1. Trang chủ
  2. » Trung học cơ sở - phổ thông

Ly thuyet quy hoach

185 29 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 185
Dung lượng 23,61 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong cấu trúc đô thị, hệ thống giao thông giữa vai trò liên kết các khu vực chức năng và tạo thành một hành lang kỹ thuật mà trên đó bố trí hầu hết các công trình của hệ thống kỹ thuật

Trang 1

CHƯƠNG I QUY HOẠCH CHUNG XÂY DỰNG ĐÔ THỊ

Trang 2

 Chọn đất và chọn hướng phát triển đô thị

Hình - Mô hình cấu trúc đô thị

Đất đai đô thị được phân chia thành các loại sau:

a Đất dân dụng

- Đất ở

- Đất trung tâm phục vụ công cộng

- Đất cây xanh thể dục thể thao

- Đất giao thông

b Đất ngoài dân dụng

- Đất công nghiệp và kho tàng

- Đất cơ quan bên ngoài và trung tâm chuyên ngành

- Đất giao thông đối ngoại

- Đất công trình đầu mối hạ tầng kỹ thuật

- Đất cây xanh phòng hộ

- Đất khác ( nông nghiệp, lâm nghiệp )

- Đất dự trữ phát triển

Trang 3

Chọn mô hình phát triển đô thị

Mỗi loại đất có một nhu cầu riêng về địa hình, địa mạo, địa chất thuỷ văn, điều kiện tự nhiên và kỹ thuật

Chính điều kiện đất đai đó đã cho phép mỗi đô thị có thể lựa chọn cho mình một mô hình phát triển không gian thích hợp với quy mô tính chất và giai đoạn phát triển đô thị

Mô hình phát triển không gian đô thị phụ thuộc rất lớn vào hệ thống giao thông chính của đô thị xương-sống của mọi hoạt động và định hướng phát triển lâu dài ĐT

- Dạng tuyến và dải đô thị phát triển dọc các trục giao thông dựa trên cơ sở lí luận chuỗi và tuyến, dải của Soria Y Mata

Hình - Phương án quy hoạch thành phố Brasilia của Lucio Costa (1956)

- Đô thị phát triển theo dạng tập trung và mở rộng ra nhiều nhánh hình sao

Hình - Dạng tập trung phát triển thành nhánh sao

Trang 4

- Dạng hướng tâm vành đai, đô thị phát triển theo hướng tâm và mở rộng ra nhiều hướng có các vành đai theo trung tâm nối liền các tuyến giao thông với nhau

Hình - Thành phố Moskva

- Đô thị phát triển hỗn hợp xen kẽ nhau bởi nhiều loại đơn vị đô thị khác nhau gắn với hệ giao thông kiểu hình sao và vành đai xen kẽ ở khu vực gần trung tâm

- Đô thị phát triển hình học với nhiều đơn vị khác nhau, xây dựng tập trung hoặc tuyến hay chuỗi Đây là một ví dụ phát triển đô thị trên cơ cấu hình học hướng tâm của từng đơn vị

Trang 5

- Hình thức phổ biến nhất là đô thị phát triển theo ô bàn cờ và dạng tự do Một số dạng hình học tam giác, lục giác hay đa giác hầu hết chỉ dừng ở dạng lí thuyết nhiều hơn là trong thực tế xây dựng

Hình- Sơ đồ các mô hình phát triển hệ thống dân cư đô thị *

Trang 6

Phân vùng chức năng đất đô thị

Phân vùng chức năng các loại đất trong đô thị phải dựa vào tính chất sử dụng và chỉ tiêu được chọn cho từng loại đất, sau khi đã đánh giá tổng hợp đầy đủ khả năng cho phép sử dụng của đất đai

Đất đô thị được phân thành 2 loại chính bao gồm đất dân dụng và đất ngoài khu dân dụng, được tổng hợp như sau:

I Đất dân dụng

1 Đất ở

2 Đất công cộng

3 Đất cây xanh

4 Đất giao thông

II Đất ngoài khu dân dụng

1 Đất công nghiệp và kho tàng

2 Đất cơ quan ngoài và TT chuyên ngành

3 Đất giao thông đối ngoại

4 Đất công trình đầu mối hạ tầng kỹ thuật

5 Đất cây xanh phòng hộ

6 Đất khác ( nông nghiệp, lâm nghiệp )

7 Đất dự trữ phát triển

Trang 7

Các khu chức năng bao gồm:

- Khu đất công nghiệp: khu vực sản xuất chính của ĐT tổ chức ở ngoài khu dân

dụng Các khu công nghiệp tập trung, khu chế xuất, các khu công nghiệp kỹ thuật cao là những hình thức tổ chức sản xuất mới có qui mô lớn, là động lực chính của sự phát triển ĐT

- Đất kho tàng : Chủ yếu bố trí ở ngoài khu dân dụng TP Đất kho tàng là nơi dự trữ

hàng hoá, vật tư, nhiên liệu phục vụ trực tiếp cho sản xuất và sinh hoạt hằng ngày của

ĐT Các kho tàng được bố trí gần các đầu mối giao thông và các khu CN

- Đất xây dựng các khu ở: Bao gồm đất đai xây dựng các khu nhà ở mới và cũ trong

thành phố Các khu ở bố trí thành các đơn vị ở khác nhau trong khu đất dân dụng thành phố Nó gắn liền với mọi hoạt động khác ở đô thị và được bố trí tập trung xung quanh các khu trung tâm của đô thị

- Đất trung tâm các công trình công cộng: Bao gồm khu vực trung tâm chính trị của đô

thị và toàn bộ hệ thống trung tâm phụ khác ở các đơn vị đô thị thấp hơn như quận, phường, các trung tâm văn hoá, giáo dục đào tạo, nghiên cứu khoa học Đất trung tâm thường được bố trí ở khu vực có bộ mặt cảnh quan đẹp nhất và nằm ở vị trí trung tâm của thành phố và các khu vực chức năng khác

- Đất cây xanh và thể dục thể thao: Bao gồm đất xây dựng các công viên văn hoá, nghỉ

ngơi, các khu TDTT thành phố, các vườn cây đặc biệt khác như công viên bách thú, bách thảo, công viên rừng, khu danh lam thắng cảnh thành phố Đất xây dựng còn được tính cả các khu cây xanh cách li, mặt nước hồ, sông và khu đất trống

- Đất giao thông đối ngoại: Bao gồm đất xây dựng các tuyến đường giao thông cao tốc

quốc gia, các tuyến đường sắt, các bến bãi, quảng trường giao thông, bến xe, ga đường sắt, bến cảng, sân bay và ga sân bay

- Đất vùng ngoại ô: Bao gồm đất dự trữ phát triển đô thị, các khu vực xây dựng các

công trình đô thị đặc biệt về cơ sở hạ tầng kỹ thuật như trạm xử lý nước, trạm bơm, lọc nước Các khu quân sự bảo vệ đô thị, các khu quân sự khác, các khu di tích, khu nghĩa trang, khu rừng bảo vệ Các khu đất này được bố trí ngoài thành phố nhưng có quan hệ mật thiết với mọi hoạt động bên trong TP

Bố cục không gian kiến trúc đô thị

Mỗi khu vực dân cư, mỗi khu vực chức năng trong ĐT đều có một số yêu cầu riêng phản ảnh đặc trưng của mình thông qua hình ảnh kiến trúc ở đó

Hình ảnh của ĐT là tổng hợp bộ mặt kiến trúc từ các khu vực chức năng trong đô thị đến hình ảnh chủ đạo nhất, đặc trưng nhất của toàn bộ đô thị là khu trung tâm TP Bố cục không gian kiến trúc đô thị được biểu hiện ở cơ cấu tổ chức mặt bằng quy

Trang 8

hình trong địa đạo diễn ca đã áp dụng việc chọn đất xây dựng và bố cục quy hoạch kiến trúc trong các quần thể công trình

Trong thời cổ đại và cận đại xuất hiện các loại đô thị lấy bố cục hướng tâm kiểu thành phố lí tưởng có thành quách bao bọc làm cơ sở cho bố cục không gian kiến trúc đô thị

Những công trình trọng điểm của thành phố được bố trí ở các quảng trường trung tâm, nơi hội tụ của các tuyến giao thông chính

Hình - Bố cục không gian của một số thành phố lý tưởng thời phục hưng

Ngày nay ĐT phát triển nhanh và mở rộng thành không gian lớn có bán kính hàng chục có khi hàng trăm km Vấn đề bố cục không gian phong phú hơn, ngoài trung tâm hành chính của thành phố, các trung tâm phụ cũng phát triển mạnh theo nhiều hình thức khác nhau tạo nên những chuỗi đô thị với những bố cục kiến trúc khá hấp dẫn

Trang 9

Hình - Thành phố Newyork

Hình - Thành phố Newyork

Trang 10

Việc xác định bố cục không gian cần căn cứ vào các yếu tố cơ bản của bố cục, theo Kevin Lynch, có 5 thành phần cơ bản tạo nên bố cục của 1 thành phố:

- Tuyến

- Nút

- Vành đai (bờ, rìa)

- Mảng

- Điểm nhấn, trọng điểm

Hình - Ngôn ngữ của hình ảnh đô thị theo Kevin Lynch

Song song với việc nghiên cứu bố cục mặt bằng quy hoạch tổng thể đô thị là việc xác định các công trình và cụm công trình trọng điểm của thành phố ở khu trung tâm

Vị trí các công trình trọng điểm bố trí ở trên các trục giao thông chính, trên các quảng trường trung tâm và những nơi có vị trí tầm nhìn tốt, nhằm tạo được một tổng thể không gian kiến trúc thích hợp cho toàn thành phố và từng khu vực

Trang 11

PHÂN ĐỢT XÂY DỰNG VÀ QUY HOẠCH ĐỢT ĐẦU

Bất kì một đồ án QH nào cũng phải có phân chia giai đoạn thực hiện

Quy hoạch xây dựng đợt đầu có nhiệm vụ:

