1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tiểu luận lịch sử nhà nước và pháp luật thế giới EL31

20 21 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 368,75 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BÀI TẬP LỚNLỊCH SỬ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT THẾ GIỚI (EL31)Đề tài 1: Phân tích những đặc trưng cơ bản của nhà nước và pháp luật Phương Đông thời kỳ cổ đại.DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO1.ThS.GVC. Đào Thị Hồng (2020), Tập bài giảng lịch sử nhà nước và pháp luật thế giới, Trường Đại học mở Hà Nội, Hà Nội.2.Trường Đại học Luật Hà Nội (2012), Giáo trình Lịch sử nhà nước và pháp luật thế giới, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội.3.Nguyễn Đăng Dung (1997), Luật hiến pháp nước ngoài, NXB Đồng Nai, Đồng Nai.4.Nguyễn Ngọc Đào (1998), Lịch sử nhà nước và pháp luật thế giới, NXB Đồng Nai, Đồng Nai.5.Nguyễn Đức Hòa (2011), Lịch sử văn minh thế giới, NXB Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh.6.Lê Phụng Hoàng (2003), Lịch sử văn minh thế giới, NXB Giáo dục, Tp. Hồ Chí Minh7.Nguyễn Minh Tuấn (2007), Tập bài giảng lịch sử nhà nước và pháp luật thế giới, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.8. Văn bản pháp luật khác

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

TRUNG TÂM ĐÀO TẠO ELEARNING

BÀI TẬP LỚN

LỊCH SỬ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT THẾ GIỚI (EL31)

Đề tài 1: Phân tích những đặc trưng cơ bản của nhà nước và pháp luật

Phương Đông thời kỳ cổ đại

Giảng viên :

SVTH : Ngày, tháng, năm sinh :

MSSV : Lớp :

Khóa :

Ngành : Luật kinh tế

Hà Nội- 23/1/2022

Trang 2

MỤC LỤC

Mục lục 2

Danh mục từ viết tắt 3

Danh mục tài liệu tham khảo 3

Phần 1 Cơ sở lý luận 4

Phần 2: Nội dung nghiên cứu 5

1 Nhà nước và pháp luật Phương Đông cổ đại tiêu biểu 5

1.1 Ai Cập 5

1.2 Lưỡng Hà 7

1.3 Ấn Độ 11

1.4 Trung Quốc: 13

2 Đặc điểm chung về các nhà nước và pháp luật phương Đông cổ đại 18

2.1 Đặc điểm chung về các nhà nước phương Đông cổ đại 18

2.2 Những đặc điểm cơ bản về pháp luật phương Đông cổ đại 19

Phần 3: Kết luận 19

Trang 3

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 ThS.GVC Đào Thị Hồng (2020), Tập bài giảng lịch sử nhà nước và pháp luật thế giới, Trường Đại học mở Hà Nội, Hà Nội

2 Trường Đại học Luật Hà Nội (2012), Giáo trình Lịch sử nhà nước và pháp luật thế giới, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội

3 Nguyễn Đăng Dung (1997), Luật hiến pháp nước ngoài, NXB Đồng Nai, Đồng

Nai

4 Nguyễn Ngọc Đào (1998), Lịch sử nhà nước và pháp luật thế giới, NXB Đồng

Nai, Đồng Nai

5 Nguyễn Đức Hòa (2011), Lịch sử văn minh thế giới, NXB Trẻ, Tp Hồ Chí

Minh

6 Lê Phụng Hoàng (2003), Lịch sử văn minh thế giới, NXB Giáo dục, Tp Hồ Chí

Minh

7 Nguyễn Minh Tuấn (2007), Tập bài giảng lịch sử nhà nước và pháp luật thế giới, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội

8 Văn bản pháp luật khác

Trang 4

Bài làm:

