1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

BTL luật tt hình sự EL11

10 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 244,57 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI TRUNG TÂM ĐÀO TẠO ELEARNING TIỂU LUẬN MÔN LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM (EL11) ĐỀ TÀI 02 Trình bày quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về tạm đình chỉ điều tra; thực tiễn thi hành qua số liệu, vụ án hình sự cụ thể mà anh, chị thu thập được; từ đó đưa ra những kiến nghị, giải pháp Họ và tên Ngày, tháng, năm sinh MSSV Lớp Ngành Luật kinh tế Hà Nội, 012022 Viện đại học mở Hà Nội Luật tố tụng hình sự VN EL11 Trang | 2 Mục lục Danh mục tài liệu tham khảo 3 Phần đặt.

Trang 1

TRUNG TÂM ĐÀO TẠO ELEARNING

TIỂU LUẬN MÔN

LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM (EL11)

ĐỀ TÀI: 02

Trình bày quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về tạm đình chỉ điều tra; thực tiễn thi hành qua số liệu, vụ án hình sự cụ thể

mà anh, chị thu thập được; từ đó đưa ra những kiến nghị, giải pháp

Họ và tên:

Ngày, tháng, năm sinh:

MSSV:

Lớp:

Ngành: Luật kinh tế

Hà Nội, 01/2022

Trang 2

Mục lục

Danh mục tài liệu tham khảo 3

Phần đặt vấn đề 4

Phần nội dung 5

1 Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành và hoạt động điều tra theo quy định pháp luật 5

1.1 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và nhiệm vụ của Bộ luật tố tụng hình sự 5 1.2 Hoạt động điều tra 5

2 Tạm đình chỉ điều tra 6

2.1 Quy định của pháp luật về tạm đình chỉ điều tra 6

2.2 Một số ý nghĩa của việc tạm đình chỉ điều tra 7

3 Thực tiễn thi hành qua số liệu, vụ án hình sự cụ thể và kiến nghị, giải pháp 7

3.1 Tình hình thực tế và vụ án cụ thể 7

3.2 Những hạn chế 9

3.3 Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao chất lượng tạm đình chỉ điều tra 9

Phần Kết luận 10

Trang 3

Trang | 3

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Quốc hội (2015), Bộ luật tố tụng hình sự 2015

2 Quốc hội (2015), Bộ luật hình sự 2015

3 Quốc hội (2010), Luật Thi hành án hình sự 2010

4 Lư Kế Trường (2020), “Tạm đình chỉ và đình chỉ điều tra vụ án hình sự theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam”, Luận văn Thạc Sĩ, Viện hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam

5 Nguyễn Sao Mai (2016), “Vấn đề đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án trong luật tố tụng hình sự Việt Nam”, Luận văn thạc sỹ, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội

Trang 4

PHẦN ĐẶT VẤN ĐỀ

Bộ luật tố tụng hình sự quy định trình tự, thủ tục tiếp nhận, giải quyết nguồn tin

về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và một số thủ tục thi hành án hình sự;

nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ giữa các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố

tụng; nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;

quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng, cơ quan, tổ chức, cá nhân; hợp tác quốc

tế trong tố tụng hình sự

Hiện nay, vấn đề chất lượng công tác tư pháp nói chung và chất lượng của các

hoạt động điều tra của cơ quan điều tra nói riêng chưa thực sự đạt hiệu quả cao, còn

nhiều trường hợp làm oan người vô tội hay bỏ lọt tội phạm; vi phạm các quyền tự do,

dân chủ của công dân Nhiệm vụ quan trọng của cơ quan điều tra là khi phát hiện có

dấu hiệu tội phạm phải khởi tố vụ án hình sự để tiến hành điều tra vụ án Trong giai

