1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

SÁNG KIẾN MÔN NGỮ VĂN THCS

62 9 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 1,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT Giáo dục và đào tạo GDĐT Trường Trung học cơ sở Trường THCS Sách giáo khoa SGK Giáo viên GV Học sinh HS Tập làm văn TLV Nhà xuất bản NXB Phản biện PB MỤC LỤC 1A MỞ ĐẦU 11 Lí do chọn đề tài 12 Mục đích nghiên cứu đề tài 23 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 24 Giả thuyết nghiên cứu 25 Nhiệm vụ nghiên cứu 26 Phạm vi và giới hạn đề tài 27 Phương pháp nghiên cứu 3B NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 3Chương 1 Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu 31 Cơ sở khoa học 42 Cơ sở thực tiễn 5Chương.

Trang 1

- Giáo dục và đào tạo : GD&ĐT

- Trường Trung học cơ sở : Trường THCS

Trang 2

A MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu đề tài 1

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2

4 Giả thuyết nghiên cứu: 2

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 2

6 Phạm vi và giới hạn đề tài: 2

7 Phương pháp nghiên cứu: 2

B NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 3

Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu 3

1 Cơ sở khoa học 3

2 Cơ sở thực tiễn 4

Chương 2: Thực trạng của vấn đề nghiên cứu 5

I Đặc điểm tình hình 5

II Thực trạng vấn đề nghiên cứu 5

Chương 3: Giải pháp nghiên cứu 11

I Mục tiêu của giải pháp 11

II Mô tả bản chất giải pháp 13

III Các bước thực hiện giải pháp 13

1 Một số nhân tố tiền đề/điều kiện để phát huy khả năng phản biện của học sinh trong dạy học môn Ngữ văn 13

2 Một số biện pháp cụ thể nhằm rèn luyện tư duy phản biện cho học sinh lớp 9 trường THCS Nguyễn Trung Trực trong dạy học Ngữ Văn phần truyện trung đại Việt Nam (Gồm 9 giải pháp, loại giải pháp: giải pháp tác nghiệp) 14

IV HIỆU QUẢ THU ĐƯỢC KHI ÁP DỤNG GIẢI PHÁP 31

1 Hiệu quả của sáng kiến 31

2 Tổ chức thu thập minh chứng đánh giá hiệu quả, tác dụng của sáng kiến 31

C KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 34

1 Kết luận 34

2 Kiến nghị, đề xuất 35

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 37

Trang 3

1 Lí do chọn đề tài

Tác phẩm văn học là sản phẩm của quá trình sáng tạo Việc truyền dạy vàcảm nhận nó tất nhiên cũng là một nghệ thuật Nhưng tác phẩm văn học vốn đanghĩa Việc cảm nhận và đánh giá một tác phẩm nghệ thuật cũng thay đổi theothời gian và theo thị hiếu của từng người Có những tác phẩm với người này làmột kiệt tác, nhưng với người khác lại chẳng gây được ấn tượng đặc biệt gì Cónhững vấn đề hôm nay là đúng nhưng ngày sau chưa hẳn thế hoặc ngược lại,ngày trước bị phê phán kịch liệt nhưng ngày nay người ta lại đồng tình, đồngcảm Hơn thế, văn học cũng tuân thủ theo quy tắc riêng của nó Không phảinhững tác phẩm ra đời sau có thể phủ nhận, hoặc đem lại nhiều giá trị mới mẻhơn những tác phẩm ra đời trước Thực tế cho thấy rằng người đọc sẽ tìm thấynhững giá trị mới mẻ của một tác phẩm văn học dù là xưa hay nay, mới ra đờihay ra đời từ lâu nếu có cách nhìn mới Văn học rất cần có những cách nhìn mới,cách cảm mới để tìm ra những giá trị mới Vì vậy trong quá trình dạy học, giáoviên và học sinh có cơ hội để bày tỏ quan điểm của mình Đây chính là lợi thế đểrèn luyện năng lực phản biện của học sinh trong các giờ đọc hiểu văn bản vănhọc ở trường THCS Nhưng trên thực tế bấy lâu nay chúng ta vẫn đang dạy họcmột chiều Nghĩa là vẫn “bắt” học sinh cảm nhận theo cách chúng ta đã hiểu Tấtnhiên chúng ta đã đổi mới phương pháp dạy học một cách mạnh mẽ Điều đó đã

có hiệu quả Nhưng những câu hỏi theo phương pháp dạy học được coi là tíchcực như gợi mở hay nêu vấn đề thì cũng vẫn mang tính “có sẵn”, nghĩa là chohọc sinh lối tư duy theo con đường sẵn có mà ít cho các em tranh luận, phảnbiện theo cách của mình Điều này không chỉ làm giảm đi sức hút của môn Văn

mà còn làm mai một tư duy lập luận phản biện ở những học sinh ưu tú

Mục tiêu giáo dục hiện nay của chúng ta là đào tạo những con người toàndiện, năng động, sáng tạo trong công việc Vậy nên việc rèn luyện và phát huy

khả năng tư duy phản biện của học sinh cần thiết hơn bao giờ hết: “Trang bị cho thế hệ trẻ tư duy phản biện cũng có nghĩa là trang bị cho các em khát vọng đổi mới và khát vọng thành công hơn trong cuộc sống ”(Bùi Thế Nhưng) Hơn nữa

nếu chúng ta muốn học sinh, sinh viên của mình có đủ bản lĩnh, tự tin để thamgia các chương trình đào tạo tiên tiến trên thế giới thì việc rèn luyện năng lựcphản biện cho họ ngay từ khi còn ở cấp THCS là điều thiết thực và quan trọng

Với những lí do trên, tôi mạnh dạn đề xuất sáng kiến: “Rèn luyện tư duy phản biện trong dạy truyện trung đại Việt Nam nhằm phát huy tính tích cực của học sinh lớp 9, trường THCS Nguyễn Trung Trực” Đây không phải là vấn đề

bây giờ mới được bàn đến Song hi vọng, với cái nhìn và phạm vi ứng dụng cụthể cho phân môn đọc hiểu của bộ môn Ngữ Văn 9 phần truyện trung đại, bảnthân tôi sẽ góp phần nhỏ vào việc nâng cao chất lượng dạy học trong các giờ đọchiểu văn bản truyện trung đại nói riêng và kết quả dạy học môn Ngữ văn nóichung

2 Mục đích nghiên cứu đề tài

Trang 4

Trong đề tài này, tôi mạnh dạn trình bày một số nguyên tắc lí thuyết cơbản, thiết thực, nhằm đưa ra một quy trình hoàn chỉnh, trọn vẹn với đầy đủ cáckhâu, các bước để cùng các đồng nghiệp trao đổi, lắng nghe, suy ngẫm nhằmgóp phần làm cho công tác giảng dạy, rèn luyện tư duy phản biện cho học sinhđạt hiệu quả cao Đó là mục tiêu, nhiệm vụ thiết thực của đề tài mà bản thân tôimong muốn đề cập.

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Nghiên cứu về những biện pháp cụ thể nhằm rèn luyện tư duy phản biện

trong dạy học Ngữ văn phần truyện trung đại Việt Nam để góp phần nâng caochất lượng bộ môn ở trường THCS

3.2 Khách thể nghiên cứu

- HS lớp 9 Trường THCS Nguyễn Trung Trực

4 Giả thuyết nghiên cứu:

Việc nghiên cứu trên nếu áp dụng đại trà thì sẽ góp phần nhỏ nâng caohiệu quả giáo dục toàn diện trong trường THCS

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận

- Nghiên cứu cơ sở lý luận được thể hiện trong nghị quyết của Đảng, Luậtgiáo dục và các văn bản của Bộ Giáo dục và Đào tạo

- Thời gian nghiên cứu: Bắt đầu từ ngày 05/09/2020 đến hết năm học

- Không gian nghiên cứu: Trường THCS Nguyễn Trung Trực,Vạn Ninh,Khánh Hòa

- Đối tượng khảo sát: Khảo sát thực trạng của HS tại trường THCSNguyễn Trung Trực,Vạn Ninh, Khánh Hòa trong những năm gần đây

7 Phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp nghiên cứu lý luận

- Phương pháp quan sát

Trang 5

B NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu

tiễn Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời” Một

trong những giải pháp trọng tâm vẫn phải là đổi mới phương pháp dạy học Vậndụng các hình thức, phương pháp, kĩ thuật dạy học sao cho đạt hiệu quả cao nhấttheo yêu cầu của mục tiêu giáo dục là một trong những cách đổi mới thiết thựcnhất

Xu thế tất yếu của GD là đào tạo những con người có khả năng nhạy bén,linh hoạt ứng biến và thuyết phục người khác bằng khả năng tư duy và lập luậncủa mình Điều đó có nghĩa phản biện là năng lực quan trọng của mỗi con ngườitrong xu thế hội nhập toàn cầu hiện nay Ngày nay nhiều nền giáo dục tiên tiếntrên thế giới như Anh, Mĩ đã chú trọng đề cao, tạo điều kiện cho học sinh pháthuy tư duy phản biện, thậm chí coi nó như một môn học chính thức Đối vớigiáo dục Việt Nam những năm gần đây chúng ta cũng đã chú trọng tới vấn đề

Trang 6

này Trong quy định về tiêu chuẩn đánh giá trường trung học cơ sở, trường trunghọc phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học do bộ trưởng GD-ĐT banhành kèm theo thông tư số 13/2012/TT- BGDĐT, ngày 06/4/2012, chương II,

điều 7, mục 2c có nói: “Hướng dẫn học sinh học tập tích cực, chủ động, sáng tạo và biết phản biện ” Việc đổi mới kiểm tra đánh giá theo dạng đề mở những

năm gần đây cũng đã minh chứng rằng giáo dục của chúng ta đang hướng tớiphát triển kĩ năng phản biện cho học sinh

John Forbes Nash đã từng phát biểu: “Trường học làm cùn tư duy, phá hủy tiềm năng về sự sáng tạo thực sự” (Classes will dull your mind, destroy the potential for authentic creativity) Hẳn là có lý do khi ông nói thế Học sinh

ngày nay luôn có nhu cầu tự bộc lộ mình, nhất là trong những tình huống đượcđộng viên, khích lệ, có hứng thú Các em không thích lối tư duy thụ động, phụthuộc vào người khác Cũng không muốn bị áp đặt bởi cách hiểu của ngườikhác Các em thích tìm lí lẽ của riêng mình, có cách nghĩ của bản thân, thậm chí

có khi đó là cách cảm, cách nghĩ táo bạo, vượt khỏi khuôn khổ Nhưng do quanniệm truyền thống, lạc hậu nên nhiều khi vô tình chúng ta đã cản bước tiến củacác em Chúng ta đã vội vàng phủ nhận những lí lẽ mới mẻ hoặc nặng nề hơn là

“kết tội ” Chính điều đó khiến cho môn Văn trở nên nhạt nhẽo trong tâm hồnhọc sinh.Và quan trọng hơn là chúng ta không kích thích được sự phát triển củanăng lực tư duy phản biện cần có của học sinh hiện nay Ở Việt Nam, các nhàquản lí giáo dục đang rất quan tâm, nghiên cứu và đưa việc phản biện vàotrường học như một hoạt động giáo dục thường xuyên, liên tục.Tuy nhiên, vấn

đề này mới dừng lại ở bậc ĐH, Cao đẳng Ở bậc THPT, THCS chưa được quantâm thích đáng Hoặc việc nghiên cứu, vận dụng còn mang tính rời rạc, chưa hệthống, bài bản, hiệu quả

2 Cơ sở thực tiễn

Như trên đã nói, thực tế cho thấy, khả năng phản biện vấn đề ở học sinhTHCS còn tồn tại dưới dạng tiềm năng, chưa được khai thác Nhiều học sinhmuốn phản biện, hoặc đã từng phản biện nhưng chưa được giáo viên tạo điềukiện, chưa được các bạn trong lớp hưởng ứng chân thành Có nhiều lí do khácnhau khiến cho khả năng này chưa trở thành thói quen, thành kỹ năng được.Việc dạy học môn Ngữ văn ở trường THCS vì thế mà cũng trở nên nhàm chánhơn, hình thức truyền thụ một chiều Học sinh nghe, hiểu và làm theo Khôngphản hồi Phát huy được khả năng phản biện vấn đề của học sinh, chắc chắn chấtlượng dạy và học sẽ được nâng lên một mức đáng kể Xu hướng chung củanhững nền giáo dục tiến bộ trên thế giới là xây dựng một nền giáo dục thực sựdân chủ Phản biện của học sinh trong quá trình dạy học là một biểu hiện tíchcực của một giờ học dân chủ và một nền giáo dục dân chủ Phát huy khả năngphản biện của học sinh là một trong những cách góp phần xây dựng những giờhọc đầy ắp không khí dân chủ và một nền giáo dục dân chủ, tiến bộ Đặt trongbối cảnh chung của ngành GD hiện nay, phát huy khả năng phản biện củahọc

Trang 7

sinh trong dạy học nói chung, dạy học Văn nói riêng cũng góp phần quan trọngvào việc xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực.“Con người tựu thành hay hủy diệt là do bản thân Trong xưởng đúc của tư duy, anh ta rèn lên những vũ khí mà anh ta dùng để hủy diệt chính mình Anh ta cũng tạo ra những công cụ mà anh ta dùng để xây dựng cho mình những tòa lâu đài tráng lệ của niềm vui, sức mạnh và sự yên bình” (Man is made or unmade by himself In the armory of thought he forges the weapons by which he destroys himself He also fashions the tools with which he builds for himself heavenly mansions of joy and strength and peace - James Allen) Cho nên, “Hãy cho người học trò điều để làm, chứ không phải điều để học; và đặc tính của hành động là đòi hỏi tư duy; việc học sẽ tự nhiên mang đến kết quả ” (Give the pupils something to do, not something to learn; and the doing is of such a nature as to demand thinking; learning naturally results.- John Dewey).

