BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁNMÔN: KỸ NĂNG CƠ BẢN CỦA LUẬT SƯ KHI THAM GIA GIẢI QUYẾT CÁC VỤ VIỆC HÀNH CHÍNH DIỄN ÁN LẦN 01 HỒ SƠ VỤ ÁN: LS.HC 15 KHỞI KIỆN VỀ CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG
Trang 1BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN
MÔN: KỸ NĂNG CƠ BẢN CỦA LUẬT SƯ
KHI THAM GIA GIẢI QUYẾT CÁC VỤ VIỆC HÀNH CHÍNH
DIỄN ÁN LẦN 01
HỒ SƠ VỤ ÁN: LS.HC 15
KHỞI KIỆN VỀ CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
PHẦN 1 TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ ÁN VÀ CÁC VẤN ĐỀ TỐ TỤNG
1.Tóm tắt nội dung vụ án
14/06/201
6 Ông Hải bà Kim nộp hồ sơ đề nghị cấp GiấyCNQSDĐ tại UBND TP A căn nhà số 179/8/1 +) QĐ số 1352/QĐ-UBND tỉnh H ngày
Trang 2
Trần Phú, phường 5, thành phố A diện tích 156.7 m2 gồm:
+)102 m2 đã được cấp GCNQSDĐ và +) 54.7 m2 trên đất có dãy nhà cấp 4 được ông
Mĩ xây từ 2000 nguồn gốc đất lần biển, có nộp thuế đất hàng năm, nay thuộc quy hoạch đất ở đô thị
27/06/2014 +) Hợp đồng cho nhà ở giữa Bùi Xuân Mĩ và Bùi Quang Hải 14/04/2003; GCNQSDĐ
số 656/CNSH +) Phiếu lấy ý kiến của Khu dân cư 21/06/2016; Xác nhận của UBND phường 5 về nguồn gốc, quá trình sử dụng đất 07/09/201
6 Chi nhánh VPĐKDĐ ra Thông báo trả lại hồ sơcấp GCNQSDĐ Thông báo số 2728/TB-CNVPĐK
Ông Hải bà Kim khởi kiện Thông báo số 2728/TB-CNVPĐK tại tòa án NDTP A
09/12/201
7
TAND TPA ra bản án sơ thẩm
05/04/201
8 TAND tỉnh A ra bản án phúc thẩm: chấp nhậnđơn khởi kiện của Ông Hải bà Kim Buộc chi
nhánh VP ĐKDD tiếp nhận lại hồ sơ cấp GCNQSDĐ
Bản án phúc thẩm số 04/2018/HC-PT
20/04/201
8
Ông Hải bà Kim nộp lại bộ hồ sơ đề nghị cấp GCNQSDĐ UBND TP A
Giấy biên nhận số 2018.086.08648
06/06/201
8 UBND tỉnh H gửi Tổng cục Quản lý đất đai vănbản số 2847/STNMT-CCQLDD đề nghị hướng
dẫn cấp GCNQSDD đối với trường hợp lấn chiếm “Sông, biển”
2847/STNMT-CCQLDD
14/08/201
8
Chi nhánh VPDKDD thành phố A ra văn bản trả lời việc chậm hồ sơ, trình bày đã trình hồ sơ tới phòng Tài nguyên và Môi trường UBND TP A
từ 02/07/2018
4171/CNVPĐK-ĐKCG
24/08/201
8 Ông Hải gửi đơn khiếu nại tới UBND TP A vềviệc chậm giải quyết cấp giấy chứng nhận
QSDD
Đơn khiếu nại ngày 24/08/2018
30/01/201
9 UBND TP A ra Văn bản tạm trả Hồ sơ đăng kýcấp GCNQSDD do chờ văn bản hướng dẫn trả
lời của Tổng cục Quản lý đất đai
Văn bản số 504/UBND-TNMT
18/03/201
9 UBND TP A trả lời đơn kiến nghị cho rằng THcủa ông Hải thuộc trường hợp vướng mắc trong
áp dụng quy định của pháp luật cần xin ý kiến hướng dẫn nên tạm trả hồ sơ chờ ý kiến của Tổng cục quản lý đất đai
1126/UBND-TNMT
04/04/201 Ông Bùi Quang Hải và bà Đặng Thị Kim nộp Đơn khởi kiện
Trang 39 đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân tỉnh H
27/09/201
9 UBND TP A ra văn bản số 4275/TNMT-GQDTnêu quan điểm của UBND TP đối với vụ ông
Bùi Quang Hải khởi kiện QĐHC trong lĩnh vực đất đai
4275/TNMT-GQDT
2 Các vấn đề tố tụng
2.1 Xác định tư cách đương sự
TT Đương sự Thông tin về đương sự
1 Người khởi kiện
1 Bùi Quang Hải, sinh năm 1971, CMND
2730635 địa chỉ: 179/8/1 Trần Phú, phường 5, thành phố A
2 Bà Đặng Thị Kim, sinh năm 1981, địa chỉ:
