BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI BÀI TẬP HỌC KỲ MÔN TƯ PHÁP QUỐC TẾ ĐỀ BÀI 22 Bình luận những quy định BLDS năm 2015 trong việc giải quyết xung đột pháp luật về hình thức hợp đồng dân sự có yếu t.
Trang 1BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
BÀI TẬP HỌC KỲ
MÔN:
TƯ PHÁP QUỐC TẾ
ĐỀ BÀI 22:
Bình luận những quy định BLDS năm 2015 trong việc giải quyết xung đột pháp luật về hình thức hợp đồng
dân sự có yếu tố nước ngoài
HỌ TÊN : Nông Thị Hảo
LỚP : N02 – TL3
HÀ NỘI - 2021
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 1
I Những vấn đề lý luận chung về việc giải quyết xung đột pháp luật về hình thức hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài 1
1 Một số khái niệm 1
2 Giải quyết xung đột pháp luật về hình thức hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài 2
II Những quy định của pháp luật Việt Nam trong việc giải quyết xung đột pháp luật về hình thức hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài và bình luận 5
1 Quy định về hình thức hợp đồng và quy định về giải quyết xung đột pháp luật về hình thức hợp đồng của Việt Nam 5
2 Bình luận về quy định của pháp luật Việt Nam trong việc giải quyết xung đột pháp luật về hình thức hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài 7 KẾT LUẬN 11
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 31
MỞ ĐẦU
Trong xu thế hiện nay, việc quốc tế hóa mọi lĩnh vực của đời sống xã hội tất yếu dẫn đến việc phát sinh ngày càng nhiều những mối quan hệ pháp luật có yếu
tố nước ngoài thuộc các lĩnh vực dân sự, kinh tế, thương mại, hôn nhân gia đình Đặc biệt là trong dân sự, rất nhiều những hợp đồng có yếu tố nước ngoài được thực hiện Tuy nhiên pháp luật mỗi quốc gia lại có những quy định khác nhau vì vậy mà không tránh khỏi tranh chấp, xung đột trong giao kết hợp đồng Xung đột pháp luật về hình thức hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài là một trong những xung đột tiêu biểu Để tìm hiểu thêm về vấn đề này, em xin chọn đề bài số 22 làm
bài tập học kỳ của mình: “Bình luận những quy định của pháp luật Việt Nam
(BLDS 2015) trong việc giải quyết xung đột pháp luật về hình thức hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài”
Trong quá trình làm bài dù đã cố gắng nhưng do hạn chế về mặt nhận thức nên còn nhiều thiếu sót, em mong các thầy cô có thể góp ý để bài tiểu luận được hoàn thiện hơn Em xin chân thành cảm ơn
NỘI DUNG
I Những vấn đề lý luận chung về việc giải quyết xung đột pháp luật về hình thức hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài
1 Một số khái niệm
1.1 Hợp đồng dân sự trong tư pháp quốc tế
Hợp đồng dân sự trong tư pháp quốc tế là hợp đồng dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài
Thứ nhất, hợp đồng trong TPQT là hợp đồng dân sự theo nghĩa rộng Trên
thực tế, trong lĩnh vực dân sự có rất nhiều loại hợp đồng khác nhau Theo BLDS
2015 thì một số hợp đồng dân sự thông dụng được quy định tại Chương XVI bao gồm: Hợp đồng mua bán tài sản, hợp đồng trao đổi tài sản, hợp đồng tặng cho tài sản, hợp đồng vay tài sản, hợp đồng thuê tài sản, hợp đồng mượn tài sản, hợp đồng về quyền sử dụng đất, hợp đồng hợp tác, hợp đồng dịch vụ… Ngoài những loại hợp đồng nêu trên thì còn có một số loại hợp đồng khác không chỉ được điều
Trang 42
chỉnh bởi các quy định mang tính nguyên tắc được quy định trong BLDS mà còn được điều chỉnh bởi các quy định của luật chuyên ngành trong một số lĩnh vực như thương mại, lao động Tất cả những hợp đồng này đều được gọi là hợp đồng dân sự theo nghĩa rộng