đoạn điều tra, cơ quan điều tra phải tiến hành các hoạt động điều tra nhằm xác định tội

phạm và người thực hiện tội phạm Trường hợp trong quá trình điều tra của cơ quan

điều tra mà phát hiện có quyết định khởi tố không có căn cứ xác thực, khởi tố sai hoặc

bị can có những căn cứ miễn trách nhiệm hình sự thì phải tạm đình chỉ điều tra Nếu

cơ quan điều tra vẫn tiếp tục thực hiện các hoạt động điều tra trong các trường hợp trên

sẽ dễ dẫn đến tình trạng oan sai ảnh hưởng đến các quyền và lợi ích hợp pháp của bị

can Do vậy, tạm đình chỉ điều tra điều tra là những quyết định quan trọng trong giai

đoạn điều tra Vì vậy em đã chọn đề tài: “Trình bày quy định của Bộ luật tố tụng hình

sự năm 2015 về tạm đình chỉ điều tra; thực tiễn thi hành qua số liệu, vụ án hình sự cụ

thể mà anh, chị thu thập được; từ đó đưa ra những kiến nghị, giải pháp”

Trang 5

Trang | 5

PHẦN NỘI DUNG

1 Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành và hoạt động điều tra theo quy định pháp luật

1.1 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và nhiệm vụ của Bộ luật tố tụng hình sự

Bộ luật Hình sự đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 27 tháng 11 năm 2015

Bộ luật bao gồm 510 điều, 36 chương, 9 phần

Bộ luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2016

Bộ luật tố tụng hình sự có nhiệm vụ bảo đảm phát hiện chính xác và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, không để lọt tội

phạm, không làm oan người vô tội; góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người,

quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền

và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm

1.2 Hoạt động điều tra

Theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, hoạt động điều tra do ba loại cơ quan thực hiện ở các phạm vi và mức độ khác nhau Đó là Cơ quan điều tra trong Công an nhân dân, Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân và Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao; cơ quan được giao quyển hạn điều tra của Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, cảnh sát biển tiến hành một số hoạt động điều tra

Giai đoạn điều tra vụ án hình sự được bắt đầu từ khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự và kết thúc bằng bản kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc quyết định đình chỉ

vụ án của Cơ quan điều tra

Đối tượng của hoạt động điều tra là hành vi phạm tội, người phạm tội, thiệt hại

do tội phạm gây ra và các tình tiết khác có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án (Điều

63 Bộ luật tố tụng hình sự)

Hoạt động điều tra được thực hiện bằng các biện pháp điều tra khác nhau theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định như hỏi cung bị can, lấy lời khai của những

Trang 6

người tham gia tố tụng khác, đối chất, nhận dạng, khám xét, thu giữ vật chứng, tài liệu, khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, xem xét dấu vết trên thân thể, thực nghiệm điều tra, trưng cầu giám định

2 Tạm đình chỉ điều tra

2.1 Quy định của pháp luật về tạm đình chỉ điều tra

Tạm đình chỉ điều tra là một giai đoạn điều tra mà do những lý do khách quan

cơ quan điều tra phải tạm dừng các hoạt động điều tra nhưng chưa đưa ra những kết luận cuối cùng về kết quả điều tra, chưa khẳng định về việc tiếp tục điều tra hay không

Theo Điều 229, BLTHS 2015 quy định các trường hợp tạm đình chỉ điều tra

1 Cơ quan điều tra ra quyết định tạm đình chỉ điều tra khi thuộc một trong các trường hợp:

a) Khi chưa xác định được bị can hoặc không biết rõ bị can đang ở đâu nhưng

đã hết thời hạn điều tra vụ án Trường hợp không biết rõ bị can đang ở đâu, Cơ quan điều tra phải ra quyết định truy nã trước khi tạm đình chỉ điều tra;

b) Khi có kết luận giám định tư pháp xác định bị can bị bệnh tâm thần hoặc bệnh hiểm nghèo thì có thể tạm đình chỉ điều tra trước khi hết thời hạn điều tra;

c) Khi trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản, yêu cầu nước ngoài tương trợ tư pháp chưa có kết quả nhưng đã hết thời hạn điều tra Trong trường hợp này, việc giám định, định giá tài sản, tương trợ tư pháp vẫn tiếp tục được tiến hành cho đến khi

có kết quả

2 Trường hợp vụ án có nhiều bị can mà lý do tạm đình chỉ điều tra không liên quan đến tất cả bị can thì có thể tạm đình chỉ điều tra đối với từng bị can

3 Trong thời hạn 02 ngày kể từ ngày ra quyết định tạm đình chỉ điều tra, Cơ quan điều tra phải gửi quyết định này cho Viện kiểm sát cùng cấp, bị can, người bào chữa hoặc người đại diện của bị can; thông báo cho bị hại, đương sự và người bảo vệ quyền lợi của họ

Trang 7

Trang | 7

2.2 Một số ý nghĩa của việc tạm đình chỉ điều tra

Ý nghĩa của việc quy định về tạm đình chỉ điều tra là:

- Nhằm hạn chế tối đa khả năng kéo dài thời hạn điều tra khi không cần thiết, đồng thời khắc phục việc lạm dụng thời hạn điều tra

- Quy định về tạm đình chỉ điều tra còn nhằm khắc phục hiện tượng quá tải, tồn động án ở khâu điều tra khi có những yếu tố bất khả kháng, để giảm bớt nhu cầu sử dụng lực lượng điều tra và giảm tối đa những chi phí vật chất không cần thiết cho hoạt động tố tụng này

- Mặt khác, tạm đình chỉ điều tra còn là một giải pháp có ý nghĩa chủ động trong việc đề phòng những oan sai có thể xảy ra trong thực tiễn điều tra

- Việc tạm đình chỉ điều tra sẽ giúp cơ quan điều tra giảm bớt khả năng phải xin gia hạn điều tra, khi không cần thiết phải kéo dài thời hạn chờ đợi để tiến hành các hoạt động điều tra cần thiết

- Điều luật quy định những trường hợp tạm đình chỉ điều tra, những điều kiện để tạm đình chỉ điều tra và trình tự, thủ tục thực hiện việc tạm đình chỉ điều tra Căn cứ vào những quy định trong Điều luật thì tạm đình chỉ điều tra được thực hiện khi có một trong hai trường hợp sau đây:Khi bị can bị bệnh tâm thần hoặc bệnh hiểm nghèo khác;Trong trường hợp chưa xác định được bị can hoặc không biết rõ bị can đang ở đâu mà đã hết thời hạn điều tra

3 Thực tiễn thi hành về tạm đình chỉ điều tra qua số liệu, vụ án hình sự cụ thể và kiến nghị giải pháp

3.1 Tình hình thực tế và vụ án cụ thể

Có thể nhận thấy, số vụ án CQĐT tạm đình chỉ điều tra có xu hướng tăng dần trong những năm gần đây, trừ giai đoạn 2015 – 2016 có sự biến động theo xu hướng giảm là do sự thay đổi của pháp luật tố tụng hình sự BLTTHS năm 2015 có hiệu lực thay thế BLTTHS năm 2003, tuy có nhiều điểm mới ưu việt hơn so với BLTTHS 2003 nhưng vẫn cần một khoảng thời gian nhất định cho sự thay đổi này, nhất là đối với các

vụ án được giải quyết trong giai đoạn chuyển giao pháp luật này Mặc dù vậy, không thể phủ nhận trong thời gian qua CQĐT đã có nhiều cố gắng trong công tác tạm đình chỉ điều tra, hầu hết các vụ án đều được tạm đình chỉ có căn cứ đúng pháp luật, kịp

Trang 8

thời, đúng trình tự thủ tục, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của bị can và những người liên quan

Hình 1 Diễn biến số vụ, số bị can CQĐT các cấp đã tạm đình chỉ điều tra (2013 – 06 tháng đầu năm 2019)

Vụ án trộm cắp tài sản ở tỉnh H, nội dung vụ án như sau: Ngày 17/06/2008 Nguyễn văn T ở tỉnh H bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố K, tỉnh H khởi

tố về tội trộm cắp tài sản theo Khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 1999 (đã sửa đổi, bổ sung) Ngày 19/09/2008 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố K tỉnh H chuyển hồ sơ vụ án cùng bản kết luận điều tra đề nghị truy tố Nguyễn Văn T về tội tội trộm cắp tài sản theo quy định tại Khoản 2 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999, Trong quá trình nghiên cứu hồ sơ vụ án, Kiểm sát viên được phân công kiểm sát vụ án phát hiện có bệnh án của Nguyễn văn T về bệnh tâm thần đang trong thời gian điều trị Bệnh án này được người nhà bệnh nhân nộp cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh H nhưng Điều tra viên được phân công điều tra vụ án này do sơ xuất đã không để

ý tới bệnh án này lên đã không xem xét đề nghị với thủ trưởng CQĐT ra quyết định tạm đình chỉ điều tra Ngày 02/10/2008 Viện kiểm sát nhân dân thành phố K, tỉnh H đã

ra quyết định tạm đình chỉ vụ án đối với Nguyễn Văn T

Trang 9

Trang | 9

3.2 Những hạn chế

- Năng lực trình độ chuyên môn nghiệp vụ của những người làm công tác

điều tra, những người tiến hành tố tụng hình sự còn hạn chế

- Sự chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra của lãnh đạo chưa quyết liệt, một số cán

bộ điều tra, kiểm sát còn thiếu trách nhiệm trong công tác

- Việc xử lý người vi phạm pháp luật trong việc thực hiện tạm đình chỉ và

đình chỉ điều tra chưa nghiêm

- Công tác phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong công

tác điều tra và kiểm sát điều tra thiếu sự chặt chẽ

3.3 Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao chất lượng tạm đình chỉ điều tra

+ Tăng cường nhận thức về tạm đình chỉ và đình chỉ điều tra

+ Tăng cường tập huấn, tổ chức thưc hiện bộ luật tố tụng hình sự đồng thời nâng cao trình độ năng lực chuyên môn nghiệp vụ của những người tiến hành tố tụng

+ Nâng cao chất lượng quản lý, chỉ đạo điều hành, nâng cao tinh thần trách nhiệm của những người tiến hành tố tụng và xử lý các trường hợp vi phạm trong việc tạm đình chỉ, đình chỉ điều tra để làm gương

+ Tăng cường sự phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong công tác giải quyết vụ án hình sự

+ Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật cho nhân

dân

Trang 10

PHẦN KẾT LUẬN

Tạm đình chỉ điều tra là các hình thức làm tạm ngừng các hoạt động điều tra do CQĐT áp dụng khi xuất hiện những lý do khách quan không thể tiếp tục tiến hành các hoạt động điều tra Tạm đình chỉ điều tra có ý nghĩa chính trị, xã hội cũng như về mặt pháp lý quan trọng Quy định này góp phần thực hiện các yêu cầu của Nhà nước pháp quyền mà trong đó nổi bật là yêu cầu bảo đảm pháp chế và bảo đảm các quyền tự do, dân chủ của công dân

Thực tiễn thực hiện quy định về tạm đình chỉ điều tra đã phản ánh những kết quả đạt được: ngày càng đảm bảo cho quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, người bị hại được tôn trọng, thực hiện; ngày càng hạn chế được tình trạng oan, sai, bỏ lọt tội phạm trong hoạt động khởi tố, điều tra vụ án hình sự Tuy nhiên, thực tiễn đó cũng phản ánh những hạn chế, vướng mắc của CQĐT trong việc thực hiện các quy định về tạm đình chỉ điều tra

Dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn áp dụng các quy định về tạm đình chỉ điều tra của CQĐT, bài tiểu luận đã đưa ra một số giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật về tạm đình chỉ và đình chỉ điều tra, đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện việc quy định pháp luật và đồng thời nâng cao chất lượng của việc thực hiện các quy định

pháp luật về tạm đình chỉ điều tra

Ngày đăng: 08/04/2022, 15:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w