1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

14-am-nhac-gt-hat-dan-ca

71 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 1,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1 UBND TỈNH LÀO CAI TRƯỜNG CAO ĐẲNG CỘNG ĐỒNG LÀO CAI GIÁO TRÌNH NỘI BỘ MÔN HỌC HÁT DÂN CA NGÀNH THANH NHẠC; BIỂU DIỄN NHẠC CỤ TRUYỀN THỐNG; ORGAN Lào Cai, năm 2017 2 TUYÊN BỐ BẢN QUYỀN Tài liệu này t[.]

Trang 1

UBND TỈNH LÀO CAI TRƯỜNG CAO ĐẲNG CỘNG ĐỒNG LÀO CAI

GIÁO TRÌNH NỘI BỘ MÔN HỌC: HÁT DÂN CA NGÀNH: THANH NHẠC; BIỂU DIỄN NHẠC CỤ TRUYỀN THỐNG; ORGAN

Lào Cai, năm 2017

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU

Dân ca là những bài hát cổ truyền do nhân dân sáng tác, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác và được nhân dân ca hát theo phong tục tập quán của từng địa phương, từng dân tộc Dân ca là những bài hát, khúc ca được sáng tác và lưu truyền trong dân gian mà không thuộc về riêng một tác giả nào Đầu tiên bài hát có thể do một người nghĩ ra rồi truyền miệng qua nhiều người, từ đời này qua đời khác và được phổ biến ở từng vùng, từng dân tộc… Các bài dân ca được gọt giũa, sàng lọc qua nhiều năm tháng bền vững cùng với thời gian Do chính người dân lao động tự sáng tác theo tập quán, phong tục Trong sinh hoạt cộng đồng người quần cư trong vùng đất của họ, thường trong làng xóm hay rộng hơn cả một miền Các làn điệu dân ca thể hiện phong cách bình dân, sát với cuộc sống lao động mọi người Các dịp biểu diễn thường thường là lễ hội, hát làng nghề Thường ngày cũng được hát lên trong lao động để động viên nhau, hay trong tình yêu đôi lứa, trong tình cảm giữa người và người

Việt Nam là đất nước phong phú về văn hoá, với hơn 54 dân tộc anh em cùng sinh sống Dân ca mỗi dân tộc, tỉnh thành của Việt Nam lại có âm giọng và ca từ khác nhau nên dân ca cũng có thể phân theo tỉnh nhưng gọi chung cho dễ gọi vì nó cũng có tính chung của miền bắc, miền Trung, miền Nam

Tring bối cảnh của thời kì hội nhập và toàn cầu hóa, khi mà sự giao thoa và tiếp biến các giá trị văn hóa nói chung và văn hóa dân gian nói riêng đã tạo nên những trào lưu mới trong xã hội, và cũng tạo nên những ảnh hưởng không ít tới sự hình thành và phát triển những nét tâm lý, tính cách của thế hệ trẻ Chính vì vậy, giáo dục âm nhạc truyền thống, trong đó có dạy hát dân ca hình thành cho thế hệ trẻ những tình cảm đúng đắn với âm nhạc nói chung, với âm nhạc truyền thống nói riêng và để hình thành nhân cách của con người Việt Nam chân chính

học hát các làn điệu dân ca sâu lắng mượt mà người học có thể cảm nhận được vẻ đẹp của quê hương, đất nước, tình cảm giữa người với người Bên cạnh đó, việc thấm nhuần các giai điệu dân ca còn giúp người sinh không chỉ biết thưởng thức cái đẹp mà vận dụng vào chuyên ngành khi xử lý, diễn tấu các bài bản có âm hưởng dân ca, biết sáng tạo, từ đó hình thành nên những người có năng lực sáng tạo về nghệ thuật và có khả năng đem cái đẹp vào đời sống trên mọi phương diện, học tập, lao động, ứng xử…

Giáo trình Hát dân ca chỉ lựa chọn một số bài dân ca tiêu biểu của một số dân tộc, vùng miền trải dài từ bắc tới nam Cấu trúc mỗi bài đều có 2 phần là giới thiệu một số nét văn hoá dân tộc hoặc địa phương liên quan đến bài dân ca và phần 2 là hướng dẫn thực hành

Trong quá trình biên soạn, chúng tôi đã cố gắng tìm hiểu chọn lọc các nội dung chính xác, ngắn gọn Tuy nhiên giáo trình vẫn chưa thể hoàn hảo, vì vậy rất mong ý kiến phản hồi của chuyên gia và người học để giáo trình hoàn thiện hơn

Lào Cai, năm 2017

Người biên soạn

Lê Quang Chiến

Trang 4

MỤC LỤC

Bài 1 Dừng chân (dân ca Mông) 8

1 Lý thuyết 8

1.1 Khái quát về dân tộc 8

1.2 Một vài đặc điểm về bài dân ca 12

2 Thực hành 13

3 Hướng dẫn tự học 14

Bài 2 Mưa rơi (dân ca Xá) 15

1 Lý thuyết 15

1.1 Khái quát về dân tộc La Chí 15

1.2 Một vài đặc điểm về bài dân ca 18

2 Thực hành 19

3 Hướng dẫn tự học 20

Bài 3 Soi bóng bên hồ (Dân ca Giáy) 21

1 Lý thuyết 21

1.2 Một vài đặc điểm về bài dân ca 23

2 Thực hành 24

3 Hướng dẫn tự học 25

Bài 4 Inh lả (Dân ca Thái) 26

1 Lý thuyết 26

1.1 Khái quát về dân tộc Thái 26

1.2 Một vài đặc điểm về bài dân ca 29

2 Thực hành 29

3 Hướng dẫn tự học 30

Bài 5 Bà rằng bà rí (Dân ca Phú Thọ) 31

1 Lý thuyết 31

1.1 Khái quát về dân tộc 31

1.2 Một vài đặc điểm về bài dân ca 35

2 Thực hành 35

3 Hướng dẫn tự học 36

Bài 6 Bèo dạt mây trôi (Dân ca Quan họ) 37

1 Lý thuyết 37

1.1 Khái quát về dân ca Quan họ 37

1.2 Một vài đặc điểm về bài dân ca 39

Trang 5

3 Hướng dẫn tự học 40

Bài 7 Đi cấy (Dân ca Thanh Hóa) 41

1 Lý thuyết 41

1.1 Khái quát về văn hoá tỉnh Thanh Hoá 41

1.2 Một vài đặc điểm về bài dân ca 46

2 Thực hành 47

3 Hướng dẫn tự học 48

Bài 8 Tát nước đêm trăng (Dân ca Chăm) 49

1 Lý thuyết 49

1.1 Khái quát về dân tộc 49

1.2 Một vài đặc điểm về bài dân ca 52

2 Thực hành 52

3 Hướng dẫn tự học 53

Bài 9 Ru em (Dân ca Xơ Đăng) 54

1 Lý thuyết 54

1.1 Khái quát về dân tộc 54

1.2 Một vài đặc điểm về bài dân ca 56

2 Thực hành 56

3 Hướng dẫn tự học 57

Bài 10 Lý thương nhau (Dân ca Nam trung bộ) 58

1 Lý thuyết 58

1.1 Khái quát về văn hoá Nam Trung bộ 58

1.2 Một vài đặc điểm về bài dân ca 60

2 Thực hành 60

3 Hướng dẫn tự học 61

Bài 11 Lý dĩa bánh bò (Dân ca Nam bộ) 62

1 Lý thuyết 62

1.1 Khái quát về văn hoá vùng Nam bộ 62

1.2 Một vài đặc điểm về bài dân ca 65

2 Thực hành 65

3 Hướng dẫn tự học 66

Bài 12 Lý chiều chiều (Dân ca Nam bộ) 67

1 Lý thuyết 67

1.1 Một vài đặc điển văn hoá Nam bộ 67

1.2 Một vài đặc điểm về bài dân ca 70

2 Thực hành 70

Trang 6

3 Hướng dẫn tự học 71

Trang 7

GIÁO TRÌNH MÔN HỌC

Tên môn học: Hát dân ca

Mã môn học: MHT17

Vị trí, tính chất, ý nghĩa và vai trò của môn học

Vị trí: Sau khi hoàn thành môn Lý thuyết âm nhạc 1; Ký xướng âm 1

Tính chất: Môn học thuộc khối kiến thức, kỹ năng chuyên môn

Mục tiêu môn học

Sau khi học xong môn này, người học có khả năng:

Kiến thức: kể tên được một số bài dân ca thuộc các vùng miền; trình bày được đặc điểm một số bài dân ca

Kỹ năng: Hát được các bài dân ca trong giáo trình

Năng lực tự chủ và trách nhiệm: Người học biết cách tìm hiểu và phương pháp hát các bài dân ca không năm trong chương trình học Yêu thích dân ca Việt Nam

NỘI DUNG CHI TIẾT CỦA GIÁO TRÌNH:

Trang 8

Bài 1 Dừng chân (dân ca Mông)

MỤC TIÊU:

Sau khi học xong bài này, người học có khả năng:

- Kiến thức: trình bày được một số đặc điểm về văn hoá dân tộc Mông; trình bày được đặc điểm bài dân ca Dừng chân

- Kỹ năng: Hát được giai điệu của bài hát

- Năng lực tự chủ và trách nhiệm: tự học, tự tiểm hiểu các bài dân ca

DUNG CHÍNH:

1 Lý thuyết

1.1 Khái quát về dân tộc

Tên tự gọi: Mông, Na Miẻo

Tên gọi khác: Mẹo, Mèo, Miếu Hạ, Mán Trắng

Nhóm địa phương: Mông Trắng, Mông Hoa, Mông Ðỏ, Mông Ðen, Mông Xanh,

Na Miẻo

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc ngôn ngữ hệ Mông - Dao

Hoạt động sản xuất: Nguồn sống chính là làm nương định canh hoặc nương du

canh trồng ngô, lúa, lúa mạch Nông dân có truyền thống trồng xen canh trên nương cùng với cây trồng chính là các cây ý dĩ, khoai, rau, lạc, vừng, đậu

Vẽ bằng sáp ong, nhuộm chàm là một cách tạo hoa văn đặc trưng của người Mông hoặc Dao Người phụ nữ dùng bút chấm sáp ong nóng chảy để vẽ vào những hoa văn trên tấm vải lanh trắng Vẽ xong, tấm vải đó được nhuộm chàm nhiều lần cho đến khi được màu đen vừa ý Sau đó người ta đem vải nhúng vào nước nóng cho sáp ong tan ra, để lại những hoa văn màu trắng trên nền chàm xanh

Chiếc cày của người Hmông rất nổi tiếng về độ bền cũng như tính hiệu quả Trồng lanh, thuốc phiện (trước đây), các cây ăn quả như táo, lê, đào, mận, dệt vải lanh là những hoạt động sản xuất đặc sắc của người Hmông

Trang 9

Người Mông chăn nuôi chủ yếu trâu, bò, lợn, gà, ngựa Ngựa thồ là phương tiện vận chuyển rất có hiệu quả trên vùng cao núi đá Con ngựa rất gần gũi và thân thiết với từng gia đình Mông

Họ phát triển đa dạng các nghề thủ công như đan lát, rèn, làm yên cương ngựa, đồ

gỗ, nhất là các đồ đựng, làm giấy bản, đồ trang sức bằng bạc phục vụ nhu cầu và thị hiếu của người dân Các thợ thủ công Mông phần lớn là thợ bán chuyên nghiệp làm ra những sản phẩm nổi tiếng như lưỡi cày, nòng súng, các đồ đựng bằng gỗ ghép.Chợ ở vùng Mông thoả mãn vừa nhu cầu trao đổi hàng hoá vừa nhu cầu giao lưu tình cảm, sinh hoạt

Ăn: Người Mông thường ăn ngày hai bữa, ngày mùa ăn ba bữa Bữa ăn với các

thực phẩm truyền thống có mèn mén (bột ngô đồ) hay cơm, rau xào mỡ và canh Bột ngô được xúc ăn bằng thìa gỗ Phụ nữ khéo léo làm các loại bánh bằng bột ngô, gạo vào những ngày tết, ngày lễ

Mông quen uống rượu ngô, rượu gạo, hút thuốc bằng điếu cày Ðưa mời khách chiếc điếu do tự tay mình nạp thuốc là biểu hiện tình cảm quý trọng Trước kia, tục hút thuốc phiện tương đối phổ biến với họ

Chợ phiên, nơi giao lưu trao đổi hàng hoá, gặp gỡ của anh em, bạn bè trai gái, là một sinh hoạt đặc trưng của người Mông ở vùng cao biên giới Người ta thồ trên lưng ngựa đến chợ đủ mọi thứ hàng hoá như: ngô, rau, củi Ðàn ngựa thồ được quần tụ trên bãi để ngựa ở chợ Bắc Hà (Lao Cai), Ðồng Văn (Hà Giang) là nét văn hoá đẹp ở vùng cao

Mặc: Trang phục của người Mông rất sặc sỡ, đa dạng giữa các nhóm

Phụ nữ Mông Trắng trồng lanh, dệt vải lanh, váy màu trắng, áo xẻ ngực, thêu hoa văn ở cánh tay, yếm sau Cạo tóc, để chỏm, đội khăn rộng vành

Phụ nữ Mông Hoa mặc váy màu chàm có thêu hoặc in hoa văn bằng sáp ong, áo xẻ nách, trên vai và ngực đắp vải màu và thêu Ðể tóc dài, vấn tóc cùng tóc giả

Phụ nữ Mông Ðen mặc váy bằng vải chàm, in hoa văn bằng sáp ong, áo xẻ ngực

Phụ nữ Mông Xanh mặc váy ống Phụ nữ Mông Xanh đã có chồng cuốn tóc lên đỉnh đầu, cài bằng lược móng ngựa, đội khăn ra ngoài tạo thành hình như hai cái sừng.Trang trí trên y phục chủ yếu bằng đắp ghép vải màu, hoa văn thêu chủ yếu hình con ốc, hình vuông, hình quả trám, hình chữ thập

Trang 10

Ở: Người Mông quần tụ trong từng bản vài chục nóc nhà Nhà trệt, ba gian hai

chái, có từ hai đến ba cửa Gian giữa đặt bàn thờ

Nhà giàu thì tường trình, cột gỗ kê trên đá tảng hình đèn lồng hay quả bí, mái lợp ngói, sàn gác lát ván Phổ biến nhà bưng ván hay vách nứa, mái tranh

Lương thực được cất trữ trên sàn gác Một số nơi có nhà kho chứa lương thực ở ngay cạnh nhà

Chuồng gia súc được lát ván cao ráo, sạch sẽ

Thắng cố (chảo canh) là món ăn được ưa thích của người Hmông Ðây là món canh gồm

các loại thịt, xương, lòng, gan, tim, phổi bò (dê) cắt thành từng miếng nhỏ được nấu

chung trong chảo to Người Hmông thường nấu Thắng cố khi nhà có bữa đám hay trong

các chợ phiên

Ở vùng cao núi đá, mỗi nhà có một khuôn viên riêng cách nhau bằng bức tường xếp đá cao khoảng gần 2 mét

tiện vận chuyển: Người Mông quen dùng ngựa thồ, gùi có hai quai đeo vai

Quan hệ xã hội: Bản thường có nhiều họ, trong đó một hoặc hai họ giữ vị trí chủ đạo, có ảnh hưởng chính tới các quan hệ trong bản Người đứng đầu bản điều chỉnh các quan hệ trong bản, trước kia, cả bằng hình thức phạt vạ lẫn dư luận xã hội Dân mỗi bản tự nguyện cam kết và tuân thủ quy ước chung của bản về sản xuất, chăn nuôi, bảo vệ rừng

và việc giúp đỡ lẫn nhau Quan hệ trong bản càng gắn bó chặt chẽ hơn thông qua việc thờ cúng chung thổ thần của bản

Người Mông rất coi trọng dòng họ bao gồm những người có chung tổ tiên Các đặc trưng riêng với mỗi họ thể hiện ở những nghi lễ cúng tổ tiên, ma cửa, ma mụ như

số lượng và cách bày bát cúng, bài cúng, nơi cúng, ở các nghi lễ ma chay như cách quàn người chết trong nhà, cách để xác ngoài trời trước khi chôn, cách bố trí mộ

Người cùng họ dù không biết nhau, dù cách xa bao đời nhưng qua cách trao đổi các đặc trưng trên có thể nhận ra họ của mình Phong tục cấm ngặt những người cùng họ lấy nhau Tình cảm gắn bó giữa những người trong họ sâu sắc Trưởng họ là người có uy tín, được dòng họ tôn trọng, tin nghe

Gia đình nhỏ, phụ hệ Cô dâu đã qua lễ nhập môn, bước qua cửa nhà trai, coi như

đã thuộc vào dòng họ của chồng Vợ chồng rất gắn bó, luôn ở bên nhau khi đi chợ, đi nương, thăm hỏi họ hàng Phổ biến tục cướp vợ

Thờ cúng: Trong nhà có nhiều nơi linh thiêng dành riêng cho việc thờ cúng như nơi thờ

Trang 11

thờ cúng những vị tổ sư nghề của mình Nhiều lễ cúng kiêng cấm người lạ vào nhà, vào bản Sau khi cúng ma cầu xin ai thường đeo bùa để lấy khước

Học: Chữ Mông tuy được soạn thảo theo bộ vần chữ quốc ngữ từ những năm sáu

mươi nhưng cho đến nay vẫn chưa thực sự phổ biến

Lễ tết: Trong khi người Việt đang hối hả kết thúc tháng cuối cùng trong năm thì

người Mông đã bước vào Tết năm mới truyền thống từ đầu tháng 12 âm lịch, sớm hơn tết Nguyên đán một tháng theo cách tính lịch cổ truyền của người Mông, phù hợp với nông lịch truyền thống

Ngày Tết, dân làng thường chơi còn, đu, thổi khèn, ca hát ở những bãi rộng quanh làng Tết lớn thứ hai là Tết 5 tháng năm (âm lịch) Ngoài hai tết chính, tuỳ từng nơi còn

có các Tết vào các ngày 3 tháng 3, 13 tháng 6, 7 tháng 7 (âm lịch)

Văn nghệ: Thanh niên thích chơi khèn, vừa thổi vừa múa Khèn, trống còn được

sử dụng trong đám ma, lúc viếng, trong các lễ cúng cơm Kèn lá, đàn môi là phương tiện

để thanh niên trao đổi tâm tình

Mỗi gia đình Mông đều có bàn thờ ở gian

giữa nhà Biểu trưng cho nơi thờ là vài tờ

giấy bản có tráng kim ở giữa đóng trên

vách được thay vào dịp Tết hàng năm Mỗi

khi cúng người ta lấy lông gà chấm vào tiết

rồi dán lên tờ giấy bản đó

Ngày Tết, trai gái Mông vui chơi ca hát, múa khèn, tung còn, đánh cầu lông gà, đánh quay Chơi quay là một trò chơi phổ biến ở hầu hết các dân tộc ở miền Bắc, nhưng mỗi dân tộc có cách đánh quay

riêng

Trong cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam, dân tộc Mông là một trong những dân tộc

và giữ được những nét độc đáo riêng về bản sắc văn hóa truyền thống dân tộc trong cuộc sống hội nhập hiện nay

Người Mông được phân biệt thành nhiều nhóm: Mông Đơ (Mông Trắng), Mông

Đu (Mông Đen), Mông Lềnh (Mông Hoa), Mông Si (Mông Đỏ), Mông Dua (Mông Xanh), Mông Xúa (Mông Mán) và nhóm Na Mẻo Sở dĩ người Mông được phân biệt thành các nhóm như vậy là dựa trên sự khác nhau về trang phục và ngôn ngữ giữa các nhóm Mông Ví dụ người Mông Trắng mặc váy màu trắng, người Mông Đen thì mặc váy thiên về màu đen nhiều hơn Ngoài ra, các nhóm người Mông còn được phân biệt dựa

Trang 12

trên ngôn ngữ Mỗi nhóm Mông có những từ vựng cơ bản giống nhau nhưng cũng có rất nhiều từ địa phương khác nhau

Người Mông sống ở rất nhiều tỉnh ở Việt Nam nhưng ở mỗi tỉnh, họ sống tập trung ở một vài huyện trong tỉnh đó Họ rất ít khi sống xen kẽ với các dân tộc khác mà thường cư trú tập trung trong dân tộc mình Nhà của người Mông bao giờ cũng dựng trên các triền núi, nơi mà phía trước có suối, có nguồn nước, phía sau có núi che chở Hầu hết người Mông ở các vùng dùng gỗ pơ mu để làm nhà, riêng nhà người Mông ở Hà Giang làm bằng đất trình tường Do sinh sống ở vùng khí hậu lạnh nên nhà của người Mông thường thấp và không có cửa sổ

Người Mông cho rằng mọi vật đều có linh hồn và ngôi nhà cũng như vậy Trong ngôi nhà có thần cửa, thần cột, thần bếp, ma nhà để bảo vệ người Mông trước mọi thế lực Khi đã ra khỏi nhà thì không có các thần trong ngôi nhà bảo vệ nữa thì thường dễ gặp phải rủi ro, bất trắc hoặc có thể bị ma quỷ hãm hại Vì vậy, khi ra khỏi nhà, người ta phải có một vật gì đó đem theo mình như thứ bùa để bảo vệ họ khỏi ma quỷ

Người Mông là dân tộc theo chế độ phụ hệ Tính phụ quyền trong gia đình người Mông rất mạnh, người đàn ông đóng vai trò quyết định mọi việc trong gia đình và là người thừa kế tài sản trong gia đình Người phụ nữ không được thừa kế tài sản trong gia đình, khi lấy chồng thì thứ tài sản duy nhất người con gái được mang về nhà chồng là những đồ trang sức bằng bạc và váy áo Người Mông thường có quan hệ hôn nhân trong nội tộc, còn hôn nhân với các dân tộc bên ngoài thì cũng có nhưng rất ít Việc dựng vợ gả chồng là để có con cái nối dõi tông đường đồng thời nâng cao uy tín của dòng họ cũng như tăng lực lượng lao động cho gia đình nên người Mông sinh rất nhiều con Bố mẹ bao giờ cũng ở với người con trai út Người con trai út đảm nhiệm vai trò thờ cúng ông bà tổ tiên trong gia đình

Đối với người Mông thì thiết chế dòng họ đóng vai trò rất quan trọng Trong một

họ bao giờ cũng có một người trưởng họ, mỗi khi có vấn đề gì xảy ra trong làng thì người

ta có thể tìm đến người trưởng họ là người am hiểu luật lệ, lí lẽ nhất trong họ đó Mỗi họ lại có quy định, luật lệ khác nhau, mọi người trong họ phải tuân theo quy định, luật lệ đó Chị Trần Thu Thủy cho biết thêm: “Dòng họ rất quan trọng với người Mông còn thể hiện

ở chố nếu như cùng một họ có thể sống và chết trong nhà nhau Cách bố trí việc thờ cúng cũng như cách cúng trong nhà là cách để nhận biết người cùng họ Con gái khi đi lấy chồng thì người ta quan niệm đã thuộc về dòng họ nhà chồng khi đến kỳ sinh nở về nhà

bố mẹ mình thì cũng không được sinh trong nhà bố mẹ mình, khi chết cũng không được chết trong nhà bố mẹ mình"

1.2 Một vài đặc điểm về bài dân ca

- Tính chất: bài có tính chất buồn man mác, thương nhớ, hoài mong

- Tốc độ: chậm vừa

- Thang âm, điệu thức:

+ Hàng âm của chỉ có 5 âm có cấu tạo cụ thể:

Trang 13

+ Xét về cấu tạo hàng âm, thì điệu thức của bài giống điệu thức Thương (cụ thể Son thương) trong hệ thống điệu thức ngũ cung

Do vậy khi đọc gam của bài, thì nên đọc theo hàng âm trên

- Cách hát

+ Nhẹ nhàng, mộc mạc, chú ý các âm luyến các âm có nốt hoa mỹ

+ Đối với nốt ở âm khu cao không cần cố nén hơi, gồng sức mà chỉ đấy nhẹ hơi tới đúng cao độ

2 Thực hành

Bước 1: Chuẩn bị

- Bản nhạc, tư liệu nghe bài dân ca

- Xác định âm vực phù hợp cho giọng hát

Bước 2: Đọc Gam rải

- Đọc gam rải đi lên, đi xuống

- Chú ý đọc chậm và nhớ âm các bậc của gam

Bước 3: Xướng âm

- Xướng âm từng phần, đoạn của bài

- Chú ý: phải xướng âm cả các nốt hoa mỹ, đọc chậm Khi xướng âm bị sai hoặc lạc giọng cần đọc lại gam rải của bài

Bước 4: Ghép lời, hát theo giai điệu

Trên cơ sở giai điệu xướng âm, ghép lời theo đúng vị trí trên bản nhạc

- Chú ý: hát từng phần với tốc độ chậm vừa Cần hát đúng đủ các âm luyến, láy và sắc thái của bài

Bước 5: Hát hoàn thiện cả bài

- Hát đầy đủ bài đúng tốc độ, sắc thái

- Chú ý phần sắc thái như các rung, láy, luyến vì sắc thái là đặc trưng, cái hồn của bài

Nội dung thực hành: bài dân ca Dừng chân- Dân ca Mông

Trang 14

3 Hướng dẫn tự học

- Tìm và nghe bài dân ca Dừng chân để cảm nhận sâu hơn về bài

- Tìm hiểu và nghe thêm bài dân ca Tiếng Sáo Xa lá – Dân ca Mông

Trang 15

Bài 2 Mưa rơi (dân ca Xá)

MỤC TIÊU:

Sau khi học xong bài này, người học có khả năng:

- Kiến thức: trình bày được một số đặc điểm về văn hoá dân tộc Xá (La Chí); trình bày được đặc điểm bài dân ca Mưa rơi

- Kỹ năng: Hát được giai điệu của bài hát

- Năng lực tự chủ và trách nhiệm: tự học, tự tiểm hiểu các bài dân ca

NỘI DUNG CHI TIẾT:

1 Lý thuyết

1.1 Khái quát về dân tộc La Chí

Tên tự gọi: Cù tê

Tên gọi khác: Thổ Ðen, Mán, Xá

Dân số: 13.158 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009)

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Ka Ðai (ngữ hệ Thái – Ka Ðai), cùng

nhóm với tiếng La Ha, Cơ Lao, Pu Péo

Lịch sử: Người La Chí có lịch sử cư trú lâu đời ở Hà Giang, Lào Cai

Người La Chí đan những đôi hòm bằng tre vuông vức, cái hoa văn rất đẹp dành riêng cho cô dâu đựng tư trang khi về nhà chồng Những chiếc hòm tre đó trở thành biểu tượng của hạnh phúc lứa đôi Chỉ trong những trường hợp vợ chồng ly dị, đôi hòm tre mới có

thể bị bỏ rơi, còn không họ dùng đến lúc chết thì chôn theo

Hoạt động sản xuất: Người La Chí giỏi nghề khai khẩn và làm ruộng bậc thang,

trồng lúa nước Họ gặt lúa nếp bằng hái nhắt còn gặt lúa tẻ bằng liềm, đập lúa vào máng

gỗ lấy thóc ngay ở ngoài ruộng Họ sử dụng cả ba loại nương với các công cụ sản xuất khác nhau: gậy chọc lỗ, cuốc, cày Người ta dành nương tốt nhất để trồng chàm, bông

Ăn: Người La Chí có cách nấu và ghế cơm bằng hơi nước rất độc đáo Cơm nấu

trong chảo to, cơm sôi thì vớt lên cho vào chõ đồ như đồ xôi Cơm dỡ ra không bị nát mà khô dẻo nhờ được đồ chín bằng hơi nước nóng Có nhiều cách giữ thực phẩm để ăn dần như sấy khô, làm thịt chua là phổ biến nhất Da trâu sấy khô là món ăn rất được ưa chuộng

Trang 16

Họ thích để răng đen Răng càng đen càng đẹp Thanh niên thích bịt răng vàng coi đó là hình thức làm duyên làm dáng, dấu hiệu của sự trưởng thành

Mặc: Ðàn ông mặc áo dài năm thân, cài khuy bên nách phải, tóc dài quá vai, đội

khăn cuốn hay khăn xếp, thích đeo túi vải chàm có viền đỏ xung quanh để đựng diêm thuốc và các thứ lặt vặt

Phụ nữ mặc quần, một số ít còn mặc váy Bộ y phục truyền thống là chiếc áo dài

tứ thân xẻ giữa, yếm thêu, thắt lưng bằng vải Vào dịp tết, lễ người ta còn diện ba chiếc

áo dài lồng vào nhau Nữ giới ưa dùng khăn đội đầu dài gần 3 mét Màu chàm đen rất được ưa thích Nữ đeo vòng tai, vòng tay

Ruộng bậc thang của người La Chí

Nam chỉ đeo vòng tay Thầy cúng mỗi khi hành lễ có y phục riêng Ðó là bộ quần

áo thụng, dài quá mắt cá chân, xẻ giữa, có thắt lưng bằng vải, đầu đội mũ vải rộng, có quai Trong một số nghi lễ, người hành lễ đeo một miếng da trâu khô hoặc đội nón

Ở: Họ thường sống từng làng ở vùng núi đất các huyện Hoàng Su Phì, Xín Mần

(Hà Giang) Nhà của mỗi gia đình là một quần thể kiến trúc gồm nhà sàn - nhà trệt - kho thóc trong một phạm vi không gian hẹp

Kiểu kiến trúc kết hợp chặt chẽ giữa sàn và nhà trệt là một sáng tạo văn hoá độc đáo Mỗi nhà gồm hai phần bằng nhau, mái lồng vào nhau, phần nhà sàn để ở, phần nhà trệt là nơi làm bếp

Lên nhà mới phải mời thầy cúng về cúng xua đuổi ma bằng cách dùng ba cây cỏ lá khua bốn góc nhà, bắt đầu từ góc của bố mẹ trước Nếu người con trai đã có bàn thờ ở nhà cũ thì tháo bàn thờ đó về lắp ở nhà mới trong vị trí của người chủ gia đình Trong suốt 13 ngày kể từ hôm lên nhà mới, bếp lửa luôn luôn sáng thì mới may mắn

Trang 17

Phương tiện vận chuyển: Có sự kết hợp giữa cách vận chuyển của cư dân vùng

cao và cư dân vùng thung lũng Phụ nữ phổ biến dùng địu đan bằng giang hoặc địu vải

Cái địu đều có quai đeo trên trán để chuyên trở Ðàn ông dùng địu có hai quai đeo vai kiểu địu của người Hmông hoặc dùng đòn gánh đôi dậu Người La Chí địu trẻ em trên lưng khi đi xa hoặc lúc làm việc

Chiếc máng lần là phương tiện dẫn nước phổ biến về đến tận nhà hay gần nhà Từ bến nước người ta chứa nước vào những ống bương dài tới 1,5m và vác lên nhà sàn để gần chạn bát dùng dần

Dùng ngựa để thồ hàng cũng là một phương tiện phổ biến

Các quan hệ xã hội: Gia đình ba thế hệ hay các cặp vợ chồng cùng thế hệ chung

sống với nhau là phổ biến Mỗi họ có người đứng chăm lo việc cúng Ðó không phải là trưởng họ mà chỉ là người biết cúng Người ta chọn người giữ vị trí này bằng cách bói xem xương đùi gà

Ði xa người La Chí thường đeo túi vải nhuộm chàm vắt chéo qua vai

Người La Chí có cách gọi tên theo nguyên tắc phụ tử liên doanh với công thức là:

họ - pô (bố) - tên con - tên riêng của người được gọi Người phụ nữ có con được gọi theo công thức sau: Mìa (mẹ) - tên con cả - tên chồng

Tục nhận bố mẹ nuôi cho trẻ sơ sinh khá phổ biến Trẻ chào đời sau ba buổi sáng, gia chủ đặt một sợi chỉ đỏ trên một trên một bát nước đầy ở trên bàn thờ, chờ ai đó vào nhà trước sẽ được làm bố mẹ nuôi, đặt tên cho cháu bé Trẻ khóc nhiều được quan niệm

là tên chưa hợp, phải bói tìm dòng họ thích hợp làm bố mẹ nuôi đặt tên cho con

Thờ cúng: Người ta cúng tổ tiên vào các dịp lễ tết Tổ tiên được cúng ba đời đối

với nam, hai đời đối với nữ Theo phong tục, bố mẹ chôn ngày nào con cái nhớ suốt đời không được gieo giống hay cho vay, mượn vào ngày đó Ðó không phải là ngày sinh sôi, phát triển

Trong một nhà có nhiều bàn thờ cho mỗi người đàn ông

Trang 18

Trong lễ cưới của người dân tộc La Chí, khi đón dâu về tới chân cầu thang nhà sàn, nhà trai chuẩn bị sẵn một thùng nước ấm để người phù dâu rửa chân cho cô dâu và rửa chân

mình trước lúc bước lên cầu thang vào nhà

Bàn thờ dựng theo thứ tự của bố, con trai út, các con trai thứ, trong cùng của con trai cả Mỗi bàn thờ được coi là hoàn thành phải qua ba lần cúng dỡ đi lập lại bàn thờ mới

Học: Các kiến thức và kinh nghiệm dân gian được trao truyền giữa các thế hệ

bằng miệng Thần thoại, cổ tích đặc biệt phong phú giải thích cho thế hệ trẻ nhiều hiện tượng thiên nhiên và xã hội theo quan niệm dân gian

nghệ: Ngày tết, lễ trai gái thường hát đối đáp, chơi đàn tính 3 dây, đàn môi

Trống, chiêng được dùng phổ biến

Chơi: Tết Nguyên đán nam nữ thường tập trung ở bãi rộng chơi ném còn, đánh

quay, chơi đu thăng bằng Tết tháng tám họ chơi đu dây Trẻ em thích chơi ống phốc

1.2 Một vài đặc điểm về bài dân ca

- Tính chất: có tính vui tươi nhẹ nhàng

- Hàng âm, điệu thức

+ Hàng âm bài này khá đặc biệt chỉ có 4 âm cụ thể:

+ Ba âm đầu của hàng âm tạo thành hợp âm 3 trưởng, hay nói cách khác ba âm đầu là 3 âm chính của điệu thức trưởng

Khi xướng âm bài này không nhất thiết phải đọc hàng âm, hay gam rải mà chỉ cần đọc đúng 3 âm chính của giọng trưởng (cụ thể là các bậc I, III, V của giọng Pha trưởng)

là được

- Cách hát

+ Hát nhẹ nhàng, không cần dùng nhiều kỹ thuật Thanh nhạc

+ Chú ý các âm luyến và những đoạn giai điệu có nhảy quãng xa

Trang 19

2 Thực hành

Bước 1: Chuẩn bị

- Bản nhạc, tư liệu nghe bài dân ca …

- Xác định âm vực phù hợp cho giọng hát

Bước 2: Đọc Gam rải

- Đọc gam rải đi lên, đi xuống

- Chú ý đọc chậm và nhớ âm các bậc của gam

Bước 3: Xướng âm

- Xướng âm từng phần, đoạn của bài

- Chú ý: phải xướng âm cả các nốt hoa mỹ, đọc chậm Khi xướng âm bị sai hoặc lạc giọng cần đọc lại gam rải của bài

Bước 4: Ghép lời, hát theo giai điệu

- Trên cơ sở giai điệu xướng âm, ghép lời theo đúng vị trí trên bản nhạc

- Chú ý: hát từng phần với tốc độ chậm vừa Cần hát đúng đủ các âm luyến, láy và sắc thái của bài

Bước 5: Hát hoàn thiện cả bài

- Hát đầy đủ bài đúng tốc độ, sắc thái

- Chú ý phần sắc thái như các rung, láy, luyến vì sắc thái là đặc trưng, cái hồn của bài

Nội dung bài dân ca: Mưa rơi (Dân ca Xá)

Trang 20

3 Hướng dẫn tự học

Tìm và nghe bài dân ca Mưa rơi

Tìm hiểu và nghe thêm các bài dân ca khác

Trang 21

Bài 3 Soi bóng bên hồ (Dân ca Giáy)

MỤC TIÊU:

Sau khi học xong bài này, người học có khả năng:

- Kiến thức: trình bày được một số đặc điểm về văn hoá dân tộc Giáy; trình bày được đặc điểm bài dân ca Soi bóng bên hồ

- Kỹ năng: Hát được giai điệu của bài hát

- Năng lực tự chủ và trách nhiệm: tự học, tự tiểm hiểu các bài dân ca

NỘI DUNG CHÍNH

1 Lý thuyết

1.1 Khái quát về dân tộc Giáy

Tên tự gọi: Giáy

Tên gọi khác: Nhắng, Giẳng

Dân số: 58.617 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009) Ngôn ngữ: Tiếng Giáy thuộc ngữ hệ Thái - Ka Ðai

Lịch sử: Người Giáy từ Trung quốc di cư sang Việt Nam cách đây khoảng 200

năm

Làm ngói là một trong những nghề thủ công của người Giáy ở Hà Giang Ngói Âm

dương (ngói máng) được tạo dáng bằng bàn xoay tạo hình ống, phơi khô rồi cắt lát trước khi đưa vào lò nung

Hoạt động sản xuất: Người Giáy có nhiều kinh nghiệm canh tác lúa nước trên

những triền ruộng bậc thang Bên cạnh đó họ còn làm thêm nương rẫy trồng ngô, lúa, các loại cây có củ và rau xanh Chăn nuôi theo lối thả rông Có một số nghề thủ công nhưng chưa phát triển

Ăn: Ăn cơm tẻ Gạo được luộc cho chín dở rồi mới cho vào chõ đồ lên như đồ xôi

Nước luộc gạo dùng làm đồ uống Cách chế biến món ăn, nhất là ăn trong ngày lễ, ngày tết chịu ảnh hưởng sâu sắc của người Hán

Mặc: Trước kia phụ nữ mặc váy xoè giống như váy của người Hmông Ngày nay

họ mặc quần màu chàm đen có dải vải đỏ đắp trên phần cạp, áo cánh 5 thân xẻ tà, dài quá mông, cài khuy bên nách phải, hò áo và cổ tay áo viền những dải vải khác màu Tóc vấn quanh đầu với những sợi chỉ hồng thả theo đuôi tóc Vai khoác túi thêu chỉ màu với hoa văn là những đường gấp khúc Nam giới mặc quần lá toạ, áo cánh xẻ tà, mở khuy ngực

Trang 22

Ở: Người Giáy cư trú ở các huyện Bát Xát, Bảo Thắng, Mường Khương (Lào

Cai), Yên Minh, Ðồng Văn (Hà Giang), Phong Thổ, Mường Tè (Lai Châu) Nhà sàn là nhà ở truyền thống Hiện nay, kiểu nhà sàn vẫn phổ biến trong bộ phận người Giáy ở Hà Giang, còn bộ phận ở Lao Cai và Lai Châu ở nhà đất nhưng phía trước nhà vẫn là sàn phơi Nhà thường có 3 gian, bàn thờ đặt ở gian giữa

Phương tiện vận chuyển: Họ gánh bằng dậu, dùng ngựa thồ, trâu kéo

Nữ phục Giáy mang phong cách từng địa phương khá đậm Chẳng hạn, phụ nữ ở Hà Giang thì mặc váy và áo dài, gần với chiếc áo của người Nùng Ngược lại, như trong

ảnh, nữ giới ở Lào Cai lại mặc quần và áo ngắn

Quan hệ xã hội: Trước Cách mạng tháng Tám, xã hội người Giáy có sự phân hoá

giai cấp rõ rệt Tầng lớp trên là những chức dịch trong bộ máy chính quyền ở xã, thôn bản, nhiều người được hưởng ruộng công do dân cày cấy, có rừng thảo quả do dân trồng,

có lính phục dịch, có người lo việc tang, việc cưới, đôi khi có cả đội xoè Nông dân, ngoài đóng thuế còn phải làm lao dịch và cống nạp cho các chức dịch

Cưới xin: Gồm nhiều nghi lễ: dạm hỏi, thả mối, ăn hỏi, cưới và lại mặt Trong lễ

ăn hỏi nhà trai đưa cho nhà gái một vòng cổ và một vòng tay để "đánh dấu" Trong lễ cưới ngoài chi phí cho ăn uống, nhà trai còn phải mang cho nhà gái một số thực phẩm và tiền để làm quà tặng họ hàng gần; mỗi người một con gà, một con vịt và một đồng bạc trắng ở người Giáy cũng có tục kéo vợ như người Hmông

Sinh đẻ: Khi có thai phụ nữ phải kiêng nhiều thứ: không đun củi từ ngọn lên gốc

(sợ đẻ ngược), không đến đám tang hay nơi thờ cúng (sợ mất vía) Gần đến ngày đẻ, họ phải cúng mụ Trẻ đầy tháng cúng báo tổ tiên, đặt tên và lập lá số cho trẻ để sau này đem

so tuổi khi lấy vợ, lấy chồng và chọn giờ nhập quan, hạ huyệt khi chết đi

Ma chay: Người Giáy cho rằng khi người ta chết, nếu ma chay chu đáo thì sẽ

được lên trời sống sung sướng cùng với tổ tiên, nếu không sẽ bị đưa xuống âm ti hoặc biến thành con vật Vì thế, ở những gia đình khá giả đám tang có thể kéo dài tới 5-7 ngày

và có thêm một số nghi lễ như thả đèn trôi sông, rước hồn đi dạo Con cái để tang bố mẹ một năm Lễ đoạn tang thường được tổ chức vào dịp cuối năm

Trang 23

Cũng giống như các dân tộc khác thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái, người Giáy thường

cư trú ở các thung lũng, nơi có nhiều điều kiện làm ruộng nước Cảnh quan quê hương

thường trù phú được vẻ đẹp trữ tình

Thờ cúng: Bàn thờ đặt ở gian giữa, thường có ba bát hương theo thứ tự từ trái

sang phải thờ táo quân, trời đất và tổ tiên Trong trường hợp chủ nhà là con nuôi hay con

rể thừa tự muốn thờ họ bố mẹ đẻ thì đặt thêm một bát hương ở bên trái Những gia đình không thờ bà mụ trong buồng thì đặt thêm một bát hương ở bên phải Ở một số gia đình ngoài bàn thờ lớn còn đặt một bàn thờ nhỏ để thờ bố mẹ vợ Phía dưới bàn thờ lớn ngay trên mặt đất đặt một bát hương cúng thổ địa, ở hai bên cửa chính có hai bát hương thờ thần giữ cửa

Lễ tết: Người Giáy ăn Tết như các dân tộc ở vùng Ðông Bắc: Tết Nguyên đán,

Thanh minh, Ðoan ngọ

Lịch: Người Giáy theo âm lịch

Học: Người Giáy chưa có văn tự, chỉ có một số rất ít người biết chữ Hán

Văn nghệ: trong kho tàng văn nghệ của người Giáy có truyện cổ, thơ ca, tục ngữ,

đồng dao, phong dao Ở người Giáy có ba kiểu hát mà họ gọi là "vươn" hay "phướn" hát bên mâm rượu, hát đêm và hát tiễn dặn

1.2 Một vài đặc điểm về bài dân ca

- Tính chất: Giai điệu có tính vui tươi nhẹ nhàng, đôi lúc mang chút mong chờ

- Hàng âm điệu thức

+ Hàng âm của bài có năm âm cụ thể:

+ Xét về cấu tạo hàng âm thì hàng âm trên giống với điệu thức Cung (cụ thể Pha cung) trong điệu thức ngũ cung Màu sắc của điệu thức này gần với điệu thức trưởng

- Nhịp: bài có nhịp biến đổi giữa nhịp 2/4 và nhịp ¾

Khi hát cần chú ý các âm hoa mỹ, tiết nhịp đối với những lần ch

Trang 24

2 Thực hành

Bước 1: Chuẩn bị

- Bản nhạc, tư liệu nghe bài dân ca …

- Xác định âm vực phù hợp cho giọng hát

Bước 2: Đọc Gam rải

- Đọc gam rải đi lên, đi xuống

- Chú ý đọc chậm và nhớ âm các bậc của gam

Bước 3: Xướng âm

- Xướng âm từng phần, đoạn của bài

- Chú ý: phải xướng âm cả các nốt hoa mỹ, đọc chậm Khi xướng âm bị sai hoặc lạc giọng cần đọc lại gam rải của bài

Bước 4: Ghép lời, hát theo giai điệu

- Trên cơ sở giai điệu xướng âm, ghép lời theo đúng vị trí trên bản nhạc

- Chú ý: hát từng phần với tốc độ chậm vừa Cần hát đúng đủ các âm luyến, láy và sắc thái của bài

Bước 5: Hát hoàn thiện cả bài

- Hát đầy đủ bài đúng tốc độ, sắc thái

- Chú ý phần sắc thái như các rung, láy, luyến vì sắc thái là đặc trưng, cái hồn của bài

Nội dung bài: Soi bóng bên hồ (Dân ca Giáy)

Trang 25

3 Hướng dẫn tự học

Tìm và nghe bài dân ca …

Tìm hiểu và nghe thêm các bài dân ca

Trang 26

Bài 4 Inh lả (Dân ca Thái)

MỤC TIÊU:

Sau khi học xong bài này, người học có khả năng:

- Kiến thức: trình bày được một số đặc điểm về văn hoá dân tộc Thái; trình bày được đặc điểm bài dân ca Inh lả

- Kỹ năng: Hát được giai điệu của bài hát

- Năng lực tự chủ và trách nhiệm: tự học, tự tiểm hiểu các bài dân ca

NỘI DUNG CHI TIẾT:

1 Lý thuyết

1.1 Khái quát về dân tộc Thái

Tên tự gọi: Tay hoặc Thay

Tên gọi khác: Tay Thanh, Man Thanh, Tay Mười, Tày Mường, Hàng Tổng, Tay

Dọ, Thổ

Nhóm địa phương: Ngành Ðen (Tay Ðăm), Ngành trắng (Tay Ðón hoặc Khao) Dân số: 1.550.423 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009) Ngôn ngữ: Thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai)

Lịch sử: Người Thái có cội nguồn ở vùng Đông Nam Á lục địa, tổ tiên xa xưa của

người Thái có mặt ở Việt Nam từ rất sớm

Hoạt động sản xuất: Người Thái sớm đi vào nghề trồng lúa nước trong hệ thống thuỷ lợi thích hợp được đúc kế như một thành ngữ - "mương, phai, lái, lịn" (khơi mương, đắp đập, dẫn nước qua vật chướng ngại, đặt máng) trên các cánh đồng thung lũng Họ làm ruộng cấy một vụ lúa nếp, nay chuyển sang 2 vụ lúa tẻ Họ còn làm nương để trồng thêm lúa, ngô, hoa màu, cây thực phẩm và đặc biệt bông, cây thuốc nhuộm, dâu tằm để dệt vải

Cót xát rất phổ biến ở vùng người Thái, dùng để trải trên sàn trước khi xếp chiếu phục tay và các tấm đệm ngủ lên trên Cót được đan bằng cây mạy loi, một loại cây thuộc loài

tre, nứa mọc trên núi đá vôi cao

Ăn: Ngày nay gạo tẻ đã trở thành lương thực chính, gạo nếp vẫn được coi là lương

ăn truyền thống Gạo nếp ngâm, bỏ vào chõ, đặt lên bếp, đồ thành xôi Trên mâm ăn

Trang 27

không thể thiếu được món ớt giã hoà muối, tỏi, có rau thơm, mùi, lá hành có thể thêm gan gà luộc chín, ruột cá, cá nướng gọi chung là chéo Hễ có thịt các con vật ăn cỏ thuộc loài nhai lại thì buộc phải có nước nhúng lấy từ lòng non (nặm pịa) Thịt cá ăn tươi thì làm món nộm, nhúng (lạp, cỏi), ướp muối, thính làm mắm; ăn chín, thích hợp nhất phải kể đến các món chế biến từ cách nướng, lùi, đồ, sấy, sau đó mới đến canh, xào, rang, luộc Họ ưa thức ăn có các vị: cay, chua, đắng, chát, bùi, ít dùng các món ngọt, lợ, đậm, nồng hay uống rượu cần, cất rượu Người Thái hút thuốc lào bằng điếu ống tre, nứa và chạm bằng mảnh đóm tre ngâm, khô nỏ Người Thái Trắng trước khi hút còn có lệ mời người xung quanh như trước khi ăn

Mặc: Cô gái Thái đẹp nhờ mặc áo cánh ngắn, đủ màu sắc, đính khuy bạc hình

bướm, nhện, ve sầu chạy trên đường nẹp xẻ ngực, bó sát thân, ăn nhịp với chiếc váy vải màu thâm, hình ống; thắt eo bằng dải lụa màu xanh lá cây; đeo dây xà tích bạc ở bên hông Ngày lễ có thể vận thêm áo dài đen, xẻ nách, hoặc kiểu chui đầu, hở ngực có hàng khuy bướm của áo cánh, chiết eo, vai phồng, đính vải trang trí ở nách, và đối vai ở phía trước như của Thái Trắng Nữ Thái Ðen đội khăn piêu nổi tiếng trong các hình hoa văn thêu nhiều màu sắc rực rỡ Nam người Thái mặc quần cắt để thắt lưng; áo cánh xẻ ngực

có túi ở hai bên gấu vạt, áo người Thái Trắng có thêm một túi ở ngực trái; cài khuy tết bằng dây vải Màu quần áo phổ biến là đen, có thể màu gạch non, hoa kẻ sọc hoặc trắng Ngày lễ mặc áo đen dài, xẻ nách, bên trong có một lần áo trắng, tương tự để mặc lót Bình thường cuốn khăn đen theo kiểu mỏ rìu Khi vào lễ cuốn dải khăn dài một sải tay

Ở: Ở nhà sàn, dáng vẻ khác nhau: nhà mái tròn khum hình mai rùa, hai đầu mai

rùa, hai đầu mái hồi có khau cút; nhà 4 mái mặt bằng sàn hình chữ nhật gần vuông, hiên

có lan can; nhà sàn dài, cao, mỗi gian hồi làm tiền sảnh; nhà mái thấp, hẹp lòng, gần giống nhà người Mường

Phương tiện vận chuyển: Gánh là phổ biến, ngoài ra gùi theo kiểu chằng dây đeo

vắt qua trán, dùng ngựa cưỡi, thồ nay ở dọc các con sông lớn họ rất nổi tiếng trong việc xuôi ngược bằng thuyền đuôi én

Quan hệ xã hội: Cơ cấu xã hội cổ truyền được gọi là bản mường hay theo chế độ

phìa tạo Tông tộc Thái gọi là Ðằm Mỗi người có 3 quan hệ dòng họ trọng YẾU: ẢI Noong (tất cả các thành viên nam sinh ra từ một ông tổ bốn đời) Lung Ta (tất cả các thành viên nam thuộc họ vợ của các thế hệ) Nhinh Xao (tất cả các thành viên nam thuộc

họ người đến làm rể) (tất cả các thành viên nam sinh ra từ một ông tổ bốn đời) Lung Ta (tất cả các thành viên nam thuộc họ vợ của các thế hệ) Nhinh Xao (tất cả các thành viên nam thuộc họ người đến làm rể)

Trang 28

Ðưa tiến bộ kỹ thuật vào cuộc sống đảm bảo sự phát triển bền vững của các dân tộc

Nuôi cá lồng trên sông, suối là mọt nghề mới mang lại thu nhập cao

Cưới xin: Trước kia người Thái theo chế độ hôn nhân mua bán và ở rể nên việc

lấy vợ và lấy chồng phải qua nhiều bước, trong đó có 2 bước cơ bản:

Cưới lên (đong khửn) - đưa rể đến cư trú nhà vợ - là bước thử thách phẩm giá, lao động của chàng rể Người Thái Ðen có tục búi tóc ngược lên đỉnh đầu cho người vợ ngay sau

lễ cưới này Tục ở rể từ 8 đến 12 năm

Cưới xuống (đong lông) đưa gia đình trở về với họ cha

Sinh đẻ: Phụ nữ đẻ theo tư thế ngồi, nhau bỏ vào ống tre đem treo trên cành cây ở

rừng Sản phụ được sưởi lửa, ăn cơm lam và kiêng khem một tháng; ống lam bó đem treo trên cành cây Có nghi thức dạy trẻ lao động theo giới và mời Lung Ta đến đặt tên chi cháu

Ma chay: Lễ tang có 2 bước cơ bản:

Pông: Phúng viếng tiễn đưa hồn người chết lên cõi hư vô, đưa thi thể ra rừng chôn (Thái Trắng), thiếu (Thái Ðen)

Xống: gọi ma trở về ngụ ở gian thờ cúng tổ tiên ở trong nhà

Nhà mới: Dẫn chủ nhân lên nhận nhà Lung Ta châm lửa đốt củi ở bếp mới Người

ta thực hiện tại nghi lễ, cúng đọc bài mo xua đuổi điều ác thu điều lành, cúng tổ tiên, vui chơi

Lễ tết: Cúng tổ tiên ở người Thái Ðen vào tháng 7, 8 âm lịch Người Thái Trắng

ăn tết theo âm lịch Bản Mường có cúng thần đất, núi, nước và linh hồn người làm trụ cột

Lịch: Theo hệ can chi như âm lịch Lịch của người Thái Ðen chênh với âm lịch 6

tháng

Học: Người Thái có mẫu tự theo hệ Sanscrit Họ học theo lệ truyền khẩu Người

Thái có nhiều tác phẩm cổ viết về lịch sử, phong tục, luật tục và văn học

Văn nghệ: Người Thái có các điệu xoè, các loại sáo lam và tiêu, có hát thơ, đối

đáp giao duyên phong phú

Chơi: Trò chơi của người Thái phổ biến là ném còn, kéo co, đua ngựa, dạo

thuyền, bắn nỏ, múa xoè, chơi quay và quả mák lẹ Nhiều trò chơi cho trẻ em

Mỗi nhà người Thái thường có hai bếp, một bếp để tiếp khách, sưởi ấm, một bếp khác để nấu cơm Chõ xôi (ninh đồng, chõ gỗ) được đặt trên 3 ông đầu rau bằng đá Phía trên bếp có giàn để các thức cần sấy khô Người Thái thường dùng ghế mây tròn để ngồi

Trang 29

1.2 Một vài đặc điểm về bài dân ca

- Tính chất

Hàng âm, điệu thức

+ Bài này chỉ có 4 âm, cụ thể:

+ Bốn âm của bài có vai trò như nhau, không có âm nào mang tính âm tựa Do vậy khi đọc hàng âm thì có có linh hoạt nhiều cách khác nhau Có thể đọc theo hàng âm trên hoặc các thể khác miễn sao vang lên 4 âm

2 Thực hành

Bước 1: Chuẩn bị

- Bản nhạc, tư liệu nghe bài dân ca …

- Xác định âm vực phù hợp cho giọng hát

Bước 2: Đọc Gam rải

- Đọc gam rải đi lên, đi xuống

- Chú ý đọc chậm và nhớ âm các bậc của gam

Bước 3: Xướng âm

- Xướng âm từng phần, đoạn của bài

- Chú ý: phải xướng âm cả các nốt hoa mỹ, đọc chậm Khi xướng âm bị sai hoặc lạc giọng cần đọc lại gam rải của bài

Bước 4: Ghép lời, hát theo giai điệu

- Trên cơ sở giai điệu xướng âm, ghép lời theo đúng vị trí trên bản nhạc

- Chú ý: hát từng phần với tốc độ chậm vừa Cần hát đúng đủ các âm luyến, láy và sắc thái của bài

Bước 5: Hát hoàn thiện cả bài

- Hát đầy đủ bài đúng tốc độ, sắc thái

- Chú ý phần sắc thái như các rung, láy, luyến vì sắc thái là đặc trưng, cái hồn của bài

Nội dung bài Inh lả (Dân ca Thái)

Trang 30

3 Hướng dẫn tự học

Tìm và nghe bài dân ca …

Tìm hiểu và nghe thêm các bài dân ca

Trang 31

Bài 5 Bà rằng bà rí (Dân ca Phú Thọ)

MỤC TIÊU:

Sau khi học xong bài này, người học có khả năng:

- Kiến thức: kể tên được các lề lối hát Quan họ, những đặc điểm về bài dân Bèo dạt mây trôi

- Kỹ năng: Hát được giai điệu cơ bản bài Bèo dạt mây trôi

- Năng lực tự chủ và trách nhiệm: tự học và tìm hiểu các bài dân ca

NỘI DUNG CHÍNH

NỘI DUNG CHI TIẾT:

1 Lý thuyết

1.1 Khái quát về dân tộc

Phú Thọ là mảnh đất cội nguồn, đất phát tích của dân tộc với chiều dài mấy ngàn năm lịch sử Phú Thọ hiện còn bảo tồn được những di sản độc đáo, đặc sắc vô giá đồng thời được ghi nhận, tôn vinh

Quá trình khảo cổ quanh Khu Di tích lịch sử Đền Hùng với các di vật tìm được đã minh chứng nơi đây là trung tâm chính trị của Nhà nước Văn Lang xưa đồng thời còn là Cung điện, nơi các Vua Hùng xưa lập điện thờ trời và bàn việc nước Tại nơi này, qua khảo cổ cũng như trong quá trình lao động, người dân còn tìm được nhiều hiện vật quý giá có niên đại trên 4000 năm như: gốm sứ, rìu đá, mũi tên đồng, trống đồng, đặc biệt, ngay bên núi Nghĩa Lĩnh còn tìm được chiếc trống đồng có niên đại 3.500 năm, là trống đồng lớn nhất Việt Nam và Đông Nam Á hiện nay

Di chỉ khảo cổ Sơn Vi thuộc nền Văn hóa Đông Sơn, Gò Mun, Đồng Đậu Di chỉ được phát hiện từ những năm 1965, hiện vật tìm được đã chứng minh về sự sinh sống và phát triển rực rỡ của con người trên mảnh đất này có niên đại cách ngày nay 3.500-4.000 năm Đặc biệt, Khu Di tích lịch sử Quốc gia Di tích Làng Cả được khai quật lần đầu tiên vào năm 1976, qua nhiều lần khảo cứu cho thấy, Làng Cả là một di chỉ cư trú thuộc Văn hóa Đông Sơn Các nhà sử học đã khẳng định Khu Di tích di chỉ này có niên đại từ cuối thế kỷ IV đến nửa cuối thế kỷ II trước Công nguyên Đối chiếu với lịch sử, thư tịch và truyền thuyết thì Di tích Làng Cả được xác định vào thời đại Hùng Vương thời khởi đầu dựng nước và có trước cuộc xâm lược của nhà Hán Gần đây nhất, năm

2005, tỉnh Phú Thọ phối hợp với Viện Khảo cổ học Việt Nam tiến hành khai quật thứ 3, trong đợt khảo cổ này đã phát hiện nhiều hiện vật quí, trong đó có 10 mộ táng đều là loại

mộ đất thuộc thời đại kim khí, đồ tùy táng đều là đồ gốm sứ thuộc Văn hóa Đông Sơn… Kết quả khai quật đã khẳng định rằng, nơi đây chính là trung tâm kinh tế, văn hóa chính trị thời Hùng Vương, thời Bắc thuộc và thời phong kiến tự trị

Trang 32

Khu Di tích lịch sử Đền Hùng(Ảnh: TL)

Cùng với Khu Di tích lịch sử Làng Cả, Khu Di chỉ Xóm Rền thuộc xã Gia Thanh – huyện Phù Ninh và khu Gò De (Thanh Đình - Lâm Thao) cũng đã được công nhận là di tích khảo cổ Quốc gia Tại các khu khảo cổ này đã thu được nhiều hiện vật quí như: đồ kim khí, nha chương, gốm sứ, đặc biệt là ngôi mộ cổ có niên đại cách đây 4.000 năm Qua đồ tùy táng, các nhà khảo cổ học khẳng định, người nằm dưới mộ phải là người có quyền uy tối thượng Tại khu khảo cổ xã Gia Thanh còn phát hiện nhiều hiện vật quí có niên đại trên 3.500 năm trên địa bàn rộng lớn, chứng tỏ xưa kia nơi đây có nền văn minh phát triển rực rỡ Song song với khảo cổ học, Phú Thọ còn bảo lưu được nhiều loại hình nghệ thuật dân gian dân vũ, nhiều loại hình có nguồn gốc từ xa xưa thật độc đáo và đặc sắc như: diễn xướng dân gian, diễn xướng bách nghệ khôi hài, đâm đuống, đánh trống đồng, múa chuông, múa rùa, múa khèn, múa lập tĩnh, diễn xướng cồng chiêng, trống đu,

ca trù, múa chim gâu xúc tép… Phú Thọ cũng là một trong tỉnh phát triển ca trù từ rất sớm và là 1 trong 15 tỉnh, thành phố trong cả nước hiện còn gìn giữ bảo lưu và phát triển được loại hình nghệ thuật này Cùng nhiều ca nương tài sắc đặc biệt còn có nghệ nhân Phạm Thị Bang, ca nương tiếng tăm một thuở từng hát trong những cung to, phủ lớn dưới thời phong kiến Nay đã bước sang tuổi 87 nhưng cụ Bang vẫn nhớ được 8 giọng hát chính và 38 giọng hát lẻ của hát bát thanh; trong đó cụ hát được nhiều giọng như: giọng chầu văn, giọng hát tuồng, giọng xướng tế, giọng xẩm, giọng khóc… và nhiều điệu hát như: xẩm chèo, kể chuyện… Đặc biệt, cụ còn nhớ được gần 40 bài hát Mưỡu và hát Nói, hơn chục bài hát thờ Được biết, Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam đã tặng thưởng Kỷ

Trang 33

niệm chương vì sự nghiệp dân gian Việt Nam và bằng công nhận danh hiệu Nghệ nhân dân gian cho Nghệ nhân Phạm Thị Bang

Với Phú Thọ, dân ca xoan, ghẹo là 2 loại hình nghệ thuật tiêu biểu, có chiều dài lịch sử

mấy ngàn năm, từ thời các Vua Hùng dựng nước.(Ảnh: TL)

Với Phú Thọ, dân ca xoan, ghẹo là 2 loại hình nghệ thuật tiêu biểu, có chiều dài lịch sử mấy ngàn năm, từ thời các Vua Hùng dựng nước Hát Xoan tồn tại lâu đời ở hai

xã Kim Đức và Phượng Lâu, thuộc huyện Phong Châu, sau đó là huyện Phù Ninh (cũ), nay thuộc thành phố Việt Trì Trước Cách mạng tháng Tám 1945, hát Xoan thường được trình diễn vào mùa xuân trong những ngày hội đám ở một số đình làng trong tỉnh nên còn được gọi là Hát cửa đình Các phường Xoan cổ đều được bắt nguồn từ những làng cổ nằm ở địa bàn trung tâm Bộ Văn Lang thời các Vua Hùng dựng nước Những người đi hát Xoan thường sống cùng chòm xóm và tổ chức thành phường Người đứng đầu một phường Xoan gọi là ông Trùm Các thành viên thì gọi trai là Kép, gái là Ðào Y phục dân tộc giống quan họ Bắc Ninh, nam mặc áo the, khăn xếp, quần trắng; nữ mặc áo năm thân, khăn mỏ quạ, áo cánh trắng, yếm điều, thắt lưng bao, dải yếm các mầu, quần lụa, đeo xà tích Các tiết mục múa hát thường theo thứ tự nhất định Mở đầu là bốn tiết mục có tính nghi thức, mang nội dung khấn nguyện, chúc tụng, xen mô tả sản xuất Ðây là những bài

ca cổ, chủ yếu hát nói hoặc ngâm ngợi theo thứ tự: giáo trống, giáo pháo, thơ nhang, đóng đám Tiếp theo là phần hát cách gài huê, hát đúm, đánh cá Trước đây, Phú Thọ có

18 làng hát Xoan, trong đó bốn phường Xoan được gọi theo tên làng là: An Thái, Phù Ðức, Kim Ðơi và Thét Năm 2005, hát xoan Phú Thọ là đại diện cho đoàn Việt Nam, là một trong 8 đoàn khu vực và quốc tế tham gia biểu diễn tại Hội thảo Quốc tế về văn hoá dân gian các dân tộc tại Thái Lan Năm 2008, hát Xoan Phú Thọ cũng là một trong những

Trang 34

tiết mục của Việt Nam tham gia Liên hoan nghệ thuật dân tộc Quốc tế tại Hàn Quốc và

đã để lại nhiều ấn tượng Trước nỗi lo thất truyền và mai một về loại hình nghệ thuật đặc sắc này, tỉnh Phú Thọ và các cơ quan chức năng đã vào cuộc nhằm bảo tồn, gìn giữ và phát triển, cùng với việc triển khai lập hồ sơ Sau quá trình triển khai thực hiện, Hồ sơ

"Hát Xoan Phú Thọ", ứng cử vào danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp của nhân loại đã chính thức trình UNESCO theo đúng thời hạn

hồ sơ về: tín ngưỡng thờ tự Hùng Vương trình UNESCO công nhận là di sản phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp Với nhận thức đúng đắn về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa vùng đất Tổ, chúng ta tin tưởng rằng, Phú Thọ sẽ sớm trở thành trung tâm lễ hội về với cội nguồn dân tộc Việt Nam

Trang 35

1.2 Một vài đặc điểm về bài dân ca

- Tính chất: bài hát có tính vui tươi, mang tính châm biếm nhẹ nhàng

- Tốc độ nhanh

- Hàng âm, điệu thức

+ Hàng âm của bài có 5 âm, cụ thể:

+ Xét cấu tạo trên, hàng âm gần với điệu thức vũ (cụ thể Mi vũ) trong hệ thống điệu thức ngũ cung

- Cách hát:

+ Chú ý đến các tiết tấu móc giật, các lời,

+ Chú ý đến phần giai điệu có bước nhảy

2 Thực hành

Bước 1: Chuẩn bị

- Bản nhạc, tư liệu nghe bài dân ca …

- Xác định âm vực phù hợp cho giọng hát

Bước 2: Đọc Gam rải

- Đọc gam rải đi lên, đi xuống

- Chú ý đọc chậm và nhớ âm các bậc của gam

Bước 3: Xướng âm

- Xướng âm từng phần, đoạn của bài

- Chú ý: phải xướng âm cả các nốt hoa mỹ, đọc chậm Khi xướng âm bị sai hoặc lạc giọng cần đọc lại gam rải của bài

Bước 4: Ghép lời, hát theo giai điệu

- Trên cơ sở giai điệu xướng âm, ghép lời theo đúng vị trí trên bản nhạc

- Chú ý: hát từng phần với tốc độ chậm vừa Cần hát đúng đủ các âm luyến, láy và sắc thái của bài

Bước 5: Hát hoàn thiện cả bài

- Hát đầy đủ bài đúng tốc độ, sắc thái

- Chú ý phần sắc thái như các rung, láy, luyến vì sắc thái là đặc trưng, cái hồn của bài

Nội dung bài Bà rằng bà rí (Dân ca Phú Thọ)

Ngày đăng: 14/04/2022, 07:57

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w