1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC LỊCH SỬ CỤ THỂ CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT TRONG HOẠT ĐỘNG KINH TẾ đối NGOẠI

14 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 576,25 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

9 4 VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC LỊCH SỬ CỤ THỂ CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT VÀO HOẠT ĐỘNG KINH TẾ ĐỐI NGOẠI .... 9 4.1 Cơ sở thực tiễn của việc vận dụng nguyên tắc lịch sử cụ thể của phép biện ch

Trang 1

1 | P a g e

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ -

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC LỊCH SỬ - CỤ THỂ CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT TRONG HOẠT ĐỘNG KINH TẾ ĐỐI NGOẠI

Họ và tên : Nguyễn Thị Sim

Ngày sinh : 17/01/2003

Mã sinh viên 2114610027 Giáo viên hướng dẫn: Nguyễn Thị Tùng Lâm

Trang 2

2 | P a g e

MỤC LỤC

1 LỜI MỞ ĐẦU 3

2 LÝ LUẬN VỀ QUAN ĐIỂM LỊCH SỬ - CỤ THỂ TRONG TRIẾT HỌC MÁC –LÊNIN 4

2.1 Biện chứng và phép biện chứng 4

2.2 Phép biện chứng duy vật 4

2.3 Quan điểm lịch sử cụ thể trong phép biện chứng duy vật của triết học 5

3 HOẠT ĐỘNG KINH TẾ ĐỐI NGOẠI 8

3.1 Tổng quan về hoạt động kinh tế đối ngoại 8

3.2 Vai trò của hoạt động kinh tế đối ngoại 8

3.3 Sự cần thiết của hoạt động kinh tế đối ngoại 9

4 VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC LỊCH SỬ CỤ THỂ CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT VÀO HOẠT ĐỘNG KINH TẾ ĐỐI NGOẠI 9

4.1 Cơ sở thực tiễn của việc vận dụng nguyên tắc lịch sử cụ thể của phép biện chứng duy vật vào hoạt động kinh tế đối ngoại 9

4.2 Áp dụng nguyên tắc lịch sử cụ thể của phép biện chứng duy vật trong việc giải quyết những vấn đề mà COVID-19 đã ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế đối ngoại của Việt Nam 10

4.2.1 Thực trạng ảnh hưởng của covid-19 đến hoạt động kinh tế đối ngoại của Việt Nam 10

4.2.2 Phương thức giải quyết với những ảnh hưởng mà đại dịch COVID- 19 đến hoạt động kinh tế đối ngoại 12

5 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 14

Trang 3

3 | P a g e

1 LỜI MỞ ĐẦU

Phép biện chứng duy vật của triết học Mác - Lênin là sự phản ánh những mặt, những thuộc tính, những mối liên hệ phổ biến nhất của hiện thực khách quan Vì vậy, chúng có giá trị định hướng quan trọng cho con người trong nhận thức và hoạt động thực tiễn của mình Giá trị định hướng này, về nguyên tắc, không khác với giá trị định hướng của các nguyên lý và quy luật chung do một bộ môn khoa học chuyên ngành nào đó nêu lên về một lĩnh vực nhất định nào đó của hiện thực, chẳng hạn, không khác với giá trị định hướng của định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng, của định luật vạn vật hấp dẫn, v.v Cái khác là ở chỗ các nguyên

