Quan điểm toàn diện mà nguyên lý cơ sở của nó là nguyên lý về mối liên hệ phổ biến là một trong những nội dung quan trọng của phép biện chứng duy vật Mác Lê-nin, là cẩm nan giúp g chúng
Trang 1TRƯỜNG ĐẠ I HỌC NGO ẠI THƯƠNG
KHOA LÝ LU N CHÍNH TR Ậ Ị
TIỂU LU N TRI T H C Ậ Ế Ọ
VẬN DỤNG NGUYÊN T C TOÀN DI N C Ắ Ệ ỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY V T TRONG HO Ậ ẠT ĐỘ NG KINH T Ế ĐỐ I NGO I Ạ
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Lan Anh
Mã SV: 2113520004
Lớp Anh 02 - KDQTNB , Khóa 60 Lớp tín chỉ: TRI114E
Giảng viên hướng dẫ n: TS Tr n Huy Quang ầ
Vĩnh Phúc, tháng 11 năm 2021
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 1
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Kết cấu 2
NỘI DUNG 3
1. Nguyên tắc toàn diện của phép biện chứng duy vật 3
1.1 Cơ sở lý luận của nguyên tắc toàn diện 3
1.2 Nội dung chính của quan điểm toàn diện 3
1.3 Vai trò của nguyên tắc toàn diện 5
2 Kinh tế đối ngoại tính và tất yếu của hoạt động kinh tế đối ngoại 6
2.1 Khái niệm 6
2.2 Tính tất yếu của hoạt động kinh tế đối ngoại 6
2.2.1 Vai trò của việc mở rộng phát triển hoạt động kinh tế đối ngoại 6
2.2.2 Lợi ích của việc mở rộng hoạt động kinh tế đối ngoại 6
2.3 Thực trạng hoạt động kinh tế đối ngoại ở Việt Nam hiện nay 7
2.3.1 Thành tựu hoạt động kinh tế đối ngoại nước ta đã đạt được 7
2.3.2 Các h n ch còn t n t i và nguyên nhân ạ ế ồ ạ 10
2.3.3 M t s ộ ố giải pháp 11
KẾT LUẬN 15
TÀI LIỆU THAM KHẢO 16
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại lớn nhất thế giới WTO vào ngày 11/01/2007 Sự kiện này mở ra cho Việt Nam nhiều cơ hội và cũng đưa đến cho Việt Nam nhiều tháchthức, đặc biệt là đưa ra kế hoạch điều chỉnh toàn bộ cơ cấu nền kinh tế và cơ chế quản lý với nhiều khó khăn to lớn
Cả nền kinh tế, các ngành sản xuất, các doanh nghiệp, các loại hàng hoá và dịch vụ Việt Nam đều phải đương đầu với sức cạnh tranh gay gắt, trong đó có hoạt động kinh tế đối ngoại Lĩnh vực kinh tế đối ngoại – một lĩnh vực hết sức đa dạng, thường xuyên biến động và là động lực thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam phát triển Trong thời đại hội nhập và sự bùng nổ công nghệ 4.0 như hiện nay đòi hỏi kinh tế đối ngoại cần có những giải pháp toàn diện kịp thời và hiệu quả theo phương châm
đa dạng hoá và đa phương hoá để có thể đưa Việt Nam tiến lên sánh vai với các cường quốc năm châu, phát triển nền kinh tế trở thành một nước công nghiệp hoá
- hiện đại hoá, đuổi kịp bước tiến của thế giới
Vì vậy, việc mở rộng nâng cao và hoạt động kinh tế đối ngoại là vấn đề mang tính cấp bách và cần thiết đối với nước ta trong giai đoạn hiện nay
Yêu cầu đặt ra cho chúng ta là phải phát triển kinh tế đối ngoại Muốn vậy, ta phải nhìn nhận kinh tế đối ngoại trên quan điểm toàn diện Quan điểm toàn diện
mà nguyên lý cơ sở của nó là nguyên lý về mối liên hệ phổ biến là một trong những nội dung quan trọng của phép biện chứng duy vật Mác Lê-nin, là cẩm nan giúp g chúng ta tránh được đánh giá phiến diện, sai lệch giản đơn về sự vật hiện tượng Nhằm có được những nhận thức đúng đắn hơn về chủ trương của Đảng và Nhà
nước trong phát triển kinh tế đối ngoại, nên em đã lựa chọn đề tài: “Vận dụng
nguyên tắc toàn diện của phép biện chứng duy vật trong hoạt động kinh tế đối ngoại”
2. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu sự vận dụng nguyên tắc toàn diện trong hoạt động kinh tế đối ngoại trong thời đại công nghiệp hoá hiện đại hoá như hiện
Trang 4nay
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Hiểu rõ cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của quan điểm toàn diện áp dụng vào hoạt động kinh tế đối ngoại
Đề ra phương hướng, giải pháp toàn diện để giúp phát triển hoạt động kinh
tế đối ngoại, đưa Việt Nam tiến tới trở thành một nước công nghiệp hoá- hiện đại hoá trong tương lai
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, đặc biệt là quan điểm toàn diện với cơ sở là nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của chủ nghĩa Mác – Lênin, từ đó áp dụng vào hoạt động kinh tế đối ngoại
5. Kết cấu
Đối với đề tài này em chia làm hai mục lớn: Đầu tiên là tìm hiểu về nguyên tắc toàn diện của phép biện chứng duy vật, ở mục này em trình bày khái niệm, nội dung của nguyên tắc toàn diện của phép biện chứng duy vật; Thứ hai, em tìm hiểu về khái niệm kinh tế đối ngoại hực trạng, tính tất yếu, ũng , t c như vận dụng nguyên tắc toàn diện của phép biện chứng duy vật vào phát triển kinh tế đối ngoại nước ta
Trang 5NỘI DUNG
1.1 Cơ sở lý luận của nguyên tắc toàn diện
Nguyên tắc toàn diện là một trong những quan điểm cơ bản thuộc về phương pháp luận của phép biện chứng duy vật Nguyên tắc toàn diện được xây dựng trên
cơ sở lý giải theo quan điểm duy vật biện chứng về tính khách quan, tính phổ biến
và tính đa dạng phong phú của các mối liên hệ và sự phát triển của tất thảy các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy Từ nghiên cứu quan điểm duy vật biện chứng về mối liên hệ phổ biến và sự phát triển rút ra phương pháp luận khoa học để nhận thức và cải tạo hiện thực Đó chính là quan điểm toàn diện
Trong hoạt động nhận thức và thực tiễn cần phải xem xét sự vật trên nhiều mặt, nhiều mối quan hệ của nó Thực hiện điều này sẽ giúp cho chúng ta tránh được hoặc hạn chế được sự phiến diện, siêu hình, máy móc, một chiều trong nhận thức cũng như trong việc giải quyết các tình huống thực tiễn, nhờ đó tạo ra khả năng nhận thức đúng được sự vật như nó vốn có trong thực tế và xử lý chính xác,
có hiệu quả đối vớicácvấn đề thực tiễn
Ví dụ, khi phân tích bất cứ một đối tượng nào, chúng ta cũng cần vận dụng lý thuyết hệ thống, tức là: xem xét nó được cấu thành nên từ những yếu tố, bộ phận nào với những mối quan hệ ràng buộc và tương tác nào, từ đó có thể phát hiện ra thuộc tính chung của hệ thống vốn không có ở mỗi yếu tố (thuộc tính “trời”); mặt khác, cũng cần phải xem xét sự vật ấy trong tính mở của nó, tức là xem xét nó trong mối quan hệ với các hệ thống khác, vớicácyếu tố tạo thành môi trường vận động, phát triển của nó
Từ việc nghiên cứu nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của sự vật hiện tượng, triết học Mác – Lênin rút ra quan điểm toàn diện trong nhận thức.Với tư cách là một nguyên tắc phương pháp luận trong việc nhận thức các sự vật hiện tượng, quan điểm toàn diện đòi hỏi để có được nhận thức đúng đắn về sự vật hiện tượng Một mặt chúng ta phải xem xét nó trong mối liên hệ qua lại giữa các bộ phận, các yếu tố,
Trang 6các thuộc tính khác nhau trong chỉnh thể của sự vật, hiện tượng đó; mặt khác chúng
ta phải xem xét trong mối liên hệ qua lại giữa các sự vật hiện tượng đó với các sự vật hiện tượng khác, tránh cách xem xét phiến diện, một chiều nguyên tắc toàn diện đòi hỏi phải xem xét đánh giá từng mặt, từng mối liên hệ, và phải nắm được đâu là mối liên hệ chủ yếu, bản chất quy định sự vận động, phát triển của sự vật hiện tượng; tránh chủ nghĩa triết chung, kết hợp vô nguyên tắc các mối liên hệ; tránh sai lầm, cầu thuật, ngụy biện, coi cái cơ bản thành cái không cơ bản, không bản chất thành bản chất hoặc ngược lại, dẫn đến sự sai lệch xuyên tạc bản chất của
sự vật hiện tượng.Trong nhận thức phương pháp toàn diện là yêu cầu tất yếu của phương pháp tiếp cận khoa học, cho phép tính đến mọi khả năng của sự vận động, phát triển có thể có của sự vật, hiện tượng đang nghiên cứu, nghĩa là xem xét sự vật hiện tượng trong một chỉnh thể thống nhất với tất cả các mặt, các bộ phận, các yếu tố, các thuộc tính cùng các mối liên hệ của chúng Đề cập đến nội dung này,
Lênin viết “Muốn thực sự hiểu được sự vật,cần phải nhìn bao quát và nghiên cứu
tất cả các mặt, các mối liên hệ và quan hệ gián tiếp của sự vật đó”.Hơn thế nữa quan điểm toàn diện đòi hỏi, để nhận thức được sự vật cần phải xem xét nó trong mối liên hệ với nhu cầu thực tiễn của con người Ứng với mỗi con người, mỗi thời đại và trong một hoàn cảnh lịch sử nhất định, con người bao giờ cũng chỉ phản ánh được một số lượng hữu hạn những mối liên hệ Bởi vậy nhận thức của con người
về sự vật cũng chỉ là tương đối, không tròn vẹn, đầy đủ Có ý thức được điều này chúng ta mới tránh được việc tuyệt đối hóa những tri thức đã có về sự vật và tránh xem đó là những chân lý bất biến, tuyệt đối không thể bổ sung, không thể phát triển Để nhận thức được sự vật cần phải nghiên cứu tất cả các mối liên hệ, xem xét tất cả mọi mặt để đề phòng cho chúng ta khỏi phạm sai lầm và sự cứng nhắc Quan điểm toàn diện đối lập với cách nhìn phiến diện, một chiều; đối lập với chủ nghĩa ch trung và iết thuật ngụy biện Không chỉ ở chỗ nó chú ý đến nhiều mặt, nhiều mối liên hệ Việc chú ý tới nhiều mặt, nhiều mối liên hệ vẫn có thể là phiến diện nếu chúng ta đánh giá ngang nhau những thuộc tính, những quy định khác nhau của sự vật được thể hiện trong những mối liên hệ khác nhau đó Quan điểm toàn
Trang 7diện chân thực đòi hỏi chúng ta phải đi từ tri thức về nhiều mặt, nhiều mối liên hệ của sự vật đến chỗ khái quát để rút ra cái bản chất chi phối sự tồn tại và phát triển của sự vật hay hiện tượng đó Có thể kết luận, quá trình hình thành quan điểm toàn diện đúng đắn với tư cách là nguyên tắc phương pháp luận Như vậy, quan điểm toàn diện cũng không đồng nhất với cách xem xét dàn trải, liệt kê những tính quy định khác nhau của sự vật hiện tượng, nó đòi hỏi phải làm nổi bật cái cơ bản, cái quan trọng nhất của sự vật hiện tượng đó Có thể kết luận, quá trình hình thành quan điểm toàn diện đúng đắn với nguyên tắc phương pháp luận để nhận thức sự vật sẽ trải qua các giai đoạn cơ bản là đi từ ý niệm ban đầu về cái toàn thể để nhận thức một mặt, một mối liên hệ nào đó của sự vật rồi đên nhận thức nhiều mặt, nhiều mối liên hệ của sự vật hiện tượng đó và cuối cùng khái quát những tri thức phong phú đó để rút ra tri thức về bản chất của sự vật Quan điểm toàn diện vừa khác chủ nghĩa chiết trung vừa khác thuật ngụy biện Chủ nghĩa chiết trung tuy cũng tỏ ra chú ý tới nhiều mặt khác nhau nhưng lại kết hợp một cách vô nguyên tắc những cái hế sức khác nhau tht ành một hình ảnh không đúng về sự vật Chủ nghĩa iết ch trung không biết rút ra mặt bản chất, mối liên hệ cơ bản nên rơi vào chỗ nào bằng các mặt, kết hợp một cách vô nguyên tắc các mối liên khác nhau, hệ do đó hoàn toàn bất lực khi phải có quyết sách đúng đắn Thuật ngụy biện cũng chỉ chú ý đến những mặt, những mối liên hệ khác nhau của sự vật nhưng lại đưa cái không cơ bản thành cái cơ bản, cái không bản chất thành cái bản chất Cả chủ nghĩa ch iết trung và thuật ngụy biện đều là những biểu hiện khác nhau của phương pháp luận sai lầm trong việc xem xét các sự vật, hiện tượng
1.3 Vai trò của nguyên tắc toàn diện
Nắm chắc quan điểm toàn diện xem xét sự vật, hiện tượng từ nhiều khía cạnh,
từ mối liên hệ của nó với sự vật, hiện tượng sẽ giúp con người có nhận thức sâu sắc, toàn diện về sự vật, hiện tượng đó, tránh được quan điểm phiến diện về sự vật và hiện tượng chúng ta nghiên cứu Từ đó, có thể quyết định về bản chất quy luật chung của chúng đề ra những biện pháp kế hoạch có phương pháp tác động phù hợp nhằm đem lại hiệu quả cao nhất cho hoạt động của bản thân Tuy nhiện trong
Trang 8nhận thức và hành động, chúng ta cần lưu ý tới sự chuyển hoá lẫn nhau giữa các mối liên hệ trong điều kiện xác định
2 Kinh tế đối ngoại và tính tất yếu của hoạt động kinh tế đối ngoại
Kinh tế đối ngoại của một quốc gia là một bộ phận của kinh tế quốc tế, là tổng thể các quan hệ kinh khoa tế, học, kỹ thuật, công nghệ của một quốc gia nhất định với quốc gia khác còn lại hoặc với tổ chức kinh tế quốc tế khác, được thực hiện dưới nhiều hình thức, hình thành và cơ sở phát triển của lực lượng sản xuất
và phân công lao động quốc tế
2.2.1 Vai trò của việc mở rộng phát triển hoạt động kinh tế đối ngoại
Kinh tế đối ngoại nối liền hoạt động sản xuất và trao đổi trong nước với hoạt động sản xuất và trao đổi quốc tế, nối liền thị trường trong nước với thị trường thế giới và khu vực
Kinh tế đối ngoại có vai trò thu hút các nguồn vốn như vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), vốn viện trợ phát triển (ODA); thu hút khoa học công nghệ; khai thác và ứng dụng kinh nghiệm xây dựng và quản lý nền kinh tế hiện đại ở nước ta
Kinh tế đối ngoại góp phần tích lũy vốn phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đưa nước ta từ một nước nông nghiệp lạc hậu trở thành một nước công nghiệp phát triển
Kinh t ế đối ngoại góp phần thúc đẩy s ự tăng trưởng kinh tế, tạo thêm công ăn việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp, tăng thu nhập, ổn định và cải thiện đời sống của nhân dân với mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh và hướng tới xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa
2.2.2.Lợi ích của vi c m r ng ho t ng kinh t ệ ở ộ ạ độ ế đối ngo i ạ
• Mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại mang lại lợi ích to lớn đối với sự phát triển kinh tế xã hội của nước ta -
Trang 9• Góp phần nối liền sản xuất và trao đổi trong nước và trao đổi quốc tế, thị trường trong nước với thị trường khu vực và thế giới, mở rộng thị trường ra bên ngoài, đồng thời góp phần phát triển thị trường trong nước
• Mở rộng kinh tế đối ngoại khai thác được nguồn lực bên ngoài để đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đó là nguồn vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản tiên lý tiến
• Tạo điều kiện khai thác và phát huy có hiệu quản lợi thế so sánh các nguồn lực trong nước, kết hợp nguồn lực trong nước với nguồn lực bên ngoài, mở rộng không gian và môi trường để phát triển kinh tế
• Góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo nhiều công ăn việc làm, giảm thất nghiệp, tăngthunhập, ổn định và nâng cao đời sống nhân dân
• Góp phần đưa nước ta sớm ra khỏi tình trạng kém phát triển, thực hiện dân giàu nước mạnh xã hội công bằng, dân chủ, văn minh …
2.3 Thực trạng hoạtđộng kinh tế đối ngoại Việt ở Nam hiện nay
2.3.1 Thành tựu hoạt động kinh tế đối ngoại nước ta đã đạt được
Trong 68 năm qua, đặc biệt là từ sau công cuộc đổi mới, mở cửa hội nhập, nhất là từ 1995, kinh tế đối ngoại của nước ta đã đạt được nhiều thành tựu, nhất là
từ năm 1993 đến nay
Kinh tế đối ngoại gồm nhiều lĩnh vực, như xuất, nhập khẩu, đầu tư nước ngoài, khách quốc tế đến Việt Nam, kiều hối,…
Trước Cách mạng tháng 8/1945, Việt Nam đã từng xuất khẩu than, gạo, cao su,…, nhưng đây chủ yếu là hoạt động kinh tế nhằm vơ vét tài nguyên và bóc lột sức lao độngcủa thực dân, phong kiến
Giai đoạn trước năm 1991, xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu sang Liên Xô
và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu- một phần lớn là đổi lấy nguyên nhiên vật liệu, lương thực, hàng tiêu dùng; xuất khẩu sang các nước khác rất hạn hẹp, do bị bao vây cấm vận và năng lực sản xuất hàng xuất khẩu hạn chế
Với đường lối đổi mới, mở cửa hội nhập, chính sách đa dạng hoá, đa phương hoá, từ năm 1995 đến nay, xuất khẩu của nước ta đạt được nhiều sự vượt trội với
Trang 10kim ngạch xuất khẩutăng vàđạt quy mô khá ngày một lớn
Xuất khẩu bình quân đầu người tăng lên và hiện đạt quy mô cao gấp nhiều lần so với năm 1985, nếu năm 1985 mới đạt 11,7 USD, năm 1990 đạt 36,4 tỷ USD, năm 2000 đạt 186,6 USD, năm 2005 đạt 393,8 USD, năm 2010 đạt 830,5 USD, thì năm 2012 đạt 1291 USD và dự báo năm 2013 đạt 1450 USD (ước năm 2013 cao gấp gần 124 lần năm 1985, bình quân 1 năm tăng 18,8% một tốc độ tăng rất- cao so với các ngành, lĩnh vực khác)
Tỷ lệ xuất khẩu so với GDP tăng khá nhanh: năm 1985 mới đạt 5%, năm
1995 đạt 26,2%, năm 2000 đạt 46,4%, năm 2005 đạt 61,1%, năm 2007 đạt 64,7%, năm 2012 đạt 73,8% Khả năng năm 2013 có thể đạt trên 75%, cao hơn tỷ lệ của Đông Nam Á, cao gấp ba lần tỷ lệ của châu Á và thế giới, đứng thứ 5 trên thế giới Tốc độ tăng xuất khẩu khá cao, từ năm 1993 đến năm 2010 gần như liên tục đạt 2 chữ số (chỉ bị giảm vào năm 2009 hoặc tăng thấp vào năm 1998, năm 2001- là những năm mà Việt Nam bị tác động bởi các cuộc khủng hoảng trên thế giới, ở khu vực
và cuộc khủng hoảng chu kỳ ở Mỹ )
Kim ngạch xuất khẩu ước năm 2013 cao gấp 186,1 lần năm 1985, gấp trên 4 lần năm 2005,… Tốc độ tăng xuất khẩu cao gấp nhiều lần tốc độ tăng GDP, nên xuất khẩu đã trở thành lối ra, thành động lực của tăng trưởng kinh tế Nhiều mặt hàng xuất khẩu có khối lượng lớn, kim ngạch đứng thứ hạng cao trên thế giới như gạo, cà phê, hạt tiêu, hạt điều, thủy sản, dệt may, giày dép, gỗ và sản phẩm gỗ, và gần đây có một số mặt hàng có trình độ kỹ thuật công nghệ cao, như điện thoại di- động, máy vi tính, sản phẩm điện tử, máyảnh
Thị trường xuất khẩu được mở rộng ra gần 200 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới, trong đó đứng đầu là Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Đức, Malaysia, Australia, Singapore, Anh,… Xuất khẩu dịch vụ đã tăng khá, từ 4,3 tỷ USD năm 2005 lên 7,5 USD tỷ năm 2010, lên 9,6 tỷ USD năm 2012
Đầu tư nước ngoài vào Việt Nam bao gồm: đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), đầu tư gián tiếp (FII) thời gian qua
đã đạt nhiều kết quả tích cực