Thứ hai, hợp đồng trong TPQT là hợp đồng có yếu tố nước ngoài Trong
TPQT, quan hệ hợp đồng được xem là đối tượng điều chỉnh của ngành luật này khi quan hệ đó xuất hiện dấu hiệu nước ngoài (dấu hiệu này còn được gọi là “yếu
tố nước ngoài” hoặc “nhân tố nước ngoài” hoặc “yếu tố quốc tế” hoặc “nhân tố quốc tế”) Các thuật ngữ này có thể thay thế cho nhau Tuy nhiên trong thực tế, khi sử dụng các thuật ngữ này đôi khi có sự khác nhau.1
1.2 Xung đột pháp luật về hợp đồng có yếu tố nước ngoài
Xung đột pháp luật về hợp đồng trong TPQT là hiện tượng có hai hay nhiều
hệ thống pháp luật của các nước khác nhau cùng có thể được áp dụng để điều chỉnh quan hệ hợp đồng
1.3 Hình thức hợp đồng
Hình thức hợp đồng được hiểu là cách thức ghi nhận, lưu trữ, truyền tải nội dung hợp đồng, hay hình thức hợp đồng chính là cách thể hiện, chứa đựng các điều khoản do các bên chủ thể thỏa thuận
2 Giải quyết xung đột pháp luật về hình thức hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài
2.1 Nguyên nhân của hiện tượng xung đột
Xuất phát từ khái niệm xung đột pháp luật về hình thức hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài, có thể thấy xung đột phát sinh từ hai nguyên nhân chính sau:
Thứ nhất, có nhiều hệ thống pháp luật khác nhau cùng có thể áp dụng để điều
chỉnh hình thức của hợp đồng Nguyên nhân này bắt nguồn từ bản chất của quan
hệ hợp đồng trong TPQT là quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài Bên cạnh đó nguyên nhân này còn bắt nguồn từ nguyên tắc bình đẳng, chủ quyền các quốc gia
Ví dụ như khi một quan hệ hợp đồng được phát sinh, hợp đồng được giao kết ở
1 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Tư pháp quốc tế, Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2017, tr 408, 409
Trang 53
Pháp, thực hiện ở Việt Nam thì về mặt lý luận các quốc gia trên đều có thẩm quyền giải quyết trừ trường hợp pháp luật quốc gia quy định hợp đồng này không thuộc thẩm quyền của mình Vì vậy, trên cơ sở tôn trọng, bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia thì quan hệ hợp đồng có thể chịu sự điều chỉnh bởi pháp luật của nhiều quốc gia có liên quan
Thứ hai, sự khác biệt trong quy định về hình thức hợp đồng của các quốc gia
Dựa trên các yêu cầu khác nhau của mỗi nước và ảnh hưởng của các ĐƯQT cũng như các xu thế trên thế giới, cho nên pháp luật các nước có quy định khác nhau khi điều chỉnh quan hệ hợp đồng và việc xác định hình thức hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài cũng có nhiều cách khác nhau nên gây ra sự xung đột pháp luật Như hiện nay có nhiều nước quy định hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế bắt buộc phải được thể hiện dưới hình thức văn bản mới có giá trị pháp lý Tuy nhiên,
xu thế chung trên thế giới được thể hiện qua một số ĐƯQT như trong điều 11 Công ước Vienna 1980 của Liên hợp quốc, trong điều 1.2 Bộ nguyên tắc UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế (PICC) của Viện Thống nhất tư pháp quốc tế (Phiên bản 2004), nhiều quốc gia là thành viên của điều ước này đã công nhận mọi hình thức của hợp đồng có yếu tố nước ngoài Theo đó, hợp đồng có thể được thể hiện dưới bất cứ dạng thức nào, kể cả lời khai của nhân chứng cũng đều được coi là hợp pháp về mặt hình thức
2.2 Phương pháp giải quyết xung đột
Giải quyết xung đột pháp luật là việc cơ quan có thẩm quyền dựa vào các quy định của tư pháp quốc tế lựa chọn hệ thống pháp luật áp dụng để giải quyết vấn
đề có xung đột pháp luật Hiện nay, xung đột pháp luật đã và đang được giải quyết theo hướng tìm ra hệ thống pháp luật phù hợp với sự phát triển các quan hệ và bảo vệ lợi ích chính đáng của các bên Có hai phương pháp sau:
Phương pháp thực chất: Đây là phương pháp áp dụng các quy phạm pháp
luật thực chất Quy phạm pháp luật thực chất điều chỉnh và quy định quyền và nghĩa vụ của các bên chủ thể tham gia quan hệ pháp luật cụ thể Quy phạm pháp luật thực chất bao gồm: Quy phạm pháp luật thực chất thống nhất (được ghi nhận
Trang 64
trong điều ước quốc tế) và quy phạm pháp luật thông thường (được ghi nhận trong điều ước quốc gia)
Phương pháp xung đột: Là sử dụng các quy phạm xung đột nhằm xác định
hệ thống pháp luật nước nào sẽ được áp dụng trong việc điều chỉnh quan hệ tư pháp quốc tế cụ thể Quy phạm xung đột không quy định rõ các quyền, nghĩa vụ
và các biện pháp chế tài đối với các chủ thể tham gia tư pháp quốc tế mà nó chỉ
có vai trò xác định hệ thống pháp luật nước nào sẽ được áp dụng để điều chỉnh quan hệ tư pháp quốc tế
2.3 Một số nguyên tắc giải quyết xung đột về hình thức hợp đồng
Nguyên tắc luật của các bên ký kết thỏa thuận lựa chọn Nguyên tắc này được đưa ra lần đầu bởi Rochus Curtius vào đầu thế kỷ XV, nguyên tắc này trước hết
xuất phát từ nguyên tắc tự do thỏa thuận - một trong những nguyên tắc cơ bản của
pháp luật dân sự Đây là một nguyên tắc đóng vai trò quan trọng trong giải quyết xung đột pháp luật và được nhiều nước ghi nhận
Nguyên tắc luật của nước nơi giao kết hợp đồng Nguyên tắc này được hiểu là hợp đồng được giao kết ở quốc gia nào thì áp dụng pháp luật của quốc gia đó Như hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài giao kết tại Việt Nam thì pháp luật Việt Nam được áp dụng để điều chỉnh
Nguyên tắc luật của nước nơi có mối liên hệ gắn bó nhất với hợp đồng Nguyên
tắc này bắt nguồn từ pháp luật Anh, đây là một nguyên tắc khá trừu tượng, việc giải thích và áp dụng cũng khá phức tạp Nguyên tắc này lần đầu xuất hiện trong pháp luật quốc tế tại Công ước Rome 19802 Trong thực tiễn áp dụng Công ước Rome có thể thấy tiêu chí đánh giá mối liên hệ gắn bó là căn cứ vào nghĩa vụ chính của hợp đồng và luật của nơi có mối liên hệ gắn bó nhất với hợp đồng được xác định là nơi thường trú của bên thực hiện nghĩa vụ chính
Nguyên tắc luật nơi thực hiện nghĩa vụ Thực hiện nghĩa vụ là mục đích chính, yếu tố quan trọng nhất của quan hệ hợp đồng Do đó về lý luận cũng như thực tiễn thì “nơi thực hiện nghĩa vụ” là tiêu chuẩn để lựa chọn luật áp dụng với hợp đồng
Trang 75
vì nơi thực hiện luôn là một nơi có thực, gắn liền với hành vi, sự kiện Nhưng trong thực tế cũng có trường hợp các nghĩa vụ khác nhau trong cùng một hợp đồng được thực hiện ở các quốc gia khác nhau vì vậy, trong thực tiễn áp dụng, các quốc gia đều lựa chọn nghĩa vụ chính của hợp đồng để áp dụng luật và nơi thực hiện nghĩa vụ chính của hợp đồng là nơi cư trú thường xuyên của bên phải thực hiện nghĩa vụ chính đó
II Những quy định của pháp luật Việt Nam trong việc giải quyết xung đột pháp luật về hình thức hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài và bình luận
1 Quy định về hình thức hợp đồng và quy định về giải quyết xung đột pháp luật về hình thức hợp đồng của Việt Nam
1.1 Quy định của pháp luật Việt Nam về hình thức hợp đồng
Hình thức hợp đồng được tuân theo quy định về hình thức của giao dịch dân
sự được quy định tại Điều 119 BLDS 2015 như sau:
“1 Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành
vi cụ thể
Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử được coi là giao dịch bằng văn bản
2 Trường hợp luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản
có công chứng, chứng thực, đăng ký thì phải tuân theo quy định đó.”
