SẢN XUẤT PHÙ HỢP VỚI TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT 2 1 1 Các khái niệm 2 1 1 1 L.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY NGUYÊN

KHOA KINH TẾ

TIỂU LUẬN MÔN TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN

VẬN DỤNG QUY LUẬT QUAN HỆ SẢN XUẤT PHÙ HỢP VỚI TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT VÀO PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ

NGHĨA Ở VIỆT NAM

Sinh viên : Phạm An Lớp : QTKD K19C Chuyên ngành : Quản Trị Kinh Doanh

Đắk Lắk, tháng 8 năm 2021

Trang 2

1.2 Nội dung quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát

1.2.2 Sự vận động, phát triển của lực lượng sản xuất quyết định và làm thay

1.2.3 Quan hệ sản xuất có tính độc lập tương đối và tác động trở lại sự phát

1.3 Ý nghĩa của quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độphát triển của lực lượng sản xuất trong đời sống xã hội 6

2 VẬN DỤNG QUY LUẬT QUAN HỆ SẢN XUẤT PHÙ HỢP VỚI TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT VÀO PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ

2.1 Thực trạng về thành tựu và hạn chế trong quá trình phát triển kinh tế thị

2.1.1 Những thành tựu kinh tế - xã hội hiện nay đã đạt được 7

Trang 3

2.1.2 Những hạn chế trong quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng

2.2 Các giải pháp nhằm vận dụng hiệu quả quy luật về sự phù hợp của quan

hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất vào phát triển kinh

tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam 132.2.1 Quan điểm và mục tiêu phát triển kinh tế của Đảng và nhà nước 132.2.2 Các giải pháp nhằm vận dụng hiệu quả quy luật về sự phù hợp của quan

hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất vào phát triển kinh

tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam 15

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU

Lịch sử phát triển của nền sản xuất xã hội là lịch sử phát triển của nhữngphương thức sản xuất kế tiếp nhau từ thấp đến cao Mà lực lượng sản xuất vàquan hệ sản xuất la hai mặt của phương thức sản xuất , chúng tồn tại khôngtách rời nhau, tác động qua lại lẫn nhau một cách biện chứng, tạo thành quyluật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượngsản xuất - quy luật cơ bản nhất của sự vận động phát triển của xã hội Quyluật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất làquy luật phổ biến, tác động trong toàn tiến trình lịch sử của nhân loại

Sự vận động, phát triển của lực lượng sản xuất quyết định và làm thay đổiquan hệ sản xuất cho phù hợp với nó Ngược lại, quan hệ sản xuất cũng cótính độc lập tương và tác động trở lại sự phát triển của lực lượng sản xuất Khiquan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, nó làđộng lực thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển Ngược lại, khi quan hệ sảnxuất lỗi thời, lạc hậu hoặc tiên tiến hơn một cách giả tạo so với trình độ pháttriển của lực lượng sản xuất sẽ lại kìm hãm sự phát triển của lực lượng sảnxuất Do đó, việc giải quyết mâu thuẫn giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sảnxuất không phải là đơn giản Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung trướcđây chúng ta đã không có được sự nhận thức đúng đắn về quy luật của sự phùhợp giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất đã khiến cho đất nước rơivào khó khăn Chính vì vậy, việc đưa nhận thức một cách đúng đắn mối quan

hệ, tác động qua lại lẫn nhau giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất có ýnghĩa vô cùng to lớn, đặc biệt là trong quá trình xây dựng nền kinh tế hànghoá nhiều thành phần ở Việt Nam hiện nay Chính vì lý do đó, tôi chọn đề tài

“Vận dụng quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất vào phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” làm tiểu luận triết học.

Phạm An

Trang 5

Lực lượng sản xuất bao gồm tư liệu sản xuất và người lao động với trithức, phương pháp sản xuất, kỹ năng, kỹ xảo và thói quen lao động của họ.Trong các yếu tố hợp thành lực lượng sản xuất, người lao động là chủ thể vàbao giờ cũng là lực lượng sản xuất cơ bản, quyết định nhất của xã hội

Ngày nay, khi khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, thì nộidung khái niệm lực lượng sản xuất được bổ sung, hoàn thiện hơn Các cuộccách mạng khoa học và công nghệ đã làm xuất hiện những khu vực sản xuấtmới và làm cho năng suất lao động tăng lên gấp bội Năng suất lao động đượcxem như là tiêu chí quan trọng nhất để đánh giá trình độ phát triển của lựclượng sản xuất và suy cho cùng cũng là yếu tố quyết định sự chiến thắng củamột trật tự xã hội này đối với một trật tự xã hội khác