PHẦN 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN

Các quốc gia cổ đại phương Đông đều được hình thành từ khoảng thiên niên kỉ

IV - III TCN, trên lưu vực các con sông lớn như: sông Nin, sông Ti-gơ-rơ và Ơ-phơ-rát, sông Ấn, Hoàng Hà, Trường Giang Sự tan rã tổ chức công xã nguyên thủy để lại

hệ quả là chế độ tư hữu xuất hiện, trong xã hội có sự phân chia giai cấp tạo điều kiện cho nhà nước cổ đại Phương Đông xuất hiện thay thế cho cơ quan quản lý xã hội cũ - Hội đồng thị tộc đã lỗi thời và không còn phù hợp Cùng những nguyên nhân xuất hiện của nhà nước và sự cần thiết của các quy tắc xử sự chung trong xã hội, pháp luật cổ đại Phương Đông ra đời

Với những đặc điểm của nhà nước cổ đại Phương Đông về thời gian ra đời, chế

độ, thể chế… và đặc điểm pháp luật tương ứng cần được phân tích làm rõ, đặt ra việc nghiên cứu tìm ra đặc điểm chung, đặc trưng riêng của các đối tượng nhằm ứng dụng

nó cho sự dự đoán hình thành và phát triển các xu thế kinh tế - xã hội mới

Nhận thấy tầm quan trọng và ý nghĩa của việc nghiên cứu trên, tôi đã lựa chọn đề

tài: “Phân tích những đặc trưng cơ bản của nhà nước và pháp luật Phương Đông thời

kỳ cổ đại” cho bài luận này

Về phương pháp nghiên cứu: Các phương pháp chính để nghiên cứu là phương pháp lịch sử và phương pháp phân tích Phương pháp được sử dụng nhiều là phương pháp lịch sử Phương pháp lịch sử là phương pháp xem xét các đối tượng: nhà nước và pháp luật Phương Đông thời kỳ cổ đại ứng với các giai đoạn cụ thể: phát sinh - phát triển - suy vong, xem xét các đặc điểm cụ thể của nó Các đối tượng diễn ra có không gian, thời gian, nguyên nhân, kế quả cụ thể Phân tích là phương pháp chia nhỏ vấn đề ra các mặt, các hiện tượng sau đó đi sâu vào bản chất để thấy mặt cụ thể của nó Ngoài hai phương pháp trên ta còn dùng các phương pháp khác như tổng hợp, quy nạp và diễn dịch, logic Tổng hợp là phương pháp nghiên cứu, liên kết các phương pháp để hiểu vấn đề trong chỉnh thể thống nhất Diễn dịch là phương pháp đi từ cái chung ra cái riêng; quy nạp là từ cái riêng tổng hợp thành cái chung Phương pháp logic là phương pháp trừu tượng, có kết hợp lý luận để xem xét bản chất trong hình thức tổng

Trang 5

quát của nó nhằm vạch ra bản chất, khuynh hướng phát triển của đối tượng nghiên cứu

PHẦN 2: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

1 Nhà nước và pháp luật Phương Đông cổ đại tiêu biểu

1.1 Ai Cập

1.1.1 Quá trình ra đời của nhà nước Ai Cập cổ đại

Qua những tài liệu và tư liệu khảo cổ học cũng như theo sự ghi chép của các sử gia Hy lạp Herodotes, Diodore, Strabon và nhất là Manetho với tài liệu “Lịch sử Ai Cập” cho chúng ta thấy Ai Cập là một trong những trung tâm văn minh lớn của nhân loại Văn minh Ai Cập phát triển ở vùng Đông Bắc châu Phi, trải qua 4 giai đoạn là Tảo vương quốc (3200 – 3000 TCN), Cổ vương quốc (3000 – 2200 TCN), Trung vương quốc (2200 – 1570 TCN) và Tân vương quốc (1570 – 1100 TCN) Xã hội có giai cấp và Nhà nước xuất hiện vào thời kỳ đầu của Cổ vương quốc