lý và quy luật của phép biện chứng duy vật là sự phản ánh những mặt, những thuộc tính, những mối liên hệ phổ biến nhất của cả tự nhiên, xã hội và tư duy cho nên chúng có tác dụng định hướng không phải chỉ trong một phạm vi nhất định nào đấy như đối với các nguyên lý và quy luật do các khoa học chuyên ngành nêu lên, mà trong tất cả mọi trường hợp Nguyên tắc quan điểm lịch sử cụ thể là một trong những nguyên tắc phương pháp luận cơ bản, quan trọng trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn Theo quan điểm cá nhân của bản thân, em thấy rằng việc vận dụng nguyên tắc này trong hoạt động kinh tế đối ngoại là điều vô cùng cần thiết Bởi lẽ, hoạt động này có ý nghĩa hết sức quan trọng, thậm chí là quyết định đối với sự tăng trưởng kinh tế của cả một quốc gia hay một khu vực Lợi ích kinh tế xã hội mà kinh tế đối ngoại đem lại cho nền kinh tế quốc dân và đời sống xã hội được thể hiện ở mức độ đóng góp vào việc thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội như phát triển sản xuất, đổi mới cơ cấu kinh tế, tăng năng suất lao động, tích lũy ngoại tệ, tăng nguồn thu ngân sách nhà nước giải quyết việc làm, cải thiện đời sống nhân dân Trong thời đại nền kinh tế mở và cạnh tranh như hiện nay, mỗi quốc gia phải nghiên cứu tìm ra hướng đi đúng đắn cho nền kinh tế, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh đất nước, phù hợp với khu vực thế giới và thời đại Điều đó cũng có nghĩa là phải phân tích các yếu tố kinh tế trong tổng thể các mối quan hệ, trong sự vận động, phát triển không ngừng Vậy nên, với mong muốn đạt được những mục đích nêu trên và làm sáng tỏ quan điểm cá nhân của bản thân

em đã chọn đề tài “vận dụng nguyên tắc lịch sử cụ thể của phép biện chứng duy vật trong hoạt động kinh tế đối ngoại” cho bài tiểu luận lần này Bài tiểu luận gồm hai phần lớn là lý luận về quan điểm lịch sử cụ thể và vận dụng quan điểm lịch sử

cụ thể trong hoạt động kinh tế đối ngoại Em rất mong sẽ nhận được sự góp ý và sửa chữa của cô giáo trong bài tiểu luận do bản thân em cũng còn có những thiếu xót về kiến thức và kĩ năng

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 4

4 | P a g e

2 LÝ LUẬN VỀ QUAN ĐIỂM LỊCH SỬ - CỤ THỂ TRONG TRIẾT HỌC MÁC –LÊNIN

2.1 Biện chứng và phép biện chứng

2.1.1 Biện chứng

• Khái niệm biện chứng dùng để chỉ những mối liên hệ và sự phát triển của các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy Trong biện chứng bao gồm 2 loại: biện chứng khách quan và biện chứng chủ quan

 Biện chứng khách quan: chỉ biện chứng của các tồn tại vật chất

 Biện chứng chủ quan: chỉ biện chứng của ý thức

2.1.2 Phép biện chứng

• Phép biện chứng là học thuyết nghiên cứu, khái quát biện chứng của thế giới thành hệ thống các nguyên lý, quy luật khoa học nhằm xây dựng hệ thống các nguyên tắc phương pháp luận của nhận thức và thực tiễn

• Các hình thức cơ bản của phép biện chứng: Phép biện chứng đã phát triển qua ba hình thức, ba trình độ cơ bản:

✓ Phép biện chứng chất phác thời cổ đại: là hình thức đầu tiên của phép biện chứng trong lịch sử triết học, nội dung cơ bản trong nhiều hệ thống triết học của Trung Quốc, Ấn Độ và Hy Lạp cổ đại Phép biện chứng này có đặc điểm là nhận thức đúng về tính biện chứng của thế giới nhưng không phải dựa trên thành tựu của khoa học mà bằng trực kiến thiên tài, bằng trực quan chất phác, là kết quả của sự quan sát trực tiếp Do đó, nó chưa đạt tới trình độ phân tích giới tự nhiên, chưa chứng minh được mối liên hệ phổ biến nội tại của giới tự nhiên

✓ Phép biện chứng duy tâm cổ điển Đức: được khởi đầu từ Cantơ và hoàn thiện ở hệ thống triết học của G.Hêghen, thể hiện biện chứng của ý niệm (tinh thần) là bản gốc sinh ra biện chứng của thế giới vật chất

✓ Phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác – Lênin

2.2 Phép biện chứng duy vật

2.2.1 Bản chất của phép biện chứng duy vật

Phép biện chứng duy vật là sự thống nhất giữa lý luận và phương pháp Hệ thống các quy luật, phạm trù của nó không chỉ phản ánh đúng đắn thế giới khách quan mà còn chỉ ra những cách thức để định hướng cho con người trong nhận thức về thế giới và cải tạo thế giới

2.2.2 Nội dung và đặc trưng của phép biện chứng duy vật

• Nội dung: biện chứng của thế giới vật chất có trước sinh ra biện chứng của thế giới tinh thần

Trang 5

5 | P a g e

• Đặc trưng: Phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác – Lênin có hai đặc trưng cơ bản sau đây

✓ Thứ nhất, phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác- Lênin

là phép biện chứng được hình thành dựa trên nền tảng của thế giới quan duy vật khoa học Đây là điểm khác biệt về trình độ phát triển so với các tư tưởng biện chứng đã có trong lịch sử triết học

✓ Thứ hai, trong phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác- Lênin có sự thống nhất giữa nội dung thế giới quan và phương pháp luận nên nó không dừng lại ở sự giải thích thế giới mà còn được dùng làm công cụ để nhận thức và cải tạo thế giới

2.2.3 Ý nghĩa phương pháp luận của phép biện chứng duy vật

• Nguyên tắc toàn diện trong nhận thức và thực tiễn của: Nguyên tắc toàn diện đòi hỏi chúng ta phải xem xét sự vật, hiện tượng với tất cả các mặt, các mối liên hệ; đồng thời phải đánh giá đúng vai trò, vị trí của từng mặt, từng mối liên hệ; nắm được mối liên hệ chủ yếu có vai trò quyết định

• Nguyên tắc lịch sử-cụ thể trong nhận thức và thực tiễn: Nguyên tắc lịch sử-cụ thể đòi hỏi phải xem xét sự vật hiện tượng trong quá trình vận động phát triển: nó ra đời trong điều kiện như thế nào? trải qua những giai đoạn phát triển như thế nào? mỗi giai đoạn có tính tất yếu và đặc điểm như thế nào?

• Nguyên tắc phát triển trong nhận thức và thực tiễn: Nguyên tắc phát triển đòi hỏi khi xem xét sự vật, hiện tượng phải nhìn thấy khuynh hướng biến đổi trong tương lai của chúng: cái cũ, cái lạc hậu sẽ mất đi; cái mới, cái tiến bộ sẻ ra đời thay thế cái cũ, cái lạc hậu

2.3 Quan điểm lịch sử cụ thể trong phép biện chứng duy vật của triết học

2.3.1 Nội dung của quan điểm lịch sử cụ thể

– Cơ sở khách quan của quan điểm lịch sử cụ thể:

✓ Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển là

cơ sở hình thành quan điểm lịch sử cụ thể Mọi sự vật, hiện tượng trên thế giới đều tồn tại, vận động và phát triển trong những điều kiện không gian và thời gian nhất định

✓ Điều kiện không gian và thời gian có ảnh hưởng trực tiếp tới tính chất, đặc điểm của sự vật Cùng một sự vật nhưng nếu tồn tại trong những điều kiện về không gian và thời gian khác nhau thì sẽ khiến

Trang 6

6 | P a g e

tính chất, đặc điểm của nó khác nhau, thậm trí có thể làm thay đổi hoàn toàn tính chất của sự vật đó

2.3.2 Yêu cầu của quan điểm lịch sử cụ thể

- Thứ nhất: Nguyên tắc lịch sử-cụ thể yêu cầu phải nghiên cứu sự vật, hiện tượngtrong sự vận động và phát triển trong từng giai đoạn cụ thể của nó; biết phân tích mỗi tình hình cụ thể trong hoạt động nhận thức

và hoạt động thực tiễn là yếu tố quan trọng nhất trong các yếu tố của nội dung nguyên tắc lịch sử-cụ thể Nguyên tắc lịch sử-cụ thể được V.I.Lê nin nêu rõ và cô động: “Xem xét mỗi vấn đề theo quan điểm sau đây: một hiện tượng nhất định đã xuất hiện trong lịch sử như thế nào, hiện tượng đó đã trải qua những giai đoạn phát triển chủ yếu nào, và đứng trên quan điểm của sự phát triển đó để xét xem hiện nay nó đã trở thành như thế nào” Bản chất của nguyên tắc này nằm ở chỗ, trong quá trình nhận thức sự vật, hiện tượng, trong sự vận động, trong sự chuyển hóa qua lại của nó, phải tái tạo lại được sự phát triển của sự vật, hiện tượng ấy, sự vận động của chính nó, đời sống của chính nó Nhiệm vụ của nguyên tắc lịch sử-cụ thể là tái tạo sự vật, hiện tượng xuyên qua lăng kính của những ngẫu nhiên lịch sử, những bước quanh co, những gián đoạn theo trình tự không gian và thời gian Nét quan trọng nhất của nguyên tắc lịch sử-cụ thể là mô tả sự kiện cụ thể theo trình tự nghiêm ngăt của sự hình thành sự vật, hiện tượng Giá trị của nguyên tắc này là ở chỗ, nhờ đó mà có thể phản ánh được sự vận động lịch sử phong phú và đa dạng của các hình thức biểu hiện cụ thể của sự vật, hiện tượng để qua đó, nhận thức được bản chất của nó

- Thứ hai: Nguyên tắc lịch sử-cụ thể yêu cầu phải nhận thức được vận động có tính phổ biến, là phương thức tồn tại của vật chất, nghĩa là phải nhận thức được sự vận động làm cho sự vật, hiện tượng xuất hiện, phát triển theo những quy luật nhất định và hình thức của vận động quyết định bản chất của nó; phải chỉ rõ được những giai đoạn cụ thể mà nó đã trải qua trong quá trình phát triển của mình; phải biết phân tích mỗi tình hình cụ thể trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn thì mới

có thể hiểu, giải thích được những thuộc tính, những mối liên hệ tất yếu, những đặc trưng chất và lượng vốn có của sự vật, hiện tượng

- Thứ ba: Nguyên tắc lịch sử-cụ thể không chỉ yêu cầu nhận thức những thay đổi diễn ra trong sự vật, hiện tượng, nhận thức những trạng thái chất lượng thay thế nhau, mà còn yêu cầu chỉ ra được các quy luật khách quan quy định sự vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng, quy định

Trang 7

7 | P a g e

sự tồn tại hiện thời và khả năng chuyển hóa thành sự vật, hiện tượng mới thông qua sự phủ định; chỉ ra được rằng, thông qua phủ định của phủ định, sự vật, hiện tượng mới là sự kế tục sự vật, hiện tượng cũ; là

sự bảo tồn sự vật, hiện tượng cũ trong dạng đã được lọc bỏ, cải tạo cho phù hợp với sự vật, hiện tượng mới Như vậy, chỉ khi đã tìm được mối liên hệ khách quan, tất yếu giữa các trạng thái chất lượng, tạo nên lịch

sử hình thành và phát triển của sự vật, hiện tượng đang nghiên cứu; tạo nên các quy luật quy định sự tồn tại và chuyển hóa của nó, quy định giai đoạn phát triển này sang giai đoạn phát triển khác cho tới trạng thái

chín muồi và chuyển hóa thành trạng thái khác hay thành các mặt đối lập của nó thì mới có thể giải thích các đặc trưng chất lượng và số lượng đặc thù, nhận thức được bản chất của nó

- Thứ tư: Nguyên tắc lịch sử-cụ thể còn đòi hỏi phải xem xét các sự vật, hiện tượng trong các mối liên hệ cụ thể của chúng Việc xem xét các mặt, các mối liên hệ cụ thể của sự vật, hiện tượng trong quá trình hình thành, phát triển cũng như diệt vong của chúng cho phép nhận thức đúng đắn bản chất các sự vật, hiện tượng và từ đó mới có định hướng đúng cho hoạt động thực tiễn của con người Đối với việc nghiên cứu quá trình nhận thức, nguyên tắc lịch sử-cụ thể cũng đòi hỏi phải tính đến sự phụ thuộc của quá trình đó vào trình độ phát triển của xã hội, trình độ phát triển của sản xuất và các thành tựu khoa học trước đó

cụ thể nói riêng và đối với các nguyên tắc khác nói chung, nhưng nguyên tắc lịch sử-cụ thể không kết hợp các sự kiện riêng lẻ, mô tả các

sự kiện, mà tái hiện sự kiện, chỉ ra mối liên hệ nhân quả giữa các sự kiện với nhau, khám phá quy luật và phân tích ý nghĩa và vai trò của chúng để tạo nên bức tranh khoa học về các quátrình lịch sử

- Thứ sáu: Nhận thức sự vật, hiện tượng theo nguyên tắc lịch sử-cụ thể

là cần thấy các mối liên hệ, sự biến đổi của chúng theo thời gian, cũng như trong những không gian tồn tại khác nhau của mỗi mặt, mỗi thuộc

tính, đặc trưng của sự vật, hiện tượng; tránh khuynh hướng giáo điều, chung chung, trừu tượng, không cụ thể Mặt khác, cũng cần đề phòng khuynh hướng tuyệt đối hóa tính cụ thể, không thấy sự vật, hiện tượng trong cả quá trình vận động, biến đổi Trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn phải vừa thấy tính cụ thể, vừa thấy cả quá trình phát triển của sự vật, hiện tượng là điều tất yếu

Trang 8

8 | P a g e

3 HOẠT ĐỘNG KINH TẾ ĐỐI NGOẠI

3.1 Tổng quan về hoạt động kinh tế đối ngoại

Kinh tế đối ngoại là lĩnh vực kinh tế thể hiện phần tham gia của nền kinh tế quốc gia vào nền kinh t ế thế giới và là phần phụ thuộc về kinh

tế giữa các quốc gia hay “phần giao” của những giao dịch kinh tế giữa các nước Đây là tổng thể các quan hệ kinh tế giữa một quốc gia với phần còn lại của thế giới dựa trên cơ sở sự phát triển phân công lao động quốc tế và chuỗi giá trị toàn cầu Lĩnh vực kinh tế đối ngoại bao gồm thương mại quốc tế, đầu tư quốc tế và chuyển giao công nghệ, di chuyển lao động quốc t ế, các quan hệ tiền tệ và tín dụng quốc tế và các dịch vụ quốc tế khác Lĩnh vực kinh tế đối ngoại có th ể đ ược xem xét

từ bản chất kinh tế của quan hệ và giao dịch, ý chí điều chỉnh của Chính phủ thông qua chính sách, cơ chế và các công cụ và đội ngũ nhân lực thực hiện các quan hệ

3.2 Vai trò của hoạt động kinh tế đối ngoại

- Các hoạt động kinh tế đối ngoại sẽ giúp cho một quốc gia tạo cơ hội cho việc phân phối và sử dụng hợp lý các nguồn lực trong nước sẽ góp phần thực hiện quá trình huy động và phân bổ nguồn lực của quốc gia như tài nguyên thiên nhiên, nguồn nhân lực

Vd :-Chính sách khuyến khích xuất khẩu mặt hàng chế biến đòi hỏi nguồn nhân lực phải đáp ứng đủ cho hoạt động sản xuất hàng xuất khẩu - thu hút nguông lực ngoài nước vào việc phát triển các ngành và các lĩnh vực có hiệu quả cao của nền kinh tế quốc dân, khắc phục tình trạng thiếu các nguồn lực cho sự phát triển như nguồn vốn, nguồn công nghệ, sức lao động có trình độ cao và sự hạn hẹp của thị trường nội địa, đồng thời tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước vươn ra thị trường thế giới