1.1.2 Quan hệ sản xuất

Quan hệ sản xuất là quan hệ giữa con người với con người trong quátrình sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng sản phẩm xã hội (sản xuất vàtái sản xuất xã hội)

Trong quá trình sản xuất, con người không chỉ có quan hệ với tự nhiên,tác động vào giới tự nhiên, mà còn có quan hệ với nhau, tác động lẫn nhau.Hơn nữa, chỉ có trong quan hệ tác động lẫn nhau thì con người mới có sự tácđộng vào tự nhiên và mới có sản xuất

Trang 6

Quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của sản xuất, biểu hiện mối quan hệgiữa con người với con người trên ba mặt chủ yếu sau:

Quan hệ về sở hữu đối với tư liệu sản xuất là quan hệ giữa con người vớicon người trong việc chiếm hữu tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội

Quan hệ trong tổ chức và quản lý là quan hệ giữa con người với conngười trong việc tổ chức quản lý sản xuất xã hội và trong trao đổi hoạt độngcho nhau

Quan hệ phân phối lưu thông là quan hệ giữa con người với con ngườitrong phân phối và lưu thông sản phẩm xã hội

Các mặt nói trên của quan hệ sản xuất có mối quan hệ mật thiết, tác độngqua lại lẫn nhau, trong đó quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất giữ vai tròquyết định Trong xã hội có giai cấp, giai cấp nào chiếm hữu tư liệu sản xuấtthì giai cấp đó là giai cấp thống trị; giai cấp ấy đứng ra tổ chức, quản lý sảnxuất và sẽ quyết định tính chất, hình thức phân phối, cũng như quy mô thunhập Ngược lại, giai cấp, tầng lớp nào không có tư liệu sản xuất thì sẽ là giaicấp, tầng lớp bị thống trị, bị bóc lột vì buộc phải làm thuê và bị bóc lột dướinhiều hình thức khác nhau

Tuy vậy, quan hệ tổ chức quản lý và quan hệ phân phối lưu thông cũng

có tác động trở lại quan hệ sản xuất

Quan hệ sản xuất trong tính hiện thực của nó không phải là những quan

hệ ý chí, pháp lý mà là quan hệ kinh tế được biểu diễn thành các phạm trù,quy luật kinh tế

Quan hệ sản xuất mang tính khách quan, không phụ thuộc vào ý chí chủquan của con người Sự thay đổi của các kiểu quan hệ sản xuất phụ thuộc vàotính chất và trình độ của lực lượng sản xuất

1.1.3 Phương thức sản xuất

Phương thức sản xuất là cách thức con người khai thác những của cải vậtchất (tư liệu sản xuất và tư liệu sinh hoạt) cần thiết cho hoạt động tồn tại vàphát triển của xã hội trong những giai đoạn lịch sử nhất định của xã hội loàingười

Trang 7

Mỗi xã hội được đặc trưng bằng một phương thức sản xuất nhất định.Phương thức sản xuất đóng vai trò quyết định đối với tất cả các mặt của đờisống xã hội: kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội Sự thay thế kế tiếp nhau củacác phương thức sản xuất trong lịch sử quyết định sự phát triển của xã hội loàingười từ thấp đến cao.

Phương thức sản xuất chính là sự thống nhất và tác động qua lại giữa lựclượng sản xuất ở một trình độ nhất định và quan hệ sản xuất tương ứng

1.2 Nội dung quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình

độ phát triển của lực lượng sản xuất

1.2.1 Khái quát nội dung quy luật

Mỗi phương thức sản xuất trong lịch sử bao giờ cũng là một thể thốngnhất cụ thể của lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất tương ứng Tác độngqua lại theo hướng, lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất đồng thờiquan hệ sản xuất có ảnh hưởng trở lại thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triểncủa lực lượng sản xuất, làm cho các phương thức sản xuất vận động, pháttriển và thay thế nhau theo quy luật quan hệ sản xuất phù hợp trình độ của lựclượng sản xuất Đây là quy luật cơ bản nhất của sự vận động và phát triển xãhội