Trước khi Nhà nước hình thành, đất nước Ai Cập tồn tại các thiết chế chính trị đầu tiên gọi là các châu (Nome), được hình thành do sự tan rã của các công xã thị tộc Đứng đầu mỗi châu là thủ lĩnh (nomarque), ông ta có quyền tổ chức chính quyền, quân đội, tụ hội nhân dân và xây dựng các công trình thủy lợi để tưới tiêu, phục vụ sản xuất nông nghiệp Năm 3200 TCN, bằng các cuộc chiến tranh chính phục và thôn tính, vua Thượng Ai Cập là Menes đã đánh chiếm Hạ Ai Cập và sát nhập hai vùng này thành một nhà nước thống nhất và đến thời Cổ vương quốc, chế độ chiếm hữu nô lệ hình thành Bước sang thời Trung – Tân vương quốc, nhà nước Ai Cập đã đạt đến sự phồn thịnh và trở thành một đế quốc rộng lớn có lãnh thổ trải dài từ Bắc Phi sang tận Trung Đông, Nam Á Thiết chế chính trị - xã hội được hình thành với đầy đủ những đặc tính

cơ bản của nó

1.1.2 Tổ chức bộ máy nhà nước, quân đội (TW – địa phương)

Đứng đầu bộ máy nhà nước là Pharaoh Ông có quyền lực rất lớn: bổ nhiệm hoặc bãi miễn chức vụ của quan lại, quyết định các công việc quan trọng của quốc giaa Pharaoh là người sở hữu tối cao về ruộng đất, có quyền phân phát ruộng đất và

Trang 6

của cải theo ý mình Quyền lực tối thượng của ông ta được tín ngưỡng hóa làm cho nó trở thành thứ siêu nhiên, huyền bí

Thứ hai sau Pharaoh là Tể tướng và tăng lữ cấp cao Tể tướng là là vị quan có quyền thứ hai sau Pharaoh, thay mặt vua quản lý đất nước, chịu trách nhiệm về tổ chức hệ thống các quan lại trong triều đình, các hoạt động về nông nghiệp Tăng lữ cấp cao nắm giữ nhiều tài sản lớn như nhà thờ, ruộng đất và đồ tế tự và là lực lượng quan trọng của hoàng gia Ai Cập cổ Thứ ba là quý tộc Họ là lực lượng chủ yếu của hoàng gia, có sức mạnh kinh tế và chính trị lớn và là trụ cột của triều đình Ai Cập cổ đại Cuộc đấu tranh giành giật quyền lợi về chính trị - kinh tế giữa hai giai cấp quý tộc – tăng lữ chi phối sự thăng trầm của lịch sử Ai Cập

Thứ tư là các tỉnh trưởng quản lý các tỉnh thường là các quốc gia bị Pharaoh chinh phục và biến thành tỉnh) Thứ năm là thư lại Họ là những người có học thức, biết chữ

Họ chuyên ghi chép tài liệu, bảo quản sổ sách, tài liệu của hoàng gia, thường được tuyển chọn trong các kỳ thi chọn quan lại Thứ sáu là những nghệ nhân chuyên về xây dựng đền đài, chạm khắc các hoa văn tinh xảo Cuối cùng là nông dân công xã và nô

lệ Nông dân công xã trong xã hội Ai Cập chiếm 90% dân số và là lực lượng sản xuất chính nuôi sống xã hội Họ sống trong những công xã thị tộc mà ở đó, các hộ nông dân được phân chia ruộng đất (hằng năm, 3 năm/lần) để cày cấy và họ phải nộp một phần sản phẩm cho lãnh đạo công xã Trong công xã, quyền quản lý thuộc về Hội đồng trưởng lão và các công xã thị tộc tồn tại dai dẳng cho đến khi xã hội có giai cấp xuất hiện Đến thời Tân vương quốc, Pharaoh Ahmose I và những người kế vị đã thành lập một chính quyền mạnh, gia tăng sự can thiệp của Nhà nước vào các công xã nói chung

và các thành viên công xã nói riêng Nhà nước một mặt kiểm soát chặt chẽ thi hoạch mùa màng của nông dân, mặc khác lại cung cấp giống và gia súc cho các thành viên công xã theo định mức nhất định Nô lệ là lực lượng khá đông đảo trong xã hội, họ bị coi như tài sản và có quyền mua bán, chuyển nhượng Số lượng nô lệ ngày càng tăng chủ yếu là các thành viên công xã bị phá sản hay bị bần cùng hóa