- Tạo khả năng cho việc phát triển phân công lao động quốc tế: giữa các doanh nghiệp trong nước với các doanh nghiệp ngoài nước, bảo đảm đầu vào và đầu ra cho nền kinh tế cho nền kinh tế trong nước một cách

ổn định và phù hợp với tố độ phát triển cao của những thập kỷ gần đây, tạo thuận lợi cho việc hình thành các tập đoàn kinh doanh tầm cỡ đa quốc gia Hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới có thể thực hiện quá trình chuyên môn hoá sâu hơn đồng thời tăng khả năng mở rộng sản xuất cả chiều rộng và chiều sâu, mở rộng thị trường, mở rộng quan

hệ hợp tác với đối tác nước ngoài

- Hoạt động kinh tế còn phục vụ cho việc xây dựng các ngành công nghiệp mới có trinh độ công nghiệp cao, phát triển các hình thức kinh doanh đa dạng và phong phú, tạo lập các khu vực có hiệu quả cho nền kinh tế quốc dân, góp phần tăng trưởng GDP cũng như tăng nhanh tích

Trang 9

9 | P a g e

lũy và tiêu dùng các lĩnh vực kinh tế mới với trình độ công nghệ và sức cạnh tranh ngày càng cao, phát huy tốt hơn lợi ích của quốc gia

- Góp phần thúc đẩy, tạo ra nhiều công ăn việc làm, giảm tỉ lệ thất nghiệp, tăng thu nhập, ổn định và cải thiện đời sống nhân dân

Tất nhiên, những vai trò to lớn của hoạt động kinh tế đối ngoại chỉ đạt được khi hoạt động kinh tế đối ngoại vượt qua được những thách thức (mặt trái) của toàn cầu hóa và giữ đúng định hướng của một quốc gia

3.3 Sự cần thiết của hoạt động kinh tế đối ngoại

Không thể có một quốc gia nào trên thế giới tồn tại độc lập mà không

có mối quan hệ nào với các quốc gia bên ngoài đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế Bởi vì có sự tồn tại của quan hệ hàng hóa tiền tệ và sự trao đổi này

đã ra khỏi phạm vi của một quốc gia và sự tồn tại của các nước độc lập, hai điều kiện này tồn tại một cách khách quan nên quan hệ giữa các nước trong lĩnh vực kinh tế mang tính khách quan

Thế giới ngày nay là một thể thống nhất trong đó các quốc gia là những đơn vị độc lập, tự chủ, nhưng phụ thuộc vào nhau về kinh tế và khoa học công nghệ Sự phụ thuộc này bắt nguồn từ những yếu tố khách quan Do điều kiện địa lý, sự phân bố tài nguyên thiên nhiên không đồng đều nên không một quốc gia nào có khả năng đảm bảo các sản phẩm cơ bản Các nước đều phụ thuộc vào nhau với những mức độ khác nhau

Lịch sử thế giới đã chứng minh rằng không một quốc gia nào trên thế giới có thể phát triển nếu thực hiện chính sách tự cấp, tự túc Ngược lại, những nước có tốc độ tăng trưởng cao đều là những nước có nền kinh tế phụ thuộc vào kinh tế đối ngoại để thúc đẩy kinh tế trong nước phát triển; biết sử dụng những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học – công nghệ

để hiện đại hóa nền sản xuất, biết khai thác những nguồn lực ngoài nước để phát huy những nguồn lực trong nước

Vì vậy, phát triển kinh tế đối ngoại là một yếu tố tất yếu khách quan nhằm phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế, xây dựng đất nước

4 VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC LỊCH SỬ CỤ THỂ CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT VÀO HOẠT ĐỘNG KINH TẾ ĐỐI NGOẠI

4.1 Cơ sở thực tiễn của việc vận dụng nguyên tắc lịch sử cụ thể của phép biện chứng duy vật vào hoạt động kinh tế đối ngoại

- Các hoạt động kinh tế đối ngoại có tầm quan trọng và ảnh hưởng vô cùng

to lớn trong việc liên kết hoạt động ở mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội của các nước trên toàn cầu, qua đó mở rộng giao lưu, học hỏi kinh nghiệm giữa các nước Tuy nhiên, mỗi nước, mỗi khu vực trên thế giới lại có những đặc thù về lịch sử, kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội khác

Trang 10

10 | P a g e

nhau Do đó, các nhà cầm quyền cần vận dụng linh hoạt kiến thức, áp dụng các chính sách phát triển đúng thời điểm, đúng chỗ, sử dụng quan điểm lịch sử-cụ thể chính xác làm cho nền kinh tế nước nhà tăng trưởng hơn nữa, tạo tiền đề và bước đệm cho nền kinh tế thế giới khởi sắc và phát triển vượt bậc

- Vậy nên, ta có thể thấy rõ ràng rằng ngày nay, tình hình thế giới vẫn diễn biến quanh co, phức tạp đặt ra nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn hết sức mới mẻ cần được giải quyết Nắm vững phép biện chứng duy vật, vận dụng các nguyên tắc phương pháp luận của phép biện chứng duy vật giúp nhận thức được tính biện chứng của thế giới, tính tất yếu của công cuộc đổi mới và nhu cầu cấp bách phát triển kinh tế hiện nay Thực tiễn cho thấy những con đường thúc đẩy kinh tế, phải triển thế giới không tuân theo những công thức có sẵn, bất biến mà chúng được vận dụng linh hoạt, mềm dẻo, luôn đổi mới để phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của mỗi nước và tình hình quốc tế trong từng giai đoạn Ví dụ thuyết phục nhất

là con đường của cách mạng Việt Nam được xác định là Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh là con đường duy nhất đúng, thể hiện sự nhận thức và vận dụng sáng tạo các nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lê nin nói chung, các nguyên tắc phương pháp luận cơ bản của phép biện chứng duy vật nói riêng của Đảng Cộng sản Việt Nam

4.2 Áp dụng nguyên tắc lịch sử cụ thể của phép biện chứng duy vật trong việc giải quyết những vấn đề mà COVID-19 đã ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế đối ngoại của Việt Nam

Tỉnh hình COVID-19 vẫn tiếp tục và khả năng kéo dài khi ngày càng phát hiện ra thêm những biến thể mới và nguy hiểm cho nhân loại Nó

đã trực tiếp ảnh hưởng đến mọi mặt đời sống của con người trên toàn thế giới: sinh hoạt bị giãn đoạn, việc làm thất thường, việc học của trẻ em và sinh viên bị cản trở,… và đặc biệt là nền kinh tế bị tụt lùi Không thể phủ nhận một số nước vẫn có phương pháp đối phó với COVID-19 và cải thiện đưa nền kinh tế đi lên cao, song rất nhiều quốc gia gặp khó khăn do tiến độ bị trì hoãn, khủng hoảng kinh tế diễn ra ở nhiều nơi trên thế giới Việt Nam cũng là một quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề của đại dịch covid đặc biệt là trong hoạt động kinh tế đối ngoại Chính vì thế mà sau đây em muốn đề xuất phương án giải quyết cho vấn đề nêu ra bằng việc

áp dụng nguyên tắc lịch sử cụ thể của phép biện chứng duy vật

4.2.1 Thực trạng ảnh hưởng của covid-19 đến hoạt động kinh tế đối ngoại của

Việt Nam.

Theo như yêu cầu của quan điểm lịch sử cụ thể thì “Khi phân tích sự vật, hiện tượng thì phải đặt nó trong bối cảnh không gian và thời gian

cụ thể của nó, phân tích xem những điều kiện không gian ấy có tác động

Ngày đăng: 05/06/2022, 16:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w