1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến và vận dụng phân tích mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường sinh tha

22 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến và vận dụng phân tích mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường sinh thái
Tác giả Lê Ngọc Hân
Người hướng dẫn ThS. Nguyễn Tùng Lâm
Trường học Trường Đại Học Ngoại Thương
Chuyên ngành Triết học
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 320,92 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ~~~~*~~~~ TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC Phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến và vận dụng phân tích mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế với bảo

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

~~~~*~~~~

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC

Phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến và vận dụng phân tích mối liên hệ

giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường sinh thái

Sinh viên thực hiện

Hà Nội, tháng 5 năm 2022

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 2

PHẦN NỘI DUNG 4

I Phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến 4

1 Sự ra đời của phép biện chứng 4

2 Nguyên lí về mối liên hệ phổ biến 5

II Mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường sinh thái ở Việt Nam 9

1 Các khái niệm 9

2 Mối liên hệ biện chứng giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường sinh thái 11

3 Kinh tế và môi trường sinh thái Việt Nam 12

4 Hậu quả của ô nhiễm môi trường 16

5 Giải pháp giải quyết vấn đề 17

III Lời kết 20

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Cuộc sống của con người ngày nay là kết quả của hàng ngàn những mối liên

hệ - mối liên hệ giữa tự nhiên với tự nhiên, mối liên hệ giữa tự nhiên với xã hội,mối liên hệ giữa xã hội với xã hội… Trong đó, môi trường đóng một vai trò quantrọng đối với sự tồn tại, vận động phát triển của thế giới nói chung và đặc biệt làđối với con người nói riêng Mọi hoạt động sống của con người từ vi mô tới vĩ

mô đều có sự liên quan mật thiết tới môi trường tự nhiên Chính vì vậy, conngười và thiên nhiên đang có mối quan hệ phụ thuộc qua lại lẫn nhau ngày càngchặt chẽ, đặc biệt trên lĩnh vực kinh tế khi mà nhu cầu tăng trưởng kinh tế trởthành sự ưu tiên hàng đầu của mỗi quốc gia

Tuy nhiên, đi liền với những thành tựu lớn lao của tăng trưởng kinh tế lại làmột vấn đề vẫn chưa thể có lời giải đáp – vấn đề bào vệ môi trường sinh thái Sựtăng trưởng kinh tế ngày càng nhanh, một mặt nó nâng cao đời sống của ngườidân nhưng mặt khác nó đang gây một sức ép nặng nề lên môi trường sinh thái.Nói cách khác, để có được những kết quả tốt về kinh tế trong ngắn hạn, chúng ta

đã phải trả giá bằng sự mất đi tính bền vững của nguồn tài nguyên thiên nhiêntrong dài hạn.Vì vậy, đã đến lúc cần có nhận thức đúng đằn về tầm quan trọngcủa chính sách phát triển kinh tế bền vững, song hành với bảo vệ môi trườngsinh thái

Nhằm tìm hiểu sâu hơn về vấn đề này đồng thời kêu gọi sự chung tay giúpsức của cộng đồng vào việc bảo vệ môi trường sinh thái trong quá trình tăng

trưởng kinh tế, em đã chọn đề tài tiểu luận: “Phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến và vận dụng phân tích mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế với bảo

vệ môi trường sinh thái”.