1 Khoanh định các khu vực hiện có và mở rộng, phân loại đất theo chức năng sử dụng: nhà ở, công nghiệp, kho bãi, cây xanh, khu du lịch nghỉ ngơi giải trí, các trung tâm công cộng, các cơ sở an ninh quốc phòng, hạ tầng Kỹ thuật và các khu vực khác dự kiến xây dựng trong giai đoạn trước mắt

2 Phân chia các khu vực đặc thù theo tính chất quản lí như khu vực bảo tồn và tôn tạo, khu vực phố cổ, phố cũ, khu phố mới Xác định các chỉ tiêu kĩ thuật, tỉ lệ tầng cao, các hệ số sử dụng đất và định hướng kiến trúc quy hoạch

3 Xác định các yêu cầu và biện pháp cải tạo và xây dựng mới: Việc xác định mục tiêu và đối tượng đầu tư, các luận chứng tiền khả thi theo thứ tự ưu tiên và phân

kì xây dựng

4 Phân loại mạng lưới đường giao thông đối nội, đối ngoại, các đường khu vực Xác định hướng tuyến chỉ giới đường đỏ, mặt cắt đường và phân kì giai đoạn thực hiện các tuyến trong giai đoạn trước mắt cả bề dài lẫn bề rộng mặt cắt các tuyến đường dự kiến

5 Xác định các vị trí và đầu mối các công trình hạ tầng kĩ thuật được xây dựng trong giai đoạn trước mắt

6 Xác định ranh giới các đơn vị QH và đơn vị HC phường, xã, quận (hiện có và dự kiến điều chỉnh)

Trang 12

2 ĐIỀU LỆ QUẢN LÝ XÂY DỰNG THEO QUY HOẠCH

Một đồ án quy hoạch xây dựng bao giờ cũng kèm theo điều lệ quản lý xây dựng theo đồ án quy hoạch thông thường bao gồm các nội dung sau:

- Xác định ranh giới, diện tích khu đất thiết kế

- Xác định ranh giới, diện tích, tính chất các khu chức năng như: công nghiệp, khu ở, công trình công cộng, công viên, vườn hoa, công trình đặc biệt, công trình đầu mối hạ tầng kỹ thuật

- Các yêu cầu về quy hoạch kiến trúc: mật độ xây dựng, hệ số sử dụng đất, tầng cao tối

đa, tầng cao trung bình, chỉ giới xây dựng, chỉ giới đường đỏ, cốt xây dựng nền và tầng một công trình, hình thức và bộ mặt kiến trúc, màu sắc công trình, cây xanh sân vườn, hình thức tường rào, vật liệu xây dựng

- Xác định các loại hình nhà ở ( chung cư, biệt thự, nhà liên kế )

- Xác định số người, tiêu chuẩn diện tích đất diện tích sàn cho mỗi người đối với từng lô đất, từng công trình

- Các yêu cầu đối với công trình đầu mối và tuyến hạ tầng kỹ thuật: diện tích, chức năng, khoảng cách ly, các yêu cầu về khai thác sử dụng, bộ mặt kiến trúc

- Quy định về bảo tồn, tôn tạo, chỉnh trang các công trình kiến trúc, di tích lịch sử – văn hoá

- Các yêu cầu đối với khu đất dự trữ: đặc điểm tự nhiên, các yêu cầu trong khai thác sử dụng xây dựng trong các giai đoạn

- Các quy định về bảo vệ môi trường sinh thái

- Các điều khoản thi hành

Trang 13

CHƯƠNG II QUY HOẠCH CHI TIẾT XÂY DỰNG CÁC KHU CHỨC NĂNG ĐÔ THỊ

I QUY HOẠCH XÂY DỰNG HỆ THỐNG GIAO THÔNG VÀ HẠ TẦNG KỸ THUẬT ĐT

1.1 THIẾT KẾ QUY HOẠCH HỆ THỐNG GIAO THÔNG ĐÔ THỊ

Hệ thống giao thông là hệ thống quan trọng nhất trong các loại hạ tầng kỹ thuật đô thị, nó đáp ứng nhu cầu vận tải hành khách và hàng hoá từ nơi này đến nơi khác trong đô thị hoặc vận chuyển hành khách và hàng hoá từ đô thị đi các nơi khác

Hệ thống giao thông có vai trò trong việc việc hành bộ khung chính cấu trúc đô thị và có vai trò định hướng cho các hệ thống hạ tầng kỹ thuật khác

Trong cấu trúc đô thị, hệ thống giao thông giữa vai trò liên kết các khu vực chức năng và tạo thành một hành lang kỹ thuật mà trên đó bố trí hầu hết các công trình của hệ thống kỹ thuật hạ tầng khác

Giao thông đối nội – giao thông đối ngoại

a Giao thông đối ngoại

Giao thông đối ngoại bao gồm mối liên hệ giữa đô thị với bên ngoài như: với các đô thị khác, với các khu công nghiệp tập trung, khu nghỉ ngơi giải trí

Giao thông đối ngoại bao gồm: Giao thông đường thuỷ, giao thông đường sắt, giao thông đường bộ và giao thông đường hàng không

b Giao thông đối nội

Giao thông đối nội là giao thông bên trong đô thị, nó có mối quan hệ chặt chẽ với hệ thông giao thông đối ngoại qua các nhà ga, bến cảng, bến xe, các đầu mối giao thông ở các đường vào đô thị

Theo điều kiện địa hình, kinh tế, cấu trúc đô thị mà từng loại hình giao thông đô thị có thể phát triển không đều nhau Trong đô thị cũng có đầy đủ các loại giao thông như là: Giao thông đường thuỷ, giao thông đường sắt:tàu điện ngầm, mặt đất, trên cao nhưng đa phần là phát triển mạnh về giao thông đường phố

Phân loại hệ thống giao thông

a Đường bộ

Là một loại hình thức giao thông phổ biến ở những thành phố lớn, nó được sử dụng rộng rãi, vận chuyển hành khách hàng hoá thuận tiện ở mọi lúc mọi nơi, với khối lượng tương đối lớn

Trang 14

c Đường thủy

Hình thức giao thông rất quan trọng xuất hiện từ lâu đời, có ưu điểm là vận chuyển lượng hành khách và hàng hoá rất lớn, chi phí vận tải thấp, tuy nhiên tốc độ không cao và phù thuộc vào điều kiện tự nhiên của đô thị

d Đường hàng không

Hình thức hiện đại, là phương tiện vận chuyển hành khách và hàng hoá đi những khoảng cách xa và ra ngoài đô thị Có ưu điểm là vận chuyển hàng hóa nhanh, an tòan, nhưng khối lượng còn hạn chế, giá thành cao

Vai trò của giao thông đối với giải pháp quy hoạch đô thị

Cấu trúc mạng lưới giao thông và cấu trúc đô thị

Trong cấu trúc đô thị, hệ thống giao thông giữ vai trò làm khung chính gắn kết các khu vực chức năng đảm bảo một cấu trúc đô thị chặt chẽ Hệ thống giao thông tạo mối quan hệ giữa các khu vực trong đô thị và mối liên hệ giữa đô thị với bên ngoài

Hệ thống giao thông trong cấu trúc đô thị có những đặc điểm sau:

Đây là mối quan hệ giữa các thành phần của đô thị thông qua việc giải quyết các nhu cầu sử dụng trong đô thị Đây cũng chính là yếu tố góp phần xác định quy mô hợp lý của các thành phần chức năng đô thị

Định hướng phát triển hệ thống giao thông cũng góp phần trong việc xác định chính xác cấu trúc đô thị Hệ thống giao thông là bộ khung căn bản để xác định vị trí của hệ thống hạ tầng kỹ thuật, vị trí các nguồn cung cấp hạ tầng: điện, nước, trạm xử lý chất thãi, bãi rác …

Dựa trên hệ thống giao thông đô thị, các hệ thống hạ tầng kỹ thuật khác như cấp điện, cấp thoát nước, … sẽ được triển khai tổ chức theo các định hướng phát triển của đô thị nhằm đảm bảo sự vận hành và PT của các khu vực chức năng trong cấu trúc đô thị

Các dạng mạng lưới giao thông đô thị trong cấu trúc đô thị

Dạng mạng lưới ô cờ – ô cờ có đường chéo

Dạng ô cờ và ô cờ có đường chéo thường có tính đơn giản sẽ thích hợp với các cấu trúc đô thị nhỏ hoặc các khu vực chức năng trong đô thị Lúc này tính định hướng giao thông không cao nhưng khả năng phân tán dòng người dễ dàng Khả năng di chuyển không nhanh nhưng ít có nguy cơ bị ách tắc giao thông

Dạng đường ô cờ và ô cờ có đương chéo thường được tổ chức trong các khu vực chức năng, các loại đường khu vực và nội bộ thường được tồ chức theo dạng này

Trang 15

Hình 8.1- Sơ đồ mạng lưới ô cờ và ô cờ có đường chéo

Dạng mạng lưới hướng tâm và hướng tâm có đường bao

Dạng mạng lưới đường hướng tâm và hướng tâm có đường bao là những dạng mạng lưới đường phù hợp với các cấu trúc đô thị có trung tâm tập trung và các trục đường chính đô thị đảm nhận nhiệm vụ phân chia các khu vực chức năng đô thị

Hình - Sơ đồ mạng lưới hướng tâm và hướng tâm có đường bao ( vành đai )

Dạng mạng lưới tự do

Dạng mạng lưới tự do phù hợp với cấu trúc đô thị có trung tâm phân tán, tuy vậy vẫn phải đảm bảo các nhu cầu giao thông nhanh, giao thông tiếp cận vào các khu vực

Dạng mạng lưới hỗn hợp

Các đô thị lớn, cực lớn, các đô thị là trung tâm của một vùng rộng lớn thường có cấu trúc đô thị đa trung tâm, và vì vậy mà mạng lưới đường cũng phải có cấu trúc theo dạng hỗn hợp

Trang 16

Cấu trúc giao thông và phân bố các chức năng đô thị

Khái niệm cấu trúc ĐT:

ĐT được xem như là một hệ thống Mỗi hệ thống luôn gắn liền với hình thức tổ chức nhất định của các khu chức năng Cấu trúc ĐT chính là bộ khung góp phần quan trọng trong việc hình thành và phát triển ĐT Thành phần cấu tạo nên cấu trúc ĐT bao gồm:

- Hệ thống GT ĐT

- Hệ thống các khu chức năng trong ĐT (các đơn vị chức năng ĐT được bố trí thành hệ thống)

Phân bố các khu chức năng trong cấu trúc ĐT hiện đại:

Mỗi một đô thị phải có một cấu trúc đô thị nhằm định hướng phát triển đô thị theo một nguyên tắc đảm bảo sự cân đối hài hoà các thành phần của đô thị

Cấu trúc đô thị có vai trò quyết định các giải pháp quy hoạch các thành phần đất đai đô thị và hướng đến sự phát triển lâu dài và bền vững cho đô thị Trong đó vai

trò của hệ thống giao thông được xác định là Bộ khung của đô thị: dựa trên bộ khung

này, các khu vực chức năng đô thị được bố trí gắn kết với nhau

Hệ thống giao thông vừa giữ vai trò liên kết giữa các khu vực chức năng, vừa giữ vài trò giới hạn các khu vực chức năng

Khả năng định hướng và lựa chọn vị trí các khu vực chức năng: trung tâm, các công trình dịch vụ, các khu công nghiệp sản xuất đều được nghiên cứu trên sự thuận lợi của hệ thống giao thông

Giải pháp thiết kế các khu vực chức năng đều chịu ảnh hưởng của hệ thống giao thông:

- Khu ở: mô hình ở, loại hình nhà, các công trình dịch vụ công cộng….đều phụ thuộc vào mạng lưới đường đô thị

- Khu vực trung tâm: bố cục tầng cao, không gian quảng trường, bãi đậu xe, tiếp cận… đều được nghiên cứu dựa trên giải pháp giao thông đô thị

- Khu công nghiệp – sản xuất: các cụm nhà máy, vị trí kho, sân bãi, khu xử lý chất thải… đều chịu tác động của hệ thống giao thông vận tải đô thị

Trang 17

Về hệ thống giao thông đường bộ ĐT:

Hệ thống GT có nhiều tầng bậc khác nhau và mỗi vị trí đều có những nguyên tắc bố trí riêng của nó Đặc đểm của cấu trúc ĐT sẽ thay đổi từ trung tâm ĐT ra ngoài ĐT

Hình - Hệ thống giao thông đường bộ đô thị

Trong đó, hệ thống GT đường bộ trong cấu trúc ĐT bao gồm:

- Hệ thống GT đối ngoại: trong mô hình cấu trúc là những tuyến đường hình tia nối các vùng lân cận, gồm:

+Đường cao tốc

+Đường quốc lộ: đóng vai trò nối các vùng lại với nhau quốc lộ được hình thành từ các vành đai cùng cấp, do vậy những điểm giao nhau thường là những nút GT khác cốt Khi ĐT lớn ra, hình thành các đường vành đai càng lớn để đáp ứng nhu cầu

GT trong ĐT, nhưng chỉ phình ra ở mức độ nhất định tuỳ theo quy định ranh giới thành phố

- Hệ thống GT đối nội: đây là mạng lưới đường trong nội bộ ĐT

+Đường trục chính ĐT

+Đường trục chính của khu vực

+Đường nội bộ khu vực

HT CẢNG BIỂN -CẢNG CÔNG NGHIỆP -CẢNG DU LỊCH

SÂN BAY

DI DỜI KHỎI TT ĐT

ĐƯỜNG KHU VỰC ĐƯỜNG NỘI BỘ

BẾN XE

ĐƯỜNG ĐÔ THỊ ĐƯỜNG VÀNH ĐAI

ĐƯỜNG GT ĐỐI NGOẠI

Trang 18

Về hệ thống VTHKCCKLL ĐT

Hệ thống GT đường sắt đối ngoại: Hệ thống được bố trí thành mạng lưới đường sắt, thường bám theo trục quốc lộ Mạng lưới này không đi xuyên qua ĐT mà chỉ đừng lại ở

ga cụt Nếu xuyên qua trung tâm ĐT, mạng lưới phải nổi lên hoặc đi ngầm xuống lòng đất để tránh giao cắt với mạng lưới GT đường bộ

HT CẢNG BIỂN

SÂN BAY

DI DỜI KHỎI TT ĐT

GA TRUNG TÂM

ĐƯỜNG SẮT QUỐC GIA

ĐƯỜNG SẮT NGOẠI Ô

Hình -Hệ thống vận tải hành khách khối lượng lớn đô thị

Trang 19

- Hệ thống GT đường sắt ĐT

+ Hệ thống GT đường sắt ngoại ô: Mạng lưới đường sắt nhẹ thường nối các khu

ở ngoại thành lại với nhau, và nối trung tâm ĐT đến các khu chức năng bên ngoài Hệ thống này còn có thể chạy theo các đường vành đai để nối các làng đại học, khu CN …

+ Hệ thống GT đường sắt nội ô: Hệ thống GT đường sắt nội ô do nằm trong khu vực nội thành nên mạng lưới này có thể đi ngầm hoặc nổi, trong đó đường sắt đi qua trung tâm thường là đường sắt ngầm Đường sắt nổi bao quanh trung tâm chứ không đi xuyên

- Hệ thống GT thủy: thường dùng để vận chuyển hàng hóa và hành khách với số lượng lớn

Đầu mối GT của hệ thống GT thủy chính là vị trí cảng Cảng cần nằm gần đường vành đai, kho tàng, bến bãi … Hệ thống có thể liên kết với các loại hình GT khác để tiếp cận dễ dàng với các khu vực khác như: cảng – khu công nghiệp – đường vành đai, để thuận tiện cho việc lưu thông và vận chuyển hàng hóa đi khắp nơi

- GT hàng không: đây là hệ thống GT đối ngoại

Sân bay được bố trí nằm cạnh đường cao tốc, bên ngoài ĐT, có thể tổ chức thành ĐT vệ tinh Sân bay còn có thể nằm cạnh các tuyến GT khác (nhưng phải là GT chính trong ĐT)

NHÀ MÁY NƯỚC

HƯỚNG PHÁT TRIỂN

TRONG TƯƠNG LAI

TT TDTT NHÀ MÁY XỬ LÝ NƯỚC THẢI

Trang 20

Định hướng quy mô và lãnh thổ đô thị

Với những vai trò lớn về các mặt kinh tế xã hội như: vận chuyển và phân phối sản phẩm, phục vụ nhu cầu đi lại với mục đích sinh hoạt, lao động, học tập… Sự hình thành các điểm dân cư đô thị không thể không dựa trên các điều kiện thuận lợi phát triển giao thông

Việc mở rộng Quy mô lãnh thổ của các đô thị được xác định từ nhiều yếu tố, trong đó năng lực của hệ thống giao thông đô thị có vai trò rất lớn Một trong những chỉ tiêu của hệ thống giao thông là: năng lực và vận tốc vận chuyển của các hình thức giao thông

Thông thường tiêu chuẩn cơ bản để xác định thời gian di chuyển hợp lý từ trung tâm đô thị đến các khu vực là 30 phút Nếu tốc độ di chuyển trung bình là 20km/h thì bán kính đô thị hợp lý là 10km Nếu năng lực của hệ thống giao thông cao hơn thì có thể mở rộng bán kính đô thị Việc định hướng các điểm dân cư mới trong đô thị được tổ chức dựa trên tốc độ di chuyển của các tuyến giao thông

Đối với các đối thị đang phát triển, việc xác định phạm vi vùng di chuyển trong vòng

30 phút – 1h sẽ góp phần quyết định điều kiện phát triển các khu vực và giải pháp phát triển hệ thống giao thông

2 Xác định giải pháp SD đất và giải pháp thiết kế các khu chức năng ĐT

a Lựa chọn vị trí các khu vực chức năng đô thị

Phân bố các khu chức năng trong cấu trúc ĐT hịên đại luôn phải tính đến bố cục của toàn ĐT Ngày nay, ĐT phát triển luôn có sự đóng góp rất lớn của hệ thống GT ĐT GT

ĐT có ảnh hưởng nhất định đến cấu trúc ĐT và phân khu chức năng của ĐT

Cấu trúc đô thị hiện đại:

Một ĐT hợp lý khi các khu chức năng được bố trí một cách hợp lý

Sự chỉnh trang, cải tạo các hành lang GT một cách phù hợp với cấu trúc đô thị sẽ làm cho các khu chức năng của ĐT xích gần với nhau hơn

Ngày nay, sự phát triển của ĐT rất phức tạp là do ĐT đã phát triển 1 thời gian khá dài và đa chức năng (văn hóa, dịch vụ …) Sự phát triển của VTHKCCKLL vì thế đòi hỏi hiệu quả phục vụ cao hơn và việc định hướng phức tạp hơn

Phát triển hệ thống GT còn được xem như là khung xương chủ yếu để hình thành nên ĐT Mô hình cấu trúc ĐT hiện đại là mô hình ĐT có nhiều tầng lớp GT Hệ thống

GT này bao gồm: GT đường bộ, GT bánh sắt, hệ thống GT đi bộ, các bến xe … Trong đó, VTHKCCKLL là một giải pháp ưu tiên ở các quốc gia phát triển:

Đối với ĐT lớn hơn 1 triệu dân phải phát triển những tuyến GT vận chuyển lớn như

GT bánh sắt (trên cao, tàu điện trên cao, tàu điện trên mặt đất, metro) là rất cần thiết và quan trọng

Sự kết hợp giữa các loại phương tiện: tàu điện trên cao, tàu điện ngầm, xe buýt, taxi sẽ trở thành 1 mạng lưới GT tối ưu góp phần thúc đẩy sự phát triển của ĐT

Trang 21

trong đô thị

Chú ý tập trung phát triển theo hướng phát triển tương lai

Về cách bố trí nhà ga: ga cụt, ga xuyên, ga ngầm

Đường sắt quốc gia nối đường sắt CN và nối với khu CN

Chỗ đậu xe phải được quan tâm, và phát triển để có những giải pháp cân đối cho sự phát triển ĐT Có thể đưa ra những phát triển mới cho bãi đậu xe để tăng thêm diện tích đất cho đô thị

Phát triển bãi đâu xe ngầm

Phát triển chỗ đậu xe cao tầng

Khu trung tâm:

- Phần trung tâm nằm trong trung tâm

Đây là khu chức năng quan trọng của đô thị Thông thường, một đô thị có nhiều trung tâm hay trung tâm đa chức năng, bao gồm: Trung tâm hành chính, thương mại, dịch vụ …

Khu vực trung tâm đô thị là đầu mối của các hệ thống GT khác nhau (Metro, đường sắt ĐT … ) Ngoài ra, đô thị còn có đường sắt đối ngoại đi xuyên qua khu trung tâm nhưng không tiếp xúc với trung tâm đô thị hoặc chỉ tiếp xúc thông qua nhà ga trung tâm

Trung tâm đô thị còn là đầu mối cảnh quan của một ĐT

- Phần trung tâm nằm ngoài trung tâm (trung tâm thuộc cấp khu vực)

Càng ra ngoài, trung tâm càng được phân cấp nhỏ hơn: chỉ còn là trung tâm dịch vụ công cộng

Trung tâm cấp khu vực có sự hình thành tương đối đơn giản, ban đầu là khu vực thương mại, sau đó hình thành nên các chức năng khác

Trung tâm ngoài trung tâm: trung tâm dịch vụ ở giao lộ

Các trung tâm này thường là cây xăng, khu thương mại bán hàng theo giá sỉ (các siêu thị, dịch vụ bán hàng…) như: Cora, metro … Những hệ thống siêu thị này có đối tượng phục vụ là người mua hàng với số lượng nhiều

Các đường vành đai khi hình thành rõ nét thì việc phát triển hệ thống các trung tâm dịch vụ xung quanh ngày càng nhiều

Các KCN, kho tàng … hình thành khi hệ thống GT ngoại vi xuất hiện vì đây là điều kiện để vận chuyển hàng hóa thông suốt

Trang 22

Hình 8.8- Hệ thống giao thông và các khu vực chức năng trong đô thị

Khu ở:

Các khu ở trong đô thị được bố trí theo từng cấp khác nhau phụ thuộc vào giá trị đất đô thị Vì thế, việc bố trí khu dân cư nội thành và ngoại thành phải theo những hình thức khác nhau Cách bố trí các khu ở cũng thay đổi từ trung tâm ra ngoài trung tâm theo từng cấp khác nhau về không gian, quy mô, tỷ lệ sử dụng đất Các khu ở phục vụ dân cư nội thành là các quận, huyện trong thành phố …, gồm:

- Các khu ở trong trung tâm:

Hình thức ở tại đây thường là các khu ở cao tầng và chung cư cao tầng do giá trị của quỹ đất rất cao Trong đó, tỷ lệ các chung cư cao tầng chiếm phần lớn trong diện tích đất xây dựng

Trong khu trung tâm thông thường không xây dựng biệt thự (chỉ trừ một vài nơi có yếu tố cảnh quan)

Các cụm nhà ở cao tầng vẫn tổ chức theo mô hình ở nhưng cần hướng theo mạng lưới đường carô Thông thường, đây là mạng lưới đường hiện trạng đã có sẵn Nếu sử dụng mạng lưới GT bất kỳ trong khu vực sẽ gây cản trở GT rất lớn lãng phí qũy đất xây dựng ĐT

- Các khu ở trong đơn vị ở:

Công trình được bố trí theo xu hướng có chiều cao thấp dần

Hình thức bố trí nhà trong đơn vị ở đa dạng về loại hình, có tỷ lệ phụ thuộc vào vị trí bố trí công trình

Nhà vườn

KHU Ở CẤP KHU VỰC

TRUNG TÂM DỊCH VỤ CẤP ĐÔ THỊ KHU Ở

CẤP ĐÔ THỊ

KHU TRUNG TÂM DỊCH VỤ CẤP ĐT KHU TRUNG TÂM CẤP KHU VỰC KHU Ở VƯỜN

Trang 23

vành đai của khu dân cư mới

Các dạng nhà ở tại đây thường không tuân theo mô hình đơn vị ở đô thị, bao gồm nhà thấp tầng, mật độ thưa

Ơû giữa các cụm nhà vườn là dãy cây xanh, hình thức bố trí đơn giản, càng ra ngoài

ĐT mật độ nhà thưa và độ cao giảm dần

Tổ chức không gian cảnh quan

Không gian giao thông rất quan trọng đối với một đô thị, trong đó những công trình giao thông: sân bay, nhà ga, bến cảng… các tuyến đường, nút giao thông, quãng trường

… là các không gian cảnh quan ảnh hưởng đến cảnh quan chung của đô thị

Hầu hết các công trình kiến trúc đều cần được thiết kế với đường nét, hình dáng phù hợp với không gian của các trục đường, bên cạnh đó chiều rộng của mặt cắt đường lại cần phù hợp với cao độ của các công trình kiến trúc Các giải pháp thiết kế đô thị luôn được nghiên cứu với không gian giao thông trong đô thị

Các không gian quảng trường, dãy cây xanh, các công trình kiến trúc trang trí trên các tuyến giao thông đều có vai trò làm tăng vẻ mỹ quan cho đô thị

Trang 24

8.1.1.2 Nội dung và trình tự của công tác quy hoạch giao thông trong quy

hoạch xây dựng đô thị

a Định hướng quy hoạch vùng

Trong quy hoạch xây dựng đô thị, mạng lưới đường quốc gia trở thành đầu mối

GT đối ngoại bắt đầu xác định mạng lưới đường quốc gia: quốc lộ, tỉnh lộ … tạo thành ngọai lực tác động lên đô thị

Trong giai đọan này, mạng lưới đường chưa cần xác định tỉ lệ một cách chính xác nhưng cần xem xét đến đầu mối GT đối ngoại

b Quy hoạch tổng thể đô thị

Nghiên cứu địa hình và nhiệm vụ chức năng, kết hợp với quy họach kiến trúc sơ bộ Chọn mạng lưới đường chính cho đô thị kết nối các khu chức năng tạo thành bộ khung cấu trúc chính cho ĐT và xây dựng cho kế hoạch 20-50 năm

c Quy hoạch chung và quy hoạch chi tiết

Chọn và phân chia các tuyến đường chính, phụ trong toàn bộ thành phố và các khu chức năng đô thị, xây dựng kế hoạch 15 – 20 năm

Trong giai đoạn này mạng lưới đường phải cho thấy được vai trò, tính chất không gian cảnh quan hai bên trục giao thông

d Thiết kế xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị

Thiết kế chi tiết các tuyến đường toàn đô thị, các khu chức năng, các công trình phụ trợ Phạm vi thiết kế giao thông đô thị: từ mạng lưới đường cấp đô thị, tiến hành QH chi tiết đường Trong đó chú trọng đến mạng lưới đường cấp đô thị mạng lưới đường cấp khu vực, và mạng lưới đường nội bộ Xây dựng kế hoạch 5 – 10 năm

8.1.2.Các công trình cơ bản trong mạng lưới giao thông đô thị

8.1.2.1 Các công trình giao thông và đầu mối giao thông đối ngoại

a Sân bay

Vận tải bằng đường hàng không là phương tiện quan trọng vận chuyển hành khách và hàng hóa nhờ ưu thế về tốc độ cao và khá an tòan Mặc dù giá thành còn khá cao nhưng vận tải hàng không luôn có hiệu quả khi vận chuyển ở những cự ly xa Hầu hết vận tải hàng không dành cho nhu cầu giao thông đối ngoại Chỉ trong đô thị, vận tải hàng không chỉ phục vụ một số nhu cầu giao thông đặc biệt: như cứu thương, cứu nạn, một số nhu cầu đi lại nhỏ…

Công trình hàng không quan trọng nhất là sân bay Sân bay là công trình có quy mô rất lớn làm nhiệm vụ tập trung hành khách, hàng hoá, nơi cất cánh và hạ cánh máy bay, là công trình chuyển tiếp quan trọng giữa đường bộ, đường sắt và đường hàng không Một số vấn đề quan trọng của sân bay hàng không:

Lựa chọn vị trí sân bay:

Diện tích chiếm chỗ của các công trình sân bay rất lớn, bên cạnh đó sân bay có

Trang 25

Chính vì vậy diện tích khu vực cần thiết cho một sân bay rất lớn Diện tích của sân bay nên căn cứ vào quy mô, tính chất của các sân bay và sự phát triển sau này để xác định Không gian cần thiết của một khu vực sân bay bao gồm 2 vùng chính và 2 khu vực

- Vùng trời và vùng đất khu vực sân bay

- Vùng đất gồm 2 khu vực là:

Khu vực máy bay hoạt động: đường băng, khu vực sân đậu

Khu vực công tác mặt đất: nhà ga, bãi xe, bộ phận an ninh, kho bãi…

- Phía trước sân bay phải có hệ thống tiếp cận từ các tuyến đường cấp đô thị được nối từ trung tâm đô thị đến sân bay

- Bố trí sân bay chủ yếu theo sơ đồ:

Trang 26

Hình 8.10- Sơ đồ hoạt động của sân bay

Vị trí của sân bay cần đảm bảo máy bay có thể hạ, cất cánh một cách dễ dàng Tốt nhất khu đất sân bay cao bằng hoặc cao hơn nền đất xung quanh, không được xây dựng sân bay ở nơi đất thấp hoặc khu lòng chảo

Các công trình xung quanh sân bay cũng phải có độ cao hợp lý nhằm tránh ảnh hưởng đến hoạt động cất cánh và hạ cánh của máy bay

Do yêu cầu kỹ thuật máy bay lên xuống chuyển động ngược hướng gió ở khu vực sân bay nên đường băng của sân bay thường trùng với hướng gió chủ đạo, vì vậy để tránh đường lên xuống của máy bay cắt qua đô thị, vị trí sân bay và đường bay cần đặt

(III)

GIAO THÔNG CẤP ĐÔ THỊ

Hình 8.11- Sơ đồ vị trí và kết nối sân bay với đô thị

Vị trí số (I) và số (II) thuận lợi cho việc phát triển sân bay với khoảng cách gần đô th

Vị trí (III),(IV) không thuận lợi vì hướng cất cánh và hạ cánh bay ngang qua đô thị, trong

( I )

-

HƯỚNG G CHỦ ĐẠO GIAO THÔNG

Trang 27

b Đường sắt và ga đường sắt

Đường sắt là phương tiện vận tải quan trọng có năng lực vận tải rất lớn Ở các quốc gia phát triển, hệ thống đường sắt đảm nhiệm khối lượng vận tải hành khách và hàng hoá rất lớn, đáp ứng nhu cầu liên kết giữa các điểm dân cư với nhau, vượt xa đường bộ về việc đảm nhiệm nhu cầu vận tải hành khách Hầu hết các nước phát triển xem đường sắt là một tuyến giao thống quan trọng góp phần hình thành những khu vực dân

cư mới hay đô thị mới

Đường sắt ngoài đô thị được phân loại dựa trên năng lực vận tải

- Đường sắt quốc gia: là những tuyến đường sắt có ý nghĩa quan trọng cấp quốc gia, được tổ chức liên kết nhiều vùng, nhiều tỉnh thành, thậm chí nối với các nước khác Đường sắt quốc gia có năng lực vận chuyển rất lớn

- Đường sắt địa phương: Là những tuyến cấp địa phương, giữa nhiệm vụ liên lạc các khu vực trong địa phương Có năng lực vận chuyên tươn đối nhỏ

- Đường sắt chuyên dùng: là các tuyến đường sắt dành riêng cho các khu vực kha tàng, khu công nghiệp Có thể xếp đường sắt đô thị ( vận chuyển hành khách vào dạng này ) Thông thường loại đường sắt này có những đặc điểm kỹ thuật riêng

Hệ thống đường sắt đối ngoại gồm hai thành phần chính

- Ga đường sắt đối ngoại

Ga đường sắt là nơi dừng đỗ đậu tàu, là nơi tập kết hành khách hàng hoá, là nơi tập trung sửa chữa các đoàn tàu Về giao thông đối ngoại có thể phân chia nhà ga đường sắt làm nhiều loại, tuy nhiên có một số loại ga chính sau:

+ Ga hành khách: Ga hành khách là nơi phục vụ số lượng lớn hành khách của đô thị đi lại Tuỳ thuộc quy mô đô thị, ga hành khách có thể có quy mô rất lớn với rất nhiều đường tàu đậu Gồm 3 loại chính: ga xuyên, ga cụt và ga hỗn hợp

+ Ga hàng hoá: Là nơi chủ yếu để bốc dỡ và xếp hàng hoá

+ Ga kỹ thuật lập tàu: ga lập tàu thường được bố trí ở các đô thị lớn, khu công nghiệp, khu khai thác mỏ…

Ngoài ra tuỳ theo tính chất và quy mô ga còn có thể có ga cảng, ga khu đoạn hay ga trung gian…Thông thường việc bố trí nhà ga đường sắt luôn là sự phối hợp với nhau các loai ga có thể kết nối nhau thành một chuỗi

Trang 28

- Các tuyến đường sắt đối ngoại

Các tuyến đường sắt là các tuyến ray cố định để các đoàn tàu di chuyển trên đó Tuỳ theo điều kiện khoa học kỹ thuật công nghệ, đường sắt thường có các loại ray có kích thước khác nhau:

+ Ray tiêu chuẩn b = 1435 mm ở các nước Tây Aâu, Mỹ, Trung Quốc

+ Ray rộng b = 1524 mm ở Nga và các nước Đông Aâu

+ Ray hẹp b = 1000 mm, b = 762 mmm

Đường sắt nên tránh chia cắt đô thị hoặc xuyên qua khu nhà ở, bởi vì đường sắt chạy xuyên qua đô thị không những phá hoại sự yên tĩnh của đô thị, gây tiếng ồn và khói bụi cho nhân dân đô thị làm ảnh hưởng đến giao thông vận tải trong đô thị mà còn làm cho tốc độ của xe lửa bị giảm đi, ảnh hưởng đến năng lực vận chuyển Nhưng đối với các đô thi lớn và cực lớn, việc tuyến đường sắt chạy ngang qua đô thị cũng khó tránh Tuyến đường sắt tốt nhất không nên bao quanh đô thị để tránh ảnh hưởng đến sự phát triển của đô thị

Hình 8.14- Giải pháp Tổ chức đường sắt đối ngoại đi trong đô thị

Ga hành khách cần có sự liên hệ thuận tiện với khu nhà ở và trung tâm đô thị để cho nhân dân trong đô thị và hành khách đi lại được dễ dàng và nhanh chóng

Trong trường hợp các tuyến đường sắt đối ngoại đi vào trong đô thị, cần phải tổ chức cách ly với các khu vực xung quanh và khác mức với các loại hình giao thông khác

Trang 29

c Đường thuỷ và cảng đường thủy Vận tải đường thuỷ

Là phương thức vận tải xuất hiện lâu đời, khối lượng lớn và có chi phí rẻ nhất trong các phương thức giao thông Hạn chế của giao thông thuỷ là tốc độ chậm và phụ thuộc vào địa hình, thời tiết

Công trình giao thông thuỷ

Là những công trình phục vụ cho công tác vận tải đường thuỷ, là nơi tập kết - bốc dỡ hàng hoá, tập kết hành khách, là nơi neo đậu của các phương tiện đường thuỷ, công trình giao thông thuỷ còn là nơi cho tàu bè trú ẩn, cập bến tiếp nhiên liệu hoặc sữa chữa…

Công trình giao thông thủy có thể được chia làm các loại chính:

Tuyến giao thông: là mặt nước, bao gồm: biển, sông rạch, kênh đào… trên đó tổ chức các dòng vận chuyển của tàu bè Thông thường vận tải thuỷ sử dụng dòng nước tự nhiên, tuy nhiên một số khu vực lại dùng kênh đào để vận tải thuỷ

- Cảng: là công trình thuỷ có chức năng tổng hợp với nhiều chức năng: cảng hàng hoá, hành khách, năng lực của các cảng khá lớn, đặc biệt là các cảng biển thường có quy mô và năng lực vận chuyển rất lớn, đảm bảo cho những tàu lớn neo đậu

- Bến: là những nơi neo đậu tàu nhỏ, bến cũng có thể là những nơi tập kết hành khách và hàng hoá nhưng với quy mô nhỏ

- Công trình bảo vệ cảng: một số cảng cần có những công trình bảo vệ cảng nhằm đảm bảo an toàn và khả năng hoạt động cao của cảng

d Đường bộ và các đầu mối giao thông đường bộ Giao thông đối ngoại

Giao thông đối ngoại là hệ thống các công trình giao thông phục vụ các nhu cầu giao thông không tham gia vào các hoạt động trong đô thị Như vậy tuỳ theo quan đểm bố trí các công trình giao thông đối ngoại có thể nằm trong đô thị Tuy nhiên phải đảm bảo các tuyến giao thông đối ngoại không được ảnh hưởng đến các hoạt động trong đô thị

Quan điểm về vị trí giao thông đối ngoại đối với đô thị có thể có những giải pháp sau:

- Giao thông đối ngoại đi bên ngoài đô thị: Tổ chức các tuyến đi vòng bên ngoài các đô thị, từ đó nối các trục chính đô thị vào đô thị

- Giao thông đối ngoại đi xuyên qua thành phố: trong trường hợp bắt buộc có thể tổ chức các tuyến đối ngoại đi xuyên qua đô thị, nhưng phải tổ chức cách ly hợp lý và

Trang 30

ĐÔ THỊ

ĐÔ THỊ

ĐƯỜNG ĐỐI NGOẠI

ĐƯỜNG ĐỐI NGOẠI

ĐI NGẦM HOẶC ĐI TRÊN CAO

ĐÔ THỊ

ĐƯỜNG ĐỐI NGOẠI ĐƯỜNG ĐỐI NGOẠI

ĐI TRÊN MẶT ĐẤT DÙNG CẦU VƯỢT LIÊN KẾT HAI PHẦN ĐÔ THỊ ĐÔ THỊ

Hình 8.15- Quan điểm về gắn kết hệ thống giao thông đối nội vào đối ngoại

Đầu mối giao thông – đầu mối giao thông đối ngoại

Đầu mối giao thông là công trình giao thông chuyển tiếp giữa các hình thức giao thông, các phương thức giao thông… Xét trên nguyên lý, đầu mối giao thông là một dạng nút giao thông đặc biệt Việc chuyển đổi các phương tiện, tổ chức các đầu mối tốt sẽ góp phần làm cho hệ thống giao thông hoạt động nhanh chóng và hiệu quả Có hai loại đầu mối giao thông chủ yếu:

- Đầu mối giao thông công cộng: Chuyển tiếp giữa đi luồng đi bộ và các phương tiện, chuyển tiếp giữa các loại hình phương tiện công cộng với nhau

- Đầu mối giao thông đối ngoại: chuyển tiếp giữa giao thông đối nội và giao thông đối ngoại Đầu mối giao thông đối ngoại có thể chuyển tiếp giữa hai loại phương tiện hoặc chuyển tiếp trong cùng một loại hình giao thông Ví dụ: bến xe liên tỉnh: giữa đường bộ và đường bộ, sân bay: giữa đường hàng không, đường bộ, đường sắt

8.1.2.2 Một số công trình cơ bản trong mạng lưới đường đô thị

a Đường đô thị và phân cấp đường Đường đô thị

Đường đô thị là công trình quan trọng nhất của mạng lưới đường Các tuyến đường giao thông trong đôthị có thể nằm trên mặt đất, ngầm, hoặc trên cao Tuỳ theo nhu cầu về lưu lượng lưu thông và loại phương tiện giao thông mà chiều rộng và cấu tạo của các tuyến được được tính toán khác nhau

Thành phần chính của một tuyến đường giao thông bao gồm: phần đường dành cho các phương tiện đi lại, phần dành cho người đi bộ, cây xanh và các dãi cách ly

Trang 31

vĩa hè + đi bộ xe thô sơ cây xanh dừng xe xe điện xe buýt xe ô tô vĩa hè + đi bộ xe ô tô xe buýt xe điện dừng xe cây xanh xe thô sơ vĩa hè + đi bộ