Như vậy theo quy định của pháp luật Việt Nam thì hình thức hợp đồng có thể
là văn bản, lời nói, hành vi hay hình thức có chứng thực…
1.2 Quy định của pháp luật Việt Nam trong việc giải quyết xung đột pháp luật về hình thức hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài
Hiện nay, pháp luật Việt Nam sử dụng quy phạm xung đột để giải quyết xung đột pháp luật về hình thức hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài, cụ thể là tại khoản 7 điều 683 BLDS 2015, bao gồm 3 nguyên tắc sau:
Thứ nhất, xác định theo pháp luật áp dụng đối với hợp đồng đó “Pháp luật áp
dụng đối với hợp đồng đó” chính là luật áp dụng đối với nội dung, hình thức, các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng và những vấn đề pháp lý khác của hợp đồng
Trang 86
Nội dung này được quy định tại khoản 1, 6 điều 683 BLDS 2015 và có thể áp dụng 1 trong 3 nguyên tắc để xác định là:
- Các bên trong quan hệ hợp đồng được thỏa thuận lựa chọn pháp luật áp dụng đối với hợp đồng, trừ trường hợp quy định tại các khoản 4, 5 và 6 Điều này Cụ thể là trong trường hợp hợp đồng có đối tượng là bất động sản thì pháp luật áp là pháp luật của nước nơi có bất động sản Trường hợp pháp luật do các bên lựa chọn trong hợp đồng lao động, hợp đồng tiêu dùng có ảnh hưởng đến quyền lợi tối thiểu của người lao động, người tiêu dùng theo quy định của pháp luật Việt Nam thì pháp luật Việt Nam được áp dụng Trường hợp các bên có thể thỏa thuận thay đổi pháp luật áp dụng đối với hợp đồng nhưng việc thay đổi đó không được ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba được hưởng trước khi thay đổi pháp luật áp dụng, trừ trường hợp người thứ ba đồng ý
- Trường hợp các bên không có thỏa thuận về pháp luật áp dụng thì pháp luật của nước có mối liên hệ gắn bó nhất với hợp đồng đó được áp dụng Trường hợp này được pháp luật quy định cụ thể thế nào là pháp luật của nước có mối liên hệ gắn bó nhất với hợp đồng tại khoản 2 điều 683 bao gồm: a) Pháp luật của nước nơi người bán cư trú nếu là cá nhân hoặc nơi thành lập nếu là pháp nhân đối với hợp đồng mua bán hàng hóa; b) Pháp luật của nước nơi người cung cấp dịch vụ
cư trú nếu là cá nhân hoặc nơi thành lập nếu là pháp nhân đối với hợp đồng dịch vụ; c) Pháp luật của nước nơi người nhận quyền cư trú nếu là cá nhân hoặc nơi thành lập nếu là pháp nhân đối với hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng hoặc chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ; d) Pháp luật của nước nơi người lao động thường xuyên thực hiện công việc đối với hợp đồng lao động Nếu người lao động thường xuyên thực hiện công việc tại nhiều nước khác nhau hoặc không xác định được nơi người lao động thường xuyên thực hiện công việc thì pháp luật của nước
có mối liên hệ gắn bó nhất với hợp đồng lao động là pháp luật của nước nơi người
sử dụng lao động cư trú đối với cá nhân hoặc thành lập đối với pháp nhân; đ) Pháp luật của nước nơi người tiêu dùng cư trú đối với hợp đồng tiêu dùng Và khoản 3 điều 683: Trường hợp chứng minh được pháp luật của nước khác với pháp luật
Trang 97
được nêu tại khoản 2 Điều này có mối liên hệ gắn bó hơn với hợp đồng thì pháp luật áp dụng là pháp luật của nước đó
- Các bên có thể thỏa thuận thay đổi pháp luật áp dụng đối với hợp đồng nhưng việc thay đổi đó không được ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba được hưởng trước khi thay đổi pháp luật áp dụng, trừ trường hợp người thứ
ba đồng ý
Thứ hai, hình thức hợp đồng phù hợp theo pháp luật của nước nơi giao kết
hợp đồng Nơi giao kết hợp đồng được xác định là nơi các bên tiến hành thỏa
thuận các điều khoản của hợp đồng và đi đến kết luận cuối là ký kết hợp đồng Trong trường hợp hình thức hợp đồng không phù hợp với hình thức hợp đồng theo pháp luật áp dụng với hợp đồng đó, nhưng phù hợp với hình thức hợp đồng theo pháp luật của nước nơi giao kết hợp đồng thì hình thức hợp đồng được giao kết ở nước ngoài đó vẫn được công nhận tại Việt Nam
Thứ ba, hình thức hợp đồng phù hợp theo pháp luật Việt Nam Pháp luật Việt
Nam quy định hợp đồng có thể được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, nhưng trong một vài trường hợp thì pháp luật quy định hình thức hợp đồng phải
là văn bản như hợp đồng li xăng Giống với nguyên tắc trên thì trong trường hợp hình thức hợp đồng không phù hợp với hình thức hợp đồng theo pháp luật áp dụng với hợp đồng đó, nhưng phù hợp với hình thức hợp đồng theo pháp luật Việt Nam thì hình thức hợp đồng được giao kết ở nước ngoài đó vẫn được công nhận tại Việt Nam
2 Bình luận về quy định của pháp luật Việt Nam trong việc giải quyết xung đột pháp luật về hình thức hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài
2.1 Nguyên tắc xác định hình thức hợp đồng theo pháp luật áp dụng đối với hợp đồng đó
Thứ nhất, về nguyên tắc luật của các bên ký kết thỏa thuận lựa chọn
BLDS 2015 kế thừa và pháp huy BLDS 2005 khi tiếp tục ghi nhận nguyên tắc luật do các bên lựa chọn để áp dụng điều chỉnh hợp đồng Tuy nhiên, BLDS 2015
đã ghi nhận nguyên tắc này một cách trực tiếp như cách quy định của Quy tắc Rome I Đây có thể xem là một sự tiến bộ của BLDS 2015 so với BLDS 2005 khi
Trang 108
mà nó đưa ra nguyên tắc tự do thỏa thuận của các bên trong hợp đồng trở về đúng
vị trí của nó là nguyên tắc nền tảng trong các quan hệ dân sự
Thật vậy, điều 769 BLDS 2005 quy định: “Quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng được xác định theo pháp luật của nước nơi thực hiện hợp đồng, nếu không có thỏa thuận khác” Như vậy, khả năng lựa chọn pháp luật áp dụng của các bên trong quan hệ hợp đồng chỉ được suy ra từ quy định “nếu không có thỏa thuận khác” Điều này có thể dẫn tới sự mất an toàn pháp lý, gây tâm lý e ngại cho các nhà đầu tư nước ngoài khi đầu tư vào Việt Nam Ngoài ra, theo BLDS
2005, hợp đồng được giao kết và thực hiện hoàn toàn tại Việt Nam thì các bên không được phép lựa chọn áp dụng pháp luật nước ngoài, vì hợp đồng đó “phải tuân theo pháp luật Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”3 Quy định này đã không còn tồn tại trong BLDS 2015 Vậy, chỉ cần hợp đồng có yếu tố nước ngoài
là các bên có thể lựa chọn luật áp dụng, mà không cần quan tâm đến việc hợp đồng đó có giao kết và thực hiện hoàn toàn tại Việt Nam hay không
Thứ hai, về nguyên tắc luật nơi có mối quan hệ gắn bó nhất
Nguyên tắc này được ghi nhận trong BLDS 2015 theo đó, trong trường hợp các bên không có thỏa thuận về pháp luật áp dụng thì pháp luật của nước có mối quan hệ gắn bó nhất với hợp đồng đó sẽ được áp dụng Tương tự như Quy tắc Rome I, BLDS 2015 cũng đã đưa ra một số loại hợp đồng thông dụng cùng với
đó là cách xác định luật được áp dụng tương ứng trên cơ sở đánh giá mối quan hệ mật thiết với hợp đồng, cụ thể là 5 loại hợp đồng:
- Trong hợp đồng mua bán hàng hóa thì người bán là chủ sở hữu tài sản hoặc người có quyền bán, cho nên pháp luật áp dụng là luật của nước nơi người bán cư trú nếu là cá nhân hoặc nơi thành lập nếu là pháp nhân;
- Đối với hợp đồng dịch vụ thì bên cung ứng dịch vụ là người có chuyên môn được pháp luật thừa nhận, cho nên pháp luật áp dụng là pháp luật của nước nơi có người cung ứng dịch vụ cư trú nếu là cá nhân hoặc nơi thành lập nếu là pháp nhân;
3 Đoạn 2, khoản 1, điều 769 BLDS 2005