Chương 2: Thực trạng của vấn đề nghiên cứu

I Đặc điểm tình hình

Nhìn một cách bao quát, việc dạy văn ở THCS dường như về căn bản vẫn

bị cô lập khỏi những thành tựu khoa học, vẫn theo lối truyền thống Vì sao lại cótình trạng ấy? Theo tôi có nhiều nguyên nhân cản trở việc đổi mới phương pháp,nhưng nguyên nhân cơ bản là do trình độ yếu kém và tinh thần học tập chưa cao

ở phần đông HS Muốn giảng dạy văn theo phương pháp mới thì yêu cầu HSphải chuẩn bị bài ở nhà thật kĩ, phải đọc tác phẩm, soạn bài phải chọn cho mìnhmột cách cảm nhận tác phẩm và khi đến lớp, dưới sự hướng dẫn của thầy, trò,

HS phải làm việc một cách tích cực, chủ động, sáng tạo

Nhưng phải khẳng định một điều trong giáo dục đào tạo, đổi mới phươngpháp gắn liền mục tiêu nội dung chương trình các điều kiện đảm bảo Vì vậy,chúng ta phải bằng mọi cách để đổi mới phương pháp dạy học Tất nhiên, côngviệc này không thể một sớm, một chiều mà phải dần dần và trải nghiệm bằngthời gian

II Thực trạng vấn đề nghiên cứu

a Tình trạng đáng buồn chung của HS hiện nay là không có động cơ,

mục đích, phương pháp học tập đúng đắn HS học quá thụ động, sức ì quá lớn,lười suy nghĩ, lười tư duy, học vẹt, học đối phó… dẫn đến kết quả học tập khôngcao và kĩ năng sống cũng kém Nói riêng đối với bộ môn Ngữ văn thì HS ngàynay không mấy thiết tha với văn chương, những giờ học Văn đa số HS có tâmthế uể oải, chán nản; khả năng phản biện là hầu như không có Kết quả khảo sátcho thấy HS lĩnh hội tri thức chủ yếu bằng hai con đường:

- Xem giáo viên là nguồn thông tin duy nhất trong việc lĩnh hội tri thức,

HS được giáo dục theo phương pháp truyền thống, điều này rất đáng để lưu tâmnghiên cứu Thầy giảng sao thì trò nghe vậy, thầy cho ghi nội dung bài học như

Trang 8

thế nào thì trò ghi như vậy; HS hiếm khi đặt câu hỏi lại với GV, hiếm khi bănkhoăn, thắc mắc về những điều thầy dạy.

- Bên cạnh đó HS lại dễ dàng chấp nhận những thông tin không chínhthống, những dữ kiện chưa rõ ràng mà cụ thể là những thông tin đến từ mạng xãhội, mạng internet Đây là nguồn thông tin dễ tiếp cận, đa dạng và rẻ, lại nhanhchóng vô cùng Nhưng ngoài ưu điểm nói trên, cần phải thấy rằng, nguồn thôngtin dạng này có độ tin cậy kém, không được kiểm chứng, không chính xác Đây

là điều tai hại nếu HS xem internet là “thầy” của mình Mà HS hiện nay lại rất

dễ chấp nhận những thông tin chưa rõ ràng đó Ví dụ như thầy ra các câu hỏiyêu cầu các em về nhà soạn bài để chuẩn bị cho tiết học mới, hoặc cho bài tập

về nhà, cho đề tập làm văn chuẩn bị cho tiết luyện nói hoặc tiết viết bài…thìngay lập tức HS “search” ngay thông tin trên Goegle và chép vào, chứ khôngsuy nghĩ gì, không kiểm chứng thông tin gì cả

- Theo giáo dục học, năng lực hay trí tuệ có ba cấp độ:

+ Cấp độ 1: Năng lực có được do học tập, bao gồm: đọc tài liệu, nghegiảng…

+ Cấp độ 2: Năng lực có được do tự bản thân suy luận, đối chiếu, so sánh,quy nạp và diễn dịch từ nhiều nguồn dữ liệu khác nhau

+ Cấp độ 3: Năng lực có được do trải nghiệm thực tế, đúc kết kinh nghiệmqua nhiều lần trải nghiệm để có tri thức hay trí tuệ riêng cho bản thân Đây làcấp độ cao nhất và có lợi nhất dành riêng cho cá nhân và khác biệt với tất cả các

cá nhân khác

Để có được kỹ năng tư duy phản biện tốt, con người nói chung và HS nóiriêng năng lực cần đạt ít nhất ở cấp độ 2 Thế nhưng gần như HS chưa đạt đượccấp độ năng lực này, mà phương pháp và kĩ thuật giảng dạy của GV cũng chưa

có dụng ý tích cực khơi gợi tiềm năng phản biện ở HS, nhằm phát triển năng lực

tư duy, đặc biệt là tư duy phản biện trong môn dạy và học môn Ngữ văn, tronghọc tập nói chung và trong cuộc sống

b Khi chưa áp dụng các giải pháp, bản thân tôi cũng như những GV khácvẫn giảng dạy theo các phương pháp thông thường, đặc trưng của phương phápdạy học môn Ngữ văn Cái chính cụ thể là: khi giảng giải, GV đưa trực tiếp luậnđiểm của nội dung tri thức cần truyền đạt, rồi dùng hệ thống câu hỏi theo quytrình từ câu hỏi gợi mở gợi tìm đến các câu hỏi phân tích, đối chiếu, so sánh, câuhỏi khái quát, chốt lại kiến thức…, chứ chưa chú trọng đặt các câu hỏi tạo tìnhhuống phản biện để HS tự suy luận và trả lời theo định hướng của GV, để HSchủ động khám phá, tìm tòi và chiếm lĩnh tri thức một cách chủ động, sáng tạovới nhiều cơ hội cọ xát, kiểm chứng kĩ càng, đa chiều, toàn diện

c Những thuận lợi và khó khăn của hiện trạng

- Thuận lợi:

+ Ngày nay, nhiều nền giáo dục tiên tiến trên thế giới đã coi trọng tư duyphản biện trong dạy học Ở Mỹ, người ta đề cao tính dân chủ trong giáo dục, tạo

Trang 9

điều kiện cho người học phát huy khả năng phản biện Phó giáo sư lịch sửJohann N Neem thuộc Đại học Western Washington (Mỹ), trong một bài viết

đăng trên tạp chí The Chronicle of Higher Education, đã thúc giục nhà chức

trách và những nhà giáo dục Mỹ cần thực hiện tốt hơn việc giáo dục lịch sử dântộc và phải dạy với tinh thần phản biện Còn hệ thống giáo dục Anh thì coi tưduy phản biện như một môn học chính qui Trình độ A dành cho học viên 16-18

tuổi Họ phải làm 2 bài kiểm tra chính: "Sự đáng tin của dẫn chứng" (Credibility

of Evidence) và "Phát triển tranh luận" (Assessing/Developing Argument) Đối

với học sinh dưới 16-18 tuổi, tư duy phản biện được đưa xen kẽ vào trong bàigiảng của giáo viên… Các nước tiên tiến đã coi trọng phản biện trong dạy học,đây là cơ sở đáng tin cậy để chúng ta mạnh dạn đưa phản biện vào trong dạy học

sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học do Bộ

trưởng Bộ GD&ĐT ban hành kèm theo Thông tư số: 13/2012/TT-BGDĐT, ngày

06 tháng 4 năm 2012, chương II, điều 7, mục 2c có nói : “Hướng dẫn học sinh học tập tích cực, chủ động, sáng tạo và biết phản biện”.

+ Những thuận lợi cho phản biện của học sinh:

Thứ nhất, chương trình môn Ngữ Văn ở THCS có độ mở tương đối Nóthể hiện ngay ở sự phong phú của nội dung và kiểu bài học Nhất là có sự bổsung của phần nghị luận xã hội Mục tiêu dạy học của bộ môn Văn cũng kháphức hợp Thêm vào nữa là tính chất đặc thù bộ môn Văn – vừa khoa học, vừanghệ thuật Điều đó có thể mở ra trước mắt người học cả một chân trời tri thức

và khả năng liên tưởng so sánh, cảm nhận, thẩm bình, đánh giá không giới hạn

Thứ hai, việc đổi mới kiểm tra, đánh giá của bộ môn Ngữ Văn gần đâylàm sống dậy mạnh mẽ ý thức cá nhân người học Họ có thể thoải mái bộc lộquan điểm riêng của bản thân mà không sợ “chệch” ý thầy Tiêu chí đúng, saiđược thay bằng lập luận có thuyết phục hay không? Đây là cơ hội để học sinhphát huy tối đa khả năng học tập, hiểu biết của mình, cũng chính là phát huy khảnăng phản biện

Thứ ba, dù sao thì học sinh vẫn là những người đi sau nên kho kinhnghiệm của thế hệ trước để lại rất có giá trị Học sinh có thể sáng tạo trên khokinh nghiệm đó

Thứ tư, không khí học tập đầy ắp tính dân chủ của nền giáo dục hiện đạicũng tạo nhiều cơ hội cho người học phát huy tiềm năng sáng tạo của bản thân

Trang 10

Trong bối cảnh hiện nay, toàn ngành đang thi đua “xây dựng trường học thânthiện, học sinh tích cực” thì tính sáng tạo của học sinh càng có điều kiện thănghoa Học sinh ngày nay luôn có nhu cầu bộc lộ mình, nhất là trong những tìnhhuống được động viên, khích lệ, có hứng thú

Thứ năm, sự tương tác HS – HS, HS – GV trong quá trình dạy học nhiềukhi làm lóe sáng trong người học những ý tưởng kì diệu Điều này khó có thể cóđối với người nằm ngoài quá trình dạy học

Thứ sáu, tài liệu tham khảo của bộ môn ngày càng phong phú, dễ tìm.Phương tiện đọc, lưu trữ cũng rất dễ dàng Điều này giúp học sinh mở rộng kiếnthức cần thiết cho những phản biện khi có thể

Thứ bảy, cùng với những nhu cầu học tập nâng cao kiến thức, học sinhcũng có nhu cầu bộc lộ bản thân Nhất là trong giai đoạn mà quyền cá nhân conngười, tính dân chủ trong giờ học được đề cao như lúc này Đó là mong muốnđược thể hiện mình trước thầy cô và bạn bè trong lớp, muốn chứng minh khảnăng, sự tiến bộ của mình Nhu cầu bộc lộ làm tiền đề cho khát vọng khẳng địnhbản thân và thực tế nhiều bạn trẻ đã khẳng định được mình Nhu cầu bộc lộ bảnthân của học sinh là một cơ sở quan trọng để phát huy tiềm năng học tập, khảnăng phản biện vấn đề Khi đó mà có sự kết hợp với những hiểu biết sâu rộngvấn đề, sự định hướng khuyến khích của giáo viên thì các em sẽ thể hiện hếtmình Không khí tiết học trở nên “nóng” hơn! Những tác phẩm văn học đượcđưa vào chương trình giảng dạy phần lớn đã “thuộc về một thời” Đành rằng giátrị một tác phẩm Văn học có thể “bất khả biến” nhưng các em lại là người của

“hôm nay”, nhìn nhận đánh giá vấn đề luôn có xu hướng từ góc nhìn của conngười hiện đại Điều đó rất dễ dẫn đến tâm trạng “bất hòa” với quá khứ, hay một

sự “ấm ức” nào đó, hoặc có nhu cầu “đánh giá lại” vấn đề Đó sẽ là nền tảng chonhững phản biện bùng phát Mặc dù không nhiều nhưng cũng có một bộ phậnhọc sinh có đam mê Văn chương Các em miệt mài tìm tòi, đọc, suy nghĩ, sángtạo Những học sinh này hoàn toàn có thể “đổi mới” hay “bổ sung” chân lí màthầy đưa ra Môn Văn là môn học đặc thù Nó vừa là khoa học vừa là nghệ thuật(nghệ thuật ngôn từ) Việc cảm nhận, đánh giá một vấn đề văn học có thể thayđổi theo thời gian và theo thị hiếu thẩm mĩ của mỗi người, mỗi thời đại Cónhững vấn đề hôm nay là đúng nhưng ngay mai thì chưa chắc, ngược lại, có

những vấn đề ngày trước sai nhưng bây giờ lại đúng Ai cũng biết câu thơ “Đêm

mơ Hà Nội dáng kiều thơm” của Quang Dũng đã từng bị tẩy chay, quy chụp là

mang chút tư tưởng của giai cấp tiểu tư sản nhưng rồi vào những năm 90 lạiđược “lật ngược thế cờ” Đó lại là câu thơ hay về vẻ đẹp hào hoa của người línhTây Tiến Phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân vẫn được xem là “ngông” nhưnggần đây, cách hiểu này đang “xung” với một luồng quan điểm trái ngược “khôngngông”… Mỗi lúc, trên diễn đàn báo chí lại nóng lên một chủ đề nào đấy của