179/8/1 Trần Phú, phường 5, thành phố A
2 Đại diện theo ủy quyền
của người khởi kiện
Ông Trần Quốc Chinh, sinh năm 1965, địa chỉ:
64/1 A Nguyễn Hới, phường Nguyễn An Ninh, Thành phố A
3 Người bị kiện Ủy ban Nhân dân thành phố A, địa chỉ 89 Lý
Thường Kiệt, Phường 1, thành phố A, tình H 4
Người bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp cho
người bị kiện
Ông Nguyễn Thế Khang – Chuyên viên phòng TNMT thành phố A
2.2 Đối tượng khởi kiện
- Văn bản số 504/UBND-TNMT ngày 30/01/2019 của UBND thành phố A về việc tạm trả
hồ sơ đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất tại phường 5, thành phố A
Trang 4- Văn bản số 1126/UBND-TNMT ngày 18/03/2019 của UBND thành phố A về việc trả lời đơn kiến nghị của ông Bùi Quang Hải về việc tạm trả lại hồ sơ đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất
2.3 Yêu cầu khởi kiện
- Hủy văn bản số 504/UBND-TNMT ngày 30/01/2019 và Văn bản số 1126/UBND-TNMT ngày 18/03/2019 của UBND Thành phố A
- Buộc UBND TP A tiếp nhận lại và giải quyết hồ sơ cấp GCNQSDD
2.4 Điều kiện khởi kiện
2.4.1 Quyền khởi kiện
Văn bản 504/UBND-TNMT ngày 30/01/2019 và Văn bản số 1126/UBND-TNMT ngày 18/03/2019 của UBND Thành phố A đã gây ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích của Ông Bùi Quang Hải và bà Đặng Thị Kim
2.4.2 Thời hiệu khởi kiện
UBND thành phố A ban hành Văn bản số 504/UBND-TNMT ngày 30/01/2019 và Văn bản
số 1126/UBND-TNMT ngày 18/03/2019
Ngày 04/04/2019 Ông Bùi Quang Hải và bà Đặng Thị Kim nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân tỉnh H
Căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 116 Luật tố tụng hành chính thời hiệu khởi kiện là “01 năm kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định giải quyết khiếu nại lần
đầu hoặc quyết định giải quyết khiếu nại lần hai.” Như vậy, thời hiệu khởi kiện vụ án vẫn
còn.
2.4.3 Thẩm quyền
Văn bản số 504/UBND-TNMT ngày 30/01/2019 và Văn bản số 1126/UBND-TNMT ngày 18/03/2019 là do Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố A ban hành
Theo quy định tại khoản 4 Điều 32 Luật tố tụng hành chính 2015, Tòa án nhân dân cấp tỉnh
có thẩm quyền giải quyết thủ tục sơ thẩm đối với Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của Ủy ban nhân dân cấp huyện, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện trên cùng
phạm vi địa giới hành chính với Tòa án Do đó, Tòa án nhân dân tỉnh H là cơ quan có
thẩm quyền giải quyết vụ án hành chính này
* VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT ĐƯỢC ÁP DỤNG:
Trang 51 Luật Tố tụng hành chính năm 2015;
2 Luật Khiếu nại năm 2011;
3 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015;
4 Luật Đất đai năm 2003;
5 Luật Đất đai năm 2013
6 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/05/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai;
7 Nghị định 45/2014/NĐ-CP ngày 15/05/2014 quy định về thu tiền sử dụng đất
PHẦN 2 KẾ HOẠCH HỎI TẠI PHIÊN TÒA
1 Hỏi người khởi kiện
1 Ông Bùi Xuân Mĩ xây kè đổ đất để làm sân phơi cá vào năm bao nhiêu? Và xây dãy phòng trọ năm bao nhiêu? Chuyển nhượng cho Ông Hải vào năm bao nhiêu?