Trang 4

2 Mục đích nghiên cứu

Môi trường và kinh tế là hai phạm trù khác nhau nhưng giữa chúng lại có mốiliên hệ khăng khít Thông qua việc nghiên cứu đề tài này, em muốn có thể hiểuđược về phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến cũng như vận dụng phép biệnchứng về mối liên hệ phổ biến vào phân tích mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tếvới bảo vệ môi trường sinh thái, đặc biệt đi sâu vào môi trường sinh thái của ViệtNam Từ đó, đưa ra giải pháp phát triển kinh tế đất nước ta với việc bào vệ môitrường theo hướng lâu dài, ổn định, bền vững Đồng thời, khi nghiên cứu vàhoàn thành tiểu luận, em cũng gia tăng tri thức và sự hiểu biết của mình về cácvấn đề cấp thiết chung của thế giới cũng như của chính đất nước mình

Trang 5

PHẦN NỘI DUNG

I Phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến

1 Sự ra đời của phép biện chứng

Triết học ra đời từ thời cổ đại đánh dấu sự ra đời của phép biện chứng Trảiqua hàng ngàn năm tồn tại và phát triển từ thời cổ đại phương Đông và phươngTây, có phồn vinh có suy vong với ba hình thức cơ bản (cũng là thể hiện ba trình

độ phát triển của phép biện chứng trong lịch sử triết học) Cho rằng vạn vật trongthế giới đều có quá trình hình thành và tiêu vong, đều không ngừng vận động,biến hoá và liên hệ chằng chịt nhau Đây là phép biện chứng mang tính sơ khai,mộc mạc vì khoa học thời đó chưa phát triển Khi phác họa bức tranh chung vềthế giới, các nhà triết học chỉ dựa trên những quan sát có tính trực quan, cảmtính, nhưng về cơ bản là đúng Heraclit coi sự vận động và phát triển của thế giới

giống như dòng chảy của một con sông “Không bao giờ người ta tắm được hai lần trên cùng một dòng sông” Platon cho rằng nghệ thuật kích thích linh hồn suy tư chính là nghệ thuật biện chứng Phật giáo, Lão giáo cho rằng vạn vật luôn trong quá trình vận động và biến đổi không ngừng.

Trong khoảng nửa sau thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19 đây là thời kỳ tổng kết cáclịch sử triết học nhân loại và hình thành hệ thống lớn đó là phương pháp biệnchứng duy tâm mà đại diện là Hégel (người có công lớn trong việc xây dựngphép biện chứng thành một học thuyết triết học có tính hệ thống, làm tiền đề củaphương pháp biện chứng duy vật sau này)

Dựa trên những thành tựu khoa học của thế kỷ 19, khắc phục những hạn chếcủa phép biện chứng duy vật cổ đại và phép biện chứng duy tâm, Marx vàEngels đã sáng lập ra phép biện chứng duy vật khoa học vào giữa thế kỷ 19 vàđược V.I.Lenin tiếp tục phát triển Đây là sự thống nhất giữa phép biện chứng và

Trang 6

chủ nghĩa duy vật làm cho phép biện chứng thực sự trở thành một khoa học.Phép biện chứng duy vật có nội dung phong phú bởi vì đối tượng của nó là thếgiới vật chất vô cùng vô tận, trong đó nguyên lý về mối liên hệ phổ biến vànguyên lý về sự phát triển là có ý nghĩa khái quát nhất Với ý nghĩa đó, F.Engels

đã định nghĩa: “Phép biện chứng là khoa học về những quy luật phổ biến của

sự vận động và phát triển của tự nhiên, xã hội và của tư duy” Phép biện

chứng duy vật được tạo thành từ một loạt những phạm trù, những nguyên lý,những quy luật được khái quát từ hiện thực Cho nên nó phản ánh đúng sự liên

hệ, sự vận động và sự phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy Nhờ vậy nó đãkhắc phục được những hạn chế vốn có của phép biện chứng tự phát cổ đại chorằng thế giới là một chỉnh thể thống nhất, giữa các bộ phận của nó có mối liên hệqua lại, thâm nhập vào nhau, tác động và chịu ảnh hưởng lẫn nhau, thế giới vàcác bộ phận cấu thành thế giới ấy không ngừng vận động và phát triển Hơn nữaphép biện chứng duy vật còn sửa được sai lầm của phép biện chứng duy tâmkhách quan thời cổ đại mà đại biểu là Hégel Phép biện chứng duy vật đã chứngminh rằng: những ý niệm trong đầu óc của chúng ta chẳng qua là sự phản ánhcủa các sự vật hiện thực khách quan, do đó bản thân biện chứng của ý niệm chỉđơn thuần là sự phản ánh có ý thức của sự vận động biện chứng của thế giới hiệnthực khách quan Như vậy phép biện chứng duy vật đã khái quát một cách đúngđắn những quy luật vận động và sự phát triển

2 Nguyên lí về mối liên hệ phổ biến

2.1 Nội dung nguyên lí về mối liên hệ phổ biến

Phép biện chứng duy vật có vai trò làm sáng tỏ những quy luật của sự liên hệ

và phát triển của tự nhiên, xã hội loài người và của tư duy Vì vậy ở bất kỳ cấp

Trang 7

độ phát triển nào của phép biện chứng duy vật, nguyên lý về mối liên hệ phổbiến vẫn được xem là một trong những nguyên lí có ý nghĩa khái quát nhất.

Trong phép biện chứng, khái niệm mối liên hệ là phạm trù triết học dùng để

chỉ sự qui định, tác động qua lại và chuyển hóa lẫn nhau giữa các yếu tố hay cácmặt trong cùng sự vật hiện tượng hay giữa các sự vật hiện tượng với nhau trongthế giới khách quan

Ở đây chúng ta hiểu khái niệm này thông qua các điểm giải thích như sau:

Thứ nhất, liên hệ là một phạm trù triết học Như vậy, chúng ta phải hiểu liên

hệ một cách khái quát nhất, một cách chung nhất, bao gồm tất cả mối liên hệ tồntại trong cả tự nhiên, xã hội và trong tư duy

Thứ hai, liên hệ dùng để chỉ sự tác động qua lại lẫn nhau, ràng buộc, quy

định với nhau giữa các mặt trong cùng một sự vật hiện tượng Một sự vật hiệntượng luôn bao gồm các mặt, các bộ phận, chúng vừa khác nhau, độc lập vớinhau, lại vừa thống nhất với nhau, ràng buộc, quy định nhau để cùng tạo nên mộtchỉnh thể sự vật, hiện tượng

Thứ ba, liên hệ còn dùng để chỉ sự tác động qua lại lẫn nhau, ràng buộc, quy

định với nhau giữa các sự vật, hiện tượng với nhau Một chỉnh thể sự vật hiệntượng không thể tồn tại một mình trong thế giới này mà không có những mốiliên hệ nào với tự nhiên, với những chỉnh thể khác

Như vậy, ta có thể hiểu được phần nào nội dung cơ bản của nguyên lí mốiliên hệ phổ biến: Giữa các mặt trong một sự vật hiện tượng và giữa các sự vậthiện tượng với nhau luôn tồn tại mối liên hệ độc lập mà thống nhất – đó là mối

liên hệ phổ biến.

Trang 8

Theo quan điểm này, các sự vật, các hiện tượng trên thế giới dù có đa dạng,

có khác nhau như thế nào đi chăng nữa thì chúng cũng chỉ là những dạng tồn tạikhác nhau của một thế giới duy nhất là thế giới vật chất Các mối liên hệ diễn ratrong mỗi sự vật, giữa các sự vật với nhau, trong toàn bộ vũ trụ, trong mọi khônggian và thời gian Quan điểm duy vật biện chứng không chỉ khẳng định tínhkhách quan, tính phổ biến của sự liên hệ giữa các sự vật, các hiện tượng, các quátrình mà nó còn nêu rõ tính đa dạng của sự liên hệ qua lại đó Tính đa dạng của

sự liên hệ do tính đa dạng trong sự tồn tại, sự vận động và phát triển của chínhcác sự vật và hiện tượng quy định

Có mối liên hệ bên trong là mối liên hệ qua lại, là sự tác động lẫn nhau giữacác bộ phận, giữa các yếu tố, các thuộc tính, các mặt khác nhau của một sự vật,

nó giữ vai trò quyết định đối với sự tồn tại, vận động và phát triển của sự vật Cómối liên hệ bên ngoài là mối liên hệ giữa các sự vật, các hiện tượng khác nhau,nói chung nó không có nghĩa quyết định, hơn nữa nó thường phải thông qua cácmối liên hệ bên trong mà phát huy Tuy nhiên mối liên hệ bên ngoài cũng hết sứcquan trọng, đôi khi còn giữ vai trò quyết định Ngoài ra còn có mối liên hệ chủyếu, có mối liên hệ thứ yếu, có mối liên hệ chung bao quát toàn bộ thế giới, cómối liên hệ bao quát một số lĩnh vực hoặc một số lĩnh vực riêng biệt của thế giới

Có mối liên hệ trực tiếp, có mối liên hệ gián tiếp mà trong đó sự tác động qua lạiđược thực hiện thông qua một hay một số khâu trung gian Có mối liên hệ bảnchất và mối liên hệ không bản chất, có mối liên hệ tất yếu và mối liên hệ ngẫunhiên Có mối liên hệ giữa các sự sự vật khác nhau, có mối liên hệ khác nhau củacùng một sự vật Sự vật, hiện tượng nào cũng vận động và phát triển qua nhiềugiai đoạn khác nhau, giữa các giai đoạn đó cũng có mối liên hệ với nhau tạothành lịch sử phát triển hiện thực của các sự vật và các quá trình tương ứng.Quan điểm duy vật biện chứng về sự liên hệ đòi hỏi phải thừa nhận tính tương

Trang 9

đối trong sự phân loại đó Các loại liên hệ khác nhau có thể chuyển hoá chonhau Sự chuyển hoá đó có thể diễn ra hoặc do thay đổi phạm vi bao quát khixem xét hoặc do kết quả vận động khách quan của chính sự vật hiện tượng ấy.

2.2 Ý nghĩa phương pháp luận về mối liên hệ phổ biến

Nghiên cứu nguyên lí về mối liên hệ phổ biến có thể rút ra ý nghĩa vềphương pháp luận sau:

Về quan điểm toàn diện: Ta thấy rằng mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới

đều tồn tại trong mối liên hệ khách quan, phổ biến, do đó trong hoạt động nhậnthức và thực tiễn, chúng ta cần phải có quan điểm toàn diện Quan điểm toàndiện đòi hỏi chúng ta phải xem xét đầy đủ các mối liên hệ qua lại giữa các yếu

tố, các mặt của chính sự vật và trong sự tác động qua lại giữa sự vật đó với các

sự vật khác; bao gồm các mối liên hệ trực tiếp và cả mối liên hệ gián tiếp Chỉtrên cơ sở đó mới có thể nhận thức đúng về sự vật hiện tượng và có cách xử lýhiệu quả các vấn đề của đời sống thực tiễn V.I Lênin viết: “Muốn thực sự hiểuđược sự vật, cần phải nhìn bao quát và nghiên cứu tất cả các mặt, tất cả các mốiliên hệ và “quan hệ gián tiếp” của sự vật đó” Trong hoạt động thực tế, theo quanđiểm toàn diện, khi tác động vào sự vật, chúng ta không những phải cú ý tớinhững mối liên hệ nội tại của nó mà còn phải chú ý tới những mối liên hê của sựvật ấy với sự vật khác Đồng thời, chúng ta phải biết sử sụng đồng bộ các biệnpháp, các phương tiện khác nhau để tác động nhằm đem lại hiệu quả cao nhất

Về quan điểm lịch sử - cụ thể: Vì các mối liên hệ có tính đa dạng, phong phú,

sự vật hiện tượng khác nhau ở những không gian thời gian khác nhau có các mốiliên hệ biểu hiện khác nhau nên con người cũng phải tôn trọng quan điểm lịch sử

- cụ thể Quan điểm lịch sử cụ thể yêu cầu chúng ta phải nhận thức đầy đủ các

Trang 10

mối liên hệ của sự vật, nắm được bản chất bên trong, trực tiếp, đồng thời phảinhận thức được không gian, thời gian, điều kiện cụ thể của sự vật tồn tại và xuấthiện các mối liên hệ, trên cơ sở đó mới nắm bắt được xu hướng biến đổi của sựvật Phải xác định rõ vị trí, vai trò khác nhau của mỗi mối liên hệ cụ thể trongnhững tình huống cụ thể đề từ đó có được những giải pháp đúng đắn và có hiệuquả trong việc xử lý các vấn đề thực tiễn Như vậy, trong nhận thức và thực tiễnkhông nhưng cần phải tránh và khắc phục quan điểm phiến diện, siêu hình màcòn phải tránh và khắc phục quan điểm chiết trung, ngụy biện.

II Mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường sinh thái ở Việt Nam

1 Các khái niệm

1.1 Tăng trưởng kinh tế

Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặctổng sản lượng quốc gia (GNP) hoặc quy mô sản lượng quốc gia tính bình quântrên đầu người (PCI) trong một thời gian nhất định

Tăng trưởng kinh tế còn được định nghĩa là sự gia tăng mức sản xuất mà nềnkinh tế tạo ra theo thời gian Nó thể hiện sự thay đổi về số lượng, chất lượng, quy

mô của một nền kinh tế theo chiều hướng đi lên

Tăng trưởng kinh tế dài hạn là điều kiện tiên quyết tạo nên những tiến bộ vềkinh tế - xã hội, nhất là ở các nước đang phát triển, nhằm cải thiện và phát triểnđời sống của con người Chính vì vậy, tăng trưởng kinh tế đang được xem lànhiệm vủ cấp thiết quan trong ở hầu hết các quốc gia

Trang 11

Thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng, kể từnăm 1986, Việt Nam bước vào công cuộc đổi mới toàn diện trên mọi lĩnh vựcđời sống xã hội Trong lĩnh vực kinh tế, Việt Nam chuyển từ nền kinh tế tậptrung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế hàng hóa thị trường nhiều thành phần,vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lí của Nhà nước Để đất nước có thểhội nhập với thế giới, Chính phủ nước ta đã và đang đẩy mạnh các chính sáchnhư khuyến khích đầu tư trong nước và nước ngoài, đầu tư phát triển khoa họccông nghệ, chính sách thương mại tự do… từ đó thu được những thành quảkhông nhỏ cho công cuộc phát triển kinh tế nước nhà.

1.2 Môi trường sinh thái

Môi trường sinh thái là một mạng lưới chỉnh thể có mối liên quan chặt chẽvới nhau giữa đất, nước, không khí và các cơ thể sống trong phạm vi toàn cầu

Sự tương tác hòa đồng giữa các hệ thống của thiên nhiên tạo ra môi trường tươngđối ổn định Đối với con người, môi trường sinh thái là toàn bộ các điều kiện tựnhiên và xã hội, cả vô cơ và hữu cơ, có mối liên hệ tới sự sống của con người, sựtồn tại và phát triển của xã hội

Môi trường cung cấp cho con người không gian để sống, nguồn tài nguyên

để sàn xuất và cùng chính là nơi chứa đựng rác thải Vì vậy, bảo vệ môi trườngcũng chính là bảo vệ sự sống của chúng ta Bảo vệ môi trường sinh thái là giữcho moi trường luôn trong lành, sạch đẹp, đảm bảo cân bằng sinh thái, cải thiệnmôi trường, đồng thời ngằn chặn, khắc phục hậu quả xấu do con người và thiênnhiên tạo ra, khai thác và sử dụng hợp lí nguồn tài nguyên Đây chính là nhiệm

vụ trọng yếu, cấp bách của mỗi quốc gia, là sự nghiệp của toàn dân, là trách

Trang 12

nhiệm của bất kì tổ chức cá nhân nào Có bảo vệ tốt môi trường sinh thái thìcuộc sống của chúng ta mới phát triển tốt đẹp, bền vững và lâu dài.

2 Mối liên hệ biện chứng giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường sinh thái

Phát triển kinh tế xã hội là quá trình nâng cao điều kiện sống về vật chất

và tinh thần của con người qua việc sản xuất ra của cải vật chất, cải tiến quan hệ

xã hội, nâng cao chất lượng văn hóa Phát triển là xu thế chung của từng cá nhân

và cả loài người trong quá trình sống Giữa môi trường và sự phát triển luôn cómối quan hệ hết sức chặt chẽ,tác động qua lại lẫn nhau, đó chính là mối liên hệbiện chứng bao gồm hai mặt thống nhất và mâu thuẫn

Môi trường là địa bàn và đối tượng của sự phát triển, còn phát triển lànguyên nhân tạo nên các biến đổi trong môi trường Trong nền kinh tế xã hội,hàng hóa được di chuyển từ nơi sản xuất, lưu thông, phân phối và tiêu dùng cùngvới dòng luân chuyển cùa nguyên liệu, năng lượng, sản phẩm và phế thải Cácthành phần đó luôn ở trạng thái tương tác với các thành phần tự nhiên và xã hộicủa hệ thống môi trường đang tồn tại trong địa bàn đó Khu vực giao nhau giữahai hệ thống trên là môi trường nhân tạo

Tác động của hoạt động phát triển đến môi trường thể hiện ở khía cạnh có lợi

là cải tạo môi trường tự nhiên hay tạo ra kinh phí cần thiết cho sự cải tạo đó, từ

đó nâng cao ý thức của con người về việc bảo vệ môi trường sinh thái, nhưng cóthể gây ra ô nhiễm môi trường tự nhiên hoặc nhân tạo từ nhựng rác thải sinhhoạt, rác thải công nghiệp, làm cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên Mặt khác, môitrường tự nhiên đồng thời cũng tác động đến sự phát triển kinh tế xã hội thôngqua việc cung cấp nguyên nhiên liệu cho quá trình sản xuất, nhưng cũng có thể

Trang 11

Ngày đăng: 05/06/2022, 16:19

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w