Văn học và việc dạy Văn: “mầu” hay “mùi” (trong bài thơ Cây chuối – Nguyễn Trãi) ; “mặt chữ điền” (trong Đây thôn Vĩ Giạ - Hàn Mặc Tử) hiểu thế nào? ;

“sông” hay “sóng” (trong Sóng – Xuân Quỳnh) không hiểu nổi mình? Chí Phèo

tỉnh – Chí Phèo say ; có hay không việc cắt xén, thêm bớt phần kết thúc truyện

cổ tích Tấm Cám? ; mới đây nhất là “dòng thơ sexy ở Việt Nam” được “bới” lên

Trang 11

từ các tác phẩm của Nguyễn Dữ! v.v… Nhiều vấn đề có nhiều cách hiểu, gâytranh cãi nhiều thập kỉ mà không tìm ra chân lí Vì vậy trong học văn, rất cần cócái nhìn mới, cách cảm mới để tìm ra những giá trị mới Học sinh như nhữngbạn đọc sáng tạo có thể lập luận để đưa ra chân lí đúng đắn hơn cho vấn đề Đặttrong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay, mục tiêu đào tạo con người toàn diện,năng động, sáng tạo trong công việc thì việc phát huy khả năng phản biện củahọc sinh lại cần hơn bao giờ hết Khi nhà trường phổ thông trang bị cho thế hệtrẻ tư duy phản biện cũng có nghĩa là đã trang bị cho các em khát vọng đổi mới

và khát vọng thành công trong cuộc sống

- Khó khăn:

+ Một sự thật có thể thấy là trẻ em Việt Nam còn kém về năng lực phản biện Câu hỏi đặt ra: Tại sao trẻ em Việt Nam kém phát triển tư duy phản biện? Chúng tôi đồng ý với tác giả Thiên Kim/TNO về bốn lý do quan trọng như sau:

Thứ nhất là hệ thống giáo dục hiện nay mới chỉ tập trung trong việc truyềnđạt kiến thức cho trẻ, chứ chưa tạo điều kiện để các em phát triển tư duy phảnbiện.Các thầy cô giáo phải dạy theo khuôn mẫu, trẻ em học theo một khuônmẫu, với những kiến thức khuôn mẫu Cách giảng dạy này tạo ra những đứa trẻthụ động trong suy nghĩ Từ thụ động trong suy nghĩ sẽ dẫn đến thụ động tronghành động

Thứ hai là xã hội truyền thống Việt Nam chưa đánh giá cao việc trẻ … lậpluận với người lớn.Nhiều người vẫn cho rằng trẻ cần phải nghe lời, còn lí luận,phản đối quan điểm của ông bà, cha mẹ, người lớn hơn tuổi là dấu hiệu của …hỗn hào Đơn giản như việc trẻ tuyên bố rằng ‘bố mẹ không có quyền đánh con’– điều khá bình thường ở nước ngoài thì đối với nhiều người Việt hành vi nàythể hiện sự … coi thường, chống đối, và lại càng đáng … đánh

Thứ ba là toàn xã hội Việt Nam còn thiếu cái nhìn … mở Những ý tưởngmới thường bị đánh giá là điên rồ, khác người, làm thui chột mong muốn “phácách” của cá nhân Cái nhìn hẹp của xã hội cũng làm cho con người không dámbứt phá, sáng tạo Ngược lại, tại nhiều nước phát triển, hệ thống giáo dục đặttrọng tâm vào việc nâng cao khả năng lập luận của học sinh.Ví dụ như ở Pháp,học cách đánh giá sự việc, nâng cao cảm giác gắn bó của cá nhân với xã hội, tíchcực tham gia vào cải thiện chất lượng cuộc sống cộng đồng là ba mục tiêu màtrường học có nhiệm vụ đạt được trong việc giảng dạy học sinh

Thứ tư là ở Việt Nam, triết học bị “coi thường” Nhiều người vẫn coi triết

học là… quá cao siêu mà lại … vô tích sự Còn hệ thống giáo dục thì chỉ có mônày cho sinh viên cấp đại học Trong khi đó, nhiều nước phát triển đang có

“mốt’ là cho trẻ em học triết học từ rất sớm, vì đây là một cách hướng trẻ tớiviệc học khả năng lập luận logic và độc lập Triết học đã nằm trong chương trìnhgiáo dục từ cuối cấp 2 hoặc từ đầu cấp 3 ở nhiều nước, như ở Pháp, Italia, BồĐào Nha (bắt buộc), hay ở Đức, Thụy Điển, Thụy Sĩ (lựa chọn không bắtbuộc).Ở Pháp – đất nước được mệnh danh là “ai cũng thích suy nghĩ, và suynghĩ cho cả thế giới’ – môn triết học là môn chính, và bắt buộc phải thi đậu nếumuốn có bằng tú tài.Tất nhiên, ở cấp trung học, chương trình triết học không hề

Trang 12

có mục đích tạo ra các cá nhân uyên thâm, “từ điển sống” Mục đích quan trọngnhất của chương trình này là khuyến khích trẻ tư duy logic và tự do, không giớihạn Đặc biệt nhất là từ cách đây hơn chục năm, Pháp đã thí điểm phát triển một

số lớp học thí điểm môn triết học ở … cấp 1 Các em được hướng dẫn thảo luậnchủ đề “các câu hỏi lớn về cuộc sống” – mà các nhà triết học lớn như Kant,Rousseau đã tìm cách trả lời Bộ sách của Pháp ‘Những Platons tí hon” (LesPetits Platons) cũng được dịch ra nhiều thứ tiếng khác nhau và xuất bản ở nhiềunước trên thế giới, để hướng sự quan tâm của các bạn nhỏ vào triết học.Rất đángtiếc là ở Việt Nam, tư duy phản biện chưa được coi là yếu tố quan trọng tạo nênngười công dân có ích cho xã hội Chính vì thế, việc giảng dạy trong nhà trườngvẫn là để các em “tiêu thụ kiến thức” chứ chưa là “suy nghĩ kiến thức” Lí docủa vấn đề này một phần nằm trong chương trình giáo dục, phần khác nằm trongnăng lực cũng như tầm nhìn hạn chế của nhiều giáo viên và các bậc phụ huynh –không đánh giá cao cũng như “ngại” trao đổi một cách “bình đẳng” với trẻ

+ Nói sâu vào thì rào cản lớn nhất cho những phản biện của học sinh trong

dạy học nói chung và dạy học Văn nói riêng có lẽ là tư duy phản biện ở cả thầy

và trò Dường như những quan điểm truyền thống với những bức tường thànhtích khổng lồ vẫn chưa sẵn sàng đón tiếp tư duy phản biện Phần lớn giáo viênhiện nay, khi đứng trên bục giảng đều không muốn học sinh phản biện lại những

gì mình nêu ra Có nhiều lí do khác nhau Danh dự Uy tín Hạn chế về chuyênmôn (ở một bộ phận giáo viên)… Thậm chí, có người gay gắt hơn thì coi phảnbiện của học sinh là hành vi vô lễ (cãi thầy) Giáo viên không có thói quen nhậnlỗi trước học trò (khi có lỗi) mà chỉ quen “luôn đúng”, duy nhất đúng trướcchúng Vì lẽ đó mà học sinh cũng ít biểu hiện (ít dám) phản biện, chưa kể phảnbiện gay gắt Có chỗ không thuyết phục, nhiều khi chịu ấm ức hoặc rơi vào chủnghĩa A.Q – thầy nói chỉ có đúng! Nói đúng ra thì học sinh Việt Nam chưa cóthói quen nghi ngờ kiến thức Bên cạnh đó, ngày nay không có nhiều học sinhthật sự yêu thích, say sưa môn Văn Mà không đam mê thì không có động lực,

hứng thú để tìm tòi, nghiên cứu, sáng tạo Vì vậy, thầy nói sao thì nghe thế (Rằm cũng ừ, mười tư cũng gật) Không những thế, điều kiện kiến thức, môi trường

học tập, thời gian tiết học, bài học cũng còn nhiều bất cập Chương trình vẫn ômđồm, nặng tính hàn lâm, nhiều đơn vị kiến thức không cần thiết những vẫn phảihọc, gây nhàm chán Kiến thức nặng, quá tải thì học sinh chỉ lo “tải” cho hết đã,còn đâu mà nghĩ để nghi ngờ hay phản biện gì

+ Riêng HS trường THCS Nguyễn Trung Trực nói chung và khối lớp 9nói riêng, các em thuộc địa bàn vùng kinh tế còn nhiều khó khăn, phụ huynh chủyếu thuộc thành phần nông dân hoặc lao động chân tay nghèo, bấp bênh, nêncòn chưa quan tâm nhiều đến việc học tập của con em HS thôn quê ưu điểm làhiền lành, thật thà, song điều đó cũng có nhược điểm là các em quá nhút nhát,rụt rè, thiếu tự tin… Vì vậy, chỉ nói trong phạm vi nhỏ là lớp học, các em đã rấtngại phát biểu xây dựng bài, lâu dần trở nên thói quen chây ì, thụ động, huống

hồ gì là phản biện lại những ý kiến của thầy cô hay của các bạn đưa ra? Chonên, nhìn chung, khả năng phản biện của HS trường THCS Nguyễn Trung Trực

Trang 13

còn khá yếu Từ đó dẫn đến việc các em thụ động, chưa hứng thú, chưa tích cực,chủ động, sáng tạo trong việc học và làm chủ tri thức.

Những dấu hiệu trên đây cho thấy thực trạng dạy học Văn ở trường THCScòn nhiều điều phải bàn, phải làm Trong khi chờ đợi những sáng kiến, cải tiếnmang tính bước ngoặt chúng ta hãy cứ làm những gì có thể Phát huy khả năngphản biện của học sinh là việc nên làm

Chương 3: Giải pháp nghiên cứu

I Mục tiêu của giải pháp

Nhằm phát huy tính tích cực học tập cho học sinh, nâng cao chất lượngdạy học môn Ngữ Văn – THCS, góp phần thực hiện thành công công cuộc đổimới phương pháp dạy họcVăn Đồng thời, phát huy tối đa tiềm năng học tập,nghiên cứu, sáng tạo của học sinh ở bộ môn Ngữ Văn, cấp THCS Bồi dưỡng vànâng cao kĩ năng làm việc độc lập, làm việc theo nhóm, đặc biệt là góp phần

hình thành kĩ năng phản biện tích cực cho HS trong học tập hiện tại cũng như

trong cuộc sống sau này

Phản biện trong dạy học có khả năng phát huy được tính tích cực, chủđộng, sáng tạo của người học Tư duy phản biện, như đã trình bày, là một quátrình tư duy biện chứng gồm phân tích đánh giá một thông tin đã có theo cáchnhìn khác cho vấn đề đặt ra nhằm làm sáng tỏ và khẳng định lại tính chính xáccủa vấn đề Tư duy phản biện có tính chủ động, do đó khi một người có tư duyphản biện họ sẽ tự nảy ra câu hỏi, tự tìm các thông tin liên quan, quan sát nhìnnhận, đánh giá vấn đề hơn là học hỏi thụ động từ người khác Như vậy việc rènluyện tư duy phản biện sẽ kích thích tính chủ động, sáng tạo của học sinh, tạohứng thú mới cho họ trong quá trình tìm kiếm, chiếm lĩnh tri thức Góp phần rènluyện người học có kỹ năng phản biện xã hội khi tham gia vào cuộc sống Đồngthời, góp phần đào tạo con người năng động, sáng tạo, đáp ứng tốt yêu cầu củacuộc sống hiện đại Phản biện trong dạy học giúp cho cả thầy và trò có cái nhìnkhách quan, công tâm về chân lí của mọi vấn đề Phản biện trong dạy học khẳngđịnh tính dân chủ trong giờ học, khẳng định tính tích cực, tiến bộ của một nềngiáo dục Đặt trong bối cảnh hiện nay, phản biện trong dạy học cũng còn góp

phần tích cực vào phong trào thi đua “xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” Rèn luyện năng lực phản biện cho học sinh là giúp học sinh vượt ra

khỏi cách suy nghĩ theo khuôn mẫu, cố gắng hướng tới những cái mới trongkhoa học, thoát ra những rào cản của lối mòn tư duy, cố gắng tìm ra cái mới,kích thích các em tự đặt ra những câu hỏi và trả lời chúng theo cách nghĩ củamình Còn khi phản bác ý kiến của người khác, các em sẽ biết trình bày lập luậnmột cách thuyết phục, rõ ràng, chặt chẽ