2 Ông Hải và bà Kim có nộp thuế sử dụng đất tương ứng với diện tích 54.7m2 đất lấn biển này không?
3 Tính đến nay, có quyết định xử phạt nào của CQCN về việc ông Mỹ san lấp đất lấn biển
và xây nhà trên đất đó không?
4 Trước khi có Văn bản số 504/UBND-TNMT thông báo đến ông về việc tạm trả hồ sơ thì UBND TP A có văn bản hay thông báo trực tiếp đến ông về việc UBND TP A đang tiến hành việc xin ý kiến chỉ đạo của cơ quan có thẩm quyền về trường hợp của ông hay không?
2.Hỏi người bị kiện
1.Việc ông Hải bà Kim sử dụng phần diện tích đất 54,7m2 thuộc thửa 164 có nguồn gốc đất lấn chiếm biển có phải là hành vi vi phạm không?
2.Nếu là hành vi vi phạm tại sao ông Hải bà Kim vẫn được sử dụng ổn định đến thời điểm hiện tại được nộp thuế đất hàng năm?
3.Phần diện tích đất 54,7m2 thuộc thửa 164 lấn chiếm từ lâu tại sao không ra thông báo và phương án giải quyết mà để tình trạng cho ông Hải bà Kim sử dụng lâu dài đến nay?
Trang 64 Trường hợp của ông Hải bà Kim đã kéo dài từ năm 2016, tại sao đến ngày 6/6/2018, UBND TP A mới có Văn bản số 2847/STNMT-CCQLDĐ để xin ý kiến Tổng cục đất đai về trường hợp này?
5 Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 452/QĐ-UB ngày 19 tháng 2 năm 2004 của Chủ tịch UBND Thành phố A về lĩnh vực xây dựng ( BL số 45) là xử phạt về hành vi gì?
6 Việc xử phạt theo Quyết định 452 có bao gồm việc xử phạt hành vi san lấp đất lấn biển 54.7 m2 không?
7.Theo Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và quy hoạch phát triển đô thị từ 2011-2015
do UBND tỉnh H phê duyệt, 54,7 m2 đất này thuộc quy hoạch đất gì?
8 Trong quy hoạch sử dụng đất phê duyệt trước năm 2014 của UBND tỉnh H, 54,7 m2 đất này thuộc quy hoạch đất gì?
9 Theo quy định của pháp Luật hiện hành thì thủ tục cấp GCNQSDĐ trong thời hạn bao nhiêu ngày? Với trường hợp bổ sung hoặc thông báo trả lại hồ sơ thì trong bao nhiêu ngày? 10.- Kể từ ngày làm văn bản gửi tới Phòng tài nguyên, bộ TNMT đến nay thì VPDKDĐ có nhận được văn bản chỉ đạo hướng dẫn gì không?
PHẦN 3: BẢN LUẬN CỨ BẢO VỆ QUYỀN, LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA BÊN KHỞI KIỆN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
BẢN LUẬN CỨ
(V/v bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người khởi kiện) Kính thưa Hội đồng xét xử!
Thưa vị đại diện Viện Kiểm sát!
Thưa các vị Luật sư đồng nghiệp!
Thưa toàn thể quý vị tham dự phiên tòa!