Bộ máy nhà nước tuy tương đối cồng kềnh, nhưng hoạt động một cách hiệu quả

và chặt chẽ Ngoài những quy định trong tuyển chọn quan lại theo thứ bậc, nhà nước

Trang 7

ban hành nhiều quy định về hoạt động, thẩm quyền của các bộ phận từ trung ương đến địa phương, ban bố những sắc lệnh quy định về sự trừng phạt

1.1.3 Luật pháp

Người đứng đầu hệ thống pháp luật là Pharaoh, người chịu trách nhiệm thi hành pháp luật, thực thi công lý, duy trì pháp luật và trật tự, một khái niệm được người Ai Cập cổ đại gọi là Ma'at Mặc dù không có bộ luật nào từ thời Ai Cập cổ đại còn tồn tại, thư liệu của tòa án cho thấy luật pháp Ai Cập được dựa trên một cái nhìn chung về ý thức đúng và sai mà nhấn mạnh tới việc đạt được thỏa thuận và giải quyết xung đột thay vì tôn trọng đúng một tập hợp quy chế phức tạp Thời Cổ - Trung vương quốc, quyền xét xử tối cao thuộc về Pharaoh Dưới ông là một số bồi thẩm đoàn do các quan đại thần đứng đầu Đến thời Tân vương quốc quyền xét xử được phân thành tòa án cấp trung ương và tòa án cấp địa phương (vùng và khu) Tòa án trung ương gồm 30 người Tòa án địa phương (Kenbet) chịu trách nhiệm về phán quyết trong các phiên tòa liên quan đến các vụ kiện nhỏ và tranh chấp nhỏ Trường hợp nghiêm trọng hơn liên quan đến giết người, giao dịch đất lớn, và cướp mộ được đưa đến Đại Kenbet, mà tể tướng hoặc pharaoh chủ trì Nguyên đơn và bị đơn dự kiến sẽ đại diện cho bản thân và phải thề một lời tuyên thệ rằng họ đã nói sự thật Ngoài tòa án Nhà nước, ở Ai Cập còn có

cả tòa án Tôn giáo

Bộ máy tư pháp hình thành khá sớm, đồ sộ nhưng thẩm quyền của nó chưa tách bạch với hành pháp Sự mờ nhạt về ranh giới giữa quản lý hành chính và quyền xét xử là đặc trưng của chế độ chiếm hữu nô lệ chuyên chế Quyền tư pháp chỉ là bộ phận đặc thù của quyền hành pháp

1.2 Lưỡng Hà

1.2.1 Quá trình ra đời của nhà nước Lưỡng Hà cổ đại

Người Sumer từ xa xưa đã định cư ở vùng Mesopotamie (Lưỡng Hà, nắm giữ hai sông Tigris và Euphrates) Vào giữ thiên niên kỷ IV TCN, người Sumer chuyển dần từ công xã nguyên thủy sang xã hội có nhà nước Nhiều quốc gia đầu đã ra đời ở Lưỡng

Hà dưới dạng thành bang như Ur, Lagash, Kish, Nippur…, tồn tại độc lập với nhau Đứng đầu các thành bang này là Pateshi và sau ông là cả bộ máy nhà nước tương đối

Trang 8

hoàn chỉnh Về sau, do tranh giành quyền lực liên miên giữ các thành bang nên người Sumer không giữ nổi quyền cai trị ở vùng đất này và phải nhường lại cho người Akkad, một tộc người thuộc tộc Semites rất mạnh ở phía Bắc Lưỡng Hà Vào thế kỷ XXIV TCN, người Akkad đánh bại các thành bang Sumer và thống trị Lưỡng Hà Thời kỳ Akkad (2369 – 2253 TCN) là thời kỳ thịnh trị của người Semites Tuy nhiên,

do các nguyên nhân chính trị - kinh tế, đặc biệt là chiến tranh liên miên giữa Akkad với các dân khác làm Đế quốc Akkad suy yếu và sụp đổ Vương triều III của Ur cũng

có thống nhất Lưỡng Hà, nhưng nó không bền vững và chẳng bao lâu sau thì sụp đổ Lợi dụng sự suy yếu của Lưỡng Hà, người Elam và Amorites bằng nỗ lực của mình đã tạo ra những quốc gia rất hùng mạnh như Larsa, Isin, Assyria, Babylon…, trong đó vương quốc Baby lon xuất hiện vào năm 1895 TCN là quốc gia hùng mạnh nhất Thời Hammurabi (1792 – 1750 TCN), vương quốc này đã đánh bại các vương quốc khác của người Elam, đạt được nhiều thành tựu về kinh tế - chính trị - quân sự Khi đế quốc này suy yếu, nó bị người Kassites, Assyria đánh chiếm, rồi được người Chaldea phục hồi một thời gian (vương quốc Tân Babylon, 626 – 538 TCN) để rồi cuối cùng bị ngoại bang tiêu diệt

1.2.2 Tổ chức bộ máy nhà nước, quân đội (TW – địa phương)

Vào thiên niên kỷ IV TCN, khi người Sumer thành lập các quốc gia (hoặc thành bang),

họ đã tổ chức một bộ máy nhà nước tương đối chặt chẽ Đứng đầu các quốc gia này là Pateshi Ông là người có quyền tối cao (nắm vương quyền – thần quyền), nắm giữ ruộng đất và tư liệu sản xuất, được truyền giữ thế tập Ngoài Pateshi ra còn có Hội đồng trưởng lão, Hội nghị nhân dân và các quan chức bộ máy chính quyền, quyết định các vấn đề quan trọng của quốc gia Về cấu trúc xã hội, người Sumer (và các tộc người

kế tiếp) chia xã hội thành các tầng lớp như quý tộc, tăng lữ, quan lại, quan binh chuyên nghiệp, nông dân công xã (hay dân tự do), thợ thủ công và nô lệ Đến thời Babylon, bộ máy nhà nước được củng cố từ trung ương đến địa phương Vua là hiện thân của thần linh, đứng đầu vương quyền – thần quyền và có quyền lực vô hạn Sau vua có cả một

bộ máy quan lại cồng kềnh Ở địa phương thì vua chia thành các tỉnh và cử Thống đốc đến cai trị Vua nắm quyền hành pháp, lập pháp và tư pháp và là quan tòa tối cao ở

Trang 9

Babylon; dưới Vua là bồi thẩm được bầu từ những người già cả và có danh tiếng; tăng

lữ chỉ tham gia các phiên tòa khi họ làm lễ tuyên thệ cho các nhân chứng

Về xã hội, vua giữ nguyên cấu trúc như thế, chỉ thay đổi bằng cách chia dân tự do thành hai loại: Avilum và Mushkenu Tầng lớp Avilum được coi là người có quyền lợi chính trị - pháp luật, nhất là quyền sở hữu tài sản, thừa kế Còn dân Mushkenu có địa

vị thấp hèn hơn và bị phân biệt đối xử với người Avilum Chẳng hạn, khi hai loại người này bị phạm tội thì người Mushkenu bị phạt nặng hơn; nếu cả hai bị ai đó gây hại thì người Avilum được bồi hoàn nhiều hơn Về địa vị xã hội, người Mushkenu chịu thiệt thòi hơn Luật Hammurabi quy định, nếu người Mushkenu tát một người Avilum

có địa vị cao hơn minh thì anh ta bị đánh trước sự có mặt của dân chúng, còn đánh người ngang địa vị mình thì chỉ nộp phạt Về nô lệ, luật Hammurabi bảo vệ quyền sở hữu nô lệ một cách tuyệt đối Nếu kẻ nào làm mất dấu cho nô lệ thì bị chặt tay, kẻ nào giúp đỡ hay chứa chấp nô lê thì bị tử hình Về địa vị nô lệ, luật cho phép người Mushkenu và nô lệ cung đình được lập gia đình, có nhà cửa và tài sản Nếu con nợ thiếu nợ mà không có khả năng chi trả thì bị phạt làm công cho chủ nợ 3 năm