Rèn luyện năng lực phản biện cho học sinh cũng chính là rèn luyện chocác em khả năng lập luận, tìm hiểu vấn đề từ nhiều góc độ khác nhau Nó giúpcác em tránh được tình trạng đồng thuận dễ dãi, hời hợt xuôi chiều trong khoahọc, ngăn chặn tình trạng học vẹt, đọc vẹt Vì vậy quá trình tích lũy kiến thứccủa học sinh cũng sẽ có hiệu quả cao hơn Đồng thời còn rèn luyện cho các em

Trang 14

các con đường tư duy khoa học, cách giải quyết vấn đề khác nhau một cách linhhoạt và hiệuquả

Rèn luyện năng lực phản biện còn giúp học sinh tự nắm vững được tìnhhình học tập của chính mình Học sinh biết mình còn có những chỗ thiếu sóthoặc sai lầm nào để bổ sung hoặc sửa chữa, xác lập mục tiêu học tập mới Đồngthời trong quá trình tranh luận của mình học sinh sẽ hoàn thiện thêm kĩ năng nóitrước đám đông, kĩ năng thu hút người nghe, kĩ năng trình bày vấn đề khoahọc Nó cũng sẽ kích thích hứng thú học tập của HS, bởi vì các em luôn muốn

là người chiến thắng trong các cuộc tranh luận

Rèn luyện năng lực phản biện cho học sinh còn giúp các giáo viên thuđược những thông tin phản hồi hữu ích để điều chỉnh phương pháp dạy học củamình Thông qua việc phản biện của trò, người dạy sẽ phân loại được đối tượng.Qua đó có sự điều chỉnh dạy học phù hợp cho mỗi đối tượng khác nhau

Trong đề tài này, tôi mạnh dạn trình bày một số nguyên tắc lí thuyết cơbản, thiết thực, nhằm đưa ra một quy trình hoàn chỉnh, trọn vẹn với đầy đủ cáckhâu, các bước để cùng các đồng nghiệp trao đổi, lắng nghe, suy ngẫm nhằmgóp phần làm cho công tác giảng dạy, rèn luyện tư duy phản biện cho học sinhđạt hiệu quả cao Đó là mục đích, nhiệm vụ thiết thực của đề tài mà bản thânchúng tôi mong muốn đề cập

Tôi nhận thấy rằng, sáng kiến này là một sáng kiến vô cùng thiết thực, cótính mới, tính khả thi cao Cụ thể:

- Thiết thực đối với công tác giảng dạy của cá nhân tôi;

- Thiết thực đối với nhóm bộ Ngữ văn trường tôi;

- Thiết thực đối với chất lượng dạy và học của cơ quan tôi đang công tác;

- Thiết thực đối với HS trong học tập, trong công việc và trong cuộc sống;

- Thiết thực đối với công tác giảng dạy của nhóm bộ môn Ngữ văn toànhuyện Vạn Ninh Ở đây tôi muốn nói thêm về tính mới của đề tài này: Nói vềphản biện trong dạy học thì có biết bao nhiêu đề tài, biết bao nhiêu sáng kiến đã

đề ra, nhưng hầu như các đề tài nghiên cứu ấy chỉ dừng lại ở mức độ nêu cơ sở

lý luận của vấn đề tư duy phản biện, đưa ra một số giải pháp chung chung trongdạy học môn Ngữ văn chứ chưa mang tính cụ thể, chưa giới hạn hẹp lại trongphạm vi một phân môn hay một chuyên đề, chủ đề nào đó; cho nên mang nặngtính lý thuyết, khó cho GV tham khảo và áp dụng Trong khi sáng kiến của tôigiới hạn phạm vi rõ ràng (rèn tư duy phản biện trong dạy học phần truyện trungđại Việt Nam, Ngữ văn 9, tập I), các giải pháp đưa ra nêu cụ thể các bước tiếnhành, có ví dụ cụ thể rõ ràng, có kèm theo cả giáo án minh họa Cho nên nóthiết thực cho GV Văn tham khảo và vận dụng;

- Thiết thực đối với công tác phát hiện và bồi dưỡng HS giỏi bộ môn Ngữvăn cho nhà trường, cho huyện Vạn Ninh

- Các giải pháp mà tôi nêu ra sau đây nhằm giải quyết 2 vấn đề:

Trang 15

+ Tình trạng thụ động, không tích cực học tập của HS lớp 9 đối với môn Văn+ Rèn luyện và phát huy tư duy phản biện cho HS trong học tập

- Giải quyết ở mức độ khá triệt để tình trạng HS quá thụ động trong họctập bộ môn Ngữ văn, phát huy khá tốt khả năng tư duy phản biện của HS tronghọc tập và cả trong cuộc sống

II Mô tả bản chất giải pháp

Sáng kiến:“Rèn luyện tư duy phản biện trong dạy truyện trung đại Việt Nam nhằm phát huy tính tích cực của học sinh lớp 9, trường THCS Nguyễn

Trung Trực” của tôi thuộc loại giải pháp tác nghiệp.

III Các bước thực hiện giải pháp

1 Một số nhân tố tiền đề/điều kiện để phát huy khả năng phản biện của học sinh trong dạy học môn Ngữ văn

Phản biện học đường, phản biện chuyên môn, hay phản biện xã hội (hậuhọc đường) muốn có chất lượng, hiệu quả, theo chúng tôi, đều phải bảo đảm một

số nhân tố tiền đề/ điều kiện sau đây:

Thứ nhất, tri thức đủ rộng và sâu Tri thức đây rất cụ thể, tức là sự hiểu

biết thấu đáo về đối tượng, lĩnh vực, vấn đề cần phản biện, thậm chí, luận điểm,luận cứ cần phản bác Nhân tố này được hình thành trong quá trình học tập, tìmhiểu đối tượng Không có tri thức thì dễ nói liều, nói phứa, nói càn theo kiểu

“điếc không sợ súng” Đây là nhân tố thuộc về “Điều kiện được trang bị”

Thứ hai, niềm tin đủ mạnh Ở đây là niềm tin của người phản biện vào

tính đúng đắn, sức thuyết phục của lẽ phải trong lập luận của chính mình, tin vàođộng cơ tốt đẹp của hành vi phản biện vào những gì mình khẳng định/ bác bỏ

Thứ ba, dũng khí đủ cao Có tri thức, niềm tin mà thiếu dũng khí thì vẫn sợ

đụng chạm, mất lòng, ngại tranh luận, né tránh đối thoại, hoặc tham gia phản biện

nửa vời, thiếu tính chiến đấu Tuy nhiên, có dũng khí mà thiếu niềm tin, tri thứcthì

sự phản biện có nguy cơ biến thành hành động liều lĩnh, hời hợt, bốc đồng

Thứ tư, hứng thú đủ “nóng” Hành vi phản biện chỉ được thực hiện khi

chủ thể có nhu cầu nội tại làm nên nhiệt hứng thôi thúc từ bên trong

Các nhân tố thứ hai, thứ ba, thứ tư tập hợp thành nhóm nhân tố “Điều kiện

về tâm lý, thái độ”

Thứ năm,kĩ năng đủ thuần thục Kĩ năng đương nhiên không tự nó đến

với ai trong chốc lát Cần phải được rèn luyện và cần tích lũy trong quá trìnhsống, học tập, làm việc Đây là nhân tố thuộc về “Điều kiện được rèn luyện”

Tuy nhiên, năm nhân tố trên không cùng một dãy điều kiện, mà thuộc về

ba dãy điều kiện khác nhau (tạm gọi là): “Điều kiện được trang bị”, “Điều kiện

về tâm lý, thái độ”, “Điều kiện được rèn luyện”

Từ đó, có thể thâu tóm các nhân tố điều kiện bằng công thức:

Trang 16

Chất lượng, chiều sâu của phản biện = Điều kiện được trang bị (tri thức) + Điều kiện về tâm lý, thái độ (niềm tin/dũng khí/ hứng thú) + Điều kiện được rèn luyện (kĩ năng) = 1+3+1

Điều hiển nhiên là bốn nhân tố chủ yếu làm tiền đề cho kĩ năng phản bác,

năng lực phản biện (trong cấu trúc nhân cách người phản biện): tri thức, niềm tin, dũng khí, hứng thú không thể đến sau kĩ năng; trái lại, chúng cần phải được

chuẩn bị trước và không ngừng duy trì, tích lũy trong quá trình rèn luyện kĩnăng Những phản biện của học sinh có thể đúng, thuyết phục; có thể sai, khôngthuyết phục, điều đó không quan trọng Quan trọng là qua phản biện, người họcthể hiện tinh thần chủ động, tích cực, sáng tạo của mình Khoảng cách thầy – tròđược rút ngắn

2 Một số biện pháp cụ thể nhằm rèn luyện tư duy phản biện cho học sinh lớp 9 trường THCS Nguyễn Trung Trực trong dạy học Ngữ Văn phần truyện trung đại Việt Nam (Gồm 9 giải pháp, loại giải pháp: giải pháp tác nghiệp)

2.1 Tận dụng mọi thời gian và cơ hội để bồi dưỡng tư duy phản biện cho học sinh

Như đã trình bày, tư duy phản biện (critical thinking) là một quá trình tư

duybiện chứng gồm phân tích và đánh giá một thông tin đã có theo các cáchnhìn khác cho vấn đề đã đặt ra nhằm làm sáng tỏ và khẳng định lại tính chínhxác của vấn đề Trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay, chúng ta nên tậptrung hơn vào việc dạy học sinh tư duy phản biện.Có tư duy phản biện học sinhmới có thể phản biện Biện pháp này có thể vận dụng với tất cả các đối tượnghọc sinh nhưng chủ yếu hướng tới học sinh đại trà.Vì học sinh giỏi Văn, chuyênVăn thường đã có tư duy phản biện.Còn học sinh đại trà thường thụ động tronghọc tập nên tư duy phản biện gần như không có hoặc yếu

Trước hết, cần cho học sinh hiểu rằng việc phản biện lại một nội dung,vấn đề do người khác nêu ra (kể cả là thầy, cô giáo của mình) là việc làm tíchcực để đạt đến tính tối ưu của chân lí chứ không phải là hành vi khiếm nhã,ngông cuồng hay vô lễ như vẫn thường hiểu Đó cũng là một khâu trong quátrình học tập Tư duy phản biện phải trở thành thói quen tốt, thói quen luôn nghingờ kiến thức.Thói quen này giúp học sinh chủ động trong học tập, vận dụngkiến thức vào cuộc sống và công việc

Học sinh phải thấy được quá trình tư duy phản biện phải có những bước sau:

- Đọc và theo dõi cẩn thận những bước đi của luận cứ nhằm xác định các

tiên đề và các kết luận mà tác giả luận cứ nêu ra (trong trường hợp theo học mộtmôn học mới, đây cũng chínhlà các kiến thức mới mà người thầy muốn học sinhtiếp nhận) Phải đặt ra những câu hỏi nghi vấn như : Tại sao lại như thế? Bảnchất vấn đề là gì? Nếu thế này, thế kia thì sao? v.v … GV chú ý hướng dẫn vàcung cấp cho HS biết về những câu hỏi phát huy khả năng phản biện, để HSthường xuyên đặt ra trong đầu, hỏi GV, hỏi bạn bè và những người xung

Trang 17

quanh… Dưới đây là 28 kiểu câu hỏi giúp học sinh phát triển tư duy phản biệncủa mình:

1 Đâu là bằng chứng để bạn có thể ủng hộ/ phản đối…?

2 Đâu là cách … tương phản với …?

3 Bằng cách nào bạn có thể khắc họa về…? Giải thích sự ủng hộ củabạn với các ví dụ…

4 Tại sao….lại có ý nghĩa? Giải thích lập luận của bạn

5 Đâu là những lợi ích và tác hại của…?

6 Đâu là điểm nhấn hoặc “ý tưởng chủ đạo” của…?

7 Làm thế nào bạn có thể đánh giá tính chính xác của…?

8 Đâu là sự khác biệt giữa…và…?

9 ……liên quan như thế nào với…?

10 Đâu là những ý tưởng bạn có thể bổ sung vào…và nó sẽ thay đổi nhưthế nào với các ý tưởng đó?

11 Miêu tả…từ quan điểm của…

12 Bạn nghĩ gì về…? Giải thích lập luận của bạn

13 Khi nào…có thể hữu ích nhất và tại sao?

14 Làm thế nào bạn có thể tạo ra hoặc thiết kế mới một…? Giải thích ýtưởng của bạn

15 Đâu là giải pháp mà bạn có thể gợi ý cho vấn đề…? Đâu có thể là giảipháp hữu ích nhất và tại sao?

16 Điều gì có thể xảy ra nếu bạn kết hợp giữa…và…?

17 Bạn có đồng ý với…? Tại sao có và tại sao không?

18 Đâu là thông tin bạn sẽ cần để đưa ra quyết định về…?

19 Tại sao bạn lại dành sự ưu tiên cho…?

20 Làm thế nào bạn có thể đưa ra một ví dụ về…?

21 Đâu là phần quan trọng nhất của…?

22 Đâu là chi tiết của ….quan trọng nhất và tại sao?

23 Đâu là điều bạn quan tâm về…?

24 Làm thế nào bạn có thể phân loại…?

25 Điều gì làm cho…quan trọng?

26 Đâu là tiêu chí bạn có thể sử dụng để đánh giá…?

27 Làm thế nào có thể …và…hợp tác với nhau?

28 Đâu là…nhất/ít nhất…? Giải thích lập luận của bạn

Trang 18

- Nếu trong luận cứ, ta thấy không có suy luận mà chỉ là những khẳng

định (facts), thì luận cứ chỉ chứa đựng những thông tin, có thể chính xác hay sailệch; như thế, ta có quyền không quan tâm đến những gì mà tác giả của luận cứmuốn thuyết phục người nghe Kết luận rút ra từ những luận cứ đó có thể không

có sức thuyết phục

- Trong trường hợp kết luận không thuyết phục, có nghĩa là nó mang tính

ngụy biện, cần xem xét lại Có nên chấp nhận những kết luận mà tác giả đã nêuhay không? Đây là điểm mấu chốt của tư duy phản biện Bởi vì nếu ta chấp nhậntập hợp các luận cứ, tức là ta hoàn toàn chấp nhận kết luận của tác giả; Ngượclại, nếu ta phủ nhận những luận cứ này có nghĩa là ta không chấp nhận kết luận.Tức là từ chối hay chấp nhận những kiến thức mới như một thành phần của hệthống kiến thức mà học sinh cần tích lũy trong quá trình học tập Cách đánh giávấn đề, chấp nhận hay từ chối phải dựa trên kiến thức đã được tích lũy của mình,dựa trên kinh nghiệm và lòng tin cá nhân Kiến thức phụ thuộc vào môi trườnggiáo dục, phương pháp giảng dạy của người thầy cũng như phương pháp học tậpcủa học sinh; kinh nghiệm phụ thuộc vào môi trường xã hội và cuối cùng là lòngtin lại phụ thuộc vào môi trường giáo dục gia đình

Trong quá trình vận dụng tư duy phản biện, bất cứ ở tại thời điểm nào,người học cũng phải sẵn sàng động não, suy luận và đánh giá ; những hoạt độngnày sẽ tạo thành một phon gcách tư duy, luôn luôn sẵn sàng lắng nghe, nhưngtrước khi chấp nhận bất cứ ý kiến nào, người học phải chủ động phân tích vàđánh giá Hoạt động của não bộ theo phong cách này sẽ giúp người học hìnhthành vững vàng tư duy độc lập và tư duy phản biện Với tư duy độc lập và tưduy phản biện như nền tảng, và với kiến thức tích lũy thành hệ thống, học sinh

sẽ có điều kiện phát triển tư duy sáng tạo của mình

Ta thấy ngay, kết quả của học tập và vận tốc phát triển trí tuệ phụ thuộcmạnh mẽ vào phương pháp học tập của học sinh Người nào nắm vững phươngpháp tư duy phản biện, thì chất lượng học tập càng cao và trí tuệ càng phát triểnvững chắc Tư duy phản biện không thể có ngay lập tức mà cần có quá trình.Trước hết, công việc này phải làm thường xuyên, liên tục qua tất cả các môn họcchứ không phải chỉ có môn Văn Dần dần mới trở thành thói quen tư duy phảnbiện

 Tính mới của giải pháp: Thông thường GV lên lớp chỉ chú trọng làm

sao cung cấp hết chuẩn kiến thức và kĩ năng cần đạt của một tiết học 45 phút,

mà chưa có ý thức cố gắng tận dụng tối đa mọi thời gian, cơ hội để bồi dưỡng

tư duy phản biện cho HS Các sáng kiến về vấn đề này cũng chưa thấy nêu giải pháp này, chưa hướng dẫn và cung cấp cho các em các dạng câu hỏi để có thể rèn luyện tư duy phản biện một cách tích cực không chỉ trong học Văn mà còn

cả trong cuộc sống.

2.2 Tạo tâm thế nhập cuộc cho học sinh thông qua tình huống phản biện

Việc tạo tâm thế nhập cuộc cho học sinh là vô cùng quan trọng Bởi vì lúcnày mới bắt đầu tiết học, tư duy của các em có thể đang để tâm đến kiến thức

Trang 19

của giờ học trước, hoặc cũng có thể đang phân tán vì những trò chơi trong giờgiải lao Để lôi kéo được các em chú ý đến bài học cần đến sự khéo léo dẫn dắtcủa người tổ chức Thông thường các giáo viên sẽ dùng lời dẫn để kéo học sinhnhập cuộc Lời dẫn của giáo viên càng hấp dẫn, mới mẻ, sáng tạo càng có khảnăng nhanh chóng xác định tâm thế sư phạm cho học sinh tập trung chú ý và có

ý thức huy động hứng thú cá nhân vào các bài học Nếu trong lời dẫn tạo nêntình huống phản biện cho học sinh thì nó sẽ vừa kích thích được sự tò mò vừakhơi dậy tính hiếu thắng trong tâm lí học sinh Vì vậy các em sẽ thoát nhanh rakhỏi ức chế ban đầu và tiếp nhận yêu cầu mới

Ví dụ:

- Chẳng hạn khi dạy tác phẩm “Chuyện người con gái Nam Xương” củaNguyễn Dữ, có thể dẫn dắt: Văn học trung đại, với những câu chuyện thú vị vềgia đình, đất nước, chính trị, xã hội, thân phận con người và những nỗi oannghiệt ngã luôn được biến hóa và được các tác giả cho ra đời những tập truyện,thơ,… Bên cạnh đó, những ý kiến trái chiều về nhân vật, về cốt truyện cũng làmột đề tài theo thầy/cô cho là rất thú vị Nỗi oan nàng Vũ Nương và chàngTrương Sinh cũng là một chủ đề không kém phần thú vị đó Ta cùng tìm hiểu

truyện Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ, để các em tự tìm ra

cho mình câu trả lời hợp lý nhất rằng nguyên nhân nào đã dẫn đến bi kịch chocuộc đời một người phụ nữ công, dung, ngôn, hạnh - Vũ Nương?

- Hoặc khi dạy bài “Truyện Kiều của Nguyễn Du” và các đoạn trích trong Truyện Kiều, có thể nêu ra những ý kiến, nhận định trái chiều về tác phẩm để

khơi gợi hứng thú phản biện ở học sinh: (…) Nguyễn Bách Khoa đã phủ nhận

hầu như hoàn toàn giá trị Truyện Kiều khi cho rằng: “Yếu tố cơ bản làm nên Truyện Kiều là một ấn tượng đậm đà về sự bị thua”, nên khi nhìn tác phẩm

âm điệu của lối thơ lục bát cấu tạo nên Truyện Kiều, Nguyễn Bách Khoa “nhận

thấy ngày càng cốt cách ốm yếu của nó do một thời kỳ lịch sử dân tộc đẻ ra”,

“Điệu lục bát hợp với Nguyễn Du là bởi nó đủ điều kiện về âm điệu để biểu hiệnchất thơ của tâm hồn thi sĩ và phô diễn chất sầu, chất đêm, chất trăng, chất tuyệt

vọng của Truyện Kiều”, Nguyễn Bách Khoa lý giải rằng chất thơ hào hùng và trữ tình say đắm trong Truyện Kiều có được là do cá tính Nguyễn Du được cấu

tạo nên bởi hai yếu tố thuộc huyết thống là trí cương cường của người NghệTĩnh (từ cha) và tinh thần mẫu hệ của văn hóa Bắc Ninh (từ mẹ) Phê bình khoahọc của Nguyễn Bách Khoa bị phản ứng dữ dội từ các nhà phê bình theo lốitruyền thống, Hoài Thanh phản bác lại quan điểm của Bách Khoa cho rằngNguyễn Du là con bệnh thần kinh: “Tôi không được thông thái như ông về ykhoa nên chẳng thể biết Nguyễn Du quả có bệnh thần kinh hay không, nhưngxem xong bộ sách nghiên cứu của ông, tôi thấy mình cũng có biệt tài về nghề lang băm" Phạm Quỳnh quả quyết: "Truyện Kiều còn tiếng ta còn; tiếng ta cònnước ta còn” Dương Quảng Hàm bảo: "Trên từ các bậc văn nhân thi sĩ, dướiđến các kẻ thường dân phụ nhụ ai cũng thích đọc thích ngâm và thuộc được ítnhiều” Nhưng ca dao lại nghiêm khắc: “Đàn ông chớ kể Phan Trần/ Đàn bàchớ kể Thúy Vân, Thúy Kiều”, Huỳnh Thúc Kháng: "(Truyện Kiều) về mặt mỹthuật rõ là cực tốt mà ở trong đựng những vật có chất độc” Trong khi đó, các

Trang 20

nhà nghiên cứu nước ngoài như Georges Boudared nhận xét: "Few poets in theworld have been able to acquire a profound resonnance among their people likeNguyễn Du in Việt Nam His Tale of Kiều is a classic of Vietnamese literaturebut a kind of classic that is well-known to all people without exception" (Ít nhàthơ trên thế giới có khả năng đạt được tiếng vang sâu đậm trong dân chúng củamình như Nguyễn Du ở Việt Nam Truyện Kiều của ông là cuốn sách kinh điểncủa văn chương Việt Nam nhưng là một thứ kinh điển mọi người đều biết khôngmột ngoại lệ nào) Vậy em tán đồng ý kiến nào? Tại sao? Để lý giải được ý kiếncủa mình, chúng ta cùng nhau tìm hiểu tác phẩm/ đoạn trích…

Tạo được tâm thế nhập cuộc là tạo được những tình huống sư phạm đặcthù mà giáo viên thiết kế để khơi dậy trong học sinh hứng thú tiềm tàng và động

cơ học tập tích cực, khơi dậy khát khao giao cảm với thế giới nghệ thuật, khơidậy nhu cầu giao tiếp và đối thoại với nhà văn một cách tự nhiên, nhu cầu tựcbộc lộ của bản thân, và năng lực sáng tạo trong quá trình tiếp nhận Tình huống

đó không chỉ dùng để mở đầu bài học mà còn duy trì một cách thích hợp xuyênsuốt toàn bộ quá trình tiếp nhận, phân tích, cắt nghĩa, đánh giá tác phẩm.Tấtnhiên không phải lúc nào, bài nào chúng ta cũng làm được như thế này Để tạođược tình huống phản biện cần phải ở những tác phẩm có nhiều cách hiểu khácnhau thì mới có hiệu quả

 Tính mới của giải pháp: Các sáng kiến khác chưa thấy đưa ra giải

pháp này Ưu điểm của giải pháp này là khơi gợi nhu cầu giao tiếp, tạo tình huống, kích thích trí tò mò, kích thích sự thể hiện bản thân HS.

2.3 Tổ chức cho học sinh tranh luận, phản biện

Đây là khâu quan trọng nhất của giờ học theo hướng phát triển năng lựcphản biện Lúc này học sinh sẽ trình bày quan điểm của mình trước tập thể vàquan trọng hơn là các em trực tiếp đối thoại với các bạn học sinh khác để bảo vệquan điểm của mình Học sinh sẽ đưa ra hàng loạt những lí lẽ, dẫn chứng và sắpxếp chúng theo một trật tự hợp lí để thuyết phục những người khác tán đồngquan điểm với mình Cũng trong hoạt động này, học sinh có thể sẽ phải trả lờinhững câu hỏi do các bạn khác đặt ra Điều này đòi hỏi các em phải có một thóiquen tư duy biện chứng rõ ràng, khả năng ứng biến mau lẹ trước các tình huốngphát sinh, và tất nhiên là phải hiểu về tác phẩm văn học một cách tường tận Hơnthế học sinh còn cần phải biết cách quan sát, đánh giá thái độ của những ngườinghe xung quanh mình để điều chỉnh ngữ điệu, thái độ, lời văn cho phù hợp.Thiết nghĩ con đường này sẽ cho học sinh nhiều bài học để trưởng thành hơn cả

về trong tri thức lẫn cuộc sống

Trong quá trình tổ chức học sinh phản biện, giáo viên phải làm tốt vai trò

là người tham dự - chia sẻ hoặc có khi phải làm trọng tài nếu cuộc “khẩu chiến”vượt ra khỏi khuôn khổ quy định Trên thực tế đây là lúc giáo viên thu nhậnđược nhiều thông tin phản hồi nhất Giáo viên vừa có thể nắm bắt được mức độhiểu bài của học sinh để xem xét các biểu hiện lệch lạc nhằm kịp thời uốn nắn,vừa quan sát được thái độ, hứng thú học tập của các em

Trang 21

Kỹ năng phản biện là hệ thống các kĩ năng trong từng khâu của quá trình

để đưa ra một phản biện, bao gồm những kĩ năng chủ yếu: tư duy độc lập, phântích – tổng hợp, lập luận, đánh giá Với kỹ năng phản biện, giáo viên sẽ khuyếnkhích học sinh sử dụng các kĩ năng lập luận Học sinh sẽ học cách nghiên cứubằng cách đưa ra các lí giải hợp lí cho câu trả lời Tổ chức tranh luận phản biện

sẽ diễn ra theo các bước:

- Bước 1: Tổ chức cho các em làm việc theo từng nhóm Nhóm này baogồm những em có cùng quan điểm Giáo viên tuyệt đối không lựa chọn mà đểcác em tự quyết định mình sẽ thuộc nhóm nào

-Bước 2: Tổ chức cho các em thảo luận, làm việc cùng nhau để tìm ra các

ý phản biện và sắp xếp chúng theo một trật tự lôgic Ở bước này các em khôngchỉ học tập kiến thức, ghi nhớ bài học mà còn học tập được phương pháp làmviệc theo nhóm sao cho hiệu quả nhất Tất nhiên, giáo viên sẽ phải quan sát tổngthể quá trình làm việc của từng em, nếu không sẽ xảy ra tình trạng chỉ có mộtvài học sinh khá trong nhóm làm việc, số còn lại thì “ngồi chơi xơi nước”

-Bước 3: Các nhóm cử đại diện trình bày vấn đề mà mình đã chọn Sau khitrình bày, các bạn trong nhóm khác có thể nêu câu hỏi yêu cầu được giải đáp

Bước 4:Giáo viên và học sinh cùng chốt lại vấn đề trọng tâm.Việc tổ chức tranh luận này không nhất thiết là hình thức tranh luận theo nhóm

Có thể sử dụng cách tranh luận giữa các cá nhân học sinh với nhau, hoặc tranhluận giữa giáo viên và học sinh Chẳng hạn trong quá trình học tập, lĩnh hội trithức của bài học, ở một trường hợp nào đó, giáo viên khéo léo, cố ý nói sai vấn

đề, hoặc dẫn một ý kiến nào đó chưa thỏa đáng để học sinh phát hiện ra và tranhluận Nếu một lần học sinh chưa phát hiện ra thì có thể cố tình nhấn mạnh điểmsai thêm lần nữa Nếu vài ba lần học sinh vẫn chưa phát hiện được thì giáo viên

gợi khéo: hình như có vấn đề gì đó chưa ổn ở đây, các em có thấy thế không?