Trang 7Tôi là Luật sư Đoàn Thị Ngọc Trâm thuộc Công ty Luật EPLegal, đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội Tôi tham gia phiên tòa hôm nay với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người khởi kiện là ông Bùi Quang Hải và bà Đặng Thị Minh trong vụ
án hành chính yêu cầu huỷ Văn bản số 504/UBND-TNMT ngày 30/01/2019 của UBND thành phố A về việc tạm trả hồ sơ đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền
sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất và Văn bản số 1126/UBND-TNMT ngày 18/03/2019 của UBND thành phố A về giải quyết đơn (khiếu nại) của người khởi kiện là ông Bùi Quang Hải và bà Đặng Thị Minh đối với hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất tại thửa đất số 164 tờ bản đồ số 09 phường 5, thành phố A, và yêu cầu đề nghị UBND thành phố A tiếp nhận lại và giải quyết hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất cho diện tích 54,7 m2 thuộc thửa đất
số 164 tờ bản đồ số 09, phường 5, thành phố A theo quy định của pháp luật, được Toà án nhân dân tỉnh H đưa ra xét xử ngày hôm nay theo Quyết định số 13x/2019/QDXXST-HC ngày 23/05/2016 về việc đưa vụ án ra xét xử
Kính thưa Hội đồng xét xử,
Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án, trao đổi với các đương sự và theo dõi diễn biến phiên toà ngày hôm nay, tôi xin đưa ra quan điểm để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp cho người khởi kiện là ông Bùi Quang Hải và bà Đặng Thị Minh như sau
Thứ nhất, nội dung của văn bản số 504/UBND-TNMT ngày 30/01/2019 của UBND
thành phố A về việc “tạm trả” hồ sơ đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất là trái quy định pháp luật:
Theo quy định pháp luật hiện hành nếu trong trường hợp bị từ chối nhận hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì phải tuân thủ quy định theo khoản 11 Điều 7 Thông
tư 33/2017/TT-BTNMT khi có căn cứ Tuy nhiên, UBND Thành phố A đã không tuân thủ theo quy định nào nêu trên, kéo dài thời gian thực hiện thủ tục sau đó ra Văn bản số 504 để tạm trả hồ sơ
Thứ hai, có đầy đủ điều kiện để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối
với phần diện tích 54,7 m 2 Căn cứ trên các chứng cứ sau đây:
Nguồn gốc diện tích đất 156,7 m2 là do cha mẹ của người khởi kiện là ông (bà) Bùi Xuân Mĩ và Nguyễn Thị Rộ chuyển giao cho từ năm 2002 Phần diện tích 54,7 m2 thuộc tổng diện tích đất nêu trên là đất sử dụng trước ngày 01/07/2014, từ khi bắt đầu sử dụng thì phần diện tích này không bị xử lý hành chính về hành vi lấn đất biển, không có tranh chấp
Trang 8Ngoài ra, căn cứ vào các tài liệu về quy hoạch sử dụng đất hiện nay thì tại bản đồ kèm theo Quyết định số 1352/QĐ-UBND ngày 27/06/2014 của TBND tỉnh H thì phần diện tích này
thuộc quy hoạch đất ở đô thị Thêm nữa, ngày 17/08/2017, Phòng Tài nguyên và môi
trường thành phố A cũng đã có văn bản số 2013/TNMT-QHKD xác định nội dung nêu trên như sau: “Diện tích 54,7 m2 đất chưa được cấp giấy chứng nhận (liền kề với diện tích 102,0
m2 nêu trên) thuộc quy hoạch đất ở đô thị”.
Ngoài ra, tại khoản 3, khoản 5 Điều 22 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP có quy định về trường hợp xử lý, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có vi phạm pháp luật đất đai trước ngày 01 tháng 07 năm 2014 Như vậy, Phần đất 54,7 m2 thuộc trường hợp lấn đất không thuộc quy hoạch sử dụng đất cho mục đích quy định tại Điều 61 và Điều 62 của Luật đất đai thì Uỷ bản nhân nhân cấp tỉnh chỉ đạo rà soát, điều chỉnh quy hoạch đất sử dụng và người đang sử dụng đất là người khởi kiện trong vụ án này được xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Người đang sử dụng đất ổn định theo đó thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định pháp luật, quy định tại Khoản 5 Điều 22 Nghị định 43/2014/NĐ-CP
Nhận thấy phần diện tích đất 54,7 m2 có đủ điều kiện để cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, Ủy ban nhân dân thành phố A phải thực hiện vai trò, trách nhiệm của mình trong việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Hải và bà Minh để đảm bảo lợi ích hợp pháp cho người dân Tuy nhiên thay vào đó, UBND Thành phố A lại ban hành 2 quyết định là Văn bản số 504/UBND-TNMT và Văn bản số 1126/UBND-TNMT Hai quyết định này đã ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi hợp pháp và chính đáng của ông Bùi Quang Hải và bà Đặng Thị Minh