Hình 8.16- Mặt cắt ngang một tuyến đường giao thông

Mối quan hệ giữa các trục đường của đô thị và các khu vực chức năng ven đường phải được quy hoạch và thiết kế tuỳ theo cấp độ và tính chất của các trục đường Việc tiếp cận vào các công trình kiến trúc cũng tuỳ thuộc vào chức năng của các tuyến đường Các công trình kiến trúc luôn có xu hướng hướng mặt về phía các tuyến đường Chính vì vậy mà các tuyến đường còn có ý nghĩa rất quan trọng về mặt kiến trúc cảnh quan trong đô thị

Cấp đường trong đô thị

Tuỳ theo cấp đô thị mà tiêu chuẩn phân cấp mạng lưới đường có thay đổi Trong đó, đối với các đô thị loại 1 trở lên thì mới có đường cao tốc Các đô thị loại 4 –5 có thể lấy các đường chính đô thị tương đương với đường khu vực và đường khu nhà của các khu dân cư có cùng dân số

Thực chất mạng lưới giao thông đường bộ là sự kết hợp giữa các mạng lưới có cấp khác nhau Các cấp này được chồng lên nhau theo thứ bậc trong phân cấp Mỗi một cấp đường sẽ đảm nhận một nhiệm vụ vận chuyển giao thông khác nhau Trong đó:

- Cấp đô thị: chịu trách nhiệm những chuyến lưu thông tốc độ nhanh, trực tiếp từ những khu vực trong đô thị đến trung tâm hoặc ra ngoài đô thị Chủ yếu các nhu cầu lưu thông cự ly xa

- Cấp khu vực: đáp ứng các nhu cầu giao thông trong nội bộ khu vực hoặc kết nối từ khu vực ra các trục đường cấp đô thị Chủ yếu là các nhu cầu di chuyển trung bình

- Cấp nội bộ: đảm nhận các nhu cầu di chuyển ngắn trong nội bộ các cụm dân cư hay các khu vực công trình Giao thông nội bộ chủ yếu đảm nhận vai trò tiếp cận vào các công trình hay cụm công trình

Trang 32

b Nút giao thông - Quảng trường

Nút giao thông

Nút giao thông là vị trí giao nhau giữa các tuyến đường Tuỳ theo chức năng và tính chất của các tuyến đường mà nút giao thông có thể được tổ chức đơn giản hay phức tạp Nút giao thông có thể được tổ chức giao cắt một cách bình thường hay tổ chức khác cốt phức tạp

Mức độ phức tạp của các nút giao thông tuỳ thuộc vào lưu lượng lưu thông và số lượng các dòng di chuyển tham gia vào nút giao thông

Cùng với các tuyến đường, nút giao thông là thành phần quan trọng quyết định khả năng di chuyển trong mạng lưới Cần phải có một sự đồng bộ thống nhất giữa các tuyến đường và nút giao thông Tuyến đường lưu thông càng có vận tốc cao thì nút giao thông càng cần phải thông suốt và các dòng giao thông không được chồng chéo lẫn nhau

Một số hình ảnh về các loại nút giao thông

Hình 8.18- Nút giao thông cùng mức ở Bắc

kinh

Hình 8.19- Nút giao thông Hàng Xanh TP.HCM

Trang 33

Hình 8.20- Nút giao thông khác mức đơn giản Hình 8.21- Nút giao thông khác mức phức

tạp

Quảng trường

Quảng trường là một trong những thành phần quan trọng của mạng lưới giao thông, trong đó đây cũng là một công trình giao thông có ý nghĩa về mặt kiến trúc cảnh quan Bên cạnh đó quãng trường là một vị trí trong đô thị có mật độ tập trung người và phương tiện rất đông Thực chất về theo quan điểm giao thông quãng trường là nơi giao nhau của các dòng người di chuyển, chính vì vậy, quãng trường có thể được phân loại như sau:

- Quảng trường đi bộ: là nơi tập trung các dòng đi bộ, có thể là các quảng trường trước các công trình kiến trúc quan trọng là nơi tập trung dòng người ra và vào các công trình kiến trúc, quảng trường giao nhau giữa các trục đi bộ trong khu vực trung tâm

- Quảng trường lưu thông: Quảng trường giao thông là nơi giao nhau giữa các dòng phương tiện – thực chất là các nút giao thông

La de France

Trang 34

c Bãi đậu xe

Bãi đậu xe là thành phần quan trọng trong mạng lưới giao thông Xét theo quan niệm về dòng di chuyển giao thông đô thị, bãi đậu xe trong đô thị chủ yếu được xem là nơi chuyển tiếp từ dòng di chuyển bằng các phương tiện cá nhân với dòng di chuyển đi bộ hay di chuyển bằng các phương tiện công cộng Như vậy bãi đậu xe thường phải bố trí ở các vị trí:

- Bãi đậu xe ở các công trình công cộng, các công trình tập trung đông người, các nhà ở cao tầng: Bãi đậu xe này phụ thuộc vào tổ chức các công trình kiến trúc và trong phạm

vi công trình kiến trúc Bãi đậu xe này là sự chuyển tiếp giữa bên trong và bên ngoài công trình vì vậy các bãi đậu xe này có vai trò tác động đến đến giao thông trong đô thị không nhiều, chủ yếu là sự tiếp cận từ ngoài vào công trình

- Bãi đậu xe ở cửa ngõ thành phố hay cửa ngõ của trung tâm đô thị: Đây là vị trí chuyển đổi phương thức di chuyển của dòng người rất quan trọng có vai trò tác động lớn đến giao thông đô thị Giảm số lượng phương tiện và dòng di chuyển vào đô thị hoặc vào trong trung tâm, … Các bãi đậu xe này thường rất có quy mô rất lớn

- Bãi đậu xe ở khu vực đầu mối giao thông công cộng: tại khu vực các đầu mối giao thông công cộng trong đô thị, các bãi đậu xe có vai trò định hướng phát triển các phương tiện công cộng

Thông thường một số bãi đậu xe ở khu vực đầu mối giao thông công cộng và cửa ngõ trung tâm hoặc đô thị thường kết hợp với nhau Các bãi đậu xe này thường rất lớn và có tác động đến giải pháp quy hoạch đô thị và quy hoạch giao thông

ngõ trung tâm

d Cầu đi bộ – hầm đi bộ

Cầu đi bộ, hầm đi bộ là nút giao thông quan trọng giữa dòng người đi bộ và dòng vận chuyển của các phương tiện Các cầu đi bộ có thể bắc qua kênh rạch, bắc qua các trục đường giao thông chính, …nhằm đảm bảo phân cách dòng đi bộ và các dòng phương tiện khác Hầm đi bộ nằm trên các trục giao thông chính

Cầu đi bộ có ý nghĩa cao về mặt kiến trúc cảnh quan, tạo sự lưu thông thuận tiện an toàn giữa hai bên đường giao thông Đặc biệt các cầu đi bộ còn có ý nghĩa rất cao trong

Trang 35

việc tăng khả năng tiếp cận vào các công trình trong trung tâm đô thị, đặc biệt là các công trình thương mại dịch vụ

hợp với hệ thống thương mại dịch vụ

8.1.2.3 Mạng lưới giao thông công cộng đô thị

Đặc điểm của hệ thống giao thông công cộng

- Giao thông công cộng là hình thức giao thông có năng lực và khả năng vận chuyển rất lớn, tiết kiệm được tổng mức đầu tư xã hội và có khả năng phục vụ phần lớn nhân dân đô thị với chi phí đi lại thấp Chính vì vậy mặc dù còn một số hạn chế nhưng giao thông công cộng đã chứng tỏ tính ưu việt của mình bằng khá nhiều ưu điểm:

- Khả năng vận chuyển rất cao, tốc độ lưu thông nhanh, số lượng phục vụ rất lớn, đáp ứng được nhu cầu của một bộ phận lớn hành khách trong đô thị

- Giảm số lượng các phương tiện lưu thông trên đường do vậy mà có khả năng làm giảm tình trạng kẹt xe và giảm diện tích đất hao tốn dành do các phương tiện lưu thông và diện tích đậu xe, tiết kiệm chi phí đầu tư xã hội dành cho giao thông đi lại

- Tăng khả năng di chuyển trong đô thị do cước phí rẻ thích hợp cho đa số người trong đô thị biểu hiện chất lượng phục vụ tốt cho đời sống đô thị Góp phần nâng cao ý thức và trình độ người dân

- Tham gia tích cực trong việc bảo vệ môi trường đô thị, nhất là các phương tiện sử dụng năng lượng điện ( xe điện, xe điện ngầm ) nên luôn được quan tâm phát triển tại các đô thị

Tuy nhiên hệ thống giao thông công cộng vẫn còn một số khó khăn nhất định tại một số đô thị, đáng kể nhất là giá trị đầu tư ban đầu rất lớn và những trở ngại từ các điều kiện hiện trạng đô thị cũng như các phương tiện giao thông cá nhân hiện hữu

Phân loại hệ thống giao thông công cộng

- Hình thức phục vụ theo dịch vụ yêu cầu ( Paratransit):Ví dụ như: taxi, mimibus, carpool,…đáp ứng nhu cầu của một nhóm nhỏ hành khách với những lộ trình riêng

Trang 36

điểm tương tự như các phương tiện xe ô tô cá nhân về chiếm diện tích không gian đường phố, dễ gây kẹt xe và có ảnh hưởng lớn đến môi trường đô thị

- Hình thức phục vụ đại chúng (Masstransit): Bao gồm các loại hình có năng lực vận chuyển lớn như: xe buýt, đường sắt nội đô, xe điện ngầm Các phương tiện này ngày càng được cải tiến phát triển với trình độ công nghệ kỹ thuật rất cao nên là những phương tiện vận chuyển được một lượng hành khách rất lớn, tốc độ nhanh và với chi phí thấp, có khả năng đáp ứng nhu cầu đi lại của rất nhiều nhân dân trong đô thị