1.2.3 Luật pháp

a Luật thành Ur (luật của vua Urnammu)

Luật thành Ur được xem là bộ luật sớm nhất của Lưỡng Hà cổ đại Nó ra đời vào thế kỷ XXI TCN dưới thời vua Urnammu, có 40 điều khoản (hiện dịch được 32 điều)

Bộ luât là sự tổng hợp thành tựu luật học của các thời kỳ trước, phân chia rõ 4 lĩnh vực

là hình sự, dân sự, hôn nhân gia đình và tố tụng hình sự

+ Về hình sự, luật quy định: các hành vị phạm tội như giết người, cướp, đưa ra bằng chứng giả mạo, ngoại tình… đều bị tử hình

+ Về dân sự, luật đã đặt ra vấn đề bồi thường tài sản; quyền sở hữu tài sản và hợp đồng thuê mướn

+ Về hôn nhân – gia đình, luật Urnammu bảo về quyền lợi của người đàn ông (cụ thể

là người chồng)

Trang 10

+ Về xét xử - tố tụng, luật có nhiều quy định (nhưng mang tính tôn giáo nhiều hơn)

Về tố tụng thì dùng hình thức thử tội

b Luật Eshnunna (hay luật Bilalama)

Nó là bộ luật thứ hai của Lưỡng Hà sau luật Urnammu Bộ luật được các nhà khảo cổ học tìm thấy vào năm 1982 ở Iraq Luật có 60 điều khoản, quy định cụ thể các vấn đề trong đất nước Eshnunna Bộ luật bảo vệ quyền lợi giai cấp thống trị, quy định hình phạt với dân thường: Avilum và Mushkenu, nếu phạm tội thì bị trừng phạt Về hình sự, luật quy định có 5 loại hành vi vi phạm pháp luật: trộm cắp, tịch biên giả mạo, tội phạm tình dục, tội cố ý gây thương tích; bị thương do bò, chó cắn Phần lớn các loại tội phạm phải chịu hình phạt bằng tiền (một lượng bạc nhất định), nhưng một số tội phạm nguy hiểm như trộm đêm, giết người, một số tội phạm tình dục bị xử tử hình

Ở bộ luật này, nó phân chia xã hội thành nhiều giai cấp khác nhau: awilum – những người đàn ông và đàn bà tự do; muškenum; nô lệ (nam và nữ), các giai cấp khác như: ubarum, apþarum, mudum

c Luật Hammurabi:

Luật Hammurabi là bộ luật tiêu biểu nhất của Lưỡng Hà cổ đại Bộ luật được các nhà khảo cổ Pháp phát hiện ở Susa (Đông Babylon) vào năm 1901 Luật Hammurabi gồm 282 điều, được khắc trên cột đá bazan cao 2,25 m, đường kính đáy 2 m Bộ luật được các nhà soạn luật soạn vào thế kỷ XVIII TCN, tuy nhiên chưa phân định rõ ràng giới giữa hình luật, dân luật, luật tố tụng hay hôn nhân gia đình

Về nguồn gốc, bộ luật là sự kết tinh các quy định do vua Hammurabi và Tòa án cấp cao để lại Đồng thời, luật có sự kế thừa các bộ luật của người Sumer; luật Lipitistar của Nippur và luật Eshnunna (thế kỷ XX TCN) Bộ luật thể hiện tư tưởng chính trị của Vua muốn thông qua luật pháp để hạn chế, xoa dịu mâu thuẫn xã hội ở Babylon, củng

cố và phát triển kinh tế - xã hội thông qua mua bán nhà cửa, ruộng vườn, gia súc, vay mượn… phát triển đa dạng

+ Chế định hợp đồng, vay mượn

+ Chế độ lĩnh canh ruộng đất

Ngày đăng: 09/04/2022, 10:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w