Thứ ba, việc thực hiện thủ tục cấp GCN QSD đất cho ông Bùi Quang Hải và bà
Đặng Thị Minh không đảm bảo thời hạn trả kết quả theo điều 61 Nghị định số
43/2014/NĐ-CP
Cụ thể, căn cứ theo giấy tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả số 2018.086.08648 của Chi nhánh VPĐKDD thành phố A thì thời điểm ông Bùi Quang Hải và bà Đặng Thị Minh nộp lại hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là ngày 20/04/2018 với ngày hẹn trả kết quả là ngày 06/06/2018 Đến ngày hẹn trả kết quả, ông Bùi Quang Hải và bà Đặng Thị Minh có đến nhận kết quả nhưng không được trả và đã yêu cầu Chi nhánh VPDKDD thành phố A giải trình nguyên nhân Tới ngày 14/08/2018, thì nhận được văn bản trả lời với
Trang 9nội dung thông báo là hồ sơ đã trình tới phòng Tài Nguyên và Môi trường và UBND Thành phố A nhưng chưa được phản hồi
Theo quy định của pháp luật về thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quy định cụ thể tại Điều 61 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định 01/2017/NĐ-CP, “thời gian thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là
không quá 30 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ; không tính thời gian các ngày
nghỉ, ngày lễ theo quy định của pháp luật; không tính thời gian tiếp nhận hồ sơ tại xã, thời gian thực hiện nghĩa vụ tài chính của người sử dụng đất; không tính thời gian xem xét xử lý đối với trường hợp sử dụng đất có vi phạm pháp luật, thời gian trưng cầu giám định”
Như vậy, đối với trường hợp phần diện tích 54,7 m2 có đầy đủ điều kiện để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và phía Văn phòng đăng ký đất đai cũng như UBND Thành phố A cũng không có yêu cầu bổ sung hồ sơ hay cho rằng hồ sơ chưa hợp lệ để ra thông báo và hướng dẫn trong suốt thời hạn nêu trên Vì vậy, hoàn toàn có căn cứ cho rằng UBND Thành phố A đã vi phạm về thời gian thực hiện thủ tục hành chính về đất đai
Thứ tư, do việc UBND Thành phố A ra Văn bản số 504/UBND-TNMT không đúng,
dẫn đến Văn bản số 1126/UBND-TNMT ngày 18/03/2019 của UBND thành phố A về giải quyết đơn (khiếu nại) của người khởi kiện là ông Bùi Quang Hải và bà Đặng Thị Minh là
không có căn cứ.
Với tư cách là luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người khởi kiện là ông Bùi Quang Hải và bà Đặng Thị Minh, dựa trên các nội dung đã phân tích trên, tôi xin kính
đề nghị: Hội đồng xét xử xem xét huỷ Văn bản số 504/UBND-TNMT ngày 30/01/2019 của UBND thành phố A về việc tạm trả hồ sơ đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất và Văn bản số 1126/UBND-TNMT ngày 18/03/2019 của UBND thành phố A về giải quyết đơn (khiếu nại) của người khởi kiện là ông Bùi Quang Hải và bà Đặng Thị Minh đối với hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất tại thửa đất số 164 tờ bản đồ số 09 phường 5, thành phố A do không có căn cứ pháp luật Đối với nội dung về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, kính đề nghị HĐXX xem xét và đề nghị UBND thành phố A tiếp nhận lại và giải quyết hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất cho diện tích 54,7 m2 thuộc thửa đất số 164 tờ bản đồ số 09, phường 5, thành phố A theo quy định của pháp luật
Trang 10Trên đây là bản luận cứ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Bùi Quang Hải và
bà Đặng Thị Minh
Kính thưa HĐXX, trên đây là toàn bộ quan điểm bào chữa của tôi với tư cách là Luật
sư bảo vệ cho bên bị kiện trong phiên tòa hôm nay Tôi xin cảm ơn sự quan tâm lắng nghe của Hội đồng xét xử và những người tham dự phiên tòa hôm nay
Xin chân thành cảm ơn!
LUẬT SƯ
PHẦN 4: NHẬN XÉT DIỄN ÁN
1.Hình thức tổ chức buổi diễn án
Buổi diễn án tổ chức dưới hình thức online
2.Thủ tục bắt đầu phiên tòa
+
Thư ký: làm thủ tục ổn định trật tự phòng xử, kiểm tra những người được triệu tập, giấy
triệu tập và giấy tờ tùy thân
- Đã phổ biến đầy đủ nội quy phiên tòa, báo cáo với HĐXX về sự có mặt vắng mặt của những người tham gia phiên tòa NBK có đơn xin vắng mặt đúng thủ tục
- Hội đồng xét xử:
+ Thẩm phán:
- Đã phổ biến quyền và nghĩa vụ của các đương sự theo Điều 55, 56, 57 Bộ Luật tố tụng Hành chính
- Thực hiện đầy đủ thủ tục hỏi NKK, NBK có yêu cầu thay đổi Luật sư, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, yêu cầu thay đổi thành viên HĐXX
3 Phần xét hỏi
- Hội đồng xét xử: