Giáo trình Lý thuyết quy hoạch kiến trúc: Phần 2 gồm có những nội dung chính sau: Chương 8 quy hoạch xây dựng hệ thống giao thông và hạ tầng kỹ thuật đô thị; chương 9 quy hoạch xây dựng khu trung tâm đô thị và hệ thống trung tâm dịch vụ công cộng đô thị; chương 10 quy hoạch khu công nghiệp và kho tàng đô thị; chương 11 quy hoạch xây dựng hệ thống cây xanh đô thị; chương 12 thiết kế quy hoạch chi tiết đô thị; chương 13 quy hoạch cải tạo đô thị; chương 14 trình tự hồ sơ quy hoạch xây dựng đô thị; chương 15 thiết kế đô thị.
Trang 1CHƯƠNG 8: QUY HOẠCH XÂY DỰNG HỆ THỐNG GIAO THÔNG VÀ HẠ TẦNG KỸ
THUẬT ĐÔ THỊ
8.1 THIẾT KẾ QUY HOẠCH HỆ THỐNG GIAO THÔNG ĐÔ THỊ
8.1.1.Khái niệm về giao thông đô thị – phân loại
8.1.1.1.Khái niệm
Hệ thống giao thông là hệ thống quan trọng nhất trong các loại hạ tầng kỹ thuật đô thị, nó đáp ứng nhu cầu vận tải hành khách và hàng hoá từ nơi này đến nơi khác trong đô thị hoặc vận chuyển hành khách và hàng hoá từ đô thị đi các nơi khác
Hệ thống giao thông có vai trò trong việc việc hành bộ khung chính cấu trúc đô thị và có vai trò định hướng cho các hệ thống hạ tầng kỹ thuật khác Trong cấu trúc đô thị, hệ thống giao thông giữa vai trò liên kết các khu vực chức năng và tạo thành một hành lang kỹ thuật mà trên đó bố trí hầu hết các công trình của hệ thống kỹ thuật hạ tầng khác
8.1.1.2.Giao thông đối nội – giao thông đối ngoại
a Giao thông đối ngoại
Giao thông đối ngoại bao gồm mối liên hệ giữa đô thị với bên ngoài như: với các đô thị khác, với các khu công nghiệp tập trung, khu nghỉ ngơi giải trí
Giao thông đối ngoại bao gồm: Giao thông đường thuỷ, giao thông đường sắt, giao thông đường bộ và giao thông đường hàng không
b Giao thông đối nội
Giao thông đối nội là giao thông bên trong đô thị, nó có mối quan hệ chặt chẽ với hệ thông giao thông đối ngoại qua các nhà ga, bến cảng, bến xe, các đầu mối giao thông ở các đường vào đô thị Theo điều kiện địa hình, kinh tế, cấu trúc đô thị mà từng loại hình giao thông đô thị có thể phát triển không đều nhau Trong đô thị cũng có đầy đủ các loại giao thông như là: Giao thông đường thuỷ, giao thông đường sắt:tàu điện ngầm, mặt đất, trên cao nhưng đa phần là phát triển mạnh về giao thông đường phố
8.1.1.2.Phân loại hệ thống giao thông
a Đường bộ
Là một loại hình thức giao thông phổ biến ở những thành phố lớn, nó được sử dụng rộng rãi, vận chuyển hành khách hàng hoá thuận tiện ở mọi lúc mọi nơi, với khối lượng tương đối lớn
b Đuờng sắt
Là hình thức giao thông có ưu điểm là vận chuyển với khối lượng lớn, an tòan, ít ô nhiễm môi trường, tuy nhiên nó không được bố trí rộng rãi, cơ sở đầu tư ban đầu tốn kém Hướng vận chuyển kém linh hoạt
Trang 2c Đường thủy
Hình thức giao thông rất quan trọng xuất hiện từ lâu đời, có ưu điểm là vận chuyển lượng hành khách và hàng hoá rất lớn, chi phí vận tải thấp, tuy nhiên tốc độ không cao và phù thuộc vào điều kiện tự nhiên của đô thị
d Đường hàng không
Hình thức hiện đại, là phương tiện vận chuyển hành khách và hàng hoá đi những khoảng cách xa và ra ngoài đô thị Có ưu điểm là vận chuyển hàng hóa nhanh, an tòan, nhưng khối lượng còn hạn chế, giá thành cao
8.1.1.3.Vai trò của hệ thống giao thông đối với sự phát triển đô thị
Vai trò trong sự hình thành và phát triển đô thị
Phát triển kinh tế và các ngành sản xuất trong đô thị
Phát triển về mặt xã hội và nâng cao chất lượng sống đô thị
Vai trò trong tổ chức không gian cảnh quan
8.1.2.Vai trò của giao thông đối với giải pháp quy hoạch đô thị
8.1.2.1.Cấu trúc mạng lưới giao thông và cấu trúc đô thị
a Cấu trúc mạng lưới giao thông đô thị
Trong cấu trúc đô thị, hệ thống giao thông giữ vai trò làm khung chính gắn kết các khu vực chức năng đảm bảo một cấu trúc đô thị chặt chẽ Hệ thống giao thông tạo mối quan hệ giữa các khu vực trong đô thị và mối liên hệ giữa đô thị với bên ngoài
Hệ thống giao thông trong cấu trúc đô thị có những đặc điểm sau:
Đây là mối quan hệ giữa các thành phần của đô thị thông qua việc giải quyết các nhu cầu sử dụng trong đô thị Đây cũng chính là yếu tố góp phần xác định quy mô hợp lý của các thành phần chức năng đô thị
Định hướng phát triển hệ thống giao thông cũng góp phần trong việc xác định chính xác cấu trúc đô thị Hệ thống giao thông là bộ khung căn bản để xác định vị trí của hệ thống hạ tầng kỹ thuật, vị trí các nguồn cung cấp hạ tầng: điện, nước, trạm xử lý chất thãi, bãi rác …
Dựa trên hệ thống giao thông đô thị, các hệ thống hạ tầng kỹ thuật khác như cấp điện, cấp thoát nước, … sẽ được triển khai tổ chức theo các định hướng phát triển của đô thị nhằm đảm bảo sự vận hành và phát triển của các khu vực chức năng trong cấu trúc đô thị
Trang 3b Các dạng mạng lưới giao thông đô thị trong cấu trúc đô thị
Dạng mạng lưới ô cờ – ô cờ có đường chéo
Dạng ô cờ và ô cờ có đường chéo thường có tính đơn giản sẽ thích hợp với các cấu trúc đô thị nhỏ hoặc các khu vực chức năng trong đô thị Lúc này tính định hướng giao thông không cao nhưng khả năng phân tán dòng người dễ dàng Khả năng di chuyển không nhanh nhưng ít có nguy cơ bị ách tắc giao thông Một số đô thị lớn ( đặc biệt ở Mỹ ) sử dụng dạng này với sự kết hợp các tuyến đường chéo có năng lực vận chuyển rất lớn
Dạng đường ô cờ và ô cờ có đương chéo thường được tổ chức trong các khu vực chức năng, các loại đường khu vực và nội bộ thường được tồ chức theo dạng này
Hình 8.1- Sơ đồ mạng lưới ô cờ và ô cờ có đường chéo
Dạng mạng lưới hướng tâm và hướng tâm có đường bao
Dạng mạng lưới đường hướng tâm và hướng tâm có đường bao là những dạng mạng lưới đường phù hợp với các cấu trúc đô thị có trung tâm tập trung và các trục đường chính đô thị đảm nhận nhiệm vụ phân chia các khu vực chức năng đô thị Các đô thị trung bình không lớn lắm có vai trò liên kết với các khu vực trong vùng thường có dạng mạng lưới đường dạng này
Hình 8.2- Sơ đồ mạng lưới hướng tâm và hướng tâm có đường bao ( vành đai )
Trang 4Dạng mạng lưới tự do
Dạng mạng lưới tự do phù hợp với cấu trúc đô thị có trung tâm phân tán, tuy vậy vẫn phải đảm bảo các nhu cầu giao thông nhanh, giao thông tiếp cận vào các khu vực
Dạng mạng lưới hỗn hợp
Các đô thị lớn, cực lớn, các đô thị là trung tâm của một vùng rộng lớn thường có cấu trúc đô thị đa trung tâm, và vì vậy mà mạng lưới đường cũng phải có cấu trúc theo dạng hỗn hợp Mạng lưới tổng hợp thường sẽ bao gồm tất cả các dạng mạng lưới khác nhau tạo thành một mạng lưới tổng hợp
Hình 8.3- Mạng lưới đường hướng tâm có vành đai, kết hợp với các mạng lưới ô cờ
trong các khu chức năng
c Cấu trúc giao thông và phân bố các chức năng đô thị
Khái niệm cấu trúc ĐT:
ĐT được xem như là một hệ thống Mỗi hệ thống luôn gắn liền với hình thức tổ chức nhất định của các khu chức năng Cấu trúc ĐT chính là bộ khung góp phần quan trọng trong việc hình thành và phát triển ĐT Thành phần cấu tạo nên cấu trúc ĐT bao gồm:
- Hệ thống GT ĐT
- Hệ thống các khu chức năng trong ĐT (các đơn vị chức năng ĐT được bố trí thành hệ thống)
Phân bố các khu chức năng trong cấu trúc ĐT hiện đại:
Mỗi một đô thị phải có một cấu trúc đô thị nhằm định hướng phát triển đô thị theo một nguyên tắc đảm bảo sự cân đối hài hoà các thành phần của đô thị Cấu trúc đô thị có vai trò quyết định các giải pháp quy hoạch các thành phần đất đai đô thị và hướng đến sự phát triển lâu dài và bền vững cho đô thị Trong đó vai trò của hệ thống giao
Trang 5thông được xác định là Bộ khung của đô thị: dựa trên bộ khung này, các khu vực chức
năng đô thị được bố trí gắn kết với nhau Hệ thống giao thông vừa giữ vai trò liên kết giữa các khu vực chức năng, vừa giữ vài trò giới hạn các khu vực chức năng
Khả năng định hướng và lựa chọn vị trí các khu vực chức năng: trung tâm, các công trình dịch vụ, các khu công nghiệp sản xuất đều được nghiên cứu trên sự thuận lợi của hệ thống giao thông