1.2.2 Sự vận động, phát triển của lực lượng sản xuất quyết định và làm thay đổi quan hệ sản xuất

Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt của phương thức sảnxuất, chúng tồn tại không tách rời nhau, tác động qua lại lẫn nhau một cáchbiện chứng, tạo thành quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình

độ phát triển của lực lượng sản xuất (quy luật cơ bản nhất của sự vận động,phát triển xã hội)

Sự vận động, phát triển của lực lượng sản xuất quyết định và làm thayđổi quan hệ sản xuất cho phù hợp với nó Khi một phương thức sản xuất mới

ra đời, khi đó quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượngsản xuất Sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lựclượng sản xuất là một trạng thái mà trong đó quan hệ sản xuất là “hình thức

Trang 8

phát triển” của lực lượng sản xuất Trong trạng thái đó, tất cả các mặt củaquan hệ sản xuất đều “tạo địa bàn đầy đủ” cho lực lượng sản xuất phát triển.Điều đó có nghĩa là, nó tạo điều kiện sử dụng và kết hợp một cách tối ưu giữangười lao động với tư liệu sản xuất và do đó lực lượng sản xuất có cơ sở đểphát triển hết khả năng của nó.

Sự phát triển của lực lượng sản xuất đến một trình độ nhất định làm choquan hệ sản xuất từ chỗ phù hợp trở thành không phù hợp với sự phát triểncủa lực lượng sản xuất Khi đó, quan hệ sản xuất trở thành “xiềng xích” củalực lượng sản xuất, kìm hãm lực lượng sản xuất phát triển Yêu cầu kháchquan của sự phát triển lực lượng sản xuất tất yếu dẫn đến thay thế quan hệ sảnxuất cũ bằng quan hệ sản xuất mới phù hợp với trình độ phát triển mới củalực lượng sản xuất để thúc đẩy lực lượng sản xuất tiếp tục phát triển Thay thếquan hệ sản xuất cũ bằng quan hệ sản xuất mới cũng có nghĩa là phương thứcsản xuất cũ mất đi, phương thức sản xuất mới ra đời thay thế

1.2.3 Quan hệ sản xuất có tính độc lập tương đối và tác động trở lại

sự phát triển của lực lượng sản xuất

Lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất, nhưng quan hệ sản xuấtkhông hoàn toàn thụ động mà tác động trở lại sự phát triển của lực lượng sảnxuất Quan hệ sản xuất có thể tác động đến lực lượng sản xuất vì nó quy địnhmục đích của sản xuất, tác động đến thái độ của con người trong lao động sảnxuất, đến tổ chức phân công lao động xã hội, đến phát triển và ứng dụng khoahọc và công nghệ và do đó tác động đến sự phát triển của lực lượng sảnxuất Quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất

là động lực thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển Ngược lại quan hệ sản xuấtlỗi thời, lạc hậu hoặc “tiên tiến” hơn một cách giả tạo so với trình độ pháttriển của lực lượng sản xuất sẽ kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất.Khi quan hệ sản xuất kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất, thì theoquy luật chung, quan hệ sản xuất cũ sẽ được thay thế bằng quan hệ sản xuấtmới phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất để thúc đẩy lựclượng sản xuất phát triển

Trang 9

Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượngsản xuất là quy luật phổ biến tác động trong toàn bộ tiến trình lịch sử nhânloại Sự thay thế, phát triển của lịch sử nhân loại từ chế độ công xã nguyênthuỷ, qua chế độ chiếm hữu nô lệ, chế độ phong kiến, chế độ tư bản chủ nghĩa

và đến xã hội cộng sản tương lai là do sự tác động của hệ thống các quy luật

xã hội, trong đó quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển củalực lượng sản xuất là quy luật cơ bản nhất

1.3 Ý nghĩa của quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất trong đời sống xã hội

Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượngsản xuất có ý nghĩa phương pháp luận rất quan trọng Trong thực tiễn, muốnphát triển kinh tế phải bắt đầu từ phát triển lực lượng sản xuất , trước hết làphát triển lực lượng lao động và công cụ lao động Muốn xoá bỏ một quan hệsản xuất cũ, thiết lập một quan hệ sản xuất mới phải căn cứ từ trình độ pháttriển của lực lượng sản xuất, không phải là kết quả của mệnh lệnh hành chính,của mọi sắc lệnh từ trên ban xuống, mà từ tính tất yếu kinh tế, yêu cầu kháchquan của quy luật kinh tế, chống tuỳ tiện, chủ quan, duy tâm, duy ý chí

Nhận thức đúng đắn quy luật này có ý nghĩa rất quan trọng trong quántriệt, vận dụng quan điểm, đường lối, chính sách, là cơ sở khoa học để nhậnthức sâu sắc sự đổi mới tư duy kinh tế của Đảng Cộng sản Việt Nam Trongquá trình cách mạng Việt Nam, đặc biệt trong sự nghiệp đổi mới toàn diện đấtnước hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn quan tâm hàng đầu đến việcnhận thức và vận dụng đúng đắn sáng tạo quy luật này, đã đem lại hiệu quả tolớn trong thực tiễn Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là môhình kinh tế tổng quát, là sự vận dụng quy luật quan hệ sản xuất phù hợp vớitrình độ phát triển của lực lượng sản xuất trong phát triển kinh tế Việt Namhiện nay

2 VẬN DỤNG QUY LUẬT QUAN HỆ SẢN XUẤT PHÙ HỢP VỚI TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT VÀO PHÁT

Trang 10

TRIỂN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM

Nền kinh tế trong thời kỳ quá độ ở nước ta là nền kinh tế đang thực hiệnnhững cuộc cải biến cách mạng toàn diện và sâu sắc trên mọi lĩnh vực kinh tế,chính trị, văn hoá, xã hội Trong lĩnh vực kinh tế đó là việc cải tạo quan hệsản xuất cũ, xây dựng quan hệ sản xuất mới xã hội chủ nghĩa gắn liền với quátrình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất xãhội chủ nghĩa, từng bước chuyển nền kinh tế nhiều thành phần, sản xuất nhỏ

là chủ yếu lên nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa

Trong nền kinh tế quá độ, kinh tế nhà nước phải giữ vai trò chủ đạo vàcùng với kinh tế hợp tác làm nền tảng cho sự phát triển của toàn bộ nền kinh

tế quốc dân theo định hướng xã hội chủ nghĩa Để thực hiện vai trò ấy, kinh tếnhà nước phải được tiếp tục đổi mới và phát triển có hiệu quả, nắm vữngnhững vị trí then chốt, những lĩnh vực trọng yếu trong nền kinh tế như kết cấu

hạ tầng kinh tế - xã hội, hệ thống tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, những cơ sởsản xuất và thương mại, dịch vụ quan trọng Các doanh nghiệp nhà nước phải

có quy mô vừa và lớn, phát huy được ưu thế về kỹ thuật và công nghệ, nângcao năng suất, chất lượng, hiệu quả, tạo ra nhiều sản phẩm chất lượng cao, giáthành hạ, tạo nguồn thu lớn cho ngân sách nhà nước

Vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước thể hiện ở chỗ “làm đòn bẩy đẩynhanh tăng trưởng kinh tế và giải quyết những vấn đề xã hội, mở đường,hướng dẫn , hỗ trợ các thành phần kinh tế khác cùng phát triển; làm lực lượngvật chất để nhà nước thực hiện chức năng điều tiết và quản lý vĩ mô, tạo nềntảng cho chế độ xã hội mới”

2.1 Thực trạng về thành tựu và hạn chế trong quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

2.1.1 Những thành tựu kinh tế - xã hội hiện nay đã đạt được

Năm 2020 đã đi qua và khép lại nhiệm kỳ 5 năm 2016-2020 của Đại hộiđại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng Có thể khẳng định, từ khi bắt đầu

Trang 11

công cuộc đổi mới đến nay, chưa có khi nào đất nước phải đối mặt với nhiềukhó khăn, thách thức và nhiều yếu tố bất định như nhiệm kỳ này.

Nhưng "lửa thử vàng, gian nan thử sức", dưới sự lãnh đạo của Đảng, sựchỉ đạo, quản lý, điều hành của Chính phủ, sau 5 năm thực hiện nghị quyếtĐại hội Đảng, Việt Nam chúng ta đã đạt được những kết quả, những thànhtích đặc biệt

Liên tiếp trong 4 năm, từ 2016-2019, Việt Nam đứng trong tốp 10 nướctăng trưởng cao nhất thế giới, là một trong 16 nền kinh tế mới nổi thành côngnhất Riêng năm 2020 là một năm rất đặc biệt, được xem là năm thành côngnhất của nước ta trong 5 năm qua về tinh thần và ý chí vươn lên trong mọikhó khăn, thử thách, là năm mà chỉ số niềm tin của nhân dân lên cao nhất.a) Những con số ấn tượng của nền kinh tế đạt được

