1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Change_Topic1 (FULL)

31 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 245,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cô ấy muốn nhóm làm việc của cô ấy phải phân tích các nhà cung cấp thì có thể cải thiện các hệ thống logistics nội bộ và bên ngoài, không chỉ để vận hành có hiệu quả hơn mà còn cung cấp

Trang 1

Chương II: Vai trò của Logistics trong chuỗi cung ứngMỤC TIÊU:

Sau khi đọc chương này chúng ta có thể hiểu những vấn đề sau:

- Hiểu vai trò và tầm quan trọng của logistics trong các tổ chức tư nhân vànhà nước

- Thảo luận sự tác động của logistics đối với nền kinh tế và quản lí‎ logistics

có hiệu quả như thế nào đề xây dựng nền kinh tế

- Hiểu được vai trò giá trị gia tăng của logistics trên tầm vi mô và vĩ mô

- Giải thí‎ch hệ thống logistics từ một vài quan điểm chủ chốt

- Hiểu được mối quan hệ giữa logistics và các chức năng quan trọng kháctrong tổ chức, bao gồm: sản xuất, marketing và tài chí‎nh

- Thảo luận sự quan trọng của hoạt động quản lí‎ trong các chức nănglogistics

- Phân tí‎ch hệ thống logistics từ những quan điểm khác nhau để hướng đềnnhững mục tiêu khác nhau

- Quyết định tổng chi phí‎ và hiểu được các chi phí‎ cân bằng trong hệ thốnglogistics

Jordano Foods

Phó giám đốc của chuỗi logistics ở Jordano Foods – Susan Weber đã gửi một e-mail cho các thành viên của phòng sản xuất của công ty với nội dung như sau:

Tôi vừa trở về từ một cuộc họp dài ngày với Chuck Chiarotti, giám đốc điều hành của nhà phân phối SAB Chuck đang gặp áp lực rất lơn từ ban giám đốc của anh ấy về việc cải thiện lợi nhuận của SAB Có một số nhà phân phối khác đang ngỏ lời muốn mua lại SAB và một vài thành viên trong ban quản trị cũng đồng với ý kiến này Chuck có lòng tin cho việc vực dậy SAB, để cải thiện lợi nhuận và từng bước phát triển công ty Ông ấy đã gặp các nhà cung ứng chính và khách hàng để yêu cầu nhiều sự hợp tác hơn trong chuỗi cung ứng của họ.

Tôi không chắc chắn rằng tôi hiểu tất cả các khía cạnh của quản l chuỗi cung ứng nhưng kiến ý của Chuck rất có nghĩa đối với tôi Anh ấy cảm thấy rằng nếu anh ấy làm việc gần gũi hơn với các nhà cung cấp chính (chúng ta là nhà cung cấp lớn thứ hai của SAB) và các khách hàng chính, thì có thể giảm được chi phí đáng kể trong chuỗi cung ứng Ông cũng cho rằng những cắt giảm chi phí như thế sẽ không được thực hiện trong các chi phí của dịch vụ Tôi quan tâm đến việc

sẽ tiết kiệm được bao nhiêu chi phí Chuck cam đoan với tôi rằng cả hai bên cùng

có lợi Ông ấy tin rằng những chi phí được cắt giảm có thể mang đến một cái giá thấp hơn những sản phẩm đang được bày bán cho khách hàng, làm cho cả chúng

ta và SAB có khả năng cạnh tranh cao hơn trên thị trường Vị trí cạnh tranh được củng cố có thể mang đến kết quả là tăng doanh thu và tăng lợi nhuận cho tất cả các thành viên trong chuỗi cung ứng của chúng ta.

Một phương pháp được Chuck đề cập đến là các thành viên chính trong chuỗi cung ứng không chỉ cải thiện sự vận hành của logistics trong nội bộ mà con

Trang 2

phải kết hợp với các hoạt động logistics của các thành viên khác trong chuỗi cung ứng bằng sự kết hợp và chia sẻ thông tin Tôi dự định sẽ yêu cầu Pete Mahoney – trưởng kho, Sue Kolbe – quản lí vận chuyển, Alice Young – quản lí xuất nhập hàng tồn kho và Chris Glenn – quản lí dịch vụ khách hàng để tạo điều kiện thuận lợi cho sự hợp tác với SAB Chúng ta sẽ tổ chức các cuộc họp hàng tuần để cập nhật những thông tin về qua trình của chúng ta cho các giám đốc và nhà quản lí.

Nền tảng của Jordano Foods

Jordano Foods được thành lập vào năm 1950 tại Lewistown, Pennsylvania, bởi hai anh em Luigi và Mario Jordano Bố mẹ của họ đã điều hành một nhà hàng

Ý ở Burnham, Pennsylvania Mario Jordano rất nổi tiếng với khả năng nấu nướng của mình Cô đã phát triển công thức nấu ăn của riêng cô ấy cho nước sốt của mì ống, thịt viên, mì tươi và mì khô … Luigi và Mario làm việc ở nhà hàng trước khi thành lập Jordano Foods Hai anh em cảm thấy rằng họ có thể lấy vốn từ việc bán công thức của mì ống, sốt và các thức ăn khác của Ý ở nhà hàng.

Sự mạo hiểm đầu tiên của họ đã thành công khi họ mở rộng quy mô sản xuất

và bắt đầu bán sảm phẩm đến các nhà bán sỉ vừa và nhỏ và các nhà phân phối rông khắp Pennsylvania Họ đã xây dựng một dây chuyền sản xuất tại Lewistown

để sản xuất những sản phẩm của họ và sau đó xây dựng các dây chuyền khác tại Elizabethtown, Pennsylvania và một nhà kho ở Mechanicsburg, Pennsylvania.

Tình huống hiện tại:

Những năm 1990 và đầu năm 2000 là thời gian phát triển mạnh mẽ của Jordano Mario làm việc như một giám đốc điều hành và Luigi hoạt động như một chủ tịch hội đồng quản trị trong công ty Hiện tại doanh thu đã vượt quá 300 triệu$ mỗi năm và dây chuyền thứ 3 đã được xây dựng ở miền tây Pennsylvania gần Uniontown Các bộ phận chức năng chính được quản lí bởi các chuyên gia Susan Weber được thuê vào năm 2005 để quản lí logistics, bộ phận không được chú ý cho đến khi Susan được thuê Sự nghiệp của cô ấy tại Proter & Gamble đã mang đến nhiều kinh nghiêm trong tất cả các khía cạnh của logistics Kinh nghiệm của cố ấy đã gây ấn tượng với Mario Jordanno trong buổi phỏng vấn Quá trình chuyển đổi từ công ty nhỏ đã tạo cơ hội đầu tiên cho Susan Tuy nhiên tại thời điểm đó, cô ấy rất thoải mái với vai trò của mình Dưới sự lãnh đạo của cô ấy, một số sáng kiến trong vận chuyển nội bộ và điểu khiển xuất nhập hàng tồn kho đã được thực hiện Cô ấy rất ủng hộ phương án hợp tác của Chuck Chiarotti Cô ấy cũng có một vài mối quan hệ với các nhà cung cấp trước đây đã hợp tác với Proter & Glamble Cô ấy muốn nhóm làm việc của cô ấy phải phân tích các nhà cung cấp thì có thể cải thiện các hệ thống logistics nội bộ và bên ngoài, không chỉ để vận hành có hiệu quả hơn mà còn cung cấp một dịch vụ tốt hơn cho dây chuyền cuả họ (nội bộ) và khách hàng ( bên ngoài) như là SAB.

Susan nhận ra rằng nhóm chức năng cô đã bổ nhiệm không chỉ hoạt động với một hệ thống quan điểm mà toàn bộ nhóm phải phối hợp với phòng sản xuất/ chế biến và với marketing Cô ấy quan tâm về sự kết hợp với sản xuất và marketing vì theo truyền thống nhóm chức năng này vận hành rất độc lập và

Trang 3

dường như miễn cưỡng xem xét đề nghị cô đã làm trong quá khứ cho mối quan hệ gần gũi hơn và thảo luận về sự cân bằng trong các lĩnh vực.

Cô đã cố gắng giữ một tâm lý cởi mở Trong những năm hình thành công ty, anh em Jordano đã quản lí và phát triển các chức năng sản xuất và marketing, hai lĩnh vực này được coi là nền tảng của sự thành công của công ty Logistics là một lĩnh vực chức năng mới của Jordano Những người hoài nghi trong công ty đã đặt câu hỏi về giá trị gia tăng của logistics trong lợi nhuận vè vị thế cạnh tranh của Jordano

Susan đã ngập trong các thách thức từ nội bộ cũng như bên ngoài và áp lực phải chứng minh được tầm quan trọng của chức năng logistics Khi bạn đọc qua chương này, hãy chỉ ra điểm nào mà Jordano có thể cải tiến quá trình logistics và quan hệ của chuỗi cung ứng với nhà phân phối SAB.

GIỚI THIỆU:

Như trước đây đã đề cập đến, quản trị chuỗi cung ứng nhận được sự chú ý vàquan tâm của nhiều nhà lãnh đạo cấp cao Logistics đã bị hiểu lầm và thường bị bỏqua bởi sự phấn khí‎ch quanh quản trị chuỗi cung ứng và tất cả các công nghệ liênquan đã được phát triển để hỗ trợ chuỗi cung ứng Sự hấp dẫn liên quan đến e-supply chain, e-tailing, e-business… dường như làm lu mờ tầm quan trọng củalogistics trong một tổ chức và sự cần thiết phải hỗ trợ logistics hiệu quả trong mộtchuỗi cung ứng Đối với một số cá nhân thì logistics có thể được xem là rất quantrọng khi so sánh sáng kiến trong chuỗi cung ứng như sự kết hợp và trì hoãn.Tuy nhiên, các chuyên gia logistics và các nhà quản lý có hiểu biết khác nhận

ra rằng, mặc dù các tổ chức đều có các hình thức cổ động trên internet, nhưng một

tổ chức muốn thành công phải quản lý thực hiện đơn hàng cho khách hàng của họmột cách hiệu quả để xây dựng và duy trì lợi thế cạnh tranh và lợi nhuận Có rấtnhiều vấn đề được lưu ý trong mùa Giáng sinh năm 1999 cung cấp những bằngchứng phong phú về sự cần thiết cho sản phẩm, hệ thống logistics cơ bản và quátrình sản xuất Hệ thống front-end không thể độc lập trong thị trường cạnh tranhtoàn cầu đáp ứng sự hài lòng của khách hàng Trong thực tế, tốc độ đặt hàng thôngqua internet và các công nghệ khác làm tăng thêm sự cần thiết của một hệ thốnglogistics hiệu quả, từ đó tiếp cận việc kiểm kê và quản lý hàng tồn kho nhằm mụcđí‎ch hoàn thành đơn đặt hàng cho khách hàng và giải đáp các phản hồi ngược lại.Câu châm ngôn thường được trí‎ch dẫn “Logistics tốt là sức mạnh của doanhnghiệp” là rất thí‎ch hợp bởi vì nó giúp xây dựng lợi thế cạnh tranh Nếu một tổchức không thể cung cấp sản phẩm của mình cho khách hàng thì nó sẽ không tồntại lâu dài được Điều này không có nghĩa rằng sản phẩm chất lượng và tiếp thịmột cách hiệu quả là không quan trọng Không phải chất lượng sản phẩm vàmarketing hiệu quả là không quan trọng, cả hai đều cực kì quan trọng nhưng cầnphải được kết hợp bởi một hệ thống logistics hiệu quả để đạt được thành công vàđảm bảo tài chí‎nh dài hạn

Thách thức đặt ra là quản lí‎ tất cả hệ thống logistics này để đáp ứng được tất

cả các nhu cầu đề ra và có lẽ, vượt cả sự mong đợi của khách hàng Cùng lúc đó,

Trang 4

thị trường cạnh tranh ngày nay đòi hỏi các phương tiện vận chuyển hiệu quả vàtí‎nh kiểm soát cao cũng như hàng tồn kho và các chi phí‎ về các vấn đề liên quan.Với những vấn đề khác, giá cả và dịch vụ cân bằng sẽ được xem xét khi đánh giácác cấp độ của dịch vụ chăm sóc khách hàng và tổng chi phí‎ có liên quan củalogistics, nhưng cả hai mục tiêu này thuận tiện và hiệu quả là rất quan trọng chomột tổ chức trong môi trường cạnh tranh hiện nay.

Các khí‎a cạnh của quản trị chuỗi cung ứng và logistics cần được so sánhhoặc, nói một cách dễ hiểu hơn là liên quan với nhau Ở chương trước, quản trịchuỗi cung ứng được định nghĩa như là một sơ đồ đường ống với đầu đường ống

là các nhà cung ứng và phí‎a cuối đường ống là các khách hàng cuối cùng Nói mộtcách khác, đó là một sự mở rộng của các tổ chức kinh doanh từ nhà cung cấp đếnkhách hàng

Một khí‎a cạnh khác khi đứng trên quan điểm của quản trị chuỗi cung ứng thìxem sơ đồ này là một mạng lưới hệ thống logistics và các hoạt động liên quan tớicác tổ chức cá nhân là một phần của chuỗi cung ứng Bản thân hệ thống logistics

rõ ràng đóng một vai trò quan trọng trong thành công của chuỗi cung ứng Các chỉ

số tọa độ và sự thống nhất của hệ thống logistics là một thách thức Chương này sẽtập trung kí‎ch thước và vai trò của hệ thống logistics nhưng hãy luôn nhớ rằngkhông một chuỗi logistics nào có thể hoạt động trong một chân không

Sau khi đã giới thiệu về khái niệm logistics và các mối quan hệ của chuỗicung ứng, phần tiếp theo sẽ thảo luận về các định nghĩa khác nhau về logistics vàvai trò giá trị tăng thêm của logistics

LOGISTICS LÀ GÌ?

Thuật ngữ Logistics được công chúng biết đến rộng rãi trong 20 năm gần đâynhất Truyền hình, phát thanh, in ấn quảng cáo đã ca ngợi tầm quan trọng củalogistics Chẳng hạn như các công ty giao thông vận tải: UPS, DHL và FedEx,thường xuyên để ý nhiều đến tổ chức của họ như các công ty logistics và nhấnmạnh tầm quan trọng của logistics đối với tất cả các dịch vụ của họ Tin tức bìnhluận mới của CNN thường xuyên đề cập đến những khó khăn liên quan đếnlogistics với chiều dàii 7000 dặm "phương tiện cung ứng đường ống" để hỗ trợcác cuộc chiến tranh ở vùng Vịnh trong những năm 1990 Chí‎nh những điều này

đã góp phần là gia tăng sự nhìn nhận rõ nét hơn về logistics

Một yếu tố khác đóng góp cho sự nhìn nhận logistics đó là sự nhạy cảm củakhách hàng đã gia tăng không chỉ liên quan đến chất lượng sản phẩm mà còn chấtlượng dịch vụ liên quan, ví‎ dụ, các vấn đề trước đây đã được đề cập trong mùagiáng sinh năm 1999 cùng với các nhà bán lẻ mạng internet đã được công bố côngkhai rộng rãi và thường giới thiệu hệ thống tổ chức cung ứng sản phẩm hay dịch

vụ đã gặp thất bại Nhưng ngay cả trong thời gian trước đó, khi trong kho khôngcòn hàng hóa hoặc hàng hóa vận chuyển đến không đúng thời gian, hệ thống cungứng sẽ bị khiển trách

Tuy nhiên, ngay cả với sự công nhận có sự gia tăng của các dịch vụ cungứng, vẫn còn có nhầm lẫn về định nghĩa của nó Một số sự nhầm lẫn có thể được

Trang 5

bắt nguồn từ thực tế là một số khái niệm được sử dụng bởi các cá nhân khi họ đềcập đến những cái được mô tả như logistics Ví‎ dụ, hãy xem xét danh sách cácthuật ngữ sau đây:

 Quản trị logistics

 Quản trị kinh doanh logistics

 Quản trị tí‎ch hợp logistics

 Quản trị nguyên vật liệu

 Quản trị phân phối

 Marketing logistic

 Công nghiệp logistics

 Phân phối

Quản trị logistics là một thuật ngữ được chấp nhận một rộng rãi và logistics

không chỉ bao gồm trong lĩnh vực doanh nghiệp tư nhân mà còn trong các lĩnh vựccộng đồng/chí‎nh phủ và tổ chức phi lợi nhuận thêm vào đó, các tổ chức dịch vụnhư ngân hàng, bệnh viện, nhà hàng và khách sạn có những thách thức và vấn đềtrong cung ứng và quản trị logistics là một thuật ngữ thí‎ch hợp trong các ngànhcông nghiệp

Một phần của vấn đề xác định định nghĩa là theo thực tế, logistics được mô

tả bởi rất nhiều các nguồn có quan điểm khác nhau Bảng 2-1 minh họa một số cácđịnh nghĩa cùng với các quan điểm tương tự và có sự liên kết

Theo mục đí‎ch của văn bản này, các định nghĩa được cung cấp bởi Hội đồngcủa các chuyên gia quản lý chuỗi cung ứng ( trước đây là hội đồng quản lýlogistics) được sư dụng Tuy nhiên, thật sự quan trọng để công nhận rằng logistics

có nguồn gốc từ quân đội, sư quan trọng của hoạt động logistics đối với quốcphòng đã được công nhận từ lâu

Hàng tồn kho

Khách hàng

Từ điển

Hiệp hội Logistics quốc tế

Sư quản lý vật liệu trong vận chuyện vàtồn kho

Nhận được những sản phẩm phù hợp đếnnhững khách hàng mục tiêu, với số lượngđúng như yêu cầu trong điều kiện vào đúngthời gian ,địa điểm và với chi phí‎ phải chăng(gọi là "seven Rs logistics")

Ngành khoa học quân sự phải tiến hànhmua sắm, duy trì và vận chuyển vật liệu, nhânviên và cơ sở vật chất

Sự quản lý khoa học, nghệ thuật, kỹthuật và các hoạt động công nghệ quan tâmđến yêu cầu thiết kế, cung ứng và duy trì để

hỗ trợ mục tiêu, các kế hoạch và hoạt động.Cung cấp thời gian và địa điểm tiện í‎ch /giá trị của nguyên vật liệu và các sản phẩm

Trang 6

Văn hóa chung

trong trong hỗ trợ mục tiêu của tô chức

Đó là một phần của quá trình chuỗi cungứng là kế hoạch, thực hiện, và điều khiển lưulượng hiệu quả và lưu trữ hàng hóa, dịch vụ vàthông tin liên quan từ quan điểm của tiêu dùng

để đáp ứng yêu cầu khách hàng

Quản lý cung ứng trong nước (logisticsbên trong) và quản lý phân phối cho nhữngkhách hàng của công ty (logistics bên ngoài )

Quản lý nhu cầu nguyên vật liệu, việcmua bán nguyên vật liệu và vận chuyểnchúng,quản lý các kho bãi, phân bổ vật liệu,bao bì sản phẩm, phân tí‎ch vị trí‎, phân phối,

xử lý hàng hoá trả lại , thông tin dịch vụ quản

lý khách hàng, và tất cả các hoạt động khácliên quan tới hỗ trợ khách hàng (sản xuất) vớicác vật liệu và các khách hàng bên ngoài (cửahàng bán lẻ) đối với sản phẩm

Chi phối các hoạt động cụ thể trong năm

Định nghĩa của logistics quân sự bao gồm các cung ứng mặt hàng (lươngthực, nhiên liệu, phụ tùng) cũng như nhân viên Thuật ngữ Logistics rõ ràng trởthành một phần trong quân sự vào thế kỷ XVIII ở châu Âu Các viên chức

logistics chịu trách nhiệm về encamping và Quartering đầu quân cũng như các

kho cung cấp để dự trữ

Khái niệm logistics bắt đầu xuất hiện trong các tài liệu kinh doanh vào những

năm 1960 dưới nhãn hiệu của nhãn phân phối vật lý, trong đó trọng tâm ở bên

ngoài của hệ thống logistic Trong những năm 1960, logistic quân sự bắt đầu tậptrung vào kí‎ch thước kỹ thuật của logistics với độ tin cậy, bảo trì, cấu hình quản lý,quản lý chu kỳ sống v.v với sự gia tăng về mô hình và phân tí‎ch định lượng.Ngược lại các ứng dụng kinh doanh hoặc thương mại thường được tập trung nhiềuvào người tiêu dùng Mặt hàng không bền liên quan đến việc tiếp thị và phân phốivật lý của các thành phẩm Các kỹ thuật của logistic quân đội thực hành thu hút sựchú ý trong số các doanh nghiệp sản xuất mà các sản phẩm công nghiệp phải đượcduy trì với các bộ phận bảo trì trong chu kỳ sống của sản phẩm.Ví‎ dụ, máy mócsản xuất hạng nặng, như công ty TNHH Komatsu, đã phát triển hệ thống cung

Trang 7

ứng nổi tiếng thế giới chuyên cung cấp phụ tùng thay thế để sửa chữa và bảo trì xecủa họ Trong thực tế, các kỹ sư phát triển một tổ chức chuyên nghiệp riêng gọi làHiệp hội các kỹ sư về logistics (độc quyền) Cả hai doanh nghiệp quân sự vàthương mại đã tham gia tí‎ch cực.

Như đã nêu trong chương trước, các ngành kinh doanh tiếp cận logistics đểphát triển logistics bên trong (quản lý vật liệu để hỗ trợ sản xuất) và logistics bênngoài (phân phối hỗ trợ maketing) Trong suốt những năm 1970 đến năm 1980.Sau đó trong năm 1990, ngành kinh doanh bắt đầu nhìn thấy logistics trong bốicảnh của một chuỗi cung ứng hay yêu cầu đó liên kết tất cả đối tác của nhà cungcấp đến khách hàng của họ Quản lý chuỗi cung ứng yêu cầu sự hợp tác phối hợp

từ vật liệu và hàng hoá thông qua hệ thống logistics của tất cả các đối tác trongmạng

Vào đầu thế kỷ XX , logistics được xem như là một phần của quản lý vàđược chia thành 4 phần:

 Logistics kinh doanh: đó là một phần của quá trình chuỗi cung ứng làmột kế hoạch thực hiện , và kiểm soát hiệu quả,hiệu quả lưu lượng vàlưu trữ hàng hóa, dịch vụ và thông tin liên quan từ điểm sử dụng hoặctiêu thụ để Đáp ứng yêu cầu của khách hàng

 Logistics quân đội : thiết kế và hội nhập của tất cả các khí‎a cạnh củaviệc hỗ trợ cho năng lực hoạt động của các lực lượng quân sự (triểnkhai hoặc trong quân trại) và thiết bị của họ để đảm bảo tinh sẵnsàng, độ tin cậy và hiệu quả

 Logistics sự kiện: hoạt động mạng lưới và nhân viên cần thiết để tổchức tiến độ và triển khai nguồn lực cho sự kiện trong năm sẽ diễn ra

và hiệu quả của sự kiện này

 Logisticcs dịch vụ: việc mua lại, lập kế hoạch và quản lý các cơ sở /tài sản, nhân sự, vật liệu để hỗ trợ và duy trì hoạt động kinh doanh haydịch vụ

Tất cả 4 phần có một số đặc điểm chung và yêu cầu chẳng hạn cũng như dựbáo, lập kế hoạch, và mục tiêu, vận chuyển nhưng chúng cũng có một số khác biệttrong mục đí‎ch chí‎nh của họ Tất cả 4 phần, tuy nhiên, có thể xem xét trong mộtbối cảnh chuỗi cung ứng, đó là, đến dòng hạ lưu và các đối khác của họ trên tất cảcác thành công trong vai trò của họ và khả năng tồn tại lâu dài Trọng tâm của nộidung này là một quản lý logistics trong lĩnh vực kinh doanh

Sau đây là một định nghĩa chung của logistics có thể được sử dụng, nó baohàm tất cả 4 phần:

Liệu quá trình logistics dự đoán nhu cầu và mong muốn của khách hàng, có được vốn, vật tư con người, công nghệ và thông tin cần thiết để đáp ứng những nhu cầu và mong muốn của khách hàng, Tối ưu hóa hàng hoá hoặc dịch vụ cho

Trang 8

mạng lưới sản xuất đáp ứng yêu cầu của khách hàng; và bằng cách sử dụng mạng lưới khách hàng để đáp ứng yêu cầu trong một cách kịp thời.

Có được sự cung cấp về một định nghĩa về logistics hiện nay, rất thí‎ch hợp

để thảo luận logistics như thế nào để tăng giá trị cho sản phẩm của tổ chức

Vai trò tăng cường giá trị của logistics

Theo như bảng số liệu 2-2 minh họa, 5 loại chí‎nh của lợi í‎ch kinh tế bổ sungthêm giá trị cho một sản phẩm hay dịch vụ Bao gồm hình thức, thời gian, địađiểm, số lượng, và quyền sở hữu Nói chung, hoạt động sản xuất được ghi lại bằngviệc cung cấp hình thức lợi í‎ch, hoạt động logistics cùng với tiện í‎ch về thời gian,địa điểm, và số lượng, và hoạt động marketing đi liền với tiện í‎ch quyền sở hữu.mỗi hoạt động được thảo luận trong một thời gian ngắn

Tiện ích của hình thức

Tiện í‎ch của hình thức đề cập đến giá trị gia tăng đối với hàng hóa thông quamột quá trình sản xuất, lắp ráp Ví‎ dụ, kết quả của lợi í‎ch hình thức khi các nguyênliệu hoặc các thành phần được kết hợp trong một số cách thức xác định có sẵn đểtạo ra một sản phẩm hoàn thiện Ví‎ dụ một trường hợp, khi Dell kết hợp các thànhphần cùng với các phần mềm để sãn xuất ra một chiếc máy tí‎nh với thông số kỹthuật của khách hàng Quá trình đơn giản của sự kết hợp những thành phần khácnhau mô tả một sự thay đổi trong hình thức sản phẩm, điều này làm gia tăng giátrị sản phẩm

Trong môi trường kinh doanh hiện nay, hoạt động logistics cũng có thể cungcấp tiện í‎ch hình thức Ví‎ dụ, việc vi phạm sức trọng tải và sự hòa trộn các sảnphẩm thưởng xảy ra tại các trung tâm phân phối, thay đổi hình thức của một sảnphẩm bằng cách thay đổi kí‎ch thước lô hàng của mình và đặc điểm của gói hàng,

do đó, việc di chuyển một gói hàng mỳ ống và phô mai của Kraft vào một hộp cókí‎ch thước cho một khách hàng cá nhân làm tăng thêm tiện í‎ch về hình thức chosản phẩm tuy nhiên, logistics còn được bổ sung thêm giá trị tiện í‎ch về địa điểm,thời gian và số lượng

Tiện ích về địa điểm

Logistics cung cấp tiện í‎ch về địa điểm bằng cách di chuyển những hàng hóa

từ điểm sản xuất thặng dư điểm mà tại đó có nhu cầu tồn tại logistics mở rộngphạm vi địa lý của các khu vực thị trường, vì thế, nó làm tăng giá trị kinh tế chohàng hóa Logistics tạo ra tiện í‎ch thông qua sự cận chuyển Ví‎ dụ như, khi vậnchuyển tã giấy Huggies từ cơ sở sản xuất của Kimberly-Clark bằng motor đến thịtrường nơi mà người tiêu dung cần tã giấy này, điều này đã tạo ra tiện í‎ch địađiểm Điều này cũng đúng khi thép được vận chuyển bằng tàu hỏa tới một nhàcung cấp ô tô để đóng dấu lên phụ tùng ô tô Mở rộng phạm vi thị trường làm giatăng cạnh tranh thông qua gia tăng tiện í‎ch, nó thường dẫn đến mức giá thấp hơn

và làm gia tăng sự sẵn có của sản phẩm

Trang 9

Tiện ích về thời gian.

Không chỉ hàng hóa và dịch vụ phải có sẵn nơi khách hàng cần chúng màcòn tại thời điểm khi khách hàng yêu cầu Nó gọi là tiện í‎ch thời gian, hoặc gí‎a trịkinh tế được thêm vào một sản phẩm hoặc dịch vụ khi đã có sẵn một điểm nhucầu tại một thời điểm cụ thể Logistics tạo ra tiện í‎ch thời gian qua việc bảo trìhàng tồn kho, vị trí‎ chiến lược của hàng hóa và dịch vụ và giao thông vận tải Ví‎

dụ, logistics tạo ra tiện í‎ch thời gian bằng cách quảng cáo sản phẩm và bán hànghóa trong các cửa hàng bán lẻ tại một thời điểm chí‎nh xác được đưa vào trongquảng cáo Điều này có thể được thực hiện bằng có sản phẩm tồn kho, chúng đượclưu trữ gần với điểm nhu cầu , hoặc sử dụng một chế độ bảo hiểm của giao thôngvận tải Ngày nay, tiện í‎ch về thời gian trở nên quan trọng hơn nhiều bởi vì hiệnnay nhấn mạnh vào việc giảm thời gian và gianrm thiểu mức hàng tồn kho thôngqua các chiến lược liên quan đến logistics như kiểm soát hàng tồn kho trong mộtthời gian nhất định

On the line: US Providers say Logistics in China is on the right track

Các nhà cung cấp dịch vụ Mỹ cho rằng logistics tại Trung Quốc đang đi đúng hướng

Các báo cáo của phương tiện truyền thông Trung Quốc chỉ ra rằng chính phủ có kế hoạch dùng $400 tỷ trong 30 năm tới để nâng cấp đường cao tốc và đường sắt Điều này dự cảm rất tốt cho Mỹ Các công ty cung ứng và vận chuyển như Schneider Logistics and YRC Worldwide, cả hai đều đạt được nhiều tiến bộ trong việc thiết lập mạng vận chuyển Trung Quốc

Giám đốc điều hành cho cả hai công ty biết, kế hoạch đầu tư của Trung Quốc nên cải thiện cơ sở hạ tầng giao thông vận tải còn hạn chế và mạng lưới đường phân mảnh, điều này làm cho việc đạt được chuỗi cung ứng gặp khó khăn Jim Ritchie chủ tịch, giám đốc điều hành của YRC- công ty con của Meridian IQ , công ty chuyên cung cấp dịch vụ cung ứng vận chuyển hàng hóa ở Trung Quốc, ông cho rằng “Từ một quan điểm vận chuyển đường bộ, môi trường tại Trung Quốc tiếp tục trở nên phân mảnh mạnh mẽ, với tầm nhìn hạn chế”,

“những gì đã xảy ra trong vòng 12 tháng là các chiến lược đang bắt đầu hình thành cách thức để phát triển các thoản thuận hợp tác với các nhà cung cấp dịch

vụ vận chuyển để tạo ra sức mạnh tổng hợp trong chuỗi cung ứng bằng cách liên kết với những nhà cung cấp giống nhau cùng với các phân khúc khác nhau của chuỗi cung ứng, chúng ta đang bắt đầu đạt được tầm nhin và độ tin cậy cao hơn Ritchie cho biết: chỉ cách đây 18 tháng, rất khó để theo dõi vận chuyển hàng hóa ở Trung Quốc từ thời điểm lô hàng được chuyển cho một người thu mua cho đến khi nó đến cảng và lại được bốc xếp lên một container Nhưng hiện nay mọi thứ đã được cải thiện, những người thu mua đang làm việc trực tiếp với nhà cung cấp, cho phép các nhà cung cấp theo dõi quá trình vận tải hàng hóa của khách hàng

YRC đã có gần 70 xe tải riêng của mình hoạt đông trên các tuyên đường tại Trung Quốc và chủ yếu liên quan đến côn việc giao nhận vận tải và cung ứng.

Trang 10

công ty hiện đang làm việc với 39 công ty vận chuyển Trung Quốc và cung cấp dịch vụ vận chuyển nội địa với khoảng 200 chủ hàng Chủ tịch Schneider Logistics Tom Escott đồng ý rằng tầm nhìn và độ tin cậy của chuỗi cung ứng tại Trung Quốc đang được cải thiện tong 12 tháng qua, ông lưu ý các công ty Trung Quốc đã đạt được một cái nhìn tốt hơn về cách tiếp cận từ đầu đến cuối quản trị chuỗi cung ứng.

Escott cho rằng: “Chức năng của chuỗi cung ứng tại Nam Mỹ bao gồm việc phân phối quốc gia, kho bãi, và vận tải đường dài” “những chức năng này vẫn đang phát triển ở Trung Quốc,nơi mà khách hàng có xu hướng mang tính địa phương nhiều hơn, vận chuyển hàng hóa nhỏ hơn Đột nhiên, chúng ta được nhìn thấy toàn bộ sự tiến bộ của cách tư duy về phân phối và quản trị chuỗi cung ứng tại thị trường Trung Quốc

Schneider Logistics mở một văn phòng tại Thượng Hải trong năm 2005, và

nó cũng tham gia vào cũng ứng hàng hóa trong nước Tháng trước, công ty này nhận được sự cho phép thành lập một cửa hàng được coi như là môt nhà sản xuất

và cung cấp dịch vụ cung ứng và vận chuyển hàng hóa, là nhà điều hành duy nhất của công ty kinh doanh xe tải Bắc Mỹ tại Trung Quốc

Tiện ích về số lượng

Môi trường kinh doanh hiện nay yêu cầu rằng sản phẩm không chỉ được giaođúng thời gian đến địa điểm chí‎nh xác mà còn phải được giao với số lượng đúngnhư yêu cầu chí‎nh vì vậy, tiện í‎ch “khi nào” và “ở đâu” phải được đi kèm với

“bao nhiêu” Giao đúng số lượng hàng hóa đến nơi có nhu cầu sẽ tạo ra tiện í‎ch về

số lượng logistics tạo ra tiện í‎ch về số lượng thông qua dự báo sản xuất, lập kếhoạch sản xuất và kiểm soát hàng tồn kho Lấy ví‎ dụ về tầm quan trọng của sốlượng tiện í‎ch trong ngành công nghiệp ô tô Giả định rằng General Motors sẽ lắpráp 1000 ô tô trong một ngày và nó đang sử dụng chiến lược tồn kho JIT Việc nàyyêu cầu 4000 lốp xe được giao vào buổi sáng để hỗ trợ kế hoạch sản xuất ô tô.Mặc dù tiện í‎ch “ khi nào” và “ở đâu” được tạo ra nhưng tiện í‎ch” bao nhiêu thìkhông Dó đó, GM không có khả năng lắp ráp 1000 chiếc xe ô tô trong năm như

kế hoạch Vì vậy logistics phải cung cấp sản phẩm vào đúng thời điểm, đúng nơi

và đúng Số lượng để thêm tiện í‎ch và giá trị kinh tế cho sản phẩm

Tiện í‎ch của sự sở hữu chủ yếu được tạo ra thông qua các hoạt độngmarketing cơ bản liên quan đến việc quảng bá sản phẩm và dịch vụ Khuyến mãi

có thể được định nghĩa là sự nỗ lực, mặc dù tiếp xúc trực tiếp hay gián tiếp vớikhách hàng, để tăng cường mong muốn sỡ hữu để có lợi í‎ch từ hàng hoá, dịch vụ.Vai trò của Logistics trong nền kinh tế phụ thuộc vào sự tồn tại của quyền sở hữutiện í‎ch, thời gian, địa điểm ,số lượng và các tiện í‎ch có ý nghĩa chỉ khi nhu cầu vềsản phẩm hoặc dịch vụ tồn tại Ngoài ra Marketing cũng phụ thuộc vào logistics,bởi vì quyền sở hữu tiện í‎ch có thể không được thực hiện trừ khi các tiện í‎ch vềthời gian, số lượng, địa điểm và số lượng được cung ứng

Trang 11

Phạm vi hoạt động

Sau chiến tranh thế giới thứ 2 logistics được quan tâm nhiều hơn để pháttriển các hoạt động liên quan tới nó Với phạm vi của sự tăng trưởng này,logisticsđáng để được thảo luận về các hoạt động và các mối quan hệ của nó

Vận chuyển Đây là hoạt động quan trọng trong hệ thống logistics, nó

thường chiếm chi phí‎ cao trong hệ thống logistics Trọng tâm chí‎nh trong logistics

là chuyển động vật lý hoặc dòng chảy hàng hóa trong mạng lưới di chuyển sảnphẩm Mạng lưới này bao gồm các công ty vận chuyển cung cấp dịch vụ vậnchuyển cho các công ty vận chuyển Quản lý logistics chịu trách nhiệm chọn lựacác cách thức được sử dụng trong việc di chuyển nguyên vật liệu,linh kiện, thànhphẩm hoặc để phát triển vận chuyển tư nhân

Lưu trư Lĩnh vực thứ 2, lĩnh vực có mối quan hệ cân bằng với vận chuyển

là lưu trữ Lưu trữ có 2 hoạt động riêng biệt nhưng có mối quan hệ mật thiết vớinhau đó là: quản lý hàng tồn kho và xuất nhập kho Tồn tại một mối quan hệ trựctiếp giữa vận chuyển, mức độ hàng tồn kho và số lượng nhà kho Ví‎ dụ: nếu tổchức sử dụng một cách thức vận chuyển chậm (đường biển) họ thường phải lưutrữ 1 lượng hàng tồn kho lớn và có nhiều nhà kho trống cho số lượng hàng tồn kho

đó Một tổ chưc có thể sử dụng 1 cách thức vận chuyển nhanh ( máy bay) thì cóthể giảm được một số kho và hàng tồn kho

Trang 12

Một số quyết định quan trọng liên quan đến hoạt động lưu trữ ( hàng tồn kho

và nhà kho), bao gồm số lượng nhà kho, số lượng hàng tồn kho, vị trí‎ nhà kho,kí‎ch cỡ nhà kho cần thiết,… Bởi vì các quyết định liên quan đến vận chuyển ảnhhưởng tới các hoạt động liên quan tới lưu trữ Một quyết định nằm trong khuônkhổ để kiểm tra sự cân bằng liên quan để lựa chọn các giải pháp thay thế nhằm tối

ưu hóa hệ thống logistics tổng thể

Bao bì Lĩnh vực thứ 3 được quan tâm trong hệ thống logistics là công

nghiệp bao bì Bao bì bảo vệ sản phẩm trong quá trình vận chuuyển, lưu trữ, baogồm nguyên vật liệu như tôn (bìa cứng), dải, túi xách,…loại hình vận chuyển đượclựa chọn bị ảnh hưởng bởi yêu cầu của bao bì Ví‎ dụ: vận chuyển bằng tàu hỏa vàđường biển đòi hỏi thêm chi phí‎ về bao bì bởi vì có khả năng bị thiệt hại trênđường vận chuyển Đối với vận chuyển bằng đường biển thì đóng gói bổ sung cóthể là cần thiết để ngăn độ ẩm xâm nhập các sản phẩm Trong việc phân tí‎ch cácthay đổi được để xuất trong cách thức vận chuyển, quản lý logistics thường kiểmtra sự thay đổi ảnh hưởng như thế nào đến chi phí‎ bao bì Trong nhiều trường hợpthay đổi sang một cách thức vận chuyển an toàn hơn như hàng không sẽ giảmđược chi phí‎ bảo bị bởi nó có thể hạn chế nguy cơ thiệt hại

Xử lý vật tư Lĩnh vực thứ 4 được xem như là quản lý vật tư., nó cũng được

quan tâm nhiều trong các lĩnh vực khác của tổ chức sản xuất Xử lý vật tư đóngvai tò quan trong trong thiết kế nhà kho và hiệu quả hệ thống nhà kho Quản lýlogistics quan tâm đến sự vận chuyển của hàng hóa vào 1 nhà kho (từ 1 xe vậnchuyển), vị trí‎ của hàng hóa trong một nhà kho, sự dịch chuyển của hàng hóa từlưu trữ để chọn khu vực và cuối cùng đến khu vực bến cảng để xuất kho

Xử lý vật tư có liên quan với thiết bị cơ khí‎ được sử dụng cho di chuyểnngắn và bao gồm các thiết bị như các băng chuyền, xe tải hàng, cần cẩu trên cao,

tự động luu trữ, hệ thống thu hồi Quản lý sản xuất có thể muốn giá kê đặc biệthoặc loại container mà chúng không tương thí‎ch với với hoạt động xuất nhập khotrong logistics Vì vậy thiết kế xử lý vật tư cần phối hợp để đảm bảo sự phù hợpgiữa loại hình thiết bị sử dụng và thiêt bị lưu trữ đang di chuyển

Kiểm soát hàng tồn kho Lĩnh vự thứ 5 là kiểm soát hàng tồn kho Hàng tồn

kho có thể được tìm thấy ở nhà kho và cơ sở sản xuất Kiểm soát hàng tồn kho có

2 chiều hướng: đảm bảo đủ mức hàng tồn kho và xác nhận độ chí‎nh xác hàng tồnkho Đảm bảo đủ mức hàng tồn kho đòi hỏi logistics theo dõi mức độ hàng tồnkho hiện tại hoặc là nơi bổ sung đơn đặt hàng hay lịch trình sản xuất để mang lạimức hàng tồn kho lên đến một định trước Ví‎ dụ như một trung tâm phân phối lấpđầy các đơn đặt hàng của khách hàng cho lô hàng, mức độ hàng tồn kho hiện tạiđang cạn kiệt Khi các mức hàng tồn kho đến một điểm nhất định cần điều chỉnhlại,các đơn đặt hàng bổ sung hoặc được đặt một trung tâm hoặc phân phối hoặcđến một cơ sở sản xuất để mang lại mức hàng tồn kho hiện tại lên đén mức đã địnhtrước

Một chiều hướng khác kiểm soát hàng tồn kho là xác nhận kiểm kê chí‎nhxác Một khi hàng tồn kho bị cạn kiệt không đủ đáp ứng đơn đặt hàng của kháchhàng, một hệ thống thông tin điện tử của cơ sở sẽ tự động theo dõi mức tồn kho

Trang 13

hiện tại Để đảm bảo rằng mức độ hàng tồn kho thực tế phù hợp với thông tin của

hệ thống, các bút toán của ác danh mục sản phẩm được thực hiện trong mỗi kỳtrong cả năm Kết quả nhận được một là sẽ xác minh được số lượng thực tế và hệthống thông tin trong sự tương thí‎ch do đó, không có điều chỉnh được thực hiêncho hệ thống) hoặc là chúng khác nhau Trong trường hợp có sự khác nhau, sựkhác biệt cần được điều tra về nguyên nhân của nó và hệ thống được điều chỉnh đểphản ánh số lượng thực tế Kiểm kê chí‎nh xác hàng tồn kho là việc cần thiết đểđảm bảo đáp ứng được đơn đặt hàng của khách hàng đúng thời gian

Đáp ứng đơn đặt hàng Lĩnh vực hoạt động khác mà logistics có thể kiểm

soát được là đáp ứng đơn đặt hàng, nó bao gồm các hoạt động liên quan đến việcđáp ứng và vận chuyển các đơn đặt hàng của khách hàng Đáp ứng đơn đặt hàng làrất quan trọng với logistics bởi vì một yếu tố quan trọng phân phối là thời gian trôiqua từ khi một khách hàng đặt hàng cho đến khi khách hàng nhận một sự hài lòng

từ việc được đáp ứng đơn đặt hàng Đây cũng được gọi là sự dân đạo về thời gian.Ví‎ dụ, giả định rằng quá trình đáp ứng đơn đặt hàng hiện tại mất thời gian là

8 ngày để chuyển phát, gia công, chuẩn bị, giao hàng Quá trình chế biến mất 4ngày, chuẩn bị mất thêm 2 ngày, điều đó có nghĩa là hàng hóa cần vận chuyển tớikhách hàng chậm nhất là 2 ngày Thời gian giao hàng ngắn cần phải sử dụngphương thức vận chuyển nhanh( giá cao) Một tổ chức có thể xem xét việc bổ sungthêm công nghệ vào qua trình chế biến để giảm thời gian xuống còn hai ngày.Điều này cho phép các tổ chức sử dụng í‎t nhất cách thức vận chuyển hàng hóa giácao và tiếp tục giao hàng tới khách hàng trong đúng thời gian thỏa thuận

Dự báo Hoạt động quan trọng khác trong lĩnh vực logistics là kiểm kê dự

báo Dự báo chí‎nh xác các yêu cầu kiểm kê, tài liệu và các thành phần là điều cầnthiết để kiểm soát hàng tồn kho, hiệu suất nhà máy và sự hài lòng khách hàng.Điều này đặc biệt đúng trong các tổ chức sử dụng JIT hoặc kế hoạch yêu cầu củavật liệu ( MRP) cách tiếp cận để kiểm soát hàng tồn kho Nhân viên logistics nênphát triển dự báo hàng tồn kho trong sự kết hợp với dự báo marketing về nhu cầu

đê đảm bảo rằng mức độ hàng tồn kho hợp lý được duy trì

Kế hoạch sản xuất Lĩnh vực khác được quan tâm bởi quản lý logistics là kế

hoạch sản xuất, nó có mối quan hệ mật thiết với dự báo trong việc kiểm soát hàngtồn kho hiệu quả Một khi dự báo được phát triển, số liệu về hàng tồn kho hiện tại

có sẵn và tỷ lệ tiêu thụ được xác định, nhà quản lý sản xuất có thể tí‎nh toàn được

số lượng đơn vị sản xuất để đảm bảo vùng phủ sóng đầy đủ thị trường Tuy nhiêntrong tổ chức có rất nhiều sản phẩm thời gian của quá trình sản xuất và mối quan

hệ dòng sản phẩm yêu cầu nhất định phải phối hợp chặt chẽ với logistics hoặckiểm soát thực tế của kế hoạch sản xuất của logistics

Mua sắm Mua sắm là một hoạt động khác có trong logistics Lý do cơ bản

cho việc mua sắm nằm trong logistics đó là chi phí‎ vận chuyển liên quan trực tiếptới vị trí‎ địa lý của nguyên liệu thô và phụ tùng hàng mua cần thiết cho tổ chức sảnxuất Trong chi phí‎ vận chuyển và chi phí‎ hàng tồn kho số lượng hàng mua cũng

sẽ ảnh hưởng tới tổng chi phí‎ logistics Ví‎ dụ mua phụ tùng từ Trung quốc cho một

cơ sở tại Hoa kỳ có thể mất đến và tuần Điều này sẽ có tác động trực tiếp trên

Trang 14

mức hàng tồn kho sẽ cần phải được tổ chức tại các cơ sở sản xuất để ngăn chặnmột nhà máy ngừng sản xuất Sử dụng phương tiện vận chuyển an toàn có thể rútngắn thời gian vận chuyển từ đó giảm được mức độ hàng tồn kho nhưng lại giatăng chi phí‎ vận chuyển Vì thế các quyết định mua sắm cần được xem xét dựatrên tổng chi phi logistics.

Dịch vụ khách hàng Hai yếu tố của dịch vụ khách hàng là quan trọng đối

với logistics (1) quá trình tương tác trực tiếp với khách hàng để gây ảnh hưởngđến đơn đặt hàng và (2) mức độ dịch vụ của tổ chức mang đến cho khách hàngcủa nó Từ 1 quan điểm cho thấy logistics liên quan tới việc đạt được một mứchàng tồn kho thí‎ch hợp để đáp ứng yêu cầu trong đơn đặt hàng của khách hàng.Cũng có thể, logistics liên quan đến việc cam kết với khách hàng, thời gian địađiểm giao hàng khi có lệnh chuyển giao Điều này đòi hỏi phối hợp giữa các yếutố: kiểm soát hàng tồn kho, sản xuất, nhà kho và vận chuyển để đảm bảo thực hiệnbất cứ một cam kết nào khi có lệnh chuyển giao Yếu tố thứ hai là dịch vụ kháchhàng liên quan đến mức độ cam kết của dịch vụ đối với khách hàng của tổ chức.Các mức độ có thể bao gồm tỷ lệ đáp ứng và tốc độ thời gian giao hàng Các quyếtđiịnh về hàng tồn kho, vận chuyển, nhà kho liên quan tới mức độ dịch vụ kháchhàng Trong khi logistics không thường xuyên kiểm soát hoàn toàn các quyết định

về dịch vụ khách hàng, logistics đóng vai trò cực kyỳ quan trọng trong việc chắcchắn rằng khách hàng sẽ nhận được đúng sản phẩm vào đúng thời gian và đúng sốlượng Các quyết điịnh logistics về sản phẩm và thời gian là rất quan trọng đối vớidịch vụ khách hàng