Giải pháp thiết kế các khu vực chức năng đều chịu ảnh hưởng của hệ thống giao thông:
- Khu ở: mô hình ở, loại hình nhà, các công trình dịch vụ công cộng….đều phụ thuộc vào mạng lưới đường đô thị
- Khu vực trung tâm: bố cục tầng cao, không gian quảng trường, bãi đậu xe, tiếp cận… đều được nghiên cứu dựa trên giải pháp giao thông đô thị
- Khu công nghiệp – sản xuất: các cụm nhà máy, vị trí kho, sân bãi, khu xử lý chất thải… đều chịu tác động của hệ thống giao thông vận tải đô thị
Về hệ thống giao thông đường bộ ĐT:
Hệ thống GT có nhiều tầng bậc khác nhau và mỗi vị trí đều có những nguyên tắc bố trí riêng của nó Đặc đểm của cấu trúc ĐT sẽ thay đổi từ trung tâm ĐT ra ngoài ĐT
ĐƯỜNG ĐÔ THỊ
ĐƯỜNG KHU VỰC ĐƯỜNG NỘI BỘ
ĐƯỜNG VÀNH ĐAI
-CẢNG CÔNG NGHIỆP -CẢNG DU LỊCH
Hình 8.4- Hệ thống giao thông đường bộ đô thị
Trang 6Trong đó, hệ thống GT đường bộ trong cấu trúc ĐT bao gồm:
- Hệ thống GT đối ngoại: trong mô hình cấu trúc là những tuyến đường hình tia nối các vùng lân cận, gồm:
+Đường cao tốc
+Đường quốc lộ: đóng vai trò nối các vùng lại với nhau quốc lộ được hình thành từ các vành đai cùng cấp, do vậy những điểm giao nhau thường là những nút GT khác cốt Khi ĐT lớn ra, hình thành các đường vành đai càng lớn để đáp ứng nhu cầu
GT trong ĐT, nhưng chỉ phình ra ở mức độ nhất định tuỳ theo quy định ranh giới thành phố
- Hệ thống GT đối nội: đây là mạng lưới đường trong nội bộ ĐT
+Đường trục chính ĐT
+Đường trục chính của khu vực
+Đường nội bộ khu vực
Về hệ thống VTHKCCKLL ĐT
Hệ thống GT đường sắt đối ngoại: Hệ thống được bố trí thành mạng lưới đường sắt, thường bám theo trục quốc lộ Mạng lưới này không đi xuyên qua ĐT mà chỉ đừng lại ở
ga cụt Nếu xuyên qua trung tâm ĐT, mạng lưới phải nổi lên hoặc đi ngầm xuống lòng đất để tránh giao cắt với mạng lưới GT đường bộ
ĐƯỜNG SẮT ĐÔ THỊ
ĐƯỜNG SẮT NGOẠI Ô
Hình 8.5-Hệ thống vận tải hành khách khối lượng lớn đô thị
Trang 7- Hệ thống GT đường sắt ĐT
+ Hệ thống GT đường sắt ngoại ô: Mạng lưới đường sắt nhẹ thường nối các khu
ở ngoại thành lại với nhau, và nối trung tâm ĐT đến các khu chức năng bên ngoài Hệ thống này còn có thể chạy theo các đường vành đai để nối các làng đại học, khu CN …
+ Hệ thống GT đường sắt nội ô: Hệ thống GT đường sắt nội ô do nằm trong khu vực nội thành nên mạng lưới này có thể đi ngầm hoặc nổi, trong đó đường sắt đi qua trung tâm thường là đường sắt ngầm Đường sắt nổi bao quanh trung tâm chứ không đi xuyên
- Hệ thống GT thủy: thường dùng để vận chuyển hàng hóa và hành khách với số lượng lớn
Đầu mối GT của hệ thống GT thủy chính là vị trí cảng Cảng cần nằm gần đường vành đai, kho tàng, bến bãi … Hệ thống có thể liên kết với các loại hình GT khác để tiếp cận dễ dàng với các khu vực khác như: cảng – khu công nghiệp – đường vành đai, để thuận tiện cho việc lưu thông và vận chuyển hàng hóa đi khắp nơi
- GT hàng không: đây là hệ thống GT đối ngoại
Sân bay được bố trí nằm cạnh đường cao tốc, bên ngoài ĐT, có thể tổ chức thành ĐT vệ tinh Sân bay còn có thể nằm cạnh các tuyến GT khác (nhưng phải là GT chính trong ĐT)
HƯỚNG PHÁT TRIỂN
TRONG TƯƠNG LAI
ĐÔ THỊ VỆ TINH
KHU CÔNG NGHIỆP TẬP TRUNG LÀNG ĐẠI HỌC
TT TDTT NHÀ MÁY NƯỚC
NHÀ MÁY XỬ LÝ NƯỚC THẢI NHÀ MÁY ĐIỆN
KHU CÔNG NGHIỆP
NGHĨA TRANG KHO TÀNG
Hình 8.6- Sơ đồ cấu trúc đô thị và trò hệ thống giao thông
Trang 8d Định hướng quy mô và lãnh thổ đô thị
Với những vai trò lớn về các mặt kinh tế xã hội như: vận chuyển và phân phối sản phẩm, phục vụ nhu cầu đi lại với mục đích sinh hoạt, lao động, học tập… Sự hình thành các điểm dân cư đô thị không thể không dựa trên các điều kiện thuận lợi phát triển giao thông Hay nói một cách khác, giao thông là yếu tố quan trọng góp phần quyết định sự hình thành các đô thị và sự phát triển hệ thống các điểm dân cư đô thị
Việc mở rộng Quy mô lãnh thổ của các đô thị được xác định từ nhiều yếu tố, trong đó năng lực của hệ thống giao thông đô thị có vai trò rất lớn Một trong những chỉ tiêu của hệ thống giao thông là: năng lực và vận tốc vận chuyển của các hình thức giao thông
Thông thường tiêu chuẩn cơ bản để xác định thời gian di chuyển hợp lý từ trung tâm đô thị đến các khu vực là 30 phút Nếu tốc độ di chuyển trung bình là 20km/h thì bán kính đô thị hợp lý là 10km Nếu năng lực của hệ thống giao thông cao hơn thì có thể mở rộng bán kính đô thị Tại các đô thị phát triển trên thế giới việc đầu tư hiện đại hoá các phương tiện giao thông (đặc biệt là giao thông công cộng ) đã làm cho phạm vi đô thị ngày càng mở rộng Việc định hướng các điểm dân cư mới trong đô thị được tổ chức dựa trên tốc độ di chuyển của các tuyến giao thông
Đối với các đối thị đang phát triển, việc xác định phạm vi vùng di chuyển trong vòng
30 phút – 1h sẽ góp phần quyết định điều kiện phát triển các khu vực và giải pháp phát triển hệ thống giao thông
Hình 8.7- Dự báo vùng đi lại trong thời gian 1h của TP.HCM nhằm định hướng phát
triển đô thị và giải pháp cải tạo giao thông 8.1.2.2.Xác định giải pháp sử dụng đất và giải pháp thiết kế các khu chức năng đô
thị
a Lựa chọn vị trí các khu vực chức năng đô thị
Phân bố các khu chức năng trong cấu trúc ĐT hịên đại luôn phải tính đến bố cục của toàn ĐT Ngày nay, ĐT phát triển luôn có sự đóng góp rất lớn của hệ thống GT ĐT GT
ĐT có ảnh hưởng nhất định đến cấu trúc ĐT và phân khu chức năng của ĐT
Trang 9Cấu trúc đô thị hiện đại:
Cấu trúc ĐT hiện đại được xây dựng trên các nguyên lý QH ĐT hiện đại, trong đó:Một ĐT hợp lý khi các khu chức năng được bố trí một cách hợp lý
Sự chỉnh trang, cải tạo các hành lang GT một cách phù hợp với cấu trúc đô thị sẽ làm cho các khu chức năng của ĐT xích gần với nhau hơn
Ngày nay, sự phát triển của ĐT rất phức tạp là do ĐT đã phát triển 1 thời gian khá dài và đa chức năng (văn hóa, dịch vụ …) Vì vậy, càng ngày các thành phần chức năng trong ĐT càng phát triển đa dạng hơn Sự phát triển của VTHKCCKLL vì thế đòi hỏi hiệu quả phục vụ cao hơn và việc định hướng phức tạp hơn
Phát triển hệ thống GT còn được xem như là khung xương chủ yếu để hình thành nên ĐT Mô hình cấu trúc ĐT hiện đại là mô hình ĐT có nhiều tầng lớp GT Hệ thống
GT này bao gồm: GT đường bộ, GT bánh sắt, hệ thống GT đi bộ, các bến xe … Trong đó, VTHKCCKLL là một giải pháp ưu tiên ở các quốc gia phát triển:
Đối với ĐT lớn hơn 1 triệu dân phải phát triển những tuyến GT vận chuyển lớn như
GT bánh sắt (trên cao, tàu điện trên cao, tàu điện trên mặt đất, metro) là rất cần thiết và quan trọng
Sự kết hợp giữa các loại phương tiện: tàu điện trên cao, tàu điện ngầm, xe buýt, taxi
… một cách hợp lý và đa dạng sẽ trở thành 1 mạng lưới GT tối ưu góp phần thúc đẩy sự phát triển của ĐT
Sự kết hợp giữa các tuyến đường cần linh hoạt, và đảm bảo sự lưu thông xuyên suốt trong đô thị
Chú ý tập trung phát triển theo hướng phát triển tương lai
Về cách bố trí nhà ga: ga cụt, ga xuyên, ga ngầm
Đường sắt quốc gia nối đường sắt CN và nối với khu CN
Chỗ đậu xe phải được quan tâm, và phát triển để có những giải pháp cân đối cho sự phát triển ĐT Có thể đưa ra những phát triển mới cho bãi đậu xe để tăng thêm diện tích đất cho đô thị
Phát triển bãi đâu xe ngầm
Phát triển chỗ đậu xe cao tầng
Khu trung tâm:
- Phần trung tâm nằm trong trung tâm
Đây là khu chức năng quan trọng của đô thị Thông thường, một đô thị có nhiều trung tâm hay trung tâm đa chức năng, bao gồm: Trung tâm hành chính, thương mại, dịch vụ …
Trang 10Khu vực trung tâm đô thị là đầu mối của các hệ thống GT khác nhau (Metro, đường sắt ĐT … ) Ngoài ra, đô thị còn có đường sắt đối ngoại đi xuyên qua khu trung tâm nhưng không tiếp xúc với trung tâm đô thị hoặc chỉ tiếp xúc thông qua nhà ga trung tâm.
