Ngữ văn là môn học thuộc lĩnh vực khoa học xã hội. Đây là môn học có vai trò quan trọng trong việc giáo dục quan điểm, tư tưởng, tình cảm cho HS. Học tốt môn Ngữ văn sẽ tạo điều kiện cho các em học tốt hơn các bộ môn khác. Phân môn tiếng Việt là một trong ba phân môn của môn Ngữ văn. Dạy học tiếng Việt giúp HS phát triển năng lực giao tiếp, năng lực thẩm mỹ và năng lực sáng tạo; hình thành và phát triển con người nhân văn; biết tiếp nhận, cảm thụ, thưởng thức cái hay, cái đẹp; đánh giá các sản phẩm ngôn từ và các giá trị cao đẹp trong cuộc sống. Những năm gần đây, cùng với việc đổi mới mục tiêu và nội dung dạy học, vấn đề đổi mới PPDH đã được đặt ra một cách bức thiết. Trên tinh thần Nghị quyết 29 – NQTW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, dạy học theo chủ đề được xem là một bước đổi mới có tính đột phá. Theo đó, dạy học phân môn tiếng Việt theo các chủ đề là điều rất cần thiết.
Trang 1MỤC LỤC
A MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu đề tài 1
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2
4 Giả thuyết nghiên cứu: 2
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
6 Phạm vi và giới hạn đề tài: 2
7 Phương pháp nghiên cứu: 2
B NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 2
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu 2
1 Cơ sở khoa học 2
2 Cơ sở thực tiễn 3
Chương 2: Thực trạng của vấn đề nghiên cứu 3
I Đặc điểm tình hình 3
1 Hiện trạng 3
2 Quy trình thực hiện 4
3 Những thuận lợi và khó khăn của hiện trạng 5
II NỘI DUNG GIẢI PHÁP 10
1 Mục tiêu của giải pháp 10
2 Các bước thực hiện giải pháp: 10
3 Điều kiện cần thiết để áp dụng giải pháp 36
4 Những thông tin cần được bảo mật:/ 36
III Những biện pháp, các bước cụ thể đã tiến hành áp dụng/áp dụng thử giải pháp: 37
IV Hiệu quả thu được khi áp dụng giải pháp 38
V Kết luận và kiến nghị 38
1 Ý nghĩa của giải pháp trong thực tiễn công tác 38
2 Khả năng ứng dụng, triển khai của giải pháp 38
3 Những bài học kinh nghiệm 39
4 Những đề xuất kiến nghị 39
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO: 41
Trang 2A MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Ngữ văn là môn học thuộc lĩnh vực khoa học xã hội Đây là môn học cóvai trò quan trọng trong việc giáo dục quan điểm, tư tưởng, tình cảm cho HS.Học tốt môn Ngữ văn sẽ tạo điều kiện cho các em học tốt hơn các bộ môn khác
Phân môn tiếng Việt là một trong ba phân môn của môn Ngữ văn Dạyhọc tiếng Việt giúp HS phát triển năng lực giao tiếp, năng lực thẩm mỹ và nănglực sáng tạo; hình thành và phát triển con người nhân văn; biết tiếp nhận, cảmthụ, thưởng thức cái hay, cái đẹp; đánh giá các sản phẩm ngôn từ và các giá trịcao đẹp trong cuộc sống
Những năm gần đây, cùng với việc đổi mới mục tiêu và nội dung dạy học,vấn đề đổi mới PPDH đã được đặt ra một cách bức thiết Trên tinh thần Nghịquyết 29 – NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, dạy họctheo chủ đề được xem là một bước đổi mới có tính đột phá Theo đó, dạy họcphân môn tiếng Việt theo các chủ đề là điều rất cần thiết
Trong quá trình dạy học phân môn tiếng Việt, tôi nhận thấy HS, đặc biệt
là HS lớp 6 chưa có vốn từ phong phú, hiểu nghĩa của từ ngữ còn mơ hồ dẫn đếntình trạng các em còn viết sai chính tả, sai ngữ nghĩa và ít có HS dùng từ, đặtcâu cho hay Khi dạy học các BPTT: so sánh, nhân hóa, ẩn dụ, hoán dụ, tôi nhậnthấy HS hiểu khái niệm còn chung chung, chưa đi sâu tìm hiểu giá trị biểu đạt vàvận dụng chưa linh hoạt các phép tu từ này vào đọc hiểu, tạo lập văn bản vàtrong giao tiếp Một số HS còn lẫn lộn giữa các BPTT nên hiểu sai, vận dụngsai Là một giáo viên trực tiếp giảng dạy môn Ngữ văn lớp 6, tôi luôn trăn trởlàm thế nào để giúp các em khối lớp 6 hiểu và nắm bắt kiến thức về các phép tu
từ một cách dễ dàng, kĩ lưỡng Chắc hẳn đó là vấn đề không chỉ riêng tôi mà rấtnhiều đồng nghiệp khác cũng đang quan tâm
Bên cạnh đó, tôi thấy hiện nay chưa có một lý thuyết thật hệ thống và bàibản về các phép tu từ (hay biện pháp tu từ) trong chương trình Ngữ văn 6 Trongkhi đó, việc dạy và học các bài về BPTT còn không ít bất cập Như vậy, tìm rabiện pháp hiệu quả để dạy học các phép tu từ là thật sự cần thiết và có tính ứngdụng cao Nó có ý nghĩa như một sự chỉ dẫn bước đầu trong công việc giảng dạytrên lớp
Với những lí do trên, tôi mạnh dạn đưa ra sáng kiến: “Giải pháp nâng
cao hiệu quả trong tiết dạy các biện pháp tu từ ở môn Ngữ văn 6, trường THCS Nguyễn Trung Trực” Hy vọng rằng, những kinh nghiệm rút ra từ thực
tiễn giảng dạy của bản thân sẽ góp phần nhỏ vào việc nâng cao chất lượng dạyhọc các BPTT nói riêng và kết quả dạy học môn Ngữ văn nói chung
2 Mục đích nghiên cứu đề tài
Xác định một số giải pháp chính trong tiết dạy các biện pháp tu từ đểnâng cao hiệu quả giảng dạy môn Ngữ văn của nhà trường năm học 2020-2021
và những năm tiếp theo.