Những kết quả, thành tích đó đã góp phần làm nên những thành tựu rấtquan trọng, khá toàn diện với nhiều dấu ấn nổi bật của nhiệm kỳ 2016-2020:

Một là, trong năm 2020 vừa qua, trong khi phần lớn các nước có mức

tăng trưởng âm hoặc đi vào trạng thái suy thoái do tác động của dịch

COVID-19 nhưng kinh tế của Việt Nam vẫn tăng trưởng dương 2,91%, góp phần làmcho GDP trong 5 năm qua tăng trung bình 5,9%/năm, thuộc nhóm nước có tốc

độ tăng trưởng cao nhất trong khu vực và trên thế giới

Hai là, trong 5 năm qua, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã cùng nhau

tạo ra hơn 1.200 tỷ USD giá trị GDP Nền kinh tế nước ta đã tạo ra được hơn

8 triệu việc làm mới cho người dân, thu nhập bình quân của người dân tănggần 145% Quy mô nền kinh tế tăng 1,4 lần so với đầu nhiệm kỳ, trở thànhnền kinh tế có quy mô đứng thứ 4 trong ASEAN

Ba là, kim ngạch xuất khẩu giai đoạn 2016 - 2020 tăng từ 176,58 tỷ USD

năm 2016 lên gần 281,5 tỷ USD năm 2020 Tăng trưởng xuất khẩu giai đoạn

2016 -2020 đạt trung bình khoảng 11,7%/năm, cao hơn mục tiêu 10% đề ratại Văn kiện Đại 12 của Đảng

Bốn là, chất lượng tăng trưởng được cải thiện; năng suất lao động tăng

bình quân 5,8%/năm, cao hơn nhiều so với giai đoạn 2011-2015 Nợ công

Trang 12

giảm từ 63,7% GDP đầu nhiệm kỳ xuống còn 55% năm 2019, dưới ngưỡng

an toàn do Quốc hội quy định Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu của Việt Namnăm 2020 được xếp thứ 42/131 nước, đứng đầu nhóm 29 quốc gia có cùngmức thu nhập

Năm là, xếp hạng về phát triển bền vững của Việt Nam đã tăng từ thứ 88

năm 2016 lên thứ 49 năm 2020, cao hơn nhiều so với các nước có cùng trình

độ phát triển kinh tế Điều này một lần nữa khẳng định tính ưu việt của chế độ

xã hội chủ nghĩa của chúng ta

b) Đột phá về hội nhập kinh tế quốc tế, nâng cao uy tín và vị thế của đất nước

Một dấu ấn nổi bật trong nhiệm kỳ này, đó là trong bối cảnh bất ổn địachính trị, Việt Nam đã thể hiện rõ vai trò kết nối, tăng cường quan hệ hữunghị hợp tác và làm sâu sắc thêm lòng tin giữa các quốc gia trong và ngoàikhu vực

Chúng ta cũng đã chuẩn bị rất tốt các hành trang hội nhập kinh tế quốc tế, Nhiệm kỳ 2016-2020: Việt Nam đạt nhiều thành tựu kinh tế đặc biệt, nângcao vị thế đất nước

Cuối năm ngoái, Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) đãđược ký kết sau 8 năm đàm phán Đây được coi là dấu ấn hội nhập đặc biệtcủa Việt Nam trên cương vị Chủ tịch ASEAN 2020 khi thúc đẩy thành công

ký kết một Hiệp định bao gồm 10 quốc gia ASEAN, trong đó có Việt Nam và

5 đối tác thương mại lớn là Australia, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc vàNew Zealand; chính thức tạo nên khu vực thương mại tự do lớn nhất thế giới,không có sự tham gia của Mỹ

Hiệp định RCEP dự kiến sẽ tạo nên một thị trường với quy mô lên tới 2,2

tỷ người tiêu dùng; GDP gần 27.000 tỷ USD, chiếm 30% GDP toàn cầu.Như vậy là với việc ký kết 3 Hiệp định thương mại gần đây, Việt Nam đã

mở ra thị trường rộng lớn chưa từng có, bên cạnh RCEP là Hiệp định thươngmại tự do Việt Nam - Liên minh châu Âu (EVFTA) và Hiệp định thương mại

Ngày đăng: 17/04/2022, 15:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w