Trung tâm đô thị còn là đầu mối cảnh quan của một ĐT
- Phần trung tâm nằm ngoài trung tâm (trung tâm thuộc cấp khu vực)
Càng ra ngoài, trung tâm càng được phân cấp nhỏ hơn: chỉ còn là trung tâm dịch vụ công cộng
Trung tâm cấp khu vực có sự hình thành tương đối đơn giản, ban đầu là khu vực thương mại, sau đó hình thành nên các chức năng khác
Trung tâm ngoài trung tâm: trung tâm dịch vụ ở giao lộ
Các trung tâm này thường là cây xăng, khu thương mại bán hàng theo giá sỉ (các siêu thị, dịch vụ bán hàng…) như: Cora, metro … Những hệ thống siêu thị này có đối tượng phục vụ là người mua hàng với số lượng nhiều
Các đường vành đai khi hình thành rõ nét thì việc phát triển hệ thống các trung tâm dịch vụ xung quanh ngày càng nhiều
Các KCN, kho tàng … hình thành khi hệ thống GT ngoại vi xuất hiện vì đây là điều kiện để vận chuyển hàng hóa thông suốt
KHU TRUNG TÂM CẤP KHU VỰC KHU Ở VƯỜN
TRUNG TÂM DỊCH VỤ CẤP ĐÔ THỊ
KHU TRUNG TÂM DỊCH VỤ CẤP ĐT
KHU Ở CẤP ĐÔ THỊ
KHU Ở CẤP KHU VỰC
Hình 8.8- Hệ thống giao thông và các khu vực chức năng trong đô thị
Trang 11Ngoài ra còn phát triển khu trung tâm ở khu dân cư mới Những khu trung tâm này có hướng phát triển bám theo những trục đường cao tốc và có mật độ xây dựng tương đối thấp Tất cả tạo thành cung thương mại, bãi xe và các nhu cầu dịch vụ…
Khu ở:
Các khu ở trong đô thị được bố trí theo từng cấp khác nhau phụ thuộc vào giá trị đất đô thị Vì thế, việc bố trí khu dân cư nội thành và ngoại thành phải theo những hình thức khác nhau Cách bố trí các khu ở cũng thay đổi từ trung tâm ra ngoài trung tâm theo từng cấp khác nhau về không gian, quy mô, tỷ lệ sử dụng đất Các khu ở phục vụ dân cư nội thành là các quận, huyện trong thành phố …, gồm:
- Các khu ở trong trung tâm:
Hình thức ở tại đây thường là các khu ở cao tầng và chung cư cao tầng do giá trị của quỹ đất rất cao Trong đó, tỷ lệ các chung cư cao tầng chiếm phần lớn trong diện tích đất xây dựng
Trong khu trung tâm thông thường không xây dựng biệt thự (chỉ trừ một vài nơi có yếu tố cảnh quan)
Các cụm nhà ở cao tầng vẫn tổ chức theo mô hình ở nhưng cần hướng theo mạng lưới đường carô Thông thường, đây là mạng lưới đường hiện trạng đã có sẵn Nếu sử dụng mạng lưới GT bất kỳ trong khu vực sẽ gây cản trở GT rất lớn lãng phí qũy đất xây dựng ĐT
- Các khu ở trong đơn vị ở:
Công trình được bố trí theo xu hướng có chiều cao thấp dần
Hình thức bố trí nhà trong đơn vị ở đa dạng về loại hình, có tỷ lệ phụ thuộc vào vị trí bố trí công trình
Ơû giữa các cụm nhà vườn là dãy cây xanh, hình thức bố trí đơn giản, càng ra ngoài
ĐT mật độ nhà thưa và độ cao giảm dần
b Tổ chức không gian cảnh quan
Không gian giao thông rất quan trọng đối với một đô thị, trong đó những công trình giao thông: sân bay, nhà ga, bến cảng… các tuyến đường, nút giao thông, quãng trường
… là các không gian cảnh quan ảnh hưởng đến cảnh quan chung của đô thị
Hầu hết các công trình kiến trúc đều cần được thiết kế với đường nét, hình dáng phù hợp với không gian của các trục đường, bên cạnh đó chiều rộng của mặt cắt đường lại
Trang 12cần phù hợp với cao độ của các công trình kiến trúc Các giải pháp thiết kế đô thị luôn được nghiên cứu với không gian giao thông trong đô thị
Các không gian quảng trường, dãy cây xanh, các công trình kiến trúc trang trí trên các tuyến giao thông đều có vai trò làm tăng vẻ mỹ quan cho đô thị
Hình 8.9- Hệ thống giao thông, quảng trường luôn có vai trò quan trọng trong thiết
kế đô thị và các giải pháp tổ chức không gian cảnh quan 8.1.2.3.Nội dung và trình tự của công tác quy hoạch giao thông trong quy hoạch
xây dựng đô thị
a Định hướng quy hoạch vùng
Trong quy hoạch xây dựng đô thị, mạng lưới đường quốc gia trở thành đầu mối GT đối ngoại bắt đầu xác định mạng lưới đường quốc gia: quốc lộ, tỉnh lộ … tạo thành ngọai lực tác động lên đô thị
Trong giai đọan này, mạng lưới đường chưa cần xác định tỉ lệ một cách chính xác nhưng cần xem xét đến đầu mối GT đối ngoại
b Quy hoạch tổng thể đô thị
Nghiên cứu địa hình và nhiệm vụ chức năng, kết hợp với quy họach kiến trúc sơ bộ.Chọn mạng lưới đường chính cho đô thị kết nối các khu chức năng tạo thành bộ khung cấu trúc chính cho ĐT và xây dựng cho kế hoạch 20-50 năm
c Quy hoạch chung và quy hoạch chi tiết
Chọn và phân chia các tuyến đường chính, phụ trong toàn bộ thành phố và các khu chức năng đô thị, xây dựng kế hoạch 15 – 20 năm
Trong giai đoạn này mạng lưới đường phải cho thấy được vai trò, tính chất không gian cảnh quan hai bên trục giao thông
Trang 13d Thiết kế xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị
Thiết kế chi tiết các tuyến đường toàn đô thị, các khu chức năng, các công trình phụ trợ Phạm vi thiết kế giao thông đô thị: từ mạng lưới đường cấp đô thị, tiến hành QH chi tiết đường Trong đó chú trọng đến mạng lưới đường cấp đô thị mạng lưới đường cấp khu vực, và mạng lưới đường nội bộ Xây dựng kế hoạch 5 – 10 năm
8.1.3.Các công trình cơ bản trong mạng lưới giao thông đô thị
8.1.3.1.Các công trình giao thông và đầu mối giao thông đối ngoại
a Sân bay
Vận tải bằng đường hàng không là phương tiện quan trọng vận chuyển hành khách và hàng hóa nhờ ưu thế về tốc độ cao và khá an tòan Mặc dù giá thành còn khá cao nhưng vận tải hàng không luôn có hiệu quả khi vận chuyển ở những cự ly xa Hầu hết vận tải hàng không dành cho nhu cầu giao thông đối ngoại Chỉ trong đô thị, vận tải hàng không chỉ phục vụ một số nhu cầu giao thông đặc biệt: như cứu thương, cứu nạn, một số nhu cầu đi lại nhỏ…
Công trình hàng không quan trọng nhất là sân bay Sân bay là công trình có quy mô rất lớn làm nhiệm vụ tập trung hành khách, hàng hoá, nơi cất cánh và hạ cánh máy bay, là công trình chuyển tiếp quan trọng giữa đường bộ, đường sắt và đường hàng không Một số vấn đề quan trọng của sân bay hàng không:
Lựa chọn vị trí sân bay:
Diện tích chiếm chỗ của các công trình sân bay rất lớn, bên cạnh đó sân bay có các yêu cầu đặc biệt về đường băng, an toàn… nên vành đai bảo vệ sân bay rất lớn Chính vì vậy diện tích khu vực cần thiết cho một sân bay rất lớn Diện tích của sân bay nên căn cứ vào quy mô, tính chất của các sân bay và sự phát triển sau này để xác định
Không gian cần thiết của một khu vực sân bay bao gồm 2 vùng chính và 2 khu vực
- Vùng trời và vùng đất khu vực sân bay
- Vùng đất gồm 2 khu vực là:
Khu vực máy bay hoạt động: đường băng, khu vực sân đậu
Khu vực công tác mặt đất: nhà ga, bãi xe, bộ phận an ninh, kho bãi…
- Phía trước sân bay phải có hệ thống tiếp cận từ các tuyến đường cấp đô thị được nối từ trung tâm đô thị đến sân bay
- Bố trí sân bay chủ yếu theo sơ đồ:
Trang 14KHU VỰC MẶT ĐẤT
VÙNG TRỜI SÂN BAY
ĐƯỜNG BĂNG
ĐƯỜNG LĂN
SÂN ĐỖ MÁY BAY NHÀ GA HÀNG KHÔNG
SÂN ĐỖ Ô TÔ
ĐƯỜNG GIAO THÔNG ĐÔ THỊ
Hình 8.10- Sơ đồ hoạt động của sân bay
10km
30km 50km
15km
HƯỚNG GIÓ CHỦ ĐẠO (II)
(III)
( I )
(IV)
TRUNG TÂM ĐÔ THỊ
GIAO THÔNG CẤP ĐÔ THỊ
GIAO THÔNG CẤP ĐÔ THỊ
Vị trí của sân bay cần đảm bảo máy bay có thể hạ, cất cánh một cách dễ dàng Tốt nhất khu đất sân bay cao bằng hoặc cao hơn nền đất xung quanh, không được xây dựng sân bay ở nơi đất thấp hoặc khu lòng chảo
Hình 8.11- Sơ đồ vị trí và kết nối sân bay với đô thị
- Vị trí số (I) và số (II) thuận lợi cho việc phát triển sân bay với khoảng cách gần đô th
- Vị trí (III),(IV) không thuận lợi vì hướng cất cánh và hạ cánh bay ngang qua đô thị, trong
Trang 15Các công trình xung quanh sân bay cũng phải có độ cao hợp lý nhằm tránh ảnh hưởng đến hoạt động cất cánh và hạ cánh của máy bay
Do yêu cầu kỹ thuật máy bay lên xuống chuyển động ngược hướng gió ở khu vực sân bay nên đường băng của sân bay thường trùng với hướng gió chủ đạo, vì vậy để tránh đường lên xuống của máy bay cắt qua đô thị, vị trí sân bay và đường bay cần đặt
ở phạm vi ngoài đô thị và song song với hướng gió chủ đạo của đô thị
Quan hệ giữa sân bay và đô thị:
Trong các đô thị, tuỳ theo quy mô mà số lượng sân bay và tính chất các sân bay sẽ thay đổi nhằm đáp ứng các nhu cầu vận tải trong đô thị Hầu hết các sân bay chỉ đảm nhiệm vai trò vận tải đối ngoại Một số sân bay kỹ thuật hoặc phục vụ cho đô thị, tuy nhiên tính chất phục vụ trong đô thị chưa phổ biến ở các các đô thị ít phát triển
Do tính chất vận tải khối lượng lớn hành khách và hàng hoá, nên nhu cầu di chuyển từ các nơi trong đô thị đến các sân bay rất quan trọng và phải được tổ chức nhanh chóng Do đặc điểm yêu cầu về đất đai rất cao nên hầu hết các sân bay đều có cự ly khá xa trung tâm thành phố Phổ biến là bán kính 10 –50 km Chính vì vậy các tuyến đường nối đến sân bay hầu hết phải là các tuyến đường lưu thông trực tiếp có tốc độ cao Ở các đô thị lớn các tuyến này do các trục cao tốc đảm nhiệm nhằm đảm bảo thời gian trung bình từ trung tâm đến sân bay không quá 30 phút Ngoài ra các tuyến giao thông công cộng cũng là những tuyến đường vận tải hành khách quan trọng đến sân bay Vị trí ga hàng không nên cố gắng kết hợp với các loại phương tiện giao thông đối ngoại khác (đường bộ, đường sắt, đường thuỷ)
b Đường sắt và ga đường sắt
Đường sắt là phương tiện vận tải quan trọng có năng lực vận tải rất lớn Ở các quốc gia phát triển, hệ thống đường sắt đảm nhiệm khối lượng vận tải hành khách và hàng hoá rất lớn, đáp ứng nhu cầu liên kết giữa các điểm dân cư với nhau, vượt xa đường bộ về việc đảm nhiệm nhu cầu vận tải hành khách Hầu hết các nước phát triển xem đường sắt là một tuyến giao thống quan trọng góp phần hình thành những khu vực dân
cư mới hay đô thị mới
Đường sắt ngoài đô thị được phân loại dựa trên năng lực vận tải
- Đường sắt quốc gia: là những tuyến đường sắt có ý nghĩa quan trọng cấp quốc gia, được tổ chức liên kết nhiều vùng, nhiều tỉnh thành, thậm chí nối với các nước khác Đường sắt quốc gia có năng lực vận chuyển rất lớn
- Đường sắt địa phương: Là những tuyến cấp địa phương, giữa nhiệm vụ liên lạc các khu vực trong địa phương Có năng lực vận chuyên tươn đối nhỏ
- Đường sắt chuyên dùng: là các tuyến đường sắt dành riêng cho các khu vực kha tàng, khu công nghiệp Có thể xếp đường sắt đô thị ( vận chuyển hành khách vào dạng này ) Thông thường loại đường sắt này có những đặc điểm kỹ thuật riêng
Trang 16Hệ thống đường sắt đối ngoại gồm hai thành phần chính
- Ga đường sắt đối ngoại
Ga đường sắt là nơi dừng đỗ đậu tàu, là nơi tập kết hành khách hàng hoá, là nơi tập trung sửa chữa các đoàn tàu Về giao thông đối ngoại có thể phân chia nhà ga đường sắt làm nhiều loại, tuy nhiên có một số loại ga chính sau:
+ Ga hành khách: Ga hành khách là nơi phục vụ số lượng lớn hành khách của đô thị đi lại Tuỳ thuộc quy mô đô thị, ga hành khách có thể có quy mô rất lớn với rất nhiều đường tàu đậu Gồm 3 loại chính: ga xuyên, ga cụt và ga hỗn hợp
+ Ga hàng hoá: Là nơi chủ yếu để bốc dỡ và xếp hàng hoá Đối với các đô thị lớn ga hàng hoá bố trí được bố trí riêng biệt Ga hàng hoá có hai bộ phận chính là bãi hàng và sân ga Bãi hàng dùng để chứa hàng, và xếp dỡ hàng hoá
+ Ga kỹ thuật lập tàu: ga lập tàu thường được bố trí ở các đô thị lớn, khu công nghiệp, khu khai thác mỏ…Khu vực ga lập tàu là khu vực khác phức tạp Đây là nơi lắp ráp các toa tàu, đầu máy Khi tổ chức tránh chồng lấn cản trở lẫn nhau
Ngoài ra tuỳ theo tính chất và quy mô ga còn có thể có ga cảng, ga khu đoạn hay ga trung gian…Thông thường việc bố trí nhà ga đường sắt luôn là sự phối hợp với nhau các loai ga có thể kết nối nhau thành một chuỗi Đối với các đô thị lớn số lượng nhà ga rất nhiều tuỳ theo quy mô vận chuyển của đô thị
Hình 8.12- Ga cảng ở Nago Hình 8.13- Ga hành khách trung tâm
Waterloo
- Các tuyến đường sắt đối ngoại
Các tuyến đường sắt là các tuyến ray cố định để các đoàn tàu di chuyển trên đó Tuỳ theo điều kiện khoa học kỹ thuật công nghệ, đường sắt thường có các loại ray có kích thước khác nhau:
+ Ray tiêu chuẩn b = 1435 mm ở các nước Tây Aâu, Mỹ, Trung Quốc
+ Ray rộng b = 1524 mm ở Nga và các nước Đông Aâu
+ Ray hẹp b = 1000 mm, b = 762 mmm
Trang 17Đường sắt nên tránh chia cắt đô thị hoặc xuyên qua khu nhà ở, bởi vì đường sắt chạy xuyên qua đô thị không những phá hoại sự yên tĩnh của đô thị, gây tiếng ồn và khói bụi cho nhân dân đô thị làm ảnh hưởng đến giao thông vận tải trong đô thị mà còn làm cho tốc độ của xe lửa bị giảm đi, ảnh hưởng đến năng lực vận chuyển Nhưng đối với các đô thi lớn và cực lớn, việc tuyến đường sắt chạy ngang qua đô thị cũng khó tránh Tuyến đường sắt tốt nhất không nên bao quanh đô thị để tránh ảnh hưởng đến sự phát triển của đô thị
Hình 8.14- Giải pháp Tổ chức đường sắt đối ngoại đi trong đô thị
Ga hành khách cần có sự liên hệ thuận tiện với khu nhà ở và trung tâm đô thị để cho nhân dân trong đô thị và hành khách đi lại được dễ dàng và nhanh chóng Nhưng các loại ga khác như: lập tàu – kỹ thuật – hàng hoá… nên cách xa khu nhà ở, bởi vì nghiệp vụ của các loại kể trên không có quan hệ gì lớn đến đời sống hàng ngày của nhân dân mà chỉ làm ảnh hưởng đến sự yên tĩnh của khu nhà ở
Trong trường hợp các tuyến đường sắt đối ngoại đi vào trong đô thị, cần phải tổ chức cách ly với các khu vực xung quanh và khác mức với các loại hình giao thông khác
Trang 18c Đường thuỷ và cảng đường thủy
Vận tải đường thuỷ
Là phương thức vận tải xuất hiện lâu đời, khối lượng lớn và có chi phí rẻ nhất trong các phương thức giao thông Hạn chế của giao thông thuỷ là tốc độ chậm và phụ thuộc vào địa hình, thời tiết
Công trình giao thông thuỷ
Là những công trình phục vụ cho công tác vận tải đường thuỷ, là nơi tập kết - bốc dỡ hàng hoá, tập kết hành khách, là nơi neo đậu của các phương tiện đường thuỷ, công trình giao thông thuỷ còn là nơi cho tàu bè trú ẩn, cập bến tiếp nhiên liệu hoặc sữa chữa…
Công trình giao thông thủy có thể được chia làm các loại chính:
Tuyến giao thông: là mặt nước, bao gồm: biển, sông rạch, kênh đào… trên đó tổ chức các dòng vận chuyển của tàu bè Thông thường vận tải thuỷ sử dụng dòng nước tự nhiên, tuy nhiên một số khu vực lại dùng kênh đào để vận tải thuỷ
- Cảng: là công trình thuỷ có chức năng tổng hợp với nhiều chức năng: cảng hàng hoá, hành khách, năng lực của các cảng khá lớn, đặc biệt là các cảng biển thường có quy mô và năng lực vận chuyển rất lớn, đảm bảo cho những tàu lớn neo đậu
- Bến: là những nơi neo đậu tàu nhỏ, bến cũng có thể là những nơi tập kết hành khách và hàng hoá nhưng với quy mô nhỏ
- Công trình bảo vệ cảng: một số cảng cần có những công trình bảo vệ cảng nhằm đảm bảo an toàn và khả năng hoạt động cao của cảng
d Đường bộ và các đầu mối giao thông đường bộ
Giao thông đối ngoại
Giao thông đối ngoại là hệ thống các công trình giao thông phục vụ các nhu cầu giao thông không tham gia vào các hoạt động trong đô thị Như vậy tuỳ theo quan đểm bố trí các công trình giao thông đối ngoại có thể nằm trong đô thị Tuy nhiên phải đảm bảo các tuyến giao thông đối ngoại không được ảnh hưởng đến các hoạt động trong đô thị
Quan điểm về vị trí giao thông đối ngoại đối với đô thị có thể có những giải pháp sau:
- Giao thông đối ngoại đi bên ngoài đô thị: Tổ chức các tuyến đi vòng bên ngoài các đô thị, từ đó nối các trục chính đô thị vào đô thị
- Giao thông đối ngoại đi xuyên qua thành phố: trong trường hợp bắt buộc có thể tổ chức các tuyến đối ngoại đi xuyên qua đô thị, nhưng phải tổ chức cách ly hợp lý và không ảnh hưởng đến hoạt động hai bên đường
Trang 19ĐÔ THỊ ĐƯỜNG ĐỐI NGOẠI
ĐƯỜNG ĐỐI NGOẠI
ĐI NGẦM HOẶC ĐI TRÊN CAO
ĐI TRÊN MẶT ĐẤT DÙNG CẦU VƯỢT LIÊN KẾT HAI PHẦN ĐÔ THỊ
ĐÔ THỊ
ĐƯỜNG ĐỐI NGOẠI
Hình 8.15- Quan điểm về gắn kết hệ thống giao thông đối nội vào đối ngoại
Đầu mối giao thông – đầu mối giao thông đối ngoại
Đầu mối giao thông là công trình giao thông chuyển tiếp giữa các hình thức giao thông, các phương thức giao thông… Xét trên nguyên lý, đầu mối giao thông là một dạng nút giao thông đặc biệt Việc chuyển đổi các phương tiện, tổ chức các đầu mối tốt sẽ góp phần làm cho hệ thống giao thông hoạt động nhanh chóng và hiệu quả Có hai loại đầu mối giao thông chủ yếu:
- Đầu mối giao thông công cộng: Chuyển tiếp giữa đi luồng đi bộ và các phương tiện, chuyển tiếp giữa các loại hình phương tiện công cộng với nhau
- Đầu mối giao thông đối ngoại: chuyển tiếp giữa giao thông đối nội và giao thông đối ngoại Đầu mối giao thông đối ngoại có thể chuyển tiếp giữa hai loại phương tiện hoặc chuyển tiếp trong cùng một loại hình giao thông Ví dụ: bến xe liên tỉnh: giữa đường bộ và đường bộ, sân bay: giữa đường hàng không, đường bộ, đường sắt
8.1.3.2.Một số công trình cơ bản trong mạng lưới đường đô thị
a Đường đô thị và phân cấp đường
Đường đô thị
Đường đô thị là công trình quan trọng nhất của mạng lưới đường Các tuyến đường giao thông trong đôthị có thể nằm trên mặt đất, ngầm, hoặc trên cao Tuỳ theo nhu cầu về lưu lượng lưu thông và loại phương tiện giao thông mà chiều rộng và cấu tạo của các tuyến được được tính toán khác nhau
Thành phần chính của một tuyến đường giao thông bao gồm: phần đường dành cho các phương tiện đi lại, phần dành cho người đi bộ, cây xanh và các dãi cách ly
Trang 20Hình 8.16- Mặt cắt ngang một tuyến đường giao thông
Mối quan hệ giữa các trục đường của đô thị và các khu vực chức năng ven đường phải được quy hoạch và thiết kế tuỳ theo cấp độ và tính chất của các trục đường Việc tiếp cận vào các công trình kiến trúc cũng tuỳ thuộc vào chức năng của các tuyến đường Các công trình kiến trúc luôn có xu hướng hướng mặt về phía các tuyến đường Chính vì vậy mà các tuyến đường còn có ý nghĩa rất quan trọng về mặt kiến trúc cảnh quan trong đô thị
Cấp đường trong đô thị
Tuỳ theo cấp đô thị mà tiêu chuẩn phân cấp mạng lưới đường có thay đổi Trong đó, đối với các đô thị loại 1 trở lên thì mới có đường cao tốc Các đô thị loại 4 –5 có thể lấy các đường chính đô thị tương đương với đường khu vực và đường khu nhà của các khu dân cư có cùng dân số
Thực chất mạng lưới giao thông đường bộ là sự kết hợp giữa các mạng lưới có cấp khác nhau Các cấp này được chồng lên nhau theo thứ bậc trong phân cấp Mỗi một cấp đường sẽ đảm nhận một nhiệm vụ vận chuyển giao thông khác nhau Trong đó:
- Cấp đô thị: chịu trách nhiệm những chuyến lưu thông tốc độ nhanh, trực tiếp từ những khu vực trong đô thị đến trung tâm hoặc ra ngoài đô thị Chủ yếu các nhu cầu lưu thông cự ly xa
- Cấp khu vực: đáp ứng các nhu cầu giao thông trong nội bộ khu vực hoặc kết nối từ khu vực ra các trục đường cấp đô thị Chủ yếu là các nhu cầu di chuyển trung bình
- Cấp nội bộ: đảm nhận các nhu cầu di chuyển ngắn trong nội bộ các cụm dân cư hay các khu vực công trình Giao thông nội bộ chủ yếu đảm nhận vai trò tiếp cận vào các công trình hay cụm công trình
B ( CHIỀU RỘNG ĐƯỜNG ) - LỘ GIỚI vĩa hè + đi bộ xe thô sơ cây xanh dừng xe xe điện xe buýt xe ô tô vĩa hè + đi bộ xe ô tô xe buýt xe điện dừng xe cây xanh xe thô sơ vĩa hè + đi bộ XÂY DỰNG
Trang 21b Nút giao thông - Quảng trường
Nút giao thông
Nút giao thông là vị trí giao nhau giữa các tuyến đường Tuỳ theo chức năng và tính chất của các tuyến đường mà nút giao thông có thể được tổ chức đơn giản hay phức tạp Nút giao thông có thể được tổ chức giao cắt một cách bình thường hay tổ chức khác cốt phức tạp
Mức độ phức tạp của các nút giao thông tuỳ thuộc vào lưu lượng lưu thông và số lượng các dòng di chuyển tham gia vào nút giao thông
Cùng với các tuyến đường, nút giao thông là thành phần quan trọng quyết định khả năng di chuyển trong mạng lưới Cần phải có một sự đồng bộ thống nhất giữa các tuyến đường và nút giao thông Tuyến đường lưu thông càng có vận tốc cao thì nút giao thông càng cần phải thông suốt và các dòng giao thông không được chồng chéo lẫn nhau Một số hình ảnh về các loại nút giao thông
Hình 8.18- Nút giao thông cùng mức ở Bắc
kinh
Hình 8.19- Nút giao thông Hàng Xanh TP.HCM
Trang 22Hình 8.20- Nút giao thông khác mức đơn giản Hình 8.21- Nút giao thông khác mức phức
tạp
Quảng trường
Quảng trường là một trong những thành phần quan trọng của mạng lưới giao thông, trong đó đây cũng là một công trình giao thông có ý nghĩa về mặt kiến trúc cảnh quan Bên cạnh đó quãng trường là một vị trí trong đô thị có mật độ tập trung người và phương tiện rất đông Thực chất về theo quan điểm giao thông quãng trường là nơi giao nhau của các dòng người di chuyển, chính vì vậy, quãng trường có thể được phân loại như sau:
- Quảng trường đi bộ: là nơi tập trung các dòng đi bộ, có thể là các quảng trường trước các công trình kiến trúc quan trọng là nơi tập trung dòng người ra và vào các công trình kiến trúc, quảng trường giao nhau giữa các trục đi bộ trong khu vực trung tâm
- Quảng trường lưu thông: Quảng trường giao thông là nơi giao nhau giữa các dòng phương tiện – thực chất là các nút giao thông
Hình 8.22- Quảng trường De les Drassanes Hình 8.23- Quảng trường trung tâm
La de France
Trang 23c Bãi đậu xe
Bãi đậu xe là thành phần quan trọng trong mạng lưới giao thông Xét theo quan niệm về dòng di chuyển giao thông đô thị, bãi đậu xe trong đô thị chủ yếu được xem là nơi chuyển tiếp từ dòng di chuyển bằng các phương tiện cá nhân với dòng di chuyển đi bộ hay di chuyển bằng các phương tiện công cộng Như vậy bãi đậu xe thường phải bố trí ở các vị trí:
- Bãi đậu xe ở các công trình công cộng, các công trình tập trung đông người, các nhà ở cao tầng: Bãi đậu xe này phụ thuộc vào tổ chức các công trình kiến trúc và trong phạm
vi công trình kiến trúc Bãi đậu xe này là sự chuyển tiếp giữa bên trong và bên ngoài công trình vì vậy các bãi đậu xe này có vai trò tác động đến đến giao thông trong đô thị không nhiều, chủ yếu là sự tiếp cận từ ngoài vào công trình
- Bãi đậu xe ở cửa ngõ thành phố hay cửa ngõ của trung tâm đô thị: Đây là vị trí chuyển đổi phương thức di chuyển của dòng người rất quan trọng có vai trò tác động lớn đến giao thông đô thị Giảm số lượng phương tiện và dòng di chuyển vào đô thị hoặc vào trong trung tâm, … Các bãi đậu xe này thường rất có quy mô rất lớn
- Bãi đậu xe ở khu vực đầu mối giao thông công cộng: tại khu vực các đầu mối giao thông công cộng trong đô thị, các bãi đậu xe có vai trò định hướng phát triển các phương tiện công cộng
Thông thường một số bãi đậu xe ở khu vực đầu mối giao thông công cộng và cửa ngõ trung tâm hoặc đô thị thường kết hợp với nhau Các bãi đậu xe này thường rất lớn và có tác động đến giải pháp quy hoạch đô thị và quy hoạch giao thông
Hình 8.24- Bãi đậu xe trong khu dân cư Hình 8.25- Bãi đậu xe đầu mối, cửa
ngõ trung tâm
d Cầu đi bộ – hầm đi bộ
Cầu đi bộ, hầm đi bộ là nút giao thông quan trọng giữa dòng người đi bộ và dòng vận chuyển của các phương tiện Các cầu đi bộ có thể bắc qua kênh rạch, bắc qua các trục đường giao thông chính, …nhằm đảm bảo phân cách dòng đi bộ và các dòng phương tiện khác Hầm đi bộ nằm trên các trục giao thông chính
Cầu đi bộ có ý nghĩa cao về mặt kiến trúc cảnh quan, tạo sự lưu thông thuận tiện an toàn giữa hai bên đường giao thông Đặc biệt các cầu đi bộ còn có ý nghĩa rất cao trong
Trang 24việc tăng khả năng tiếp cận vào các công trình trong trung tâm đô thị, đặc biệt là các công trình thương mại dịch vụ
Hình 8.26- Cầu đi bộ ở BangKok Hình 8.27- Hầm đi bộ ở Phần Lan, kết
hợp với hệ thống thương mại dịch vụ 8.1.3.3.Mạng lưới giao thông công cộng đô thị
Đặc điểm của hệ thống giao thông công cộng
- Giao thông công cộng là hình thức giao thông có năng lực và khả năng vận chuyển rất lớn, tiết kiệm được tổng mức đầu tư xã hội và có khả năng phục vụ phần lớn nhân dân đô thị với chi phí đi lại thấp Chính vì vậy mặc dù còn một số hạn chế nhưng giao thông công cộng đã chứng tỏ tính ưu việt của mình bằng khá nhiều ưu điểm:
- Khả năng vận chuyển rất cao, tốc độ lưu thông nhanh, số lượng phục vụ rất lớn, đáp ứng được nhu cầu của một bộ phận lớn hành khách trong đô thị
- Giảm số lượng các phương tiện lưu thông trên đường do vậy mà có khả năng làm giảm tình trạng kẹt xe và giảm diện tích đất hao tốn dành do các phương tiện lưu thông và diện tích đậu xe, tiết kiệm chi phí đầu tư xã hội dành cho giao thông đi lại
- Tăng khả năng di chuyển trong đô thị do cước phí rẻ thích hợp cho đa số người trong đô thị biểu hiện chất lượng phục vụ tốt cho đời sống đô thị Góp phần nâng cao ý thức và trình độ người dân
- Tham gia tích cực trong việc bảo vệ môi trường đô thị, nhất là các phương tiện sử dụng năng lượng điện ( xe điện, xe điện ngầm ) nên luôn được quan tâm phát triển tại các đô thị
Tuy nhiên hệ thống giao thông công cộng vẫn còn một số khó khăn nhất định tại một số đô thị, đáng kể nhất là giá trị đầu tư ban đầu rất lớn và những trở ngại từ các điều kiện hiện trạng đô thị cũng như các phương tiện giao thông cá nhân hiện hữu
Phân loại hệ thống giao thông công cộng
- Hình thức phục vụ theo dịch vụ yêu cầu ( Paratransit):Ví dụ như: taxi, mimibus, carpool,…đáp ứng nhu cầu của một nhóm nhỏ hành khách với những lộ trình riêng Paratransit là loại hình giao thông công cộng hoạt động khá linh hoạt Tuy nhiên khả năng vận chuyển thấp, nếu phát triển nhiều thì loại hình này cũng có những nhược
Trang 25điểm tương tự như các phương tiện xe ô tô cá nhân về chiếm diện tích không gian đường phố, dễ gây kẹt xe và có ảnh hưởng lớn đến môi trường đô thị
- Hình thức phục vụ đại chúng (Masstransit): Bao gồm các loại hình có năng lực vận chuyển lớn như: xe buýt, đường sắt nội đô, xe điện ngầm Các phương tiện này ngày càng được cải tiến phát triển với trình độ công nghệ kỹ thuật rất cao nên là những phương tiện vận chuyển được một lượng hành khách rất lớn, tốc độ nhanh và với chi phí thấp, có khả năng đáp ứng nhu cầu đi lại của rất nhiều nhân dân trong đô thị
Các loại hình phương tiện giao thông công cộng
- Taxi và minibus: là các loại phương tiện có cước phí cao nhất nhưng mang tính linh hoạt và hoạt động tương tự như các phương tiện cá nhân, do vậy cũng mang nhiều nhược điểm như các phương tiện cá nhân Ngoài ra có một số hình thức các phương tiện cá nhân được xem như là phương tiện cộng cộng Đó chính là các phương tiện cá nhân được sử dụng chung cho nhiều người Ví dụ một xe hơi riêng được dùng cho nhiều người cùng làm ở một công sở cho nhu cầu đi làm thường được gọi là carpool, hình thức này cũng được xem như phương tiện công cộng vì có thể làm giảm số lượng các phương tiện cá nhân do một phương tiện được sừ dụng chung cho người người
-Xe buýt (bus): là loại hình vận tải hành khách công cộng rẻ tiền và hiệu quả Đây là loại phương tiện công cộng rất phổ biến ở các đô thị trên thế giới Hiện nay xe buýt phát triển với rất nhiều cải tiến về mặt kỹ thuật, khả năng chuyên chở và vận tốc Đặc biệt xe buýt cũng có thể được vận hành trên những tuyến riêng nên có vận tốc và khả năng vận chuyển cao Mặc dù đôi khi xe buýt cũng có nhiều nhược điểm như: gây ra nạn kẹt xe khi lưu thông trên đường phố có mật độ cao, có thể gây ra ô nhiễm môi trường Tuy vậy xe buýt vẫn đang được xem là phương tiện giao thông công cộng rất hữu hiệu và thuận tiện
- Xe điện: Trolleys là xe điện bánh hơi hay còn gọi là xe buýt điện, Trams (Streetcar) là xe điện bánh sắt Đây là loại hình giao thông công cộng sử dụng điện năng từ hệ thống dây dẫn nối phía trên và di chuyển trên bánh hơi hoặc hệ thống ray nằm phía dưới Đây là loại hình giao thông công cộng phát triển ở nửa đầu thế kỷ 20 và được thiết lập ở hầu hết các đô thị trên thế giới Tuy vậy đây là loại hình di chuyển với vận tốc chậm trên đường phố làm trở ngại cho các phương tiện khác và ảnh hưởng đến cảnh quan đô thị Từ những năm 1960 loại hình này đã bị xóa bỏ ở nhiều đô thị Hiện nay tại một số nước Châu Aâu vẫn còn sử dụng loại phương tiện này như ở Berlin ( Đức ), Amsterdam (Hà Lan)… tuy nhiên các loại phương tiện này đã được cải tiến hiện đại và có chất lượng phục vụ cao hơn
- Hệ thống đường sắt nhẹ ( Light Rail ): Đây là hệ thống đường sắt trên mặt đất có sự vận hành rất linh hoạt và hiệu quả Hệ thống có thể hoạt động hoàn tòan tự động theo những chương trình định sẳn Do tính chất hoạt động linh hoạt nên thường được gọi là đường săùt nhẹ, vừa chạy ngầm dưới đất, vừa chạy nổi trên cao, vừa chạy trên mặt đất một cách hiệu quả Đường sắt nhẹ có thể chuyên chở hành khách theo từng chặng với vận tốc từ 40 – 60km/h và có khả năng vận chuyển từ 20.000 – 25.000 hành
Trang 26khách/1hướng/h Đường sắt nhẹ có thể được xây dựng và đạt hiệu quả cao cho các đô thị có từ 250.000 dân lên đến 1,2 triệu dân Đây là một loại hình giao thông công cộng hiện đại có những tác động rất tốt đối với giao thông đô thị nhờ hoạt động linh hoạt đơn giản và hiệu quả.
- Hệ thống đường sắt ( Heavy Rail ): Đây là hệ thống vận chuyển hành khách với năng lực vận chuyển lớn nhất Với 8 – 10 toa xe có thể vận chuyển từ 1600 – 2000 hành khách chuyến, đường sắt nặng có năng lực vận chuyển tới 40.000 – 60.000 hành khách/h theo một hướng Về mặt cấu tạo đường sắt nặng được chia làm 2 loại:
- Hệ thống nổi trên mặt đất: kết nối giữa khu vực ngoại ô với trung tâm thành phố hay giữa các đô thị vệ tinh với trung tâm Các tuyến này có thể di chuyển với vận tốc thấp
40 – 60 km/h với khoảng cách từ 10 – 40 km Xa hơn nữa trên 40km, hệ thống này hoàn toàn có thể xem là đường sắt đối ngoại và có thể đạt vận tốc rất cao lên đến hơn
300 km/h như các loại hình TVG (Train Grande Vitesse) ở Pháp hay một số tuyến đường sắt dùng nguyên lý điện từ (Magnetive train) tại Nhật Bản (đạt tới 517km/h ), ở Đức (đạt tới 435 km/h)
- Hệ thống ngầm ( metro, subway ).Xe điện ngầm ( metro, subway, underground) là hệ thống đường ray nằm dưới lòng đất có năng lực vận chuyển hành khách rất lớn, không chiếm diện tích đất đô thị, không làm ô nhiễm môi trường, có khả năng vận chuyển với vận tốc rất cao ( lên tới 200 km/h) Mặc dù chi phí cao nhưng xe điện ngầm có thể xây dựng và đạt hiệu quả với các đô thị có từ 1 triệu dân trở lên
Hình 8.28- Xe điện bánh sắt ở Milan – Italia Hình 8.29- Xe điện bánh sắt ở Rotterdam
Hình 8.30- Đường sắt trên cao ở Kuala Lumpur Hình 8.31- Đường sắt trên không ở Bangkok
Trang 27- Hệ thống thủy công cộng: Đối với một số thành phố có hệ thống sông ngòi phân bố mật độ cao thì các phương tiện thủy có tác dụng rất lớn đến vận tải hành khách công cộng Các loại phương tiện thủy có khả năng đáp ứng nhu cầu vận chuyển từ nhỏ đến lớn Các loại thủy taxi, thủy buýt, đò … có thể vận chuyển một lượng hành khách từ vài người đến vài chục người với tốc độ khá nhanh.
Đây không phải là phương tiện vận tải hành khách công cộng chính trong đô thị Tuy nhiên các phương thủy có khả năng phục vụ tốt cho hoạt động du lịch, trong điều kiện các đô thị gắn liền với hệ thống sông ngòi thì các phương tiện thủy tốc độ cao còn có khả năng vận chuyển hành khách từ các khu vực địa phương ra hệ thống các phương tiện có vận tốc cao hơn hoặc vận chuyển hành khách theo những lộ trình đường thủy
8.2.QUY HOẠCH XÂY DỰNG HỆ THỐNG HẠ TẦNG KỸ THUẬT ĐÔ THỊ
8.2.1.Khái niệm về hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị
Hệ thống hạ tầng kỹ thuật của một đô thị là tập hợp những mạng lưới công trình kỹ thuật phục vụ trực tiếp nhu cầu phát triển kinh tế và đời sống đô thị Đây là một trong những chỉ tiêu quan trọng đánh giá chất lượng đô thị
Trong đô thị, hệ thống kỹ thuật hạ tầng đô thị đảm bảo cung cấp các nhu cầu đi lại của người dân, nhu cầu vận tải hàng hoá, cung cấp năng lượng cho đô thị, cung cấp các dịch vụ nước sạch và thoát nước bẩn… Vai trò của hệ thống hạ tầng kỹ thuật trong đô thị rất lớn, đây là yếu tố quan trọng duy trì sự tồn tại và đảm bảo sự phát triển đô thị.Xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật đòi hỏi những chi phí rất lớn, do vậy luôn có mâu thuẫn rất lớn giữa việc phát triển đô thị nói chung và sự đáp ứng của hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị Hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị luôn được xem là một trong những vấn đề quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế của đô thị nói riêng và cả quốc gia nói chung
8.2.2.Thành phần của hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị
Bản chất của hệ thống hạ tầng kỹ thuật bao gồm hai thành phần chính:
8.2.2.1.Mạng lưới các công trình kỹ thuật ( Network)
Là tập hợp tất cả các công trình phục vụ cho việc cung cấp dịch vụ hạ tầng kỹ thuật: hệ thống cấp điện có đường dây, trạm biến áp, nhà máy thuỷ điện… Hệ thống cấp nước có đường ống, trạm bơm, hệ thống giao thông các tuyến đường, bến bãi, nhà ga …
8.2.2.2.Nhu cầu sử dụng hạ tầng (Demand)
Thành phần quan trọng nhất của các hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị không phải là các công trình kỹ thuật mà là nhu cầu sử dụng hạ tầng trong các công trình kỹ thuật mà đặc trưng là đối tượng của các hệ thống hạ tầng Các đối tượng hạ tầng luôn phản ánh nhu cầu sử dụng của đô thị đối với hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị Chính vì vậy, nhu
Trang 28cầu sử dụng hạ tầng là yếu tố quan trọng nhất tác động đến việc thiết lập và quản lý hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị
8.2.3.Phân loại hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị
Hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị là những hệ thống đồng bộ và hoàn chỉnh được thiết lập phù hợp với quy hoạch phân bố cơ cấu đô thị Bao gồm:
8.2.3.1.Hệ thống Giao thông
Hệ thống giao thông là hệ thống quan trọng nhất trong các loại hạ tầng kỹ thuật đô thị, nó đáp ứng nhu cầu vận tải hành khách và hàng hoá từ nơi này đến nơi khác trong đô thị hoặc vận chuyển hành khách và hàng hoá từ đô thị đi các nơi khác
8.2.3.2.Hệ thống cấp nước
Là hệ thống các công trình, thiết bị và các giải pháp kỹ thuật nhằm thực hiện nhiệm vụ cấp nước sinh hoạt, công nghiệp và chuyên dùng, đảm bảo các điều kiện kinh tế kỹ thuật và vệ sinh môi trường
8.2.3.3.Hệ thống thoát nước
Là hệ thống các công trình, thiết bị và các giải pháp kỹ thuật nhằm thực hiện nhiệm vụ dẫn xả mọi loại nước thải và nước mặt vào nguồn, đảm bảo các điều kiện kinh tế kỹ thuật và vệ sinh môi trường
8.2.3.4.Hệ thống thu gom và xử lý chất thải môi trường
Gồm các công trình làm nhiệm vụ hạn chế ô nhiễm môi trường của các loại chất thải rắn, khí, tiếng ồn … do các nguyên nhân chính như:
- Giao thông vận tải
- Sinh hoạt đô thị
- Sản xuất công nghiệp
8.2.3.5.Hệ thống cung cấp năng lượng
Nguồn năng lượng trong đô thị tồn tại dưới dạng năng lượng thứ cấp (đã qua quá trình biến đổi) như nhiên liệu, khí đốt, than đá than gầy, điện năng Trong đó điện năng đóng vai trò quan trọng trong đô thị Hệ thống cung cấp điện cho đô thị bao gồm: các khâu phát điện, truyền tải, phân phối, cung cấp tới các hộ tiêu thụ và sử dụng điện
8.2.3.6.Hệ thống thông tin liên lạc
Là tập hợp các phương tiện kỹ thuật cần thiết để tạo “đường nối thông tin” giữa hai điểm nào đó với độ trung thực và tin cậy tối đa với giá thành phải chăng, được phân biệt dựa theo:
- Loại tin tức truyền đi (phát thanh, truyền hình, điện thoại …)
- Số lượng thiết bị đầu cuối tham dự vào thông tin
Trang 29- Các chế độ thông tin
Những hệ thống này được thiết lập và tổ chức nhằm đảm bảo việc phục vụ đô thị, góp phần đảm bảo các hoạt động của đô thị Các hệ thống đảm bảo tính đồng bộ, đảm bảo sự vận hành và công tác quản lý hệ thống một cách hiệu quả
8.2.4.Công tác kỹ thuật hạ tầng đô thị
Công tác kỹ thuật hạ tầng là những công tác cần thực hiện trong quá trình tổ chức hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị, trong quá trình đầu tư xây dựng và phát triển đô thị: bao gồm từ công tác chọn đất xây dựng đô thị, các công tác tổ chức thiết lập và quản lý hệ thống kỹ thuật… Một số công tác kỹ thuật hạ tầng đô thị tiêu biểu:
- Công tác chọn và chuẩn bị đất xây dựng đô thị
- Công tác quy hoạch chiều cao
- Công tác quy hoạch, thiết kế, thi công các loại hệ thống hạ tầng kỹ thuật
- Công tác quản lý các hệ thống hạ tầng kỹ thuật
- Công tác đầu tư và khai thác các dịch vụ hạ tầng
8.2.5.Vai trò của hệ thống hạ tầng kỹ thuật đối với đô thị
8.2.5.1.Vai trò đối với kinh tế xã hội
a Về văn hoá - xã hội
Với vai trò to lớn trong việc đáp ứng nhu cầu hoạt động đô thị Ý nghĩa về mặt văn hoá xã hội của hạ tầng kỹ thuật đô thị rất lớn Hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị có ý nghĩa lớn trong việc:
- Phát triển mọi mặt của đời sống đô thị, tạo điều kiện cho các hoạt động đô thị vận hành một cách hiệu quả và ngày càng phát triển
- Có ý nghĩa rất lớn về mặt an ninh quốc phòng
- Nâng cao văn minh và tăng chất lượng sống đô thị Hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị là một trong những tiêu chuẩn đánh giá chất lượng đô thị
- Hạ tầng kỹ thuật đô thị phát triển kéo gần khoảng cách giữa thành thị và nông thôn
b Về phát triển kinh tế
Về mặt kinh tế, hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị được xem là một tài sản quốc gia và được tính trong tổng giá trị sản phẩm quốc gia
Bên cạnh đó hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị còn có những ý nghĩa lớn về mặt sản suất, vận chuyển hàng hoá và quan trọng hệ thống này còn được xem là một trong thành phần cấu thành nên giá thành sản phẩm
Có thể nói hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị có vai trò tác động rất lớn đến tăng trưởng kinh tế của một đô thị nói riêng và cả quốc gia nói chung
Trang 30Với ý nghĩa là một loại hình dịch vụ, phát triển hạ thống hạ tầng kỹ thuật là một trong những mũi nhọn kinh tế mà tất cả các đô thị đều tập trung đầu tư Lĩnh vực hạ tầng kỹ thuật tao ra rất nhiều công việc lao động, mang lại lợi nhuận cao cho nhà đầu tư.
8.2.5.2.Vai trò về quy hoạch, kiến trúc và cảnh quan đô thị
Quy hoạch hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị là một trong những công tác rất quan trọng của quy hoạch và quản lý đô thị Giữa hạ tầng kỹ thuật và đô thị luôn gắn kết bằng một mối quan hệ hữu cơ Hệ thống hạ tầng kỹ thuật là cơ sở hình thành đô thị nhưng cũng là hệ thống phục vụ cho sự tồn tại và phát triển đô thị
Việc xác lập vị trí đô thị cũng như việc quyết định các khu vực chức năng đô thị đều liên quan đến nguồn cung cấp nước, cung cấp năng lượng và quan trọng nhất là hệ thống giao thông liên lạc Ngược lại cơ cấu sử dụng đất đô thị, phân bố dân cư và các khu vực công trình sẽ quyết định sự hình thành và giải pháp tổ chức các hệ thống hạ tầng kỹ thuật
Bản thân công tác thiết kế hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị là một bộ phận của thiết kế đô thị Ngay từ giai đoạn quy hoạch chiều cao, không gian đô thị phải được nghiên cứu ngay lập tức Trong đó các ý đồ về các điểm cao, thấp, bố trí chức năng các khu vực… phải được phối hợp nghiên cứu giữa các chuyên gia quy hoạch và các nhà kỹ thuật đô thị Hệ thống giao thông, chiếu sáng đô thị… cũng góp phần vào việc nghiên cứu tổ chức các không gian đường phố, trục cảnh quan, khu vực quãng trường…
8.2.5.3.Vai trò trong công tác quản lý đô thị
Quản lý hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị cũng lại là một thành phần của công tác quản lý đô thị Sự tồn tại và phát triển của một đô thị không thể không có sự tham gia của nhiều đối tượng trong công tác quản lý đô thị
Các đối tượng tham gia quản lý đô thị có thể là chính quyền, các nhà khoa học, các chủ đầu tư và quan trọng nhất vẫn là người dân đô thị Chính quyền quản lý đô thị bằng cách đưa ra những chính sách phát triển đô thị phù hợp với các điều kiện kinh tế xã hội Các nhà khoa học quản lý đô thị bằng các giải pháp khoa học và tham gia cố vấn cho chính quyền, người dân tham gia quản lý đô thị ở nhiều cấp độ từ việc sử dụng hệ thống một cách hợp lý cho đến việc giám sát các đối tượng khác trong công tác quy hoạch xây dựng và quản lý đô thị
8.2.6.Khái quát về quy hoạch xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị
8.2.6.1.Hầu hết các công tác quy hoạch hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị đều có nội
dung chính bao gồm:
- Thu thập dữ liệu và đánh giá các điều kiện hiện trạng
Thu thập và đánh giá các điều hiện hiện trạng và các dữ liệu liên quan gồm:
+ Các điều kiện kinh tế xã hội
Trang 31+ Các điều kiện tự nhiên
+ Các điều kiện hiện trạng kỹ thuật hạ tầng và kiến trúc công trình
- Tính toán quy mô hệ thống
Dựa trên các số liệu tổng hợp đã được phân tích và đánh giá cụ thể, quy mô quy hoạch của hệ thống được xác định làm cơ sở cho việc hiết lập hệ thống Bên cạnh đó, toàn bộ các tính toán liên quan đến việc thiết kế quy hoạch cũng được xác định, đây là bước thực hiện rất quan trọng nhằm đảm bảo tính hợp lý, hiệu quả và tiết kiệm cho hệ thống
- Chọn dạng hệ thống và phương án tổ chức mạng lưới
Có nhiều nguyên tắc lựa chọn sơ đồ mạng lưới hạ tầng kỹ thuật Tuy nhiên tuỳ thuộc vào mỗi loại hệ thống hạ tầng cũng như tuỳ thuộc vào điều kiện hiện trạng cũng như điều kiện kỹ thuật công nghệ mà phương án cung cấp hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị được lựa chọn Có thể chọn đường sắt là phương tiện vận tải hành khách chủ yếu trong đô thị tuỳ thuộc vào tốc độ của hệ thống này hay có thể sử dụng mạng thoát nước mưa và sinh hoạt chung tuỳ thuộc vào điều kiện sử dụng nước của khu vực
- Quy hoạch mạng lưới và tổ chức các công trình kỹ thuật
Đây là phần quan trọng của công tác quy hoạch Toàn bộ mạng lưới được thể hiện trên những bản vẽ: các tuyến cung cấp của mạng lưới với đầy đủ các thông số kỹ thuộc từ kích thước, quy mô, độ dốc…, các công trình kỹ thuật như: nhà ga, nhà máy nước, khu vực thu gom và xử lý rác …Bên cạnh đó phần thuyết minh và tính toán cũng được thực hiện cụ thể
- Thiết kế các thành phần của hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị
Đây là giai đoạn cuối cùng của công tác quy hoạch Các thành phần được thiết kế cụ thể nhằm phục vụ công tác thi công hệ thống: bao gồm các bản vẽ, thuyết minh tính toán, dự toán khối lượng,… được thực hiện nhằm mục đích cho việc thi công toàn bộ mạng lưới
8.2.6.2.Quy hoạch vị trí các công trình đầu mối hạ tầng kỹ thuật:
a Công trình cấp nước
- Trạm bơm
Trạm bơm cấp nước chia làm các loại sau: trạm bơm cấp I, trạm bơm cấp II, trạm bơm trung chuyển, trạm bơm tuần hoàn …
+ Trạm bơm cấp I
Đưa nước từ công trình thu lên công trình xử lý
+ Trạm bơm cấp II
Bơm nước đã xử lý từ bể chứa để cung cấp cho các nơi tiêu dùng
Trang 32+ Trạm bơm trung chuyển
Khi vận chuyển nước đi quá xa hoặc lên cao người ta dùng trạm bơm trung chuyển để chuyển tiếp nước, tránh cho áp lực lên đường ống nước quá cao làm vỡ ống
+ Trạm bơm tuần hoàn
Thường dùng trong các hệ thống cấp nước công nghiệp, dùng để bơm nước đã làm nguội vào thiết bị, máy móc sản xuất
- Đài nước
Đài nước còn gọi là tháp nước làm nhiệm vụ điều hoà và tạo áp lực đưa nước đến các nơi tiêu dùng Đài nước thường đặt ở vị trí có code địa hình cao để giảm chiều cao và do đó giảm giá thành xây dựng đài Đài có thể đặt ở đầu, giữa hoặc cuối mạng lưới cấp nước
- Bể chứa nước
Bể chứa nước làm nhiệm vụ điều hoà lượng nước bơm khác nhau giữa các trạm bơm cấp I và trạm bơm cấp II Ngoài ra nó còn làm nhiệm vụ dự trữ nước chữa cháy (cho 3 giờ cháy), nước rửa các bể lắng, bể lọc … của trạm xử lý nước
b Công trình thoát nước
- Trạm xử lý nước
+ Trạm bơm và ống dẫn áp lực:
Dùng để vận chuyển nước thải khi vì lý do kinh tế kỹ thuật không thể để tự chảy được Người ta phân biệt trạm bơm theo khái niệm: trạm bơm cục bô, trạm bơm khu vực và trạm bơm chính Trạm bơm cục bộ phục vụ cho một hay một vài công trình Trạm bơm khu vực phục vụ cho từng vùng riêng biệt hay một vài lưu vực thoát nước Trạm bơm chính dùng để bơm toàn bộ nước thải thành phố lên trạm làm sạch hoặc xả vào nguồn
Ống dẫn nước từ trạm bơm đến cống tự chảy hay đến công trình làm sạch là đường ống áp lực
Khi cống chui qua sông hồ hay gặp chướng ngại vật phải luồn xuống thấp gọi là điuke (hay cống luồn), làm việc với chế độ áp lực hoặc nửa áp
+ Công trình làm sạch
Bao gồm tất cả các công trình làm sạch nước thải và xử lý cặn bã (xem chương 4: xử lý môi trường đô thị).
+ Cống và miệng xả vào nguồn
Dùng để vận chuyển nước thải từ công trình làm sạch xả vào sông hồ Miệng xả nước thường xây dựng có bộ phận xáo trộn nước thải với nguồn
- Trạm xử lý rác
Trang 33Trong sinh hoạt đô thị và trong sản xuất, rác thải được phân làm hai loại chính: + Rác thải không độc hại:
Vì tính không độc hại nên rác thải loại này dễ xử lý bằng các biện pháp như thu gom và tái sử dụng hoặc đốt trong buồng đốt… tùy vào tính chất của từng loại rác
+ Rác thải độc hại:
Đối với những loại rác thải dễ bị thay đổi tính chất hóa lý khi tồn tại trong môi trường như pin, acquy, néon huỳnh quang… nên thu gom triệt để và tái sử dụng hoặc cách ly với môi trường xung quanh
Đối với loại rác thải dễ bị phân hủy sinh học như rác hữu cơ, thực phẩm… nên được chôn lấp hợp vệ sinh;
Đối với rác thải bệnh viện: thu gom và đốt ở nhiệt độ cao để xử lý triệt để vi trùng gây bệnh
Trang 34CHƯƠNG 9: QUY HOẠCH XÂY DỰNG KHU TRUNG TÂM ĐÔ THỊ VÀ HỆ THỐNG
TRUNG TÂM DỊCH VỤ CÔNG CỘNG ĐÔ THỊ
9.1 KHÁI QUÁT VỀ KHU TRUNG TÂM VÀ HỆ THỐNG TRUNG TÂM DỊCH VỤ CÔNG CỘNG ĐÔ THỊ
9.1.1 Khái quát
9.1.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của khu trung tâm đô thị và hệ thống
dịch vụ công cộng.
Đô thị tiền công nghiệp
Dưới thời kỳ phong kiến, khu trung tâm của đô thị chính là khu vực thành trì của giai cấp thống trị Từ đó các khu vực lân cận được kết hợp và phát triển thêm như các chức năng buôn bán, sản xuất tiểu thủ công Khu trung tâm đô thị trong thờùi gian này mang tính tập trung rất cao, cơ cấu tổ chức và các thành phần chức năng rất đơn giản
Đô thị thời kỳ công nghiệp
Trong giai đoạn này các hoạt động công nghiệp tập trung chủ yếu các đô thị Để hỗ trợ và phục vụ cho các hoạt động công nghiệp này một số chức dịch vụ, tài chính đã xuất hiện bên cạnh các công trình hành chính và công nghiệp Cùng với sự tập trung của các hoạt động công nghiệp là sự tập trung và gia tăng dân số Từ đó xuất hiện thêm các nhu cầu dịch vụ mới và các chức năng phục vụ ngày càng đa dạng Qui mô của khu trung tâm đô thị phát triển hơn, các khu chức năng bắt đầu hình thành nhưng chưa rõ rệt
Đô thị thời kỳ hậu công nghiệp
Đến giai đoạn này, các hoạt động sản xuất công nhiệp được sắp xếp ra vùng ngoại
vi của đô thị Cùng với sự phát triển của nền kinh tế và sự tiến bộ về khoa học kỹ thuật trong mọi lĩnh vực, khu trung tâm đô thị trở nên một thành phần đa chức năng, phục vụ các nhu cầu về mọi mặt trong cuộc sống của người dân Do qui mô và mức độ phục vụ ngày càng tăng Trung tâm đô thị ngày càng phát triển Các khu chức năng ngày càng được phân biệt rõ ràng hơn
9.1.1.2 Kinh nghiệm về tổ chức quy hoạch kiến trúc trung tâm phục vụ công cộng
tại các quốc gia phát triển trên thế giới
Sau thế chiến thứ II, việc xây dựng lại đô thị tại các nước Châu Aâu diễn ra đồng thời và mạnh mẽ từ thập niên 50 Ngoài các công tác cải tạo, xây dựng hàn gắn viết thương chiến tranh, công tác quy hoạch xây dựng phát triển đô thị nói chung và xây dựng hệ thống các công trình trung tâm thương mại dịch vụ đô thị nói riêng được trú trọng trong các dự án quy hoạch định hướng phát triển không gian đô thị và công tác đầu tư xây dựng thực tiễn Có thể nói giai đoạn thập niên 1950 đến 1980, là thời kỳ nở rộ của các loại hình trung tâm thương mại dịch vụ đô thị Trong đó những kinh nghiệm và thực
Trang 35tiễn xây dựng các loại hình trung tâm phục vụ công cộng đô thị (TTPVCCĐT) tại các các đô thị các quốc gia phát triển Châu Aâu và Bắc Mỹ là phong phú nhất, trong 3 loại hình sau:
- Các trung tâm xây dựng tại các khu và đô thị mới
- Các trung tâm xây dựng tại ven hoặc ngoài đô thị
- Các trung tâm xây dựng trong nội đô
a Các trung tâm xây dựng tại các khu và đô thị mới
Các trung tâm trong những đô thị mới đầu tiên tại Anh và các nước Scandinavy như: Stevenage, Harlow, Basilden…Venlingbur, Fasta, …có cơ cấu tương tự nhau và có thể coi như là dạng đầu tiên về cơ cấu TTPVCCĐT Những đặc trưng bố cục mặt bằng các trung tâm này đều có dạng các công trình thương mại dịch vụ một tầng bố trí xung quanh một hoặc vài trục đi bộ ngoài trời Giao thông cơ giới được dẫn dắt đến khu vực biên của trung tâm và có bãi xe lớn Bãi xe được liên hệ trực tiếp vào các tuyến đi bộ Các luồng giao thông hàng hóa, kỹ thuật, rác… cũng từ phía bên ngoài các công trình thương mại dịch vụ Thời kỳ mới phát triển các đô thị thường có quĩ đất tương đối rộng và kinh phí đầu tư còn hạn hẹp cho nên giải pháp cùng cốt trên mặt đất cho các luồng lưu thông chức năng là phổ biến
Hình 9.1- Trung tâm đô thị mới
Stevenage – Anh.
1-Các công trình thương mại dịch vụ;
2-Kho bãi; 3-Bưu điện; 4-Nhà hàng và
khiêu vũ; 5-Giặt ủi; 6-Thư viện;
7-Trung tâm y tế; 8-Rạp chiếu phim; 9-Ga
xe buýt; 10-Nhà để xe; 11-Văn phòng;
12-Ga đường sắt; 13-Khách sạn; 14-
Nhà thờ; I-Quảng trường thương mại
chính; II- trục, phố đi bộ thương mại;
III-Khu chợ ngoài trời; IV-Sân phục vụ;
V-Bãi xe; VI- Trạm xe Buýt
Trung tâm được bố trí trên khu đất gần 7 ha và dự tính có qui mô phục vụ cho 70000 người Hệ thống trục đi bộ được tổ chức thành nhiều trục vuông góc với nhau và 2 bên trục bố trí lần lượt các cửa hàng thương mại và dịch vụ Luồng cơ giới được dẫn dắt bởi
4 tuyến đường cụt kết thúc tại 4 góc của trung tâm Tại đây tổ chức 4 bãi xe lớn tổng
Trang 36cộng cho 3000 xe con Xung quanh khu vực trung tâm này là các khu đất chức năng trung tâm công cộng khác như văn hóa, hành chính… của đô thị Khác với Stevenage, trung tâm thành phố Harlow trực tiếp quan hệ với các khu trung tâm công cộng khác như hành chính và văn hóa của đô thị trong cùng một khu vực Với sự kết hợp này mà trung tâm thành phố Harlow hoàn thiện hơn chức năng phục vụ công cộng đô thị Tuy vậy, tổ chức tuyến giao thông cơ giới tiếp cận liên hệ với nhau chia cắt trung tâm thành những ô nhỏ Các trục đi bộ không được phân tách với cơ giới và nguồn ồn triệt để
Hình 9.2- Trung tâm của thành phố mới
Harlow-Anh.
1-Các cửa hàng thương mại và dịch vụ; 2-Bách
hóa tổng hợp; 3-Tạp hóa ; 4-Bưu điện; 5-Rạp
chiếu phim; 6- Câu lạc bộ; 7-Thư viện; 8-Nhà
thờ; 9-Nhà hát; 10-Nhà hàng; 11-Bảo tàng;
12-Toà nhà hành chính; 13-Công an và tòa án; 14
Khách sạn; 15-Trạm xăng; 16-Trường học; 17-
Bến xe buýt; I-Quảng trường họp chợ; II-Phố đi
bộ thương mại chính; III-Quảng trường chính của
thành phố; IV- bãi xe ô tô; V-bãi xe đạp;
VI-Công viên; VII-Nhà ở
Năm 1954 đã khánh thành trung tâm đô thị mới Velingbur – Thụy Điển Cách tổ chức mặt bằng qui hoạch và khối kiến trúc khác với trung tâm các đô thị mới của Anh ở trên Tại Trung tâm Velingbur đã tổ chức 2 tầng của khối các cửa hàng thương mại dịch vụ trung tâm gồm 45 công trình với diện tích lên đến 16000m2 và 2 tầng hầm phục vụ cho gara, kho, và các diện tích kỹ thuật
Sự kết hợp các khối ở cao tầng cũng như các dãy nhà ở đơn nguyên đã tạo điểm nhấn và phong phú cho không gian khu trung tâm đô thị Velingbur Mặt khác, tập trung dân cư vào khu trung tâm cũng giải quyết phục vụ trực tiếp và hiệu quả các nhu cầu thương mại dịch vụ trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt
Trang 37Hình 9.3- Trung tâm chính thành phố mới Velingbur- Thụy điển
a/Mặt bằng tổng thể; 1-Bách hóa và nhà hàng; 2-Các cửa hàng thương mại và dịch vụ; 3-Công trình hành chính; 4-Trạm Métro; 5-Nhà văn hóa; 6-Rạp chiếu phim; 7-Hội trường đa năng; 8-Nhà thờ; 9-Gara cao tầng; 10-Nhà ở cao tầng; 11-Nhà ở chung cư đơn nguyên; 12-Khối dịch vụ; 13- Tuyến Métro b/Mặt bằng trệt của khối thương mại chính; 1-Thương mại bán lẻ; 2- Bách hóa; 3-Siêu thị; 4-Các khu chuyên doanh; 5-Đồ nội thất; 6- Sách báo và ăn uống.
Yếu tố thành công nhất của trung tâm Velingbur là gắn kết và đưa đầu mối giao thông công cộng đô thị métro tham gia như bố cục chính trong trung tâm đã hút hầu hết sự tiếp cận dễ dàng không những của cư dân đô thị Velingbur mà còn các cư dân các đô thị lân cận và ngay cả cư dân trong thủ đô Stokholm
Vào những thập niên 60 của thế kỷ XX, việc xây dựng các trung tâm tại các đô thị hoặc khu dân cư mới tại các nước Châu Aâu phải đối mặt với những yếu tố mới mà 2 thập niên trước chưa phải là những vấn đề bức xúc: Sự phát triển của phương tiện giao thông cơ giới đặc biệt là ô tô cá nhân trở thành thói quen và là phương tiện giao thông chiếm tỉ trọng lớn trong các đô thị Nhu cầu giao tiếp thương mại dịch vụ của cư dân đô thị đỏi hỏi chất lượng phục vụ ngày càng cao… Mặt khác, sự ảnh hưởng của hình thức bố cục không gian và tổ chức kiến trúc mặt bằng của các trung tâm ven đô thị Mỹ mô hình”Ốc Đảo” với sự ưu tiên cho tiếp cận và bãi xe cho các phương tiện ô tô cá nhân đã phần nào tác động đến sự thay đổi tổ chức trung tâm tại các đô thị Châu Aâu thời kỳ này
Năm 1961 tại Đức đã tổ chức cuộc thi về tổ chức trung tâm khu dân cư mới Nordverstats nằm về phía tây bắc ngoại vi thành phố Franfurt am Main, với qui mô phục vụ 40000 người tại khu vực dân cư hiện hữu và khoảng 80000 người ở các khu vực dân cư lân cận Phương án Trung tâm được chọn có hình chữ nhật 230x365m tập trung các công trình trung tâm phục vụ công cộng cấp khu vực và được phân theo 4 tầng chức năng chính Thấp nhất là tầng trực tiếp với ga đường sắt đô thị và gara dành cho 2000
xe con Tiếp theo là tầng mặt đất dành cho các diện tích kỹ thuật, vệ sinh, kho bãi và bến xe buýt công cộng cùng với gara cho khoảng 200 xe con 2 tầng phía trên dành cho các diện tích bố trí các công trình và các chức năng công cộng khác Tại 2 tầng chức năng chính nà, hệ thống đi bộ được tổ chức như là bố cục chính, quan hệ hợp lý và dễ dàng đến từng khu vực và trung tâm dịch vụ công cộng khác Hỗ trợ cho hệ thống đi bộ
Trang 38này là các hệ thống cầu thang, thang cuốn, thang máy và có những không gian passo trống tạo sự định hướng dễ dàng cũng như tạo không giao nội thất linh hoạt
Hình 9.4- Trung tâm khu dân cư Nordverstats, Franfurt am Main
Ngoài việc tổ chức điều kiện tiếp cận bằng các hình thức phương tiện cơ giới hiện đại, trung tâm khu dân cư Nordverstats còn chú ý đến sự phân tách và an toàn cho tiếp cận của giao thông bộ bởi những cầu vựơt tữ phía các khu khu vực dân cư lân cận Việc phân tách các tầng chức năng theo chiều đứng một mặt trung tâm vẫn giữ được mối quan hệ trực tiếp với giao thông công cộng hiện đại của đô thị và tận dụng được rất nhiều diện tích cho các chức năng kỹ thuật, kho bãi… mặt khác, vừa đảm bảo phân tách không gian kỹ thuật, giao thông luôn
ô nhiễm mà vẫn giữ được mối quan hệ mật thiết giữa chúng với không gian phía trên, không gian giao tiếp thương mại dịch vụ Đây là ưu điểm mà các trung tâm tổ chức theo giải pháp cùng cốt trên mặt đất trước đó không giải quyết được (Như trung tâm thành phố Harlow, Stevenage…)
Cũng cùng một giải pháp tương tự, tại Anh đã xây dựng 2 trung tâm của 2 thành phố Hook và Cumbernauld nổi tiếng với cấu trúc đô thị một trung tâm
Trung tâm thành phố Cumbernauld Anh Trung tâm này được xây dựng trên một địa hình phức tạp có độ dốc với mặt bằng hình chữ nhật kích thước 800/180 m Trung tâm cũng được tổ chức thành nhiều tầng chức năng theo ni-vô, trong đó có một số khu vực có các ni-vô đạt đến 8 tần Tiếp cận trung tâm được dẫn dắt bởi hệ thống trục, tuyến đi bộ hoàn toàn cách li với hệ thống giao thông cơ giới Hình dáng của trung tâm được thiết kế theo dạng tuyến dài tạo khả năng cho khoảng 70% lượng dân cư tiếp cận trực tiép trung tâm bằng các hệ thống đi bộ không xa quá 500m Chính bố cục theo chiều dài cho phép trung tâm có khả năng hợp lí trong giải pháp phân đợt xây dựng Tầng dưới tiếp cận trực tiếp hệ thống giao thông cao tốc và hệ thống bến bãi gara, kho tàng Tầng trên là không gian dành riêng cho đi bộ và trục cảnh quan tiếp cận trực tiếp các công trình thương mại dịch vụï, văn hóa,hành chính… Tầng thấp nhất được thiết kế cho các bãi xe với công xuất 5000 chiếc Còn tầng cao nhất phục vụ cho hệ thống đi bộ, tiếp cận trực tiếp với không gian thoáng tự nhiên
1-Cầu dẫn đi bộ; 2-Bưu điện; 3-Khách sạn; 4-Khu thương mại với 2 tầng; 5-Bách hóa; 6-Sảnh chính; 7-Nhà thờ; 8-Diện tích mở rộng của thương mại; 9-Trục phố chính; 10-Bến xe buýt; 11-Khối dịch vụ; 12-Nhà hàng và dịch vụ ăn uống; 13-Thang máy xuống gara; 14-Lối hành lang xuống gara
Trang 39Hình 9.4- Mặt bằng một tầng và mặt cắt ngang -Trung tâm Cumbernauld 1-Khu hành chính; 2-Khu thương mại; 3-Khu thương mại dịch vụ nối dài; 4-Khu thể thao và giải trí; 5-Bãi xe;
Hình 9.5- Mặt bằng khối và hệ thống đi bộ của trung tâm Cumbernauld
La Défense, một trung tâm mới hiện đại của thủ đô Pari được tổ chức nằm ngay trên trục giao thông cao tốc của đô thị và hệ thống Métro Trung tâm La Défense có 7 tầng chức năng chính Tầng thấp nhất nối trực tiếp với hệ thống giao thông hiện đại của đô thị và hệ thống bãi xe Phía trên là quảng trường lớn dành cho đi bộ với không gian lớn kết hợp với các công trình kiến trúc đa chức năng công cộng đô thị Với bố cục không gian hoành tráng của trục đi bộ mang ý nghĩa về không gian cảnh quan nhiều hơn là không gian giao tiếp thương mại
Trang 40Hình 9.5- Hình ảnh về trung tâm La Défense Họa đồ vị trí của khu trung tâm trong
TP Pari (Pháp) Phối cảnh toàn khu Mặt bằng tổng thể và mặt bằng tầng hầm khu trung tâm
Chú thích:
1-Cung hội chợ triển lãm; 2-
Tòa nhà hành chính; 3-
Khách sạn; 4- Trung tâm
thương mại;5- Nhà ở cao
tầng - Phía dưới là trung tâm
dịch vụ; 6- Chợ có mái che;
7- Trục đi bộ trung tâm; 8-
Trạm tầu điện gầm và khu
trung tâm liên hợp thương
mại dịch vụï ngầm; 9-Bãi xe
ngầm.10- hệ thống giao
thông cao tốc quốc gia;
11-Hệ thống giao thông cao tốc
đô thị; 12- Các tuyến giao
thông phục vụ; 13-Métro;
14-Bến métro; 15-Sông Sein