Trang 33 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Nghiên cứu về những giải pháp nâng cao chất lượng bộ môn của học
sinh ở trường THCS
3.2 Khách thể nghiên cứu
- HS lớp 6 Trường THCS Nguyễn Trung Trực
4 Giả thuyết nghiên cứu:
Việc nghiên cứu trên nếu áp dụng đại trà thì sẽ góp phần nhỏ nâng caohiệu quả giáo dục toàn diện trong trường THCS
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận được thể hiện trong nghị quyết của Đảng, Luậtgiáo dục và các văn bản của Bộ Giáo dục và Đào tạo
- Nghiên cứu thực trạng chất lượng bộ môn của học sinh của trườngTHCS Nguyễn Trung Trực và nguyên nhân dẫn đến thực trạng đó
- Đề xuất giải pháp: Lớp thực nghiệm (6/1) và lớp đối chứng (6/2)
6 Phạm vi và giới hạn đề tài:
- Xác định về nội dung: Nghiên cứu về những giải pháp để nâng cao hiệuquả giảng dạy các tiết học về các biện pháp tu từ của trường THCS NguyễnTrung Trực năm học 2020-2021
- Thời gian nghiên cứu: Bắt đầu từ 12/10/2020 đến 12/01/2021
- Không gian nghiên cứu: Trường THCS Nguyễn Trung Trực,Vạn Ninh,Khánh Hòa
- Đối tượng khảo sát: Khảo sát thực trạng của HS tại trường THCSNguyễn Trung Trực,Vạn Ninh, Khánh Hòa trong những năm gần đây
7 Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu lý luận
B NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu
1 Cơ sở khoa học
Trang 4Những năm gần đây, cùng với việc đổi mới mục tiêu và nội dung dạy học,vấn đề đổi mới phương pháp dạy học đã được đặt ra một cách bức thiết Trêntinh thần Nghị quyết 29 – NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đàotạo, dạy học theo chủ đề được xem là một bước đổi mới có tính đột phá Theo
đó, dạy học phân môn tiếng Việt theo các chủ đề là điều rất cần thiết
2 Cơ sở thực tiễn
Trong quá trình dạy học phân môn tiếng Việt, tôi nhận thấy HS, đặc biệt
là HS lớp 6 chưa có vốn từ phong phú, hiểu nghĩa của từ ngữ còn mơ hồ dẫn đếntình trạng các em còn viết sai chính tả, sai ngữ nghĩa và ít có HS dùng từ, đặtcâu cho hay Khi dạy học các BPTT: so sánh, nhân hóa, ẩn dụ, hoán dụ, tôi nhậnthấy HS hiểu khái niệm còn chung chung, chưa đi sâu tìm hiểu giá trị biểu đạt vàvận dụng chưa linh hoạt các phép tu từ này vào đọc hiểu, tạo lập văn bản vàtrong giao tiếp Một số HS còn lẫn lộn giữa các BPTT nên hiểu sai, vận dụngsai Là một giáo viên trực tiếp giảng dạy môn Ngữ văn lớp 6, tôi luôn trăn trởlàm thế nào để giúp các em khối lớp 6 hiểu và nắm bắt kiến thức về các phép tu
từ một cách dễ dàng, kĩ lưỡng Chắc hẳn đó là vấn đề không chỉ riêng tôi mà rấtnhiều đồng nghiệp khác cũng đang quan tâm
Bên cạnh đó, tôi thấy hiện nay chưa có một lý thuyết thật hệ thống và bàibản về các phép tu từ (hay biện pháp tu từ) trong chương trình Ngữ văn 6 Trongkhi đó, việc dạy và học các bài về BPTT còn không ít bất cập Như vậy, tìm rabiện pháp hiệu quả để dạy học các phép tu từ là thật sự cần thiết và có tính ứngdụng cao Nó có ý nghĩa như một sự chỉ dẫn bước đầu trong công việc giảng dạytrên lớp
Chương 2: Thực trạng của vấn đề nghiên cứu
- Khi học các BPTT: so sánh, nhân hóa, ẩn dụ, hoán dụ, các em chưa biếtcách tìm hiểu khái niệm các phép tu từ, chưa phân biệt được sự giống và khácnhau giữa các BPTT nên dẫn đến hiểu chưa rõ, hiểu sai nội dung, giá trị nghệthuật của mỗi phép tu từ
- Trong những bài kiểm tra tiếng Việt về BPTT, các em còn lúng túng khixác định các phép tu từ và phân tích ý nghĩa trong đoạn thơ, đoạn văn cụ thể
- Tài liệu tham khảo của HS là hầu như không có, các em thường thamkhảo từ những cuốn sách giải, sách văn mẫu, Internet
Trang 5*Đối với GV:
- Khi dạy các phép tu từ, tôi còn gặp khó khăn như: thời lượng lên lớpkhông đủ để giúp HS hiểu rõ và khắc sâu kiến thức nên chỉ hướng dẫn HS mộtcách chung chung, mơ hồ, chưa rèn luyện được kĩ năng nhận diện, phân tíchphép tu từ cho HS
- Tài liệu tham khảo về mảng BPTT trong nhà trường còn hạn chế (chỉ cósách giáo viên và sách chuẩn kiến thức – kĩ năng), gây khó khăn cho GV khi cầntra cứu, tham khảo Chưa có tài liệu hướng dẫn về PPDH các BPTT Đa số các
GV thường sử dụng các giáo án tham khảo trên Internet
Lý luận dạy học đã có nhiều công trình nghiên cứu về các BPTT như:+ Nguyễn Thái Hòa với công trình “Phân tích phong cách học” (năm1983)
+ Đinh Trọng Lạc và Nguyễn Thái Hòa với công trình “Phong cách họctiếng Việt” (năm 1995)
+ Đinh Trọng Lạc với công trình “99 phương tiện tu từ và biện pháp tu từtiếng Việt” (năm 2000)
Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu thường chỉ chú trọng tìm hiểu ở mức độngôn ngữ học, khái quát những kiến thức lí luận nền tảng Ở các công trình nêutrên, các tác giả đã đi sâu nghiên cứu, khái quát về biện pháp tu từ tiếng Việtthuộc 5 cấp độ: tu từ học từ vựng, ngữ nghĩa, cú pháp, văn bản, ngữ âm – văn tự,chưa tác giả nào đi sâu vào việc định hướng giảng dạy các bài học về BPTTtrong nhà trường THCS Thực hiện đề tài này, tôi sẽ kế thừa những vấn đề líthuyết mà các nhà ngôn ngữ học đã dày công nghiên cứu Trên nền tảng lí luận
đó tôi tiến hành đưa ra giải pháp và thiết kế các bài giảng về BPTT
2 Quy trình thực hiện
Để thuận lợi cho việc nghiên cứu của mình, tôi chọn HS lớp 6 trườngTHCS Nguyễn Trung Trực làm đối tượng nghiên cứu Các lớp được lựa chọntham gia nghiên cứu là 6/1, 6/2 (năm học 2018 – 2019)
- Về sỉ số, tỉ lệ giới tính của HS hai lớp:
Trang 6Qua khảo sát, tôi nhận thấy:
- Về kiến thức: Chất lượng HS giỏi khá không nhiều Đa số là HS trungbình, yếu, thậm chí là HS kém nên nhiều em nắm bắt kiến thức và vận dụngcòn chậm, không hiệu quả
- Về kĩ năng: Số HS tiếp thu nhanh nhạy còn ít
+ 20% hiểu khái niệm và nhận diện được BPTT
+ 50 % hiểu khái niệm nhưng nhận diện còn chậm
+ 20% hiểu khái niệm mơ hồ và không nhận diện được
+ 10% không biết gì
3 Những thuận lợi và khó khăn của hiện trạng
3.1 Phân bố các bài về BPTT trong chương trình SGK Ngữ văn lớp 6: Theo định hướng tích hợp với chương trình tiếng Việt ở Tiểu học, chương trình Ngữ văn lớp 6 đã đưa vào giảng dạy các bài về BPTT cụ thể như sau:
Kĩ năng: nhận diện và phântích được các kiểu so sánh đãdùng trong văn bản, chỉ rađược tác dụng của các kiểu sosánh đó
24
Trang 7Kiến thức: nắm được các kiểu
so sánh cơ bản và tác dụngcủa so sánh trong nói và viết
Kĩ năng: đặt câu có sử dụngphép tu từ so sánh theo haikiểu cơ bản; phát hiện sựgiống nhau giữa các sự vật đểtạo ra được những so sánhđúng, so sánh hay
Kĩ năng: nhận biết và bướcđầu phân tích được giá trị củaphép tu từ so sánh; sử dụngđược phép nhân hóa trong nói
Kĩ năng: bước đầu nhận biết
và phân tích được ý nghĩacũng như tác dụng của phép
tu từ ẩn dụ trong thực tế sửdụng tiếng Việt; bước đầu tạo
ra được một số kiểu ẩn dụđơn giản trong nói và viết
Kĩ năng: nhận biết và phântích được ý nghĩa cũng nhưtác dụng của phép tu từ hoán
dụ trong thực tế sử dụng tiếngViệt; bước đầu tạo ra đượcmột số kiểu hoán dụ trong nói
Trang 8Bảng thống kê trên cho thấy số lượng bài học PCH phân bố ở các lớp 6 làkhá hợp lí: 5/17 bài trong học kì II.