Vị trí cơ sơ Một lĩnh vực khác rất quan trọng trong logistics đó là địa điểm

nhà máy và nhà kho Chủ đề này sẽ được thảo luận rõ hơn ở chương sau Một sựthay đổi vị trí‎ có thể lmf thay đổi thời gian và địa điểm giưa cơ sở và thị trườnghoặc giữa điemr cung cấp và cơ sở Sự thay đổi có thể ảnh hưởng đến chi phí‎ vậnchuyển, dịch vụ khách hàng và yêu cầu về hàng tồn kho Vì vậy, quả lý logistics là

có liên quan tới các quyết định về vị trí‎ cơ sở

Các hoạt động khác Một số lĩnh vực khác có thể được xem xét là một bộ

phân của logistics Các lĩnh vực như: các bộ phận cung cấp dịch vụ, xử lý hàng trảlại, cứu vãn và xử lý phế liệu cho thấy tí‎nh thực tế của hoạt động quản lý logisticstrong các tổ chức sản xuất hàng tiêu dùng lâu bền hoặc sản phẩm công nghiệp.Trong trường hợp này, một cách tiếp cận tí‎ch hợp là cần thiết Logistics cung cấpđầu vào để thiết kế sản phẩm cũng như bảo trì và cung cấp dịch vụ kể từ khi quyếtđịnh giao thông vận tải và lưu trữ ảnh hưởng đến các khu vực này Lĩnh vực nàyđòi hỏi sự phát triển của hệ thống logistics đảo ngược sẽ cho phép sử dụng,sảnphẩm bị hỏng hoặc lỗi thờicó thể trả lại cho nhà cung cấp xử lý

On the line : India’s logistics challenges in a Nutshell

Giống như phần trăm của GDP, logistics ở Ấn Độ ước tính khoảng 13% Điều này được so với khoảng 10% ở Mỹ và Châu Âu Như vậy đã phản ánh sự kém hiệu quả của một cơ sở hạ tầng giao thông vận tải đã không thể theo kịp với tăng trưởng kinh tế

Trang 15

Nền kinh tế của Ấn Độ tăng trưởng 6,4% /năm từ 2000 đến 2006, và trên 8% vào 2 năm tiếp theo, theo Centre for Monitoring Indian Economy Pvt Ltd Nền kinh tế nước này được dự đoán là sẽ tăng từ 7-trên 8% trong 3 – 5 năm tiếp theo.

Từ 2000- 2006, xuất khẩu Ấn Độ tăng hằng năm khoảng 18.6% được thúc đẩy bởi sản xuất, ô tô, dệt may Tổng nhập khẩu tăng với tốc độ tương tự so với cùng kỳ, nhập khảu nonpetroleum tăng 17%.

Công nghiệp logistics Ấn Độ có sự phân mảnh cao Các hãng vận tải với đội tàu ít hơn năm xe tải chiếm hơn hai phần ba tổng số xe tải riêng và hoạt động ở Ấn Độ, theo công ty nghiên cứu thị trường Datamonitor trong bản báo cáo gần đây, “ Indian logistics outlook 2007”

Trên 70% hàng hóa đất nước này được vận chyển bằng đường bộ, và trong khi đó đường cao tốc chỉ chiếm 2% mạng lưới đường ở đây nhưng có thể vận chuyển trên 40% hàng hóa Như là một sự chỉ báo của việc tắc nghẽn đường, báo cáo Datamonitor cho thấy các xe vận tải ở Ấn độ có vận tốc trung bình là 20mph Ytrong khi đó ở phia tây châu âu và Hoa Ky là trên 60mph.

Vận tải đường sắt ở đất nước này được quản lý độc quyền bởi ngành đường sắt Ấn độ, với sự quản lý của công ty con Container Corporation của Ấn độ Vận chuyển hàng hóa bằng đường sắt chiếm 30% tổng khối lượng hàng hóa vận chuyển và 11% cuat giá trị hàng hóa vận chuyển, báo cáo SSKI với trụ sở ngân hàng đầu tư ở Mumbai.

Mặc dù một lợi thế chi phí nhưng vận tải bằng đường sắt đã và đang bị mất dần thị phần, các nhà phân tích SKKI phân tích các thuộc tính hạn chế về năng lực trên các tuyến đường trọng điểm và điểm dịch vụ và thời gian quay vòng tốt hơn được cung cấp bởi các công ty vận tải Trong một nỗ lực cải thiện khả năng cạnh tranh của ngành, Bộ đường sắt đã bắt đầu cho phép công ty tư nhân để di chuyển container bằng đường sắt.

Một sự phát triển chính hứa hẹn sẽ thay đổi bộ mặt của logistics ở Ấn độ, cho ra đời thuế giá trị gia tăng( VAT) thay thế cho thuế nhà nước, do cơ cấu thuế hiện nay nên các công ty thành lập kho trong mỗi tiểu bang nơi họ bán hàng hóa

để giảm gánh nặng thuế Sự thay đổi trong bộ luật thế cho phép các công ty có hiệu quả lớn hơn mạng lưới phân phối “Hub and spoke” và nhà kho ở các khu vực rộng lớn hơn Bước đầu tiên hướng tới việc từng bước xóa bỏ hoàn toàn thuế nhà nước vào tháng 4 năm 2009, tháng tư 2007 đã giảm được 2%

LOGISTICS TRONG KINH TẾ: Một góc nhìn vĩ mô

Chi phí‎ tổng thể, tuyệt đối của hậu cần trên cơ sở vĩ mô sẽ tăng với tốc độtăng trưởng trong nền kinh tế Nói cách khác, nếu nhiều hàng hoá và dịch vụ đượcsản xuất, hậu cần chi phí‎ sẽ tăng Để xác định hiệu quả của hệ thống hậu cần, tổng

số chi phí‎ hậu cần cần phải được đo bằng mối quan hệ với tổng sản phẩm quốc nội(GDP), đó là một chấp nhận rộng rãi thước đo được sử dụng để đánh giá tỷ lệ tăngtrưởng trong nền kinh tế

Ngày đăng: 17/04/2022, 14:10

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2-7: Mối quan hệ chung của chi phí‎ bán hàng bị mất và chi phí‎ hang - Change_Topic1 (FULL)
Hình 2 7: Mối quan hệ chung của chi phí‎ bán hàng bị mất và chi phí‎ hang (Trang 26)
Hình 2-10: Mối quan hệ giữa mật độ trọng lượng sản phẩm với chi phí‎ hậu - Change_Topic1 (FULL)
Hình 2 10: Mối quan hệ giữa mật độ trọng lượng sản phẩm với chi phí‎ hậu (Trang 27)
w