Như thế sẽ lôi kéo học sinh phát hiện vấn đề Khi học sinh phản biện đúng, cósức thuyết phục thì công nhận, bổ sung vào bài học, coi đó như là công lao, pháthiện mới mẻ, sáng tạo của học sinh

Trong quá trình tổ chức phản biện sẽ có nhiều tình huống nảy sinh, vì vậytrong quá trình thiết kế bài dạy, giáo viên nên có sự dự kiến tình huống và cách

xử lí, tránh để rơi vào tình trạng bị động Giáo viên cũng cần phải có kiến thứcvững vàng để lí giải những khúc mắc cho học sinh một cách thấu đáo Nhất là

phải có quan điểm rõ ràng: đồng tình hay phản đối, đúng hay sai Sau mỗi lần phản biện nên chốt lại ý trọng tâm để học sinh ghi nhớ, khắc sâu kiến thức.

Ví dụ:

Với tác phẩm “Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ, khi

GV giảng bình về hành động tự vẫn của Vũ Nương, GV có thể yêu cầu HS chobiết nhận xét của các em về hành động đó Kết quả 5, 7 ý kiến gì đó thì GV phânnhóm theo các luồng ý kiến khác nhau để các em thảo luận, chuẩn bị lý lẽ phảnbiện Hoặc là GV cố tình đưa ra nhận xét: “Theo thầy/cô nhận thấy rằng, hành

Trang 22

động tự vẫn của Vũ Nương là một hành động quá nông nổi và dại dột Em cóđồng ý với ý kiến đó không? Lý giải vì sao em đồng ý/ không đồng ý?

- Luồng ý kiến thứ nhất như sau : Đồng ý, vì cái chết không thể giải quyết

được gì, đó là cách lựa chọn quá tiêu cực, phải sống để đấu tranh chứ, tại sao lạiyếu đuối như vậy

- Luồng ý kiến thứ hai phản biện lại luồng ý kiến thứ nhất: cho rằng Vũ

Nương trong trường hợp này không thể làm khác đi được Sống trong xã hộiphong kiến, người phụ nữ thời ấy phải gánh chịu biết bao nhiêu bất công, nhất làquan niệm trọng nam khinh nữ, biết bao nhiêu thứ lễ giáo hà khắc đã trói buộc,đày đọa cuộc đời người phụ nữ, đặc biệt là vấn đề tiết hạnh Bây giờ, bị chồngnghi oan là thất tiết, một cái tội không thể dung tha thời bấy giờ, liệu Vũ Nươngcòn biết đi đâu, về đâu, nương tựa chốn nào? Chồng nàng đã không tin nàng,hắn ta đã bội bạc lại tất cả ân tình của nàng, hắt đổ hết tất cả công lao mà nàng

đã làm cho gia đình chồng chỉ trong tích tắc, đã phủi bỏ một cách tàn nhẫn toàn

bộ công sức vun vén và tấm lòng hiếu hạnh của nàng, không tin tưởng nàng,không tôn trọng nàng…Vũ Nương còn biết dựa vào đâu nữa đây? Trở lại nhàmình ư? Không, đó là một nỗi nhục lớn khi người con gái đã lấy chồng mà bịchồng hoặc gia đình chồng chối bỏ? Đi nơi khác sinh sống ư? Không, tiếng nhơnhuốc ấy chưa gột rửa, rồi người ta sẽ khinh bỉ nàng, phỉ nhổ nàng, chà đạpnàng… Nàng còn lý do để sống sao? Nàng quyết định gieo mình, đó là một lựcchọn tất yếu Hơn nữa, hành động của nàng không hề xốc nổi Bởi nàng tắm gộichay sạch, ra bến sông, nàng quỳ xuống khấn nguyện, tỏ rõ lòng thành thật, rồinàng mới trầm mình Cái chết ấy đã có sự chuẩn bị và sự chỉ đạo của lý trí Cáichết ấy là kết cục của một số phận bi kịch, đường cùng, không lối thoát dưới cái

xã hội phong kiến mục ruỗng kia và là hành động mạnh mẽ, quyết liệt chống trả

cái xã hội bất công ấy… Một lập luận như thế không thể không công nhận Khá chặt chẽ và thuyết phục!

Hoặc GV nêu câu hỏi: “Theo em, nguyên nhân nào dẫn đến cái chết của

Vũ Nương?”

- Luồng ý kiến thứ nhất cho rằng: Là do đứa bé ngây thơ vô tình nói lời

con trẻ khiến mẹ bị hiểu lầm; do Trương sinh nóng nảy, ghen tuông mù quángquá

- Luồng ý kiến thứ hai lại bổ sung: Bấy nhiêu chưa đầy đủ, và cũng không

phải là điều sâu xa mà nhà văn muốn gửi gắm Chủ yếu là do xã hội phong kiếnnam quyền, coi trọng quyền uy của người đàn ông, rẻ rúng người phụ nữ, ngườiphụ nữ không có tiếng nói trong gia đình, ngoài xã hội; cho nên Vũ Nươngkhông thể lên tiếng bảo vệ mình Ý thức hệ của xã hội đó đã đẻ ra các bản chấtcủa người đàn ông như Trương Sinh: Ghen tuông, gia trưởng, bảo thủ, vũ phu…

- Luồng ý kiến thứ ba phản biện: Cũng chưa phải là tất cả, cần phải thấy

thêm rằng do cuộc hôn nhân có phần không bình đẳng, Trương Sinh con nhà hàophú, còn Vũ Nương gia cảnh nghèo hèn, cho nên y mới có đà hống hách, lộng

Trang 23

quyền với vợ Ngoài ra, còn do chiến tranh phong kiến phi nghĩa, đã gây ra chia

li, tan tác cho mỗi gia đình…

- Luống ý kiến thứ tư: Trước một sự việc, chúng ta nên có cái nhìn đa

chiều và toàn diện Tại sao các bạn lại đổ lỗi hết cho Trương Sinh? Vũ Nươngkhông có trách nhiệm gì trong bi kịch gia đình này sao? Nhóm chúng tôi nghĩrằng, trước hết phải trách Vũ Nương tại sao lại có thể trỏ bóng mình trên vách

mà đùa con là cha của nó như thế? Không nên nói dối trẻ con Vì điều đó sẽ ănsâu vào tâm trí đứa trẻ Cho dù hiểu lầm không xảy ra đi chăng nữa thì VũNương cũng đã vô tình tạc vào đầu óc non nớt của bé Đản về hình ảnh mộtngười cha “Cứ mẹ Đản đi là cha Đản đi, mẹ Đản ngồi là cha Đản ngồi, nhưngkhông bao giờ bế Đản cả” Như thế, người cha trong tâm thức của đứa trẻ là vôcảm, không yêu thương, không gần gũi, không ấm áp… Điều đó không tốt chútnào Vả lại, ông bà ta thường bảo “Đi hỏi già, về nhà hỏi trẻ”, Trương Sinh tinvào lời con trẻ, âu cũng không phải là điều gì quá lạ lẫm Đồng ý rằng lỗi phầnlớn là ở thói đa nghi, ghen tuông mù quáng, lại gia trưởng, vũ phu, tệ bạc củaTrương, nhưng cũng không thể nói Vũ Nương không có lỗi, dù nàng rất đángthương, đáng cảm thông Không ai là hoàn hảo cả, không ai hoàn toàn tốt, vàcũng không ai hoàn toàn xấu Người tốt thì điểm tốt nhiều hơn, còn người xấuthì điểm xấu chiếm ưu thế Vậy đấy! Qua đây, chúng tôi khuyên các bạn rằngkhi ta nói, khi ta làm bất cứ việc gì, cũng nên cân nhắc cho thật kĩ lưỡng…

Đây cũng là những phản biện hết sức thuyết phục Nhất là ý kiến thứ

tư, đã đưa ra cái nhìn mới mẻ, không phải là không có lý, lại rút ra được bài họcthực tế cho cuộc sống hiện tại nữa

Có được các lập luận phản biện trên là do GV đã vận dụng những biệnpháp khác nhau cả trong khâu chuẩn bị và trong giờ dạy học nhằm phát huy khảnăng tranh luận, phản biện của họcsinh Điều đó đã thể hiện được tính chủ động,tích cực trong học tập của học sinh Quan trọng hơn nữa là những sáng tạo củangười học được chấp nhận, bổ sung vào bài học chung cho cả lớp

 Tính mới của giải pháp : Có đưa ra các bước cụ thể để tiến hành giải

pháp ; nêu ví dụ minh họa cụ thể (giúp GV dễ hình dung để tham khảo và vận dụng)

Ưu điểm của giải pháp này: kích thích tư duy HS, kích thích đối thoại, phát triển tư duy và kĩ năng phản biện ở HS; tạo cơ hội để HS thể hiện bản thân

từ mặt kiến thức cho đến khâu ăn nói, trình bày vấn đề; cơ hội để HS rèn kĩ năng sống như mạnh dạn, tự tin, biết văn hóa phê bình…, HS năng động, sáng tạo, chủ động và có kĩ năng tương tác nhóm; cơ hội để GV huấn luyện HS thành những người thầy để truyền đạt tri thức cho các bạn HS khác qua việc thảo luận nhóm Qua việc truyền đạt, HS sẽ có cơ hội nói lại những điều đã đọc được, suy luận bằng chính ngôn ngữ của mình, nhận được sự phản biện từ bạn học và phải bảo vệ luận điểm của mình HS sẽ đóng vai trò là người phân xử Bằng cách này HS sẽ dần dần có được năng lực ở cấp độ 3 GV cũng tạo được

cơ hội cho HS tranh luận với mình Qua quá trình tranh luận, HS có cơ hội trình bày sự hiểu biết của mình và GV có thể kiểm tra mức độ nhận thức của

Trang 24

sinh viên GV sử dụng các kỹ thuật đặt câu hỏi, dẫn dắt vấn đề theo định hướng của nội dung bài học để HS tự tìm ra lời giải đáp cho vấn đề của mình GV phải thể hiện vai trò là “người chỉ đường” theo chủ trương của giáo dục học

Hạn chế: trong quá trình tranh luận, phản biện giữa HS với HS, HS với

GV, ắt hẳn sẽ nảy sinh nhiều tình huống sư phạm mà GV chưa tiên lượng trước được Do đó sẽ là hay, hấp dẫn nếu GV có kiến thức sâu rộng, có năng khiếu sư phạm, có kĩ năng giải quyết tình huống sư phạm vững vàng…, ngược lại sẽ phản tác dụng, tranh luận phản biện sẽ trở thành những cuộc tranh cãi không thể kiểm soát, hạ thấp uy tín GV.

2.4 Xây dựng hệ thống câu hỏi, hệ thống bài tập, đề kiểm tra theo hướng tích cực phát triển tư duy phản biện

Năng lực phản biện không thể có ngay lập tức mà cần đến một quá trình

Vì vậy cần cho học sinh thường xuyên luyện tập Với hệ thống câu hỏi tronggiảng dạy, bài tập ở lớp, bài tập về nhà hoặc đổi mới hình thức kiểm tra đánhgiá, việc rèn luyện và phát triển năng lực phản biện cho học sinh sẽ có kết quảcao hơn Việc chuẩn bị bài của học sinh hiện nay còn mang tính đối phó Các emthường chép theo các sách hướng dẫn học bài, thậm chí không cần đọc văn bản

mà vẫn có thể soạn bài, hoặc đọc câu hỏi yêu cầu trước rồi lướt nhanh xem câutrả lời ở đâu và ghi vào vở soạn Việc chuẩn bị bài như thế đương nhiên sẽkhông thể có hiệu quả Vì vậy giáo viên nên có một số bài tập cho cả 2 giaiđoạn, trước và sau khi đọc hiểu văn bản Giáo viên cũng có thể dựa vào nhữngcâu trả lời của học sinh để so sánh mức độ hiểu bài của các em ở những giaiđoạn khác nhau Hệ thống bài tập không cần nhiều, có khi chỉ cần một vài bàivới các dạng thức khác nhau như: bài tập trình bày một vấn đề, giải thích mộtvấn đề, tìm dẫn chứng cho luận điểm, sắp xếp các ý Hoặc cao hơn có thể yêucầu các em hoàn thiện một đề tài khoa học nhỏ

Đổi mới kiểm tra, đánh giá là yêu cầu bức thiết hiện nay Mấy năm gầnđây luôn có những dạng đề mới, đề mở, kích thích hứng thú sáng tạo và khảnăng phản biện của học sinh

Ví dụ:

- Chẳng hạn đề thi Đại học khối C năm 2012 như sau: Trình bày suy nghĩ

về ý kiến: “Kẻ cơ hội thì nôn nóng tạo ra thành tích, người chân chính thì kiên nhẫn lập nên thành tựu” Đề thi đại học khối C năm 2013: Có ý kiến cho rằng:

“Sự nhẫn nhục của nhân vật Từ (Đời thừa – Nam Cao) không đáng trách chỉ đáng thương; còn sự nhẫn nhục của người đàn bà hàng chài (Chiếc thuyền ngoài xa – Nguyễn Minh Châu) vừa đáng thương lại vừa đáng trách” Từ cảm

nhận của mình về hai nhân vật này, anh/chị hãy bình luận ý kiến trên.

- Trong kỳ thi học sinh giỏi lớp 9 THCS cấp thành phố năm học

2017-2018 tại TP HCM, trong câu 1 của đề thi môn Ngữ văn xuất hiện câu hỏi Toánhọc vô cùng thú vị, khơi gợi tư duy người làm bài, các em sẽ có cơ hội bày tỏquan điểm cá nhân nhiều hơn Không chỉ có các thí sinh mà các giáo viên cũngkhá bất ngờ với câu hỏi Toán học này Cụ thể, trong câu 1 (8 điểm), đề thi nêu ra

Trang 25

một bài Toán với quy tắc đánh số thứ tự của bãi đậu xe Tuy nhiên, đây là bàitoán mẹo, do đó, các bạn thí sinh phải lật ngược tờ giấy lại thì mới thấy rõ câu

trả lời Dẫn dắt vấn đề từ 1 bài toán, đề thi đã khéo léo đặt vấn đề: “Cũng như vậy, trong cuộc sống, đôi khi chỉ cần thay đổi góc nhìn, ta sẽ khám phá ra bao điều thú vị Em có đồng ý như vậy không? Hãy viết bài văn trình bày suy nghĩ của em”.

Đề thi Ngữ văn có câu hỏi Toán học khá thú vị và khơi gợi tư duy cho học sinh.

Nhiều học sinh tỏ ra thích thú với câu hỏi này vì đây là một vấn đề rất phổbiến trong xã hội hiện nay khi mà con người không bao giờ chịu đặt bản thânvào vị trí của người khác để thấu hiểu Nhiều người dễ dàng chỉ trích, phê phán

ai đó, dù chỉ lắng nghe tiếp nhận một chiều.Trao đổi với Zing.vn Cô Nguyễn ÁiTrà My, tổ trưởng tổ Văn, trường THPT Bùi Thị Xuân (TP.HCM), cô khá bất

ngờ với cách ra đề thi năm nay: “Lúc đầu, nhìn vào đề với hình ảnh, con số và câu đố, tôi thật sự hơi hoảng, không biết dụng ý của đề là gì Nhưng lật ngược hình ảnh lại, đúng là vấn đề khác hẳn”, cô My chia sẻ Cũng theo cô My, đề thi

này không có “đất” cho những em chỉ học theo kiến thức trong sách vở hoặcnhững bài văn mẫu Đồng thời, cách hỏi “em có đồng tình hay không?” cũngkhơi gợi được tư duy phản biện của học sinh Với câu 1, các em sẽ có cơ hội bày

tỏ quan điểm cá nhân nhiều hơn Nhận xét về câu 2 - câu nghị luận văn học - côTrà My cho rằng đề bài sẽ có nhiều “đất diễn” cho học sinh giỏi Bởi vì câu 2đòi hỏi học sinh có kiến thức lý luận văn học cơ bản, có cảm thụ tốt về tác phẩmvăn học Phần lý luận văn học không quá khó, phần cảm thụ tác phẩm cũngkhông gò bó, bắt buộc học sinh phân tích tác phẩm nào mà để các em tự chọn.Qua đó có thể thấy rằng, chúng ta đã rất chú trọng đến yêu cầu đào tạo nhữnghọc sinh ưu tú, có tư duy sáng tạo và năng lực phản biện Điều này là hợp với xuthế phát triển của giáo dục trong nước và thế giới

- Khi ra đề kiểm tra phần truyện trung đại Ngữ văn 9, trường chúng tôi đã

cố gắng xây dựng bộ câu hỏi theo định hướng phát triển tư duy phản biện cho

HS, nhằm góp phần phát triển năng lực và phẩm chất người học nói chung Đềkiểm tra được chọn lọc trong số ngân hàng câu hỏi, đơn cử vài ví dụ như sau:

Trang 26

* Truyện “Chuyện người con gái Nam Xương”:

1 Theo em, nguyên nhân nào dẫn đến cái chết thương tâm của nhân vật

Vũ Nương trong tác phẩm ?

2 Có ý kiến cho rằng, hành động tự vẫn của Vũ Nương là quá nông nổi

và dại dột Em có tán thành suy nghĩ đó không? Vì sao?

3 Lẽ ra câu chuyện kết thúc ở đâu? Nguyễn Dữ sáng tạo thêm phần kếtđầy màu sắc hoang đường, kì ảo, theo em, đoạn kết ấy có ý nghĩa gì?

4 Em suy nghĩ như thế nào về giá trị của chi tiết “chiếc bóng” trongtruyện?

* Tác phẩm “Hoàng Lê nhất thống chí” (hồi thứ mười bốn):

1 Cảm nhận của em về hình tượng vua Quang Trung – Nguyễn Huệ trongđoạn trích?

2 Tại sao khi miêu tả sự đại bại của quân tướng nhà Thanh, những dòngvăn lại mang đậm cảm xúc sảng khoái, hả hê…, còn khi nói về tình cảnh thêthảm, bi đát của vua tôi Lê Chiêu Thống, giọng văn có phần ngậm ngùi, xót xa?

Từ đó, hãy nhận xét về thái độ và nhân cách của tác giả

* Đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích”:

1 Nói về đạo đức làm người, hiếu hạnh là đức cao đẹp nhất Ở đây, ThúyKiều tưởng nhớ đau đáu về Kim Trọng- người yêu của nàng, trước, rồi sau đómới nghĩ đến cha mẹ.Liệu như thế có phải là trái với đạo đức không? Lý giảisuy nghĩ của em

2 " Một tâm hồn cảm nhận được sự diễm lệ phong phú của thiên nhiên, một mối đồng cảm với số phận và tâm tư con người, đó là những yếu tố nhân văn kết hợp với bút lực tài hoa đã sáng tạo nên một trong những đoạn thơ nổi tiếng nhất trong Truyện Kiều".(Đặng Thanh Lê) Em hiểu như thế nào về nhận

định trên? Em có đồng ý với nhận định đó không?Hãy lập luận để chứng minhcho ý kiến của em

3 Trong Kim Vân Kiều truyện, Thanh Tâm để Thúy Kiều viết một bài thơ

như sau:

Bên song nước suối thoảng mùi hoaSương khói mung lung ngọn núi xaGần biển, triều dâng bờ đá ướtCách thành, buồm ngả bóng chiều tàGió nâng vóc liễu trên từng gácSóng giục người đi biệt đất nhàViệc cũ can chi mà nhỏ lệ?

Đốt lò nhắp thử vị hương trà

Trang 27

So sánh với cách viết của Nguyễn Du trong "Kiều ở lầu Ngưng Bích"?(…)

Có những câu hỏi ở độ khó, đòi hỏi tư duy sâu sắc, các câu hỏi này khôngchỉ rèn cho học sinh động não, tư duy, lý luận…, mà còn giúp GV phát hiện vàbồi dưỡng học sinh giỏi bộ môn

Để giúp rèn luyện tư duy phản biện thông qua cách đặt câu hỏi mở trong

quá trình giảng dạy và kiểm tra đánh giá, Prince George's Country (một trang

web của chính phủ Hoa Kỳ về giáo dục) đã đưa ra những gợi ý tổng quát chotừng loại câu hỏi cùng với các ví dụ minh họa mà bạn có thể ứng dụng để kíchhoạt tư duy phản biện trong thực tế Các anh chị em GV cùng tham khảo nhé:

a Câu hỏi mang tính ứng dụng

Đây là dạng câu hỏi yêu cầu bạn nắm chắc kiến thức đã biết và có thể ứngdụng, sử dụng kiến thức đã có vào những tình huống cụ thể, ngữ cảnh mới.Trong dạng câu hỏi này bạn có thể đưa vào các từ khóa như: áp dụng, ứng dụng,

mô hình, minh họa, giải quyết,…

b Câu hỏi mang tính phân tích

Những câu hỏi dạng này yêu cầu bạn phải quan sát cẩn thận các thông tin

có được và tiến hành phân tích từng khía cạnh của vấn đề Khi đó, bạn có thểnhìn nhận một cách khách quan về bản chất và hiện trạng của thông tin có được.Trong dạng câu hỏi này bạn có thể đưa vào các từ khóa như: phân tích, so sánh,kiểm tra, phân loại, nguyên nhân chính, mối quan hệ, phân biệt, đặc trưng, …

c Câu hỏi mang tính tổng hợp

Với dạng câu hỏi này, bạn phải có cái nhìn tóm tắt tổng quan các ý chínhquan trọng, suy luận, tạo ra các tình huống mới Trong dạng câu hỏi này bạn cóthể đưa vào các từ khóa như: kết hợp, đề xuất, diễn giải, tạo thành, giả sử, giảiquyết, dự đoán

d Câu hỏi mang tính diễn giải

Trang 28

Đây là những câu hỏi mở đòi hỏi bạn phải vận dụng các kiến thức, ýtưởng đểxây dựng các luận điểm để có thể trình bày, làm rõ quan điểm củamình, có thể trình bày dưới dạng phát biểu hay văn bản Lúc này bạn phải đưa raquan điểm của mình cùng với thu thập, chọn lọc các dẫn chứng minh họa thíchhợp, mang tính thuyết phục cao trước một vấn đề nào đó.

e Câu hỏi mang tính đánh giá

Những câu hỏi này đòi hỏi các bạn phải xây dựng các lập luận để bảo vệcho những quan điểm của mình trước những phê phán, chỉ trích, các lập luậnnày phải dựa trên các tiêu chí đánh giá rõ ràng, phù hợp với góc nhìn kháchquan nhất Trong dạng câu hỏi này bạn có thể đưa vào các từ khóa như: đánhgiá, kết luận, cho điểm, quyết định, nhận thấy, …

Thường xuyên đặt câu hỏi, kích hoạt tư duy phản biện trong học tập, cuộcsống, không ngừng ứng dụng kiến thức, khai phá tri thức rồi chúng ta (cả HS và

GV) sẽ thấy rằng thế giới tri thức ngày càng hấp dẫn và thú vị Đây cũng là công thức tạo nên thành công: kiến thức được tích lũy, khả năng lập luận, tổ chức

nội dung và cuối cùng là sự thôi thúc khám phá và nghiên cứu, đây chính làcông thức chung hình thành nên tư duy phản biện

 Tính mới của giải pháp: Có đưa ra các ví dụ minh họa cụ thể, có đưa

ra các gợi ý tổng quát về các dạng câu hỏi và bài tập kích hoạt tư duy phản biện của HS Ưu điểm của giải pháp này: Đúng với tinh thần đổi mới kiểm tra, đánh giá theo hướng phát triển năng lực và phẩm chất người học; bắt kịp xu thế giáo dục mới mẻ, tiến bộ, nhân văn hiện nay.

2.5 Khích lệ, động viên, mở đường

Trong quá trình dạy học cần có sự khích lệ, động viên Thái độ này củagiáo viên sẽ có ảnh hưởng tích cực đến tất cả học sinh Đặc biệt là những họcsinh nhút nhát, rụt rè, thụ động, ít tham gia phát biểu, đối thoại Nhiều học sinh

có tư duy phản biện rất tốt, nhưng do tích cách nhút nhát, không thích thể hiệnmình nên các em ít tham gia xây dựng ý kiến Cũng có nhiều học sinh do sợ nóisai sẽ bị thầy, cô phê phán nên cũng không dám nói Chính vì thế giáo viên nênkhéo léo khích lệ các em bằng thái độ chân thành Chẳng hạn trước một tình

huống phản biện khó hãy động viên học sinh: Các em cứ mạnh dạn đưa ra quan điểm của mình, nếu sai chúng ta sẽ bàn bạc lại Nhưng biết đâu suy nghĩ trong đầu các em bây giờ lại là một phát kiến vĩ đại Nếu không nói ra thì thật đáng tiếc Hoặc khích lệ: Đừng sợ nói sai, hãy sợ chúng ta không dám nói Hoặc: Cố lên nào, chúng ta sắp tìm ra chân lí Thậm chí khích lệ bằng phần thưởng,

điểm thưởng cũng là một cách vô cùng hiệu quả Những lúc như thế các em sẽcảm thấy tự tin hơn và đang có đồng minh bên cạnh Tất nhiên việc này đòi hỏi

Trang 29

sự chân thành từ phía giáo viên Khen hay chê đều là một nghệ thuật Nếu khenkhông đúng lúc sẽ trở thành “ba phải”, nếu chê không biết cách sẽ làm các em

sợ hãi, lần sau không dám nói Cho nên giáo viên nên biết cách “lựa lời mà nóicho vừa lòng nhau”

Có nhiều kiểu động viên: động viên thường xuyên, động viên tức thì…Động viên thường xuyên là việc làm thường ngày mỗi khi lên lớp Động viêntức thì gắn với hoàn cảnh, tình huống cụ thể cần giải quyết Những câu nói động

viên có thể là động lực thúc đẩy tinh thần học sinh, chẳng hạn: Em có đồng ý như vậy không? Em có ý kiến khác không? Hãy mạnh dạn trình bày ý kiến của em? Thầy/cô sẽ trân trọng ý kiến của em! Những ý kiến phản biện của các em sẽ

được cân nhắc, nếu đúng, hay sẽ được tuyên dương và bổ sung vào bài học; nếusai thì khéo léo và tinh tế từ chối, không vì lời nói khinh suất mà trách mắng!

Em hãy cố gắng lần sau! …Việc động viên, khích lệ học sinh phải đảm bảo tính

chân thực, tránh sáo rỗng, giả tạo nhưng cũng tránh gay gắt, làm mất cảm hứng

học tập của các em Thay vì “em nói sai rồi”, “em nói thế không ai chấp nhận” hãy nói : “cảm ơn em, nhưng ý kiến của em chưa thuyết phục lắm”, “em hãy tiếp tục suy nghĩ và cố gắng lần sau” Khích lệ là cách làm cho học sinh thấy yên

tâm như có đồng minh bên cạnh, để từ đó nói thật những suy nghĩ của mình.Biện pháp này hướng tới tất cả các đối tượng nhưng chủ yếu đối với đối tượnghọc sinh nhút nhát, ít va chạm, ít tham gia phát biểu, tranh luận, đối thoại.Những học sinh hay mặc cảm, tự ti Giáo viên vận dụng biện pháp này cũngphải khéo léo, pha một chút dí dỏm càng tốt

 Tính mới của giải pháp: Giúp các em HS yếu kém hòa nhập, mạnh

dạn, tự tin hơn Giải pháp có đưa ra nhiều hình thức động viên HS, giúp các em

tự tin, và cảm thấy vui vẻ, thích thú khi học Tâm lý ai cũng muốn được khen hơn là chê, được thưởng hơn là phạt Cho nên giải pháp này khiến các em cảm thấy “Mỗi ngày đến trường là một ngày vui; Mỗi giờ học Văn là một giờ vui”.

Ưu điểm: làm cho giờ học Văn trở nên sôi nổi, sinh động, hấp dẫn; bồi đắp tình yêu Văn học cho HS, cả tình yêu trường lớp, thầy cô, bạn bè.

2.6 Tạo không khí đối thoại tự do, dân chủ

Giờ dạy học văn phải tạo được không khí cảm xúc, sự đồng cảm, giaocảm, cộng hưởng xúc cảm giữa nhà văn – giáo viên – học sinh Học sinh “tròchuyện” với nhà văn thông qua tác phẩm trung gian Giáo viên là người hướngdẫn tổ chức cho cuộc đối thoại đó thật sự tự nhiên, bình đẳng, làm sao lôi cuốn

và lay động được từng học sinh trong lớp học Đó chính là hạt nhân của quátrình dạy học tác phẩm văn chương trên lớp Mọi ý kiến của học sinh đều đượctrân trọng Không khí đối thoại tự do dân chủ sẽ giúp cho quá trình học tập cóhiệu quả cao hơn Để tạo được không khí đó, giáo viên với vai trò tổ chức, thamvấn, chia sẻ luôn phải tỏ ra công tâm, khách quan trong đánh giá vấn đề Cầnkhéo léo gợi mở vấn đề, tạo không khí học tập, kích thích tính tò mò hoặc tínhhiếu thắng ở các em Không nên đưa ra những phán quyết mạnh mẽ với những ýkiến trái chiều của các em, mà hãy tìm cách khích lệ, động viên để các em nóihết lập luận của mình.Tất nhiên việc này sẽ rất mất thời gian, nhưng đừng vì thế

Trang 30

mà e ngại, lo lắng Hãy lắng nghe và tôn trọng những ý kiến của các em và hãydùng nghệ thuật sư phạm, kinh nghiệm giảng dạy để điều tiết bài học.

Có nhiều cách, tùy theo từng đối tượng học sinh khác nhau

Thứ nhất, tạo không khí học tập, kích thích tính tò mò, khả năng khámphá của học sinh Theo Xôcrát, chân lý không có kiểu ăn sẵn mà chân lý và tri

thức phải tìm tòi, phát hiện “Làm cho người ta muốn biết, tranh luận, đối thoại, chân lý sẽ xuất hiện”… Lý thuyết về tiếp nhận tác phẩm văn chương cũng đã

mở ra nhiều hướng phát triển cho giờ học đối thoại.Lý thuyết tiếp nhận chorằng, đọc văn, xác lập không khí giao hòa, giao cảm giữa người nghe với tác giảnhư đang đối thoại với nhau

Thứ hai, hướng vào “đáp ứng” của học sinh, phân loại ý kiến Chú ý tậphợp thành hai hay nhiều luồng ý kiến đối lập nhau Đây là cơ sở tuyệt vời để tạođối thoại

Thứ ba, khéo léo gợi mở, định hướng để các em có cái nhìn so sánh Nêu

ra lí lẽ và dẫn chứng cần thiết để bảo vệ ý kiến của mình Giáo viên nên tỏ rakhách quan, công tâm trong phán xét vấn đề Phải hướng tới tính tối ưu tronggiải quyết đối thoại

Thứ tư, không nên dùng những “đòn phủ đầu” đối với những ý kiến chưaphù hợp Hãy tỏ ra trân trọng và lắng nghe, hãy để cho các em trình bày trọn vẹn

ý kiến của mình Điều đó giúp các em hiểu rằng, mình đang được tôn trọng vàđược học trong một giờ học đầy ắp tính dân chủ

Biện pháp này có thể vận dụng với tất cả các đối tượng học sinh.Với những

học sinh có sự đam mê văn chương thì biện pháp này càng phát huy hiệu quả cao

 Tính mới của giải pháp: Giải pháp đã đưa ra 4 cách cụ thể để tạo

không khí đối thoại tự do, dân chủ, khơi dậy và bồi đắp, nâng cao kĩ năng phản biện của HS trước một vấn đề

Ưu điểm: góp phần tạo nên thế hệ trẻ tự do, năng động, biết làm chủ và

có chính kiến Hơn nữa còn góp phần trau dồi phẩm chất đạo đức cho con

người mới trong thời đại mới Phẩm chất đạo đức đóng vai trò quan trọng trong việc ứng xử, hành động của con người Khi ứng xử ngoài cuộc sống hay trong khi làm việc, ngoài việc dựa vào năng lực cá nhân thì phẩm chất đạo đức chính

là yếu tố dẫn dắt con người hành động đúng hay sai cả về mặt đạo đức và pháp luật Trong giảng dạy cho HS, vấn đề hình thành phẩm chất đạo đức chưa được xem trọng, GV thường xem HS đã hoàn thiện phẩm chất đạo đức từ gia đình, nếu có sự sai lệnh về phẩm chất đạo đức thì coi như hỏng, ít quan tâm đến phẩm chất đạo đức có vai trò quan trọng trong việc tiếp nhận và xử lý thông tin của HS (kỹ năng tư duy phản biện) Theo triết học, với phẩm chất đạo đức tốt, khi tiếp nhận thông tin sẽ ít có sự “nhiễu loạn” về thông tin, vì tâm trong sáng luôn nhìn vấn đề ở khía cạnh tốt, sẽ dùng thông tin đó trong việc thiện và ngược lại Người có phẩm chất đạo đức chưa tốt luôn dùng các tâm “xấu” như: tham, ngã mạn, đố kỵ, tà kiến… để nhìn nhận vấn đề và xử lý nó Theo Vi diệu pháp (Tạng Luận) chính những tâm “xấu” này sẽ làm yếu tố nhiễu, làm lệch thông tin

Trang 31

và dĩ nhiên việc xử lý thông tin sẽ không chính xác, dẫn đến những quan niệm sai lầm, kỹ năng tư duy phản biện không được “mài bén” do chính các tâm

“xấu” bào mòn nó Trong giảng dạy, GV hãy xem mình là bác sĩ, còn HS là người bệnh Với trạng thái tâm thức đó, GV mới thấy rõ được HS đang gặp những trở ngại nào trong việc tiếp nhận và xử lý thông tin, từ đó mới có hướng giải quyết đúng đắn Ngoài ra, GV phải không ngừng rèn luyện hoàn thiện nhân cách, đặc biệt là phẩm chất đạo đức, bởi theo giáo dục học thì nhân cách của

GV chính là phương tiện trong giảng dạy, là tấm gương để HS noi theo.

Hạn chế: Nhiều khi HS tự do dân chủ hơi “quá đà”, cho nên không khéo

sẽ làm mất mĩ quan của môi trường sư phạm, mất tình cảm thầy trò, “cá mè một lứa”… Do đó, GV lưu ý, đối thoại tự do dân chủ nhưng phải trên cơ sở các giá trị nhân văn, nhân bản và truyền thống tôn sư trọng đạo.

2.7 Giáo viên linh hoạt xuất - ẩn

Biện pháp này đề cập đến vai trò của người giáo viên trong giờ học Cólúc đứng ra làm chủ giờ dạy, có lúc phải “lui vào hậu trường” nhường chỗ chochủ thể chính hoạt động, lúc này người giáo viên giữ vai trò là người dẫnchương trình – MC cho tiết học

Hãy tham khảo quan điểm của J.Vial (nhà GD Pháp) Ông cho rằng: mụcđích cao nhất của dạy học là giải phóng tiềm năng sáng tạo của học trò; học sinh

và giáo viên quan hệ tỉ lệ nghịch trong quá trình phát triển của dạy học (học sinhtiến dần đến chỗ làm chủ - giáo viên tiến dần đến chỗ bị xóa mờ, càng mờ các tốt) Ởđây, chúng tôi chưa dám nghĩ đến việc xóa mờ vai trò của giáo viên trong giờ học

mà chỉ là “linh hoạt xuất hiện, ẩn đi” theo từng thời điểm của tiết học Khi học sinh

còn lúng túng, chưa định hình thì cần vai trò dẫn dắt của GV Khi các em vào cuộcđối thoại, tranh luận, phản biện thì giáo viên cần ẩn mình để tính chủ động, sáng tạocủa các em được phát huy tối đa Việc xuất - ẩn linh hoạt, nhịp nhàng như vậy sẽ tạonhững khoảng trống, cơ hội cho học sinh tranh luận, phản biện Biện pháp này vậndụng với nhiều đối tượng học sinh khác nhau trong tình huống tiết học có tranhluận, phản biện giữa học sinh với học sinh

 Tính mới của giải pháp: Giải pháp này chưa có ở các sáng kiến khác

Ưu điểm: Phát huy vai trò tích cực, chủ động của người học; hạn chế bớt sự làm việc quá nhiều của GV trong một tiết học mà xưa nay ta vẫn thấy

2.8 Giáo viên sử dụng “Phép thử”

Phép thử là cách giáo viên tạo tình huống học tập cho học sinh trong quátrình dạy học nhằm phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo của người học,qua đó đạt mục tiêu giáo dục Để vận dụng được biện pháp này đòi hỏi giáo viênphải thật sự có hiểu biết thấu đáo, sâu sắc vấn đề (sự uyên bác cần thiết), thật sựchủ động trong quá trình dạy học Biện pháp này chỉ nên vận dụng đối vớinhững đối tượng học sinh khá, giỏi và có tinh thần học tập nghiên cứu Nếukhông sẽ thất bại, thành ra “gậy ông đập lưng ông”!

Cách làm cụ thể như sau: trong quá trình hướng dẫn học sinh học tập, lĩnh

hội tri thức của bài học, ở một trường hợp nào đó, giáo viên khéo léo, tinh tế cố

Ngày đăng: 12/04/2022, 14:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w