Các loại hình phương tiện giao thông công cộng

- Taxi và minibus: là các loại phương tiện có cước phí cao nhất nhưng mang tính linh hoạt và hoạt động tương tự như các phương tiện cá nhân, do vậy cũng mang nhiều nhược điểm như các phương tiện cá nhân Ngoài ra có một số hình thức các phương tiện cá nhân được xem như là phương tiện cộng cộng Đó chính là các phương tiện cá nhân được sử dụng chung cho nhiều người Ví dụ một xe hơi riêng được dùng cho nhiều người cùng làm ở một công sở cho nhu cầu đi làm thường được gọi là carpool, hình thức này cũng được xem như phương tiện công cộng vì có thể làm giảm số lượng các phương tiện cá nhân do một phương tiện được sừ dụng chung cho người người

- Xe buýt (bus): là loại hình vận tải hành khách công cộng rẻ tiền và hiệu quả Đây là

loại phương tiện công cộng rất phổ biến ở các đô thị trên thế giới Hiện nay xe buýt phát triển với rất nhiều cải tiến về mặt kỹ thuật, khả năng chuyên chở và vận tốc Đặc biệt xe buýt cũng có thể được vận hành trên những tuyến riêng nên có vận tốc và khả năng vận chuyển cao Mặc dù đôi khi xe buýt cũng có nhiều nhược điểm như: gây ra nạn kẹt xe khi lưu thông trên đường phố có mật độ cao, có thể gây ra ô nhiễm môi trường Tuy vậy xe buýt vẫn đang được xem là phương tiện giao thông công cộng rất hữu hiệu và thuận tiện

- Xe điện: Trolleys là xe điện bánh hơi hay còn gọi là xe buýt điện, Trams (Streetcar) là xe điện bánh sắt Đây là loại hình giao thông công cộng sử dụng điện năng từ hệ thống dây dẫn nối phía trên và di chuyển trên bánh hơi hoặc hệ thống ray nằm phía dưới Đây là loại hình giao thông công cộng phát triển ở nửa đầu thế kỷ 20 và được thiết lập ở hầu hết các đô thị trên thế giới Tuy vậy đây là loại hình di chuyển với vận tốc chậm trên đường phố làm trở ngại cho các phương tiện khác và ảnh hưởng đến cảnh quan đô thị Từ những năm 1960 loại hình này đã bị xóa bỏ ở nhiều đô thị Hiện nay tại một số nước Châu Aâu vẫn còn sử dụng loại phương tiện này như ở Berlin ( Đức ), Amsterdam (Hà Lan)… tuy nhiên các loại phương tiện này đã được cải tiến hiện đại và có chất lượng phục vụ cao hơn

- Hệ thống đường sắt nhẹ ( Light Rail ): Đây là hệ thống đường sắt trên mặt đất có sự vận hành rất linh hoạt và hiệu quả Hệ thống có thể hoạt động hoàn tòan tự động theo những chương trình định sẳn Do tính chất hoạt động linh hoạt nên thường được gọi là đường săùt nhẹ, vừa chạy ngầm dưới đất, vừa chạy nổi trên cao, vừa chạy trên mặt đất một cách hiệu quả Đường sắt nhẹ có thể chuyên chở hành khách theo từng chặng với vận tốc từ 40 – 60km/h và có khả năng vận chuyển từ 20.000 – 25.000 hành

Trang 37

khách/1hướng/h Đường sắt nhẹ có thể được xây dựng và đạt hiệu quả cao cho các đô thị có từ 250.000 dân lên đến 1,2 triệu dân Đây là một loại hình giao thông công cộng hiện đại có những tác động rất tốt đối với giao thông đô thị nhờ hoạt động linh hoạt đơn giản và hiệu quả

- Hệ thống đường sắt ( Heavy Rail ): Đây là hệ thống vận chuyển hành khách với năng lực vận chuyển lớn nhất Với 8 – 10 toa xe có thể vận chuyển từ 1600 – 2000 hành khách chuyến, đường sắt nặng có năng lực vận chuyển tới 40.000 – 60.000 hành khách/h theo một hướng Về mặt cấu tạo đường sắt nặng được chia làm 2 loại:

- Hệ thống nổi trên mặt đất: kết nối giữa khu vực ngoại ô với trung tâm thành phố hay giữa các đô thị vệ tinh với trung tâm Các tuyến này có thể di chuyển với vận tốc thấp

40 – 60 km/h với khoảng cách từ 10 – 40 km Xa hơn nữa trên 40km, hệ thống này hoàn toàn có thể xem là đường sắt đối ngoại và có thể đạt vận tốc rất cao lên đến hơn

300 km/h như các loại hình TVG (Train Grande Vitesse) ở Pháp hay một số tuyến đường sắt dùng nguyên lý điện từ (Magnetive train) tại Nhật Bản (đạt tới 517km/h ), ở Đức (đạt tới 435 km/h)

- Hệ thống ngầm ( metro, subway ).Xe điện ngầm ( metro, subway, underground) là hệ thống đường ray nằm dưới lòng đất có năng lực vận chuyển hành khách rất lớn, không chiếm diện tích đất đô thị, không làm ô nhiễm môi trường, có khả năng vận chuyển với vận tốc rất cao ( lên tới 200 km/h) Mặc dù chi phí cao nhưng xe điện ngầm có thể xây dựng và đạt hiệu quả với các đô thị có từ 1 triệu dân trở lên

Trang 38

- Hệ thống thủy công cộng: Đối với một số thành phố có hệ thống sông ngòi phân bố mật độ cao thì các phương tiện thủy có tác dụng rất lớn đến vận tải hành khách công cộng Các loại phương tiện thủy có khả năng đáp ứng nhu cầu vận chuyển từ nhỏ đến lớn Các loại thủy taxi, thủy buýt, đò … có thể vận chuyển một lượng hành khách từ vài người đến vài chục người với tốc độ khá nhanh

Đây không phải là phương tiện vận tải hành khách công cộng chính trong đô thị Tuy nhiên các phương thủy có khả năng phục vụ tốt cho hoạt động du lịch, trong điều kiện các đô thị gắn liền với hệ thống sông ngòi thì các phương tiện thủy tốc độ cao còn có khả năng vận chuyển hành khách từ các khu vực địa phương ra hệ thống các phương tiện có vận tốc cao hơn hoặc vận chuyển hành khách theo những lộ trình đường thủy

8.2 QUY HOẠCH XÂY DỰNG HỆ THỐNG HẠ TẦNG KỸ THUẬT ĐÔ THỊ

8.2.1.Khái niệm về hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị

Hệ thống hạ tầng kỹ thuật của một đô thị là tập hợp những mạng lưới công trình kỹ thuật phục vụ trực tiếp nhu cầu phát triển kinh tế và đời sống đô thị Đây là một trong những chỉ tiêu quan trọng đánh giá chất lượng đô thị

Trong đô thị, hệ thống kỹ thuật hạ tầng đô thị đảm bảo cung cấp các nhu cầu đi lại của người dân, nhu cầu vận tải hàng hoá, cung cấp năng lượng cho đô thị, cung cấp các dịch vụ nước sạch và thoát nước bẩn… Vai trò của hệ thống hạ tầng kỹ thuật trong đô thị rất lớn, đây là yếu tố quan trọng duy trì sự tồn tại và đảm bảo sự phát triển đô thị Xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật đòi hỏi những chi phí rất lớn, do vậy luôn có mâu thuẫn rất lớn giữa việc phát triển đô thị nói chung và sự đáp ứng của hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị Hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị luôn được xem là một trong những vấn đề quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế của đô thị nói riêng và cả quốc gia nói chung

8.2.2.Thành phần của hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị

Bản chất của hệ thống hạ tầng kỹ thuật bao gồm hai thành phần chính:

8.2.2.1 Mạng lưới các công trình kỹ thuật ( Network)

Là tập hợp tất cả các công trình phục vụ cho việc cung cấp dịch vụ hạ tầng kỹ thuật: hệ thống cấp điện có đường dây, trạm biến áp, nhà máy thuỷ điện… Hệ thống cấp nước có đường ống, trạm bơm, hệ thống giao thông các tuyến đường, bến bãi, nhà ga … 8.2.2.2 Nhu cầu sử dụng hạ tầng (Demand)

Thành phần quan trọng nhất của các hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị không phải là các công trình kỹ thuật mà là nhu cầu sử dụng hạ tầng trong các công trình kỹ thuật mà đặc trưng là đối tượng của các hệ thống hạ tầng Các đối tượng hạ tầng luôn phản ánh nhu cầu sử dụng của đô thị đối với hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị Chính vì vậy, nhu

Trang 39

cầu sử dụng hạ tầng là yếu tố quan trọng nhất tác động đến việc thiết lập và quản lý hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị

8.2.3.Phân loại hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị

Hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị là những hệ thống đồng bộ và hoàn chỉnh được thiết lập phù hợp với quy hoạch phân bố cơ cấu đô thị Bao gồm:

8.2.3.1 Hệ thống Giao thông

Hệ thống giao thông là hệ thống quan trọng nhất trong các loại hạ tầng kỹ thuật đô thị, nó đáp ứng nhu cầu vận tải hành khách và hàng hoá từ nơi này đến nơi khác trong đô thị hoặc vận chuyển hành khách và hàng hoá từ đô thị đi các nơi khác

8.2.3.2 Hệ thống cấp nước

Là hệ thống các công trình, thiết bị và các giải pháp kỹ thuật nhằm thực hiện nhiệm vụ cấp nước sinh hoạt, công nghiệp và chuyên dùng, đảm bảo các điều kiện kinh tế kỹ thuật và vệ sinh môi trường

8.2.3.3 Hệ thống thoát nước

Là hệ thống các công trình, thiết bị và các giải pháp kỹ thuật nhằm thực hiện nhiệm vụ dẫn xả mọi loại nước thải và nước mặt vào nguồn, đảm bảo các điều kiện kinh tế kỹ thuật và vệ sinh môi trường

8.2.3.4 Hệ thống thu gom và xử lý chất thải môi trường

Gồm các công trình làm nhiệm vụ hạn chế ô nhiễm môi trường của các loại chất thải rắn, khí, tiếng ồn … do các nguyên nhân chính như:

- Giao thông vận tải

- Sinh hoạt đô thị

- Sản xuất công nghiệp

8.2.3.5 Hệ thống cung cấp năng lượng

Nguồn năng lượng trong đô thị tồn tại dưới dạng năng lượng thứ cấp (đã qua quá trình biến đổi) như nhiên liệu, khí đốt, than đá than gầy, điện năng Trong đó điện năng đóng vai trò quan trọng trong đô thị Hệ thống cung cấp điện cho đô thị bao gồm: các khâu phát điện, truyền tải, phân phối, cung cấp tới các hộ tiêu thụ và sử dụng điện 8.2.3.6 Hệ thống thông tin liên lạc

Là tập hợp các phương tiện kỹ thuật cần thiết để tạo “đường nối thông tin” giữa hai điểm nào đó với độ trung thực và tin cậy tối đa với giá thành phải chăng, được phân biệt dựa theo:

Trang 40

- Các chế độ thông tin

Những hệ thống này được thiết lập và tổ chức nhằm đảm bảo việc phục vụ đô thị, góp phần đảm bảo các hoạt động của đô thị Các hệ thống đảm bảo tính đồng bộ, đảm bảo sự vận hành và công tác quản lý hệ thống một cách hiệu quả

8.2.4.Công tác kỹ thuật hạ tầng đô thị

Công tác kỹ thuật hạ tầng là những công tác cần thực hiện trong quá trình tổ chức hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị, trong quá trình đầu tư xây dựng và phát triển đô thị: bao gồm từ công tác chọn đất xây dựng đô thị, các công tác tổ chức thiết lập và quản lý hệ thống kỹ thuật… Một số công tác kỹ thuật hạ tầng đô thị tiêu biểu:

- Công tác chọn và chuẩn bị đất xây dựng đô thị

- Công tác quy hoạch chiều cao

- Công tác quy hoạch, thiết kế, thi công các loại hệ thống hạ tầng kỹ thuật

- Công tác quản lý các hệ thống hạ tầng kỹ thuật

- Công tác đầu tư và khai thác các dịch vụ hạ tầng

8.2.5.Vai trò của hệ thống hạ tầng kỹ thuật đối với đô thị

8.2.5.1 Vai trò đối với kinh tế xã hội

a Về văn hoá - xã hội

Với vai trò to lớn trong việc đáp ứng nhu cầu hoạt động đô thị Ý nghĩa về mặt văn hoá xã hội của hạ tầng kỹ thuật đô thị rất lớn Hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị có ý nghĩa lớn trong việc:

- Phát triển mọi mặt của đời sống đô thị, tạo điều kiện cho các hoạt động đô thị vận hành một cách hiệu quả và ngày càng phát triển

- Có ý nghĩa rất lớn về mặt an ninh quốc phòng

- Nâng cao văn minh và tăng chất lượng sống đô thị Hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị là một trong những tiêu chuẩn đánh giá chất lượng đô thị

- Hạ tầng kỹ thuật đô thị phát triển kéo gần khoảng cách giữa thành thị và nông thôn

b Về phát triển kinh tế

Về mặt kinh tế, hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị được xem là một tài sản quốc gia và được tính trong tổng giá trị sản phẩm quốc gia

Bên cạnh đó hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị còn có những ý nghĩa lớn về mặt sản suất, vận chuyển hàng hoá và quan trọng hệ thống này còn được xem là một trong thành phần cấu thành nên giá thành sản phẩm

Có thể nói hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị có vai trò tác động rất lớn đến tăng trưởng kinh tế của một đô thị nói riêng và cả quốc gia nói chung

Ngày đăng: 01/04/2022, 20:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Trương Vĩnh Ký (1997), Ky ức lịch sử về Sài Gòn và các vùng phụ cận, Nguyễn Đình Đầu.dg, Nxb. Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ky ức lịch sử về Sài Gòn và các vùng phụ cận
Tác giả: Trương Vĩnh Ký
Nhà XB: Nxb. Trẻ
Năm: 1997
[2] Trương Quang Thao (2003), Đô thị học-Những khái niệm mở đầu, NXB Xây Dựng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đô thị học-Những khái niệm mở đầu
Tác giả: Trương Quang Thao
Nhà XB: NXB Xây Dựng
Năm: 2003
[3] Nguyễn Đăng Sơn (2005),Phương Pháp tiếp cận mới về quy hoạch và quản lý Đô thị, NXB Xây Dựng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương Pháp tiếp cận mới về quy hoạch và quản lý Đô thị
Tác giả: Nguyễn Đăng Sơn
Nhà XB: NXB Xây Dựng
Năm: 2005
[4] Đặng Thái Hoàng (2004), hợp tuyển Thiết kế đô thị, NXB Xây Dựng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: hợp tuyển Thiết kế đô thị
Tác giả: Đặng Thái Hoàng
Nhà XB: NXB Xây Dựng
Năm: 2004
[6] Phạm Thị Ngọc Anh (1994), Giáo trình Giao thông Đô thị. Cao học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Giao thông Đô thị
Tác giả: Phạm Thị Ngọc Anh
Nhà XB: Cao học
Năm: 1994
[8] Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư (1997), Qui hoạch các đô thị Việt Nam và những dự án phát triển đến sau 2000, NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Qui hoạch các đô thị Việt Nam và những dự án phát triển đến sau 2000
Tác giả: Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 1997
[9] Bộ Thương Mại (1996), Thông tư hướng dẫn về tổ chức và quản lý chợ, số 15 TM/CSTTTN ngày 16 tháng 10 năm 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư hướng dẫn về tổ chức và quản lý chợ
Tác giả: Bộ Thương Mại
Năm: 1996
[10] Bộ Xây Dựng (1994), Xã hội học trong qui hoạch xây dựng và quản lý Đô thị, NXB Xây dựng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học trong qui hoạch xây dựng và quản lý Đô thị
Tác giả: Bộ Xây Dựng
Nhà XB: NXB Xây dựng
Năm: 1994
[11] Bộ Xây Dựng (1997), Qui chuẩn xây dựng Việt Nam tập I, NXB Xây dựng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Qui chuẩn xây dựng Việt Nam tập I
Tác giả: Bộ Xây Dựng
Nhà XB: NXB Xây dựng
Năm: 1997
[13] Nguyễn Việt Châu (2000), Đổi mới tiêu chuẩn xây dựng phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Tạp chí kiến trúc Việt Nam, 00(3), tr.15-16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới tiêu chuẩn xây dựng phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Tác giả: Nguyễn Việt Châu
Năm: 2000
[15] Đặng Đình Đào – Nguyễn Thu Linh (2001), Giáo trình Kinh tế Thương mại, NXB Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế Thương mại
Tác giả: Đặng Đình Đào, Nguyễn Thu Linh
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2001
[16] Nguyễn Văn Đăng (2001), Chợ Đông Ba và tiến trình phát triển đô thị Huế thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, tạp chí kiến trúc Việt Nam, 01(2), tr.35- 38 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chợ Đông Ba và tiến trình phát triển đô thị Huế thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
Tác giả: Nguyễn Văn Đăng
Nhà XB: tạp chí kiến trúc Việt Nam
Năm: 2001
[17] Francois Tainturier, Nhật Khanh dịch (1999), Kiến trúc và quy hoạch đô thị Sài gòn thời Pháp thuộc, Tạp chí kiến trúc Việt Nam, 99(3), tr 41-43 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến trúc và quy hoạch đô thị Sài gòn thời Pháp thuộc
Tác giả: Francois Tainturier, Nhật Khanh
Nhà XB: Tạp chí kiến trúc Việt Nam
Năm: 1999
[18] Nguyễn Thanh Hà (1998), Giao thông tiếp cận trung tâm thương nghiệp dịch vụ, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ (Bộ Giáo Dục và Đào Tạo) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giao thông tiếp cận trung tâm thương nghiệp dịch vụ
Tác giả: Nguyễn Thanh Hà
Nhà XB: Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ (Bộ Giáo Dục và Đào Tạo)
Năm: 1998
[19] Lưu Đức Hải (2/1996), Những chính sách giao thông đô thị cần thiết nhằm hướng tới giao thông bền vững, Tạp chí kiến trúc Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những chính sách giao thông đô thị cần thiết nhằm hướng tới giao thông bền vững
[20] Lưu Trọng Hải (4(66)1997), Dự án qui hoạch khu thương mại Chợ Bến Thành, Tạp chí Kiến trúc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự án qui hoạch khu thương mại Chợ Bến Thành
Tác giả: Lưu Trọng Hải
Nhà XB: Tạp chí Kiến trúc
Năm: 1997
[21] Lưu Trọng Hải (2001), Những luận điểm về kiến trúc qui hoạch và tổ chức không gian đô thị xây dựng tp.Hồ chí Minh văn minh-hiện đại văn hóa tiên tiến và đậm đà bản sắc dân tộc, đề tài nghiên cứu khoa học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những luận điểm về kiến trúc qui hoạch và tổ chức không gian đô thị xây dựng tp.Hồ chí Minh văn minh-hiện đại văn hóa tiên tiến và đậm đà bản sắc dân tộc
Tác giả: Lưu Trọng Hải
Năm: 2001
[22] Trần Hùng (1997), Paris đôi bờ sông Seine, NXB Xây dựng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Paris đôi bờ sông Seine
Tác giả: Trần Hùng
Nhà XB: NXB Xây dựng
Năm: 1997
[23] Nguyễn Thừa Hy (1999)û, Đỗ Bang, Nguyễn Văn Đăng, Đô thị Việt Nam dưới thời Nguyễn, NXB Thuận Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đô thị Việt Nam dưới thời Nguyễn
Tác giả: Nguyễn Thừa Hy, Đỗ Bang, Nguyễn Văn Đăng
Nhà XB: NXB Thuận Hóa
Năm: 1999
[24] Nguyễn Mạnh Kiểm (1998), Điều chỉnh qui hoạch chung thành phố Hồ Chí Minh trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Tạp chí Xây dựng số Xuân Mậu dần, 98(1), tr 9-10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều chỉnh qui hoạch chung thành phố Hồ Chí Minh trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Tác giả: Nguyễn Mạnh Kiểm
Nhà XB: Tạp chí Xây dựng
Năm: 1998

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w