Sự phân bố trên dựa trên định hướng tích hợp Chủ yếu là tích hợp ngangtheo nguyên tắc đồng quy: Văn bản – Tiếng Việt – Tập làm văn
*Ví dụ: Trong chương trình Ngữ văn 6 tập 2, bài 19, các em đọc – hiểu
văn bản Sông nước Cà Mau (Đoàn Giỏi) Ngay sau đó, các em học TV bài Sosánh, lấy ngữ liệu trong văn bản Sông nước Cà Mau để phân tích, hình thànhkhái niệm so sánh và luyện tập:
+ Phần I, ví dụ 1 b) […] trông hai bên bờ, rừng đước dựng lên cao ngấtnhư hai dãy trường thành vô tận
+ Phần luyện tập: bài tập 3: Hãy tìm những câu văn có sử dụng phép sosánh trong các bài Bài học đường đời đầu tiên và Sông nước Cà Mau
Sau đó, các em thực hành những kiến thức vừa học về phép so sánh trongphần TLV: Quan sát, tưởng tượng, so sánh và nhận xét trong văn miêu tả
*Ví dụ: Trong chương trình Ngữ văn 6, tập 2, bài Ẩn dụ có sự tích hợp
với bài So sánh:
+ Phần I, 2 Cách nói này có gì giống và khác với phép so sánh?
+ Phần luyện tập: bài tập 1: So sánh đặc điểm và tác dụng của ba cáchdiễn đạt sau:
Cách 1: Bác Hồ mái tóc bạc
Đốt lửa cho anh nằm
Cách 2: Bác Hồ như Người Cha (=>phép so sánh)
Đốt lửa cho anh nằm
Cách 3: Người Cha mái tóc bạc (=>phép ẩn dụ)
Đốt lửa cho anh nằm
Trong bài Hoán dụ có sự tích hợp với bài Ẩn dụ: bài tập 2: Hoán dụ có gìgiống và có gì khác ẩn dụ? Cho ví dụ minh họa
- Về nội dung dạy học BPTT ở lớp 6:
+Nội dung kiến thức:
Nội dung kiến thức ở các bài BPTT lớp 6 đều chú trọng giảm lí thuyết,tăng thực hành, chú trọng rèn luyện kĩ năng cho HS Các đơn vị kiến thức líthuyết ngắn gọn, tương đối dễ hiểu
*Ví dụ: trong chương trình Ngữ văn 6, tập 2, bài Nhân hóa, khái niệm
phép NH như sau: Nhân hóa là gọi hoặc tả con vật, cây cối, đồ vật…bằng những
từ ngữ vốn được dùng để gọi hoặc tả con người
Tác dụng của phép NH như sau: làm cho thế giới loài vật, cây cối, đồ vật,…trởnên gần gũi với con người, biểu thị được những suy nghĩ, tình cảm của con người
Trang 9Hầu hết các bài PCH tiếng Việt lớp 6 nói riêng và phân môn tiếng Việt nóichung đều được thiết kế theo kết cấu sau: tìm hiểu khái niệm => tìm hiểu tácdụng => tìm hiểu các kiểu, các dạng của PTT => luyện tập.
Trên tinh thần tích hợp và đổi mới PPDH, chương trình SGK đã sử dụngnhững ngữ liệu mang tính chất tham khảo cao hơn là tính chất khuôn mẫu Cácngữ liệu này được lấy từ những văn bản HS vừa đọc – hiểu, mang tính chất địnhhướng cho GV và HS phân tích, hình thành kiến thức Tuy nhiên, hầu như mỗiđơn vị kiến thức, các nhà biên soạn SGK chỉ đưa ra một ví dụ điển hình Đôi khingữ liệu còn quá ít, khó hình thành khái niệm ngay cho HS, buộc GV phải đưathêm ngữ liệu để giúp HS dễ dàng rút ra những đơn vị kiến thức cần nhớ
*Ví dụ: Hai bài Ẩn dụ và Hoán dụ (chương trình Ngữ văn 6, tập 2) là hai
bài với những đơn vị kiến thức tương đối trừu tượng, khó hiểu và dễ gây nhầmlẫn cho HS Để hình thành khái niệm, mỗi bài chỉ có một ví dụ:
+Bài Ẩn dụ: 1 Trong khổ thơ dưới đây, cụm từ Người Cha được dùng đểchỉ ai? Vì sao có thể ví như vậy?
Anh đội viên nhìn Bác
Càng nhìn lại càng thương
Người Cha mái tóc bạc
Đốt lửa cho anh nằm
(Minh Huệ)
2 Cách nói này có gì giống và khác với phép so sánh?
+Bài Hoán dụ: 1 Các từ ngữ in đậm trong câu thơ sau chỉ ai?
Áo nâu liền với áo xanh
Nông thôn cùng với thị thành đứng lên.
*Ví dụ: trong chương trình Ngữ văn 6, tập 2, bài So sánh (tt):
+Bài tập 1: mức độ phát hiện, nhận biết: Chỉ ra các phép so sánh trong nhữngkhổ thơ, cho biết chúng thuộc những kiểu so sánh nào, phân tích tác dụng
Trang 10+Bài tập 2: mức độ thông hiểu: Nêu những câu văn có sử dụng phép sosánh trong bài Vượt thác (tích hợp với phân môn Văn); em thích hình ảnh sosánh nào? Vì sao?
+Bài tập 3: mức độ vận dụng cao: Dựa theo bài Vượt thác, hãy viết mộtđoạn văn từ ba đến năm câu tả dượng Hương Thư đưa thuyền vượt qua thác dữ;trong đoạn văn có sử dụng cả hai kiểu so sánh đã được giới thiệu
Tóm lại, nội dung dạy học BPTT trong chương trình môn Ngữ văn lớp 6
là khá hợp lí, đáp ứng được mục tiêu chung của môn Ngữ văn và phân môntiếng Việt nói riêng, đảm bảo được các nguyên tắc dạy học tiếng Việt Các bàiBPTT trong chương trình môn Ngữ văn lớp 6 đã được thiết kế trên tinh thần tíchhợp, tăng cường thực hành, giảm tối đa lí thuyết, chú trọng rèn luyện kĩ năngnghe, nói, đọc, viết có hiệu quả cho HS
Tuy nhiên, theo tôi, việc bố trí các bài Ẩn dụ, Hoán dụ ở lớp 6 là chưahợp lí, nội dung kiến thức vượt quá sự hiểu biết của các em vì các em vừa từ bậcTiểu học lên, tư duy trừu tượng chưa thật sự tốt, nên phân bố những bài này vàohọc kì I của lớp 7 Mặt khác, chương trình SGK chưa có tiết luyện tập cho cácbài về BPTT Chỉ có tiết lí thuyết kết hợp thực hành là không đủ
3.3 Những thuận lợi và khó khăn của hiện trạng
Về phía giáo viên:
- Được Sở Giáo dục và Đào tạo Khánh Hoà cũng như Phòng Giáo dục(PGD) và Đào tạo Vạn Ninh tổ chức tập huấn, bồi dưỡng về chuyên mônnghiệp vụ hằng năm
- Được nhà trường trang bị cơ sở vật chất đảm bảo cho việc ứng dụngcông nghệ thông tin vào dạy học
- Chỉ đạo của PGD, Ban giám hiệu, chuyên môn nhà trường luôn sát sao
và chặt chẽ về công tác đổi mới PPDH, thường xuyên tổ chức dự giờ thăm lớp,góp ý xây dựng giờ dạy chuẩn để GV học tập rút kinh nghiệm
- Trường có phổ biến các tài liệu về đổi mới PPDH rộng rãi trong hộiđồng sư phạm nhà trường để GV nghiên cứu vận dụng
- Hiện nay tài liệu tham khảo khá phong phú nên khá thuận lợi trongcông tác tìm tòi nghiên cứu, giảng dạy của giáo viên
+ Khó khăn:
Về phía giáo viên:
Trang 11- Việc đổi mới PPDH chưa đồng bộ, một số GV còn sử dụng nhiều cácphương pháp truyền thống khiến giờ học trở nên khô khan, nhàm chán, HStham gia học bài một cách chiếu lệ Bản thân có vận dụng PPDH tích cực tronggiờ học song chưa đạt hiệu quả cao, còn hình thức.
- Một số GV lệ thuộc một cách máy móc vào sách giáo viên và sáchchuẩn kiến thức – kĩ năng, ngại tìm tòi, sáng tạo khiến HS “học những cái đãbiết” từ sách giải nên chưa cuốn hút được HS Lại có một số GV ôm đồm, đưaquá nhiều ví dụ khó, khiến HS không tiếp thu được
Về phía học sinh:
- Vì trình độ kiến thức của HS không đồng đều, số HS hỏng kiến thức từbậc tiểu học là không nhỏ, nên việc tiếp thu các bài PCH cũng không đồng đều.Các em hiểu bài sẽ cảm thấy hứng thú; các em mất căn bản, không hiểu bài dẫnđến chán nản, lười học
- Các em còn thụ động, ngại thực hành, không chịu khó tư duy trướcnhững bài tập nâng cao Gặp các bài tập khó, đòi hỏi tư duy tổng hợp các emthường bỏ qua không làm hoặc làm không chính xác
- Khi chuẩn bị bài ở nhà hoặc khi làm bài tập, hầu hết các em thường tiếnhành qua loa, sơ sài, tham khảo từ những quyển sách Văn mẫu, sách giải, thậm chí làsách giáo viên Lên lớp, các em tham gia xây dựng bài một cách máy móc theo bài
đã chuẩn bị
Để giải quyết những khó khăn của hiện trạng, sáng kiến này sẽ là giảipháp thiết thực, cần thiết trong công tác dạy học môn Ngữ văn trong nhàtrường, nhất là các bài về BPTT
II NỘI DUNG GIẢI PHÁP
1 Mục tiêu của giải pháp
Trên cơ sở tìm hiểu lí luận và thực tiễn việc dạy học BPTT trong chươngtrình Ngữ văn lớp 6, đề tài đi sâu nghiên cứu, đề xuất một số biện pháp dạy họccác bài về BPTT theo hướng tích cực Qua đó giúp GV có được những địnhhướng cần thiết để triển khai dạy học các bài về phép tu từ hiệu quả hơn, từ đógóp phần nâng cao hiệu quả học tập môn Ngữ văn
Mô tả bản chất giải pháp
Sáng kiến: “Giải pháp nâng cao hiệu quả trong tiết dạy các biện pháp
tu từ ở môn Ngữ văn 6, trường THCS Nguyễn Trung Trực” của tôi thuộc
loại giải pháp tác nghiệp
2 Các bước thực hiện giải pháp:
2.1 Tìm hiểu các khái niệm:
* Khái niệm biện pháp tu từ:
Theo Đinh Trọng Lạc và Nguyễn Thái Hòa, “Biện pháp tu từ là nhữngcách phối hợp sử dụng trong hoạt động lời nói các phương tiện ngôn ngữ (không
Trang 12kể trung hòa hay diễn cảm) để tạo ra hiệu quả tu từ (tức tác dụng gợi hình, gợicảm, nhấn mạnh, làm nổi bật…) do sự tác động qua lại của các yếu tố trong mộtngữ cảnh rộng Các biện pháp tu từ được chia ra các biện pháp tu từ từ vựng,ngữ nghĩa, cú pháp, văn bản (Đinh Trọng Lạc và Nguyễn Thái Hòa, 1999, tr 61)
Có thể nói, cái làm nên sự kì diệu của ngôn ngữ đó chính là các BPTT
Đinh Trọng Lạc nêu khái niệm so sánh khái quát hơn: So sánh (còn gọi:
so sánh hình ảnh, so sánh tu từ) là một biện pháp tu từ ngữ nghĩa, trong đó người
ta đối chiếu hai đối tượng khác loại của thực tế khách quan không đồng nhất vớinhau hoàn toàn mà chỉ có một số nét giống nhau nào đó, nhằm diễn tả bằng hìnhảnh một lối tri giác mới mẻ về đối tượng (Đinh Trọng Lạc, 2000, tr 154)
Ví dụ: Trẻ em như búp trên cành
Biết ăn ngủ, biết học hành là ngoan
Trang 13(Hồ Chí Minh)Tác giả SS trẻ em với hình ảnh búp trên cành Cả hai đối tượng này cóđiểm tương đồng là đều tươi non, đầy sức sống và chứa chan hi vọng.
Cấu tạo của một phép SS thông thường có thể khái quát như sau:
Tuy nhiên không phải lúc nào một phép SS cũng cần đầy đủ 4 yếu tố trên.Theo Đinh Trọng Lạc trong 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt, thực tế
có nhiều SS không đầy đủ các yếu tố Trong đó:
+SS vắng yếu tố 2 được gọi là so sánh chìm Ví dụ:
Thân em như quế giữa rừng
Thơm tho ai biết, ngát lừng ai hay
Cần chú ý phân biệt SS tu từ và SS logic (so sánh luận lí) Dù đều là thaotác đối chiếu giữa hai hay nhiều đối tượng với nhau nhưng hai loại SS này lại có
sự khác nhau về chất Nếu SS tu từ là sự đối chiếu giữa các đối tượng khác loạithì SS luận lí là sự đối chiếu giữa các đối tượng cùng loại Nếu SS tu từ nhằm mụcđích gợi lên một cách hình ảnh đặc điểm giữa các đối tượng từ đó tạo nên xúc cảmthẩm mĩ trong nhận thức của người tiếp nhận thì SS luận lí đơn thuần chỉ cho tathấy sự ngang bằng hay hơn kém giữa các đối tượng đấy mà thôi Ví dụ:
- Ðôi ta như lửa mới nhen
Như trăng mới mọc,như đèn mới khêu.
- Ðứt tay một chút chẳng đau
Xa nhau một chút như dao cắt
- Khôi đã cao bằng mẹ.
- Con hơn cha là nhà có phúc.
- Nam học giỏi như Bắc.
Trang 14Trong lời nói hàng ngày, dân gian vẫn thường sử dụng những cách nói vívon rất hay và giàu hình ảnh qua việc vận dụng phép SS một cách sáng tạo trongthành ngữ, tục ngữ Ví dụ: gầy như cò hương, hiền như bụt, nhăn như khỉ,…
- Nhóm ẩn dụ
Nhóm ẩn dụ tu từ bao gồm các tiểu phương thức chuyển nghĩa lâm thờisau đây: ẩn dụ; ẩn dụ chuyển đổi cảm giác (ẩn dụ bổ sung); nhân hóa; vật hóa;phúng dụ Tôi chỉ trình bày các khái niệm có liên quan đến việc giảng dạy BPTT
ở nhà trường THCS
+ Ẩn dụ
Ẩn dụ (ÂD) thực chất là so sánh ngầm, trong đó cái so sánh được ẩn đi,chỉ có cái được so sánh Như vậy, ÂD là phương thức chuyển nghĩa của một đốitượng này thay cho một đối tượng khác dựa trên mối quan hệ tương đồng giữahai đối tượng
Đinh Trọng Lạc định nghĩa: Ẩn dụ là sự định danh thứ hai mang ý nghĩahình tượng, dựa trên sự tương đồng hay giống nhau (có tính chất hiện thực hoặctưởng tượng ra) giữa khách thể (hoặc hiện tượng, hoạt động, tính chất) A đượcđịnh danh với khách thể (hoặc hiện tượng, hoạt động, tính chất) B có tên gọiđược chuyển sang dùng cho A (Đinh Trọng Lạc, 2000, tr 52)
SGK Ngữ văn 6, tập 2 đưa ra khái niệm ÂD như sau: Ẩn dụ là gọi tên sựvật, hiện tượng này bằng tên sự vật, hiện tượng khác có nét tương đồng với nónhằm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt
Ví dụ:
Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng
Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ
(Viễn Phương)Mặt trời trong câu thơ thứ hai là một ẩn dụ Tác giả dùng mặt trời để chỉBác Hồ - vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc – Người (như mặt trời) soi sáng, dẫnđường chỉ lối cho dân tộc ta thoát khỏi cuộc sống nô lệ tối tăm, đi tới tương laiđộc lập, tự do, hạnh phúc
Cùng nói về hình ảnh Hồ chủ tịch vĩ đại nhưng nhà thơ Viễn Phương víBác như Mặt Trời, còn Tố Hữu lại ví Bác như vị cha chung, sao Bắc đẩu, vầngThái Dương
Như vậy, ÂD tu từ mang tính chất lâm thời, mang đậm dấu ấn cá nhân củangười sáng tác Muốn phân tích được ẩn dụ, hiểu được cái hay, cái hàm súc của
ẩn dụ, phải đi từ ngữ cảnh, từ ngữ ÂD (B) tìm đến được sự vật, sự việc được SS(A)
Cũng theo SGK Ngữ văn 6, tập 2, ÂD có 4 kiểu thường gặp, đó là:
+Ẩn dụ hình thức
Trang 15+Ẩn dụ cách thức
+Ẩn dụ phẩm chất
+Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác
Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác (còn gọi là ẩn dụ bổ sung) là sự thay thế mộtcảm giác này bằng một cảm giác khác trong nhận thức cũng như trong diễn đạtbằng ngôn ngữ Đây là một trong những kiểu ÂD khó nhận biết và tạo lập đốivới HS THCS
Ví dụ:
“Chao ôi, trông con sông, vui như thấy nắng giòn tan sau kì mưa dầm,
vui như nối lại chiêm bao đứt quãng” (Nguyễn Tuân)
Ở đây có sự chuyển đổi cảm giác từ thị giác sang vị giác “Nắng” là hiệntượng tự nhiên thường được cảm nhận bằng mắt, còn “giòn tan” là cảm nhận của
vị giác mang tính chất rất giòn Tạo ra hình ảnh ÂD độc đáo “nắng giòn tan”,Nguyễn Tuân đã lột tả được hình ảnh con sông một cách đầy bất ngờ và sinhđộng
Ẩn dụ bổ sung có nguồn gốc từ ngôn ngữ sinh hoạt hằng ngày, qua cáchnói dân dã kiểu như: nghe ngọt xớt, giọng nói bùi tai…
+ Nhân hóa
SGK Ngữ văn 6, tập 2 định nghĩa: Nhân hóa là gọi hoặc tả con vật, câycối, đồ vật,… bằng những từ vốn dùng để gọi hoặc tả con người, làm cho thếgiới cây cối, đồ vật, con vật,…trở nên gần gũi với con người, biểu đạt đượcnhững suy nghĩ, tình cảm của con người
Tác giả Đinh Trọng Lạc cho rằng: Nhân hóa (còn gọi là nhân cách hóa) làmột biến thể của ẩn dụ, trong đó người ta lấy những từ ngữ biểu thị thuộc tính,dấu hiệu của con người để biểu thị thuộc tính, dấu hiệu của đối tượng khôngphải con người, nhằm làm cho đối tượng được miêu tả trở nên gần gũi, dễ hiểuhơn, đồng thời làm cho người nói có khả năng bày tỏ kín đáo tâm tư, thái độ củamình (Đinh Trọng Lạc, 2000, tr 63)
Có các kiểu NH sau đây:
+ Dùng những từ ngữ vốn gọi người để gọi vật Ví dụ:
“Từ đó, lão Miệng, bác Tai, cô Mắt, cậu Chân, cậu Tay lại thân mật sống
với nhau, mỗi người một việc, không ai tị nạnh ai cả” (Chân, Tay, Tai, Mắt,Miệng)
Các từ: lão, bác, cô, cậu vốn được dùng để gọi người nay được dùng đểgọi các vật: miệng, tai, mắt, chân, tay
+ Dùng từ xưng hô với người để xưng hô với vật Ví dụ:
“Trâu ơi ta bảo trâu này
Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta”
Trang 16(Ca dao)
“Núi cao chi lắm núi ơi?
Núi che mặt trời chẳng thấy người thương”
(Ca dao)+ Dùng từ vốn chỉ hoạt động, tính chất của người để chỉ hoạt động, tínhchất của vật Ví dụ:
“Ông trời
Mặc áo giáp đen
Ra trận Kiến hành quân
Đầy đường”
(Trần Đăng Khoa)
Những chị lúa phất phơ bím tóc Những cây tre bá vai nhau thì thầm đứng học
Ðàn cò trắng
Khiêng nắng qua sông.
(Trần Ðăng Khoa)Cần lưu ý, NH chỉ có thể được hiện thực hóa trong một ngữ cảnh nhấtđịnh Vì vậy khi phân tích các hình ảnh NH, ta cần đặt chúng trong mối tươngquan với ngữ cảnh
- Nhóm hoán dụ
Nhóm hoán dụ tu từ bao gồm các tiểu phương thức chuyển nghĩa sau đây:hoán dụ, cải dung, cải danh, cải số, tượng trưng Tôi chỉ trình bày về phươngthức chuyển nghĩa hoán dụ
Theo SGK Ngữ văn 6, tập 2: Hoán dụ là gọi tên sự vật, hiện tượng, kháiniệm này bằng tên của một sự vật, hiện tượng, khái niệm khác có quan hệ gầngũi với nó nhằm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt
Còn theo tác giả Đinh Trọng Lạc: Hoán dụ là định danh thứ hai dựa trênmối liên hệ hiện thực giữa khách thể được định danh với khách thể có tên gọiđược chuyển sang dùng cho khách thể được định danh Hoán dụ tu từ là hoán dụhiện thực hóa mối liên hệ mới mẻ, bất ngờ giữa hai khách thể (Đinh Trọng Lạc,
Trang 17+ Áo nâu, nông thôn: chỉ người nông dân và những người sống ở nông thôn.+ Áo xanh, thị thành: chỉ người công nhân và những người sống ở thành thị.
Có các kiểu hoán dụ tu từ sau:
- Dựa vào quan hệ giữa bộ phận và toàn thể:
Đầu xanh có tội tình gì?
Má hồng đến quá nửa thì chưa thôi
(Nguyễn Du)Đầu xanh (bộ phận cơ thể) biểu thị con người ở độ tuổi trẻ, mới bước vàođời (toàn thể); má hồng (bộ phận cơ thể) biểu thị người đàn bà sống kiếp gái lầuxanh (toàn thể)
- Dựa vào mối quan hệ giữa chủ thể (người) và vật sở hữu (y phục, đồdùng), còn gọi là kiểu hoán dụ lấy dấu hiệu của sự vật để gọi sự vật:
Áo chàm đưa buổi phân li
Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay
Có sức người sỏi đá cũng thành cơm
(Hoàng Trung Thông)Bàn tay là công cụ lao động kì diệu của con người, khiến ta liên tưởngđến sức lao động phi thường, sáng tạo của con người
- Dựa vào mối quan hệ giữa số ít và số nhiều, giữa con số cụ thể và con số
tổng quát Hoán dụ tu từ được cấu tạo theo mối quan hệ này được gọi là cải số.
Trong đời sống ta thường nói: trăm công nghìn việc, trăm người như một,
ba cái thằng…, ba chân bốn cẳng… Trong ca dao:
Cầu này cầu ái cầu ân
Một trăm con gái rửa chân cầu này
Một trăm là số lượng xác định, biểu thị số lượng rất nhiều, không kể hết(số lượng không xác định)
Một cây làm chẳng nên non
Ba cây chụm lại nên hòn núi cao
Ba cây là số lượng xác định, biểu thị nhiều cây (số lượng không xácđịnh)
Trang 18- Dựa vào mối liên hệ giữa vật chứa đựng và vật được chứa đựng Hoán
dụ tu từ được cấu tạo theo mối quan hệ này được gọi là cải dung.
Trong đời sống ta thường nói: ăn ba bát cơm, uống vài chén nước, cả làng,
cả hội trường… Không phải ta đang nói đến lượng bát cơm, số chén nước, sốlàng, số hội trường mà ta đang nói đến cơm trong bát, nước trong chén, tất cảngười trong làng, trong hội trường
Trong thơ văn:
Vì sao Trái Đất nặng ân tình
Nhắc mãi tên Người: Hồ Chí Minh
(Tố Hữu)Trái Đất là vật chứa đựng, biểu thị đông đảo những người sống trên TráiĐất (vật bị chứa đựng)
- Dựa vào mối quan hệ giữa tên riêng và tên chung, trong đó tên riêngthay cho tên chung và ngược lại Hoán dụ tu từ cấu tạo theo mối quan hệ này
được gọi là cải danh.
Ví dụ:
Những hồn Trần Phú vô danh
Sông xanh biển cả cây xanh ngút ngàn
(Tố Hữu)Tác giả đã dùng tên riêng của đồng chí Trần Phú để chỉ những liệt sĩ cáchmạng đã hi sinh như đồng chí Trần Phú
- Dựa vào mối quan hệ giữa cái cụ thể và cái trừu tượng:
Ví dụ:
Kháng chiến ba ngàn ngày không nghỉ
Bắp chân đầu gối vẫn săn gân.
(Tố Hữu)Bắp chân đầu gối vẫn săn gân (cụ thể) biểu thị tinh thần kháng chiến dẻodai, bền bỉ của quân và dân ta (trừu tượng)
SGK Ngữ văn 6 đề cập 4 trong số các kiểu HD vừa nêu: HD lấy một bộphận để gọi toàn thể, lấy vật chứa đựng để gọi vật bị chứa đựng, lấy dấu hiệucủa sự vật để gọi sự vật và lấy cái cụ thể để gọi cái trừu tượng
Nói tóm lại, có thể thấy, trong chương trình Ngữ văn lớp 6, các khái niệmthường ngắn gọn, dễ hiểu, HS sẽ được làm quen với các phép tu từ ở những vấn
đề đơn giản nhất như định nghĩa, phân loại; còn khái niệm trong các công trìnhnghiên cứu thường sử dụng nhiều thuật ngữ khoa học hơn, khái quát vấn đề ởmức độ chuyên sâu hơn Cơ sở lí luận trên sẽ là tiền đề vững chắc để tôi tiếnhành đề ra giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy học các BPTT trong chương
Trang 19trình Ngữ văn lớp 6 ở các phần tiếp theo của đề tài cũng như thiết kế một số bàidạy cụ thể.
2.2 Một số giải pháp dạy học cụ thể đối với các bài về BPTT lớp 6: Giải pháp 1: Đổi mới trong tiến trình tổ chức hoạt động nhằm nâng cao hiệu quả dạy học các biện pháp tu từ Cụ thể như sau:
*Trước khi lên lớp:
- Đối với GV:
+ Chú trọng khâu hướng dẫn tự học ở nhà cho HS Bài tập tự học cho HSphải nêu rõ ràng, chi tiết các yêu cầu cần thực hiện và kết quả cần đạt Nội dungbài tập tự học của HS phải phục vụ cho bài giảng của GV GV cần chọn lọc kếtquả tự học của HS để đưa vào bài giảng, nhờ vậy HS sẽ thấy hứng thú hơn vì kếtquả làm việc của mình hữu ích và được ghi nhận
+ Trước khi học bài mới, GV phải kiểm tra kết quả tự học, chuẩn bị bài ởnhà của HS bằng nhiều hình thức để có thể kiểm tra được nhiều HS (kiểm tranội dung soạn bài, kiểm tra 5 phút, hỏi 1 nội dung kiến thức trong bài mới,…)
GV cần tuyên dương những em thường xuyên tự học tốt; nhắc nhở, phê bìnhnhững em thường xuyên không chuẩn bị bài hoặc chuẩn bị không đạt yêu cầu
+ Bản thân GV nên đầu tư nhiều hơn cho mỗi bài dạy BPTT Ứng dụngcông nghệ thông tin vào các tiết dạy BPTT
*Khi lên lớp:
- Đối với GV:
+ GV cần đầu tư cho hoạt động khởi động tiết học vì nó đóng vai trò rấtquan trọng trong việc thu hút, tạo hứng thú học tập cho HS GV có thể khởiđộng tiết học bằng rất nhiều hình thức như đặt tình huống, nêu vấn đề thông quatranh vẽ, đoạn nhạc, bài tập nhỏ,…phù hợp với nội dung bài học
Ví dụ: Khi học bài so sánh, GV có thể khởi động tiết học bằng cách cho
HS nghe một đoạn nhạc: “Mẹ và cô là hai cô giáo”, sau đó đặt vấn đề: trongđoạn nhạc, cô giáo được ví von với đối tượng nào? (mẹ hiền) Từ đó GV dẫnvào bài mới, chuyển giao nhiệm vụ cho HS
Trang 20+ GV chủ động kết hợp đa dạng các hình thức tổ chức dạy học: cho HSnêu và giải quyết vấn đề, làm việc cá nhân, thảo luận, tranh luận giữa các tổ, các
cá nhân với nhau để hình thành kiến thức mới
+ GV cần nhận xét, đánh giá ngay quá trình làm việc của HS Khenthưởng và phê bình kịp thời
+ Đối với những bài về BPTT, GV có thể cho các em tập viết đoạn văn, tổchức cuộc thi viết văn vận dụng kiến thức kĩ năng BPTT cho các tổ trong lớp,các lớp trong khối; khuyến khích, giới thiệu, giúp đỡ các em tham gia viết bàicho các tạp chí, tập san, qua đó rèn luyện và hoàn thiện các kĩ năng cho HS
- Đối với HS:
+ HS cần hợp tác, phối hợp tích cực với GV trong quá trình tiếp nhận kiếnthức Chỗ nào chưa hiểu hoặc hiểu mơ hồ cần đề nghị GV giảng lại hoặc đưathêm ví dụ minh họa
+ Biết rút kinh nghiệm trong hoạt động nhóm, cách làm việc cá nhân đểlần sau đạt kết quả tốt hơn
*Sau khi lên lớp:
- Đối với GV:
+ Chú trọng khâu hướng dẫn tự học ở nhà cho HS, phân hóa theo đốitượng HS để đảm bảo tất cả các em đều làm việc được Nhiệm vụ tự học cho HSphải nêu rõ ràng, chi tiết các yêu cầu cần thực hiện và kết quả cần đạt
+ GV tự rút kinh nghiệm sau tiết học, tự nhận thấy những chỗ chưa tốt đểtiết học sau hoàn thiện hơn
Để HS nhận biết, tìm hiểu đúng giá trị nghệ thuật và vận dụng có hiệu quảcác phép tu từ này đòi hỏi GV phải hướng dẫn HS một cách cụ thể, tỉ mỉ, gầngũi với tư duy, nhận thức của các em Nghĩa là gắn với những hiểu biết từ thực
tế cuộc sống và những hiểu biết cơ bản mà các em đã phân tích tìm hiểu ở phầnvăn bản Như vậy quá trình dạy học các bài BPTT sẽ thu hút được sự chú ý củahọc sinh
Trang 21GV lưu ý cho HS: phép tu từ thể hiện ở những từ ngữ/ cụm từ trong
câu văn, đoạn văn Không phải cả câu, cả đoạn
*Phép tu từ so sánh:
- Cách nhận biết: Sau khi cung cấp lí thuyết, GV hướng dẫn HS nhận biết,
phát hiện phép so sánh trong những văn cảnh cụ thể thông qua mô hình cấu tạo của nó.
Ví dụ: Tấc đất tấc vàng
Vế A Vế B
=> Dạng không có phương diện so sánh và từ so sánh
- Cách tìm giá trị nghệ thuật (phân tích tác dụng):
Trong phép so sánh, để làm rõ vế A thường người ta lấy vế B là những sựvật cụ thể, quen thuộc với nhiều người và giàu hình ảnh Sau khi HS đã xác địnhđược phép so sánh, HS sẽ dùng vốn hiểu biết từ thực tế, vốn kiến thức văn học
đã có để hiểu nội dung vế B một cách chuẩn xác, từ đó suy ra nội dung vế A vànội dung toàn câu, toàn bộ phép so sánh Như vậy, phân tích tác dụng một phép
so sánh là đi từ vế B đến vế A và nội dung toàn câu.
+ Ví dụ: Cái chàng Dế Choắt, người gầy gò và dài lêu nghêu như một gã nghiện
Vế A PDSS TSS Vế B
thuốc phiện
GV cho HS xác định mô hình cấu tạo
GV hỏi: Em hiểu “gã nghiện thuốc phiện” là người có dáng vẻ như thếnào?
Dáng người gầy gò, ốm yếu, da vàng tái, đi liêu xiêu…
GV hỏi: Thông qua hình ảnh so sánh “gã nghiện thuốc phiện”, tác giảmuốn khắc họa hình ảnh Dế Choắt như thế nào?
Hình ảnh một chàng dế ốm yếu, gầy gò, thiếu sức sống hiện lên sinhđộng, gợi cảm xúc cho người đọc
- Dùng lời bình làm rõ giá trị nghệ thuật: Đa số HS chỉ nêu được ngắngọn tác dụng của một BPTT theo ghi nhớ, chưa biết dùng lời bình để làm rõ ýnghĩa của phép tu từ trong một câu văn, đoạn văn, đoạn thơ Do đó các em chưacảm nhận được đặc sắc nghệ thuật qua phép so sánh cũng như ý đồ của tác giả
GV có thể rèn kĩ năng dùng lời bình làm rõ giá trị nghệ thuật của phép so sánh sau khi HS chỉ ra phép so sánh, xác định tác dụng của phép so sánh.
+ Ví dụ: “Dượng Hương Thư như một pho tượng đồng đúc, các bắp thịtcuồn cuộn, hai hàm răng cắn chặt, quai hàm bạnh ra, cặp mắt nảy lửa ghì trênngọn sào giống như một hiệp sĩ của Trường Sơn oai linh hùng vĩ”
GV hỏi: Thông qua hình ảnh so sánh “một hiệp sĩ”, em cảm nhận gì vềhình ảnh dượng Hương Thư trong đoạn văn?
Trang 22HS bình: Hình ảnh dùng để so sánh này gợi cho người đọc liên tưởng đến
vẻ đẹp thể chất và sự dũng mãnh của dượng Hương Thư chẳng khác gì mộtngười anh hùng khi vượt thác Đó là vẻ đẹp tiêu biểu cho con người lao động vàcon người Việt Nam Phải chăng khi cần vượt qua thử thách, con người ViệtNam vốn bình thường trong đời sống thường nhật bỗng vùng lên với vẻ đẹp phithường!
- Đặc biệt, trong tiếng Việt có một bộ phận không nhỏ các thành ngữ so
sánh Vận dụng thành ngữ so sánh là cách đơn giản để HS có thể tạo ra phép
so sánh, làm cho lời nói, bài viết với nhiều hình ảnh cụ thể, sinh động hơn
+ Ví dụ: Bạn ấy trắng như trứng gà bóc
Nó chậm như rùa
(đen như mực, khỏe như voi, trắng như tuyết, cao như núi,…)
*Phép tu từ ẩn dụ:
- Cách nhận biết: Như đã nói, ẩn dụ là một loại so sánh ngầm, trong đó ẩn
đi vế A (sự vật, sự việc được so sánh), phương diện so sánh và từ so sánh Saukhi cung cấp lí thuyết, GV hướng dẫn HS nhận biết, phát hiện phép ẩn dụ trong
những văn cảnh cụ thể bằng cách: từ vế B (sự vật, sự việc dùng để so sánh) có trong câu chữ, HS suy ra vế A (sự vật, sự việc được so sánh), phương diện
so sánh và từ so sánh đã được ẩn đi Căn cứ để suy ra là 4 phương thức ẩn dụ:
+Ẩn dụ cách thức: GV hướng dẫn HS tìm sự vật, sự việc có nét tươngđồng về cách thức hành động với sự vật, sự việc được nêu trong câu
Ví dụ:
Về thăm nhà Bác làng sen,
Có hàng râm bụt thắp lên lửa hồng.
(Nguyễn Đức Mậu)Nhìn “hàng râm bụt” với những bông hoa đỏ rực tác giả tưởng như nhữngngọn đèn “thắp lên lửa hồng” Hành động thắp ở đây ý chỉ hoa nở
+ Ẩn dụ hình thức: GV hướng dẫn HS tìm sự vật, sự việc có nét tươngđồng về hình thức với sự vật, sự việc được nêu trong câu
Ví dụ: Đầu tường lửa lựu lập lòe đâm bông.
(Nguyễn Du, Truyện Kiều)
Ở đây, tất nhiên không có ngọn lửa nào Chữ lửa (B) trong văn cảnh dùng
để biểu thị màu đỏ của hoa lựu (A) Có thể chưa trông thấy hoa lựu bao giờ,chưa biết hoa lựu màu đỏ, nhưng đọc câu thơ trên vẫn có thể suy ra như vậy, vì
có thành ngữ quen thuộc “đỏ như lửa” Câu thơ gợi được một cảnh thật rực rỡ:đầu tường, màu đỏ của hoa lựu tạo nên những bông hoa lửa lập lòe! Chính cáchdùng ẩn dụ lửa lựu của Nguyễn Du làm cho ta cảm nhận những bông hoa lửa từmàu đỏ của hoa lựu
Trang 23+ Ẩn dụ phẩm chất: GV hướng dẫn HS tìm sự vật, sự việc có nét tươngđồng về phẩm chất với sự vật, sự việc được nêu trong câu.
Ví dụ:
Anh đội viên nhìn Bác Càng nhìn lại càng thương Người cha mái tóc bạc Đốt lửa cho anh nằm.
(Đêm nay Bác không ngủ - Minh Huệ)Lấy hình tượng Người Cha để gọi tên Bác Hồ vì giữa Bác Hồ và ngườiCha có những điểm giống nhau: tấm lòng bao dung, yêu thương, che chở chocác chiến sĩ cách mạng của Bác giống như người Cha với những đứa con củamình
+ Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác: GV hướng dẫn HS việc chuyển đổi cảmgiác của sự vật, sự việc được nêu trong câu (dựa vào sự tương đồng về cảmgiác) Hay nói cách khác là những ẩn dụ trong đó B là một cảm giác vốn thuộcmột loại giác quan dùng để chỉ những cảm giác A vốn thuộc các loại giác quankhác hoặc cảm xúc nội tâm Nói gọn là lấy cảm giác A để chỉ cảm giác B
Ví dụ: Đoạn văn “…Chao ôi, trông con sông, vui sướng thấy nắng giòn
tan Sau kì mưa dầm, vui như nối lại chiêm bao đứt quảng…”
Giáo viên có thể hỏi HS: Trong cuộc sống, từ “giòn tan” thường dùng chỉđặc điểm cụ thể của những vật nào?
Giòn tan: Dùng chỉ đặc điểm của những vật cứng cụ thể khi bị gãy, vỡnhư bánh, gỗ, kính… Chứ không dùng để chỉ hiện tượng tự nhiên như “Nắng”
Giáo viên lại hỏi tiếp: Theo em, Cụm từ: “nắng giòn tan” có gì đặc biệt sovới cách nói thông thường?
- Đây là một ẩn dụ chuyển đổi cám giác của nhà văn Nguyễn Tuân (Từ vịgiác, thính giác sang thị giác)
Hoặc Ví dụ: bài tập 3 trang 70 Ngữ văn 6 tập hai cho chúng ta những ví
dụ rất tốt về ẩn dụ chuyển đổi cảm giác
Câu a) và câu b): Chảy là hoạt động của dòng chất lỏng (tiêu biểu lànước) Đối với hiện tượng chảy, ta cảm nhận bằng các giác quan: thị giác, xúcgiác, thính giác (nếu dòng chảy gây tiếng động đủ nghe thấy) Trong các câu
“Mùi hồi chín chảy qua mặt”, “Ánh nắng chảy đầy vai”, mùi hồi và ánh nắng,qua ẩn dụ, được cảm nhận như những dòng chất lỏng chảy mơn man trên da thịt.Mùi hồi được cảm giác chảy rất rõ với động tác ngẩng mặt lên để dòng hươngchảy qua và nhất là khi có một làn gió nhẹ thổi qua cánh rừng hồi
- Cách tìm giá trị nghệ thuật (phân tích tác dụng):
Trang 24Ẩn dụ làm cho câu văn thêm giàu hình ảnh và mang tính hàm súc Tácdụng của ẩn dụ chính là ở mặt biểu cảm Cùng một đối tượng nhưng ta có nhiềucách thức diễn đạt khác nhau (thuyền – biển, mận - đào, thuyền – bến, biển – bờ)cho nên một ẩn dụ có thể dùng cho nhiều đối tượng khác nhau Ẩn dụ luôn biểuhiện những hàm ý mà phải suy ra mới hiểu Chính vì thế mà ẩn dụ làm cho câuvăn giàu hình ảnh và hàm súc, lôi cuốn người đọc người nghe.
Tương tự phép so sánh, trong phép ẩn dụ, để làm rõ vế A thường người talấy vế B là những sự vật cụ thể, quen thuộc với nhiều người và giàu hình ảnh.Sau khi HS đã xác định được phép ẩn dụ, HS sẽ dùng vốn hiểu biết từ thực tế,vốn kiến thức văn học đã có để suy ra nội dung vế A và nội dung toàn câu, toàn
bộ phép ẩn dụ Như vậy, phân tích tác dụng một phép ẩn dụ là xem xét phép ẩn
dụ trong ngữ cảnh, từ vế B suy ra vế A và nội dung toàn câu.
Ví dụ: Người Cha mái tóc bạc
Đốt lửa cho anh nằm
Đặt trong ngữ cảnh có thể suy ra người Cha chỉ Bác Hồ, từ đó có thể hiểuBác Hồ như người cha vĩ đại của dân tộc Nếu thay Bác Hồ mái tóc bạc thì tínhbiểu cảm sẽ mất đi
- Dùng lời bình làm rõ ý nghĩa BPTT: Cần rèn luyện thao tác này sau khi
HS phân tích tác dụng phép ẩn dụ, vì đa số các em chỉ ra tác dụng một cách rấtcứng nhắc, sáo rỗng, chỉ mang tính chất giải nghĩa, chưa làm nổi bật được giá trịcủa vế A đã ẩn đi
+ Ví dụ:
“Con cò chết rũ trên cây
Cò con mở lịch xem ngày làm ma
Cà cuống uống rượu la đà
Chim ri ríu rít bò ra lấy phần
Chào mào thì đánh trống quân
Chim chích cởi trần vác mỏ đi rao”.
(Ca dao)
Bình: Bằng biện pháp ẩn dụ, tác giả dân gian đã mượn hình ảnh con cò
để nói về thân phận thấp hèn của người dân lao động trong xã hội cũ Qua 8 câulục bát, bài ca dao đã mượn cái chết của con cò để phê phán, mỉa mai tầng lớpthống trị đầy dã tâm, cơ hội, đồng thời phê phán hủ tục ma chay lạc hậu
- Vận dụng thành ngữ ẩn dụ là cách đơn giản để HS có thể tạo ra phép
ẩn dụ, làm cho lời nói, bài viết sinh động, biểu cảm hơn Cho học sinh tìm thànhngữ ẩn dụ để khi cần các em biết vận dụng vào trong giao tiếp hàng ngày, tronglập văn bản để tăng thêm giá trị hàm súc cho lời nói Ví dụ: nuôi ong tay áo, gậyông đập lưng ông, chuột sa chỉnh gạo, con nhà lính tính nhà quan Ẩn dụ đượcdùng nhiều trong lời ăn tiếng nói hàng ngày làm cho lời nói hội thoại mang đậm